NỀN LINH ĐẠO GIÁO DÂN
Người giáo dân là ai trong lòng Hội Thánh?
Ba nền tảng: Kitô học – Giáo hội học – sứ mạng trần thế
Nên thánh giữa đời thường trong thế giới tục hóa, đa nguyên, toàn cầu hóa
Suy tư thần học – linh đạo – mục vụ
Lm. Anmai, CSsR
MỤC LỤC
Lời mở đầu. Đi tìm một linh đạo không sống bằng phủ định
Phần I. Người giáo dân là ai trong lòng Hội Thánh?
Chương 1. Định nghĩa bằng phủ định đã hết thời
Chương 2. Lumen Gentium 31: cái nhìn tích cực
Chương 3. Tính chất trần thế — không phải “phần còn lại”
Chương 4. Bí tích Rửa tội: nguồn ơn gọi trước mọi phân chia
Chương 5. Chức tư tế cộng đồng, ngôn sứ và vương giả
Chương 6. Giáo dân không phải linh mục thiếu chức thánh
Chương 7. Giáo dân không phải tu sĩ thiếu lời khấn
Chương 8. Apostolicam Actuositatem và Christifideles Laici
Chương 9. Gaudete et Exsultate: nên thánh trong hàng quán và bếp núc
Phần II. Nền tảng thứ nhất — Kitô học
Chương 10. Đức Kitô nhập thể giữa đời, không rút lui khỏi đời
Chương 11. Mầu nhiệm Vượt Qua trong lịch lao động và gia đình
Chương 12. Ở lại trong Đức Kitô: linh đạo không phải hoạt động thuần
Chương 13. Đức Maria, tín hữu đầu tiên giữa đời thường
Phần III. Nền tảng thứ hai — Giáo hội học
Chương 14. Dân Thiên Chúa: phẩm giá chung trước thừa tác vụ khác nhau
Chương 15. Hiệp thông và sứ mạng: giáo dân ở trong, không đứng ngoài
Chương 16. Đặc sủng giáo dân và sự bổ sung với giáo sĩ, tu sĩ
Chương 17. Hội Thánh tại gia và Hội Thánh giữa chợ
Chương 18. Hiệp hành: giáo dân không còn là thính giả
Phần IV. Nền tảng thứ ba — sứ mạng trần thế
Chương 19. Trần thế không phải vùng nguy hiểm phải chạy
Chương 20. Gia đình: nơi linh đạo giáo dân thành thịt
Chương 21. Lao động, nghề nghiệp, doanh nghiệp
Chương 22. Chính trị, công ích, văn hóa, khoa học
Chương 23. Người nghèo, công lý, ngôi nhà chung
Chương 24. Môi trường số: cánh đồng trần thế mới
Phần V. Con đường thiêng liêng giữa đời thường
Chương 25. Ơn gọi nên thánh không có hạng hai
Chương 26. Cầu nguyện của người không có nhà nguyện riêng
Chương 27. Phân định giữa đời: lương tâm, Lời, cộng đoàn
Chương 28. Các nhân đức trần thế: trung tín, cần mẫn, công chính, vui
Chương 29. Bí tích và đời sống: Thánh Thể sai đi, Hòa giải chữa đời
Chương 30. Linh hướng cho giáo dân: đừng tu sĩ hóa người nghe
Phần VI. Thế giới tục hóa, đa nguyên, toàn cầu hóa
Chương 31. Tục hóa không tự động là thù
Chương 32. Đa nguyên: làm chứng mà không chiếm lĩnh
Chương 33. Toàn cầu hóa: liên đới hay bị hòa tan
Chương 34. Người trẻ giáo dân và khủng hoảng ý nghĩa
Chương 35. Người giáo dân Việt Nam: bối cảnh và ân huệ
Phần VII. Trung thành căn tính, mở chân trời mới
Chương 36. Những lệch lạc cần tránh
Chương 37. Đào tạo linh đạo giáo dân
Chương 38. Giáo xứ, đoàn thể, phong trào, ơn độc thân giữa đời
Chương 39. Giáo sĩ phải chuyển chỗ đứng thế nào
Chương 40. Chân trời: môn đệ thừa sai giữa đời
Kết luận. Nên thánh không cần rời thế giới
Phụ lục A. Những văn kiện nền
Phụ lục B. Câu hỏi phân định cho người giáo dân
Phụ lục C. Gợi ý mục vụ cho linh mục và giáo xứ
LỜI MỞ ĐẦU
Đi tìm một linh đạo không sống bằng phủ định
Người giáo dân lâu nay vẫn bị giới thiệu bằng những gì họ không phải. Không phải linh mục. Không phải tu sĩ. Không có chức thánh. Không có lời khấn. Không sống trong tu viện. Định nghĩa bằng phủ định thì tiện cho sơ đồ tổ chức. Định nghĩa ấy nghèo cho linh đạo. Không ai nên thánh nhờ biết mình không phải là ai.
Công đồng Vatican II đã mở một cái nhìn tích cực. Giáo dân là Kitô hữu — đã được tháp vào Đức Kitô bởi bí tích Rửa tội, được xây vào Dân Thiên Chúa, được sai vào giữa lòng thế giới để sống và thi hành sứ mạng ngay tại đó. Họ không phải phần còn lại của Hội Thánh sau khi đã kể giáo sĩ và tu sĩ. Họ là cách Hội Thánh hiện diện trong các thực tại trần thế: gia đình, lao động, chính trị, văn hóa, khoa học, vui chơi, đau khổ, mạng số.
Ba nền tảng không thể thiếu nếu muốn nói về linh đạo giáo dân cho đúng. Nền tảng Kitô học: Đức Giêsu Kitô đã nhập thể, đã làm người giữa đời, đã thánh hóa thời gian và lao động, đã chết và sống lại không phải để kéo môn đệ ra khỏi lịch sử nhưng để cứu lịch sử. Nền tảng Giáo hội học: mọi tín hữu trước hết là Dân Thiên Chúa; thừa tác vụ có phẩm trật không hủy phẩm giá chung phát sinh từ Rửa tội. Nền tảng sứ mạng trần thế: tính chất thế tục không phải khiếm khuyết; đó là ơn gọi riêng của giáo dân — tìm Nước Thiên Chúa khi quản lý và sắp xếp các sự việc trần thế theo ý Chúa.
Giữa một thế giới ngày càng tục hóa, đa nguyên và toàn cầu hóa, câu hỏi không còn là giáo dân có được phép nên thánh không. Công đồng và các Đức Giáo hoàng sau Công đồng đã trả lời rồi. Câu hỏi đúng hơn: đâu là con đường thiêng liêng thực sự cho những ai không sống đời thánh hiến, nhưng vẫn được mời gọi nên thánh giữa đời thường? Làm sao trung thành với căn tính ấy mà không đóng khung thành một thứ “đạo đức giáo xứ”, cũng không biến giáo dân thành giáo sĩ không áo dòng?
Cuốn sách này viết dày vì linh đạo giáo dân dễ bị rút thành khẩu hiệu: “nên thánh giữa đời”, “truyền giáo bằng đời sống”, “gia đình là hội thánh tại gia”. Những câu ấy đúng. Nếu không được tháo ra thành thần học, thành cầu nguyện, thành phân định, thành lao động, thành chính trị, thành cách yêu người bên cạnh, chúng sẽ thành tranh treo nhà xứ.
Con viết như linh mục Dòng Chúa Cứu Thế. Dòng con được sai đến với người bị bỏ rơi. Người giáo dân bị bỏ rơi theo một nghĩa khác: họ được kêu gọi nhiều, được đào tạo ít; được dùng nhiều trong các hội đoàn, được lắng nghe ít trong phân định; được khen là “cột trụ giáo xứ”, ít được giúp tìm mặt Chúa trong chính nghề của họ. Linh đạo giáo dân không phải linh đạo linh mục đã giảm liều. Nó có mật độ riêng: mật độ của việc tã lót, ca đêm, họp chợ, bảng điểm con, hóa đơn điện, tiếng hàng xóm, lương tâm trước một hợp đồng.
Sách này không thay Christifideles Laici. Sách nhằm giúp đọc lại căn tính ấy cho hôm nay — kể cả chân trời số, di dân, người trẻ mất nghĩa, Giáo hội Việt Nam với sức sống đoàn thể và nỗi mệt của người giáo dân vừa nuôi con vừa nuôi hội.
Lm. Anmai, CSsR
PHẦN I
NGƯỜI GIÁO DÂN LÀ AI TRONG LÒNG HỘI THÁNH?
CHƯƠNG 1. ĐỊNH NGHĨA BẰNG PHỦ ĐỊNH ĐÃ HẾT THỜI
Có những cách nói từng tồn tại rất lâu trong đời sống Hội Thánh đến mức người ta tưởng chúng là chân lý hiển nhiên, trong khi thật ra chúng chỉ là sản phẩm của một cách nhìn lịch sử nhất định. Một trong những cách nói như thế là định nghĩa giáo dân bằng những điều họ không phải: giáo dân là người không có chức thánh; giáo dân là người không thuộc hàng giáo sĩ; giáo dân là người không sống đời thánh hiến; giáo dân là người không khấn ba lời khuyên Phúc Âm theo một hình thức tu trì được Hội Thánh công nhận. Những câu ấy có thể đúng ở một mức độ phân loại pháp lý, nhưng nếu dùng chúng như định nghĩa thần học căn bản về giáo dân thì chúng trở nên nghèo nàn, thậm chí nguy hiểm. Ngôn ngữ không chỉ mô tả thực tại. Ngôn ngữ còn tạo ra cách chúng ta tưởng tượng về thực tại. Cách ta gọi một người dần dần trở thành cách ta nhìn người ấy, và cách ta nhìn người ấy rồi sẽ định hình cách ta đối xử với người ấy. Nếu ngay từ đầu ta nói “giáo dân là những người không có chức thánh”, thì trung tâm của câu nói không còn là giáo dân nữa, mà là chức thánh. Giáo dân chỉ được nhận diện như phần còn lại sau khi đã lấy giáo sĩ ra khỏi cộng đoàn. Nếu ta nói “giáo dân là những người không sống đời tu”, trung tâm của câu nói lại là đời tu; giáo dân được hiểu như phần đông còn lại của Hội Thánh, những người không đi vào một hình thức sống được xem là “cao hơn”, “trọn lành hơn”, “thiêng liêng hơn”. Về mặt thống kê có thể đúng rằng đa số tín hữu không phải linh mục, không phải tu sĩ. Nhưng về mặt thần học, một ơn gọi không thể được hiểu như khoảng trống còn lại sau khi đã định nghĩa các ơn gọi khác. Một người mẹ không phải là “người phụ nữ không làm nữ tu”. Một người cha không phải là “người đàn ông không làm linh mục”. Một kỹ sư Công giáo không phải là “người không được phong chức nhưng vẫn đi lễ”. Một nữ giáo viên, một bác sĩ, một người công nhân, một nông dân, một người bán hàng ở chợ, một sinh viên, một người làm trong ngành truyền thông, một doanh nhân, một người nội trợ, một người đang chăm cha mẹ già, một người sống đời hôn nhân, một người độc thân giữa đời vì hoàn cảnh hay vì lựa chọn, tất cả họ không phải là những phiên bản thiếu hụt của linh mục hay tu sĩ. Họ là những người đã được gọi đích danh trong Đức Kitô, được tái sinh trong phép Rửa, được tháp nhập vào thân mình Người, được xức dầu trong Thánh Thần, được trao một phẩm giá và một sứ mạng không vay mượn từ bất cứ bậc sống nào khác.
Nói như thế không phải để phủ nhận cơ cấu phẩm trật, không phải để làm mờ sự khác biệt giữa chức tư tế thừa tác và chức tư tế chung, cũng không phải để biến Hội Thánh thành một cộng đồng nơi mọi người có cùng vai trò. Hội Thánh không lớn lên bằng cách xóa mọi phân biệt. Hội Thánh lớn lên khi mỗi ơn gọi được hiểu đúng, được trân trọng đúng và được sống đúng. Sai lầm của quá khứ không phải là đã phân biệt linh mục, tu sĩ và giáo dân. Sai lầm nằm ở chỗ nhiều khi sự phân biệt ấy bị diễn giải thành một chiếc thang phẩm giá thiêng liêng: trên cùng là những người “thuộc về Chúa” cách đặc biệt, kế đó là những người “sống đạo tốt”, rồi phía dưới cùng là số đông giáo dân đang bươn chải giữa đời. Người ta có thể không bao giờ nói thành lời chiếc thang ấy, nhưng nó len vào trong bài giảng, sách tu đức, cách xưng hô, cách tổ chức mục vụ và cả tâm lý của tín hữu. Khi một người giáo dân đạo đức nói “con chỉ là giáo dân thôi”, điều đáng suy nghĩ không nằm ở sự khiêm tốn của họ, mà nằm ở chữ “chỉ”. Tại sao một người đã được rửa tội nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, đã được trở nên chi thể của Đức Kitô, đã được tham dự vào sự sống của Hội Thánh, lại phải nói về mình bằng chữ “chỉ”? Tại sao người làm cha, làm mẹ, sống giữa xã hội, nuôi con, chăm người già, làm việc, trả lương cho người khác, đối diện với tiền bạc, dục vọng, quyền lực, cạnh tranh, thất bại, bệnh tật, giáo dục con cái, công bằng xã hội, trách nhiệm công dân và hàng ngàn chọn lựa luân lý mỗi ngày lại được nghĩ như một Kitô hữu “hạng thường”? Không có gì “thường” trong việc đem Tin Mừng vào những vùng đời sống ấy. Nhiều nơi mà giáo dân sống hằng ngày chính là những nơi linh mục và tu sĩ không thể bước vào với cùng tư cách. Bàn họp công ty, phòng cấp cứu, lớp học, xưởng máy, chợ đầu mối, công trường, phòng thí nghiệm, tòa án, văn phòng, nghị trường, gia đình, mạng xã hội, các tương quan nghề nghiệp, đời sống vợ chồng, việc sinh thành và giáo dục con cái, đó không phải là vùng ngoại vi của đời sống Kitô hữu. Đó chính là những nơi mà men Tin Mừng phải được nhào vào bột đời.
Khi định nghĩa giáo dân bằng phủ định, một hậu quả rất dễ xảy ra là mặc cảm. Người giáo dân dần nghĩ rằng điều thiêng liêng thật sự thuộc về linh mục và tu sĩ; phần của mình là hỗ trợ, đóng góp, tham gia, giúp việc. Từ đó, toàn bộ đời sống Hội Thánh có nguy cơ bị chia thành hai vùng: vùng “thánh” ở nhà thờ, và vùng “đời” ở bên ngoài. Linh mục lo phần thánh, giáo dân lo phần đời. Linh mục cầu nguyện, giảng dạy, cử hành; giáo dân nghe, lãnh nhận, đóng góp, thi hành. Cách phân chia này vừa không đúng với giáo hội học vừa làm nghèo chính sứ mạng của Hội Thánh. Bởi nếu giáo dân chỉ là người thụ hưởng các dịch vụ tôn giáo do giáo sĩ cung cấp, thì một phần khổng lồ đời sống Hội Thánh sẽ bị động hóa. Giáo xứ khi ấy dễ trở thành nơi cung cấp bí tích và sinh hoạt đạo đức hơn là cộng đoàn những người đã được sai đi. Người giáo dân có thể rất đạo đức, đi lễ đều, đọc kinh đều, đóng góp rộng rãi, tham gia hội đoàn tích cực, nhưng vẫn chưa bao giờ ý thức rằng chính công việc của mình, chính gia đình của mình, chính những lựa chọn nghề nghiệp, cách sử dụng tiền bạc, cách đối xử với nhân viên, cách giáo dục con, cách tham gia đời sống xã hội, cách hiện diện trên mạng, cách nói thật, làm thật, giữ lời và bảo vệ người yếu thế cũng thuộc về ơn gọi và sứ mạng Kitô hữu. Khi đó đức tin dễ co lại thành một khu vực trong đời sống thay vì trở thành men biến đổi toàn bộ đời sống.
Mặc cảm còn sinh ra một tâm lý khác: giáo dân muốn “giống linh mục” hoặc “giống tu sĩ” để cảm thấy mình đạo đức hơn. Người ta nghĩ rằng càng rút khỏi đời, càng giống đời tu, càng nhiều giờ kinh, càng ít dính đến những chuyện rất người của gia đình, nghề nghiệp, xã hội, thì càng gần Chúa. Đây là một trong những di sản lâu dài của một nền tu đức từng dùng mô hình đan tu hoặc tu trì làm chuẩn chung cho mọi bậc sống. Không phải tu đức đan viện sai. Trái lại, đó là một kho tàng lớn của Hội Thánh: thinh lặng, cầu nguyện, khổ chế, lectio divina, kỷ luật nội tâm, từ bỏ, thanh luyện các đam mê, sống trước mặt Chúa. Vấn đề xuất hiện khi một hình thức linh đạo thích hợp cho một ơn gọi được biến thành chiếc khuôn để đo mọi ơn gọi khác. Một người mẹ năm con có thể học rất nhiều từ sự thinh lặng của đan sĩ, nhưng chị không thể sống thinh lặng như đan sĩ mà không bỏ bê con cái. Một người cha có thể học tinh thần khó nghèo từ đời tu, nhưng anh phải lao động, tích lũy hợp lý, mua bảo hiểm, lo học phí, dành dụm cho lúc đau yếu, và những việc ấy không tự động làm anh kém thiêng liêng. Một người điều hành doanh nghiệp có thể học sự vâng phục từ truyền thống tu trì, nhưng anh vẫn phải dùng phán đoán, gánh trách nhiệm, quyết định những điều không có bề trên nào quyết thay. Một người giáo dân có thể yêu mến giờ kinh phụng vụ, nhưng sự thánh thiện của họ không thể được đo đơn giản bằng số giờ cầu nguyện theo cung cách của một cộng đoàn tu trì. Nếu dùng cùng một thước để đo các ơn gọi khác nhau, ta sẽ hoặc làm người giáo dân mặc cảm, hoặc khiến họ sống giả: bên ngoài cố bắt chước một nếp sống không phù hợp, bên trong lại cảm thấy đời thật của mình là gánh nặng ngăn cản việc nên thánh.
Một thời, người ta dễ nghĩ đời thường là vùng thấp hơn của đời sống thiêng liêng. Muốn đến gần Chúa thì phải rút khỏi nó. Muốn nên thánh thì phải bớt dính vào những chuyện của thế gian. Cách nghĩ ấy có một phần chân lý khi nói đến việc từ bỏ tội lỗi, dục vọng vô trật tự, tinh thần thế tục và sự nô lệ cho tiền bạc hay quyền lực. Nhưng nếu không phân biệt cẩn thận, người ta sẽ đồng hóa “thế gian” theo nghĩa Tin Mừng lên án với chính thế giới được Thiên Chúa tạo dựng và trao cho con người chăm sóc. Gia đình không phải là thế gian cần chạy trốn. Lao động không phải là thế gian cần chạy trốn. Văn hóa, khoa học, kinh tế, nghệ thuật, chính trị theo nghĩa chăm lo công ích, giáo dục, truyền thông, tương quan xã hội, trách nhiệm công dân, tất cả không phải là vật cản tự bản chất. Chúng có thể bị tội lỗi làm biến dạng, nhưng chính vì thế chúng cần được cứu chuộc từ bên trong. Người giáo dân không được gọi trước hết để chạy khỏi những thực tại ấy, nhưng để hiện diện trong đó như men, như muối, như ánh sáng. Chính ở đó, giữa những điều thường ngày đến mức dễ bị coi thường, họ học yêu thương, trung tín, hy sinh, công bằng, nhẫn nại, tiết độ, trách nhiệm, bác ái và hy vọng. Người mẹ thức đêm vì con bệnh không ở bên ngoài đường nên thánh. Người cha từ chối một khoản lợi nhuận bất chính để giữ lương tâm không ở bên ngoài đường nên thánh. Người bác sĩ từ chối coi bệnh nhân như mã số không ở bên ngoài đường nên thánh. Người giáo viên tiếp tục kiên nhẫn với một học sinh yếu kém không ở bên ngoài đường nên thánh. Một người trẻ giữ sự trong sạch giữa nền văn hóa kích thích dục vọng không ở bên ngoài đường nên thánh. Một doanh nhân trả lương công bằng khi thị trường cho phép mình ép người lao động không ở bên ngoài đường nên thánh. Một người vợ không dùng im lặng để trừng phạt chồng, một người chồng học xin lỗi con, một gia đình biết mở cửa cho người cô độc, tất cả những điều ấy không phải đạo đức hạng hai. Đó là Tin Mừng đang nhập thể.
Cũng từ kiểu định nghĩa bằng phủ định nảy sinh một thứ kiêu ngạo ngược nơi giáo dân. Nếu mặc cảm nói: “Chúng tôi chỉ là giáo dân”, thì kiêu ngạo ngược nói: “Linh mục tu sĩ chẳng biết gì về đời thật, chỉ chúng tôi mới thực tế.” Hai thái cực tưởng đối lập nhưng thực ra chung một gốc: cả hai đều nhìn Hội Thánh như cuộc so sánh giữa các nhóm. Bên này thiếu điều bên kia có; bên kia có điều bên này thiếu; rồi từ đó sinh ra mặc cảm hoặc cạnh tranh. Một linh đạo trưởng thành không xây trên sự bù trừ. Giáo dân không cần hạ thấp linh mục hay tu sĩ để khám phá phẩm giá của mình. Linh mục cũng không cần xem mình cao hơn giáo dân để hiểu ý nghĩa chức vụ thừa tác. Tu sĩ không cần coi đời sống gia đình là bậc thấp hơn để trân trọng đặc sủng đời thánh hiến. Các ơn gọi soi sáng nhau. Linh mục nhắc toàn thể Hội Thánh rằng đời Kitô hữu sống từ ân sủng được trao ban, từ Lời, từ bí tích và từ Đức Kitô Mục Tử. Đời thánh hiến nhắc Hội Thánh về tính tuyệt đối của Nước Trời, về sự tự do trước của cải, quyền lực và chiếm hữu, về cánh chung, về việc Thiên Chúa là gia nghiệp sau cùng. Đời hôn nhân nhắc Hội Thánh rằng tình yêu của Đức Kitô phải trở thành sự trung thành có thân xác, có thời gian, có hy sinh, có tha thứ, có sinh hoa trái. Giáo dân giữa đời nhắc Hội Thánh rằng Tin Mừng không được giữ trong cung thánh nhưng phải đi vào mọi ngóc ngách của thế giới. Không một ơn gọi nào có thể nói với ơn gọi khác: “Tôi không cần anh.”
Bởi vậy, hết thời định nghĩa bằng phủ định không có nghĩa là xóa bỏ những khác biệt pháp lý hay thần học. Đây là điểm phải nói rất rõ, bởi mỗi khi Hội Thánh phục hồi phẩm giá giáo dân, lại có nguy cơ xuất hiện một phản ứng cực đoan khác: nếu giáo dân có phẩm giá ngang nhau theo bí tích Thánh Tẩy, vậy linh mục có gì khác? Nếu mọi người cùng là dân Chúa, vậy cần gì phẩm trật? Nếu tất cả đều có sứ mạng, vậy tại sao có chức thánh? Câu trả lời không phải là quay lại mô hình cũ, nhưng là học cách phân biệt phẩm giá và chức năng, căn tính bí tích và thừa tác vụ, sự bình đẳng nền tảng và sự khác biệt trong phục vụ. Bình đẳng không có nghĩa đồng dạng. Hiệp thông không có nghĩa đồng nhất. Trong thân thể, mắt không cần trở thành tay để chứng minh mình có phẩm giá. Tay không cần làm công việc của tim để được coi trọng. Sự bình đẳng sâu nhất nằm ở việc tất cả đều thuộc về cùng một Đức Kitô, được sinh bởi cùng một phép Rửa, sống bởi cùng một Thánh Thần, hướng về cùng một Nước Trời. Chính trên nền bình đẳng ấy mới có thể hiểu đúng những khác biệt về chức vụ và bậc sống. Nếu không có nền bình đẳng này, khác biệt biến thành thứ bậc phẩm giá. Nếu không có sự khác biệt này, bình đẳng biến thành đồng phục.
Công đồng Vaticanô II đã thực hiện một chuyển hướng rất quan trọng ở điểm đó. Không phải Công đồng “phát minh” ra giáo dân hay đột nhiên trao cho họ một phẩm giá trước đó chưa có. Phẩm giá ấy vốn nằm trong bản chất của phép Rửa và trong truyền thống Tân Ước. Điều Công đồng làm là lấy lại một trực giác nền tảng từng bị che khuất: trước khi nói Hội Thánh có giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân, phải nói Hội Thánh là dân Thiên Chúa được quy tụ trong Đức Kitô. Trước khi hỏi ai có chức vụ gì, phải hỏi chúng ta là ai trong Đức Kitô. Trước khi mô tả các bậc sống, phải nhớ tất cả đều được kêu gọi nên thánh. Trước khi phân chia chức năng, phải đặt nền trên phẩm giá phép Rửa. Đây là lý do cấu trúc của Hiến chế tín lý về Hội Thánh có ý nghĩa thần học rất lớn: sau khi nói về mầu nhiệm Hội Thánh, Công đồng nói về Dân Thiên Chúa trước khi đi sâu vào phẩm trật, giáo dân và đời thánh hiến. Thứ tự ấy không phải chuyện biên tập. Nó nói rằng điều căn bản nhất nơi người Kitô hữu không phải trước hết là họ thuộc nhóm giáo luật nào, nhưng là họ đã được Thiên Chúa gọi vào dân của Người.
Từ đó mới có thể hiểu giáo dân bằng một ngôn ngữ tích cực. Giáo dân là những tín hữu đã được tháp nhập vào Đức Kitô nhờ phép Rửa, được kết nạp vào dân Thiên Chúa, được tham dự theo cách riêng của mình vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương đế của Đức Kitô, và được sai đi thi hành sứ mạng của toàn dân Kitô giáo trong Hội Thánh và giữa trần thế. Trong căn tính ấy, điểm đặc thù của ơn gọi giáo dân không phải là họ “thiếu” chức thánh hay “không có” lời khấn, nhưng là tính cách trần thế của ơn gọi: họ tìm kiếm Nước Thiên Chúa bằng cách dấn thân vào những thực tại trần thế và sắp xếp chúng theo ý Thiên Chúa. Đây là một cuộc cách mạng trong cách nhìn. Thế giới không còn chỉ là nơi người giáo dân phải cố giữ mình khỏi bị vấy bẩn trong lúc chờ về nhà thờ. Thế giới trở thành nơi họ được sai đến. Nghề nghiệp không chỉ là phương tiện kiếm sống để còn có tiền đi làm việc đạo. Nghề nghiệp có thể trở thành không gian thực thi sứ mạng. Gia đình không chỉ là nơi tạo điều kiện cho người ta đọc kinh. Chính đời sống gia đình là một trường học của đức tin, đức cậy và đức mến. Trách nhiệm xã hội không phải chuyện phụ thêm cho một số người thích hoạt động. Nó thuộc về chiều kích truyền giáo của ơn gọi giáo dân.
Một người giáo dân được hiểu đúng không phải là người đứng ở hàng ghế dưới cung thánh đợi xem hôm nay linh mục cần mình làm gì. Họ là người đã được sai đi ngay từ phép Rửa. Điều này không phủ nhận sự cần thiết của mục tử, giáo huấn, bí tích và hiệp thông phẩm trật. Trái lại, càng hiểu ơn gọi giáo dân, người ta càng thấy chức vụ linh mục có nhiệm vụ trang bị, nuôi dưỡng, quy tụ và sai dân Chúa đi, chứ không thay dân Chúa sống sứ mạng của họ. Linh mục không thể sống thay đời sống gia đình của giáo dân. Không thể thay họ làm chứng cho Tin Mừng trong doanh nghiệp, bệnh viện, lớp học, thế giới nghệ thuật, truyền thông, kinh tế và đời sống công dân. Nếu mục vụ biến giáo dân thành lực lượng xoay quanh các hoạt động nội bộ giáo xứ, Hội Thánh sẽ có rất nhiều người bận rộn nhưng chưa chắc có nhiều môn đệ truyền giáo. Ta có thể huy động giáo dân đọc sách, giữ xe, trang trí, phục vụ bàn thánh, sinh hoạt hội đoàn, gây quỹ, làm lễ hội, giữ trật tự, nhưng nếu không giúp họ thấy đời sống bên ngoài nhà thờ cũng là sứ mạng, ta mới chỉ sử dụng sức lao động của họ chứ chưa thật sự đánh thức ơn gọi của họ.
Một dấu hiệu rất rõ của thần học phủ định là khi người ta nói đến giáo dân hầu như chỉ trong quan hệ với linh mục: giáo dân giúp cha xứ, giáo dân cộng tác với cha, giáo dân hỗ trợ cha, giáo dân nghe lời cha. Những điều ấy có thể đúng trong bối cảnh cụ thể, nhưng không thể là tổng thể căn tính giáo dân. Giáo dân trước hết thuộc về Đức Kitô chứ không thuộc về cha xứ. Họ sống hiệp thông với mục tử, nhưng sứ mạng của họ không phát sinh từ việc cha xứ phân công. Một bà mẹ không cần cha xứ bổ nhiệm mới được dạy con cầu nguyện. Một người bác sĩ không cần thư sai của giáo xứ mới được sống đạo đức nghề nghiệp. Một doanh nhân không cần đứng trong ban hành giáo mới có trách nhiệm thực thi công bằng xã hội. Một người trẻ không cần có chức danh trong nhóm giới trẻ mới được mời gọi làm chứng cho sự thật trên mạng. Phép Rửa đã là một cuộc sai đi. Bí tích Thêm Sức củng cố cuộc sai đi ấy. Thánh Thể nuôi dưỡng cuộc sai đi ấy. Hiệp thông với Hội Thánh bảo vệ cuộc sai đi ấy khỏi trở thành chủ nghĩa cá nhân. Nhưng nguồn của sứ mạng không phải là một tờ phân công mục vụ.
Định nghĩa bằng phủ định còn làm nghèo cách chúng ta hiểu sự thánh thiện. Nếu tiêu chuẩn thánh thiện vô thức được rút từ đời tu, người giáo dân sẽ luôn thấy mình thất bại. Họ không thể có nhiều giờ thinh lặng. Không thể luôn giữ một lịch cầu nguyện giống cộng đoàn tu. Không thể tách mình khỏi trách nhiệm tài chính. Không thể tránh mọi dính líu đến quyền lực và của cải. Họ phải quyết định chuyện học phí, tiền nhà, nghề nghiệp, việc làm, thăng tiến, cạnh tranh, sức khỏe, con cái, gia đình hai bên, di chúc, tài sản. Chính trong những chuyện rất “bụi đời” ấy mà các nhân đức Kitô giáo phải được luyện. Nên thánh đối với người giáo dân không phải là biến mình thành một tu sĩ không áo dòng. Đó là để ân sủng thấm vào từng mối quan hệ và chọn lựa của đời sống trần thế. Họ phải học cầu nguyện giữa một ngôi nhà có trẻ khóc, học bình an giữa áp lực công việc, học công bằng khi tiền bạc đi qua tay mình, học tiết độ trong thế giới tiêu dùng, học trung tín trong hôn nhân, học thanh sạch giữa nền văn hóa phô bày thân xác, học khiêm nhường khi có quyền lực nghề nghiệp, học bác ái với người mà mình không thể “rút khỏi cộng đoàn” vì đó là đồng nghiệp, hàng xóm, họ hàng hay người thân. Đó là một khổ chế rất thật. Nhiều khi không có chuông báo giờ kinh, không có không gian yên tĩnh, không có cộng đoàn nâng đỡ ngay bên cạnh. Nhưng chính trong mảnh đất ấy, Thánh Thần vẫn hoạt động.
Không nên lãng mạn hóa đời giáo dân. Nói đời thường là đường nên thánh không có nghĩa mọi điều trong đời thường tự động nên thánh. Công việc có thể trở thành thần tượng. Gia đình có thể trở thành nơi ích kỷ, kiểm soát và bạo lực. Tiền bạc có thể chiếm trái tim. Chính trị có thể làm méo lương tâm. Mạng xã hội có thể nuôi khoe khoang, giận dữ và dối trá. Tình yêu đôi lứa có thể trượt thành chiếm hữu. Nghề nghiệp có thể biến thành tham vọng. Vì vậy, linh đạo giáo dân không phải việc hợp thức hóa đời sống đang có bằng cách nói “cứ sống bình thường là nên thánh”. Đó là một tiến trình phân định, hoán cải và biến đổi rất nghiêm túc. Nhưng điểm quyết định là: người giáo dân không phải ra khỏi đời để được Chúa thanh luyện; họ để Chúa thanh luyện chính cách họ sống đời. Không chạy khỏi tiền bạc, nhưng học sử dụng tiền bạc trong tự do và công bằng. Không chạy khỏi quyền lực, nhưng học dùng quyền lực như phục vụ. Không chạy khỏi công việc, nhưng từ chối biến công việc thành thần tượng. Không chạy khỏi gia đình, nhưng học yêu trong gia đình theo cách Đức Kitô yêu. Không chạy khỏi xã hội, nhưng không đồng hóa với tinh thần thế tục. Không chạy khỏi thế giới số, nhưng bước vào đó với lương tâm, sự thật và đức ái.
Ở đây cần phân biệt rất rõ “thế tục” và “tính trần thế”. Tính trần thế của ơn gọi giáo dân là điều tích cực: họ được sai vào các thực tại của thế giới. Tinh thần thế tục theo nghĩa Tin Mừng phê phán lại là điều phải chống lại: sống như thể Thiên Chúa không hiện hữu, lấy tiền bạc, quyền lực, thành công, khoái lạc hay danh tiếng làm tiêu chuẩn sau cùng. Người giáo dân không trở nên thánh bằng cách mất tính trần thế, nhưng bằng cách để tính trần thế của mình được Phúc Âm hóa. Một Kitô hữu không cần biến văn phòng thành nhà nguyện để sống đạo ở nơi làm việc. Họ sống đạo khi từ chối gian dối, khi không hạ nhục nhân viên, khi không gian lận, khi biết chia sẻ quyền lực, khi tôn trọng phẩm giá đồng nghiệp, khi từ chối lợi nhuận bất chính, khi dám nói sự thật trong tinh thần bác ái. Một bác sĩ không cần giảng đạo trong phòng khám để thi hành sứ mạng. Họ sống sứ mạng khi thấy bệnh nhân là một người chứ không phải một ca bệnh. Một giáo viên không cần biến giờ toán thành giờ giáo lý. Họ sống ơn gọi khi không loại bỏ học sinh yếu, không thao túng điểm số, không xúc phạm nhân phẩm, biết kiên nhẫn và công bằng. Một nghệ sĩ không nhất thiết phải vẽ chủ đề tôn giáo mới có thể sống sứ mạng Kitô hữu; họ có thể phục vụ chân, thiện, mỹ bằng chính phẩm chất nghệ thuật và lương tâm của mình.
Nếu cứ định nghĩa giáo dân bằng những gì họ không phải, ta cũng sẽ khó xây dựng một linh đạo trưởng thành cho họ. Linh đạo khi ấy trở thành những lời khuyên vay mượn: đọc kinh nhiều hơn, đi lễ nhiều hơn, hy sinh nhiều hơn, tránh thế gian nhiều hơn. Tất cả có thể tốt nhưng chưa đủ. Một linh đạo giáo dân đúng nghĩa phải giúp họ trả lời những câu hỏi cụ thể của đời sống: Tôi sống đức tin trong hôn nhân thế nào? Tôi làm cha mẹ thế nào trước một thế giới số? Tôi kiếm tiền và sử dụng tiền thế nào? Tôi đối diện tham vọng nghề nghiệp thế nào? Tôi có thể thăng tiến mà không bán linh hồn không? Tôi làm gì khi công ty yêu cầu điều trái lương tâm? Tôi tham gia đời sống xã hội ra sao mà không biến đức tin thành vũ khí phe phái? Tôi sử dụng mạng xã hội thế nào để không nuôi tự ái và giận dữ? Tôi giữ ngày Chúa Nhật ra sao khi công việc đòi hỏi? Tôi chăm cha mẹ già như thế nào khi chính mình kiệt sức? Tôi sống độc thân giữa đời ra sao mà không cô độc? Tôi giáo dục con về tình dục, tiền bạc, thành công, thất bại, lòng thương xót thế nào? Một linh đạo không đi vào những câu hỏi ấy sẽ để người giáo dân phải tự xoay xở ở nơi họ sống phần lớn cuộc đời mình.
Hết thời phủ định cũng đòi người giáo dân từ bỏ tâm lý đứng ngoài. Khi phẩm giá được phục hồi, trách nhiệm cũng tăng lên. Không thể vừa nói “giáo dân có vai trò quan trọng” vừa sống như khách hàng của giáo xứ. Không thể đòi được lắng nghe nhưng không chịu học hỏi. Không thể nói mình có sứ mạng giữa đời mà không chịu đào luyện đức tin, Kinh Thánh, giáo huấn xã hội, luân lý nghề nghiệp và khả năng phân định. Một giáo dân trưởng thành không phải người chỉ biết phản ứng trước những gì linh mục làm. Họ phải có đời sống cầu nguyện, lương tâm được đào tạo, tinh thần hiệp thông, khả năng chịu trách nhiệm và thái độ khiêm nhường học hỏi. Phục hồi phẩm giá giáo dân không phải trao thêm quyền lực để tạo một tầng lớp quyền lực mới trong Hội Thánh. Nó là đánh thức ý thức môn đệ. Người giáo dân không trở nên trưởng thành chỉ vì được phát biểu nhiều hơn, ngồi trong nhiều hội đồng hơn hay có nhiều chức vụ hơn. Họ trưởng thành khi biết mình thuộc về Chúa, biết lắng nghe Lời, biết sống bí tích, biết phân định, biết phục vụ, biết chịu trách nhiệm về những gì mình được giao trong thế giới.
Cũng phải thận trọng trước một kiểu “giáo dân hóa” chỉ thay người mà không đổi thần học. Nếu trước đây mọi quyền lực tập trung vào giáo sĩ, rồi nay ta chỉ đưa một số giáo dân vào các vị trí quản trị nhưng vẫn giữ cùng logic quyền lực, ta chưa đi xa. Một giáo dân có chức danh trong giáo xứ không vì thế mà đại diện cho toàn thể giáo dân. Một người hoạt động nhiều trong nhà thờ không nhất thiết hiểu đời sống của người đang nuôi con nhỏ, làm ca đêm, kinh doanh, lao động tay chân, chăm người bệnh hay sống xa quê. Nếu chỉ những giáo dân có nhiều thời gian cho sinh hoạt nhà thờ mới được xem là “giáo dân tích cực”, ta lại vô tình xây một hàng giáo phẩm giáo dân mới. Có những người rất ít xuất hiện trong các ban ngành nhưng đang sống Tin Mừng cách âm thầm trong gia đình và nghề nghiệp. Hội Thánh cần nhìn thấy họ. Cần nghe họ. Cần trân trọng những gì Thiên Chúa đang làm qua họ.
Một nền mục vụ trưởng thành sẽ không chỉ hỏi: “Giáo dân có thể làm gì trong giáo xứ?” mà còn hỏi: “Giáo xứ đang làm gì để giáo dân sống sứ mạng của họ trong thế giới?” Hai câu hỏi hoàn toàn khác nhau. Câu thứ nhất thường hướng vào việc duy trì cơ cấu nội bộ. Câu thứ hai hướng ra sứ mạng. Nếu giáo xứ chỉ thành công khi có nhiều người phục vụ các hoạt động trong khuôn viên nhà thờ, ta đang đo lường quá hẹp. Có thể người giáo dân được sai đi tốt nhất lại là người sau Thánh lễ trở về bệnh viện để chăm bệnh nhân, về lớp học để dạy trẻ, về nhà máy để quản lý công bằng, về gia đình để hàn gắn một cuộc hôn nhân, về làng xóm để chăm người già, về mạng xã hội để không lan truyền dối trá. Khi họ làm những điều ấy trong Đức Kitô, Hội Thánh đang hiện diện ở đó.
Bởi vậy, ngôn ngữ cần thay đổi. Thay vì “giáo dân chỉ là người không có chức thánh”, hãy nói: giáo dân là những người đã được thánh hiến cho Thiên Chúa trong phép Rửa và được sai vào thế giới. Thay vì “họ không khấn dòng”, hãy nói: họ sống sự tự hiến cho Thiên Chúa trong những tương quan, trách nhiệm và thực tại trần thế của đời mình. Thay vì “họ giúp linh mục làm việc mục vụ”, hãy nói: họ cùng chia sẻ sứ mạng duy nhất của Hội Thánh theo ơn gọi riêng. Thay vì “họ không thuộc hàng giáo sĩ”, hãy nói: họ thuộc về dân Thiên Chúa và có một vị trí không thể thay thế trong thân mình Đức Kitô. Một thay đổi từ vựng tưởng nhỏ có thể mở ra một thay đổi linh đạo rất lớn. Khi một người được gọi tên đúng, họ bắt đầu sống khác.
Định nghĩa tích cực cũng giúp người giáo dân thoát khỏi cám dỗ tự clerical hóa mình. Một nghịch lý khá phổ biến là: khi giáo dân muốn được nhìn nhận, họ đôi khi tìm cách càng giống giáo sĩ càng tốt. Người ta cảm thấy có giá trị khi được đứng gần cung thánh, được mặc một loại áo nào đó, được giao những chức năng phụng vụ, được gọi bằng danh xưng đặc biệt, được xuất hiện trước cộng đoàn. Không phải các thừa tác vụ giáo dân trong phụng vụ không quan trọng. Chúng cần thiết và đáng trân trọng. Nhưng nếu toàn bộ việc thăng tiến giáo dân chỉ là đưa họ đến gần bàn thờ hơn, ta vẫn đang dùng cung thánh làm trung tâm của thần học giáo dân. Một giáo dân không cần đứng trên cung thánh mới có phẩm giá. Sứ mạng đặc thù của họ phần lớn nằm ngoài cung thánh. Một người mẹ đang dạy con tha thứ, một luật sư bảo vệ người yếu thế, một người lao động từ chối ăn cắp, một người trẻ giữ sự thật trên mạng, một doanh nhân tạo công ăn việc làm tử tế, có thể đang thực hiện sứ mạng giáo dân cách sâu sắc hơn nhiều so với việc có một chức danh trong nhà thờ.
Hết thời phủ định còn có nghĩa phải chữa lành cả tâm lý giáo sĩ trị. Giáo sĩ trị không chỉ là linh mục kiểm soát mọi thứ. Nó còn là một cách nghĩ trong đó mọi sự quan trọng trong Hội Thánh đều phải đi qua giáo sĩ mới có giá trị. Giáo dân cũng có thể mắc giáo sĩ trị khi chỉ cảm thấy việc mình làm “thuộc về Hội Thánh” nếu cha sở công nhận, nếu nó xảy ra trong khuôn viên giáo xứ, nếu có danh sách chính thức, nếu được mặc đồng phục hay có chức danh. Trong khi đó, bao nhiêu việc Thiên Chúa đang làm qua đời sống người giáo dân diễn ra âm thầm, không ai ghi biên bản. Một người vợ kiên nhẫn đồng hành với chồng trong khủng hoảng. Một người cha bỏ rượu vì con. Một người con chăm cha mẹ già. Một người trẻ quyết định không gian lận thi cử. Một chủ doanh nghiệp trả lương đúng hạn giữa khó khăn. Một người làm truyền thông từ chối bịa đặt để câu lượt xem. Những việc ấy có thể không được xướng tên trong Thánh lễ, nhưng chúng có giá trị trước mặt Thiên Chúa.
Để đi xa hơn, ta phải trở lại với chính Đức Kitô. Người không gọi các môn đệ bằng cách nói trước hết họ không phải ai. Người gọi họ bằng tên. “Hãy theo Thầy.” Từ cuộc gặp gỡ ấy, căn tính xuất hiện. Phêrô không được định nghĩa là người “không phải thầy thông luật”. Maria Mađalêna không được định nghĩa là người “không thuộc Nhóm Mười Hai”. Mỗi người được gặp, được chữa lành, được gọi, được sai. Toàn bộ linh đạo Kitô giáo bắt đầu từ việc được Chúa gọi tên chứ không từ bảng phân loại. Một người biết mình được gọi tên sẽ không cần vay căn tính từ người khác. Họ không cần trở thành linh mục để thấy mình thuộc về Chúa. Không cần sống đời tu để tin mình có thể nên thánh. Không cần một chức danh trong giáo xứ để biết mình có sứ mạng. Họ cần sống đến tận cùng điều mình đã nhận trong phép Rửa.
Đó cũng là điểm giải thoát cho các linh mục và tu sĩ. Khi giáo dân được hiểu đúng, linh mục không còn phải gánh toàn bộ đời sống Hội Thánh trên vai. Cha xứ không phải là người duy nhất nghĩ, quyết, làm, nói, tổ chức, truyền giáo và chịu trách nhiệm. Chức vụ linh mục càng trở nên đúng bản chất hơn: công bố Lời, cử hành các mầu nhiệm, quy tụ cộng đoàn, phân định, chăm sóc, huấn luyện và sai đi. Người mục tử không làm mọi việc thay đàn chiên. Người ấy giúp đàn chiên trở thành dân được sai đi. Tu sĩ cũng được tự do khỏi áp lực phải trở thành mẫu duy nhất của sự thánh thiện. Đặc sủng đời thánh hiến tỏa sáng nhất khi nó là dấu chỉ ngôn sứ giữa các ơn gọi khác, không phải khi nó trở thành chuẩn để mọi người sao chép.
Và chính ở đây, sự khác biệt giữa các bậc sống mới được hiểu đúng. Khác nhau không phải để xếp hạng. Khác nhau để phục vụ sự viên mãn của Hội Thánh. Linh mục không phải “Kitô hữu loại một”; giáo dân không phải “Kitô hữu loại hai”; tu sĩ không phải “Kitô hữu loại đặc biệt”. Mọi người đều được kêu gọi đến sự thánh thiện trọn vẹn, nhưng bằng những con đường khác nhau. Không có một thứ Tin Mừng cho linh mục và một thứ Tin Mừng nhẹ hơn cho giáo dân. Không có một lời mời gọi nên thánh dành cho tu sĩ và một lời mời gọi chỉ cần “sống tốt” dành cho người có gia đình. Mệnh lệnh “hãy nên hoàn thiện” không có chú thích rằng chỉ áp dụng cho những người có lời khấn. Nhưng sự hoàn thiện ấy mang hình thức khác nhau. Sự vâng phục của một tu sĩ và sự trung tín của người phối ngẫu không giống nhau nhưng đều có thể là nơi tự hiến. Sự khó nghèo của người khấn dòng và sự sử dụng của cải có trách nhiệm của một gia đình không giống nhau nhưng đều có thể biểu lộ tự do nội tâm. Sự khiết tịnh thánh hiến và sự khiết tịnh hôn nhân khác nhau nhưng cùng đòi một trái tim không biến người khác thành đồ vật.
Nếu cứ dùng ngôn ngữ cũ, ta sẽ tiếp tục đào tạo những người giáo dân luôn nghĩ mình đứng bên lề của đời sống thiêng liêng. Nếu thay đổi cách nhìn, ta có thể chứng kiến một điều rất khác: giáo dân bắt đầu nhận ra bàn làm việc của họ có liên hệ với bàn thờ; đời sống gia đình của họ có liên hệ với Thánh Thể; cách sử dụng đồng tiền của họ có liên hệ với Tin Mừng; lời họ viết trên mạng có liên hệ với điều răn thứ tám; cách họ đối xử với người yếu thế có liên hệ với Đức Kitô chịu đóng đinh; việc chăm sóc tạo thành có liên hệ với đức tin vào Thiên Chúa Sáng Tạo; cách họ làm kinh tế có liên hệ với tình yêu người nghèo. Khi ấy không còn hai đời sống, một đời đạo và một đời thường. Chỉ còn một đời sống duy nhất được trao cho Thiên Chúa.
Một thần học giáo dân trưởng thành sẽ không bắt đầu bằng câu: “Anh không phải linh mục.” Nó bắt đầu bằng câu: “Anh đã được rửa tội.” Không bắt đầu bằng câu: “Chị không phải nữ tu.” Nó bắt đầu bằng câu: “Chị thuộc về Đức Kitô.” Không bắt đầu bằng câu: “Anh không có lời khấn.” Nó bắt đầu bằng câu: “Anh được mời gọi nên thánh trong chính hoàn cảnh sống của mình.” Không bắt đầu bằng chỗ thiếu. Bắt đầu bằng ân sủng. Không bắt đầu bằng vị trí thấp hơn. Bắt đầu bằng phẩm giá. Không bắt đầu bằng việc so với người khác. Bắt đầu bằng tiếng gọi của Chúa.
Và khi khởi đi từ đó, ta mới hiểu câu quan trọng nhất: hết thời định nghĩa bằng phủ định không có nghĩa hết phân biệt. Giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân vẫn khác nhau. Chức tư tế thừa tác không bị hòa tan vào chức tư tế chung. Đời thánh hiến không bị coi như một lựa chọn cá nhân ngang với mọi hình thức sống khác. Hôn nhân không bị mất tính bí tích. Các thừa tác vụ, đặc sủng và trách nhiệm vẫn khác nhau. Nhưng khác biệt không còn được dùng làm thang đo phẩm giá. Không ai có phẩm giá cao hơn vì đứng gần bàn thờ hơn. Không ai thấp hơn vì phải đi làm tám tiếng một ngày. Phẩm giá phát xuất từ việc được Thiên Chúa yêu, được Đức Kitô cứu chuộc, được Thánh Thần thánh hóa và được gia nhập vào dân Chúa. Chức vụ là để phục vụ. Đặc sủng là để xây dựng. Quyền bính là để rửa chân.
Một Hội Thánh còn định nghĩa giáo dân như “những người không phải giáo sĩ” sẽ khó trở thành Hội Thánh truyền giáo, bởi phần lớn dân Chúa sẽ tiếp tục sống với tâm lý đứng ngoài sứ mạng. Một Hội Thánh biết gọi giáo dân bằng căn tính tích cực của họ sẽ khám phá sức sống mà phép Rửa đã gieo vào hàng triệu con người giữa đời. Khi đó, người giáo dân không cần được kéo vào nhà thờ nhiều hơn để chứng minh họ thuộc về Hội Thánh; họ cần được nuôi dưỡng đủ sâu để mang Hội Thánh ra thế giới. Không phải theo nghĩa biến mọi nơi thành không gian tôn giáo, nhưng bằng cách làm cho ánh sáng Tin Mừng thấm vào cách con người lao động, yêu thương, quản trị, sáng tạo, sử dụng tiền bạc, xây dựng xã hội và chăm sóc người yếu thế.
Định nghĩa bằng phủ định đã hết thời bởi Tin Mừng không gọi con người từ sự thiếu hụt. Thiên Chúa không nhìn một người rồi hỏi trước hết họ không phải ai. Người gọi tên. Người trao ân sủng. Người sai đi. Hội Thánh chỉ trung thành với logic ấy khi cũng học nhìn giáo dân như vậy. Không phải phần còn lại sau khi đã lấy giáo sĩ và tu sĩ ra. Không phải nhóm đứng ngoài cung thánh. Không phải nhân lực dự phòng cho chương trình giáo xứ. Không phải Kitô hữu hạng thường. Nhưng là những người đã được Đức Kitô gọi, được Thánh Thần xức dầu, được Hội Thánh nuôi dưỡng và được sai vào chính nơi thế giới đang sống, đau, làm việc, yêu thương và hy vọng. Ở đó, giữa những điều tưởng rất bình thường, một ơn gọi phi thường đang được thực hiện.
CHƯƠNG 2. LUMEN GENTIUM 31: CÁI NHÌN TÍCH CỰC
Một trong những chuyển hướng quan trọng nhất của Công đồng Vaticanô II khi nói về giáo dân là Công đồng không bắt đầu bằng câu hỏi: giáo dân không phải là ai, không có quyền gì, không được làm những việc gì thuộc về giáo sĩ, nhưng bắt đầu từ câu hỏi sâu hơn nhiều: giáo dân là ai trong Đức Kitô, là ai trong Dân Thiên Chúa, đã nhận được điều gì nhờ Bí tích Rửa Tội, được tham dự vào sứ mạng nào của Hội Thánh, và được Thiên Chúa sai đi đâu. Đó là lý do số 31 của Hiến chế tín lý Lumen Gentium có tầm quan trọng đặc biệt. Bản văn nói: “Giáo dân là tất cả các Kitô hữu không thuộc hàng giáo sĩ hay bậc tu trì được Hội Thánh nhìn nhận; nghĩa là các Kitô hữu đã được tháp vào Đức Kitô nhờ phép Rửa, được cấu tạo thành Dân Thiên Chúa, và tham dự vào chức vụ tư tế, ngôn sứ, vương giả của Đức Kitô theo cách thức của mình, và thi hành phần vụ của toàn thể dân Chúa trong Hội Thánh và giữa trần thế.” Nếu chỉ đọc nhanh, người ta có thể chú ý trước hết đến phần định nghĩa có vẻ tiêu cực: giáo dân là những Kitô hữu không thuộc hàng giáo sĩ hay bậc tu trì. Nhưng nếu dừng lại ở đó, ta chưa nghe được nhịp chính của Công đồng. Câu “không thuộc hàng giáo sĩ hay bậc tu trì” chỉ giúp phân biệt trạng thái sống; nó không phải nền tảng thần học sâu nhất của căn tính giáo dân. Nền tảng thật nằm ở những gì đến ngay sau đó: “đã được tháp vào Đức Kitô”, “được cấu tạo thành Dân Thiên Chúa”, “tham dự vào chức vụ tư tế, ngôn sứ, vương giả của Đức Kitô”, và “thi hành phần vụ của toàn thể dân Chúa trong Hội Thánh và giữa trần thế”. Đây là bốn lớp của một cái nhìn tích cực. Giáo dân không được định nghĩa trước hết bằng những gì họ thiếu so với linh mục; họ được định nghĩa bằng những gì Thiên Chúa đã ban cho họ trong Đức Kitô. Họ không phải là những người đứng ngoài hàng ngũ “chuyên nghiệp tôn giáo” rồi thỉnh thoảng được mời vào giúp Hội Thánh. Họ là Hội Thánh. Họ thuộc về Dân Thiên Chúa. Họ mang phẩm giá của những người đã được tái sinh trong Đức Kitô. Họ có ơn gọi, trách nhiệm, sứ mạng và một cách thức hiện diện riêng không thể được thay thế đơn giản bằng việc bắt chước linh mục hay tu sĩ.
“Đã được tháp vào Đức Kitô nhờ phép Rửa” là nền đầu tiên. Nếu câu này được hiểu thật sâu, nhiều cách nhìn lệch lạc về giáo dân sẽ tự sụp đổ. Trước khi là giáo dân, linh mục, tu sĩ, giám mục hay bất cứ trạng thái sống nào khác trong Hội Thánh, người Kitô hữu trước hết là người đã được tháp nhập vào Đức Kitô. Căn tính căn bản nhất của Kitô hữu không phải chức vụ, địa vị, bằng cấp thần học, phẩm phục, vai trò trong cơ cấu hay số năm phục vụ. Căn tính ấy là thuộc về Đức Kitô. Bí tích Rửa Tội không phải một nghi thức khai sinh mang tính xã hội để ghi tên một người vào sổ giáo xứ. Rửa Tội là một biến cố thần học: con người được kết hợp với Đức Kitô chết và phục sinh, được tái sinh trong đời sống mới, được trở thành chi thể trong Thân Thể Người, được đưa vào trong mầu nhiệm của Hội Thánh. Bởi thế, khi nói về giáo dân, phải bắt đầu từ bàn rửa tội chứ không phải từ phòng họp hội đồng mục vụ. Phải bắt đầu từ ân sủng chứ không phải từ bảng phân công. Phải bắt đầu từ việc Thiên Chúa đã làm nơi họ chứ không phải từ câu hỏi giáo xứ đang thiếu người làm việc gì. Một giáo dân không cần phải giữ một chức trong giáo xứ mới có phẩm giá Kitô hữu. Một người mẹ âm thầm nuôi con trong đức tin, một người cha giữ lương tâm ngay thẳng trong công việc, một bác sĩ chăm bệnh nhân với lòng kính trọng sự sống, một giáo viên không làm nhục học sinh yếu, một người buôn bán không gian dối, một công nhân giữ mình khỏi tham gia vào chuyện bất công, một người trẻ dám sống trong sạch giữa môi trường coi thường sự trong sạch, một người già cầu nguyện và chịu đựng bệnh tật trong niềm tín thác — tất cả những người ấy đang sống một căn tính đã được đặt nền nơi Rửa Tội. Có thể họ không đứng trên cung thánh. Có thể họ không cầm micro. Có thể không ai biết tên họ trong danh sách ban ngành. Nhưng nếu họ sống từ sự kết hợp với Đức Kitô, họ đang sống ngay nơi trung tâm ơn gọi Kitô hữu.
Điều này cũng sửa một não trạng đã ăn khá sâu trong nhiều cộng đoàn: vô tình đồng hóa “sống đạo tích cực” với “tham gia nhiều việc trong nhà thờ”. Tham gia công việc giáo xứ là điều tốt, cần thiết và đáng trân trọng. Hội Thánh không thể sống mà không có sự phục vụ quảng đại của giáo dân trong giáo lý, phụng vụ, bác ái, truyền thông, hội đoàn, tài chính, xây dựng, thăm bệnh và vô số công việc khác. Nhưng nếu ta chỉ nhìn thấy giá trị của giáo dân khi họ bước vào sân nhà thờ, ta đã thu nhỏ cái nhìn của Công đồng. Người giáo dân không bắt đầu là giáo dân khi nhận chiếc áo đồng phục hội đoàn; không bắt đầu là tông đồ khi cha xứ giao một nhiệm vụ; không bắt đầu thuộc sứ mạng Hội Thánh khi được bổ nhiệm vào hội đồng mục vụ. Họ đã được tháp vào Đức Kitô từ Rửa Tội. Và chính từ mầu nhiệm ấy, toàn bộ đời sống họ trở thành nơi ơn gọi Kitô hữu được triển khai. Ngay cả sự phục vụ trong giáo xứ cũng chỉ có ý nghĩa trọn vẹn khi nó phát xuất từ căn tính ấy. Nếu quên Rửa Tội, người ta dễ biến giáo dân thành một lực lượng tình nguyện để vận hành cơ cấu. Khi ấy sẽ nảy sinh một ngôn ngữ rất quen: giáo dân “phụ cha”, “giúp nhà thờ”, “giúp giáo xứ”, “giúp các cha”. Những cách nói đó không hoàn toàn sai, nhưng nếu chúng trở thành toàn bộ cách hiểu về giáo dân thì quá nghèo. Giáo dân không chỉ giúp linh mục làm việc của linh mục. Giáo dân cùng với linh mục và những thành phần khác làm nên Dân Thiên Chúa và thi hành sứ mạng của Hội Thánh, mỗi người theo ơn gọi và cách thức riêng. Linh mục không ban cho giáo dân tư cách môn đệ. Tư cách ấy đến từ Đức Kitô. Linh mục không “cho phép” giáo dân có sứ mạng theo nghĩa sâu xa nhất. Sứ mạng phát xuất từ Rửa Tội và Thêm Sức, được Hội Thánh phân định, hướng dẫn, phối hợp và sai đi trong những hình thức khác nhau.
“Được cấu tạo thành Dân Thiên Chúa” là nền thứ hai. Cụm từ này đặt giáo dân vào trong một nền giáo hội học rộng lớn hơn. Hội Thánh không phải trước hết là một tổ chức mà ở trên có giáo sĩ, ở dưới có giáo dân, rồi người ở dưới nhận lệnh và phụ giúp người ở trên. Hội Thánh là Dân Thiên Chúa được triệu tập bởi Chúa Cha, được quy tụ trong Đức Kitô và được Thánh Thần làm cho sống. Trong Dân ấy có nhiều thừa tác vụ, nhiều đoàn sủng, nhiều trạng thái sống, nhiều trách nhiệm, nhưng phẩm giá nền tảng của người đã chịu phép Rửa là một. Không phải bình đẳng theo nghĩa xóa bỏ mọi khác biệt chức vụ, nhưng bình đẳng trong phẩm giá Kitô hữu. Chức thánh là một hồng ân và một trách nhiệm đặc thù; đời thánh hiến là một dấu chỉ đặc thù; đời sống giáo dân có tính chất trần thế đặc thù. Mỗi ơn gọi có vẻ đẹp riêng. Sai lầm bắt đầu khi sự khác biệt bị biến thành thang giá trị nhân phẩm, như thể càng gần cung thánh càng gần Thiên Chúa, càng ở ngoài đời càng thấp hơn về mặt thiêng liêng. Lumen Gentium không cho phép một cách hiểu như thế. Người linh mục được truyền chức để phục vụ Dân Thiên Chúa chứ không phải để tạo ra một giai cấp Kitô hữu hạng nhất. Giáo dân không phải Kitô hữu hạng hai. Tu sĩ cũng không phải Kitô hữu “cao cấp” hơn vì từ bỏ đời sống gia đình. Các bậc sống là những con đường khác nhau trong cùng ơn gọi nên thánh.
Chính ở đây, giáo hội học hiệp thông giúp ta tránh hai thái cực. Thái cực thứ nhất là giáo sĩ trị: chỉ xem hàng giáo sĩ như chủ thể, còn giáo dân như đối tượng. Linh mục nghĩ, giáo dân nghe; linh mục quyết, giáo dân thi hành; linh mục truyền giáo, giáo dân hỗ trợ; linh mục thánh thiện, giáo dân lo chuyện đời. Mô hình ấy không chỉ nghèo về mục vụ mà còn không phù hợp với chiều sâu của thần học Rửa Tội. Thái cực thứ hai là phản ứng ngược: lấy ngôn ngữ bình đẳng để xóa nhòa chức thánh, coi hàng giáo phẩm như một chức năng có thể thay thế bởi cơ chế dân chủ, hoặc nghĩ rằng muốn nâng giáo dân lên thì phải kéo linh mục xuống. Công đồng không đi theo hướng ấy. Hội Thánh không phải xã hội đấu tranh giai cấp giữa giáo sĩ và giáo dân. Không cần hạ thấp chức tư tế thừa tác để nâng cao phẩm giá giáo dân. Cũng không cần biến giáo dân thành “linh mục bán thời gian” mới chứng minh họ quan trọng. Cái nhìn trưởng thành hơn là nhìn nhận cả hai trong tương quan: chức tư tế thừa tác phục vụ chức tư tế chung; chức tư tế chung không xóa chức tư tế thừa tác. Cả hai quy hướng về Đức Kitô, dù khác nhau trong bản chất và trong cách tham dự.
“Tham dự vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Đức Kitô theo cách thức của mình” là nền thứ ba và cũng là một trong những câu mạnh nhất. Ở đây Công đồng nói rất rõ rằng giáo dân không chỉ là người nhận. Họ tham dự. Họ có phần. Họ được trao trách nhiệm. Nhưng Công đồng thêm một cụm từ quyết định: “theo cách thức của mình”. Chính cụm từ ấy giữ được quân bình thần học. Giáo dân tham dự vào ba chức vụ của Đức Kitô nhưng không bằng cách vay mượn chức thánh. Họ không cần trở nên giống linh mục để có một sứ mạng thật. Họ có cách thức riêng. Và nếu không hiểu “cách thức riêng” ấy, người ta sẽ tiếp tục nâng giáo dân bằng cách kéo họ vào những công việc càng giống giáo sĩ càng tốt. Người đọc sách thánh, người trao Mình Thánh, người điều hành hội đoàn, người đứng lớp giáo lý, người có mặt trong phòng thánh là những phục vụ rất quý. Nhưng chúng không phải thước đo duy nhất hay cao nhất của việc giáo dân tham dự ba chức vụ của Đức Kitô. Có một thế giới rộng hơn nhiều: bàn ăn gia đình, lớp học, bệnh viện, công ty, nông trại, nhà máy, phòng thí nghiệm, tòa án, cơ quan hành chính, studio truyền thông, mạng xã hội, thị trường, trường đại học, hội đồng quản trị, xưởng sửa xe, quầy bán hàng, khu dân cư, cơ sở từ thiện, đời sống chính trị và văn hóa. Ở tất cả những nơi đó, một người đã chịu phép Rửa có thể sống chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả theo cách thức giáo dân.
Tham dự chức vụ tư tế trước hết không có nghĩa giáo dân làm thay các hành vi dành riêng cho linh mục. Chức tư tế chung của người đã chịu phép Rửa được thể hiện khi toàn bộ đời sống được dâng lên Thiên Chúa như của lễ thiêng liêng. Người mẹ thức đêm chăm con bệnh, người cha chấp nhận thiệt thòi để không kiếm tiền bất chính, người trẻ từ chối một mối quan hệ làm tổn thương phẩm giá mình và người khác, người lao động dâng sự mệt mỏi trong ngày cho Chúa, người bệnh kết hợp đau khổ của mình với thập giá Đức Kitô, người giáo viên chuẩn bị bài với lương tâm vì biết trước mặt mình là những con người được trao phó, người bác sĩ tôn trọng bệnh nhân nghèo như người có tiền, người doanh nhân trả lương công bằng dù lợi nhuận ít đi — những điều ấy có thể trở thành của lễ nếu được sống trong đức tin và đức mến. Chức tư tế chung biến đời thường thành nơi dâng hiến. Bàn làm việc có thể trở thành bàn dâng hiến theo nghĩa thiêng liêng. Căn bếp có thể là nơi của lòng yêu thương tự hiến. Chuyến xe sáng có thể là giờ cầu nguyện. Nỗi nhọc nhằn khi chăm một người già có thể được kết hợp với hiến lễ của Đức Kitô. Tất nhiên không điều nào thay thế phụng vụ và Thánh Thể. Ngược lại, chính Thánh Thể quy tụ tất cả những hy sinh ấy và đưa chúng vào hy lễ duy nhất của Đức Kitô. Nhưng điều quan trọng là đời giáo dân không bị chia thành hai phần: việc đạo và việc đời. Trong Đức Kitô, việc đời có thể được thánh hóa; việc rất bình thường có thể mang giá trị hiến lễ.
Tham dự chức vụ ngôn sứ cũng không đồng nghĩa với việc ai cũng phải đứng giảng. Ngôn sứ trước hết là người để chân lý của Thiên Chúa đi vào đời mình và làm chứng cho chân lý ấy bằng lời nói lẫn đời sống. Trong một môi trường mà gian dối được xem là bình thường, người giáo dân sống thật đã mang tính ngôn sứ. Trong một công ty nơi lợi nhuận được đặt cao hơn con người, người dám bảo vệ nhân phẩm của nhân viên đang sống chiều kích ngôn sứ. Trong một nền văn hóa biến thân xác thành món hàng, người sống sự trong sạch và tôn trọng thân xác đang nói một lời ngôn sứ. Trong một xã hội có thể chế giễu người nghèo, người đứng về phía người yếu thế đang làm chứng cho Tin Mừng. Trong môi trường mạng nơi người ta nhanh chóng xúc phạm, bôi nhọ, kết án và chia sẻ điều chưa kiểm chứng, người Kitô hữu biết dừng lại, kiểm tra sự thật, giữ phẩm giá người khác và không tham gia vào bạo lực ngôn từ đang thực thi chức vụ ngôn sứ. Có lúc ngôn sứ phải nói. Có lúc ngôn sứ phải phản đối. Có lúc ngôn sứ phải đặt câu hỏi. Có lúc ngôn sứ phải im lặng thay vì tham gia vào sự vu khống tập thể. Ngôn sứ không phải là người nói nhiều nhất về Chúa; ngôn sứ là người để sự thật của Chúa định hình cách mình sống giữa đời.
Điều ấy cũng có nghĩa giáo dân có một đóng góp đặc biệt cho đời sống Hội Thánh bởi họ biết những thực tại mà giáo sĩ đôi khi chỉ biết từ bên ngoài. Một linh mục có thể giảng về đời sống gia đình, nhưng người cha người mẹ đang nuôi con biết những áp lực cụ thể của gia đình hiện đại. Một linh mục có thể nói về đạo đức kinh doanh, nhưng người tín hữu đang làm quản lý biết những giằng co giữa doanh thu, nhân sự, luật pháp và lương tâm. Một linh mục có thể cảnh báo về mạng xã hội, nhưng người trẻ sống hàng giờ mỗi ngày trong hệ sinh thái số hiểu từ bên trong cách thuật toán, áp lực bạn bè và văn hóa hình ảnh tác động đến họ. Một linh mục có thể dạy về công bằng xã hội, nhưng người công nhân biết từ bên trong cảm giác của một đồng lương không đủ sống. Một linh mục có thể nói về bệnh viện, nhưng bác sĩ và y tá Kitô hữu biết những xung đột đạo đức nảy sinh trong từng ca điều trị. Vì vậy, việc lắng nghe giáo dân không phải một phép lịch sự mục vụ. Đó là lắng nghe những chi thể của cùng một Thân Thể, nơi Thánh Thần có thể ban những kinh nghiệm, đoàn sủng và trực giác cần thiết cho sứ mạng chung.
Tham dự chức vụ vương giả của Đức Kitô lại càng dễ bị hiểu sai nếu lấy tiêu chuẩn quyền lực thế gian. Đức Kitô làm Vua bằng cách phục vụ, cúi xuống rửa chân và trao ban mạng sống. Bởi vậy, người giáo dân tham dự chức vụ vương giả không trước hết bằng việc nắm chức vụ trong cơ cấu Hội Thánh, nhưng bằng việc làm chủ chính mình trong ân sủng, chiến đấu chống tội lỗi, phục vụ tha nhân và góp phần làm cho các thực tại trần thế được tổ chức phù hợp hơn với công lý, sự thật và phẩm giá con người. Một người không làm chủ nổi tham vọng của mình mà có nhiều quyền lực chưa chắc đã sống chức vụ vương giả. Một người biết chế ngự lòng tham, sự nóng giận, ham muốn thống trị, tinh thần trả thù và ích kỷ thì đang bước vào vương quyền của Đức Kitô. Một người cha phục vụ gia đình thay vì dùng vai trò làm cớ độc đoán; một người mẹ trao quyền cho con lớn lên thay vì sở hữu con; một giám đốc dùng quyền để bảo vệ người yếu thay vì bóc lột; một công chức từ chối tham nhũng dù mất lợi ích; một công dân tham gia xây dựng xã hội bằng trách nhiệm và lương tâm; một người có ảnh hưởng trên mạng không dùng đám đông để hạ nhục người khác — tất cả có thể là những cách sống chiều kích vương giả.
Ba chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả không phải ba “môn” tách biệt. Chúng đan vào nhau trong một đời sống thống nhất. Một người mẹ cầu nguyện cho con là sống chức tư tế; dạy con biết phân biệt đúng sai là sống chức ngôn sứ; kiên nhẫn hướng dẫn gia đình theo trật tự yêu thương là sống chức vương giả. Một doanh nhân dâng công việc cho Chúa là sống tư tế; từ chối lừa dối khách hàng là sống ngôn sứ; tổ chức doanh nghiệp theo nguyên tắc công bằng là sống vương giả. Một người trẻ dâng ngày học cho Chúa là tư tế; làm chứng cho đức tin giữa bạn bè là ngôn sứ; quản trị thời gian, thân xác, mạng xã hội và tự do của mình là vương giả. Nếu giáo dân được dạy nhìn đời mình theo cách ấy, họ sẽ thôi nghĩ rằng đời thiêng liêng chỉ xảy ra ở nhà thờ. Họ sẽ khám phá rằng bàn làm việc, gia đình, khu phố, trường học, không gian số và xã hội đều có thể trở thành nơi thực thi ơn gọi Kitô hữu.
“Trong Hội Thánh và giữa trần thế” là nền thứ tư. Hai không gian này không loại trừ nhau và cũng không nên được sắp thành hai tầng, trong đó “trong Hội Thánh” là phần đạo còn “giữa trần thế” là phần đời. Người giáo dân vừa ở trong Hội Thánh vừa được sai vào trần thế. Họ không bước ra khỏi Hội Thánh khi sáng thứ Hai đi làm. Họ mang Hội Thánh theo nghĩa là mang sự sống Đức Kitô trong mình mà đi vào thế giới. Một giáo viên Công giáo khi bước vào lớp không thôi là Kitô hữu. Một bác sĩ khi mặc áo blouse không để Tin Mừng ngoài cửa bệnh viện. Một người kinh doanh khi ký hợp đồng không tạm gác lương tâm Rửa Tội. Một người làm truyền thông khi lên mạng không được phép sống bằng một bộ đạo đức khác. Một người làm chính trị, luật pháp, khoa học, nghệ thuật hay kinh tế cũng không có hai lương tâm: một lương tâm dùng trong nhà thờ và một lương tâm dùng ngoài đời. Chính sự thống nhất ấy là một trong những điểm cốt yếu của ơn gọi giáo dân.
Đoạn sau của Lumen Gentium 31 nói đến “tính chất trần thế” như đặc trưng riêng của giáo dân. Cần hiểu câu này cho đúng. “Trần thế” ở đây không có nghĩa thế tục theo nghĩa chống lại Thiên Chúa, cũng không có nghĩa giáo dân lo việc thấp hơn còn giáo sĩ lo việc cao hơn. Tính chất trần thế có nghĩa nơi đặc thù mà giáo dân sống và thi hành sứ mạng của mình là những thực tại bình thường của thế giới: gia đình, nghề nghiệp, kinh tế, văn hóa, khoa học, xã hội, chính trị, giáo dục, truyền thông và các quan hệ con người. Họ không chỉ được “cho phép” ở đó. Họ được Thiên Chúa gọi ở đó. Đây là khác biệt rất lớn. Nếu thế giới chỉ là nơi người giáo dân buộc phải ở vì chưa đi tu, đời sống giáo dân sẽ luôn có mặc cảm rằng mình đang sống một ơn gọi thấp hơn. Nhưng nếu thế giới là nơi Thiên Chúa sai họ đến, nghề nghiệp trở thành địa bàn truyền giáo, gia đình trở thành trường học của đức tin, xã hội trở thành nơi thực thi đức ái và công lý, văn hóa trở thành không gian đối thoại với Tin Mừng.
Công đồng nói họ sống “giữa những công việc và nghề nghiệp trần thế, trong những điều kiện thông thường của đời sống gia đình và xã hội” và chính “từ những nơi ấy” họ được Thiên Chúa kêu gọi. Hai chữ “từ những nơi ấy” cần được nhấn mạnh. Không phải Thiên Chúa gọi họ ra khỏi đời thường rồi mới có thể nên thánh. Ngài gọi họ từ trong đời thường. Không phải phải thoát khỏi nghề nghiệp mới gặp Chúa; họ có thể gặp Chúa trong cách hành nghề. Không phải phải rời gia đình để sống đức ái; gia đình chính là nơi đầu tiên đức ái được thử thách. Không phải phải đi thật xa mới làm việc truyền giáo; đôi khi sứ mạng bắt đầu bằng cách đối xử với người làm cùng phòng. Không phải phải có bài giảng lớn mới làm chứng; đôi khi chứng tá mạnh nhất là một lời nói thật khi mọi người đều chọn nói dối. Không phải phải có một dự án Công giáo mang nhãn Công giáo mới thánh hóa trần thế; một người làm tốt và làm ngay thẳng một công việc hoàn toàn bình thường có thể đang góp phần thánh hóa chính cơ cấu của đời sống xã hội.
Ở đây xuất hiện hình ảnh rất đẹp: giáo dân được mời gọi thánh hóa trần thế “như men”. Hình ảnh men có một thần học rất sâu. Men không đứng bên ngoài bột. Men đi vào trong bột. Men không chỉ nói với bột từ xa. Men hiện diện trong đó. Men âm thầm. Men ít khi được nhìn thấy sau khi đã trộn. Người ta nhìn thấy cả khối bột thay đổi chứ không còn thấy men như một vật riêng biệt. Đây là một hình ảnh đặc biệt thích hợp cho linh đạo giáo dân. Nhiều khi giáo dân làm chứng hiệu quả nhất không phải bằng việc dán nhãn tôn giáo lên mọi việc, nhưng bằng cách để Tin Mừng thay đổi phẩm chất của những thực tại họ đang sống. Một trường học trở nên nhân bản hơn vì có những thầy cô Kitô hữu sống với học sinh bằng lòng tôn trọng. Một bệnh viện trở nên có tình người hơn vì có những nhân viên không coi bệnh nhân như hồ sơ. Một doanh nghiệp trở nên công bằng hơn vì có người quản lý biết lợi nhuận không phải giá trị tối cao. Một gia đình trở nên nơi chữa lành vì có người biết xin lỗi. Một cộng đồng mạng trở nên bớt độc hại vì có những người Kitô hữu từ chối xúc phạm. Một khu phố bớt cô đơn vì có người nhớ đến cụ già ở nhà một mình. Men không cần xuất hiện trên sân khấu để chứng minh nó đang hoạt động.
Men ở trong bột. Đây là điều thứ nhất. Nếu men không ở trong bột, nó không làm bột dậy. Một linh đạo giáo dân sợ đời đến mức chỉ muốn rút khỏi mọi môi trường phức tạp sẽ không còn đúng với hình ảnh này. Người Kitô hữu cần những giờ cầu nguyện, thinh lặng, phụng vụ, tĩnh tâm và đời sống cộng đoàn để được nuôi dưỡng. Nhưng họ được nuôi dưỡng để được sai đi. Nhà thờ không phải nơi trú ẩn khỏi thế giới mà là nơi cộng đoàn được quy tụ để nghe Lời, cử hành mầu nhiệm Đức Kitô, được biến đổi rồi trở lại thế giới. Thánh lễ kết thúc bằng một sự sai đi. Không phải ngẫu nhiên. Một Kitô hữu cứ muốn ở lại mãi trong không gian an toàn của những người giống mình thì chưa hoàn toàn hiểu logic của Tin Mừng. Đức Kitô sai môn đệ ra đường. Ngài đặt họ giữa đời. Giáo dân có một cách đặc biệt để sống sự sai đi ấy vì đời thường của họ đưa họ tự nhiên đến những nơi mà linh mục và tu sĩ không thể hiện diện thường xuyên.
Men không đứng trên bột để giảng. Đây là điều thứ hai. Có một kiểu hiện diện Kitô hữu giữa đời khiến người khác mệt mỏi bởi lúc nào cũng ở thế đứng trên, dạy người khác, phán xét người khác, nói như thể mình sở hữu toàn bộ chân lý và người ngoài chỉ là đối tượng cần sửa. Đó không phải tinh thần men. Men không khinh bột. Men đi vào bột và hoạt động từ bên trong. Người giáo dân được mời gọi đối thoại với đồng nghiệp, hàng xóm, bạn bè, người khác tôn giáo, người không tôn giáo, người bất đồng quan điểm. Họ không cần giấu đức tin, nhưng cũng không biến đức tin thành vũ khí. Họ làm chứng bằng sự hiền hòa, sự nhất quán, khả năng lắng nghe và lòng can đảm nói sự thật khi cần. Có khi một cuộc đối thoại thật, đầy tôn trọng, đem Tin Mừng đến gần hơn một bài diễn văn dài. Có khi một người vô thần gặp một Kitô hữu tử tế sẽ được mở ra trước mầu nhiệm Thiên Chúa hơn là khi bị một người có đạo liên tục kết án.
Nhưng men cũng không biến mình thành bột để khỏi khác. Đây là điều thứ ba và cũng quan trọng không kém. Hiện diện giữa đời không có nghĩa hòa tan. Đối thoại không có nghĩa đánh mất căn tính. Hội nhập không có nghĩa chấp nhận mọi tiêu chuẩn của môi trường chung quanh. Men chỉ làm bột dậy nếu nó còn là men. Người Kitô hữu chỉ có thể phục vụ thế giới nếu còn mang trong mình một nguyên lý khác với thế giới: Tin Mừng Đức Kitô. Nếu vì muốn được chấp nhận mà người tín hữu suy nghĩ giống hệt mọi người, sống giống hệt mọi người, tiêu thụ giống hệt mọi người, nói giống hệt mọi người, tranh giành giống hệt mọi người và định nghĩa thành công giống hệt mọi người, thì họ không còn làm men. Câu hỏi rất khó của linh đạo giáo dân là: làm sao vừa thật sự thuộc về môi trường mình sống, vừa không để môi trường ấy nuốt mất căn tính Tin Mừng? Làm sao người doanh nhân ở thật trong thị trường nhưng không thờ lợi nhuận? Làm sao người trẻ ở thật trong văn hóa số nhưng không để thuật toán quyết định linh hồn mình? Làm sao người làm chính trị ở thật trong đời công mà không biến đức tin thành công cụ quyền lực? Làm sao người làm nghệ thuật bước sâu vào văn hóa mà vẫn giữ được cái nhìn về phẩm giá con người? Làm sao người làm khoa học có sự tự do nghiên cứu mà vẫn giữ ý thức về giới hạn luân lý? Đó chính là chỗ linh đạo men trở nên khó và đẹp.
Bởi thế, tính chất trần thế của giáo dân không phải một đặc điểm phụ. Nó là nơi ơn gọi được triển khai. Một cách nói mục vụ đã quá quen là mời giáo dân “vào cộng tác với Giáo hội”. Cần dùng câu ấy cẩn thận, bởi đôi khi nó vô tình tạo cảm giác rằng Giáo hội là một cái gì đã có sẵn gồm hàng giáo sĩ, rồi giáo dân từ bên ngoài được gọi vào cộng tác. Thật ra giáo dân đã là Giáo hội. Câu hỏi đúng hơn là: mỗi thành phần của Dân Thiên Chúa, theo ơn gọi riêng, đang cộng tác vào sứ mạng chung như thế nào? Linh mục phục vụ bằng chức thánh, rao giảng Lời Chúa, cử hành bí tích, chăm sóc cộng đoàn và thực thi nhiệm vụ mục tử. Tu sĩ làm chứng bằng việc hiến dâng đời mình theo các lời khuyên Tin Mừng và đặc sủng của hội dòng. Giáo dân sống sứ mạng đặc thù bằng việc đem Tin Mừng thấm vào những cấu trúc và tương quan của thế giới từ bên trong. Không ai là phần thừa. Không ai có thể thay thế người khác hoàn toàn.
Điều này đặt ra một câu hỏi rất thực tế cho mục vụ giáo dân: chúng ta đang đào tạo giáo dân để làm gì? Nếu sau nhiều năm huấn luyện mà giáo dân chỉ biết cách đọc sách trong lễ, tổ chức kiệu, điều hành hội đoàn, làm sổ sách và gây quỹ, còn không biết phân định những vấn đề luân lý trong nghề nghiệp, không biết sống đức tin trong hôn nhân, không biết giáo dục con cái, không biết đối diện với tham nhũng, kinh tế, mạng xã hội, văn hóa tiêu thụ, trí tuệ nhân tạo, sinh học, môi trường, bất công, khủng hoảng gia đình và những biến đổi xã hội, thì việc đào tạo ấy mới chạm một phần rất nhỏ của ơn gọi giáo dân. Không thể chỉ đào tạo họ cho những việc xảy ra quanh cung thánh. Phải đào tạo họ để sống trước hết quanh bàn ăn gia đình, tại chỗ làm, trong trường học, ngoài thị trường và giữa xã hội. Một giáo dân trưởng thành phải biết cầu nguyện, hiểu đức tin, yêu mến Thánh Thể, nhưng cũng phải biết đem lương tâm Kitô hữu vào những quyết định cụ thể của đời sống.
Chúng ta cũng cần cẩn thận với một thứ “giáo sĩ hóa giáo dân” có vẻ rất đạo đức. Khi muốn tôn trọng giáo dân, ta thường nghĩ ngay đến việc trao cho họ thêm vai trò bên trong nhà thờ. Điều đó đôi khi đúng và cần. Nhưng nếu cứ mặc định rằng giáo dân càng gần những chức năng phụng vụ thì càng có giá trị, ta vẫn chưa thoát khỏi não trạng cũ. Giáo dân không cần một chỗ trên cung thánh để chứng minh phẩm giá. Một người mẹ đang ngồi cuối nhà thờ với đứa con quấy khóc có thể đang sống một ơn gọi sâu sắc không kém người đang đứng trước micro. Một người đàn ông không giữ chức vụ nào trong giáo xứ nhưng suốt ba mươi năm làm ăn liêm chính và nuôi gia đình trong đức tin có thể đã thực thi sứ mạng giáo dân cách mẫu mực. Một nữ bác sĩ không tham gia hội đoàn vì lịch trực nhưng mỗi ngày bảo vệ phẩm giá của bệnh nhân nghèo có thể đang thánh hóa thế giới đúng nghĩa Công đồng nói. Đừng đo đời sống giáo dân chỉ bằng số giờ họ ở nhà thờ.
Ngược lại, cũng đừng dùng tính chất trần thế như cái cớ để giáo dân tách khỏi đời sống Hội Thánh. “Tôi sống đạo ngoài đời là đủ” cũng là một méo mó. Men cần được nuôi bởi đời sống trong Đức Kitô. Giáo dân không phải những Kitô hữu độc lập tự sống đức tin theo ý mình. Họ thuộc về Dân Thiên Chúa. Họ cần Lời Chúa, Thánh Thể, các bí tích, giáo huấn, đời sống cầu nguyện và cộng đoàn. Nếu bị tách khỏi nguồn ấy, họ sớm bị đồng hóa với môi trường. Không thể làm men nếu men mất sức. Không thể làm chứng cho Đức Kitô nếu không ở lại trong Đức Kitô. Bởi thế, hai chiều phải đi cùng: càng cắm rễ trong đời sống Hội Thánh, giáo dân càng được sai vào đời; càng dấn sâu vào đời, họ càng cần trở về nguồn mạch của Hội Thánh để được thanh luyện và nuôi dưỡng.
Có thể nói linh đạo giáo dân mang một nhịp rất đẹp: quy tụ và sai đi, nhận lãnh và trao ban, bàn thờ và bàn làm việc, Thánh Thể và đời thường, cầu nguyện và hành động, Hội Thánh và thế giới. Không phải hai đời sống mà một đời sống. Một Kitô hữu trưởng thành không sống đạo một giờ Chúa Nhật rồi sống theo logic khác sáu ngày còn lại. Cũng không biến mỗi hoạt động thành một bài giảng tôn giáo. Họ để Đức Kitô thấm vào cách mình sử dụng tiền, quyền lực, thời gian, thân xác, công nghệ, ngôn ngữ, nghề nghiệp và các mối tương quan. Đó là sự thống nhất nội tâm mà thế giới rất cần. Người ta có thể không hỏi giáo dân bao nhiêu câu giáo lý, nhưng sẽ nhìn cách họ sống. Nếu một người tuyên xưng Chúa nhưng đối xử tệ với nhân viên, người khác sẽ tin vào cách sống hơn lời tuyên xưng của họ. Nếu một người đọc kinh rất nhiều nhưng gia đình sống trong sợ hãi vì tính độc đoán của họ, Tin Mừng bị che khuất. Nếu một người làm việc nhà thờ rất tích cực nhưng buôn bán gian dối, chính đời họ trở thành phản chứng. Ngược lại, một người không ồn ào nói về đức tin nhưng sống nhân hậu, trung thực, tự do, khiêm tốn và quảng đại sẽ làm người khác đặt câu hỏi: điều gì làm người này sống như thế?
Cái nhìn tích cực của Lumen Gentium 31 vì thế không phải một khẩu hiệu nhằm “nâng vai trò giáo dân” theo ngôn ngữ quản trị hiện đại. Nó sâu hơn. Đó là một cái nhìn xuất phát từ Kitô học, bí tích học và giáo hội học. Giáo dân có phẩm giá bởi họ thuộc về Đức Kitô. Giáo dân có sứ mạng bởi họ thuộc về Dân Thiên Chúa. Giáo dân có trách nhiệm bởi họ tham dự vào ba chức vụ của Đức Kitô. Giáo dân có một nơi chốn đặc thù bởi họ được Thiên Chúa sai vào giữa những thực tại trần thế. Từ đây, việc “thăng tiến giáo dân” không thể chỉ hiểu là tăng số ghế giáo dân trong các ban. Điều ấy có thể cần, nhưng chưa đủ. Thăng tiến giáo dân là giúp họ ý thức phẩm giá Rửa Tội, trưởng thành trong đức tin, có khả năng phân định, có lương tâm được đào luyện, sống có trách nhiệm trong nghề nghiệp và xã hội, biết đem Tin Mừng vào những nơi mà linh mục không thể đi thay họ.
Một giáo xứ có thể có hàng chục hội đoàn mà vẫn chưa có một nền mục vụ giáo dân trưởng thành nếu toàn bộ năng lượng của giáo dân chỉ quay quanh việc nội bộ. Một giáo phận có thể tổ chức nhiều khóa “đào tạo giáo dân” nhưng nếu tất cả chỉ nhằm tìm người phục vụ các chương trình giáo xứ, thì vẫn chưa chạm chiều sâu của Lumen Gentium 31. Câu hỏi mục vụ phải đổi: người giáo dân này đang sống ở đâu? Họ làm nghề gì? Họ đang đối diện xung đột nào giữa đức tin và nghề nghiệp? Gia đình họ gặp những thách thức nào? Con cái họ bị môi trường số định hình ra sao? Họ phải quyết định điều gì về tiền bạc, nhân sự, giáo dục, kinh doanh, chăm sóc người bệnh, pháp luật, truyền thông? Họ cần giáo huấn và đồng hành gì để sống như người môn đệ Đức Kitô ngay ở đó? Khi hỏi như thế, mục vụ giáo dân mới đi ra khỏi cổng nhà thờ.
Điều này cũng đòi người giáo dân không được né tránh trách nhiệm bằng cách nói: “Chuyện đó cha quyết”, “Đức tin là việc của linh mục”, “Tôi chỉ là giáo dân”. “Chỉ là giáo dân” là một câu cần loại khỏi ngôn ngữ Kitô giáo. Không ai “chỉ là” người đã được tháp vào Đức Kitô. Không ai “chỉ là” thành viên của Dân Thiên Chúa. Không ai “chỉ là” người được tham dự sứ mạng tư tế, ngôn sứ và vương giả của Đức Kitô. Người giáo dân có thể không có thẩm quyền của chức thánh, nhưng họ có trách nhiệm của Rửa Tội. Có những việc linh mục không được và cũng không thể làm thay họ. Cha xứ không thể thay người cha làm chồng. Giám mục không thể thay người mẹ giáo dục con hằng ngày. Linh mục không thể thay một chủ doanh nghiệp Kitô hữu quyết định trả lương công bằng. Nhà dòng không thể thay một chính trị gia Công giáo quyết định theo lương tâm. Ban truyền thông giáo phận không thể thay mỗi người giáo dân sử dụng mạng xã hội có trách nhiệm. Những nơi ấy không phải vùng ngoại vi của đời sống Kitô hữu. Đó là những mặt trận của ơn gọi giáo dân.
Dĩ nhiên, sống như thế không dễ. Men bị trộn vào bột sẽ không còn ở trạng thái an toàn riêng biệt. Người giáo dân sống Tin Mừng thật sự giữa đời sẽ gặp những xung đột mà một thứ đạo đức chỉ quanh quẩn trong nhà thờ không bao giờ phải gặp. Có khi phải mất hợp đồng vì không chịu gian dối. Có khi bị chậm thăng tiến vì không tham gia vào nhóm lợi ích. Có khi bị bạn bè cho là ngây thơ vì không sống buông thả. Có khi bị cô lập vì bảo vệ người bị xúc phạm. Có khi phải chấp nhận lợi nhuận thấp hơn để trả lương tử tế. Có khi phải nói một câu trái với ý số đông. Có khi phải chọn tha thứ trong gia đình khi mọi cảm xúc muốn trả đũa. Có khi phải tắt điện thoại để thật sự hiện diện với con cái. Có khi phải nhận mình sai. Có khi phải từ bỏ một cơ hội hấp dẫn vì lương tâm không bình an. Chính tại những chỗ ấy, Kitô giáo rời khỏi trang sách và trở thành đời sống.
Bởi thế, linh đạo giáo dân cần được dạy không như một bản rút gọn của linh đạo tu sĩ. Người giáo dân không cần giả làm đan sĩ giữa thành phố. Họ cần học cầu nguyện giữa lịch làm việc, học thinh lặng giữa tiếng ồn, học kết hợp với Chúa trong trách nhiệm gia đình, học sống nghèo giữa xã hội tiêu thụ, học khiết tịnh theo bậc sống, học vâng phục thánh ý Chúa qua lương tâm và trách nhiệm, học bác ái trong những mối tương quan không do mình chọn. Họ cần một linh đạo đủ mạnh để bước vào thế giới mà không bị thế giới nuốt mất; đủ mở để yêu con người thật chứ không yêu một ý tưởng về con người; đủ Kitô để khác khi cần khác; đủ khiêm nhường để không lấy sự khác biệt làm lý do tự tôn.
Men là hình ảnh rất nhỏ nhưng cũng rất đòi hỏi. Men phải ở trong bột. Men không được đứng ngoài. Men không được khinh bột. Men không cần quảng cáo mình. Men phải giữ sức men. Men phải làm cho khối bột biến đổi từ bên trong. Chính vì thế, có thể nói một câu ngắn để ghi nhớ tinh thần của Lumen Gentium 31: linh đạo giáo dân là linh đạo của men. Người giáo dân được tháp vào Đức Kitô để đi vào giữa đời như người thuộc về Đức Kitô. Họ được cấu tạo thành Dân Thiên Chúa để không sống đức tin như cá nhân cô độc. Họ tham dự vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả để toàn bộ đời mình trở thành của lễ, chứng tá và phục vụ. Họ được sai vào những thực tại trần thế để thánh hóa những thực tại ấy từ bên trong. Men ở trong bột. Men không đứng trên bột mà giảng. Men cũng không biến mình thành bột để khỏi khác. Men âm thầm ở đó, hoạt động ở đó, làm cho bột dậy lên từ bên trong. Giáo dân cũng vậy: không phải phần phụ của Hội Thánh, không phải lực lượng dự bị của hàng giáo sĩ, không phải những Kitô hữu chưa đủ “cao” để sống đời thánh hiến, nhưng là những người đã được Đức Kitô gọi đích danh, được Rửa Tội tháp nhập vào Người và được sai đi vào chính thế giới bình thường này, để nơi gia đình, nghề nghiệp, xã hội, văn hóa và mọi nẻo đường của đời sống con người, Nước Thiên Chúa có thể âm thầm bắt đầu dậy men.
CHƯƠNG 3. TÍNH CHẤT TRẦN THẾ — KHÔNG PHẢI “PHẦN CÒN LẠI”
Có một cách hiểu rất phổ biến nhưng rất nguy hiểm về ơn gọi giáo dân: trước hết người ta nghĩ đến linh mục, tu sĩ, nhà thờ, bàn thờ, phụng vụ, hội đoàn, các công việc mục vụ; sau đó mới nhìn ra phần đời sống còn lại và gọi đó là “đời”, là “việc trần thế”, như thể đó chỉ là khu vực phụ, là khoảng thời gian người tín hữu phải sống sau khi những việc “của Chúa” đã xong. Cách phân chia ấy nghe quen đến mức nhiều người không nhận ra rằng nó có thể làm méo mó chính thần học về giáo dân. Tính chất trần thế của người giáo dân không phải là phần dư còn lại sau khi Hội Thánh đã phân chia những gì được xem là thiêng liêng cho linh mục và tu sĩ. Tính chất trần thế cũng không phải một sự nhượng bộ bất đắc dĩ: vì giáo dân không thể vào tu viện hết, không thể làm linh mục hết, nên đành ở lại đời để làm ăn, sinh con, kiếm sống và lâu lâu đến nhà thờ giúp việc. Không. Chính nơi thế giới này, giữa thời gian này, giữa những thực tại cụ thể của lịch sử, người giáo dân nhận được một cách thức riêng để sống ơn gọi nên thánh và thi hành sứ mạng của Hội Thánh. “Trần thế” ở đây không có nghĩa là tục hóa, càng không có nghĩa là đối nghịch với Thiên Chúa. Nó chỉ toàn bộ những thực tại của đời sống con người trong công trình tạo dựng và trong lịch sử: gia đình, hôn nhân, sinh con và giáo dục con cái, lao động, tiền bạc, kinh tế, thương mại, chính trị, pháp luật, khoa học, y tế, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật, truyền thông, kỹ thuật, thể thao, môi trường, đời sống khu phố, trách nhiệm công dân, tương quan xã hội, những chọn lựa tiêu dùng, những cơ chế tổ chức xã hội và vô vàn công việc bình thường tạo nên thế giới mà con người đang sống. Đó chính là saeculum, là thời đại, là thế giới trong thời gian, là không gian của những thực tại hữu hạn đang tiến về sự viên mãn trong Thiên Chúa. Khi Hội Thánh nói tính chất trần thế là nét riêng của ơn gọi giáo dân, Hội Thánh không hạ thấp giáo dân xuống một bậc thấp hơn đời sống thánh hiến. Hội Thánh chỉ ra địa bàn đặc thù của sứ mạng họ: không đứng ngoài thế giới để nhìn vào, nhưng sống từ bên trong thế giới ấy, như men trong bột, như muối trong đất, như ánh sáng giữa những thực tại nhiều khi rất phức tạp, rất mơ hồ, rất dễ bị tội lỗi làm méo mó nhưng cũng rất đáng được cứu chuộc.
Phải phân biệt thật rõ hai nghĩa của chữ “thế gian” trong ngôn ngữ Kitô giáo. Có lúc Kinh Thánh nói Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi ban Con Một; khi ấy thế gian là công trình được Thiên Chúa yêu thương và cứu độ. Có lúc Tin Mừng Gioan nói đến “thế gian” như một hệ thống khép kín trước Thiên Chúa, một não trạng từ chối ánh sáng, một trật tự được xây trên kiêu ngạo, dục vọng và quyền lực. Hai nghĩa ấy không thể nhập làm một. Khi nói giáo dân có tính chất trần thế, không ai có ý nói giáo dân thuộc về “thế gian” theo nghĩa chống lại Thiên Chúa. Trái lại, chính vì thế giới được Thiên Chúa yêu và đang cần được cứu độ mà người giáo dân được sai vào đó. Họ không đi vào để thỏa hiệp với tinh thần thế tục, nhưng để những thực tại trần thế không bị tinh thần thế tục chiếm lấy. Đây là nghịch lý quan trọng: giáo dân được sai vào thế giới không phải để trở nên giống thế giới trong những gì thế giới chống lại Tin Mừng, nhưng cũng không phải để chạy khỏi thế giới. Họ phải ở trong đó mà không bị nó nuốt; phải yêu thế giới mà không thờ lạy nó; phải sử dụng của cải mà không trở thành nô lệ của của cải; phải làm chính trị mà không thần thánh hóa quyền lực; phải bước vào kinh tế mà không biến lợi nhuận thành vị thần; phải dùng kỹ thuật mà không giao lương tâm cho thuật toán; phải làm nghệ thuật mà không biến tự do sáng tạo thành cái cớ hạ thấp nhân phẩm; phải sống giữa truyền thông mà không làm người buôn bán sự thật; phải hiện diện trong đời sống xã hội mà không biến mình thành sản phẩm của đám đông. Tính chất trần thế vì thế không phải một hoàn cảnh bất đắc dĩ. Nó là một trách nhiệm thần học.
Có thể nói đơn giản hơn: linh mục và tu sĩ cũng sống trong thế giới, nhưng giáo dân có một mối liên hệ đặc thù với những cấu trúc của thế giới. Một linh mục cũng phải ăn uống, trả tiền điện, dùng điện thoại, đi bệnh viện, ký giấy tờ hành chính. Một tu sĩ cũng có thể dạy học, nghiên cứu, làm việc trong bệnh viện, chăm sóc người nghèo, dùng máy tính, điều hành cơ sở. Vì thế, không thể nói linh mục và tu sĩ “không thuộc trần thế” theo nghĩa họ không có gì với đời sống này. Nhưng ơn gọi của họ được định hình bởi một dấu chỉ khác. Người linh mục thừa tác được đặt giữa cộng đoàn để phục vụ Dân Chúa bằng việc rao giảng Lời, cử hành bí tích, quy tụ và hướng dẫn cộng đoàn, thi hành tác vụ mục tử trong sự hiệp thông của Hội Thánh. Người sống đời thánh hiến, qua việc công khai khấn giữ những lời khuyên Phúc Âm theo đặc sủng riêng, trở thành một dấu chỉ đặc biệt nhắc toàn thể Hội Thánh rằng thế giới này, dù tốt đẹp, không phải là cùng đích tối hậu; tiền bạc, gia đình tự nhiên, tự do tự quyết, thành công xã hội, quyền sở hữu và mọi giá trị trần thế đều không phải tuyệt đối. Chính đời sống độc thân vì Nước Trời, khó nghèo Phúc Âm và vâng phục thánh hiến nói với thế giới rằng chỉ một mình Thiên Chúa là tuyệt đối. Còn người giáo dân, không phải vì thiếu ơn gọi nào khác, nhưng do chính cách thức sống Bí tích Thánh Tẩy của mình, được sai đi thánh hóa các thực tại ấy từ bên trong. Họ không đứng trên mái nhà để giảng cho nền kinh tế; họ đứng trong nền kinh tế. Họ không chỉ nói về gia đình; họ xây gia đình. Họ không chỉ suy tư về giáo dục; họ đứng lớp, làm cha mẹ, làm hiệu trưởng, làm chuyên viên, làm người viết sách giáo khoa. Họ không chỉ nói về đạo đức trong doanh nghiệp; họ ký hợp đồng, trả lương, quyết định sa thải hay giữ người, chọn trung thực hay gian dối, chọn chia sẻ lợi nhuận hay bóc lột. Họ không chỉ cầu cho những người làm chính trị; một số người trong họ phải bước vào đời sống chính trị với lương tâm Kitô hữu và chịu trách nhiệm về những quyết định ảnh hưởng đến hàng ngàn, hàng triệu người. Chính ở đó tính chất trần thế trở thành sứ mạng.
Vì thế, khi nói rằng giáo dân phải “sắp xếp những sự việc trần thế theo ý Thiên Chúa” hoặc “theo Nước Thiên Chúa”, đừng hiểu theo một nghĩa ngây thơ như thể người Kitô hữu chỉ việc đem một vài biểu tượng tôn giáo đặt vào trong mọi ngành nghề. Một công ty không trở nên thấm Tin Mừng chỉ vì có tượng thánh trong phòng giám đốc. Một trường học không tự động trở nên Công giáo chỉ vì bắt đầu ngày học bằng một kinh nguyện. Một người làm chính trị không trở nên chứng nhân chỉ vì công khai đi lễ. Một bác sĩ không thực thi sứ mạng giáo dân chỉ vì đeo ảnh thánh trong túi áo. Những dấu chỉ ấy có thể tốt, nhưng Tin Mừng đi sâu hơn nhiều. Sắp xếp các thực tại trần thế theo Nước Thiên Chúa là để sự thật thắng gian dối, công bằng thắng bóc lột, phẩm giá con người thắng lợi nhuận vô độ, người yếu được bảo vệ khỏi quyền lực của người mạnh, lao động được tôn trọng, môi trường không bị hy sinh cho lòng tham, công nghệ không được phép biến con người thành dữ liệu, kinh tế không được xây dựng trên việc nghiền nát những người không có khả năng tự vệ, giáo dục không được thu hẹp thành cuộc đua thành tích, truyền thông không được biến sự phẫn nộ thành hàng hóa, chính trị không được biến đối thủ thành kẻ thù cần tiêu diệt. Đó mới là nơi người giáo dân phải chiến đấu. Không phải mọi chiến đấu ấy đều diễn ra trong nhà thờ. Phần lớn diễn ra trong văn phòng, phòng họp, nhà máy, lớp học, bệnh viện, phòng thí nghiệm, studio, tòa án, chợ, cửa hàng, gia đình, điện thoại, lá phiếu và những quyết định rất nhỏ chẳng ai biết.
Một trong những sai lệch mục vụ dai dẳng nhất là đồng nhất “giáo dân tích cực” với “giáo dân làm nhiều việc trong giáo xứ”. Người đọc sách thánh tốt, người giúp lễ trưởng thành, người hát ca đoàn, người dạy giáo lý, người tham gia hội đồng mục vụ, người điều phối hội đoàn, người phụ trách truyền thông giáo xứ — tất cả những công việc ấy đều quý và rất cần. Không thể xây dựng một cộng đoàn giáo xứ lành mạnh nếu không có giáo dân cộng tác tích cực. Nhưng vấn đề bắt đầu khi chúng ta coi đó là hình thức gần như duy nhất của việc tông đồ giáo dân. Khi ấy, người giáo dân tốt nhất sẽ là người xuất hiện nhiều nhất quanh nhà xứ; người nào có mặt trong nhiều hội đoàn nhất sẽ được xem là nhiệt thành nhất; người nào tối nào cũng họp sẽ được đánh giá cao hơn người đang cố sống Tin Mừng tại công ty, gia đình hay môi trường nghề nghiệp. Dần dần giáo xứ hút những giáo dân tích cực nhất ra khỏi nơi mà chính họ được sai đến. Người chủ doanh nghiệp tối nào cũng ở nhà thờ nhưng không biết công nhân mình đang bị đối xử ra sao. Người cha tham gia ba hội đoàn nhưng con cái không còn cơ hội nói chuyện với cha. Người mẹ làm việc mục vụ gần như mỗi tối nhưng gia đình sống trong căng thẳng. Người công chức đi rất nhiều buổi đạo đức nhưng vẫn ký giấy trái lương tâm. Người giáo viên dạy giáo lý rất hay nhưng ở trường lại chấm điểm thiên vị. Nếu những nghịch lý đó tồn tại, chúng ta phải tự hỏi: phải chăng chúng ta đang vô tình rút giáo dân khỏi chính chiến trường ơn gọi của họ?
Giáo xứ không thể trở thành một “thế giới thay thế” để người giáo dân trú ẩn khỏi thế giới thật. Nhà thờ là nơi họ được quy tụ để nghe Lời, cử hành Thánh Thể, được tha thứ, được nuôi dưỡng, được đào luyện, được sai đi. Động từ cuối cùng rất quan trọng: được sai đi. Thánh lễ không kết thúc bằng việc đóng kín cộng đoàn vào trong nhà thờ, nhưng bằng việc cộng đoàn được sai trở về đời. Chính nơi ấy phụng vụ tiếp tục bằng đời sống. Người vừa nghe “Đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em” phải học cách hiến mình trong gia đình và công việc. Người vừa trao bình an phải ra khỏi nhà thờ và ngưng nói xấu đồng nghiệp. Người vừa rước lấy Đức Kitô phải nhìn công nhân, người nghèo, người nhập cư, người già, trẻ nhỏ bằng con mắt khác. Người vừa nghe Tin Mừng về lòng thương xót phải xét lại cách mình đối xử với một người mắc nợ mình. Nếu phụng vụ không đưa người giáo dân trở về các thực tại trần thế với một lương tâm được biến đổi, thì chúng ta đã cắt lìa phụng vụ khỏi sứ mạng.
Ở đây cần nói đến một cám dỗ khác: xem việc trần thế như vùng thấp hơn về mặt thiêng liêng. Người ta dễ nghĩ cầu nguyện là thánh, còn kế toán là đời; đọc Kinh Thánh là thiêng, còn thương lượng hợp đồng là tục; đi hành hương là đạo đức, còn nuôi con là chuyện tự nhiên; phục vụ bàn thờ là việc của Chúa, còn rửa chén, đi làm, giữ chữ tín, trả lương đúng hạn chỉ là bổn phận đời thường. Cách chia ấy không phù hợp với mầu nhiệm Nhập Thể. Con Thiên Chúa đã đi vào lịch sử, mang lấy thân xác, sống trong một gia đình, lao động bằng đôi tay con người, ăn uống, đi đường, trò chuyện, khóc, mệt, chịu đau và chết thật. Trong Đức Kitô, tạo thành không bị khinh miệt; nó được đón nhận và hướng về sự viên mãn. Vì vậy, người giáo dân có thể gặp Thiên Chúa ngay giữa những công việc “không tôn giáo” xét theo hình thức. Một người mẹ thức đêm chăm con bệnh có thể sống một hành vi tự hiến sâu hơn nhiều lời đạo đức. Một người chủ từ chối gian lận dù mất lợi nhuận đang sống đức tin bằng một giá thật. Một công chức từ chối nhận tiền bất chính đang bảo vệ phẩm giá Bí tích Thánh Tẩy của mình ngay tại bàn làm việc. Một nhà khoa học trung thực với dữ liệu dù kết quả không như mong muốn đang phục vụ sự thật. Một kiến trúc sư nghĩ đến người khuyết tật khi thiết kế công trình đang đưa tình bác ái vào bê tông và cầu thang. Một lập trình viên từ chối xây tính năng có chủ ý gây nghiện cho trẻ nhỏ đang thực thi trách nhiệm luân lý trong chính kỹ thuật. Những hành vi ấy có thể không mang nhãn “mục vụ”, nhưng chúng có thể có chiều sâu Tin Mừng vô cùng lớn.
Đặc biệt, gia đình là một trong những không gian rõ nhất của tính chất trần thế. Hôn nhân không phải một sự nhượng bộ dành cho những người “không đi tu”. Gia đình không phải phần đời tự nhiên đứng cạnh đời sống đạo. Trong Bí tích Hôn phối, chính thực tại trần thế của tình yêu vợ chồng được nâng lên thành dấu chỉ của ân sủng. Việc kiếm sống, quản lý tiền bạc, sinh con, chăm trẻ, chăm cha mẹ già, tha thứ cho nhau, chung thủy, chia sẻ trách nhiệm, dạy con sử dụng điện thoại, lựa chọn trường học, chăm sóc một người bệnh trong nhà — tất cả đều là địa hạt của sự thánh thiện. Nếu một người giáo dân dành rất nhiều năng lượng cho giáo xứ nhưng làm cho gia đình mình thiếu sự hiện diện căn bản mà họ có bổn phận phải trao, thì không thể gọi đó đơn giản là lòng nhiệt thành. Có thể đó là một sự đảo lộn trật tự. Không phải cứ càng nhiều giờ ở nhà thờ thì càng thánh thiện. Có những buổi họp nên bỏ để về ăn cơm với con. Có những công tác nên từ chối để giữ lời với vợ hoặc chồng. Có những chương trình đạo đức không nhất thiết tham dự nếu cha mẹ già đang cần được chăm sóc. Sự thánh thiện không được đo bằng mức độ bận rộn trong hoạt động tôn giáo.
Tính chất trần thế cũng chạm đến kinh tế, và đây là nơi thần học về giáo dân phải trở nên rất cụ thể. Không thể nói người giáo dân có sứ mạng trong thế giới mà lại chỉ nói chung chung về việc “sống tốt nơi công sở”. Kinh tế là nơi người ta quyết định ai được trả bao nhiêu, ai bị sa thải, ai được bảo hiểm, ai phải làm thêm giờ, nguyên liệu đến từ đâu, môi trường bị ảnh hưởng thế nào, khách hàng có bị lừa hay không, dữ liệu người dùng có bị bán hay không, quảng cáo có thao túng trẻ em hay không, lợi nhuận được phân phối ra sao. Mỗi quyết định ấy có hậu quả luân lý. Một chủ tiệm nhỏ bán đúng giá, không trộn hàng giả, trả lương công bằng, không lợi dụng người làm đang túng thiếu, biết giữ lời với khách hàng, có thể đang thi hành một sứ mạng giáo dân rất sâu. Người ấy có thể không bao giờ đứng trên bục đọc sách, nhưng trong chính cách kinh doanh, người ấy làm chứng rằng tiền không phải là Chúa. Ngược lại, một người rất năng nổ trong sinh hoạt giáo xứ nhưng bóc lột nhân viên, trốn trách nhiệm, gian lận thuế, chèn ép nhà cung cấp hoặc dùng quan hệ tôn giáo để kiếm lợi thì đã tạo nên một phản chứng nghiêm trọng. Tin Mừng không dừng ở cửa công ty.
Chính trị cũng vậy. Người Công giáo không được thần thánh hóa chính trị, nhưng cũng không được coi chính trị là bẩn nên tránh xa. Nếu chính trị liên hệ đến tổ chức đời sống chung, phân bổ nguồn lực, bảo vệ quyền lợi, xây dựng pháp luật, chăm sóc người yếu thế và định hình tương lai cộng đồng, thì chính trị là một phần quan trọng của trần thế. Người giáo dân có thể và có lúc phải tham gia trực tiếp vào đó theo ơn gọi, khả năng và lương tâm. Không phải để biến nhà nước thành giáo xứ, cũng không để áp đặt đức tin bằng quyền lực, nhưng để đóng góp vào công ích, công lý, hòa bình, tự do và phẩm giá con người. Một giáo dân làm chính trị không thể đặt lương tâm ở cửa cơ quan. Họ cũng không thể lấy nhãn Công giáo để miễn trừ mình khỏi những tiêu chuẩn nghiêm ngặt hơn về liêm chính. Trái lại, càng nhân danh đức tin, họ càng phải sợ việc sử dụng tôn giáo để che đậy tham vọng. Một chính trị gia Công giáo không phục vụ Nước Thiên Chúa bằng cách nói nhiều chữ đạo, nhưng bằng sự trung thực, không tham nhũng, tôn trọng con người, bảo vệ người không có tiếng nói, chịu trách nhiệm và không biến đối thủ thành kẻ thù tuyệt đối.
Kỹ thuật và thế giới số ngày nay càng cho thấy rõ vì sao tính chất trần thế của giáo dân không phải chuyện phụ. Các thuật toán sắp xếp điều hàng tỷ người nhìn thấy. Các nền tảng số định hình chú ý, thói quen, tâm lý, hành vi tiêu dùng và cả diễn ngôn chính trị. Trí tuệ nhân tạo tham gia ngày càng sâu vào giáo dục, y tế, tuyển dụng, tài chính, an ninh, truyền thông. Nếu giáo dân Công giáo có mặt trong những ngành ấy mà không được huấn luyện về lương tâm, thần học tạo dựng, phẩm giá con người, công ích, sự thật, tự do và trách nhiệm, thì Hội Thánh đã bỏ trống một trong những “Areopagus” lớn nhất của thời đại. Không thể chỉ lập thêm trang Facebook giáo xứ rồi nghĩ mình đã hiện diện trong thế giới số. Sự hiện diện quan trọng hơn có thể là người kỹ sư đang quyết định một hệ thống có được phép phân biệt đối xử hay không; người quản lý sản phẩm đang quyết định có dùng cơ chế gây nghiện hay không; người sáng tạo nội dung đang quyết định có tung tin chưa kiểm chứng để câu tương tác hay không; người phụ trách dữ liệu đang quyết định có xâm phạm quyền riêng tư hay không. Đó là thần học giáo dân ở dạng sống động.
Nghệ thuật và văn hóa cũng không phải vùng phụ. Một người viết, họa sĩ, nhạc sĩ, đạo diễn, kiến trúc sư, nhà thiết kế, nhiếp ảnh gia hay người làm nội dung không cần phải chỉ tạo “sản phẩm Công giáo” mới thực hiện ơn gọi của mình. Cái đẹp chân thật, cái nhìn sâu vào thân phận con người, sự tôn trọng phẩm giá, khả năng khơi lên câu hỏi về ý nghĩa, đau khổ, tình yêu, sự thật và hy vọng đều có thể mở ra những khe cửa cho ân sủng. Nếu ta chỉ công nhận nghệ thuật là “mục vụ” khi nó trực tiếp minh họa một chủ đề tôn giáo, ta đã thu hẹp cả tạo thành và ân sủng. Người giáo dân nghệ sĩ có thể loan báo Tin Mừng bằng việc tạo nên cái đẹp không giả tạo, bằng việc từ chối biến thân xác thành hàng hóa, bằng việc kể câu chuyện của người bị lãng quên, bằng việc chống lại sự tầm thường hóa nhân phẩm. Đôi khi một tác phẩm trung thực về nỗi cô đơn của con người có thể chuẩn bị tâm hồn cho câu hỏi về Thiên Chúa sâu hơn một sản phẩm tôn giáo sáo rỗng.
Thể thao cũng thế. Nghe có vẻ nhỏ, nhưng chính nơi đó người ta học cạnh tranh, kỷ luật, luật chơi, thắng thua, thân xác, đồng đội, danh vọng và giới hạn. Một huấn luyện viên Công giáo không cần biến sân bóng thành lớp giáo lý. Nhưng cách người ấy đối xử với người yếu, cách phản ứng khi thua, cách chống gian lận, cách không hy sinh sức khỏe vận động viên cho thành tích, cách giáo dục trẻ về kỷ luật và tôn trọng đều có thể là một dạng của việc thánh hóa trần thế. Không có lĩnh vực nào trung tính hoàn toàn khi con người đặt vào đó tự do và trách nhiệm.
Từ đây ta thấy một hệ quả mục vụ rất lớn: đào tạo giáo dân không thể chỉ là đào tạo họ làm việc trong nội bộ giáo xứ. Nếu giáo xứ chỉ huấn luyện người đọc sách, giáo lý viên, ca trưởng, thành viên hội đoàn, nhưng không giúp giáo dân suy tư về công việc, tiền bạc, kinh tế, chính trị, giáo dục, hôn nhân, công nghệ, truyền thông và trách nhiệm công dân, thì việc đào tạo ấy còn thiếu một phần rất lớn. Giáo dân cần được hỏi: anh đang làm nghề gì? Đức tin chạm vào những quyết định nghề nghiệp ấy ở đâu? Trong ngành của chị có cấu trúc bất công nào? Những cám dỗ nghề nghiệp thường gặp là gì? Một người Kitô hữu có thể làm khác ở đâu? Lương tâm của anh được hình thành thế nào trước tiền bạc? Chị hiểu gì về công ích? Anh có đang tham gia một hệ thống gây hại mà không bao giờ đặt câu hỏi? Những câu hỏi ấy có thể khó hơn việc tổ chức một buổi sinh hoạt, nhưng đó mới là nơi thần học về giáo dân đi vào cuộc sống.
Điều này cũng đòi các linh mục phải thay đổi cái nhìn. Một giáo dân từ chối tham gia thêm một ban ngành vì phải chăm gia đình không nhất thiết là thiếu nhiệt thành. Một bác sĩ không có mặt trong nhiều sinh hoạt vì lịch trực dày nhưng sống nghề với lương tâm sâu sắc có thể đang thi hành một ơn gọi rất đẹp. Một doanh nhân không tham dự được các buổi họp tối nhưng xây dựng doanh nghiệp tử tế và tạo công ăn việc làm công bằng không phải là giáo dân “ít việc đạo”. Một giáo viên miệt mài với học sinh khó khăn có thể đang làm công việc truyền giáo sâu sắc. Người mục tử phải nhìn thấy, nâng đỡ và gọi tên những hình thức thánh thiện đó. Nếu chỉ khen những người luôn có mặt quanh nhà thờ, ta vô tình gửi đi một tín hiệu rằng phần đời sống bên ngoài nhà thờ ít giá trị trước mặt Thiên Chúa. Rồi giáo dân học cách chia đôi đời mình: trong nhà thờ là người đạo đức, ngoài xã hội là người sống theo luật của thị trường. Chính sự chia đôi ấy phải được chữa lành.
Không phải mọi giáo dân đều được kêu gọi làm những việc lớn. Thánh hóa trần thế thường xảy ra trong những quyết định rất nhỏ, rất âm thầm. Không khai thêm một khoản chi giả. Không nói dối để bán được món hàng. Không lợi dụng nhân viên nữ. Không nhắn tin mờ ám với người đã có gia đình. Không làm nhục cấp dưới trước đám đông. Không dùng ảnh trẻ em nghèo để đánh bóng thương hiệu. Không tung tin chưa kiểm chứng. Không cố tình kéo dài thủ tục để người ta phải “bôi trơn”. Không dùng quan hệ giáo xứ để trục lợi. Không đưa con vào trường bằng gian dối. Không mua bằng cấp. Không bóp méo dữ liệu nghiên cứu. Không đẩy chất thải ra môi trường vì rẻ hơn xử lý. Không bắt tài xế chạy quá giờ để kịp giao hàng. Không bán thuốc giả. Không giữ tiền công của người nghèo. Mỗi chữ “không” ấy có thể là một hành vi thờ phượng. Và mỗi chữ “có” tương ứng — có công bằng, có trung thực, có lòng thương xót, có trách nhiệm — là một bước nhỏ làm cho Nước Thiên Chúa bén rễ trong lịch sử.
Do đó, tính chất trần thế không làm ơn gọi giáo dân ít thiêng liêng hơn; nó làm cho sự thiêng liêng của họ có một hình dạng đặc biệt. Thay vì rút khỏi vật chất để tìm Chúa, họ học gặp Chúa trong trách nhiệm đối với vật chất. Thay vì đứng ngoài cơ cấu xã hội, họ bước vào và chịu trách nhiệm về những cơ cấu ấy. Thay vì chỉ nói rằng “mọi sự thuộc về Chúa”, họ phải làm cho cách sử dụng tiền bạc, quyền lực, kỹ thuật, thân xác và tài nguyên cho thấy điều đó là thật. Đây là một linh đạo khó, vì nhiều khi không có tiếng vỗ tay. Người ta dễ nhận ra một người hát thánh ca hay; khó ai nhận ra một kế toán viên đã âm thầm từ chối gian lận. Người ta dễ khen một người nói chuyện đạo đức; ít ai biết một giám đốc vừa hy sinh một khoản lợi nhuận để không sa thải người lao động vô lý. Người ta dễ thấy một người tham dự hành hương; không ai thấy một người đã kiên trì chăm cha mẹ già suốt nhiều năm. Nhưng chính những nơi vô hình ấy có thể là bàn thờ của đời sống giáo dân.
Dĩ nhiên, nói như thế không phải để đối lập giáo xứ với thế giới hoặc xem việc phục vụ trong cộng đoàn là thấp hơn. Giáo xứ cần người. Phụng vụ cần những thừa tác vụ thích hợp. Giáo lý cần giáo lý viên. Hội đồng mục vụ cần giáo dân trưởng thành. Người nghèo cần những nhóm phục vụ. Giới trẻ cần người đồng hành. Nhưng mọi công việc ấy phải được đặt trong trật tự. Giáo xứ là nơi quy tụ để rồi sai đi, chứ không phải nơi gom hết khả năng của giáo dân vào bên trong. Một giáo xứ mạnh không phải chỉ là giáo xứ có rất nhiều ban ngành. Một giáo xứ mạnh là giáo xứ có những người chồng sống tử tế, những người vợ được tôn trọng, những gia đình biết tha thứ, những chủ doanh nghiệp công bằng, những giáo viên có lương tâm, những người trẻ không bán linh hồn cho thành công, những cán bộ không nhận hối lộ, những người làm truyền thông không bán sự thật, những bác sĩ bảo vệ sự sống, những luật sư tôn trọng công lý, những nghệ sĩ biết gìn giữ phẩm giá con người, những công nhân trung thực, những người buôn bán không gian dối. Nếu tất cả các hội đoàn đều đông mà đời sống xã hội của giáo dân không khác gì những cơ chế xung quanh, ta chưa thể vội nói rằng sứ mạng giáo dân đã phát triển.
Một dấu hiệu trưởng thành của mục vụ giáo dân là khi giáo xứ bắt đầu hỏi không chỉ: “Ai sẽ phục vụ trong ban này?” mà còn: “Anh chị đang phục vụ Chúa ở đâu trong đời sống hằng ngày?” Có thể người ấy phục vụ Chúa tại quầy bán hàng. Có thể trong một phòng mổ. Có thể trong lớp học. Có thể trong văn phòng luật. Có thể sau tay lái xe tải. Có thể trong phòng nghiên cứu. Có thể tại căn bếp gia đình. Có thể trong việc chăm một người khuyết tật. Có thể trong chính trường. Có thể trong một startup công nghệ. Có thể giữa một xóm nghèo. Có thể trong việc giữ cho một doanh nghiệp khỏi sa vào gian dối. Sứ mạng không bắt đầu khi người giáo dân bước vào khuôn viên nhà thờ; sứ mạng bắt đầu từ Bí tích Thánh Tẩy và đi theo họ đến mọi nơi họ sống.
Cũng phải nhắc rằng tính chất trần thế không đồng nghĩa với việc giáo dân được toàn quyền tự quyết mà không cần học hỏi giáo huấn Hội Thánh. Ngược lại, vì họ hoạt động ở những nơi phức tạp, họ càng cần một lương tâm được đào luyện. Không phải vấn đề xã hội nào cũng có một công thức đơn giản. Kinh tế có những xung đột lợi ích thật. Chính trị có những lựa chọn không hoàn hảo. Y khoa có những hoàn cảnh bi đát. Công nghệ xuất hiện những câu hỏi mới nhanh hơn các văn kiện. Người giáo dân cần học nguyên tắc, suy xét hoàn cảnh, tham khảo người có chuyên môn, cầu nguyện, phân định, đôi khi chấp nhận những lựa chọn rất khó. Họ không phải những người thi hành máy móc những khẩu hiệu đạo đức, mà phải trưởng thành đến mức có thể đem trí tuệ đức tin đối thoại với tính phức tạp của thế giới. Ở đây, linh mục không thể thay họ quyết định mọi chuyện. Một linh mục có thể dạy nguyên tắc luân lý, giúp đào luyện lương tâm, đồng hành thiêng liêng; nhưng người kỹ sư phải hiểu kỹ thuật, bác sĩ phải hiểu y khoa, luật sư phải hiểu luật, doanh nhân phải hiểu kinh tế. Chính sự kết hợp giữa năng lực nghề nghiệp nghiêm túc và lương tâm Kitô giáo mới làm nên sức mạnh đặc thù của người giáo dân.
Đôi khi Hội Thánh đã quá quen với việc dùng giáo dân như “nhân sự hỗ trợ giáo sĩ”, thay vì nhận ra họ là chủ thể có trách nhiệm trong sứ mạng. Khi thiếu người, ta lập tức hỏi giáo dân có thể làm thêm việc gì trong nhà thờ. Ít khi ta hỏi phải đào tạo họ thế nào để họ biến đổi môi trường nghề nghiệp. Khi một người trẻ thành công trong kinh doanh, ta có thể nghĩ đến việc xin họ tài trợ. Nhưng có khi điều Hội Thánh cần hơn tiền của họ là một doanh nhân thánh thiện, một người dám xây mô hình kinh doanh công bằng, dám từ chối tham nhũng, dám tạo việc làm tử tế. Khi một giáo dân là chuyên gia AI, ta có thể mời họ sửa máy chiếu. Nhưng Hội Thánh cần hơn thế: cần họ suy tư về đạo đức AI và mang lương tâm Kitô hữu vào những hệ thống đang định hình tương lai xã hội. Khi một giáo dân là luật sư, không chỉ cần họ giúp giấy tờ giáo xứ; cần họ bảo vệ công lý trong nghề. Khi một người làm báo, không chỉ cần họ viết tin lễ hội; cần họ trung thành với sự thật trong nền truyền thông. Đó mới là cách nhìn giáo dân theo chiều kích trần thế.
Tính chất trần thế cũng bảo vệ chính Hội Thánh khỏi nguy cơ giáo sĩ hóa giáo dân. Giáo sĩ hóa không chỉ xảy ra khi giáo sĩ muốn nắm mọi quyền. Nó cũng xảy ra khi giáo dân bắt đầu tưởng rằng để trở nên quan trọng trong Hội Thánh, họ phải làm những gì gần giống giáo sĩ nhất, phải xuất hiện quanh cung thánh, phải có vai trò nghi lễ, phải có chức danh, phải được ngồi ghế đầu, phải tham gia nhiều ủy ban. Khi đó người giáo dân đánh mất phẩm giá riêng của mình để chạy theo một hình thức khác. Cần nói lại: phẩm giá giáo dân không đến từ khoảng cách giữa họ và cung thánh. Họ không cần trở thành “bán giáo sĩ” để có chỗ trong Hội Thánh. Chỗ của họ đã được Bí tích Thánh Tẩy xác lập. Và một phần rất lớn chỗ ấy nằm giữa thế giới.
Có một hình ảnh có thể giúp ta hiểu: bàn thờ là nơi bánh và rượu, hoa màu ruộng đất và lao công con người, được dâng lên và trở thành Bí tích. Nhưng trước khi đến bàn thờ, đã có cả một thế giới lao động: người trồng lúa, trồng nho, làm bánh, vận chuyển, buôn bán, quản lý, xây đường, sản xuất dụng cụ. Phụng vụ không khinh những điều đó; nó thu nhận hoa trái của chúng. Rồi sau phụng vụ, người tín hữu lại được sai trở về thế giới để tiếp tục hiến dâng đời mình. Như thế, giữa bàn thờ và thế giới không phải là bức tường, nhưng là một chuyển động. Người giáo dân sống rất mạnh trong chuyển động ấy. Họ mang thế giới vào lời cầu nguyện và mang ân sủng từ phụng vụ trở lại thế giới.
Bởi vậy, khi người giáo dân cảm thấy công việc đời thường của mình là thứ hai, là ít thánh thiện, là chỉ để kiếm sống trong khi “việc Chúa” nằm ở chỗ khác, cần giúp họ sửa lại cái nhìn. Nếu anh làm việc lương thiện, anh đang phục vụ Chúa. Nếu chị nuôi con trong yêu thương, chị đang phục vụ Chúa. Nếu anh đấu tranh để công ty tôn trọng người lao động, anh đang phục vụ Chúa. Nếu chị làm khoa học với lòng trung thực, chị đang phục vụ Chúa. Nếu anh từ chối nhận hối lộ, anh đang làm chứng cho Chúa. Nếu chị thiết kế công nghệ tôn trọng con người, chị đang làm sứ mạng. Không phải mọi công việc đều tự động thánh thiện; công việc cũng có thể trở thành nơi tội lỗi. Nhưng chính vì vậy người giáo dân phải có mặt như men.
Ở chiều ngược lại, cũng không nên lãng mạn hóa tính chất trần thế. Sống giữa thế giới có nguy cơ thật. Người giáo dân đối diện rất trực tiếp với áp lực tiền bạc, địa vị, thành công, quyền lực, cạnh tranh, dục vọng, chủ nghĩa tiêu dùng, sự thỏa hiệp. Có những môi trường mà nếu không cầu nguyện sâu, người tín hữu sẽ bị nghiền nát. Vì thế, giáo dân càng cần Thánh Thể, Lời Chúa, Bí tích Hòa Giải, đời sống cộng đoàn, linh hướng, tình bạn thiêng liêng và việc học hỏi giáo huấn Hội Thánh. Không phải để chạy khỏi trần thế, nhưng để đủ tự do sống trong trần thế mà không bị nó thống trị. Nhà thờ phải là nơi người giáo dân được hồi sức để trở lại chiến trường, không phải nơi họ được phép bỏ chiến trường.
Một giáo xứ trưởng thành vì thế sẽ biết tôn trọng nhịp sống nghề nghiệp và gia đình của giáo dân. Sẽ không tổ chức mọi thứ như thể người nhiệt thành phải rảnh hết các buổi tối. Sẽ không làm người có trách nhiệm gia đình cảm thấy có lỗi vì không tham gia đủ. Sẽ không biến hoạt động hội đoàn thành thước đo duy nhất của đức tin. Sẽ khuyến khích người giáo dân nghỉ ngơi, chăm sóc hôn nhân, có mặt với con cái, học nghề nghiêm túc, tham gia trách nhiệm xã hội. Sẽ cầu nguyện cho nghề nghiệp của họ, mời họ chia sẻ những vấn đề luân lý từ thực tế công việc, xây những nhóm chuyên môn khi thích hợp, giúp họ nối đức tin với nghề. Đó là một mục vụ thực sự tôn trọng tính chất trần thế.
Nếu phải tóm lại toàn bộ chương này trong một câu, có thể nói: thế giới không phải phần còn lại sau nhà thờ; thế giới là nơi phần lớn người giáo dân được Thiên Chúa sai đến. Họ không ở đó như khách tạm trú vô trách nhiệm, cũng không ở đó như người bị đày khỏi vùng thánh. Họ ở đó như những người đã được rửa tội, đã được xức dầu, đã được sai đi. Họ làm cho đất tốt hơn không bằng cách biến mọi thứ thành cơ cấu giáo hội, nhưng bằng cách để Tin Mừng thấm vào logic của gia đình, lao động, kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học và kỹ thuật. Họ làm điều đó khi những gì họ chạm đến trở nên người hơn, thật hơn, công bằng hơn, đẹp hơn, tự do hơn và hướng về công ích hơn.
Và vì thế, một giáo dân làm chủ một tiệm nhỏ, thức dậy sớm, cân đúng, bán thật, trả lương công bằng, không chửi người làm, không gian dối với khách, đóng góp trách nhiệm cho cộng đồng, dành thời gian cho vợ con, biết giúp một người túng thiếu và đến Chúa Nhật quỳ trước Thánh Thể với đôi tay đã chai vì lao động — người ấy có thể đang sống mầu nhiệm của tính chất trần thế sâu sắc hơn một người ngồi ba buổi họp hội đoàn mỗi tuần nhưng để công nhân mình bị bóc lột. Không phải vì họp hội đoàn là xấu. Nhưng vì Nước Thiên Chúa không chỉ cần người nói về Tin Mừng. Nước Thiên Chúa cần những con người để Tin Mừng trở thành cách họ ký một hợp đồng, trả một đồng lương, dạy một đứa trẻ, viết một dòng mã, chữa một bệnh nhân, bỏ một lá phiếu, chăm một khu phố và sống một ngày rất bình thường.
Tính chất trần thế, vì thế, không phải “phần còn lại”. Nó là một trong những con đường lớn mà Hội Thánh đi vào lịch sử. Và người giáo dân không phải người đứng ngoài cung thánh chờ được trao cho một việc. Họ là Hội Thánh đang hiện diện trong lòng thế giới.
CHƯƠNG 4. BÍ TÍCH RỬA TỘI: NGUỒN ƠN GỌI TRƯỚC MỌI PHÂN CHIA
Khi nói về linh đạo giáo dân, một trong những điều phải làm ngay từ đầu là trả người giáo dân về đúng nơi phát sinh căn tính của họ. Nơi ấy không phải là phòng họp hội đồng mục vụ, không phải là hội đoàn, không phải là một chức vụ nào đó trong giáo xứ, cũng không phải là sự tín nhiệm đặc biệt của cha xứ, của bề trên hay của một cơ cấu Giáo hội. Nơi phát sinh căn tính Kitô hữu là giếng Rửa tội. Mọi linh đạo Kitô giáo, dù là linh đạo của giáo dân, linh đạo linh mục, linh đạo tu sĩ hay linh đạo của một đoàn sủng đặc thù nào đó, xét đến tận căn, đều phải trở về với biến cố nền tảng này: con người được dìm vào cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô để trở thành một thụ tạo mới. Đây là điều rất quan trọng, bởi vì trong đời sống Giáo hội, chúng ta thường nhìn nhau qua những phân loại có sau: người này là linh mục, người kia là tu sĩ, người nọ là giáo dân; người này thuộc hội đồng mục vụ, người kia thuộc Legio, người nọ thuộc ca đoàn; người này làm trưởng ban, người kia là giáo lý viên, người nọ chỉ là một giáo dân bình thường. Những phân loại ấy có giá trị trong trật tự đời sống và sứ vụ của Hội Thánh, nhưng chúng không phải nền móng đầu tiên. Trước mọi chức vụ, trước mọi trạng thái sống, trước mọi trách nhiệm và mọi danh xưng, người Kitô hữu là người đã được dìm vào Đức Kitô. Chính vì thế, nếu muốn hiểu linh đạo giáo dân mà khởi đi từ chuyện giáo dân được làm gì trong giáo xứ, được trao quyền gì, được tham gia hội đồng nào, được đứng trên cung thánh hay không, được chia sẻ Lời Chúa tới mức nào, thì ta đã khởi đi quá muộn. Câu hỏi đầu tiên không phải: giáo dân được phép làm gì? Câu hỏi đầu tiên phải là: nhờ Bí tích Rửa tội, người giáo dân đã trở thành ai trong Đức Kitô?
Thánh Phaolô diễn tả bí tích này bằng những hình ảnh rất mạnh: người được Rửa tội được mai táng với Đức Kitô để cùng sống một đời sống mới; họ mặc lấy Đức Kitô; họ không còn thuộc về chính mình theo nghĩa tuyệt đối, nhưng thuộc về Đấng đã chết và sống lại cho họ. Ngôn ngữ ấy mạnh hơn nhiều so với việc chỉ nói Rửa tội là “lễ nhập đạo” hay là nghi thức đưa một em bé vào đạo Công giáo. Trong thực tế mục vụ, vì đa số người Công giáo Việt Nam được Rửa tội khi còn nhỏ, biến cố nền tảng này dễ bị đẩy lùi vào ký ức gia đình: một tấm ảnh em bé mặc áo trắng, một cây nến, một cha đỡ đầu hay mẹ đỡ đầu, một giấy chứng nhận được cất trong hồ sơ giáo xứ. Nhưng thần học bí tích nói một điều sâu hơn vô cùng: trong Rửa tội, Thiên Chúa thực hiện một cuộc chuyển đổi tận căn nơi con người. Tội được tha. Con người được tái sinh bởi nước và Thánh Thần. Họ trở nên chi thể của Thân Thể Đức Kitô. Họ được nhận vào Dân Thiên Chúa. Họ được ban phẩm giá làm con trong Người Con. Họ được in ấn tín thuộc về Đức Kitô. Họ được đưa vào đời sống của Hội Thánh. Họ được mở lối bước vào toàn bộ đời sống bí tích. Họ được đặt vào trong một ơn gọi nên thánh và một sứ mạng. Nói cách khác, Rửa tội không chỉ thêm một danh hiệu “Công giáo” vào đời một người. Rửa tội làm phát sinh một con người mới trong trật tự ân sủng.
Chính ở đây ta gặp nền tảng sâu nhất của linh đạo giáo dân. Người giáo dân không phải là một Kitô hữu “hạng hai”, không phải là người đứng bên ngoài đời sống thánh thiêng để thỉnh thoảng hỗ trợ cho những người “chuyên nghiệp về đạo”. Giáo dân là người đã được Đức Kitô chiếm hữu trong Rửa tội, đã nhận Thánh Thần, đã trở nên đền thờ của Thiên Chúa, đã được tham dự vào sự sống của Chúa Ba Ngôi và được sai đi sống Tin Mừng ngay giữa những thực tại trần thế. Chức linh mục thừa tác là một ân ban đặc biệt và cần thiết cho Hội Thánh; đời thánh hiến là một ân ban đặc biệt và cần thiết cho Hội Thánh; nhưng trước các ân ban ấy là ân ban nền tảng chung của Rửa tội. Không ai được phong chức mà không phải trước hết là người đã được Rửa tội. Không ai tuyên khấn mà không phải trước hết là người đã được tái sinh trong nước và Thánh Thần. Không ai có thể lấy một ơn gọi phát sinh sau này mà xóa đi nền tảng chung của Dân Thiên Chúa. Điều này không san bằng các khác biệt. Nó đặt các khác biệt vào đúng trật tự. Chức thánh không thay thế Rửa tội. Khấn dòng không thay thế Rửa tội. Một đoàn sủng cũng không thay thế Rửa tội. Tất cả phải mọc lên từ cùng một gốc là Đức Kitô và cùng một cửa vào là bí tích Rửa tội.
Có thể nói mạnh hơn: một trong những cuộc canh tân lớn nhất mà Giáo hội hiện đại cần tiếp tục thực hiện là canh tân ý thức về phẩm giá bí tích Rửa tội. Trong nhiều thế kỷ, vì những hoàn cảnh lịch sử và cơ cấu, đời sống Giáo hội dễ bị nhìn theo một mô hình trong đó linh mục là chủ thể hoạt động, còn giáo dân là đối tượng tiếp nhận. Linh mục cử hành, giáo dân tham dự; linh mục giảng dạy, giáo dân nghe; linh mục tổ chức, giáo dân làm theo; linh mục quyết định, giáo dân thi hành. Tất nhiên có những bình diện trong đó sự phân biệt trách nhiệm như thế là đúng và cần thiết. Nhưng nếu toàn bộ Giáo hội học bị rút vào mô hình ấy, phẩm giá Rửa tội của người giáo dân bị che khuất. Công đồng Vatican II đã cố gắng đưa Hội Thánh trở về với hình ảnh Dân Thiên Chúa, trong đó mọi người, nhờ Rửa tội, cùng có một phẩm giá căn bản, cùng được gọi nên thánh, cùng tham dự vào sứ mạng của Đức Kitô, dù mỗi người thực hiện theo cách riêng của ơn gọi mình. Điều cần nhấn mạnh ở đây là từ “cùng”. Không phải chỉ linh mục mới có ơn gọi. Không phải chỉ tu sĩ mới có linh đạo. Không phải chỉ những người rời thế gian mới được gọi nên thánh. Rửa tội đã là một ơn gọi. Rửa tội đã là một cuộc thánh hiến theo nghĩa nền tảng. Rửa tội đã đặt người Kitô hữu vào trong một đời sống phải được sống như lời đáp trả.
Vì thế, câu “mọi linh đạo Kitô giáo bắt đầu ở giếng Rửa tội” không phải một khẩu hiệu đẹp. Nó có những hệ quả rất cụ thể. Trước hết, nó phá vỡ quan niệm cho rằng linh đạo chỉ dành cho những ai có nhiều giờ cầu nguyện, sống trong tu viện hoặc theo một phương pháp đặc biệt. Một người mẹ thức đêm chăm con bệnh, nếu sống trong ân sủng Rửa tội, có thể đang sống một linh đạo rất sâu. Một người cha đi làm mỗi sáng, giữ lòng ngay thẳng giữa môi trường đầy gian dối, nuôi gia đình bằng lao động chính trực, có thể đang sống chức tư tế của người đã chịu Rửa tội bằng việc dâng chính đời mình làm của lễ. Một giáo viên kiên nhẫn với học sinh yếu, một bác sĩ tôn trọng người nghèo, một công nhân không gian lận dù bị ép, một người trẻ dám giữ đức tin trong môi trường chế giễu tôn giáo, một người buôn bán từ chối cân thiếu, một người con chăm sóc cha mẹ già, một cặp vợ chồng cố gắng trung thành với giao ước hôn nhân giữa những khủng hoảng: tất cả những điều ấy có thể trở thành nơi triển nở của ân sủng Rửa tội. Nếu ta chỉ nhìn đời sống thiêng liêng qua số giờ ở nhà thờ, ta sẽ không hiểu linh đạo giáo dân. Đời sống thiêng liêng của giáo dân không chống lại đời sống trần thế. Chính đời sống trần thế là nơi họ phải làm cho ân sủng Rửa tội sinh hoa trái.
Rửa tội cũng đưa người Kitô hữu vào cái chết của Đức Kitô, và chi tiết này không thể bị làm nhẹ đi. Trở thành thụ tạo mới không có nghĩa là nhận một lớp áo tôn giáo phủ lên con người cũ mà không cần chết đi. Trong Rửa tội có một cuộc chết. Con người cũ, con người khép kín trong tội lỗi, ích kỷ, tự tôn, ham thống trị, phải bị dìm xuống. Nước Rửa tội vừa là nước sinh, vừa mang hình ảnh của mồ chôn. Điều này cho thấy linh đạo giáo dân không thể chỉ là một thứ linh đạo “sống tích cực”, “sống tử tế”, “thành công và giữ đạo”. Nó luôn có chiều kích thập giá. Người giáo dân được mời gọi chết đi mỗi ngày cho cái tôi ích kỷ, chết cho tham vọng bất chính, chết cho lối sống chỉ tìm lợi mình, chết cho những thỏa hiệp với gian dối, chết cho sự trả thù, chết cho ham muốn dùng tiền bạc và quyền lực làm thần. Họ chết với Đức Kitô để sống với Đức Kitô. Đây là điều xảy ra không phải một lần rồi thôi ở ngày lãnh bí tích, nhưng là một chuyển động kéo dài cả đời. Rửa tội mở đầu một đời sống mang hình thập giá và phục sinh.
Cũng từ Rửa tội mà người giáo dân nhận phẩm giá làm con. Đây là trung tâm của đời sống thiêng liêng nhưng lại thường bị bỏ quên. Nhiều người sống đạo bằng một tâm thức nô lệ: giữ đạo vì sợ phạt, đi lễ vì sợ tội, đọc kinh vì sợ Chúa trách, làm việc đạo đức để tích điểm, làm việc nhà thờ để được nhìn nhận. Nhưng người đã được Rửa tội được đưa vào quan hệ của Người Con với Chúa Cha. Họ được gọi Thiên Chúa là Cha không phải như một công thức lịch sự, mà vì trong Đức Kitô họ được nhận làm nghĩa tử. Linh đạo giáo dân vì vậy phải là linh đạo của người con, không phải linh đạo của kẻ làm thuê. Người con phục vụ vì yêu nhà mình. Người con đau khi nhà mình bị tổn thương. Người con không tính từng công để đòi phần thưởng. Người con có tự do của tình yêu. Khi căn tính làm con được khám phá lại, nhiều méo mó trong đời sống đạo sẽ được chữa lành. Giáo dân không còn đến với Thiên Chúa chỉ để xin giải quyết vấn đề. Họ học ở lại với Cha. Họ không còn chỉ hỏi “con phải làm gì để khỏi có tội?”, mà hỏi “con phải sống thế nào cho xứng với tình yêu đã nhận?”. Họ không còn chỉ hỏi “việc này có buộc không?”, mà hỏi “việc này có làm con giống Đức Kitô hơn không?”.
Rửa tội còn làm người Kitô hữu thành chi thể của một Thân Thể. Không có Kitô hữu đơn độc. Một người có thể cầu nguyện một mình, nhưng không ai được Rửa tội vào một Đức Kitô riêng tư. Họ được Rửa tội vào một thân mình. Vì thế, linh đạo giáo dân không thể là linh đạo cá nhân chủ nghĩa. Có những kiểu đạo đức rất sốt sắng nhưng lại làm con người xa cộng đoàn, khinh người khác, thích mình là “nhóm đạo đức”, coi những người sống đức tin khác mình là thấp hơn. Đó không phải là hoa trái lành mạnh của Rửa tội. Bí tích này luôn mang chiều kích Giáo hội. Khi một người được Rửa tội, Hội Thánh đón nhận một chi thể mới. Từ đó phát sinh trách nhiệm đối với anh chị em. Người tín hữu không thể nói: tôi chỉ cần Chúa, không cần Giáo hội. Cũng không thể nói: tôi chỉ giữ đạo cho bản thân tôi, chuyện cộng đoàn không liên quan. Nếu đau ở một chi thể, toàn thân bị ảnh hưởng. Nếu một người nghèo bị bỏ quên, Thân Thể Đức Kitô bị tổn thương. Nếu một người trẻ mất đức tin mà cộng đoàn không quan tâm, đó không chỉ là chuyện riêng của gia đình họ. Nếu một người già cô độc trong giáo xứ mà không ai nhớ tới, đời sống Rửa tội của cộng đoàn đang bị chất vấn.
Từ đây mới hiểu đúng giáo huấn về chức tư tế chung của các tín hữu. Người giáo dân nhờ Rửa tội không trở thành linh mục thừa tác, nhưng họ thực sự tham dự vào chức tư tế của Đức Kitô theo cách thức riêng. Sự tham dự ấy không phải một cách nói tượng trưng cho vui. Nó có nội dung thiêng liêng rất thực. Họ có thể dâng cuộc sống mình cho Thiên Chúa. Lao động, gia đình, đau khổ, niềm vui, việc phục vụ, những hy sinh âm thầm, sự trung thành, tất cả có thể được kết hợp với hy lễ của Đức Kitô. Khi người giáo dân tham dự Thánh lễ, họ không phải là khán giả đứng nhìn linh mục “làm lễ”. Họ được mời gọi dâng chính mình cùng với Đức Kitô. Bánh và rượu trên bàn thờ không đứng riêng khỏi đời họ. Trong đó phải có mồ hôi của tuần lễ, những lo âu của gia đình, những cuộc chiến với tội lỗi, những vất vả nuôi con, chăm cha mẹ, những thất bại, những việc tốt âm thầm không ai biết. Thánh lễ trở thành điểm quy tụ của đời sống Rửa tội khi người tín hữu biết đem đời mình lên bàn thờ. Và rồi chính từ bàn thờ họ lại được sai về đời.
Ở đây ta phải nối Rửa tội với hai bí tích Khai tâm còn lại: Thêm sức và Thánh Thể. Linh đạo giáo dân trước hết là linh đạo của toàn bộ tiến trình Khai tâm Kitô giáo. Nếu chỉ nói Rửa tội mà tách khỏi Thêm sức và Thánh Thể, ta chưa thấy hết cấu trúc của đời sống Kitô hữu. Rửa tội sinh con người mới. Thêm sức kiện cường họ bằng ân ban của Chúa Thánh Thần để làm chứng. Thánh Thể nuôi họ bằng chính Mình và Máu Đức Kitô để sống và thi hành sứ mạng. Ba bí tích này không phải ba “lễ” rời nhau trong đời. Chúng tạo nên nền móng của một đời sống. Một người giáo dân trưởng thành không thể chỉ sống nhờ ký ức “tôi đã được Rửa tội”, nhưng phải để ân sủng Khai tâm tiếp tục định hình cả cuộc đời.
Bí tích Thêm sức đặc biệt cần được giải thoát khỏi cách hiểu quá nghèo nàn. Ở nhiều nơi, Thêm sức bị nhìn như “lễ tốt nghiệp giáo lý”, sau đó người trẻ có thể nghỉ học giáo lý và thậm chí nghỉ luôn sinh hoạt Giáo hội. Có nơi lại biến bí tích này thành nghi thức đánh dấu tuổi trưởng thành về văn hóa: học đủ bài, thi đủ câu, mặc đẹp, chụp hình, nhận quà. Nếu hiểu như vậy, ta đã đánh mất chiều kích sứ mạng của bí tích. Thêm sức là ân ban của Chúa Thánh Thần để người đã chịu Rửa tội được kiện cường trong việc làm chứng cho Đức Kitô. Ở đây không phải là kết thúc, mà là một cuộc sai đi sâu hơn. Người được Thêm sức không phải “học đạo xong”, nhưng được trao trách nhiệm trưởng thành hơn trong đức tin. Họ được mời gọi mang Tin Mừng vào những nơi có thể không có linh mục hiện diện: trường học, bệnh viện, doanh nghiệp, công sở, chính trường, khoa học, nghệ thuật, truyền thông, mạng xã hội, gia đình. Nếu Thêm sức không dẫn đến sứ mạng, giáo lý của ta đã dạy thiếu.
Thánh Thể lại là đỉnh cao và nguồn mạch của đời sống ấy. Nhưng cách hiểu về Thánh Thể của giáo dân cũng cần được thanh luyện. Thánh lễ Chúa Nhật không phải là bổn phận tôn giáo chen vào cuối tuần, càng không phải là một hoạt động dành cho “người có thời gian”. Thánh Thể là sự sống của Hội Thánh. Người giáo dân đến bàn tiệc Thánh Thể không để trốn khỏi thế gian, nhưng để được Đức Kitô nuôi dưỡng rồi sai lại vào thế gian. Có một hình ảnh rất đẹp: người giáo dân bước từ chợ, nhà máy, lớp học, bếp ăn, văn phòng, ruộng đồng đến bàn thờ; rồi từ bàn thờ họ trở lại chính những nơi ấy như người đã được biến đổi. Nếu sau Thánh lễ, người tín hữu trở về kinh doanh gian dối như cũ, thù người như cũ, coi thường nhân viên như cũ, bạo hành gia đình như cũ, thì sự hiệp lễ chưa thấm xuống đời. Bí tích Thánh Thể luôn có tính sai đi. Chính chữ “lễ” kết thúc bằng lời sai đi. Không phải ngẫu nhiên mà truyền thống gọi cử hành này là Missa, gắn với việc được sai đi. Người giáo dân được nuôi bằng Thánh Thể để trở về “chợ” — tức là toàn bộ không gian đời thường — và làm cho những nơi ấy mang hơi Tin Mừng.
Chính vì vậy, khi đào tạo giáo dân, nếu chương trình chỉ dạy kỹ năng tổ chức, cách điều hành hội đoàn, luật Giáo hội căn bản, kỹ năng đọc sách thánh, kỹ năng sinh hoạt nhóm, nhưng không giúp họ tái khám phá ân sủng Khai tâm, chương trình ấy đang xây tầng trên mà thiếu móng. Người giáo dân có thể trở nên rất năng động mà vẫn không biết mình là ai. Họ có thể làm hàng chục việc ở giáo xứ nhưng căn tính lại phụ thuộc vào chức vụ. Đến khi không còn chức, họ hụt hẫng. Có người từng làm trưởng hội đoàn nhiều năm, khi được thay bằng người khác thì mất bình an, bỏ sinh hoạt, thậm chí giận cha xứ. Vấn đề sâu xa có khi không phải chỉ là tâm lý quyền lực, mà là vì người ấy đã đặt căn tính của mình vào vai trò thay vì vào Rửa tội. Khi chức vụ trở thành nguồn căn tính, mất chức có cảm giác như mất chính mình. Nhưng nếu căn tính nằm ở Đức Kitô, người ta có thể phục vụ khi được giao, và cũng có thể lui xuống khi hết nhiệm kỳ mà vẫn bình an. Tôi vẫn là con Thiên Chúa. Tôi vẫn là chi thể của Đức Kitô. Tôi vẫn có sứ mạng. Tôi không cần một chiếc ghế để chứng minh giá trị của mình.
Một nguy cơ tương tự xảy ra khi giáo dân đặt căn tính vào câu “được cha tin tưởng”. Được linh mục tín nhiệm là điều đáng quý. Sự cộng tác giữa linh mục và giáo dân là cần thiết. Nhưng nếu người giáo dân sống bằng sự công nhận của cha xứ, đời sống thiêng liêng sẽ rất mong manh. Một ngày cha đổi xứ. Một ngày có linh mục mới không biết họ. Một ngày trách nhiệm được giao cho người khác. Nếu lúc ấy họ cảm thấy mình không còn giá trị, nghĩa là nguồn căn tính đã bị đặt sai chỗ. Trước khi bất cứ linh mục nào biết tên họ, Thiên Chúa đã gọi họ bằng tên trong Rửa tội. Trước khi ai trao cho họ một chức vụ, Đức Kitô đã trao cho họ phẩm giá làm chi thể của Người. Trước khi họ được bầu vào hội đồng, Thánh Thần đã ngự trong họ. Điều này không làm giảm giá trị của cơ cấu mục vụ. Nó giải phóng cơ cấu khỏi trở thành thần tượng.
Cũng cần nói tương tự về hội đoàn. Hội đoàn là một quà tặng lớn khi giúp tín hữu cầu nguyện, sống tình huynh đệ, phục vụ và thi hành sứ mạng. Nhưng không một hội đoàn nào là nguồn ơn gọi căn bản của Kitô hữu. Người ta là người thuộc về Đức Kitô trước khi thuộc Legio, Gia đình Phạt tạ, Huynh đoàn, Cursillo, Canh tân, giới trẻ hay bất cứ phong trào nào. Khi quên điều này, các nhóm dễ tạo ra căn tính khép kín: “người của hội mình” và “người ngoài hội”. Thậm chí có thể xảy ra cạnh tranh thiêng liêng: nhóm nào sốt sắng hơn, nhóm nào được cha ưu ái hơn, nhóm nào đông hơn, nhóm nào có nhiều hoạt động hơn. Tất cả những điều đó là dấu hiệu căn tính bí tích đang bị che khuất. Rửa tội đi trước mọi hội đoàn. Vì thế, mọi đoàn sủng đích thực phải giúp người tín hữu sống sâu hơn căn tính Rửa tội và hiệp thông hơn với toàn thể Hội Thánh, chứ không tạo một Giáo hội nhỏ bên trong Giáo hội.
Nói đến Rửa tội cũng phải nói đến ấn tín. Người được Rửa tội mang một dấu ấn không thể xóa. Điều này có một sức an ủi mục vụ rất lớn. Có những người rời xa Giáo hội nhiều năm. Có người phạm những tội nặng. Có người sống như không còn liên hệ với đức tin. Có người thất vọng với Hội Thánh, với linh mục, với chính mình. Nhưng ấn tín Rửa tội không biến mất. Hội Thánh không nhìn họ như người hoàn toàn xa lạ. Họ vẫn mang trong mình dấu thuộc về Đức Kitô. Vì thế, mục vụ đối với người nguội lạnh không phải là tiếp cận người ngoài hoàn toàn, nhưng là đi tìm một người anh em đã xa nhà. Điều này thay đổi cách nhìn. Ta không bắt đầu bằng kết án: “anh bỏ đạo”. Ta có thể bắt đầu bằng ký ức: “anh đã được sinh vào đời sống này; có một dòng nước từng chảy trên đầu anh; có một danh thánh đã được kêu trên anh; có một căn tính sâu hơn cả những năm tháng xa cách”. Đó là lý do Hội Thánh luôn hy vọng cho người đã chịu Rửa tội.
Nền tảng Rửa tội còn giải thích ơn gọi phổ quát nên thánh. Nên thánh không phải một chương trình dành cho thiểu số. Nói người giáo dân “cũng được gọi nên thánh” vẫn còn hơi yếu, như thể điều ấy được thêm vào sau. Đúng hơn phải nói: vì đã được Rửa tội, họ được gọi nên thánh. Rửa tội đặt trong họ mầm của đời sống mới, và toàn bộ đời Kitô hữu là để mầm ấy lớn lên. Nên thánh đối với người giáo dân không có nghĩa là giả làm tu sĩ giữa đời. Một người cha nên thánh bằng cách trở thành người cha theo Tin Mừng. Một người mẹ nên thánh trong chính ơn gọi làm mẹ. Một người trẻ nên thánh giữa những lựa chọn của tuổi trẻ. Một doanh nhân nên thánh trong cách sử dụng tiền bạc và quyền lực. Một người làm chính trị nên thánh trong việc phục vụ công ích. Một nghệ sĩ nên thánh bằng việc phục vụ vẻ đẹp và sự thật. Một người lao động nên thánh qua trung tín, công bằng và yêu thương. Không ai cần rời khỏi ơn gọi thực tế của mình để tìm một sân khấu “thiêng liêng” hơn. Chính thực tại ấy là đất nơi hạt giống Rửa tội phải mọc.
Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh xã hội hôm nay, khi đời sống giáo dân bị phân mảnh thành nhiều vai. Một người có thể đi lễ sáng Chúa Nhật, nhưng từ thứ Hai đến thứ Bảy lại sống như thể đức tin không liên quan đến nghề nghiệp. Họ có thể rất đạo đức trong nhà thờ nhưng gian lận thuế, bóc lột lao động, nói dối khách hàng, tham gia tham nhũng, nhục mạ người khác trên mạng. Đây là một vết nứt giữa Rửa tội và đời sống. Linh đạo giáo dân có nhiệm vụ hàn lại vết nứt ấy. Không có hai đời: đời đạo và đời thường. Người được Rửa tội chỉ có một đời, và đời ấy thuộc về Đức Kitô. Họ không thể gửi đức tin ở cửa nhà thờ rồi bước vào công ty bằng một luân lý khác. Họ mang ấn tín Rửa tội vào mọi nơi mình đến. Chính sự thống nhất này là dấu hiệu của trưởng thành Kitô giáo.
Có lẽ một trong những câu hỏi hữu ích nhất cho người giáo dân là: “Bí tích Rửa tội của tôi đang hiện ra ở đâu trong tuần này?” Không phải chỉ: tôi đã đi lễ chưa, đã đọc kinh chưa, mà còn: cách tôi dùng tiền có phản ánh việc tôi thuộc về Đức Kitô không? Cách tôi nói với vợ chồng, con cái có phản ánh con người mới không? Cách tôi đối xử với người làm thuê, người yếu hơn, người bất đồng với tôi có mang dấu của Rửa tội không? Cách tôi dùng mạng xã hội có giống người đã chết cho con người cũ không? Cách tôi phản ứng khi bị xúc phạm có cho thấy tôi đang sống từ sự phục sinh không? Những câu hỏi này đưa bí tích ra khỏi sách giáo lý và đặt nó vào cơ thể sống của đời thường.
Rửa tội cũng tạo một nền tảng mạnh mẽ cho sự bình đẳng phẩm giá giữa các tín hữu. Bình đẳng ở đây không có nghĩa là mọi người có cùng chức năng hoặc quyền hạn. Giáo hội không phải tổ chức nơi mọi vai trò giống nhau. Nhưng sự khác biệt chức năng không được biến thành khác biệt phẩm giá. Một giám mục có trách nhiệm khác một giáo dân, nhưng không có một phẩm giá Rửa tội “cao cấp hơn”. Một linh mục có quyền cử hành Thánh Thể, tha tội trong bí tích, nhưng không vì thế mà là một loại Kitô hữu có nhân phẩm ân sủng lớn hơn người giáo dân. Sự phân biệt giữa chức tư tế thừa tác và chức tư tế chung là thực và thiết yếu, nhưng cả hai đều quy về Đức Kitô và phục vụ cùng một Thân Thể. Khi điều này được hiểu đúng, thái độ giáo sĩ trị sẽ bị chất vấn từ gốc. Linh mục không phải chủ nhân ân sủng. Ngài là thừa tác viên. Giáo dân không phải khách hàng của dịch vụ tôn giáo. Họ là chi thể sống của Hội Thánh.
Ngược lại, ý thức mạnh về Rửa tội cũng giúp tránh một thái cực khác: biến việc nâng cao vai trò giáo dân thành cuộc cạnh tranh quyền lực với hàng giáo sĩ. Nếu căn tính giáo dân được xây trên nhu cầu “phải được làm giống linh mục thì mới có giá trị”, ta lại vô tình xác nhận mô hình sai: chỉ việc của linh mục mới là việc quan trọng. Giáo dân không cần trở thành bán-linh-mục để có phẩm giá. Sứ mạng riêng của họ trong thế giới là điều không thể thay thế. Có những nơi linh mục gần như không thể đi vào nhưng giáo dân sống mỗi ngày: phòng họp doanh nghiệp, lớp đại học, nhà máy, gia đình, các nền tảng số, nghệ thuật, khoa học, kinh tế, luật pháp, chính trị, truyền thông. Giáo dân không được sai vào những nơi ấy như người làm việc thế tục rồi thỉnh thoảng nhớ đến Chúa. Họ được sai như những người đã chịu Rửa tội. Đây là một hình thức truyền giáo thường âm thầm nhưng vô cùng rộng lớn.
Do đó, đào tạo giáo dân phải giúp họ đọc lại toàn bộ cuộc đời từ bí tích Khai tâm. Không chỉ dạy họ kiến thức để làm việc trong nhà thờ. Có một nghịch lý đáng suy nghĩ: đôi khi người giáo dân được đào tạo rất kỹ để đọc sách thánh trong phụng vụ, tổ chức rước, điều hành hội đoàn, nhưng lại không được giúp suy tư Kitô giáo về nghề nghiệp của mình. Một chủ doanh nghiệp Công giáo có thể không bao giờ được hỏi về lương công nhân. Một bác sĩ Công giáo có thể không được đào tạo về các vấn đề luân lý của nghề. Một giáo viên Công giáo không được giúp nối đức tin với sứ mạng giáo dục. Một người làm truyền thông Công giáo không được hướng dẫn về sự thật và phẩm giá con người trên môi trường số. Như thế là thu hẹp ơn gọi giáo dân vào bên trong khuôn viên giáo xứ. Rửa tội thì rộng hơn nhiều.
Khi người giáo dân sống đúng căn tính Khai tâm, họ sẽ hiểu Rửa tội không chỉ là “đã chịu”, Thêm sức không chỉ là “đã lãnh”, Thánh Thể không chỉ là “đi dự”. Ba bí tích trở thành một nhịp sống. Tôi đã được Rửa tội, nên tôi thuộc về Đức Kitô. Tôi đã được Thêm sức, nên tôi được sai làm chứng trong quyền năng Thánh Thần. Tôi được nuôi bằng Thánh Thể, nên tôi phải trở thành tấm bánh được bẻ ra cho người khác. Ba mệnh đề ấy có thể làm thành một quy luật linh đạo giáo dân. Thuộc về. Được sai đi. Được trao ban. Một đời sống chỉ có thuộc về mà không được sai sẽ co lại thành đạo đức riêng tư. Một đời sống chỉ nói sứ mạng mà không thuộc về Đức Kitô sẽ trở thành hoạt động xã hội. Một đời sống nhận Thánh Thể mà không trở thành tấm bánh cho người khác sẽ rơi vào nghi thức không sinh hoa trái.
Điều cuối cùng cần nhấn mạnh là Rửa tội vừa là quà tặng vừa là nhiệm vụ. Người Kitô hữu không tự làm cho mình trở thành con Thiên Chúa. Họ nhận. Không tự mình xóa tội. Họ nhận ơn tha thứ. Không tự ghép mình vào Thân Thể Đức Kitô. Họ được tháp nhập. Không tự tạo ấn tín. Họ được ghi dấu. Mọi sự bắt đầu bằng ân sủng. Điều này bảo vệ linh đạo giáo dân khỏi chủ nghĩa thành tích. Người giáo dân không cần chứng minh giá trị trước Thiên Chúa bằng số việc đạo đức hay số hoạt động mục vụ. Họ sống từ một quà tặng đã nhận. Nhưng chính vì đã nhận, họ có trách nhiệm làm cho quà tặng sinh hoa trái. Ân sủng không dẫn tới thụ động. Ân sủng sinh sứ mạng.
Nếu một ngày Hội Thánh muốn đổi mới đời sống giáo dân một cách sâu xa, có lẽ không cần bắt đầu bằng cách lập thêm thật nhiều ban ngành. Có thể phải bắt đầu bằng việc đưa cộng đoàn trở lại giếng Rửa tội. Dạy trẻ em rằng ngày Rửa tội không chỉ là chuyện cha mẹ đã làm cho chúng khi còn nhỏ. Dạy người trẻ rằng Thêm sức không phải bằng tốt nghiệp giáo lý. Dạy người trưởng thành rằng Thánh Thể là nguồn sống cho tuần làm việc. Dạy các hội đoàn rằng họ không sở hữu tín hữu. Dạy linh mục rằng giáo dân đã là chủ thể của đời sống Giáo hội nhờ Rửa tội trước khi được ngài trao một công việc. Dạy chính giáo dân rằng phẩm giá của họ không tăng lên khi được đứng gần cung thánh và cũng không giảm đi khi họ âm thầm phục vụ giữa đời.
Ở giếng Rửa tội, không ai được gọi là “giáo dân hạng thường”. Không có người Kitô hữu vô danh trước mặt Thiên Chúa. Có một con người được gọi đích danh, được dìm vào Đức Kitô, được mặc lấy Đức Kitô, được trao Thánh Thần, được đưa vào một dân, được sai vào thế giới. Tất cả các phân chia về sau chỉ có ý nghĩa khi phục vụ căn tính nền tảng ấy. Một người có thể trở thành linh mục. Một người có thể tuyên khấn. Một người có thể sống đời hôn nhân. Một người có thể sống độc thân giữa đời. Một người có thể giữ chức vụ lớn trong Giáo hội. Một người có thể cả đời không có tên trong một ban ngành nào. Nhưng trước tất cả những khác biệt ấy, họ đã đứng cùng nhau trong một dòng nước, cùng chết và sống với một Đức Kitô, cùng gọi một Thiên Chúa là Cha, cùng thuộc về một Thân Thể, cùng được mời gọi nên thánh.
Bởi thế, nguồn của linh đạo giáo dân không phải là việc họ được Hội Thánh “cho tham gia” nhiều hơn. Nguồn đã có từ ngày họ được Rửa tội. Việc cần làm không phải trước hết là cấp thêm căn tính, nhưng là đánh thức căn tính đã được ban. Khi người giáo dân hiểu điều ấy, họ sẽ không còn đứng ở cửa nhà thờ chờ ai đó giao việc mới cảm thấy mình có sứ mạng. Họ sẽ biết rằng ngay sáng thứ Hai, khi bước vào gia đình, lớp học, cửa hàng, bệnh viện, công ty, cánh đồng, phòng máy, văn phòng hay chiếc xe chở hàng, họ đã bước vào nơi sứ mạng Rửa tội của mình phải được sống. Và khi chiều Chúa Nhật họ trở lại bàn tiệc Thánh Thể, họ đem theo cả thế giới ấy để dâng lên Thiên Chúa, rồi lại nhận chính Đức Kitô làm lương thực mà trở về với thế giới.
Đó là linh đạo Khai tâm. Đó là nền của mọi linh đạo giáo dân. Và chỉ khi nền này vững, mọi hội đoàn, chức vụ, cơ cấu, chương trình đào tạo và sáng kiến mục vụ mới tìm được đúng chỗ của mình: chúng là phương tiện giúp ân sủng Rửa tội trưởng thành, chứ không bao giờ là nguồn thay thế cho ân sủng ấy.
CHƯƠNG 5. CHỨC TƯ TẾ CỘNG ĐỒNG, NGÔN SỨ VÀ VƯƠNG GIẢ
Khi Công đồng Vatican II nói rằng người tín hữu, nhờ Bí tích Rửa tội, được tham dự vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Đức Kitô, Công đồng không dùng một thứ ngôn ngữ trang trí để làm cho người giáo dân cảm thấy mình “cũng quan trọng”. Đây là một khẳng định thần học rất mạnh về căn tính Kitô hữu. Người giáo dân không đứng bên ngoài sứ mạng của Đức Kitô rồi thỉnh thoảng được mời vào giúp một vài việc. Họ đã được tháp nhập vào chính Đức Kitô. Vì thế, đời sống của họ mang dấu ấn của Đấng là Tư tế, Ngôn sứ và Vua. Ba chiều kích ấy không phải ba chức danh để khoe, cũng không phải ba chiếc áo mặc vào những dịp sinh hoạt giáo xứ. Chúng diễn tả cách một người đã được Rửa tội hiện hữu giữa Hội Thánh và giữa thế giới. Một người giáo dân đi làm sáng thứ Hai, chăm con lúc nửa đêm, chịu đựng bệnh tật, quyết định một hợp đồng, từ chối một khoản tiền bất chính, chăm sóc cha mẹ già, lên tiếng cho một người bị oan, kiềm chế một cơn giận, tha thứ cho người đã làm mình tổn thương, dành thời giờ cầu nguyện giữa lịch sống bận rộn: tất cả những điều ấy đều có thể trở thành nơi chức tư tế cộng đồng, chức ngôn sứ và chức vương giả được thực hiện. Nếu chỉ nói ba chức vụ này trong lớp giáo lý mà không đưa chúng trở về căn bếp, công ty, ruộng đồng, bệnh viện, trường học, văn phòng, chợ, hội đồng quản trị và đời sống gia đình, ta đã làm cho một chân lý rất sống động trở thành một sơ đồ rất đẹp nhưng rất xa đời.
Trước hết cần giữ một phân biệt nền tảng mà Lumen Gentium trình bày rất rõ: chức tư tế cộng đồng của các tín hữu và chức tư tế thừa tác hay phẩm trật khác nhau về bản chất chứ không chỉ khác nhau về mức độ, tuy cả hai đều quy hướng về nhau và mỗi bên theo cách riêng tham dự vào chức tư tế duy nhất của Đức Kitô. Câu này phải được đọc thật chậm, vì lịch sử mục vụ có thể nghiêng sang hai phía đều sai. Một phía quá nhấn mạnh chức tư tế thừa tác đến mức đời sống giáo dân dường như chỉ là đời sống của những người “không phải linh mục”, đứng ở hàng ghế dưới, chờ lãnh nhận và phụ giúp. Phía kia, trong phản ứng ngược lại, lại muốn xóa mờ sự khác biệt, như thể linh mục chỉ là một giáo dân được cộng thêm quyền chủ sự và giáo dân chỉ thiếu vài chức năng phụng vụ để trở nên giống linh mục. Công đồng không đi theo cả hai lối ấy. Chức tư tế thừa tác có căn tính và nhiệm vụ riêng: qua Bí tích Truyền chức thánh, thừa tác viên được cấu hình với Đức Kitô là Đầu để phục vụ Dân Người, rao giảng Lời, cử hành các bí tích, đặc biệt là Thánh Thể, tha tội trong Bí tích Hòa giải, chăn dắt cộng đoàn và quy tụ Hội Thánh. Chức tư tế cộng đồng của tín hữu phát xuất từ Bí tích Rửa tội và được củng cố trong Bí tích Thêm sức: người tín hữu hiến dâng chính đời mình trong Đức Kitô, kết hợp công việc, niềm vui, đau khổ, tương quan và trách nhiệm trần thế của mình với hy tế duy nhất của Người. Hai chức tư tế không cạnh tranh. Chúng không nằm trên một cái thang để hỏi ai cao hơn. Chúng khác về bản chất vì có cách thức tham dự và phục vụ khác nhau, nhưng đều nằm bên trong mầu nhiệm của một Đức Kitô duy nhất và một Hội Thánh duy nhất.
Chính ở đây người ta mới hiểu vẻ đẹp của cụm từ “lễ tế đời sống”. Người giáo dân không cần tìm một đời sống khác đời sống hiện tại của mình để trở nên tư tế. Họ không cần biến căn nhà thành tu viện, biến văn phòng thành nhà nguyện hay biến mọi câu nói thành lời đạo đức. Điều cần là để chính đời sống đang có được đưa vào trong tương quan với Thiên Chúa. Thánh Phaolô mời các tín hữu hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. “Thân mình” ở đây rất cụ thể. Đó là đôi tay lao động đến mỏi. Là cái đầu phải suy nghĩ một quyết định khó. Là thân xác người mẹ mang thai và sinh con. Là thân xác người bệnh phải học cách chịu giới hạn. Là đôi chân người công nhân đi ca đêm. Là giấc ngủ bị cắt vì con sốt. Là tiếng thở dài của người đang chăm người thân hấp hối. Là những bữa cơm nấu hằng ngày chẳng ai vỗ tay. Là những giờ lái xe ngoài đường, những trang giáo án, những bảng tính, những cuộc thương lượng, những đợt thu hoạch, những lần sửa máy, những chuyến giao hàng, những ca trực. Khi tất cả những điều ấy được sống trong đức tin, được thanh luyện khỏi ích kỷ, được đặt dưới ánh sáng Tin Mừng và được dâng cho Thiên Chúa vì tình yêu, đời thường trở thành chất liệu của lễ tế thiêng liêng.
Nói như thế không có nghĩa mọi việc ta làm tự động trở nên thánh chỉ vì ta là người Công giáo. Một hợp đồng gian dối không thành lễ tế vì người ký có đeo thánh giá. Một ngày làm việc đầy tham lam không được thánh hóa chỉ vì trước đó ta đã đi lễ. Một người cha quát tháo vợ con rồi nói mình “hy sinh cho gia đình” không vì câu nói ấy mà hy sinh trở nên đẹp lòng Chúa. Chức tư tế cộng đồng đòi sự hoán cải. Tư tế không chỉ là người dâng; tư tế còn phải tự để mình được thanh luyện cùng với lễ vật. Người giáo dân dâng công việc, nhưng đồng thời phải hỏi công việc ấy có công bằng không. Dâng tiền bạc, nhưng phải hỏi tiền ấy đến từ đâu và được dùng thế nào. Dâng thành công, nhưng phải hỏi thành công ấy có được xây trên sự tổn thương của người khác không. Dâng đau khổ, nhưng không được thần thánh hóa những đau khổ đáng lẽ phải chấm dứt bằng công lý. Dâng gia đình, nhưng phải thực sự học yêu người trong gia đình. Dâng trách nhiệm xã hội, nhưng không được trốn trách nhiệm ấy bằng những thực hành đạo đức thay thế. Lễ tế Kitô giáo không phải nghi thức phủ một lớp thánh thiện lên đời sống cũ; nó là sự đưa đời sống vào trong mầu nhiệm Vượt Qua để cái gì phải chết thì chết, cái gì phải sống thì được sống trong Đức Kitô.
Đỉnh cao của chức tư tế cộng đồng ấy gặp chức tư tế thừa tác cách đặc biệt trong Thánh Thể. Khi cộng đoàn đem bánh rượu lên bàn thờ, Hội Thánh không chỉ đem hai vật thể. Trong biểu tượng của bánh và rượu có cả lao động của con người, mồ hôi của ruộng đất, sự cộng tác của bao bàn tay, và sâu hơn nữa là đời sống của Dân Chúa đang được đặt vào hy tế của Đức Kitô. Linh mục không thay thế đời sống của cộng đoàn. Người chủ sự Thánh Thể in persona Christi Capitis, trong ngôi vị Đức Kitô là Đầu, để làm hiện diện bí tích hy tế duy nhất của Đức Kitô và quy tụ lễ tế thiêng liêng của toàn thân mình. Giáo dân không ngồi xem linh mục “làm lễ”. Linh mục cũng không cử hành một hành vi riêng của cá nhân mình trước một khán giả. Cả Hội Thánh cử hành, mỗi thành phần theo cách thế riêng của mình. Chính vì thế, lời “Amen” của người tín hữu khi đón nhận Mình Thánh Chúa không thể chỉ có nghĩa: “Con tin đây là Mình Chúa.” Nó còn kéo theo: “Con xin để đời con được đưa vào đời Chúa; con xin trở thành điều con lãnh nhận; con xin để hy tế của Chúa định hình cách con sống tuần này.” Nếu sau Thánh lễ, người tín hữu trở về nhà và công ty mà vẫn sống hoàn toàn theo logic ích kỷ, lễ tế đời sống của họ đã bị đứt khỏi bàn thờ. Nếu linh mục cử hành Thánh Thể mà không giúp dân Chúa nối bàn thờ với đời sống, chức tư tế thừa tác cũng bị thu hẹp thành nghi lễ. Bàn thờ và thế giới không phải hai vũ trụ tách nhau. Đức Kitô quy tụ lễ tế đời sống để sai người tín hữu trở lại đời, và chính ở đó lễ tế tiếp tục.
Chiều kích tư tế cũng làm thay đổi cách người giáo dân hiểu đau khổ. Kitô giáo không tìm đau khổ vì đau khổ. Đức Kitô chữa người bệnh, cho kẻ đói ăn, giải phóng người bị áp bức, khóc trước mồ Lazarô. Vì vậy, người tín hữu không được dùng ngôn ngữ “dâng cho Chúa” để thụ động trước bạo lực, bệnh tật có thể chữa, bất công có thể sửa hay những cơ cấu cần thay đổi. Nhưng có những đau khổ không thể tránh được ngay: tuổi già, bệnh nan y, mất mát, thất bại, giới hạn, những vết thương chưa thể lành. Ở đó, chức tư tế cộng đồng không nói rằng đau khổ tự nó tốt, nhưng nói rằng không một phần nào của đời ta nhất thiết phải trở thành vô nghĩa nếu được kết hợp với Đức Kitô chịu đóng đinh và phục sinh. Một bệnh nhân nằm bất động vẫn có thể sống sứ mạng. Một người già không còn đi lại được vẫn có thể là tư tế trong sự kiên nhẫn và lời cầu. Một người mẹ khóc vì đứa con lầm đường không chỉ là người thất bại; nỗi đau của bà có thể trở thành lời chuyển cầu. Một người thất nghiệp vẫn có phẩm giá và có thể dâng chính nỗi bất an của mình, trong khi đồng thời tìm việc và cộng đoàn có trách nhiệm nâng đỡ họ. Đức tin không xóa đau khổ bằng khẩu hiệu. Đức tin đưa đau khổ vào trong tương quan với Đấng đã đi qua đau khổ đến sự sống.
Từ chức tư tế, ta bước sang chức ngôn sứ. Nói “ngôn sứ”, nhiều người lập tức nghĩ đến người nói trước tương lai. Trong Kinh Thánh, ngôn sứ trước hết không phải người đoán ngày mai, mà là người nhận Lời Chúa và được sai để nói Lời ấy vào hôm nay. Ngôn sứ đọc thực tại dưới ánh sáng Thiên Chúa, nói sự thật, gọi tội là tội, mở đường hy vọng, an ủi người bị nghiền nát, cảnh báo người quyền thế và nhắc cộng đoàn trở về giao ước. Đức Kitô là vị Ngôn sứ trọn vẹn vì Người không chỉ nói Lời Thiên Chúa; Người là Ngôi Lời. Người giáo dân được tháp nhập vào Người nên cũng mang trách nhiệm ngôn sứ. Điều ấy không phụ thuộc việc họ có được đứng trên bục giảng trong thánh lễ hay không. Bài giảng phụng vụ có quy định riêng của Hội Thánh và liên kết đặc biệt với thừa tác vụ có chức thánh. Nhưng sứ mạng ngôn sứ của giáo dân rộng hơn rất nhiều so với bục giảng. Thực ra, những nơi họ phải sống chức ngôn sứ mạnh nhất lại thường là những nơi linh mục không hiện diện: phòng họp công ty, phòng giáo viên, bàn ăn gia đình, bệnh viện, trường đại học, phòng thí nghiệm, nhà máy, hội đồng địa phương, nhóm bạn, mạng xã hội, giới nghệ thuật, giới kinh doanh, thế giới kỹ thuật, những nơi sản xuất luật lệ, văn hóa và thói quen xã hội.
Một kế toán từ chối hợp thức hóa số liệu giả đang sống chiều kích ngôn sứ. Một bác sĩ giải thích sự thật với bệnh nhân bằng lòng thương xót đang sống chiều kích ngôn sứ. Một giáo viên không làm nhục học sinh yếu đang làm chứng cho cái nhìn của Thiên Chúa về con người. Một người chủ trả lương công bằng dù có thể lợi dụng công nhân đang nói một lời Tin Mừng bằng cơ chế tiền lương. Một người trẻ từ chối tham gia việc bêu xấu bạn trên mạng đang làm chứng cho phẩm giá con người. Một người mẹ dạy con không nói dối dù nói thật làm gia đình thiệt một chút lợi đang thực thi vai trò ngôn sứ. Một công chức không nhận phong bì đang công bố một chân lý về công ích mạnh hơn nhiều bài diễn văn. Một nhà báo kiểm chứng thông tin trước khi đăng, một người làm nội dung không câu tương tác bằng nhục mạ, một kỹ sư không bỏ qua tiêu chuẩn an toàn để giảm chi phí, một người làm AI không thiết kế sản phẩm chỉ để gây nghiện chú ý: đó đều có thể là những hành vi ngôn sứ. Ngôn sứ không phải trước hết là nói lớn; ngôn sứ là sống sao để sự thật của Thiên Chúa có hình dạng trong những lựa chọn cụ thể.
Tuy nhiên, chức ngôn sứ không trao cho người tín hữu giấy phép nói bất cứ điều gì mình nghĩ rồi gắn nhãn “sự thật”. Có người rất thích làm ngôn sứ vì thích sửa người khác. Có người gọi sự nóng nảy của mình là “thẳng thắn”. Có người gọi sự thiếu hiểu biết là “bảo vệ đức tin”. Có người chia sẻ tin chưa kiểm chứng, hạ nhục người khác, kết án động cơ của họ, rồi nghĩ mình đang can đảm làm chứng cho Chúa. Ngôn sứ Kitô giáo phải luôn đứng giữa sự thật và bác ái. Thiếu sự thật, bác ái trở thành dễ dãi. Thiếu bác ái, sự thật trở thành vũ khí. Đức Giêsu có thể nói rất mạnh với giả hình, nhưng Người cũng khóc trên Giêrusalem. Người không làm nhục người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội. Người nói với Phêrô lời nghiêm khắc, nhưng sau Phục Sinh lại phục hồi ông bên bờ hồ. Người ngôn sứ không nói để thắng. Họ nói để sự thật có thể giải phóng. Có lúc phải lên tiếng công khai. Có lúc phải nói riêng. Có lúc phải im để nghe thêm. Có lúc cần học trước khi phát biểu. Có lúc cần chấp nhận bị hiểu lầm. Có lúc phải xin lỗi vì mình đã nói đúng nội dung nhưng sai tinh thần. Ngôn sứ không phải người nghiện phát biểu. Ngôn sứ là người đã để Lời Chúa xét xử chính mình trước khi đem Lời ấy soi người khác.
Vì vậy, giáo dân muốn sống chức ngôn sứ phải được đào tạo đức tin thật sự. Không thể chỉ dựa vào vài câu đạo đức nghe trên mạng. Thế giới hiện đại đặt người tín hữu trước những câu hỏi phức tạp về kinh tế, sinh học, y khoa, môi trường, công nghệ, giáo dục, truyền thông, chiến tranh, hòa bình, di dân, quyền lao động, nghèo đói, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, đạo đức nghề nghiệp. Muốn nói lời Kitô giáo trong những lĩnh vực ấy, cần vừa biết đức tin vừa biết thực tại. Một người không hiểu kinh tế mà phát biểu mọi vấn đề kinh tế như thể chỉ cần một câu Kinh Thánh sẽ dễ biến Tin Mừng thành khẩu hiệu. Một người làm kinh tế nhưng không học học thuyết xã hội Công giáo lại có thể sống hai đời: Chúa Nhật đạo đức, thứ Hai theo logic mạnh được yếu thua. Chức ngôn sứ đòi một cuộc gặp thật giữa đức tin và năng lực chuyên môn. Giáo dân không phải phiên bản rút gọn của thần học gia, nhưng họ cần có khả năng suy tư đức tin trong chính lĩnh vực mình sống. Người bác sĩ cần học cách nhìn y khoa dưới ánh sáng phẩm giá con người. Người doanh nhân cần học về công ích, lao động, lương công bằng, trách nhiệm xã hội. Người làm giáo dục cần phân định mục tiêu của việc đào tạo con người. Người làm truyền thông cần suy nghĩ về sự thật, danh dự, quyền riêng tư và cơ chế thao túng chú ý. Người làm chính quyền phải nghĩ về quyền lực như sự phục vụ công ích. Người làm công nghệ phải hỏi sản phẩm mình làm đang phục vụ con người hay đang biến con người thành dữ liệu và thị trường. Ở đây chức ngôn sứ của giáo dân trở nên không thể thay thế, vì linh mục không thể và cũng không nên trở thành chuyên gia trong mọi lãnh vực trần thế.
Một biểu hiện rất quan trọng của chức ngôn sứ là khả năng nói sự thật ngay trong cộng đoàn Hội Thánh. Giáo dân không chỉ được sai để nói Tin Mừng với “thế gian bên ngoài”. Họ cũng có trách nhiệm xây dựng Hội Thánh bằng sensus fidei, cảm thức đức tin, bằng kinh nghiệm sống, bằng sự góp ý chân thành và có trách nhiệm. Điều này không có nghĩa mọi ý kiến của giáo dân đều tự động là tiếng Thánh Thần, cũng như mọi lời của giáo sĩ ngoài những điều kiện đặc thù của huấn quyền không tự động mang tính bất khả ngộ. Hiệp hành đòi mọi thành phần biết nghe nhau dưới Lời Chúa. Một người mẹ có thể giúp linh mục hiểu điều một gia đình đang trải qua. Một người trẻ có thể cho cộng đoàn thấy một khoảng cách thế hệ mà người lớn không nhận ra. Một chuyên gia tài chính giáo dân có thể cảnh báo giáo xứ về cách quản trị thiếu minh bạch. Một giáo viên có thể chỉ ra những điều chương trình giáo lý không chạm đến trẻ. Một người nghèo có thể cho Hội Thánh thấy những kế hoạch đẹp nhưng không đến được đời sống thật. Ngôn sứ đôi khi là người dám nói điều không thuận tai, nhưng họ phải nói trong hiệp thông, khiêm nhường và trách nhiệm, không lấy việc “nói thật” làm cớ phá huỷ cộng đoàn.
Nếu chức tư tế là dâng và chức ngôn sứ là làm chứng cho sự thật, chức vương giả dẫn ta vào một nghịch lý khác của Kitô giáo: làm vua bằng cách phục vụ. Trong Tin Mừng, các môn đệ nhiều lần tưởng Nước Thiên Chúa giống các vương quốc trần gian. Họ hỏi ai lớn nhất, xin chỗ bên hữu bên tả, tranh nhau địa vị. Đức Giêsu không phủ nhận ngôn ngữ vương quyền, nhưng Người đảo ngược ý nghĩa của nó. Con Người đến không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ và hiến mạng sống. Trong bữa Tiệc Ly, Đấng mà các môn đệ gọi là Thầy và Chúa cởi áo ngoài, thắt khăn, cúi xuống rửa chân. Đó là ngai của Đức Kitô. Khăn và chậu trở thành biểu tượng của quyền lực đã được cứu chuộc. Vì vậy, khi nói người tín hữu tham dự chức vương giả của Đức Kitô, không được hiểu rằng họ có quyền cai trị người khác theo nghĩa thống trị. Trái lại, bước đầu tiên của vương quyền Kitô giáo là để Chúa giải phóng mình khỏi những quyền lực đang cai trị bên trong mình.
Người không làm chủ được lòng tham thì dù có chức lớn vẫn là nô lệ. Người không làm chủ được cơn giận thì dù ra lệnh cho trăm người vẫn chưa thật sự tự do. Người bị nghiện lời khen, tiền bạc, tình dục, rượu chè, trò chơi, mạng xã hội, quyền lực hay sự kiểm soát chưa sống trọn chiều kích vương giả của Bí tích Rửa tội. Chức vương giả bắt đầu bằng cuộc chiến rất âm thầm với chính mình. Tự chủ không phải ghét thân xác hay đàn áp cảm xúc. Đó là đưa các năng lực của con người vào một trật tự tự do, để trí khôn thấy điều đúng, ý chí có thể chọn điều đúng, cảm xúc được giáo dục, thân xác được tôn trọng và các ham muốn không trở thành ông chủ. Một người biết dừng một lời độc ác trước khi nói đã thực hiện một hành vi vương giả. Một người có thể tắt điện thoại để lắng nghe con mình đã thắng một cuộc chiến nhỏ nhưng thật. Một người đang có cơ hội trả đũa mà chọn không trả đũa đang chứng tỏ mình không bị vết thương cai trị. Một người có tiền nhưng không để tiền định nghĩa giá trị của mình đang sống tự do của con cái Thiên Chúa.
Sau việc làm chủ bản thân là phục vụ người khác và “làm chủ” tạo thành theo ý Đấng Tạo Hóa. Sách Sáng Thế trao cho con người trách nhiệm trên thế giới được tạo dựng. Nhưng quyền ấy không phải quyền phá hủy. Con người là quản gia, không phải chủ tuyệt đối. Vương quyền Kitô giáo trên tạo thành là chăm sóc, phát triển, làm cho sự vật phục vụ công ích mà không biến chúng thành ngẫu tượng và không tàn phá điều Thiên Chúa trao. Vì thế, một nông dân canh tác có trách nhiệm, một doanh nghiệp không đầu độc nguồn nước, một gia đình tránh lãng phí, một nhà hoạch định đô thị nghĩ đến người nghèo và môi trường, một nhà khoa học dùng tri thức để chữa lành thay vì hủy diệt đều đang tham dự vào việc thực thi vương quyền theo ý Thiên Chúa. Chức vương giả không nằm ngoài các vấn đề kinh tế và sinh thái. Nó chạm vào cách sử dụng đất, nước, năng lượng, tài nguyên, công nghệ và quyền sở hữu. Câu hỏi luôn là: ta đang cai quản như người quản lý trung tín hay đang chiếm đoạt như chủ tuyệt đối?
Đặc biệt, người giáo dân càng có quyền lực xã hội thì càng cần linh đạo của chức vương giả. Người làm quản lý có quyền đánh giá nhân viên, phân phối công việc, quyết định lương thưởng. Người làm chủ có quyền đối với tài sản và hướng đi doanh nghiệp. Người cha người mẹ có quyền giáo dục con. Người thầy có quyền trong lớp. Công chức có thẩm quyền hành chính. Người nổi tiếng có quyền lực ảnh hưởng. Người quản trị nền tảng số có quyền định hình thứ hàng triệu người nhìn thấy. Chính ở những nơi ấy, cám dỗ “ngai” xuất hiện. Ngai không nhất thiết bằng vàng. Nó có thể là chiếc ghế trưởng phòng, chức danh, tài khoản nhiều người theo dõi, quyền ký, tiền, bằng cấp, tuổi đời, vị trí trong hội đoàn hay đơn giản là khả năng khiến người khác phải sợ mình. Người ta có thể không bao giờ đội vương miện mà vẫn sống như một tiểu vương trong gia đình hay nơi làm việc. Chức vương giả của Đức Kitô mời người tín hữu mỗi ngày bước xuống khỏi cái ngai ấy.
Một người cha sống chức vương giả không phải bằng cách bắt cả nhà im khi mình nói, mà bằng cách dùng thẩm quyền để bảo vệ, hướng dẫn và phục vụ sự trưởng thành của con. Một người mẹ không cần kiểm soát từng lựa chọn của con để chứng minh mình yêu; tình yêu vương giả biết lúc phải giữ, lúc phải buông. Một người chủ doanh nghiệp không chỉ hỏi “tôi kiếm được bao nhiêu?” mà còn hỏi “những người cùng làm với tôi có được sống xứng đáng không?” Một trưởng nhóm Kitô hữu không gom mọi quyền quyết định vào mình vì sợ người khác giỏi. Một linh hoạt viên giáo xứ không biến trách nhiệm thành sở hữu: “ban này của tôi”, “nhóm này của tôi”. Một người có tiếng nói trên mạng không dùng đám đông để nghiền người yếu hơn. Vương quyền Kitô giáo luôn có cấu trúc của phục vụ, trao quyền, nâng người khác đứng lên. Càng có quyền, càng phải cúi thấp.
Ở đây có một tiêu chuẩn phân định rất đơn giản nhưng nghiêm khắc: quyền lực của tôi làm người khác lớn lên hay làm họ nhỏ lại? Sau khi làm việc với tôi, người khác tự do hơn hay sợ hơn? Họ trưởng thành hơn hay lệ thuộc hơn? Tôi đang sử dụng thẩm quyền để bảo vệ điều đúng hay để bảo vệ cái tôi? Tôi có thể nhận lời góp ý từ người dưới quyền không? Tôi có khả năng xin lỗi người nhỏ hơn mình không? Tôi có thể trao việc quan trọng cho người khác và vui khi họ làm tốt hơn mình không? Tôi có dùng thông tin riêng để khống chế người khác không? Tôi có thích được gọi tên, được ngồi chỗ đầu, được biết ơn, được nhắc công không? Những câu hỏi ấy đưa chức vương giả từ giáo lý vào linh đạo hằng ngày. Người Kitô hữu không chống mọi hình thức quyền lực. Xã hội cần quyền bính, gia đình cần trách nhiệm, tổ chức cần người quyết định, Hội Thánh có cơ cấu phẩm trật. Vấn đề không phải có quyền hay không, nhưng quyền ấy được rửa trong chậu của Đức Kitô hay chưa.
Ba chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả cuối cùng không thể tách rời nhau. Nếu chỉ có tư tế mà không có ngôn sứ, người tín hữu có thể biến đạo thành một đời sống dâng hiến riêng tư, rất sốt sắng nhưng im lặng trước bất công. Nếu chỉ có ngôn sứ mà không có tư tế, họ có thể trở thành nhà hoạt động luôn nói nhưng không còn nguồn cầu nguyện, dễ cay đắng và tự cho mình công chính. Nếu chỉ có vương giả mà thiếu tư tế và ngôn sứ, việc lãnh đạo dễ trở thành kỹ thuật quản trị hoặc ý chí đạo đức. Đức Kitô là cả ba trong một sự thống nhất. Người dâng chính mình cho Chúa Cha, công bố Nước Thiên Chúa và cai trị bằng phục vụ. Người tín hữu cũng được gọi sống một đời thống nhất như vậy: cầu nguyện dẫn tới sự thật, sự thật dẫn tới phục vụ, phục vụ lại trở về thành của lễ.
Hãy hình dung một nữ bác sĩ Công giáo. Buổi sáng chị dự lễ trước khi vào bệnh viện. Trong Thánh lễ, chị đặt lên bàn thờ ngày làm việc sắp tới: bệnh nhân, trách nhiệm, sự mệt, những quyết định khó. Đó là chiều kích tư tế. Trong ngày, chị phải nói thật với một gia đình về tình trạng bệnh, bảo vệ một bệnh nhân nghèo không có tiếng nói, từ chối một áp lực trái đạo đức. Đó là chiều kích ngôn sứ. Chị là trưởng khoa, có quyền phân ca, đánh giá và quyết định nhiều việc, nhưng dùng quyền ấy công bằng, lắng nghe nhân viên, không nhục mạ người sai, chịu trách nhiệm khi quyết định của mình không tốt. Đó là chiều kích vương giả. Tất cả xảy ra trong một ngày làm việc bình thường. Không có áo lễ. Không có bục giảng. Không có vương miện. Nhưng Bí tích Rửa tội đang sinh hoa trái.
Hay một người cha trong gia đình. Anh làm việc để nuôi vợ con, dâng lao nhọc và cả thất bại cho Chúa, không lấy công lao nuôi gia đình làm quyền đòi mọi người phục vụ mình: chức tư tế. Anh dạy con nói thật bằng chính việc mình nói thật, xin lỗi khi sai, giải thích đức tin không chỉ bằng mệnh lệnh nhưng bằng đời sống: chức ngôn sứ. Anh có thẩm quyền nhưng không độc đoán, bảo vệ người yếu, kiềm chế cơn giận, rửa chén khi vợ mệt, dành thời gian nghe con thay vì chỉ ra lệnh: chức vương giả. Có thể chẳng ai gọi anh là “người thi hành ba chức vụ của Đức Kitô”, nhưng đó chính là điều đang xảy ra.
Hay một người làm kinh doanh. Anh đưa những quyết định tài chính và áp lực cạnh tranh vào lời cầu: tư tế. Anh từ chối gian lận, không quảng cáo dối, nói với đối tác điều họ cần biết dù điều ấy có thể làm mất hợp đồng: ngôn sứ. Anh quản lý tiền, con người và ảnh hưởng như người quản gia, không bóc lột nhân viên, không coi thành công là giấy phép đứng trên người khác: vương giả. Đời sống Kitô hữu trưởng thành không nằm ở chỗ thêm nhiều hoạt động tôn giáo bên cạnh nghề nghiệp, mà ở chỗ nghề nghiệp được sống bên trong căn tính đã nhận từ Đức Kitô.
Điều này cũng giúp sửa một sai lệch mục vụ lâu đời: đôi khi người ta chỉ thấy giáo dân tích cực khi họ làm việc gần bàn thờ. Ai đọc sách, giúp lễ, hát ca đoàn, dạy giáo lý, tham gia hội đoàn thì được gọi là “giáo dân nhiệt thành”; còn một bác sĩ, công nhân, người mẹ nội trợ, doanh nhân hay kỹ sư sống rất trung tín trong nghề nhưng ít xuất hiện trong các ban ngành lại dễ bị xem là chưa dấn thân. Cách nhìn ấy quá hẹp. Những thừa tác vụ và việc phục vụ trong giáo xứ rất quý, nhưng không bao trùm toàn bộ sứ mạng giáo dân. Có người được Chúa gọi phục vụ nhiều trong cơ cấu giáo xứ. Có người được gọi hiện diện chủ yếu giữa những thực tại trần thế. Một người giáo dân có thể không bao giờ cầm micro trong nhà thờ nhưng cả đời làm chứng cho Tin Mừng trong một môi trường nghề nghiệp khó. Hội Thánh cần nhìn thấy sứ mạng ấy, cầu nguyện cho nó, đào tạo nó và không kéo mọi giáo dân ra khỏi thế giới để biến họ thành nhân sự nội bộ.
Thực ra, một trong những thách đố lớn của Hội Thánh là giúp giáo dân đem ba chức vụ này vào chính nơi không mang nhãn Công giáo. Chức tư tế cộng đồng phải đi vào công việc. Chức ngôn sứ phải đi vào văn hóa. Chức vương giả phải đi vào quyền lực và trách nhiệm. Nếu ba điều ấy chỉ xuất hiện trong nhà thờ, thì một vùng rộng lớn của đời sống đã bị bỏ trống. Một ông chủ có thể đọc sách thánh trong lễ nhưng Monday đến Saturday quản trị bằng sợ hãi; một công chức có thể tham gia hội đoàn rất tích cực nhưng vẫn nhận tiền bất chính; một gia đình có thể đọc kinh mỗi tối nhưng người cha thống trị mọi người; một người trẻ có thể chia sẻ câu Kinh Thánh mỗi ngày nhưng trên mạng lại chế giễu và hạ nhục người khác. Ở đó không phải thiếu hoạt động đạo. Thiếu sự thống nhất của ba chức vụ trong đời.
Vì thế, đào tạo giáo dân cần đi xa hơn việc dạy họ “làm việc nhà thờ”. Cần giúp họ cầu nguyện với nghề nghiệp, phân định đạo đức nghề nghiệp, đọc học thuyết xã hội của Hội Thánh, học cách sử dụng quyền lực, hiểu lương tâm, học nói sự thật trong bác ái, học đặt câu hỏi về tiền bạc, công nghệ, lao động, gia đình, môi trường và công ích. Một khóa đào tạo lãnh đạo giáo dân mà chỉ dạy tổ chức sự kiện, dẫn chương trình và chia nhóm là quá ít. Một chương trình linh đạo mà chỉ dạy đọc kinh nhưng không chạm đến cách kiếm tiền và dùng quyền là chưa đủ. Một lớp Kinh Thánh mà không giúp người học nối Lời với quyết định nghề nghiệp dễ dừng ở kiến thức. Bí tích Rửa tội muốn đi rất sâu vào đời. Đức Kitô muốn là Tư tế, Ngôn sứ và Vua không chỉ trong nhà thờ, nhưng trong toàn bộ con người đã được Người cứu chuộc.
Cuối cùng, ba chức vụ ấy đưa ta trở về một điều rất đơn giản: người Kitô hữu thuộc về Đức Kitô. Không phải ai cũng được truyền chức. Không phải ai cũng có cùng thừa tác vụ. Không phải ai cũng có cùng nghề, cùng ơn gọi, cùng trách nhiệm. Nhưng mọi người đã được Rửa tội đều được mời để đời mình mang hình dáng Đức Kitô. Hình dáng ấy là đôi tay dâng hiến, miệng nói sự thật và đầu gối cúi xuống phục vụ. Đôi tay ấy là tư tế. Miệng ấy là ngôn sứ. Đầu gối ấy là vương giả. Và có lẽ đây là nghịch lý đẹp nhất: người giáo dân càng sống chức vương giả của Đức Kitô, họ càng ít cần ngai; càng sống chức ngôn sứ, họ càng ít cần tiếng vỗ tay; càng sống chức tư tế, họ càng hiểu của lễ quan trọng nhất không phải điều mình đặt lên bàn thờ, nhưng chính con người mình được trao cho Thiên Chúa để Người sai trở lại thế giới. Người quản lý bước xuống khỏi ngai để phục vụ. Người cha bước xuống khỏi ngai để rửa chân cho gia đình. Người mẹ bước xuống khỏi ngai của kiểm soát để giúp con trưởng thành. Người giàu bước xuống khỏi ngai sở hữu để biết chia sẻ. Người có tri thức bước xuống khỏi ngai tự mãn để biết lắng nghe. Người có tiếng nói bước xuống khỏi ngai nổi tiếng để bảo vệ người không có tiếng. Mỗi lần như thế, chức tư tế, ngôn sứ và vương giả không còn là ba dòng trong sách giáo lý. Chúng trở thành một đời sống. Và chính đời sống ấy, âm thầm giữa trần thế, làm cho khuôn mặt Đức Kitô hiện ra.
CHƯƠNG 6. GIÁO DÂN KHÔNG PHẢI LINH MỤC THIẾU CHỨC THÁNH
Một trong những ngộ nhận dai dẳng nhất khi nói về giáo dân trong Hội Thánh là tưởng rằng muốn nâng cao phẩm giá giáo dân thì phải làm cho giáo dân ngày càng giống linh mục. Theo cách nghĩ ấy, người giáo dân càng được đứng gần cung thánh, càng được đọc nhiều phần trong phụng vụ, càng được xuất hiện ở những vị trí trước đây gắn với hàng giáo sĩ, càng được tham gia điều hành các cơ cấu giáo xứ, càng được mời nói trước cộng đoàn, thì càng được coi là “có vai trò”. Trái lại, một người giáo dân sống âm thầm trong gia đình, làm bác sĩ, làm giáo viên, làm công nhân, làm kỹ sư, buôn bán ngoài chợ, làm ruộng, chăm con, phục vụ người bệnh, làm việc trong cơ quan nhà nước, nghiên cứu khoa học, tham gia đời sống xã hội, sống công bình giữa thương trường, giữ đức tin nơi công sở và đem tinh thần Tin Mừng vào những chọn lựa nghề nghiệp thì lại dễ bị xem như chưa “tham gia Hội Thánh” đủ. Cách nhìn đó rất nguy hiểm, vì vô tình nó biến linh mục thành chuẩn đo duy nhất của sự trưởng thành Kitô hữu, rồi biến giáo dân thành một thứ “linh mục chưa được truyền chức”, hay nói nặng hơn, thành những “phó linh mục” mang hình thức giáo dân. Đó không phải là tinh thần của Công đồng Vaticanô II. Công đồng không nâng giáo dân lên bằng cách kéo họ vào hàng giáo sĩ. Công đồng trả giáo dân về đúng phẩm giá của họ trong Bí tích Rửa tội, trả họ về với sứ mạng độc đáo của họ trong Hội Thánh và giữa trần thế, và chính vì vậy Công đồng cũng giúp hàng giáo sĩ trở về đúng với căn tính thừa tác của mình.
Phải nói ngay từ đầu rằng giáo dân không phải là linh mục thiếu chức thánh, cũng không phải là những người “không đủ ơn gọi” để trở thành linh mục hay tu sĩ. Một người giáo dân trưởng thành trong đức tin không phải là người đã tiến gần hết con đường của linh mục nhưng dừng lại trước Bí tích Truyền chức. Ơn gọi giáo dân có phẩm giá tự thân. Nó phát xuất từ chính Bí tích Rửa tội và Thêm sức, được nuôi dưỡng bằng Thánh Thể, được thực hiện giữa đời sống thường ngày, và có một hình thức thánh thiện riêng. Người cha gia đình trung tín với vợ con không phải là linh mục thất bại. Người mẹ nuôi con bằng đức tin và nước mắt không phải là nữ tu sống ngoài tu viện. Một người trẻ làm nghề công nghệ, một người nông dân, một bác sĩ, một nhà giáo, một người làm truyền thông, một viên chức, một người buôn bán ngay thẳng, một nhà nghiên cứu, một nghệ sĩ, một người lao động chân tay đều có thể sống trọn vẹn ơn gọi Kitô hữu mà không cần bắt chước hình thức sống của giáo sĩ hay tu sĩ. Điều Hội Thánh cần nơi họ không phải trước hết là họ bước lên cung thánh nhiều hơn, nhưng là họ đem Đức Kitô vào những nơi mà linh mục không thể đi thay họ được.
Lịch sử mục vụ ở nhiều nơi từng để lại một thói quen tâm lý rất sâu: người nào làm việc “trong nhà thờ” thì được coi là gần Chúa hơn; người nào làm việc “ngoài đời” thì xem như chỉ lo chuyện thế gian. Chính lối phân chia ấy làm méo mó ơn gọi giáo dân. Một người đọc sách thánh trong thánh lễ có thể đang thi hành một thừa tác tốt đẹp và cần thiết. Nhưng việc đứng tại giảng đài không làm cho người ấy “giáo dân hơn” hay “thánh thiện hơn” một người mẹ đang chăm sóc đứa con bệnh ở nhà. Một thành viên hội đồng mục vụ có thể phục vụ rất quý báu. Nhưng việc ngồi trong phòng họp giáo xứ không tự động có giá trị Tin Mừng hơn việc một doanh nhân từ chối gian lận thuế, một bác sĩ từ chối xem bệnh nhân chỉ như nguồn lợi, một giáo viên kiên nhẫn với học sinh yếu, một luật sư bảo vệ người bị áp bức, hay một người công nhân không tham gia vào việc ăn cắp của công. Nơi những thực tại đó, chức tư tế cộng đồng, chức ngôn sứ và chức vương giả của giáo dân được thực hiện một cách mạnh mẽ, nhiều khi kín đáo hơn, khó hơn, ít được nhìn thấy hơn, nhưng lại đúng với căn tính của họ hơn.
Một trong những lệch lạc sau Công đồng là có nơi đã hiểu việc đề cao giáo dân theo nghĩa “giáo sĩ hóa giáo dân”. Người giáo dân bắt đầu cảm thấy mình chỉ thật sự có vai trò khi làm những việc gần giống linh mục. Có người đọc sách thánh rồi muốn mặc áo cho thật giống thừa tác viên có chức. Có người phục vụ bàn thờ rồi dần nghĩ mình thuộc một tầng lớp riêng. Có người tham gia hội đồng mục vụ và bắt đầu muốn có quyền điều hành giống cha xứ. Có người học thần học đôi chút rồi nghĩ nhiệm vụ của mình là thay linh mục giảng dạy mọi nơi. Có người được trao một thừa tác nào đó và dần xem thừa tác ấy như địa vị. Có cộng đoàn lại vô tình khuyến khích tâm lý ấy bằng cách đánh giá sự nhiệt thành dựa trên mức độ xuất hiện ở cung thánh, số lần cầm micro, số cuộc họp tham gia hay độ gần gũi với cha xứ. Khi đó, điều khởi đầu như một sự tham gia tốt đẹp có thể trượt thành một thứ giáo sĩ trị kiểu mới, chỉ khác là người mặc áo giáo dân.
Phải phân biệt rất rõ: Hội Thánh cần nhiều thừa tác viên giáo dân. Hội Thánh cần người đọc sách thánh được đào tạo tốt. Cần giáo lý viên. Cần người phục vụ người nghèo. Cần người giúp trao Mình Thánh theo quy định của Hội Thánh khi có nhu cầu mục vụ thật sự. Cần người làm việc trong các hội đồng. Cần các chuyên viên giáo dân về luật, kinh tế, giáo dục, y tế, tâm lý, truyền thông, công nghệ. Cần phụ nữ và nam giới có khả năng đảm nhận trách nhiệm trong đời sống Hội Thánh phù hợp với luật và bản chất của từng thừa tác. Tất cả những điều đó là ân huệ. Nhưng ân huệ chỉ thật sự là ân huệ khi nó không xóa ranh giới giữa các ơn gọi và thừa tác. Sự tham gia không có nghĩa là đồng nhất. Hiệp thông không có nghĩa mọi người làm cùng một việc. Bình đẳng về phẩm giá không có nghĩa đồng nhất về chức năng. Nếu một dàn nhạc chỉ có một loại nhạc cụ, đó không phải là hiệp nhất mà là nghèo nàn. Hội Thánh cũng vậy. Chính sự khác biệt được hòa hợp trong một Thân Thể mới làm nên vẻ đẹp của Dân Thiên Chúa.
Lumen Gentium đã nói rất mạnh rằng chức tư tế cộng đồng của các tín hữu và chức tư tế thừa tác hay phẩm trật khác nhau về bản chất chứ không chỉ về mức độ, tuy cả hai quy hướng về nhau và cùng tham dự vào chức tư tế duy nhất của Đức Kitô. Câu này phải được giữ thật chắc nếu muốn tránh cả hai cực đoan. Nếu nói hai chức tư tế chỉ khác nhau về mức độ, người ta sẽ nghĩ linh mục đơn giản chỉ là một Kitô hữu “nhiều quyền hơn”, còn giáo dân là phiên bản thấp hơn. Nhưng nếu hiểu đúng rằng chúng khác nhau về bản chất trong cách tham dự vào chức tư tế của Đức Kitô, ta sẽ thấy linh mục không phải là giáo dân được nâng cấp, còn giáo dân cũng không phải là linh mục chưa hoàn tất. Linh mục được thánh hiến qua Bí tích Truyền chức để hành động trong tư cách Đức Kitô là Đầu trong những hành vi đặc thù của thừa tác vụ, nhất là trong việc công bố Lời với thẩm quyền mục tử, cử hành các bí tích, đặc biệt Thánh Thể và Hòa giải, cùng với việc dẫn dắt cộng đoàn theo sứ mạng Hội Thánh trao phó. Giáo dân, nhờ Rửa tội và Thêm sức, tham dự vào đời sống và sứ mạng của Đức Kitô theo một cách khác: họ thánh hóa thế giới từ bên trong, bằng đời sống hôn nhân, gia đình, lao động, văn hóa, xã hội, kinh tế, chính trị và mọi lãnh vực mà đời sống con người được hình thành.
Khi không hiểu điều này, cả giáo sĩ lẫn giáo dân đều dễ bước vào một cuộc cạnh tranh rất vô ích. Giáo dân bắt đầu hỏi: “Tại sao cha được làm mà tôi không được làm?” Linh mục bắt đầu hỏi: “Tại sao giáo dân lại muốn lấy phần của tôi?” Câu hỏi đúng phải là: “Phần Chúa trao cho tôi là gì, và tôi có đang trung thành với phần ấy không?” Linh mục không cần bảo vệ căn tính mình bằng cách giữ độc quyền mọi hoạt động trong giáo xứ. Giáo dân cũng không cần chứng minh phẩm giá mình bằng cách chiếm những việc đặc trưng của linh mục. Khi mỗi người biết mình là ai trước mặt Chúa, sự ganh đua giảm xuống. Khi căn tính mơ hồ, quyền lực trở thành vấn đề lớn. Nhiều xung đột trong mục vụ thực ra không khởi đầu từ thần học mà từ sự bất an về căn tính.
Có người giáo dân nghĩ rằng nếu mình không được đọc bài đọc, không được đứng trên cung thánh, không được mời họp, không được cầm micro, thì mình bị xem thường. Nhưng căn tính Kitô hữu không nằm ở chiếc micro. Phẩm giá Rửa tội không phụ thuộc vào khoảng cách giữa chỗ ngồi của mình với bàn thờ. Một người giáo dân hoàn toàn có thể không bao giờ đảm nhận một chức vụ công khai nào trong giáo xứ mà vẫn sống sứ mạng Kitô hữu cách phi thường. Một người cha giữ gia đình giữa khủng hoảng, không bỏ vợ khi khó khăn, làm việc chân chính, dạy con cầu nguyện, chăm sóc cha mẹ già, giúp đỡ hàng xóm và sống lòng thương xót có thể đang thực thi chức tư tế cộng đồng sâu xa hơn nhiều người đứng trước cộng đoàn mỗi tuần. Một người mẹ hy sinh giấc ngủ cho con bệnh, dạy con biết làm dấu, xin lỗi khi mình sai, dạy con không gian lận, biết chia sẻ với người nghèo, đang góp phần xây dựng Hội Thánh tại gia. Một doanh nhân dám nói không với hối lộ, dù phải mất hợp đồng, đang thực hiện chức ngôn sứ. Một người làm trong cơ quan nhà nước từ chối lạm dụng quyền lực đang thực hiện chức vương giả. Một người trẻ chống lại văn hóa nhục mạ trên mạng và bảo vệ phẩm giá người bị bắt nạt cũng đang làm chứng cho Nước Thiên Chúa. Không việc nào trong số ấy cần áo lễ, ghế chủ tọa hay bục giảng.
Vì vậy, điều đáng lo không phải là giáo dân làm nhiều việc trong Hội Thánh. Điều đáng lo là khi Hội Thánh chỉ biết trao cho giáo dân các việc “trong nhà thờ” mà không đào tạo họ cho các việc “giữa thế giới”. Một giáo phận có hàng ngàn giáo dân phục vụ phụng vụ nhưng không có chương trình giúp bác sĩ Công giáo suy tư về luân lý nghề nghiệp thì còn thiếu. Một giáo xứ có rất nhiều hội đoàn nhưng người làm kinh doanh không bao giờ được giúp phân định về lương tâm, tiền bạc, lao động và công bình thì còn thiếu. Một cộng đoàn có đông người đọc sách thánh nhưng người trẻ bước vào thế giới trí tuệ nhân tạo, truyền thông, khoa học, luật pháp và văn hóa mà không được trang bị để sống đức tin thì còn thiếu. Một Hội Thánh chỉ huy động giáo dân để lấp các chỗ trống nhân sự trong cơ cấu giáo xứ mà không chuẩn bị họ biến đổi thế giới từ bên trong thì chưa hiểu hết giáo dân là ai.
Có thể nói một cách hơi nghịch lý: giáo dân càng trưởng thành thì càng không cần chứng minh mình giống linh mục. Họ biết rõ mình có một chỗ riêng, một sứ mạng riêng và một vẻ đẹp riêng. Một người phụ nữ giáo dân trưởng thành không cần được “làm giống cha” để cảm thấy mình có giá trị. Một người đàn ông giáo dân trưởng thành không cần được ngồi ghế điều hành trong nhà xứ để cảm thấy mình đang phục vụ Hội Thánh. Họ biết rằng công trường, bệnh viện, trường học, phòng nghiên cứu, doanh nghiệp, nghị trường, căn bếp, gia đình và khu phố cũng là nơi ơn gọi của họ được thi hành. Họ đến thánh lễ để được nuôi dưỡng rồi được sai đi. Họ không đến thánh lễ để ở lại mãi trong khuôn viên nhà thờ.
Thánh lễ kết thúc bằng lời sai đi. Điều đó rất quan trọng. Giáo dân được quy tụ để rồi được sai trở lại thế giới. Nếu sau thánh lễ, mọi năng lượng tông đồ của giáo dân chỉ quay lại phục vụ thêm một hoạt động khác trong khuôn viên giáo xứ, thì có nguy cơ chiều kích sai đi đã bị thu hẹp. Dĩ nhiên giáo xứ cần người phục vụ. Nhưng thế giới cũng cần người môn đệ. Công ty cần người môn đệ. Bệnh viện cần người môn đệ. Quốc hội cần người môn đệ. Trường đại học cần người môn đệ. Khu công nghiệp cần người môn đệ. Mạng xã hội cần người môn đệ. Gia đình cần người môn đệ. Các phòng thí nghiệm, tòa án, ngân hàng, xưởng máy, làng quê, chung cư, bệnh viện, nhà dưỡng lão và cả những vùng ngoại biên của xã hội đều là nơi giáo dân phải hiện diện không chỉ như những cá nhân có đạo, nhưng như những người đã được sai đi trong Đức Kitô.
Ở chiều ngược lại, cũng có một lệch lạc rất nghiêm trọng: linh mục làm thay phần việc trần thế của giáo dân. Đây là một dạng giáo sĩ trị không phải lúc nào cũng xuất hiện bằng giọng độc đoán. Nhiều khi nó xuất hiện bằng lòng nhiệt thành. Linh mục nghĩ mình phải biết mọi thứ, phải quyết mọi thứ, phải có ý kiến về mọi thứ, phải đứng ra thay giáo dân trong mọi vấn đề. Cha xứ quyết chuyện xây dựng như kỹ sư, quyết chuyện tài chính như chuyên gia ngân hàng, quyết chuyện truyền thông như nhà báo, quyết chuyện giáo dục như nhà sư phạm, quyết chuyện tâm lý như chuyên gia trị liệu, quyết chuyện pháp lý như luật sư, quyết chuyện kinh tế như doanh nhân, rồi đôi khi còn nói thay giáo dân về những vấn đề chính trị và xã hội rất phức tạp mà chính những giáo dân chuyên môn đang sống trong đó mỗi ngày. Sau nhiều năm, giáo dân quen với việc chờ cha quyết. Rồi linh mục lại than rằng giáo dân thụ động. Nhưng nếu bao nhiêu năm người ta được huấn luyện rằng mọi chuyện phải hỏi cha, thì sự thụ động ấy không tự nhiên mà có.
Giáo sĩ trị không chỉ là linh mục độc đoán. Giáo sĩ trị cũng có thể là một hệ thống trong đó giáo dân bị giữ ở tình trạng vị thành niên thiêng liêng. Họ được mời phục vụ nhưng không được tin tưởng. Được giao việc nhưng không được trao trách nhiệm thật. Được hỏi ý nhưng ý kiến không bao giờ ảnh hưởng quyết định. Được gọi là cộng tác viên nhưng mọi sáng kiến đều phải chờ sự chấp thuận chi tiết từ linh mục. Được khuyến khích học hỏi nhưng khi có chuyên môn lại không được lắng nghe. Một cấu trúc như thế lâu ngày sẽ tạo ra hai loại giáo dân: một loại rút lui và nói “cha làm hết đi”; loại kia tìm cách chen vào gần quyền lực của hàng giáo sĩ để có tiếng nói. Cả hai đều không lành mạnh.
Linh mục không được truyền chức để trở thành chuyên gia mọi lãnh vực. Bí tích Truyền chức không ban kiến thức kỹ thuật về kinh tế, kiến trúc, y khoa, pháp luật, công nghệ, nông nghiệp hay truyền thông. Ân sủng chức thánh không thay cho học vấn chuyên môn. Một linh mục có thể rất thông minh, nhưng vẫn phải biết mình không biết. Một cha xứ có thể có trách nhiệm pháp lý và mục vụ cuối cùng đối với nhiều quyết định của giáo xứ, nhưng điều đó không có nghĩa cha phải tự mình trở thành người biết nhất mọi chuyện. Trái lại, trách nhiệm mục tử càng lớn càng đòi biết lắng nghe. Một linh mục khôn ngoan là người biết tìm đúng người, nghe đúng chuyên môn, phân định đúng nguyên tắc và quyết định trong hiệp thông.
Đây chính là nơi ơn gọi giáo dân trở thành một quà tặng không thể thay thế. Giáo dân sống trực tiếp trong những thực tại mà linh mục thường chỉ nghe kể. Một người mẹ hiểu áp lực giáo dục con trong thời đại số theo một cách linh mục không thể trải nghiệm từ bên trong. Một doanh nhân hiểu sức ép của cạnh tranh, lương nhân viên, thuế, hợp đồng và đạo đức kinh doanh bằng kinh nghiệm thực tế. Một bác sĩ hiểu xung đột lương tâm trong bệnh viện. Một giáo viên hiểu những thay đổi nơi học sinh. Một kỹ sư trí tuệ nhân tạo hiểu những câu hỏi luân lý phát sinh từ công nghệ. Một người lao động nhập cư hiểu giá của một ngày công. Một người trẻ hiểu áp lực của mạng xã hội. Một phụ nữ trong gia đình có thể nhìn thấy những khía cạnh của đời sống gia đình mà một linh mục độc thân không thể biết bằng kinh nghiệm cá nhân. Hội Thánh cần lắng nghe những kinh nghiệm đó không phải như một cử chỉ xã giao, nhưng vì đó là một phần của việc đọc các dấu chỉ thời đại.
Do đó, một Giáo hội học lành mạnh không phải là mô hình trong đó linh mục nói còn giáo dân nghe, cũng không phải mô hình trong đó giáo dân thay linh mục làm những việc của chức thánh. Đó là một hiệp thông các ơn gọi. Linh mục phục vụ bằng Lời, bí tích và mục tử. Giáo dân sống sứ mạng trong gia đình và thế giới. Tu sĩ làm chứng cho tính cánh chung của Nước Thiên Chúa qua đời sống thánh hiến. Mỗi bậc sống có tiếng nói và trách nhiệm riêng. Khi các ơn gọi này biết nghe nhau, Hội Thánh trở nên phong phú. Khi một ơn gọi nuốt các ơn gọi khác, Hội Thánh bị nghèo đi.
Đặc biệt cần tránh cách nói rằng linh mục lo “việc đạo”, còn giáo dân lo “việc đời”, vì cách chia ấy quá đơn giản và dễ tạo ra một nhị nguyên sai lạc. Mọi đời sống Kitô hữu đều thuộc về Chúa. Kinh tế cũng liên hệ đến đạo đức. Chính trị cũng liên hệ đến công ích. Lao động cũng liên hệ đến phẩm giá con người. Gia đình cũng là nơi thánh hóa. Nghệ thuật cũng có khả năng mở con người ra với chân thiện mỹ. Công nghệ cũng đặt ra những câu hỏi về tự do, nhân phẩm và trách nhiệm. Giáo dân không làm “việc đời” theo nghĩa một vùng trung lập không liên hệ Thiên Chúa. Họ sống các thực tại trần thế từ bên trong đức tin. Và linh mục cũng không chỉ lo một “khu vực tôn giáo” tách khỏi đời sống. Khi giảng Lời Chúa và cử hành bí tích, linh mục nuôi dưỡng một dân được sai vào thế giới. Nhưng sự khác biệt nằm ở cách hiện diện: linh mục không thay thế giáo dân trong việc xây dựng trật tự trần thế; giáo dân không thay thế linh mục trong những hành vi thuộc chức tư tế thừa tác.
Một ví dụ rất rõ là chính trị. Giáo hội có nhiệm vụ loan báo những nguyên tắc đạo đức liên quan đến phẩm giá con người, công ích, hòa bình, công bằng, sự thật, tự do tôn giáo, quyền của người nghèo, bảo vệ sự sống và các nguyên tắc luân lý khác. Các mục tử phải có can đảm nói khi Tin Mừng đòi hỏi. Nhưng việc lựa chọn những giải pháp kỹ thuật, chiến lược chính trị, mô hình quản trị hay những phương án cụ thể thường thuộc trách nhiệm của giáo dân có lương tâm được đào tạo. Nếu linh mục biến tòa giảng thành nơi đưa ra chỉ thị chi tiết về mọi lựa chọn chính trị, giáo dân dễ bị tước mất trách nhiệm trưởng thành của mình. Ngược lại, nếu giáo dân đòi linh mục phải im lặng trước mọi bất công vì cho rằng đó là “chính trị”, họ cũng hiểu sai sứ mạng ngôn sứ của Hội Thánh. Ranh giới cần được giữ bằng sự khôn ngoan: Hội Thánh công bố các nguyên tắc Tin Mừng; giáo dân đem các nguyên tắc ấy vào những quyết định cụ thể trong trật tự trần thế.
Tương tự trong kinh tế. Linh mục có thể và phải giảng về công bằng, lòng tham, tiền bạc, phẩm giá lao động, trách nhiệm với người nghèo, sự trung thực và bác ái xã hội. Nhưng linh mục không nhất thiết phải chỉ cho doanh nhân cách điều hành công ty, định giá sản phẩm, tổ chức chuỗi cung ứng hay hoạch định chiến lược đầu tư. Những giáo dân có chuyên môn cần được đào tạo lương tâm để tự mình quyết định các vấn đề ấy trước mặt Chúa. Nếu cha xứ quyết hết thay họ, họ không trưởng thành. Nếu cha xứ không bao giờ giảng cho họ về lương tâm kinh tế, họ cũng thiếu sự nâng đỡ thiêng liêng. Hai phía phải gặp nhau: mục tử cung cấp ánh sáng Tin Mừng; giáo dân đem ánh sáng ấy vào sự phức tạp của thế giới.
Trong giáo dục cũng vậy. Một linh mục có thể có trách nhiệm mục vụ với một trường Công giáo, nhưng không vì thế mà mọi quyết định chuyên môn sư phạm phải do linh mục đưa ra. Người giáo viên, nhà tâm lý giáo dục, chuyên viên phát triển chương trình, phụ huynh và những người có kinh nghiệm cần được lắng nghe thực sự. Quyền bính trong Hội Thánh không có nghĩa là khước từ chuyên môn. Trái lại, chính vì quyền bính là phục vụ nên người có quyền phải biết nhận ra và quy tụ các đặc sủng nơi người khác.
Trong truyền thông và công nghệ, điều này càng rõ. Không thể chỉ vì linh mục là người đứng đầu một cơ quan Công giáo mà mọi quyết định truyền thông đều phải theo trực giác cá nhân của linh mục. Giáo dân chuyên môn có thể hiểu thuật toán, truyền thông số, bảo mật, trí tuệ nhân tạo, tâm lý người dùng và rủi ro công nghệ sâu hơn. Vai trò của mục tử là giữ định hướng Tin Mừng, bảo vệ căn tính Hội Thánh, phân định luân lý và sứ mạng; vai trò của chuyên gia là cung cấp kiến thức thực tế và triển khai cách chuyên nghiệp. Khi hai bên biết tôn trọng nhau, mục vụ trưởng thành. Khi linh mục coi chuyên môn giáo dân chỉ là “ý kiến tham khảo”, hoặc giáo dân coi thần học và phân định mục vụ của linh mục là “không thực tế”, cả hai đều mất một phần sự thật.
Một cách thực tế để chữa giáo sĩ trị là thay đổi câu hỏi trong cộng đoàn. Thay vì hỏi: “Cha muốn chúng con làm gì?”, giáo dân có thể được giúp hỏi: “Chúa đang mời chúng ta làm gì trong phần trách nhiệm của chúng ta?” Thay vì linh mục nói: “Việc này cha quyết rồi, anh chị em triển khai”, có thể hỏi: “Anh chị em đang sống trong lãnh vực này thấy điều gì mà tôi chưa thấy?” Thay vì giáo dân chỉ báo cáo công việc cho cha, có thể tạo những không gian thật sự để họ chia sẻ kinh nghiệm, khó khăn, nhận định và phân định. Điều đó không xóa quyền mục tử. Trái lại, nó làm quyền mục tử mang hình thức hiệp thông hơn.
Cũng phải nói rõ rằng việc trao trách nhiệm cho giáo dân không có nghĩa biến Hội Thánh thành một tổ chức dân chủ theo nghĩa chính trị. Giáo hội không phải công ty cổ phần, không phải nghị viện, cũng không phải tổ chức xã hội thuần túy. Quyền bính trong Hội Thánh phát xuất từ Đức Kitô và được thực thi theo cơ cấu bí tích của Hội Thánh. Nhưng cơ cấu phẩm trật không đối nghịch với lắng nghe. Một giám mục vẫn là giám mục khi ngài hỏi ý giáo dân. Một cha xứ không mất quyền mục tử khi trao việc cho người có năng lực. Một linh mục không kém linh mục khi thú nhận mình không biết một vấn đề chuyên môn. Trái lại, khả năng nói “tôi không biết, xin anh chị em giúp tôi hiểu” thường là dấu hiệu của một quyền bính trưởng thành.
Về phía giáo dân cũng cần một cuộc hoán cải. Có những giáo dân phê phán giáo sĩ trị nhưng trong lòng lại khao khát quyền lực giáo sĩ. Họ không muốn xóa giáo sĩ trị; họ chỉ muốn mình có phần trong đó. Họ phê bình linh mục độc đoán nhưng khi được trao trách nhiệm lại đối xử với người khác cũng độc đoán như thế. Họ đòi minh bạch từ cha xứ nhưng chính mình không minh bạch trong hội đoàn. Họ đòi được lắng nghe nhưng không lắng nghe những người khác. Họ nói về đồng trách nhiệm nhưng lại xây dựng những nhóm thân hữu quyền lực. Đó không phải là canh tân. Canh tân thật không phải chuyển quyền lực từ một nhóm sang nhóm khác, mà là thanh luyện cách hiểu quyền lực theo Tin Mừng.
Người giáo dân không cần chiếm vị trí linh mục. Họ cần được đào tạo để sống trưởng thành tư cách giáo dân. Điều Hội Thánh thiếu nhiều nơi không phải chỉ là thêm người giúp lễ, thêm người đọc sách, thêm người trao Mình Thánh hay thêm thành viên hội đồng. Điều Hội Thánh thiếu là những Kitô hữu trưởng thành giữa đời. Một bác sĩ Công giáo biết suy nghĩ về sự sống và cái chết. Một luật sư Công giáo hiểu công lý và lòng thương xót. Một doanh nhân Công giáo hiểu tiền bạc là phương tiện chứ không phải thần tượng. Một giáo viên Công giáo biết nhìn học sinh như một con người chứ không phải con số. Một người làm truyền thông Công giáo biết sự thật quan trọng hơn lượt xem. Một kỹ sư Công giáo biết công nghệ phải phục vụ con người. Một chính trị gia Công giáo biết quyền lực là phục vụ công ích. Một nghệ sĩ Công giáo biết cái đẹp có trách nhiệm với chân lý. Một cha mẹ Công giáo biết gia đình là nơi đầu tiên truyền đức tin. Đó mới là hình ảnh một Hội Thánh có giáo dân trưởng thành.
Nếu mọi giáo dân tích cực đều bị hút vào các hoạt động nội bộ giáo xứ, ai sẽ hiện diện ở những biên giới của thế giới? Nếu người có năng lực nhất trong giới trẻ chỉ được mời làm MC, quản trò, hát lễ hay quản lý trang Facebook giáo xứ, nhưng không được giúp suy nghĩ về ơn gọi nghề nghiệp, trách nhiệm xã hội và đức tin giữa môi trường chuyên môn, thì Hội Thánh đang dùng một phần rất nhỏ của họ. Một kỹ sư giỏi không nhất thiết cần được giao sửa âm thanh nhà thờ. Có khi sứ mạng lớn hơn của anh là xây dựng một nền công nghệ tôn trọng con người. Một bác sĩ không nhất thiết phải phụ trách ban y tế giáo xứ. Có thể nơi truyền giáo lớn nhất của chị là chính bệnh viện nơi chị làm việc. Một luật sư không nhất thiết phải ngồi trong mọi cuộc họp giáo xứ. Có thể Hội Thánh cần anh sống sự thật trong những hồ sơ khó khăn. Một doanh nhân không nhất thiết được đánh giá bởi số tiền dâng cúng. Có thể sự thánh thiện của ông nằm ở cách trả lương và đối xử với nhân viên.
Đây cũng là lý do phải cẩn thận với ngôn ngữ “giúp cha”. Giáo dân rất thường được hỏi: “Anh chị em có thể giúp cha việc này không?” Dĩ nhiên trong đời sống mục vụ, cách nói ấy rất tự nhiên và không có gì sai nếu dùng trong nghĩa bình thường. Nhưng nếu mọi hoạt động tông đồ của giáo dân đều được hiểu là “giúp cha”, thì thần học bị thu hẹp. Giáo dân không chỉ giúp linh mục thi hành sứ mạng của linh mục. Giáo dân có sứ mạng của chính họ trong Hội Thánh và thế giới. Họ cộng tác với mục tử, nhưng họ cũng trực tiếp được Đức Kitô sai đi qua Rửa tội và Thêm sức. Một giáo lý viên không chỉ “giúp cha dạy giáo lý”. Một người phục vụ Caritas không chỉ “giúp cha làm bác ái”. Một người cha dạy con cầu nguyện không cần lệnh riêng của cha xứ mới có sứ mạng. Một Kitô hữu bảo vệ người yếu thế tại nơi làm việc không cần giấy bổ nhiệm của giáo xứ để làm điều Tin Mừng đòi hỏi.
Khi hiểu như thế, người linh mục cũng được giải thoát. Linh mục không còn phải làm tất cả. Không phải mọi chương trình đều cần cha đứng đầu. Không phải mọi buổi họp đều cần cha nói nhiều nhất. Không phải mọi sáng kiến đều phải phát xuất từ nhà xứ. Không phải mọi việc của giáo xứ đều cần linh mục trực tiếp điều hành. Linh mục có thể trở lại với điều cốt lõi: cầu nguyện, Lời Chúa, bí tích, phân định, đồng hành, chăm sóc những người bị tổn thương, xây dựng hiệp thông và đào tạo cộng đoàn. Một linh mục kiệt sức vì ôm mọi việc có thể được khen là nhiệt thành, nhưng một cơ cấu mục vụ khiến linh mục phải ôm hết cũng là cơ cấu cần xét lại. Nếu một giáo xứ không thể hoạt động khi cha xứ vắng một tuần, có thể vấn đề không phải giáo dân yếu mà là mô hình quá tập trung.
Một cộng đoàn lành mạnh phải có khả năng phân biệt ba điều: cái gì thuộc về Bí tích Truyền chức; cái gì có thể được chia sẻ theo luật và nhu cầu mục vụ; cái gì thuộc trách nhiệm riêng của giáo dân. Khi ba tầng này lẫn lộn, xung đột xuất hiện. Khi chúng được phân định rõ, sự cộng tác trở nên bình an hơn. Linh mục không sợ mất vai trò. Giáo dân không cảm thấy bị xem thường. Mỗi người biết rằng mình không cần trở thành người khác để có giá trị.
Cũng cần dạy điều này từ trong chủng viện. Một chủng sinh nếu được đào tạo theo mô hình trong đó mình luôn là người thông minh nhất phòng, người cuối cùng quyết, người phải trả lời mọi câu hỏi và người được phục vụ mọi nhu cầu, thì sau này rất khó sống hiệp hành với giáo dân. Chủng viện phải dạy ứng sinh linh mục biết làm việc với người có chuyên môn cao hơn mình, biết nghe phụ nữ, biết nghe người nghèo, biết nghe người trẻ, biết nhận phản biện, biết giao việc, biết chấp nhận có những lĩnh vực người giáo dân hiểu hơn mình rất nhiều. Đây không phải là giảm phẩm giá linh mục. Đây là huấn luyện linh mục thành người mục tử của một Thân Thể có nhiều chi thể.
Song song đó, việc đào tạo giáo dân cũng phải đi xa hơn các kỹ năng phục vụ giáo xứ. Giáo dân cần thần học, Kinh Thánh, luân lý, học thuyết xã hội của Hội Thánh, linh đạo nghề nghiệp, khả năng phân định, hiểu biết về đời sống gia đình, kinh tế, chính trị, truyền thông và những vấn đề mới của thời đại. Một giáo dân không thể sống sứ mạng giữa thế giới nếu chỉ được đào tạo để đọc sách thánh đúng giọng. Giáo lý người lớn phải giúp họ trả lời những câu hỏi thực tế: tôi sống công bình trong công ty thế nào? Tôi sử dụng tiền thế nào? Tôi đứng trước tham nhũng ra sao? Tôi làm cha mẹ trong thời đại số thế nào? Tôi đối diện với trí tuệ nhân tạo thế nào? Tôi tham gia đời sống công dân thế nào? Tôi bảo vệ phẩm giá người yếu thế trong nghề nghiệp thế nào? Tôi làm sao vừa trung thành với Tin Mừng vừa sống giữa một môi trường không chia sẻ đức tin của tôi? Đó là những câu hỏi của linh đạo giáo dân.
Có thể nói, giáo sĩ trị và giáo dân bị giáo sĩ hóa là hai mặt của cùng một vấn đề: cả hai đều không tin đủ vào phẩm giá Bí tích Rửa tội. Giáo sĩ trị nghĩ chỉ người có chức thánh mới có thể gánh trách nhiệm thật. Giáo dân bị giáo sĩ hóa nghĩ chỉ khi làm gần giống người có chức thánh thì mình mới có giá trị. Cả hai đều đặt chức thánh vào chỗ sai. Chức thánh là ân huệ để phục vụ, không phải thước đo toàn bộ sự trưởng thành Kitô hữu. Một linh mục thánh thiện không phải vì ngài làm được điều giáo dân không làm, mà vì ngài trung thành với ơn gọi đã nhận. Một giáo dân thánh thiện cũng vậy.
Trong đời sống phụng vụ, nguyên tắc này càng cần được giữ tinh tế. Phụng vụ có những vai trò riêng và những dấu chỉ riêng. Việc phân biệt thừa tác vụ không phải là phân biệt phẩm giá. Khi linh mục chủ sự Thánh Thể, điều đó không có nghĩa ngài “cao quý hơn” những người còn lại theo phẩm giá làm con Thiên Chúa. Khi một giáo dân đọc sách thánh, họ thực hiện một thừa tác thích hợp. Khi một người không có nhiệm vụ nào trong phụng vụ ngoài việc tham dự sốt sắng, họ không vì thế mà kém tham dự. Tham dự tích cực trước hết là tham dự bằng đức tin, tâm trí, lời cầu, hiến dâng chính mình cùng với hy tế của Đức Kitô; không phải mọi người đều phải có một “vai” bên ngoài mới được gọi là tham dự.
Nếu hiểu sai điều này, phụng vụ dễ trở thành sân khấu phân chia vai trò và địa vị. Người ta bắt đầu xem ai được lên cung thánh là “có vai trò”, ai ngồi dưới là “chỉ tham dự”. Đó là lối nhìn nghèo nàn. Một bà cụ ngồi cuối nhà thờ, không cầm micro, không có chức vụ, nhưng dâng cả cuộc đời đau yếu trong Thánh lễ có thể đang sống chức tư tế cộng đồng sâu xa hơn rất nhiều người có nhiệm vụ bên ngoài. Một người cha vừa trải qua tuần lao động mệt mỏi và đặt cả gia đình mình trên bàn thờ trong lời cầu thầm lặng đang thực hiện lễ tế thiêng liêng. Hội Thánh không phải sân khấu, và phụng vụ không phải nơi phân phối danh dự.
Cũng cần tránh dùng các hình thức bên ngoài để làm mờ sự khác biệt thừa tác. Áo lễ, chỗ ngồi, cử chỉ, cách xưng hô và vị trí trong phụng vụ đều có ngôn ngữ biểu tượng. Không cần phóng đại những khác biệt ấy thành đặc quyền, nhưng cũng không cần xóa chúng nhân danh bình đẳng. Một Hội Thánh trưởng thành không sợ dấu chỉ. Chỉ khi quyền lực bị hiểu sai người ta mới quá nhạy cảm với biểu tượng. Nếu linh mục hiểu chức vụ mình là phục vụ, áo lễ không phải là vương bào. Nếu giáo dân hiểu phẩm giá Rửa tội, họ không cần mặc giống linh mục để cảm thấy mình được tôn trọng.
Ở cấp giáo xứ, một dấu hiệu tốt của sự trưởng thành là khi cha xứ có thể nói: “Việc này anh chị em hiểu hơn tôi, xin anh chị em giúp cộng đoàn phân định.” Và một dấu hiệu tốt nơi giáo dân là khi họ có thể nói: “Việc này thuộc trách nhiệm mục tử của cha, chúng con sẽ cộng tác chứ không giành phần.” Hai câu đó nghe đơn giản nhưng đòi rất nhiều khiêm nhường. Người linh mục phải từ bỏ nhu cầu kiểm soát. Người giáo dân phải từ bỏ nhu cầu chứng minh mình ngang chức năng với linh mục. Cả hai cùng trở về câu hỏi lớn hơn: điều gì phục vụ sứ mạng của Đức Kitô?
Trong Hội Thánh, không ai có mọi đặc sủng. Thánh Phaolô đã dùng hình ảnh thân thể rất mạnh: mắt không thể nói với tay “tôi không cần anh”. Nếu áp dụng vào đời sống Hội Thánh, linh mục không thể nói với giáo dân “tôi không cần chuyên môn của anh chị”. Giáo dân cũng không thể nói với linh mục “chúng tôi không cần chức vụ bí tích và mục tử của cha”. Một Hội Thánh không cần linh mục sẽ không còn là Hội Thánh Công giáo theo cấu trúc bí tích của mình. Một Hội Thánh không tin tưởng giáo dân cũng không thể thực hiện sứ mạng giữa thế giới. Cả hai cần nhau, nhưng cần nhau trong khác biệt.
Ở đây phải nhấn mạnh một từ quan trọng: bổ túc. Không phải cạnh tranh, không phải thay thế, không phải sao chép, mà là bổ túc. Chức tư tế thừa tác tồn tại để phục vụ chức tư tế của toàn Dân Chúa. Linh mục cử hành Thánh Thể để dân Chúa được nuôi dưỡng. Linh mục giảng Lời để cộng đoàn được soi sáng. Linh mục giải tội để người tín hữu được hòa giải. Linh mục quy tụ và hướng dẫn để Dân Chúa sống hiệp thông. Rồi chính Dân Chúa ấy, phần đông là giáo dân, đi vào thế giới. Nếu giáo dân không đi, sứ mạng bị nghẽn. Nếu linh mục không phục vụ bằng Lời và bí tích, nguồn mạch bị khô. Đây không phải hai đội cạnh tranh mà là một dòng tuần hoàn của cùng một Thân Thể.
Một giáo xứ có thể tự kiểm tra bằng vài câu hỏi rất đơn giản. Giáo dân của chúng ta có đang được đào tạo để sống đức tin trong nghề nghiệp không, hay chỉ để phục vụ nhà thờ? Người có chuyên môn có được lắng nghe thật sự không? Phụ nữ có được lắng nghe trong những vấn đề họ có kinh nghiệm đặc thù không? Người trẻ có được coi là chủ thể hay chỉ là lực lượng tổ chức sự kiện? Linh mục có đang ôm những công việc mà giáo dân có thể làm tốt hơn không? Giáo dân có đang đòi làm những việc thuộc bản chất của thừa tác chức thánh chỉ vì muốn được nhìn nhận không? Chúng ta có đánh giá lòng đạo dựa trên mức độ xuất hiện ở nhà thờ hay dựa trên đời sống Tin Mừng? Sau Thánh lễ Chúa Nhật, người giáo dân có hiểu mình được sai trở lại thế giới không? Những câu hỏi ấy có thể giúp một cộng đoàn nhìn lại chính mình.
Một Hội Thánh trưởng thành sẽ không có ám ảnh rằng “ai quyền hơn ai”, nhưng hỏi “ai được sai đi đâu”. Linh mục được sai đến bàn thờ, tòa giải tội, giảng đài, giường bệnh, cộng đoàn và những nơi cần người mục tử. Giáo dân được sai đến gia đình, công sở, thị trường, văn hóa, khoa học, nghệ thuật, xã hội và chính trị. Dĩ nhiên hai sứ mạng giao thoa nhiều nơi. Linh mục cũng hiện diện giữa xã hội. Giáo dân cũng phục vụ trong giáo xứ. Nhưng có một trọng tâm riêng cần được tôn trọng. Khi trọng tâm ấy bị mất, Hội Thánh hoặc trở thành quá giáo sĩ, hoặc trở thành một tổ chức nơi chức thánh bị hòa tan.
Cuối cùng, điều sâu nhất không phải là phân chia công việc mà là hiệp thông trong Đức Kitô. Linh mục và giáo dân đều là môn đệ trước khi là bất cứ điều gì khác. Linh mục trước hết là người đã được Rửa tội. Giáo dân cũng vậy. Cả hai đều sống nhờ một Lời, một phép Rửa, một Thánh Thể, một đức tin, một Chúa Thánh Thần. Chức thánh không đặt linh mục ra ngoài Dân Chúa, nhưng đặt ngài trong Dân Chúa theo một cách phục vụ đặc biệt. Tính chất trần thế không đặt giáo dân ra ngoài đời sống thiêng liêng, nhưng đưa đời sống thiêng liêng vào sâu trong thế giới. Khi mỗi người trở về với Đức Kitô, sự khác biệt không còn là mối đe dọa. Linh mục không cần giữ lấy mọi thứ để chứng minh mình cần thiết. Giáo dân không cần bắt chước linh mục để chứng minh mình có phẩm giá.
Giáo dân không phải linh mục thiếu chức thánh. Linh mục cũng không phải người giáo dân đã đạt đến cấp cao hơn. Họ là những ơn gọi khác nhau trong cùng một Thân Thể. Giáo dân không được sai vào thế giới vì Hội Thánh không còn đủ linh mục. Họ được sai vào thế giới vì chính đó là một phần cốt yếu trong ơn gọi của họ. Linh mục không cử hành bí tích vì giáo dân chưa đủ khả năng. Ngài cử hành vì đó là ân huệ và trách nhiệm nhận được qua Bí tích Truyền chức. Khi cả hai cùng sống đúng căn tính, Hội Thánh không bị chia nhỏ nhưng trở nên đầy đủ hơn.
Có lẽ hình ảnh đẹp nhất là Thánh lễ Chúa Nhật. Linh mục đứng tại bàn thờ, không phải để giữ dân ở quanh mình, nhưng để cùng Đức Kitô quy tụ họ, nuôi họ rồi sai họ đi. Người giáo dân tiến lên rước Mình Thánh, không phải để trở thành linh mục, nhưng để trở thành chính mình sâu hơn: người môn đệ được nuôi bằng Mình Đức Kitô để trở nên thân mình Đức Kitô giữa thế gian. Rồi cửa nhà thờ mở ra. Người ta trở về gia đình, bệnh viện, trường học, công ty, công trường, phố xá, đồng ruộng và mọi ngõ ngách của đời người. Ở đó, linh mục không thể sống thay họ. Ở đó, chính họ phải trở thành men, muối và ánh sáng. Và khi tuần lễ mới kết thúc, họ lại mang mọi vui buồn, thất bại, lao nhọc, hy sinh, tình yêu và trách nhiệm ấy trở về bàn thờ để cùng với linh mục dâng lên Thiên Chúa. Đó là vòng tuần hoàn lành mạnh của một Hội Thánh không giáo sĩ hóa giáo dân và cũng không trần tục hóa linh mục: bàn thờ sai người tín hữu vào đời, và đời sống của họ lại được mang trở về bàn thờ. Trong vòng trao đổi ấy, mỗi ơn gọi đúng chỗ của mình, mỗi thừa tác đúng bản chất của mình, và tất cả cùng phục vụ một sứ mạng duy nhất: để Đức Kitô được nhận biết, yêu mến và hiện diện giữa lòng thế giới.
CHƯƠNG 7. GIÁO DÂN KHÔNG PHẢI TU SĨ THIẾU LỜI KHẤN
Một trong những hiểu lầm khá dai dẳng trong đời sống Công giáo là người ta vô tình lấy đời tu làm khuôn mẫu duy nhất của đời sống thiêng liêng, rồi từ đó đo mọi người khác theo mức độ họ giống tu sĩ đến đâu. Người giáo dân đạo đức thì được khen là “sống như tu sĩ”; người sống độc thân, siêng đọc kinh, ít giao du, thường tham dự các giờ kinh phụng vụ thì được xem như tiến gần hơn đến một lý tưởng Kitô giáo cao hơn; còn người giáo dân bận rộn với công việc, gia đình, con cái, kinh tế, xã hội, những lo toan rất trần thế thì dễ bị xem như đang sống ở tầng thấp hơn của đời sống thiêng liêng. Cách nghĩ ấy có vẻ đạo đức nhưng thực ra làm nghèo cả thần học về đời tu lẫn thần học về giáo dân. Nó làm đời tu thành một thước đo phổ quát thay vì một ơn gọi riêng, và làm giáo dân thành những Kitô hữu chưa đi đủ xa trên con đường nên thánh. Hội Thánh không hiểu như vậy. Giáo dân không phải là tu sĩ thiếu lời khấn. Người có gia đình không phải là tu sĩ thất bại vì đã kết hôn. Người lao động giữa xã hội không phải là người chưa đủ quảng đại để rời bỏ thế gian. Người giáo dân độc thân giữa đời cũng không phải là người đang chờ ngày bước vào tu viện. Mỗi bậc sống có căn tính, sứ mạng, ân sủng và hình thức nên thánh riêng. Chính khi tôn trọng sự khác biệt ấy, người ta mới thấy được vẻ đẹp phong phú của một Hội Thánh trong đó cùng một Phép Rửa sinh ra nhiều ơn gọi khác nhau nhưng cùng quy hướng về một sự thánh thiện duy nhất.
Đời thánh hiến có một vị trí đặc biệt trong Hội Thánh vì những người sống đời này công khai tuyên khấn các lời khuyên Phúc Âm theo một hình thức được Hội Thánh nhìn nhận. Nghèo khó, khiết tịnh và vâng phục không phải ba kỹ thuật đạo đức, càng không phải ba phương tiện để chứng minh mình đạo đức hơn người khác. Chúng là những dấu chỉ cánh chung. Người tu sĩ, bằng chính cách sống của mình, công khai nói với Hội Thánh và thế giới rằng Thiên Chúa là gia nghiệp sau cùng của con người; rằng hôn nhân, tiền bạc, quyền lực, tự do cá nhân, thành công và mọi thực tại tốt đẹp của đời này đều không phải là cùng đích tuyệt đối; rằng Nước Thiên Chúa đã thực sự bước vào lịch sử trong Đức Kitô nhưng vẫn đang hướng đến sự viên mãn. Người sống đời thánh hiến không khinh thế gian, cũng không tuyên bố rằng của cải là xấu, hôn nhân là thấp, ý riêng là tội. Trái lại, chính vì của cải, hôn nhân và tự do con người là những thực tại tốt đẹp nên việc tự nguyện từ bỏ một số quyền sử dụng chúng vì Nước Trời mới mang giá trị dấu chỉ. Một người từ bỏ điều xấu không tạo thành lời khuyên Phúc Âm; người ấy chỉ làm điều phải làm. Nhưng một người tự nguyện từ bỏ một điều tốt để hoàn toàn dành mình cho một thiện ích cao hơn đang biến đời mình thành một dấu chỉ. Bởi vậy, lời khấn dòng tu không thể được thu gọn thành “sống nghèo”, “không lập gia đình” và “nghe lời bề trên”. Những điều ấy chỉ có ý nghĩa khi được đặt trong một ơn gọi, một đoàn sủng, một cộng đoàn, một sứ mạng và một sự thánh hiến được Hội Thánh nhìn nhận.
Người giáo dân cũng được mời gọi sống tinh thần các lời khuyên Phúc Âm, bởi vì Tin Mừng không có hai loại: một Tin Mừng nghiêm túc cho tu sĩ và một Tin Mừng nhẹ hơn cho giáo dân. Mọi người đã chịu Phép Rửa đều được mời gọi bước theo Đức Kitô, từ bỏ mình, vác thập giá, sống nghèo khó trong tâm hồn, trong sạch, khiêm nhường, biết phục vụ và vâng phục Thiên Chúa. Nhưng sống tinh thần các lời khuyên Phúc Âm không đồng nghĩa với việc giáo dân phải mô phỏng hình thức sống của tu sĩ. Đây là điểm cần nói thật rõ. Người giáo dân có thể sống tinh thần nghèo khó ngay giữa việc sở hữu tài sản, điều hành doanh nghiệp, quản lý tiền bạc, nuôi gia đình và lo cho tương lai con cái. Nghèo khó Kitô giáo không trước hết là không có gì trong tay, nhưng là không để những gì mình có sở hữu trái tim mình. Một người cha có thể sở hữu một căn nhà và vẫn nghèo trước mặt Thiên Chúa nếu ông biết rằng căn nhà ấy là phương tiện để phục vụ gia đình chứ không phải thước đo giá trị bản thân; nếu ông biết mở cửa nhà cho người khác, biết chia sẻ, biết không biến tiền bạc thành thần tượng, biết từ chối những lợi nhuận bất chính, biết chấp nhận thiệt thòi để giữ lương tâm ngay thẳng. Ngược lại, một người không có nhiều tài sản vẫn có thể hoàn toàn bị ám ảnh bởi tiền bạc, địa vị, so sánh và chiếm hữu. Đức nghèo không được đo bằng số dư tài khoản một cách máy móc. Nó được thấy nơi tương quan tự do của một người với của cải: tôi có sử dụng tiền hay tiền sử dụng tôi; tôi có của cải hay của cải có tôi; tôi kiếm tiền để phục vụ sự sống hay tôi hy sinh sự sống để kiếm tiền.
Một người mẹ sống nghèo khó Phúc Âm không nhất thiết phải bỏ công việc, từ chối mọi tiện nghi, cho hết tài sản rồi để gia đình thiếu thốn. Bổn phận chăm sóc gia đình là một phần của ơn gọi. Người ấy có thể sống nghèo khi dạy con biết đủ, không biến tuổi thơ của con thành cuộc chạy đua hàng hiệu, trường lớp, danh tiếng và thành tích; khi không lấy mức sống của gia đình khác làm chuẩn cho hạnh phúc nhà mình; khi biết chia sẻ với người nghèo ngay cả lúc ngân sách gia đình không dư dả; khi biết dạy con rằng một món đồ có giá trị không phải vì nó đắt mà vì nó phục vụ con người. Một doanh nhân Công giáo sống tinh thần nghèo khó không phải bằng cách quản trị công ty thật tệ để chứng minh mình không tham tiền, nhưng bằng cách sử dụng tiền, quyền lực và lợi nhuận dưới quyền của lương tâm; biết trả lương công bằng, biết từ chối khai thác người yếu thế, biết không biến con người thành chi phí cần tối ưu hóa. Một bác sĩ sống nghèo khó khi không để nghề chữa bệnh biến thành công cụ trục lợi. Một giáo viên sống nghèo khi không lấy danh tiếng và sự tán thưởng làm lương thực tinh thần. Một người trẻ sống nghèo khi không để chiếc điện thoại, quần áo, xe cộ, chuyến du lịch và hình ảnh trên mạng xã hội quyết định giá trị của mình. Đó không phải là nghèo khó theo hình thức lời khấn tu trì, nhưng là cùng một Tin Mừng đi vào một hình thức sống khác.
Cũng vậy, khiết tịnh không phải là đặc quyền của người độc thân hay người khấn dòng. Mọi Kitô hữu đều được gọi sống khiết tịnh theo bậc sống của mình. Người đã kết hôn sống khiết tịnh bằng lòng trung tín với người phối ngẫu, bằng sự kính trọng thân xác người kia, bằng việc không biến tình dục thành quyền chiếm hữu, bằng khả năng yêu người bạn đời như một ngôi vị chứ không như phương tiện thỏa mãn nhu cầu của mình. Khiết tịnh hôn nhân không có nghĩa vợ chồng càng xa nhau về thân xác thì càng thánh. Một quan niệm như vậy vừa phản Kitô giáo vừa làm méo mó thần học bí tích Hôn phối. Trong hôn nhân, thân xác cũng trở thành ngôn ngữ của giao ước. Khiết tịnh làm cho ngôn ngữ ấy thành thật: tôi trao mình cho em chứ không sử dụng em; tôi đón nhận anh chứ không chiếm hữu anh; tôi trung thành không chỉ khi thuận lợi mà cả khi tuổi trẻ qua đi, bệnh tật đến, thân xác thay đổi, kinh tế khó khăn và cảm xúc không còn mãnh liệt như ngày đầu. Một đôi vợ chồng ở bên nhau năm mươi năm, cùng nuôi con, cùng chịu đựng bệnh tật, cùng tha thứ những yếu đuối, cùng già đi bên nhau có thể là một bài giảng hùng hồn về khiết tịnh mà không cần nói đến thuật ngữ này một lần nào.
Người độc thân giữa đời cũng được mời gọi sống khiết tịnh, nhưng sự độc thân ấy không tự động đồng nghĩa với đời thánh hiến. Có những người không kết hôn vì hoàn cảnh, vì trách nhiệm gia đình, vì lựa chọn nghề nghiệp, vì chưa gặp người thích hợp hoặc vì một quyết định cá nhân. Họ vẫn có thể sống một đời Kitô hữu trưởng thành, quảng đại, sinh hoa trái và đầy tình yêu. Họ không phải một bậc trung gian giữa giáo dân có gia đình và tu sĩ. Họ là giáo dân đang sống ơn gọi Rửa tội trong hoàn cảnh cụ thể của mình. Khiết tịnh của họ đòi khả năng yêu mà không chiếm hữu, có tương quan mà không lệ thuộc, có tình bạn sâu mà không khai thác cảm xúc người khác, biết quản trị đời sống tình cảm và tính dục với sự thật, trưởng thành và ân sủng. Trong một thời đại mà con người dễ bị biến thành hình ảnh, hồ sơ, đối tượng hấp dẫn hay món hàng tiêu thụ, khiết tịnh của giáo dân trở nên một chứng tá rất mạnh: người trước mặt tôi không phải một thân xác để tôi sử dụng, cũng không phải một nguồn cảm xúc để tôi rút lấy, nhưng là một mầu nhiệm cần được tôn trọng.
Vâng phục cũng thế. Người giáo dân không tuyên lời khấn vâng phục theo luật dòng, nhưng không vì vậy mà họ được miễn khỏi sự vâng phục Kitô giáo. Mọi môn đệ đều học nơi Đức Kitô Đấng đã đến không phải để làm theo ý mình nhưng thực hiện ý Chúa Cha. Tuy nhiên, việc vâng phục của giáo dân được sống qua những trung gian rất khác đời tu. Đó là sự vâng phục tiếng Chúa trong lương tâm được đào luyện, vâng phục Lời Chúa, giáo huấn chân chính của Hội Thánh, những đòi hỏi khách quan của luân lý, những nghĩa vụ phát sinh từ giao ước hôn nhân, trách nhiệm làm cha mẹ, công bằng nghề nghiệp, bổn phận công dân và những cam kết tự do mà họ đã nhận. Một người cha không thể nói rằng mình đang “vâng lời Chúa” trong một hội đoàn đạo đức mà bỏ bê vợ con. Một người mẹ không thể lấy hoạt động nhà thờ làm lý do để trốn trách nhiệm gia đình. Một giáo dân không thể lấy câu “tôi nghe theo lương tâm” để biện minh cho mọi ý muốn chủ quan. Lương tâm Kitô giáo phải được đào luyện bằng sự thật. Cũng như thế, sự vâng phục trong Hội Thánh không biến người giáo dân thành người không có tiếng nói. Họ có lý trí, kinh nghiệm, chuyên môn, đặc sủng và trách nhiệm riêng. Vâng phục không phải xóa nhân cách. Đức Kitô vâng phục Chúa Cha không phải vì Người không có ý chí nhân loại, nhưng chính ý chí nhân loại ấy hoàn toàn tự do hiệp nhất với ý Chúa Cha. Vâng phục Kitô giáo cũng phải làm con người trưởng thành trong tự do, không làm họ thành trẻ con thiêng liêng suốt đời.
Vì thế cần tránh một thứ “tu sĩ hóa giáo dân”, nghĩa là cứ nghĩ càng đem nhiều thực hành của tu viện vào đời giáo dân thì giáo dân càng thánh. Có những thực hành của đời tu rất quý: các giờ kinh chung, thinh lặng, tĩnh tâm, linh hướng, kỷ luật cá nhân, đọc sách thiêng liêng, phụng vụ giờ kinh. Giáo dân hoàn toàn có thể học và sử dụng những thực hành ấy. Nhưng chúng phải được hội nhập vào ơn gọi của họ, không được áp đặt như thể đời sống gia đình và nghề nghiệp chỉ là những cản trở khiến họ không thể sống thiêng liêng “đúng chuẩn”. Một bà mẹ có ba con nhỏ không thể được đánh giá bằng số giờ thinh lặng mỗi ngày giống một nữ đan sĩ. Nếu lúc bốn giờ sáng đứa con sốt và người mẹ thức chăm con, sự thức ấy có thể là một giờ cầu nguyện bằng thân xác dù bà không đọc được một câu kinh. Một người cha làm ca đêm để nuôi gia đình có thể không tham dự được giờ kinh tối của một hội đoàn, nhưng sự trung thành của ông trong công việc, sự ngay thẳng khi không ai kiểm tra, việc ông trở về nhà vẫn dành thời gian cho con có thể là nơi ông dâng lễ tế đời mình. Một bác sĩ trực cấp cứu ngày Chúa Nhật không phải là Kitô hữu hạng hai vì không thể tham dự một số sinh hoạt đạo đức ngoài nghĩa vụ phụng vụ. Người ta phải học nhìn đời sống của giáo dân như một không gian thần học, không phải một khoảng trống giữa các hoạt động nhà thờ.
Điều này không có nghĩa hạ thấp cầu nguyện, phụng vụ hoặc đời sống bí tích. Trái lại, giáo dân càng ở giữa đời càng cần được nuôi bằng Lời Chúa, Thánh Thể, Bí tích Hòa giải và đời cầu nguyện. Nhưng mục đích của những nguồn ân sủng ấy không phải kéo họ ra khỏi đời sống của mình; chính là sai họ trở lại đó với một trái tim đã được biến đổi. Người giáo dân đi lễ Chúa Nhật không phải để tạm rời thế gian một giờ rồi trở về nguyên trạng. Họ đến bàn thờ mang theo cả tuần sống: công việc còn dang dở, những hóa đơn phải trả, người bạn đời, những đứa con, người đồng nghiệp khó chịu, những thất bại, những thành công, những người bệnh họ đã chăm sóc, những quyết định kinh tế họ phải đưa ra. Trong Thánh Thể, tất cả được đặt vào hy tế Đức Kitô. Rồi từ bàn thờ họ lại được sai đi. “Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an” không chỉ là lời giải tán đám đông. Đó là lời sai đi. Bình an nhận từ Đức Kitô phải được đem vào văn phòng, ruộng đồng, nhà máy, bệnh viện, lớp học, gia đình, khu phố, thương trường và đời sống công dân. Chính ở đó ơn gọi giáo dân có một nét riêng không thể thay thế.
Nếu một giáo dân bắt đầu nghĩ rằng muốn thánh thì phải sống càng giống tu sĩ càng tốt, họ rất dễ rơi vào hai thái cực. Một là mặc cảm: họ luôn cảm thấy đời mình quá ồn, quá bận, quá vật chất, quá nhiều chuyện nhỏ để có thể là đời sống thiêng liêng thật. Hai là bỏ bê bổn phận: họ tìm một thế giới đạo đức bên ngoài trách nhiệm thật của mình và tưởng đó là sự trưởng thành thiêng liêng. Có người siêng sinh hoạt hội đoàn nhưng gia đình kiệt quệ vì sự vắng mặt của họ. Có người rất sốt sắng phục vụ giáo xứ nhưng nhân viên dưới quyền lại sợ cách họ đối xử tại công ty. Có người chia sẻ Kinh Thánh mỗi tối nhưng không chịu nói chuyện tử tế với người phối ngẫu. Có người tham dự mọi buổi tĩnh tâm nhưng cha mẹ già không được thăm. Những nghịch lý ấy cho thấy người ta có thể dùng thực hành đạo đức để trốn khỏi nơi Thiên Chúa thực sự đang chờ mình. Không phải mọi hoạt động tôn giáo đều tự động làm người ta thánh. Thánh thiện được kiểm chứng trong sự thật của ơn gọi.
Đời tu cũng sẽ bị méo mó nếu người ta đo nó bằng tiêu chuẩn của đời giáo dân. Một tu sĩ không cần chứng minh giá trị bằng cách trở thành nhà quản trị hiệu suất cao nhất, người hoạt động xã hội bận rộn nhất hoặc người hiện diện khắp mọi chương trình giáo xứ. Sứ mạng tông đồ rất quan trọng, nhưng đời thánh hiến không thể bị giản lược thành năng suất mục vụ. Một đan sĩ sống đời ẩn dật không phải là người “không làm gì”. Một nữ tu già đau bệnh không còn dạy học không vì thế trở thành gánh nặng vô nghĩa cho hội dòng. Một tu sĩ dành nhiều giờ cầu nguyện không phải đang trốn việc nếu đó là phần chân thật của đặc sủng và kỷ luật đời mình. Xã hội hiện đại rất dễ đo giá trị bằng sản lượng, ảnh hưởng, số người tiếp cận, số dự án thực hiện, số cơ sở điều hành. Nếu đem tiêu chuẩn ấy vào đời tu một cách vô thức, chính đời thánh hiến cũng mất căn tính và biến thành một tổ chức phi chính phủ có kinh nguyện. Người tu sĩ phải làm việc, phục vụ và chịu trách nhiệm, nhưng sự hiện hữu của họ cũng mang giá trị dấu chỉ. Có những lúc Hội Thánh cần một đan viện thinh lặng không kém một trung tâm xã hội; cần một cộng đoàn sống nghèo thật không kém một dự án phát triển; cần một người âm thầm cầu nguyện không kém một diễn giả nổi tiếng. Nếu chỉ điều gì đo được mới được xem là có giá trị, chúng ta đã để logic thị trường xâm nhập vào việc đánh giá ơn gọi.
Vì vậy, đừng đo người giáo dân bằng giờ thinh lặng đan viện, và cũng đừng đo tu sĩ bằng năng suất của một hội đồng quản trị. Đừng đòi một người mẹ có con nhỏ sống thời khóa biểu của nữ đan sĩ. Đừng bắt một đan sĩ biện minh cho sự tồn tại của mình bằng số hoạt động xã hội. Đừng đòi linh mục sống như doanh nhân rồi lại trách ngài không còn thời gian cầu nguyện. Đừng ép doanh nhân sống như đan sĩ rồi trách họ thiếu thực tế. Hội Thánh không phải một dây chuyền sản xuất nơi mọi thành viên được đúc theo cùng một khuôn. Hội Thánh giống một thân thể: mắt không xin lỗi vì không phải tay; tay không ganh vì không phải tim; tim không phải chứng minh rằng nó hữu ích bằng cách làm công việc của mắt. Mỗi chi thể sống đúng chức năng của mình thì toàn thân mới khỏe mạnh.
Một nguyên tắc rất quan trọng của thần học ơn gọi là: cùng một sự thánh thiện, nhiều hình thức nên thánh. Hội Thánh không có một loại thánh thiện cho giáo hoàng, một loại cho tu sĩ và một loại nhẹ hơn cho giáo dân. Sự thánh thiện luôn là hiệp thông với Thiên Chúa trong Đức Kitô nhờ Chúa Thánh Thần, luôn là đức ái đi đến mức viên mãn. Nhưng đức ái ấy lấy hình hài khác nhau trong những bậc sống khác nhau. Đức ái của người mẹ có thể mang hình thức thức đêm với con. Đức ái của người cha có thể là trung thành kiếm sống trong sạch suốt ba mươi năm. Đức ái của một tu sĩ có thể là từ bỏ gia đình riêng để thuộc về một cộng đoàn và một sứ mạng. Đức ái của một đan sĩ có thể là cầu nguyện âm thầm cho thế giới không biết tên mình. Đức ái của một linh mục có thể là thức dậy lúc nửa đêm để xức dầu cho người hấp hối. Đức ái của một người trẻ có thể là chọn nói thật trong một môi trường gian dối dù mất cơ hội. Hình thức khác nhau nhưng nguồn duy nhất là Đức Kitô.
Mỗi bậc sống có một “trường nên thánh” của mình. Trường của người đã kết hôn là chính giao ước hôn nhân: một con người cụ thể được trao cho mình để yêu không chỉ khi dễ thương nhưng cả khi khó yêu; một gia đình cụ thể với lịch sử, giới hạn và thương tích cụ thể; một đời sống chung trong đó không thể mãi che giấu tính ích kỷ của mình. Hôn nhân có khả năng phơi bày con người rất mạnh. Khi sống một mình, ta có thể tưởng mình kiên nhẫn; sống với người khác mới biết mình kiên nhẫn đến đâu. Ta có thể tưởng mình quảng đại; đến khi phải hy sinh tiền bạc, thời gian, giấc ngủ, sở thích và kế hoạch vì vợ chồng con cái, ta mới thấy lòng mình. Bởi vậy hôn nhân không phải hoàn cảnh làm người ta bớt thánh. Chính nó có thể là lò luyện đức ái.
Trường nên thánh của người lao động là công việc, với tất cả sự bình thường của nó. Người ta thường tìm thánh ý Chúa trong những biến cố lớn nhưng quên rằng phần lớn đời người được làm bằng những ngày gần giống nhau. Đi làm, trả lời thư, sửa máy, dạy học, chăm bệnh nhân, bán hàng, làm sổ sách, trồng cây, lái xe, họp hành, chịu đựng một đồng nghiệp khó tính, giữ lời hứa, làm việc đến nơi đến chốn khi không ai vỗ tay. Chính ở đó nhân đức được hình thành. Một nhân viên có thể đọc rất nhiều sách thiêng liêng nhưng nếu thường xuyên gian lận giờ làm, làm qua loa, nói xấu đồng nghiệp, lấy đồ công ty về nhà thì đời thiêng liêng của người ấy đang có một lỗ hổng lớn. Ngược lại, một người ít nói về đạo nhưng ngày ngày làm việc ngay thẳng, tử tế, công bằng, biết nhường, biết nhận lỗi, biết giúp người yếu có thể đang sống Tin Mừng sâu hơn chính họ tưởng.
Trường nên thánh của người tham gia đời sống công dân là trách nhiệm với công ích. Giáo dân không được rút vào một thế giới đạo đức riêng tư như thể chính trị, kinh tế, pháp luật, văn hóa và môi trường không liên hệ gì tới đức tin. Họ có trách nhiệm làm cho những thực tại ấy trở nên nhân bản hơn theo tinh thần Tin Mừng, bằng năng lực chuyên môn chứ không bằng khẩu hiệu đạo đức. Một kỹ sư Công giáo làm một cây cầu an toàn đang phục vụ công ích. Một luật sư bảo vệ người yếu thế đang làm công việc có chiều kích luân lý. Một nhà báo từ chối bóp méo sự thật đang sống ơn gọi ngôn sứ. Một người làm chính sách đặt phẩm giá con người trên lợi ích phe nhóm đang sống trách nhiệm Kitô hữu. Một người kinh doanh tạo việc làm tử tế cho hàng trăm gia đình có thể đang góp phần xây dựng xã hội. Những điều ấy không phải đời sống “trần tục” nằm ngoài sự thánh thiện. Chính đó là nơi giáo dân được sai đến.
Trường nên thánh của tu sĩ lại khác. Cộng đoàn là trường rất đặc biệt. Người tu sĩ không chọn từng người mình sống cùng. Họ nhận những người được trao cho mình qua một hội dòng, một cộng đoàn, một sứ vụ. Chính những khác biệt về tuổi tác, tính khí, văn hóa, khả năng, sở thích và quan điểm trở thành nơi học đức ái. Lời khấn nghèo khó không chỉ nằm ở số tài sản cá nhân nhưng ở việc không tự quyết mọi thứ theo ý mình. Lời khấn khiết tịnh không chỉ là không lập gia đình nhưng là mở trái tim cho một tình yêu không chiếm hữu. Lời khấn vâng phục không chỉ là chấp hành lệnh bề trên nhưng là một hành trình từ bỏ sự tự trị tuyệt đối để tìm ý Chúa trong cộng đoàn và sứ mạng. Nếu một tu sĩ chỉ giữ cấu trúc bên ngoài mà lòng đầy chiếm hữu, ghen tị, quyền lực và ý riêng, các lời khấn chưa đạt mục đích. Cũng như giáo dân không nên bắt chước tu sĩ về hình thức, tu sĩ cũng không được dùng hình thức lời khấn để tự cho mình cao hơn những người không khấn.
Có một cám dỗ rất tinh tế là xếp hạng ơn gọi. Người ta dùng những từ như “ơn gọi cao hơn”, “đời sống hoàn thiện hơn” một cách thiếu phân biệt, rồi vô tình tạo ra thứ kim tự tháp thiêng liêng: trên cùng là tu sĩ, kế đến linh mục, dưới nữa là giáo dân độc thân, cuối cùng là người đã kết hôn bận bịu với con cái. Lịch sử thần học có những cách diễn đạt cần được hiểu trong bối cảnh của chúng, nhưng giáo huấn của Công đồng Vaticanô II đã nhấn mạnh rất mạnh ơn gọi phổ quát nên thánh. Không một Kitô hữu nào bị xếp vào tầng hạng hai của sự thánh thiện vì bậc sống của mình. Câu hỏi không phải “bậc nào thánh hơn?” nhưng là “tôi có trung thành với ơn gọi Thiên Chúa trao cho tôi không?” Một tu sĩ không trung thành không thánh hơn một người mẹ trung thành chỉ vì họ có lời khấn. Một giáo dân không tự động thánh hơn tu sĩ vì họ dấn thân xã hội nhiều hơn. Sự thánh thiện không nằm trong nhãn bậc sống nhưng trong mức độ con người để ân sủng biến đổi mình trong bậc sống ấy.
Ghen với trường nên thánh của người khác là một cách bỏ trường của mình. Người đã lập gia đình có thể nhìn đời tu với chút lãng mạn: giá mà mình có nhiều giờ cầu nguyện, giá mà không có tiền học của con, không có những cuộc cãi vã vợ chồng, không có cha mẹ hai bên phải chăm sóc, chắc mình thánh hơn. Người tu sĩ lại có thể nhìn gia đình người khác và nghĩ: giá mà mình có một mái nhà riêng, có người chờ mình về, có con cháu bên cạnh, chắc đời dễ hơn. Người độc thân nhìn cả hai và cảm thấy mình đứng ngoài. Những tưởng tượng ấy thường chỉ thấy vẻ đẹp của bậc khác mà không thấy thập giá của nó. Người giáo dân nhìn một giờ chầu yên tĩnh nhưng không thấy những khó khăn cộng đoàn, lời khấn, sứ vụ và những hy sinh âm thầm của đời tu. Người tu sĩ nhìn bữa cơm gia đình ấm áp nhưng không thấy những năm tháng người cha người mẹ phải chịu trách nhiệm, lo lắng, mất ngủ, tha thứ và hy sinh. Mỗi bậc có ân sủng riêng, đồng thời có thập giá riêng. Thiên Chúa không cứu ta trong một đời sống tưởng tượng. Ngài cứu ta trong đời sống thực mà ta đã được trao.
Bởi vậy, linh đạo giáo dân phải giúp người giáo dân nhận ra Thiên Chúa không chỉ gặp họ khi họ tách khỏi đời sống thường ngày để cầu nguyện, mà còn gặp họ ngay trong chính đời sống thường ngày. Cầu nguyện riêng rất cần, nhưng không được biến thành nơi duy nhất họ nghĩ có Chúa. Chúa ở trong nhà thờ, nhưng Ngài cũng chờ họ trong căn bếp, phòng bệnh, công trường, xe buýt, trường học và bàn làm việc. Điều này không đồng nghĩa với việc mọi sự tự động thành thánh. Một cuộc họp không trở thành cầu nguyện chỉ vì người tham dự là Công giáo. Một bữa cơm gia đình không tự động thành bí tích. Nhưng mọi thực tại lương thiện của đời sống có thể được đón nhận, thanh luyện và dâng lên trong Đức Kitô. Đây là điều thần học về đời sống giáo dân phải lấy lại mạnh mẽ: ân sủng không phá hủy trần thế; ân sủng chữa lành và nâng trần thế lên.
Khi hiểu như thế, ta cũng sẽ thôi dùng ngôn ngữ “thoát tục” một cách dễ dãi. Kitô giáo không cứu con người bằng cách làm họ bớt người. Đức Kitô không cứu thế giới từ xa; Người đã nhập thể. Người có một thân xác, một gia đình, một làng quê, một nghề nghiệp, những người bạn, những bữa ăn, những hành trình, những giọt nước mắt. Người đã làm cho những thực tại bình thường trở thành nơi Thiên Chúa đi vào lịch sử. Giáo dân, theo một cách rất đặc biệt, nối dài logic Nhập Thể ấy trong những cơ cấu của đời sống con người. Họ không cần xin lỗi vì phải nói về ngân sách, đất đai, học phí, chính sách, công nghệ, thị trường, y tế, môi trường hay giáo dục. Điều họ cần là học nhìn những thực tại ấy bằng con mắt Tin Mừng và hành động trong đó với lương tâm được đào luyện. Chính khi ấy tính chất trần thế của họ trở thành sứ mạng, chứ không phải khuyết điểm.
Một Hội Thánh khỏe mạnh là Hội Thánh trong đó tu sĩ vui vì giáo dân sống đúng ơn gọi giáo dân, giáo dân vui vì tu sĩ sống đúng ơn gọi tu sĩ, linh mục vui vì các gia đình trưởng thành mà không cần lệ thuộc vào mình, và mọi người nhận ra những ân huệ khác nhau đều phục vụ cùng một thân thể. Một giáo xứ không nên đánh giá giáo dân bằng việc họ có mặt bao nhiêu giờ quanh nhà xứ. Có những người chỉ xuất hiện ở nhà thờ vào những giờ cần thiết nhưng đang sống một đời chứng tá giữa xã hội rất mạnh. Dĩ nhiên có những người viện cớ bận để lười đời sống đức tin; điều ấy phải được nói. Nhưng ngược lại, cũng có thể có một thứ giáo sĩ trị mục vụ khiến người ta đồng nhất “giáo dân tốt” với “giáo dân luôn có mặt để làm việc cho giáo xứ”. Nếu mọi người giỏi đều bị kéo vào bên trong cơ cấu nhà thờ, ai sẽ ở lại trong trường đại học, bệnh viện, công ty, cơ quan, văn hóa, nghệ thuật, khoa học và chính trị để làm men? Hội Thánh không chỉ cần người giáo dân đứng cạnh bàn thờ. Hội Thánh cần người giáo dân được nuôi từ bàn thờ rồi đi thật xa khỏi bàn thờ để Tin Mừng thấm vào thế giới.
Tương tự, một hội dòng khỏe mạnh không cần chứng minh mình hữu ích bằng cách bắt chước mọi hoạt động giáo xứ. Đặc sủng phải được gìn giữ. Có hội dòng được gọi giảng thuyết; có hội dòng dạy học; có hội dòng chăm sóc người nghèo; có cộng đoàn chiêm niệm; có những hình thức sống thánh hiến khác. Chính sự khác biệt làm nên vẻ đẹp của Hội Thánh. Nếu tất cả đều làm cùng một việc, mọi đặc sủng cuối cùng sẽ trở thành tên gọi lịch sử mà không còn nội dung sống. Điều này cũng đúng với giáo dân. Nếu linh đạo giáo dân chỉ là bản sao giản lược của linh đạo tu sĩ, ta đã không thật sự hiểu giáo dân.
Vì thế, đào tạo giáo dân phải thay đổi một câu hỏi căn bản. Đừng chỉ hỏi: làm sao giúp giáo dân cầu nguyện nhiều hơn? Hãy hỏi thêm: làm sao giúp họ gặp Chúa trong công việc, hôn nhân, việc sử dụng tiền, trách nhiệm công dân, nuôi dạy con, tương quan xã hội và các quyết định nghề nghiệp? Đừng chỉ hỏi: làm sao kéo họ đến nhà thờ nhiều hơn? Hãy hỏi: làm sao từ Thánh Thể họ được sai vào thế giới tốt hơn? Đừng chỉ dạy họ các thực hành đạo đức; hãy dạy họ phân định. Một người giáo dân cần biết phân định việc chọn nghề, đầu tư, di chuyển nơi ở, giáo dục con cái, chăm sóc cha mẹ, sử dụng công nghệ, tham gia chính trị, ứng xử với một cơ cấu bất công. Nếu giáo lý không chạm đến những quyết định ấy, đức tin dễ bị đóng trong một ngăn riêng của đời sống.
Cũng đừng thần thánh hóa sự bận rộn của giáo dân. Nói rằng thế giới là nơi nên thánh không có nghĩa mọi sự bận rộn đều tốt. Giáo dân cũng cần ngày Chúa Nhật, thinh lặng, nghỉ ngơi, cầu nguyện, đọc Lời Chúa, tĩnh tâm. Có người lấy gia đình và công việc làm lý do để đời sống thiêng liêng chết dần. Một người nói “công việc của tôi là cầu nguyện” nhưng không bao giờ thật sự cầu nguyện có thể đang tự lừa mình. Sự hiện diện của Thiên Chúa trong đời thường không xóa nhu cầu dành thời gian trực tiếp cho Ngài. Đức Giêsu sống giữa dân chúng nhưng cũng rút lui cầu nguyện. Người giáo dân cần một nhịp sống trong đó hoạt động và chiêm niệm nâng đỡ nhau. Nhưng nhịp ấy phải thực tế. Với một gia đình có trẻ nhỏ, mười lăm phút cầu nguyện trung thành mỗi ngày có thể thực hơn kế hoạch một giờ rồi bỏ sau ba hôm. Một cặp vợ chồng đọc một đoạn Tin Mừng mỗi tuần và nói với nhau về đời sống có thể quan trọng hơn việc chạy theo quá nhiều chương trình thiêng liêng khiến cả hai kiệt sức. Linh đạo trưởng thành không phải là sưu tập thực hành; là tìm một nhịp giúp mình trung thành với Chúa trong ơn gọi thật.
Cuối cùng, điều quan trọng nhất là hiểu rằng các bậc sống không cạnh tranh về độ thánh thiện. Chúng bổ túc và nhắc nhở nhau. Người tu sĩ nhắc giáo dân rằng thế gian này không phải cùng đích; người giáo dân nhắc tu sĩ rằng thế gian này vẫn là công trình Thiên Chúa yêu và muốn cứu. Đời sống khiết tịnh thánh hiến nhắc các gia đình rằng tình yêu con người hướng đến một tình yêu còn lớn hơn; tình yêu vợ chồng nhắc người thánh hiến rằng tình yêu phải có thân xác, sự trung thành, hy sinh và tính cụ thể. Đức nghèo của tu sĩ nhắc người sở hữu của cải rằng của cải không phải Thiên Chúa; trách nhiệm kinh tế của giáo dân nhắc người tu sĩ rằng vật chất cần được quản trị nghiêm túc chứ không thể lãng mạn hóa nghèo khó. Vâng phục của người thánh hiến nhắc xã hội về tự do biết quy hướng về chân lý; trách nhiệm lương tâm của giáo dân nhắc các cộng đoàn tu trì rằng vâng phục không được trở thành xóa bỏ trưởng thành cá nhân. Mỗi bậc soi sáng bậc khác khi chính mình sống trung thành.
Bởi đó, câu “giáo dân không phải tu sĩ thiếu lời khấn” không phải một khẩu hiệu nhằm hạ thấp đời tu. Trái lại, nó bảo vệ phẩm giá của cả hai. Nó bảo vệ đời tu khỏi bị biến thành chuẩn mặc định cho mọi Kitô hữu, và nhờ vậy cho phép đời tu hiện lên đúng là một dấu chỉ đặc biệt. Nó bảo vệ giáo dân khỏi mặc cảm và giúp họ nhận ra bàn làm việc, mái ấm, công trường, bệnh viện, trường học và đời sống xã hội của họ có thể thật sự là nơi Thiên Chúa gọi. Người giáo dân không cần giả làm tu sĩ để nên thánh. Người tu sĩ không cần giả làm giáo dân để hữu ích. Điều mỗi người cần là trở nên hoàn toàn thuộc về Đức Kitô trong bậc sống đã được trao.
Đừng đo người giáo dân bằng giờ thinh lặng đan viện. Đừng đo tu sĩ bằng số dự án và năng suất họp hành. Đừng đo người mẹ bằng số hoạt động giáo xứ. Đừng đo người cha bằng số lần xuất hiện trước cộng đoàn. Đừng đo đan sĩ bằng mức độ được công chúng biết đến. Đừng đo nhà truyền giáo bằng số lượt thích trên mạng. Mỗi ơn gọi có nhịp thở riêng. Mỗi bậc có trường nên thánh của mình. Thiên Chúa có thể gặp một nữ đan sĩ trong giờ kinh đêm; Người cũng có thể gặp một người mẹ lúc hai giờ sáng đang ôm đứa con sốt. Người có thể gặp một tu sĩ trong lời khấn vâng phục; Người cũng có thể gặp một doanh nhân khi người ấy từ chối một hợp đồng gian dối. Người có thể gặp một linh mục bên bàn thờ; Người cũng có thể gặp một người cha bên bàn ăn khi ông xin lỗi con mình. Sự thánh thiện không nằm ở việc đời ta giống đời người khác đến đâu. Sự thánh thiện bắt đầu khi, ngay trong đời mình, ta để Đức Kitô sống.
Ghen với trường của người khác là mất trường của mình. Chạy khỏi ơn gọi của mình để tìm một hình thức thiêng liêng đẹp hơn trong tưởng tượng thường chỉ làm người ta mệt và phân tán. Bình an bắt đầu khi ta nhận ra: đây là đời tôi đã được trao; đây là những con người Chúa giao cho tôi; đây là những trách nhiệm, giới hạn, ân huệ, thập giá và cơ hội của tôi; và chính tại đây tôi phải yêu. Không phải ngày mai trong một đời khác. Không phải nếu tôi đã chọn một bậc khác. Không phải khi mọi sự dễ hơn. Chính tại đây. Chính hôm nay. Chính trong bậc sống này. Và nếu tôi trung thành, nơi tưởng rất bình thường ấy sẽ dần trở thành đất thánh.
CHƯƠNG 8. APOSTOLICAM ACTUOSITATEM VÀ CHRISTIFIDELES LAICI
Có những văn kiện của Hội Thánh được nhắc đến nhiều trong các lớp thần học nhưng lại ít đi vào cơ cấu sống hằng ngày của giáo xứ; có những tư tưởng đã được Công đồng nói rất rõ cách đây hơn nửa thế kỷ nhưng trong thực tế mục vụ vẫn còn bị đối xử như một điều mới mẻ; và có lẽ giáo huấn về ơn gọi và sứ mạng của giáo dân là một trong những trường hợp như thế. Người ta có thể tổ chức lễ kỷ niệm Công đồng Vaticanô II, có thể treo khẩu hiệu “hiệp thông – tham gia – sứ vụ”, có thể thành lập thêm nhiều ban mục vụ, hội đoàn, nhóm chuyên trách, nhưng nếu trong đầu người giáo dân vẫn nghĩ rằng mình chỉ là người “phụ việc cho cha”, nếu trong đầu người linh mục vẫn nghĩ rằng mọi hoạt động có giá trị của Hội Thánh phải khởi đi từ phòng cha xứ, phải được cha xứ nghĩ trước, giao xuống, kiểm tra và kết luận, thì Công đồng vẫn còn nằm trên giá sách. Sắc lệnh Apostolicam Actuositatem về Tông đồ Giáo dân, được Công đồng Vaticanô II ban hành năm 1965, và Tông huấn hậu Thượng Hội đồng Christifideles Laici của Thánh Gioan Phaolô II năm 1988 là hai văn kiện phải được đọc trong chính điểm nghẽn ấy. Cả hai không tạo ra một “giai cấp giáo dân mới”, cũng không phát minh ra một thần học hoàn toàn xa lạ với truyền thống; chúng làm sáng tỏ điều vốn đã nằm trong bí tích Rửa tội, trong việc thuộc về Đức Kitô, trong bản tính truyền giáo của Hội Thánh: người giáo dân là môn đệ, là thành phần đầy đủ của Dân Thiên Chúa, là người đã được Đức Kitô gọi, thánh hóa và sai đi. Bởi thế, tông đồ giáo dân không bắt đầu vào ngày cha xứ đọc tên một người vào ban hành giáo, cũng không bắt đầu khi họ được trao một giấy bổ nhiệm, một chức trưởng, một nhiệm kỳ, một thẻ hội viên hay một chiếc áo đồng phục. Những điều ấy có thể cần cho tổ chức; nhưng sứ mạng sâu xa hơn tổ chức. Sứ mạng bắt đầu từ lúc người ấy thuộc về Đức Kitô nhờ Rửa tội và được sai sống đời Kitô hữu giữa lòng thế giới.
Điểm mạnh rất lớn của Apostolicam Actuositatem là trả lại cho chữ “tông đồ” chiều rộng nguyên thủy của nó. Trong tâm thức mục vụ quen thuộc, người ta dễ nghĩ hoạt động tông đồ là một số công việc diễn ra trong khuôn viên giáo xứ: dạy giáo lý, đọc sách thánh, hát lễ, thăm bệnh nhân theo chương trình, tham gia hội đoàn, quyên góp, tổ chức lễ, giữ trật tự, trang trí nhà thờ, làm truyền thông giáo xứ. Tất cả những việc ấy có thể là việc tông đồ thật và rất đáng quý. Nhưng nếu chỉ dừng ở đó, chúng ta đã thu nhỏ đời tông đồ giáo dân vào những gì xảy ra quanh bàn thờ mà quên mất một phần lớn sứ mạng của họ xảy ra ở nơi không có bàn thờ hữu hình: trong căn bếp, nhà máy, phòng giáo viên, công trường, bệnh viện, văn phòng luật, cơ quan hành chính, công ty phần mềm, nông trại, trường học, phòng họp doanh nghiệp, phòng nghiên cứu, sân vận động, nghệ thuật, truyền thông, kinh tế, chính trị, khoa học và cả những không gian kỹ thuật số đang hình thành văn hóa con người. Một người mẹ kiên nhẫn giữ bầu khí yêu thương trong gia đình đang làm việc tông đồ. Một người chủ doanh nghiệp trả lương công bằng, không bóc lột người yếu thế, không dùng gian dối để thắng thầu, đang làm việc tông đồ. Một giáo viên bảo vệ phẩm giá học sinh nghèo đang làm việc tông đồ. Một bác sĩ từ chối biến bệnh nhân thành nguồn doanh thu đang làm việc tông đồ. Một người trẻ giữ sự trong sạch giữa nền văn hóa xem thân xác như món hàng đang làm việc tông đồ. Một công chức không nhận phong bì, dù mất cơ hội thăng tiến, đang làm việc tông đồ. Một người làm nội dung từ chối lan tin giả dù biết tin giả sẽ nhiều lượt xem hơn đang làm việc tông đồ. Không ai trong những trường hợp ấy cần đợi một “ủy nhiệm tông đồ” riêng mới được sống như Kitô hữu. Họ đã được sai từ Rửa tội. Hội Thánh có thể đào tạo, nâng đỡ, phối hợp, sai họ vào một số nhiệm vụ đặc thù; nhưng Hội Thánh không tạo ra từ số không sứ mạng căn bản của họ, bởi chính Đức Kitô đã tạo ra sứ mạng ấy khi cho họ được tham dự vào sự sống của Người.
Đây là một thay đổi rất lớn về não trạng. Nếu giáo dân chỉ được nhìn như nhân lực bổ sung cho hàng giáo sĩ, thì khi giáo xứ thiếu người, giáo dân được huy động; khi đủ người rồi, họ có thể trở lại hàng ghế. Nếu giáo dân chỉ có sứ mạng khi được giao việc, thì người nào không có tên trong ban ngành dễ nghĩ mình “không làm gì cho Hội Thánh”. Nhưng Apostolicam Actuositatem buộc chúng ta nhìn ngược lại: trước khi có bất cứ danh sách nhân sự nào, đã có một cộng đoàn những người được sai. Một bà nội chăm cháu, một thanh niên học đại học, một công nhân xa quê, một kiến trúc sư, một tài xế, một nhà khoa học, một người nội trợ, một chủ cửa hàng, một người thất nghiệp, một người bệnh lâu năm đều có thể sống sứ mạng của mình. Không phải mọi người đều cần một chức vụ trong giáo xứ để chứng minh mình hữu ích. Có người phục vụ trực tiếp trong các sinh hoạt Hội Thánh; có người sống đức tin giữa đời. Cả hai cần nhau. Sai lầm xảy ra khi người ta chỉ gọi nhóm thứ nhất là “giáo dân nhiệt thành”, còn những người đang âm thầm sống đức tin trong nghề nghiệp và gia đình bị coi như chưa tham gia. Chính ở đây phải học lại một nguyên tắc: tham gia Hội Thánh không đồng nghĩa với có mặt trong mọi chương trình của giáo xứ. Người cha đi làm mười giờ mỗi ngày, giữ lòng trung thực, dành thời gian thật cho con, bảo vệ hôn nhân, cầu nguyện với gia đình và không để tiền bạc trở thành chúa của nhà mình, có thể đang thi hành một hình thức tông đồ hết sức sâu sắc dù ông không làm trưởng một ban nào.
Apostolicam Actuositatem cũng nhắc rằng hoạt động tông đồ của giáo dân không phải một thứ sở thích thêm vào bên cạnh đời Kitô hữu, giống như ai thích thì tham gia. Bản thân ơn gọi Kitô hữu mang chiều kích tông đồ. Một Kitô hữu chỉ muốn “giữ đạo cho mình”, đi lễ cho đủ, tránh vài tội nặng, rồi không quan tâm đức tin của mình ảnh hưởng thế nào đến người bên cạnh, đến môi trường làm việc, đến cách dùng tiền, cách sử dụng quyền lực, cách đối xử với người yếu, thì chưa hiểu đầy đủ Rửa tội của mình. Tin Mừng tự bản chất có sức đi ra. Người gặp Đức Kitô thật không nhất thiết trở thành người nói nhiều về đạo, nhưng đời họ phải bắt đầu phát ra một thứ khác: cách dùng tiền khác, cách nhìn người nghèo khác, cách tha thứ khác, cách làm việc khác, cách nói sự thật khác, cách sống quyền lực khác, cách chịu đau khổ khác, cách nhìn thành công và thất bại khác. Chính sự khác ấy là một phần của chứng tá tông đồ. Truyền giáo không chỉ là thêm số người vào danh sách giáo dân; truyền giáo là để Nước Thiên Chúa chạm tới cách con người sống.
Văn kiện năm 1965 còn rất mạnh ở chỗ không đặt hoạt động tông đồ giáo dân bên ngoài đời sống thiêng liêng. Người ta đôi khi tách đôi: cầu nguyện là chuyện thiêng liêng, còn hoạt động xã hội là chuyện đời; đi lễ là đạo, còn làm kinh tế là đời; đọc Kinh Thánh là đức tin, còn quyết định sử dụng nhân sự, tiền bạc và quyền lực là chuyên môn. Cách chia ấy rất nguy hiểm. Nó tạo ra những người có thể đạo đức trong nhà thờ nhưng hoàn toàn theo luật rừng trong thương trường. Công đồng không chấp nhận lối Kitô giáo bị chia đôi như thế. Hoạt động tông đồ phải mọc ra từ sự kết hợp với Đức Kitô. Chính vì vậy càng hoạt động, giáo dân càng cần đời sống cầu nguyện, Lời Chúa, bí tích, phân định, lương tâm được đào tạo. Không phải để họ biến thành tu sĩ giữa đời, nhưng để việc giữa đời của họ có nguồn. Người làm chính trị cần cầu nguyện không phải để trốn chính trị mà để không thờ quyền lực. Người làm kinh tế cần Thánh Thể không phải để bỏ thị trường mà để nhớ con người không phải con số. Người làm truyền thông cần xét mình không phải để rời mạng xã hội mà để không biến lượt xem thành thần tượng. Người làm giáo dục cần Tin Mừng không phải để thay sách giáo khoa bằng bài giảng đạo, nhưng để luôn thấy học sinh là con người có phẩm giá, không phải sản phẩm cần tối ưu hóa.
Hai mặt này luôn phải giữ với nhau: thánh hóa bản thân và thánh hóa trật tự trần thế. Nếu chỉ nói thánh hóa bản thân, giáo dân có thể rút khỏi thế giới, xem đời là chỗ nguy hiểm cần chịu đựng cho tới khi về trời. Nếu chỉ nói cải tạo xã hội, họ có thể biến Kitô giáo thành một chương trình nhân bản đẹp nhưng mất nguồn nơi Đức Kitô. Công đồng đặt hai chiều cạnh vào nhau: người môn đệ kết hợp với Chúa được sai vào thế giới; khi làm việc giữa thế giới, họ lại phải trở về nguồn nơi Chúa. Đó là nhịp Thánh Thể rất đẹp: quy tụ rồi sai đi; sai đi rồi lại quy tụ. Cuối lễ, “Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an” không phải thông báo rằng nghi lễ đã hết nên mọi người được về. Đó là một lệnh sai đi. Từ bàn tiệc Thánh Thể, người giáo dân bước ra phố, về gia đình, đến nơi lao động. Chính nơi ấy, điều vừa cử hành phải có hậu quả.
Đến Christifideles Laici, được Thánh Gioan Phaolô II công bố năm 1988 sau Thượng Hội đồng Giám mục năm 1987 về ơn gọi và sứ mạng của giáo dân trong Hội Thánh và thế giới, chúng ta gặp một bức tranh còn rộng hơn. Nếu Apostolicam Actuositatem là một tiếng chuông lớn của Công đồng, thì Christifideles Laici giống như việc ba mươi năm sau bước vào vườn nho và hỏi: những gì Công đồng mở ra đã được sống thế nào? Hình ảnh “vườn nho” chạy xuyên qua Tông huấn: người chủ đi ra nhiều giờ khác nhau để gọi thợ vào làm vườn nho. “Cả anh nữa, hãy đi vào vườn nho của tôi.” Không ai được phép nghĩ mình dư thừa. Không ai có quyền nói thời của mình đã qua. Không ai nên nghĩ chỉ một nhóm chuyên nghiệp mới có trách nhiệm. Hội Thánh là vườn nho mà mọi người đã được gọi làm việc, và thế giới cũng là vườn nho nơi Thiên Chúa đang hành động. Điều đặc biệt quan trọng là Tông huấn không đặt giá trị giáo dân trước hết ở việc “họ làm được gì”, nhưng ở “họ là ai”. Phẩm giá Rửa tội đi trước chức năng. Một giáo dân không có chức vụ vẫn có phẩm giá trọn vẹn. Một người già không làm được như trước không mất ơn gọi. Một bệnh nhân nằm giường không trở thành gánh nặng vô ích đối với Hội Thánh. Một người khuyết tật không đứng ngoài sứ mạng. Một trẻ nhỏ chưa thể phục vụ hội đồng mục vụ vẫn thuộc về Dân Chúa bằng tất cả phẩm giá của Rửa tội.
Đây là điều rất cần nói trong một nền văn hóa thích đo con người bằng năng suất. Cả Giáo hội địa phương đôi khi cũng vô tình nhiễm não trạng ấy. Người khỏe, nói hay, tổ chức tốt, có tiền, có quan hệ thì được chú ý; người chậm, nghèo, bệnh, ít học, lớn tuổi dễ nằm ở rìa. Christifideles Laici phá não trạng đó bằng chính thần học Rửa tội. Con người không có giá trị vì Hội Thánh dùng được họ. Hội Thánh phục vụ họ bởi trước hết họ thuộc về Đức Kitô. Sau đó, từ chính phẩm giá ấy, mỗi người được mời gọi sinh hoa trái theo hoàn cảnh của mình. Hoa trái của bệnh nhân có thể là lời cầu và cách chịu đau khổ trong đức tin. Hoa trái của người già có thể là ký ức, sự khôn ngoan, khả năng nối thế hệ. Hoa trái của người trẻ có thể là sức sáng tạo, dám đặt câu hỏi, dám đi tới vùng mới. Hoa trái của người phụ nữ có thể đi qua vô số lãnh vực gia đình, khoa học, giáo dục, xã hội, thần học, mục vụ, kinh tế. Không một nhóm nào chỉ được nhìn như “đối tượng mục vụ”. Họ cũng là chủ thể của đời sống và sứ mạng Hội Thánh.
Một đóng góp lớn khác của Christifideles Laici là nhấn rất mạnh tính chất trần thế của giáo dân. Điều này phải lặp đi lặp lại bởi đây là chỗ dễ bị lẫn. Nói giáo dân có tính chất trần thế không có nghĩa họ “ít thiêng liêng” hơn linh mục hay tu sĩ. Không phải có một thang đo trong đó nhà thờ ở tầng cao, còn văn phòng, chợ, trường học, gia đình ở tầng thấp. Tính chất trần thế là cách thức đặc thù mà người giáo dân sống ơn gọi Kitô hữu: họ ở trong các thực tại của thế giới và từ bên trong làm cho chúng hướng về Thiên Chúa. Họ không đứng ngoài kinh tế để giảng cho kinh tế; họ ở trong kinh tế và làm nó nhân bản hơn. Họ không đứng ngoài giáo dục; họ dạy học. Họ không chỉ phê bình truyền thông; họ làm truyền thông. Họ không chỉ nói chính trị phải sạch; họ bước vào đời công dân với lương tâm được đào tạo. Họ không chỉ bảo gia đình là quan trọng; họ sống những ngày rất tầm thường của hôn nhân, chăm con, chăm cha mẹ già, trả hóa đơn, tha thứ, chịu đựng, xây dựng bầu khí nhà mình. Chính từ bên trong những thực tại ấy, họ thánh hóa thế giới như men trong bột.
Vì không hiểu điều này, có nơi đào tạo giáo dân càng lâu càng khiến họ muốn giống giáo sĩ. Họ học thần học rồi nghĩ đỉnh cao phục vụ là được đứng cung thánh. Họ học Kinh Thánh rồi chỉ mong được giảng. Họ tham dự khóa mục vụ rồi chỉ nghĩ tới việc có thêm vị trí trong giáo xứ. Đó là một nghịch lý: đào tạo giáo dân nhưng kết quả là làm họ mất ý thức ơn gọi giáo dân. Đào tạo đúng phải giúp một bác sĩ trở thành bác sĩ Kitô hữu tốt hơn, một giáo viên thành giáo viên Kitô hữu sâu hơn, một doanh nhân thành doanh nhân có lương tâm hơn, một người cha thành người cha trưởng thành hơn, một người trẻ bước vào môi trường số với tự do nội tâm hơn. Dĩ nhiên một số giáo dân được gọi phục vụ trực tiếp trong các tác vụ và cơ cấu Hội Thánh. Đó là điều quý. Nhưng toàn bộ thần học giáo dân không thể bị hút vào khuôn viên giáo xứ.
Tông huấn cũng nói nhiều đến các đoàn sủng, hiệp hội, phong trào và những hình thức tham gia mới của giáo dân. Đây là một hoa trái đẹp của Hội Thánh thời hiện đại. Thánh Thần không nghèo đến mức chỉ làm việc qua cơ cấu quen thuộc. Những phong trào, cộng đoàn, nhóm cầu nguyện, hiệp hội tông đồ, sáng kiến bác ái, cộng đồng giáo dục và vô số hình thức liên kết có thể trở thành nơi đào tạo đức tin và phát sinh sứ mạng. Nhưng chính vì thế cần phân định. Không phải nhóm nào đông cũng lành mạnh. Không phải phong trào nào gây cảm xúc mạnh cũng trưởng thành. Không phải người sáng lập nào có sức thu hút cũng có quyền biến cộng đoàn thành tài sản riêng. Christifideles Laici nhắc tới những tiêu chuẩn mang tính Hội Thánh: đặt ơn gọi nên thánh lên hàng đầu, tuyên xưng đức tin Công giáo, hiệp thông với Đức Giáo hoàng và giám mục, tham gia mục tiêu tông đồ của Hội Thánh, dấn thân hiện diện trong xã hội vì phẩm giá con người. Nói cách khác, đoàn sủng phải sinh hoa trái Hội Thánh, chứ không tạo ra một giáo hội nhỏ xoay quanh người lãnh đạo. Một nhóm càng nói nhiều về “đặc sủng của chúng tôi” càng phải hỏi: đặc sủng ấy có đưa người ta về Đức Kitô, về các bí tích, về hiệp thông với Hội Thánh và về phục vụ người nghèo không? Hay nó làm thành viên lệ thuộc hơn vào nhóm, khép kín hơn với người khác và say mê bản sắc riêng hơn là Tin Mừng?
Vấn đề phẩm giá và sứ mạng của phụ nữ cũng được Christifideles Laici đặt trong một khung rộng. Không thể xây dựng thần học giáo dân mà phụ nữ chỉ xuất hiện ở phần “hỗ trợ”. Trong lịch sử Hội Thánh, phụ nữ đã truyền đức tin trong gia đình, giáo dục, chăm sóc bệnh nhân, lập dòng, mở trường, làm thần học, truyền giáo, bảo vệ người nghèo và giữ nhiều cộng đoàn sống sót qua những thời kỳ khó khăn. Trong thực tế giáo xứ hôm nay, ở rất nhiều nơi, nếu phụ nữ ngừng phục vụ một tuần, hàng loạt hoạt động sẽ đứng lại. Nhưng điều quan trọng hơn câu chuyện nhân lực là phẩm giá và ơn gọi. Phụ nữ không được lắng nghe vì “ta đang thiếu người”, nhưng vì họ là thành phần đầy đủ của Dân Thiên Chúa, có kinh nghiệm, trí tuệ, ân sủng và tiếng nói cần thiết cho việc phân định. Một Hội Thánh nói nhiều về phẩm giá phụ nữ nhưng trong những chỗ cần suy nghĩ và quyết định lại chỉ có đàn ông là một Hội Thánh đang tự làm nghèo mình. Đồng thời, việc khẳng định phẩm giá phụ nữ không cần xóa khác biệt nam nữ, không cần biến mọi thảo luận thành cuộc tranh giành chức vụ. Câu hỏi căn bản sâu hơn: chúng ta có thật sự tin Thánh Thần ban ơn cho toàn thể Dân Chúa không? Nếu tin, chúng ta phải tạo không gian để những ơn ấy được nhận ra và phục vụ.
Người trẻ cũng vậy. Người trẻ thường được nói tới như “tương lai của Hội Thánh”, một câu có thiện ý nhưng chưa đủ. Họ là hiện tại của Hội Thánh. Một người hai mươi tuổi không phải Kitô hữu đang chờ lớn. Họ có thể cầu nguyện, phân định, phục vụ, chịu trách nhiệm, đặt những câu hỏi mà thế hệ trước không đặt được, đi vào những môi trường mà người lớn tuổi không hiểu. Đào tạo người trẻ không phải chỉ giữ họ khỏi bỏ lễ; phải giúp họ nhận ra ơn gọi, học chịu trách nhiệm và được trao trách nhiệm thật. Có một kiểu mục vụ trẻ rất thích sân khấu, âm thanh, sự kiện, áo đồng phục và khẩu hiệu nhưng ít lắng nghe những câu hỏi thật của người trẻ về đức tin, tính dục, nghề nghiệp, tiền bạc, bất công, thất bại, cô đơn, mạng xã hội, AI, tương lai gia đình. Nếu Hội Thánh chỉ mời người trẻ tới những gì mình đã tổ chức sẵn mà không bước vào thế giới họ đang sống, chúng ta chưa thật sự nhìn họ như chủ thể sứ mạng.
Người già cũng không được xem như phần đã qua. Một xã hội ám ảnh với cái mới dễ coi tuổi già là giai đoạn suy giảm giá trị. Hội Thánh phải chống lại não trạng ấy. Người già mang ký ức cộng đoàn. Họ biết những điều sách vở không ghi. Họ từng thấy khủng hoảng qua đi, thấy người nổi tiếng rồi biến mất, thấy những dự án tưởng sống còn rồi cũng kết thúc. Kinh nghiệm ấy có thể trở thành khôn ngoan nếu được thanh luyện. Họ cần được lắng nghe, không phải thần thánh hóa. Người già cũng có thể cố chấp, hoài cổ, sợ thay đổi. Nhưng giải pháp không phải loại họ ra mà tạo đối thoại giữa các thế hệ. Một Hội Thánh lành mạnh không phải Hội Thánh nơi người già giữ hết quyền và người trẻ chỉ vâng lời, cũng không phải nơi người trẻ xem mọi truyền thống là lỗi thời. Hội Thánh là nơi ký ức và lời hứa gặp nhau.
Đặc biệt sâu sắc là cái nhìn của Christifideles Laici về người đau yếu. Trong logic thế gian, người bệnh không sản xuất được nhiều và cần người khác chăm sóc. Trong logic Tin Mừng, họ không chỉ là người nhận mục vụ. Họ cũng có thể là người thi hành sứ mạng. Đây không phải là cách lãng mạn hóa đau khổ. Đau vẫn là đau. Bệnh tật có thể nghiền nát con người, làm họ cô đơn, sợ hãi và phụ thuộc. Nhưng trong Đức Kitô chịu đóng đinh, chính nơi tưởng như chỉ còn bất lực có thể trở thành nơi hiến dâng, chuyển cầu, chứng tá và hiệp thông. Một giáo xứ chỉ “đi thăm bệnh” nhưng không bao giờ nghĩ người bệnh cũng là một phần chủ động của cộng đoàn sẽ vẫn đang nhìn họ từ trên xuống. Có thể hỏi họ cầu nguyện cho việc gì của giáo xứ. Có thể chia sẻ với họ những thao thức thật. Có thể giúp họ cảm thấy lời cầu của mình có chỗ trong đời sống chung. Một bà cụ nằm giường nhiều năm có thể không dự họp được, nhưng lời cầu của bà có thể nâng cả cộng đoàn hơn nhiều cuộc họp.
Tất cả điều đó quy về một chữ rất quan trọng: sự tham gia. Nhưng tham gia không được hiểu như chia đều quyền lực hay buộc mọi người họp nhiều hơn. Tham gia có nghĩa mỗi thành phần Dân Chúa được nhận ra phẩm giá, ơn gọi, đoàn sủng và trách nhiệm của mình. Có việc thuộc về thừa tác vụ có chức. Có việc thuộc về giáo dân. Có việc cùng phân định. Có việc luật Hội Thánh quy định rõ thẩm quyền. Hiệp thông không xóa khác biệt. Trái lại, hiệp thông làm cho khác biệt phục vụ nhau. Một dàn nhạc không hiệp nhất vì mọi người chơi cùng một nhạc cụ; nó hiệp nhất vì mỗi nhạc cụ giữ đúng vai trò trong cùng bản nhạc. Hội Thánh cũng vậy. Khi giáo dân muốn làm linh mục, linh mục muốn làm chuyên gia mọi lãnh vực trần thế, tu sĩ bị đánh giá theo hiệu suất hành chính, và mọi đoàn sủng bị ép vào cùng một khuôn, chúng ta không có hiệp thông mà có lẫn lộn.
Chính vì thế Christifideles Laici vẫn là văn kiện cực kỳ hiện đại. Thế giới mà Tông huấn đối diện cuối thập niên 1980 đã có tục hóa, đô thị hóa, bất công, thay đổi văn hóa và các hình thức xã hội mới. Thế giới hôm nay còn thêm mạng xã hội, kinh tế nền tảng, AI tạo sinh, dữ liệu lớn, khủng hoảng chú ý, di cư lao động, biến đổi khí hậu, cô đơn số, phân cực chính trị và một nền văn hóa nơi con người có thể kết nối với hàng ngàn người nhưng không biết tên hàng xóm. Trong hoàn cảnh ấy, vai trò giáo dân không nhỏ đi mà còn lớn hơn. Linh mục không thể ở mọi phòng họp nơi thuật toán được thiết kế. Giám mục không có mặt trong mỗi hội đồng quản trị. Tu sĩ không hiện diện trong mọi lớp học, phòng xét nghiệm, studio, tòa soạn, nhà máy, cơ quan nhà nước hay startup công nghệ. Giáo dân ở đó. Câu hỏi là họ ở đó như ai. Chỉ như một người có đạo giữ vài thực hành riêng tư? Hay như môn đệ Đức Kitô có lương tâm được đào tạo, biết phân định và đủ can đảm để đặt những câu hỏi Tin Mừng vào trong hệ thống?
Một kỹ sư Công giáo làm AI chẳng hạn không hoàn tất sứ mạng của mình chỉ bằng việc treo thánh giá trên bàn làm việc. Anh phải hỏi sản phẩm này phục vụ ai, dữ liệu lấy từ đâu, có xâm phạm quyền riêng tư không, thuật toán có khuếch đại thành kiến không, công nghệ có làm con người lệ thuộc hơn không, công ty có đang tối ưu hóa sự chú ý bằng cách khai thác điểm yếu tâm lý không. Một nhà đầu tư Công giáo không hoàn tất sứ mạng bằng việc dâng cúng nhiều. Ông phải hỏi lợi nhuận của mình đến từ đâu. Một bác sĩ Công giáo không chỉ cần tượng Đức Mẹ trong phòng khám; cần lương tâm trước bệnh nhân. Một người làm truyền thông Công giáo không chỉ cần đăng câu Lời Chúa; cần sự thật, công bằng, tôn trọng danh dự người khác. Đó là nơi thần học giáo dân trở nên rất thực. Nếu không, chúng ta có một Giáo hội đạo đức trong phụng vụ nhưng bất lực trước những cơ chế đang định hình thế giới.
Đây cũng là chỗ cần nói về “đào tạo giáo dân”. Nhiều chương trình đào tạo hiện nay quá tập trung vào việc giúp giáo dân làm tốt các công việc bên trong giáo xứ, nhưng rất ít giúp họ nối đức tin với nghề nghiệp. Một kế toán học giáo lý nhiều năm vẫn có thể không biết suy nghĩ Kitô giáo về gian lận tài chính. Một doanh nhân tham dự tĩnh tâm đều đặn vẫn có thể không được hướng dẫn về lương công bằng. Một người làm truyền thông có thể học Kinh Thánh nhưng chưa từng được đào tạo về sự thật và danh dự trong môi trường số. Một người làm công nghệ có thể rất sốt sắng nhưng không ai cùng họ suy tư về đạo đức AI. Một giáo viên Công giáo có thể phục vụ giáo xứ nhiều nhưng không được giúp suy nghĩ thần học về quyền lực trong lớp học. Đào tạo giáo dân tương lai phải đi vào những câu ấy. Không phải biến linh mục thành chuyên gia kinh tế, AI, y học, luật. Ngược lại, phải tạo không gian nơi thần học và kinh nghiệm chuyên môn của giáo dân gặp nhau. Linh mục mang Lời Chúa, truyền thống, bí tích, phân định mục vụ; giáo dân mang hiểu biết từ bên trong các thực tại trần thế. Hai bên lắng nghe nhau, Hội Thánh mới thấy được nhiều hơn.
Câu “cái cũ là ta chưa thi hành” vì thế không phải một câu châm biếm. Nó mô tả một thực trạng. Nhiều nơi đã dùng từ ngữ Công đồng nhưng chưa đổi cấu trúc não trạng. Hội đồng mục vụ có thể tồn tại nhưng chỉ để nghe thông báo. Giáo dân có thể được mời góp ý nhưng quyết định thực tế đã có từ trước. Có thể nói “đồng trách nhiệm” nhưng mọi sáng kiến đều phải chờ linh mục nghĩ. Có thể nói “phát huy vai trò giáo dân” nhưng vai trò ấy chỉ là làm nhiều việc hơn trong nhà thờ. Có thể có hàng chục ban ngành nhưng tất cả cùng xoay quanh một trung tâm duy nhất, không phát triển sự trưởng thành và chủ động. Đây là kiểu tổ chức “trước Công đồng cộng thêm ban ngành sau Công đồng”. Hình thức đã mới nhưng giáo hội học chưa đổi.
Đổi giáo hội học không có nghĩa dân chủ hóa Hội Thánh theo mô hình nghị viện. Hội Thánh không phải một quốc hội nơi chân lý được quyết bởi số phiếu. Cũng không có nghĩa xóa quyền mục tử. Giám mục vẫn là giám mục; linh mục vẫn có trách nhiệm và thẩm quyền theo chức thánh và giáo luật. Nhưng quyền trong Hội Thánh phải mang hình thức phục vụ hiệp thông, khơi dậy đoàn sủng, phân định và sai đi, chứ không phải thay thế mọi người. Một cha xứ tốt không phải người tự mình làm được nhiều nhất. Có khi dấu hiệu tốt hơn là sau vài năm, giáo dân trưởng thành hơn, tự chịu trách nhiệm hơn, cầu nguyện hơn, biết phân định hơn, các nhóm có khả năng hoạt động lành mạnh không lệ thuộc vào tâm trạng từng ngày của cha xứ. Một mục tử tốt không xây cộng đoàn xoay quanh bản thân. Ông xây một cộng đoàn biết thuộc về Đức Kitô.
Ngược lại, giáo dân trưởng thành cũng không đồng nghĩa với chống hàng giáo sĩ, đòi quyền, nghi ngờ thẩm quyền hay coi mọi hướng dẫn mục vụ là giáo sĩ trị. Có một phản ứng cực đoan có thể xảy ra: từ nhiều năm thụ động, người ta chuyển sang xem bất cứ thẩm quyền nào cũng là áp đặt. Đó không phải tinh thần của Apostolicam Actuositatem hay Christifideles Laici. Hai văn kiện đặt giáo dân trong hiệp thông Hội Thánh, không ngoài Hội Thánh. Tự chủ Kitô hữu không phải tự trị tuyệt đối. Sứ mạng bởi Rửa tội không có nghĩa “tôi làm gì cũng được vì Chúa gọi tôi”. Đoàn sủng cần phân định. Sáng kiến cần hiệp thông. Lương tâm cần đào tạo. Nhiệt thành cần chân lý. Chính ở đó trưởng thành khác nổi loạn.
Nếu phải tóm một trong những lời kêu gọi mạnh nhất của hai văn kiện cho giáo xứ hôm nay, có thể nói thế này: đừng chỉ hỏi “giáo dân có thể giúp cha việc gì?”, hãy hỏi “Chúa đang sai người giáo dân này vào đâu?” Câu hỏi thứ nhất cần nhưng quá nhỏ. Câu hỏi thứ hai mở ra ơn gọi. Một cô giáo không chỉ giúp dạy giáo lý; Chúa còn sai cô vào trường. Một bác sĩ không chỉ khám bệnh miễn phí dịp lễ bổn mạng; Chúa sai ông vào bệnh viện mỗi ngày. Một luật sư không chỉ làm giấy tờ cho giáo xứ; Chúa sai chị vào nơi công lý được thương lượng. Một doanh nhân không chỉ tài trợ mái nhà thờ; Chúa sai anh vào cách doanh nghiệp đối xử với nhân viên. Một người mẹ không chỉ nấu ăn cho hội đoàn; Chúa sai bà vào việc hình thành lương tâm những đứa trẻ. Khi nhìn như vậy, giáo xứ không còn là trung tâm hút mọi năng lực giáo dân về mình. Giáo xứ trở thành nơi quy tụ, nuôi dưỡng và sai đi.
Có lẽ một trong những cuộc hoán cải mục vụ khó nhất là chấp nhận rằng hoa trái của giáo xứ không phải lúc nào cũng nhìn thấy trong khuôn viên giáo xứ. Một giáo xứ tốt có thể không có nhiều chương trình nhất. Nhưng người của giáo xứ ấy khi bước ra ngoài biết sống Tin Mừng. Công nhân không gian dối. Gia đình biết tha thứ. Người trẻ biết giữ lương tâm. Người làm kinh tế không bóc lột. Người có quyền biết sợ Thiên Chúa hơn sợ mất ghế. Người làm mạng biết tôn trọng sự thật. Người đau khổ không bị bỏ quên. Người nghèo có chỗ ngồi. Phụ nữ được lắng nghe. Người già được tôn trọng. Trẻ em được bảo vệ. Đó là những KPI mà bảng thống kê mục vụ khó ghi.
Thánh Gioan Phaolô II dùng hình ảnh vườn nho vì hình ảnh ấy nói điều rất đẹp: vẫn còn việc để làm, vẫn còn người được gọi, vẫn còn giờ để bước vào. Người được gọi từ sáng không có quyền khinh người tới chiều. Người đến muộn không được nghĩ mình vô ích. Mỗi người nghe cùng một lời: “Anh hãy đi vào vườn nho.” Đối với giáo dân hôm nay, lời ấy vang giữa thành phố, giữa điện thoại, giữa gia đình đang khủng hoảng, giữa công ty nhiều cạnh tranh, giữa xã hội đầy tiếng ồn. Chúa không chỉ gọi họ rời thế gian để tìm Người. Rất thường Chúa gặp họ chính giữa thế gian và nói: hãy ở đây theo một cách khác; hãy làm nghề này theo một cách khác; hãy dùng tiền theo một cách khác; hãy yêu gia đình theo một cách khác; hãy thực thi quyền lực theo một cách khác; hãy bước vào mạng theo một cách khác; hãy làm cho nơi này bớt vô nhân hơn vì có một người thuộc về Đức Kitô đang ở đây.
Bởi vậy đọc Apostolicam Actuositatem và Christifideles Laici hôm nay không phải việc khảo cổ thần học. Hai văn kiện chưa cũ vì câu hỏi chúng đặt ra vẫn chưa được giải quyết xong. Trong nhiều cộng đoàn, người giáo dân vẫn chưa được giúp khám phá hết phẩm giá Rửa tội. Trong nhiều nơi, tính chất trần thế vẫn bị hiểu như một thứ ơn gọi hạng hai. Nhiều phong trào cần phân định hơn. Nhiều phụ nữ cần được lắng nghe hơn. Nhiều người trẻ cần được trao trách nhiệm thật hơn. Nhiều người già và đau bệnh cần được nhìn như chủ thể sứ mạng hơn. Nhiều linh mục cần học nghệ thuật trao việc, tin tưởng và lắng nghe. Nhiều giáo dân cần bỏ tâm thức chờ cha bảo mới làm. Và tất cả chúng ta cần thôi đo sức sống Hội Thánh chỉ bằng số hoạt động nội bộ.
Công đồng đã nói. Huấn quyền sau Công đồng đã đào sâu. Vấn đề không còn thiếu câu chữ. Điều thiếu thường là can đảm thực hiện. Can đảm của mục tử để không sợ giáo dân trưởng thành. Can đảm của giáo dân để không núp mãi dưới câu “cha chưa giao”. Can đảm của cộng đoàn để nhìn những đoàn sủng khác mình mà không nghi ngờ. Can đảm để nhận ra rằng thế giới trần tục không chỉ là nơi Hội Thánh bị đe dọa; đó cũng là cánh đồng Chúa sai Hội Thánh tới. Can đảm để tin rằng một người giáo dân bình thường, sống Rửa tội một cách phi thường trong những việc rất bình thường, có thể làm Nước Thiên Chúa đến gần hơn.
Sau cùng, hai văn kiện ấy trả chúng ta về một sự thật rất đơn sơ mà cũng rất đòi hỏi: Hội Thánh không có một nhóm người làm sứ mạng và một nhóm người đứng xem. Toàn thể Hội Thánh được sai đi. Mỗi người theo bậc sống và ân sủng của mình. Linh mục không thay giáo dân sống Tin Mừng trong thế giới. Tu sĩ không thay giáo dân thánh hóa các cơ cấu trần thế. Giáo dân không thay linh mục trong tác vụ có chức. Không ai thay ai. Mỗi người đứng đúng chỗ Chúa gọi, và từ những chỗ khác nhau ấy, toàn thân thể cùng làm chứng cho Đức Kitô. Đó mới là hình ảnh trưởng thành của Hội Thánh mà Apostolicam Actuositatem đã mở ra và Christifideles Laici tiếp tục khắc sâu: một Dân Thiên Chúa trong đó mọi người đều có phẩm giá, mọi người đều có ơn gọi, mọi người đều có trách nhiệm, và không một ai được phép nói rằng mình không được sai đi.
CHƯƠNG 9. GAUDETE ET EXSULTATE: NÊN THÁNH TRONG HÀNG QUÁN VÀ BẾP NÚC
Một trong những đóng góp mục vụ đẹp và rất cần thiết của Đức Giáo hoàng Phanxicô trong Tông huấn Gaudete et Exsultate về ơn gọi nên thánh trong thế giới hôm nay là đưa sự thánh thiện ra khỏi một thứ trí tưởng tượng quá hẹp đã ăn sâu vào nhiều thế hệ Kitô hữu. Khi nghe hai chữ “nên thánh”, người ta rất dễ nghĩ ngay đến nhà nguyện, tu viện, những giờ cầu nguyện kéo dài, những việc hãm mình phi thường, những vị thánh làm phép lạ, những người đã rời bỏ gia đình, tài sản và nghề nghiệp để bước vào một đời sống hoàn toàn dành riêng cho Thiên Chúa. Những hình ảnh ấy không sai. Hội Thánh thực sự đã được phong phú bởi vô số vị thánh nam nữ sống đời đan tu, đời tu trì, đời giáo sĩ, đời chiêm niệm và đời truyền giáo. Nhưng nếu từ những hình ảnh đúng ấy người ta đi đến một kết luận sai rằng sự thánh thiện theo nghĩa đầy đủ chỉ thực sự dành cho những người sống những bậc sống ấy, còn người giáo dân giữa đời chỉ có thể cố gắng sống đạo tử tế trong một mức độ khiêm tốn hơn, thì toàn bộ Tin Mừng đã bị thu hẹp và giáo huấn Công đồng Vatican II về ơn gọi nên thánh phổ quát đã chưa được đón nhận đến nơi đến chốn. Gaudete et Exsultate cố tình phá vỡ cái mặc cảm ấy. Đức Phanxicô nói về những người sống rất gần chúng ta, những người không có tiểu sử kỳ lạ, không có hàng ngàn người biết tên, không có tượng đặt trong nhà thờ, không có lễ kính trong lịch phụng vụ, nhưng đời sống của họ vẫn có thể là nơi ân sủng Thiên Chúa đang âm thầm sinh hoa trái. Ngài nói đến “các vị thánh ở cửa bên”, những người sống gần chúng ta, những người phản chiếu sự hiện diện của Thiên Chúa bằng lòng trung thành bình thường mỗi ngày. Đó có thể là người mẹ và người cha nuôi con bằng rất nhiều hy sinh, là người đàn ông và người phụ nữ làm việc để mang bánh về cho gia đình, là người bệnh vẫn giữ được lòng tin giữa đau đớn, là người già âm thầm cầu nguyện, là người hàng xóm không bao giờ để ai cô độc khi gặp hoạn nạn, là người công nhân từ chối gian dối dù biết rằng sự trung thực làm mình thiệt thòi. Chính ở những nơi tưởng như không có gì đặc biệt ấy, sự thánh thiện có thể đang lớn lên. Điều này không hạ thấp sự thánh thiện. Trái lại, nó trả sự thánh thiện về đúng chiều kích Kitô học và bí tích của nó: nên thánh không phải trước hết là thực hiện một kiểu sống đặc biệt, mà là để cho ân sủng Đức Kitô biến đổi chính đời sống cụ thể mà mình đã được trao.
Linh đạo giáo dân đứng đúng ở điểm này. Người giáo dân không cần phải làm cho đời mình giống đời tu rồi mới có thể nên thánh. Họ không cần biến căn nhà thành đan viện, biến hôn nhân thành một thứ đời độc thân bất thành, biến công việc nghề nghiệp thành chuyện phụ để dành tất cả năng lượng cho các sinh hoạt nhà thờ. Một người giáo dân có thể cầu nguyện rất sâu mà vẫn phải thức dậy lúc năm giờ để chuẩn bị hàng hóa ra chợ. Một người mẹ có thể sống đời kết hợp với Chúa trong khi vừa nấu cơm vừa nghe con khóc và còn phải lo tiền học cuối tháng. Một người cha có thể sống tinh thần hy tế Thánh Thể khi đi làm thêm vì gia đình đang gặp khó khăn tài chính. Một người chủ doanh nghiệp có thể nên thánh bằng việc trả lương đúng hạn, không ép công nhân, không lách luật để trục lợi, không dùng người như công cụ. Một viên chức có thể nên thánh bằng việc từ chối phong bì mà người khác coi là chuyện bình thường. Một giáo viên có thể nên thánh bằng cách không bỏ rơi đứa học sinh yếu nhất lớp. Một bác sĩ có thể nên thánh khi vẫn nhìn thấy khuôn mặt con người nơi bệnh nhân nghèo không có khả năng chi trả. Một người bán hàng có thể nên thánh bằng cân đủ, nói thật, không lợi dụng người già không biết giá. Một tài xế có thể nên thánh bằng sự kiên nhẫn giữa đường đông, không biến chiếc xe thành nơi phóng thích tất cả sự hung dữ trong lòng. Một bà nội trợ có thể nên thánh khi làm hàng trăm công việc không ai vỗ tay mà vẫn làm với lòng yêu thương. Đó không phải là những ví dụ “nhẹ nhàng” dành cho giáo dân vì họ không đủ sức sống đời thánh thiện lớn lao. Chính ở đó là trường lớn của sự thánh thiện. Chính ở đó đức ái phải trở thành xác thịt. Chính ở đó con người phải chết đi mỗi ngày cho tính ích kỷ. Chính ở đó các Mối Phúc không còn là câu chữ đẹp đọc trong thánh lễ, mà trở thành những lựa chọn có giá phải trả.
Có một cám dỗ rất lâu đời là đồng hóa sự thánh thiện với sự phi thường. Người ta thích chuyện phép lạ, thị kiến, xuất thần, ăn chay khác thường, những cuộc khổ chế lớn lao, những công trình khiến cả thế giới biết đến. Những điều phi thường ấy có thể có chỗ trong đời sống một số vị thánh, nhưng không bao giờ là trung tâm của sự thánh thiện Kitô giáo. Trung tâm luôn là đức ái. Một người có thể làm nhiều việc tôn giáo mà không nên thánh nếu lòng họ ngày càng cứng. Một người có thể đọc nhiều kinh nhưng vẫn nghiền nát người trong nhà bằng lời nói. Một người có thể đi lễ mỗi ngày nhưng trả lương bất công cho người giúp việc. Một người có thể thích nghe giảng linh đạo nhưng không biết xin lỗi vợ, chồng, con cái. Một người có thể thuộc nhiều kinh và nhiều giáo lý nhưng giữ thù nhiều năm. Những điều ấy buộc chúng ta phải đặt lại câu hỏi rất căn bản: ta đang tìm điều gì khi nói mình muốn nên thánh? Nếu nên thánh chỉ là tích lũy thêm việc đạo đức, người giáo dân dễ rơi vào một trong hai thái cực: hoặc tự ti vì nghĩ mình không có thời gian như tu sĩ, hoặc cố nhồi thật nhiều sinh hoạt đạo đức vào lịch sống đến mức gia đình và bổn phận nghề nghiệp bị tổn thương. Nhưng nếu sự thánh thiện là để Đức Kitô uốn lòng mình theo các Mối Phúc, thì căn bếp, văn phòng, bệnh viện, cánh đồng, xưởng máy, trường học, xe buýt, chợ cá, quán ăn, phòng khách và chiếc giường bệnh đều có thể trở thành nơi nên thánh. Không phải vì những nơi ấy tự chúng là thánh đường, nhưng vì ở đó con người có thể yêu, có thể tha thứ, có thể nhẫn nại, có thể sống công bình, có thể chịu thiệt vì sự thật, có thể phục vụ, có thể giữ lòng trong sạch và có thể dâng chính mình cho Thiên Chúa.
Các Mối Phúc mà Đức Phanxicô đặt ở trung tâm Gaudete et Exsultate rất quan trọng cho linh đạo giáo dân vì chúng kéo sự thánh thiện ra khỏi chủ nghĩa duy đạo đức và trả về cho đời sống. “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó” không chỉ dành cho người đã tuyên khấn khó nghèo. Người giáo dân có thể sống nghèo khó trong tinh thần khi biết của cải là phương tiện chứ không phải căn tính, khi không đo giá trị bản thân bằng căn nhà, chiếc xe, thương hiệu trên áo, số dư tài khoản hay địa vị nghề nghiệp, khi biết chia sẻ, biết giới hạn tiêu dùng, biết từ bỏ điều mình có quyền hưởng để gia đình hoặc người nghèo được nâng đỡ. Một doanh nhân giàu có có thể sống tinh thần nghèo khó sâu hơn một người chẳng có tài sản nhưng lòng đầy tham lam. Một gia đình không thiếu thốn vẫn có thể dạy con sống đơn sơ, không phô trương, biết chia sẻ đồ dùng, biết trân trọng công sức lao động của người khác. “Phúc thay ai hiền lành” không chỉ là một nét tính cách dịu dàng. Hiền lành là sức mạnh đã được huấn luyện để không nghiền nát người khác. Người giáo dân sống sự hiền lành mỗi khi không dùng quyền lực trong gia đình để áp đặt, không dùng tiền để làm nhục, không dùng chức vụ để trả thù, không dùng mạng xã hội để hủy danh dự người mình ghét. Một người chồng có thể thắng một cuộc cãi vã nhưng làm mất bình an của cả nhà. Một người vợ có thể nhớ từng lỗi cũ để khiến chồng không bao giờ đứng thẳng được. Một người cha có thể nhân danh việc dạy con để làm con sợ mình hơn yêu mình. Hiền lành theo Tin Mừng không phải yếu đuối; đó là từ chối biến quyền lực mình có thành vũ khí.
“Phúc thay ai sầu khổ” cũng mang một chiều sâu rất thật trong đời sống giáo dân. Có những nỗi buồn không thể giải bằng một khóa tĩnh tâm. Có những gia đình có con bệnh nhiều năm. Có người vợ phải chăm chồng sau tai biến. Có người cha mất việc vào đúng lúc con vào đại học. Có người mẹ chờ một đứa con bỏ nhà đi. Có gia đình sống với vết thương của một cuộc ngoại tình. Có người trẻ phải chăm cha mẹ già khi bạn bè cùng tuổi đang tự do lập nghiệp. Có người phải chôn một đứa con. Có người sống với bệnh tật mà ngày nào cũng phải uống thuốc, đi khám, chịu những cơn đau người khác không thấy. Đừng nói với họ rằng nên thánh là cười mọi lúc. Tin Mừng không dạy một thứ lạc quan giả. Đức Giêsu đã khóc. Ngài đã buồn đến chết được trong Vườn Dầu. Người giáo dân có thể nên thánh ngay trong nỗi đau khi họ không để đau khổ biến mình thành cay độc, khi họ vẫn giữ được một khoảng lòng cho Chúa và cho người khác, khi họ biết khóc trước mặt Chúa thay vì chạy trốn bằng nghiện ngập, bằng hận thù hoặc bằng việc làm tổn thương người bên cạnh. Có những vị thánh không bao giờ làm điều lớn lao ngoài việc mang một đau khổ lâu dài mà không đánh mất khả năng yêu.
“Phúc thay ai khát khao nên người công chính” đưa sự thánh thiện thẳng vào kinh tế, chính trị, nghề nghiệp và đời sống xã hội. Đây là chỗ người giáo dân không thể trốn trong nhà thờ. Một người muốn nên thánh nhưng gian lận thuế có hệ thống cần xét lại. Một người sốt sắng nhưng làm sổ sách giả phải xét lại. Một người thường xuyên đọc kinh nhưng lợi dụng đất đai của người yếu thế phải xét lại. Một người đi hành hương nhiều nơi nhưng quen dùng quan hệ để chiếm phần của người khác phải xét lại. Một chủ cơ sở trả lương thấp hơn thỏa thuận rồi bỏ tiền lớn làm việc đạo đức cần xét lại. Không phải vì việc đạo đức vô nghĩa, nhưng vì Thiên Chúa không thể bị dùng để che khuất bất công. Sự thánh thiện của giáo dân có một tiêu chuẩn rất khó: đức tin phải đi vào những quyết định mà ở đó đồng tiền, quyền lợi và danh dự của mình bị đụng tới. Dễ sống đạo khi không mất gì. Khó hơn nhiều khi nói thật khiến mình mất hợp đồng, từ chối hối lộ khiến công việc chậm lại, bảo vệ người bị oan khiến mình mất lòng cấp trên, không bán hàng giả khiến lợi nhuận thấp hơn đối thủ. Chính ở những vùng xám ấy, người giáo dân có thể sống một đời tử đạo không đổ máu: tử đạo của lương tâm.
“Phúc thay ai xót thương người” là một trong những con đường rõ nhất của sự thánh thiện đời thường. Lòng thương xót không bắt đầu bằng những dự án lớn. Nó bắt đầu trong nhà. Có những người ra ngoài rất tử tế nhưng về nhà rất khắc nghiệt. Có người nói chuyện với khách hàng bằng giọng mềm mại mà nói với cha mẹ già bằng giọng khó chịu. Có người phục vụ trong giáo xứ rất nhiệt tình nhưng con cái không dám tâm sự vì sợ bị phán xét. Có người giúp người nghèo nhưng không tha lỗi cho anh chị em ruột. Lòng thương xót Kitô giáo phải đi qua những quan hệ gần nhất. Tha thứ không có nghĩa là phủ nhận sai trái, cũng không có nghĩa phải chịu bạo hành vô điều kiện. Nhưng lòng thương xót có nghĩa tôi không lấy lỗi của người khác làm toàn bộ căn tính của họ. Tôi không nuôi một kho lưu trữ những sai phạm để mỗi lần tức giận lại mở ra sử dụng. Tôi biết sửa nhưng không làm nhục. Tôi biết đặt ranh giới nhưng không nuôi ước muốn hủy diệt. Tôi biết rằng chính mình cũng đang sống nhờ lòng thương xót của Thiên Chúa. Có thể một người giáo dân không bao giờ lập một tổ chức bác ái, nhưng mỗi ngày biết kiên nhẫn với một người già lẫn, chăm một đứa con khuyết tật, đối xử tử tế với người giúp việc, không chế giễu một đồng nghiệp vụng về, như thế đã có thể sống rất sâu một phần của sự thánh thiện.
“Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch” cũng không chỉ liên quan đến đức khiết tịnh theo nghĩa hẹp. Trong sạch là một trái tim không chia đôi, không dùng người khác như đồ vật, không biến mọi tương quan thành cơ hội hưởng lợi. Trong thời đại kỹ thuật số, người giáo dân sống sự trong sạch còn phải chiến đấu với những hình ảnh, thói quen, nội dung và kiểu giao tiếp làm tha hóa cái nhìn về con người. Một người chồng trung thành không chỉ là người chưa ngoại tình về mặt thể lý; còn phải học trung thành trong trí tưởng tượng, trong tin nhắn, trong cách nhìn người khác, trong việc bảo vệ sự thân mật của hôn nhân. Một người độc thân giữa đời sống khiết tịnh không phải bằng cách ghét thân xác hoặc sợ tình cảm, nhưng bằng cách học yêu mà không chiếm hữu. Người trẻ nên thánh trong thế giới số đôi khi bắt đầu bằng một quyết định rất cụ thể: không để màn hình dạy mình nhìn thân xác người khác như món hàng. Không cần một sa mạc vật lý để có cuộc chiến thiêng liêng. Có khi sa mạc nằm ngay trong chiếc điện thoại bỏ túi.
“Phúc thay ai xây dựng hòa bình” lại càng gần đời sống gia đình và xã hội. Xây dựng hòa bình không phải né mọi xung đột. Có những người nói “tôi không muốn mất hòa khí” nhưng thực chất là không muốn đối diện sự thật. Hòa bình Tin Mừng có khi đòi phải nói một câu khó, nhưng nói trong bác ái; phải can thiệp khi một người bị bắt nạt; phải chặn một tin đồn; phải từ chối tham gia một nhóm chuyên nói xấu; phải không chuyển tiếp tin chưa kiểm chứng; phải ngưng dùng mạng xã hội như chiến trường. Người giáo dân có thể là người làm hòa trong gia đình: không truyền lời cay độc từ người này sang người kia, không khơi lại chuyện cũ, không kéo con về phe mình khi vợ chồng xung đột. Họ có thể là người làm hòa ở nơi làm việc: không kích động cạnh tranh độc hại, không đẩy lỗi cho người khác, không vui khi đối thủ gặp nạn. Xây dựng hòa bình là một công việc thánh thiện vì nó đòi cái tôi phải chịu chết rất nhiều lần.
Và “phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính” cho thấy rõ rằng sự thánh thiện không phải một lối sống dễ chịu. Có những người giáo dân phải chịu thiệt thật vì sống ngay thẳng. Có người không được thăng chức vì không tham gia những việc sai. Có người bị đồng nghiệp xem là ngây thơ vì không gian lận. Có người bị gia đình trách vì không chịu dùng quan hệ bất chính để xin việc cho con. Có người trẻ bị bạn bè chế giễu vì muốn giữ các giới hạn đạo đức trong tình yêu. Có người vợ bị cô lập vì từ chối tham gia chuyện nói xấu trong đại gia đình. Có người làm nghề kinh doanh chấp nhận lãi ít hơn vì không bán sản phẩm mình biết là gây hại. Sự thánh thiện có giá. Nếu một thứ “linh đạo giáo dân” chỉ dạy cách sống vui, cân bằng, thành công và bình an mà không nói đến thập giá, đó không còn là linh đạo Kitô giáo. Nhưng thập giá của giáo dân không nhất thiết phải được đi tìm. Thường đời sống đã trao sẵn. Điều quan trọng là đừng biến mọi khó khăn thành “thập giá Chúa gửi”, nhất là những bất công cần phải thay đổi; nhưng cũng đừng nghĩ rằng chỉ những hy sinh có vẻ tôn giáo mới có giá trị thiêng liêng. Có khi thập giá thật là tiếp tục trung thành với một trách nhiệm không ai biết. Có khi là xin lỗi dù mình rất tự ái. Có khi là ở lại với một người bệnh. Có khi là chấp nhận mình không được công nhận. Có khi là làm lại từ đầu sau một thất bại. Có khi là thức đêm vì con sốt và sáng hôm sau vẫn đi làm. Có khi là không trả đũa một lời xúc phạm. Có khi là sống trong một cuộc hôn nhân đang trải qua khủng hoảng và can đảm tìm giúp đỡ thay vì tìm một lối thoát dễ dãi. Sự thánh thiện thường mang quần áo bình thường.
Đây là điều cần nói rất rõ: linh đạo giáo dân không hạ chuẩn sự thánh thiện. Trái lại, nếu hiểu đúng, nó còn đòi hỏi một sự trưởng thành rất sâu vì người giáo dân sống giữa vô số thực tại không có ranh giới rõ như trong đời sống tu trì. Một tu viện có giờ cầu nguyện, giờ ăn, giờ làm, nội quy, bề trên, cộng đoàn và những cấu trúc hỗ trợ một đời sống tập trung vào Thiên Chúa. Giáo dân thường sống trong một nhịp phân mảnh hơn nhiều. Điện thoại reo, khách hàng gọi, con bệnh, tiền điện tới hạn, cha mẹ già cần chăm, công việc bất ổn, mạng xã hội kéo chú ý, quảng cáo kích thích tiêu dùng, xã hội thúc đẩy cạnh tranh. Trong bối cảnh đó, sống một trái tim thuộc về Chúa không phải chuyện dễ. Họ phải tìm được sự hiện diện của Thiên Chúa giữa tiếng máy, tiếng xe, tiếng con cái, tiếng người bán hàng, tiếng cuộc họp. Họ phải học cầu nguyện khi không có nhiều thinh lặng. Họ phải học phân định khi không có một người hướng dẫn luôn ở gần. Họ phải học giữ lương tâm trong một môi trường nơi nhiều thỏa hiệp được xem là bình thường. Họ phải sống bí tích hôn phối như một ơn gọi nên thánh chứ không chỉ là hợp đồng sống chung. Họ phải học dùng tiền như người môn đệ. Họ phải dạy con bằng cả đời sống, không chỉ bằng lời. Họ phải sống giữa thế gian mà không để tinh thần thế gian định hình mình. Đó là một trường khổ chế rất thật.
Khổ chế giáo dân cần được hiểu lại. Người ta quen nghĩ khổ chế là nhịn ăn, ngủ ít, quỳ lâu, dùng những hình thức hãm mình. Hội Thánh có truyền thống khổ chế đáng kính và người giáo dân cũng có thể thực hành cách khôn ngoan. Nhưng có một thứ khổ chế hằng ngày rất gần mà đôi khi khó hơn: tắt điện thoại khi con đang nói; không mua một món không cần dù mình đủ tiền; ngưng một câu nói cay độc trước khi nó ra khỏi miệng; dậy đúng giờ để chu toàn bổn phận; giữ lời hứa; về nhà đúng giờ khi có thể thay vì kéo dài công việc chỉ để tránh trách nhiệm gia đình; không mở một nội dung mình biết sẽ làm lòng mình dơ bẩn; không kể một bí mật mình rất muốn kể; không tham gia một cuộc nói xấu; nhường phần thuận tiện cho người khác; kiên nhẫn với người phục vụ chậm; không trả đũa ngay khi bị xúc phạm; xin lỗi trước; dành thời gian cho người già; ngồi xuống chơi với con khi mình muốn lướt mạng; giữ ngày Chúa Nhật khỏi bị biến hoàn toàn thành ngày mua sắm và giải trí. Những điều ấy nghe nhỏ. Nhưng chính những điều nhỏ lặp lại xây nhân cách. Các thánh không trở thành thánh trong một buổi chiều. Họ để cho ân sủng cắt tỉa mình qua hàng ngàn lựa chọn nhỏ.
Đức Phanxicô cũng cảnh giác rất mạnh trước hai lệch lạc thiêng liêng có thể làm hỏng con đường nên thánh: một thứ ngộ đạo mới và một thứ Pelagiô mới. Nói đơn giản, một phía biến Kitô giáo thành hệ thống ý tưởng đúng; phía kia biến Kitô giáo thành dự án tự hoàn thiện bằng ý chí. Cả hai đều nguy hiểm cho người giáo dân. Người có nhiều kiến thức đạo có thể tưởng rằng hiểu nhiều là thánh hơn. Họ có thể tranh luận giáo lý rất giỏi nhưng thiếu lòng thương xót. Họ có thể biết ai sai ở đâu nhưng không biết ôm một người đang đau. Họ có thể dùng giáo lý như cây gậy để đánh hơn là ánh sáng để dẫn. Phía khác, người rất kỷ luật có thể nghĩ mọi sự tùy vào nỗ lực của mình: tôi cầu nguyện đủ, tôi làm việc đạo đức đủ, tôi giữ luật đủ, tôi sẽ trở nên hoàn thiện. Nhưng sự thánh thiện không phải công trình tự chế tác bản thân. Nó là hoa trái ân sủng được đón nhận trong tự do. Người giáo dân rất cần nhớ điều này vì đời sống của họ đầy những thất bại nhỏ. Có ngày cầu nguyện không được. Có lúc nóng giận. Có những vấp ngã lặp lại. Có những giai đoạn gia đình hỗn loạn đến mức chỉ giữ được một kinh ngắn trước khi ngủ. Nếu họ nghĩ sự thánh thiện là biểu đồ thành tích, họ hoặc kiêu ngạo hoặc tuyệt vọng. Nếu hiểu đó là tương quan với Đức Kitô, họ sẽ biết bắt đầu lại. Một người nên thánh không phải người không bao giờ ngã, nhưng là người ngày càng nhanh trở về với lòng thương xót và ngày càng ít yêu tội lỗi mình.
Điều này đặc biệt quan trọng trong hôn nhân. Người ta thường nói hôn nhân là con đường nên thánh nhưng đôi khi nói như một khẩu hiệu. Nếu lấy nghiêm túc, đó là một khẳng định rất mạnh. Người chồng không nên thánh bên cạnh vợ mình như thể vợ chỉ là bối cảnh. Anh nên thánh một phần qua cách anh yêu vợ. Người vợ cũng vậy. Bí tích Hôn phối đặt sự thánh thiện ngay trong tương quan cụ thể với một người không hoàn hảo. Lúc yêu nhau, người ta thường yêu hình ảnh đẹp của nhau. Sau nhiều năm, họ phải học yêu con người thật với thói quen, giới hạn, vết thương, sự thay đổi của thân xác và tính khí. Đây là trường đức ái. Chung thủy không chỉ là không bỏ nhau. Chung thủy là tiếp tục chọn điều thiện cho người kia trong những mùa tình cảm nguội lạnh. Là học nói lại với nhau sau nhiều tổn thương. Là học tha thứ nhưng cũng học sửa đổi. Là không dùng sự thân mật như vũ khí thưởng phạt. Là cùng nhau mang trách nhiệm con cái, cha mẹ hai bên, tài chính và bệnh tật. Là không để công việc hoặc điện thoại lấy hết phần tốt nhất của mình rồi mang phần mệt mỏi về cho gia đình. Một cuộc hôn nhân có thể trở thành một tu viện không tường theo nghĩa đẹp nhất: nơi hai người mỗi ngày học chết cho cái tôi để sự sống của Đức Kitô lớn lên. Nhưng đừng lãng mạn hóa: khi có bạo hành, nghiện ngập, lạm dụng hoặc nguy hiểm, cần sự giúp đỡ, ranh giới và những can thiệp thích hợp. Thập giá Kitô giáo không đồng nghĩa với việc bảo một nạn nhân cứ im lặng chịu hại.
Việc nuôi dạy con cũng là một trường nên thánh sâu sắc. Con cái không chỉ là đối tượng để cha mẹ “dạy đạo”; chúng còn là những người qua đó Thiên Chúa giáo dục cha mẹ. Một đứa trẻ có thể phơi bày sự thiếu kiên nhẫn mà người lớn tưởng mình không có. Một thiếu niên có thể buộc cha mẹ phân biệt giữa yêu thương và kiểm soát. Một người con trưởng thành chọn con đường khác với mong muốn của cha mẹ có thể buộc họ học tôn trọng tự do. Cha mẹ nên thánh không phải bằng cách tạo ra những đứa con hoàn hảo. Họ nên thánh bằng cách yêu, hướng dẫn, sửa dạy, tha thứ, giữ giới hạn, xin lỗi khi mình sai và dần dần trao con lại cho Thiên Chúa. Có những bà mẹ rất đau vì con bỏ lễ. Có những người cha thấy con đi xa đức tin và tự hỏi mình đã thất bại. Đừng đo sự thánh thiện của cha mẹ bằng kết quả tức thời nơi con. Thiên Chúa cũng tôn trọng tự do của con người. Phần của cha mẹ là làm chứng bằng một đức tin đáng tin: một đức tin khiến họ tử tế hơn, công bình hơn, biết xin lỗi hơn, không giả hình. Đứa trẻ có thể quên nhiều bài giáo lý, nhưng rất khó quên cách cha mẹ đối xử với nhau.
Nơi làm việc cũng là bàn thờ của đời giáo dân, nếu hiểu chữ bàn thờ theo nghĩa đời sống được dâng hiến chứ không lẫn lộn với phụng vụ. Công việc có phẩm giá vì con người qua đó cộng tác vào công trình sáng tạo, phục vụ nhu cầu của người khác và nuôi sống gia đình. Nhưng công việc cũng là nơi nhiều ngẫu tượng xuất hiện: tiền bạc, thành tích, chức vụ, quyền lực, sự công nhận. Người giáo dân nên thánh không phải bằng cách làm việc ít đi một cách vô trách nhiệm, nhưng bằng cách làm việc tốt mà không thờ công việc. Họ làm với lương tâm, chuyên môn và trách nhiệm. Họ không lấy câu “Chúa sẽ lo” để biện minh cho sự cẩu thả. Người Công giáo làm việc kém, trễ hẹn, thiếu trách nhiệm rồi nói nhiều về Chúa không làm chứng tốt cho Tin Mừng. Nhưng phía ngược lại, người biến công việc thành thần tượng cũng mất mình. Có người thành công ngoài xã hội nhưng con không biết nói chuyện với cha. Có người kiếm rất nhiều tiền nhưng sức khỏe và hôn nhân tan vỡ. Có người không bao giờ nghỉ vì sâu bên trong họ sợ rằng nếu không còn thành tích thì mình không còn giá trị. Sự thánh thiện giúp người giáo dân làm việc hết lòng nhưng biết mình không phải là chức danh của mình. Ngày mất việc, họ vẫn là con Thiên Chúa. Ngày nghỉ hưu, họ vẫn có phẩm giá. Ngày người khác vượt qua mình, họ vẫn có thể vui cho người ấy.
Tiền bạc là một khu vực khác mà linh đạo giáo dân phải bước vào. Không thể nói nên thánh mà không nói cách kiếm tiền, tiêu tiền, tiết kiệm, đầu tư, cho đi. Tiền không xấu. Nó là một công cụ cần thiết. Nhưng Đức Giêsu nói về tiền nhiều vì biết nó có sức chiếm trái tim. Người giáo dân nên thánh bằng cách kiếm tiền chính đáng, không lấy của người khác, không sống vượt quá khả năng chỉ để giữ hình ảnh, không dạy con rằng giá trị con người nằm trong đồ đắt tiền, không để lòng rộng lượng chỉ còn là số tiền dư. Họ cần biết lập kế hoạch tài chính, chăm lo gia đình, dự phòng, nhưng đồng thời phải để trong ngân sách của mình có chỗ cho người khác. Một gia đình có thể dạy con nên thánh bằng một việc rất đơn giản: mỗi khi có niềm vui vật chất, nhớ chia sẻ một phần. Một người có thể xét mình trước Chúa bằng sao kê ngân hàng: tiền của tôi đang nói rằng tôi yêu điều gì? Nếu phần lớn mọi chi tiêu đều nhằm làm mình thoải mái hơn, nổi bật hơn, được phục vụ hơn, có lẽ Tin Mừng chưa chạm sâu vào ví tiền. Và ví tiền thường là nơi lương tâm bộc lộ thật hơn nhiều lời cầu nguyện.
Bếp núc, hàng quán và những công việc rất nhỏ trong nhà cũng có một thần học mà ta thường bỏ quên. Bao nhiêu đời sống được nâng đỡ nhờ những việc không được ghi nhận: người dậy sớm nấu ăn, người rửa chén, người quét nhà, người thay tã cho trẻ, người chăm cha mẹ già, người đi chợ, người sửa đồ hỏng, người nhớ lịch tiêm, người đưa con đi học, người giặt áo, người dọn phòng sau khi mọi người đã ngủ. Xã hội thường trả giá cao cho những công việc nhìn thấy và trả rất ít hoặc không gì cho vô số công việc chăm sóc. Nhưng trước mắt Thiên Chúa, giá trị không được đo bằng mức lương. Một bữa cơm được nấu với tình yêu có thể là một hành vi bác ái. Một chiếc áo được giặt cho người bệnh có thể là một việc thương người. Một người con thay tã cho cha già có thể sống điều mà một bài giảng về hiếu thảo không diễn đạt hết. Đừng thiêng liêng hóa đến mức phủ nhận sự mệt mỏi: người chăm sóc cũng cần được nghỉ, được chia sẻ trách nhiệm, được tôn trọng. Nhưng chính trong những bổn phận âm thầm ấy, người Kitô hữu có thể khám phá một điều rất gần với đời ẩn dật của Chúa Giêsu tại Nazareth. Ba mươi năm đời Chúa gần như không có gì được các sách Tin Mừng kể chi tiết. Ngài sống trong gia đình, lao động, lớn lên giữa một làng nhỏ. Điều đó tự nó là một Tin Mừng cho người giáo dân: phần lớn đời sống của Con Thiên Chúa nhập thể đã trôi qua trong những điều mà thế gian gọi là bình thường.
Nazareth vì thế là một biểu tượng lớn của linh đạo giáo dân. Nếu sự thánh thiện chỉ nằm trong những giờ phút công khai, thì ba mươi năm ẩn dật của Đức Giêsu trở thành điều khó hiểu. Nhưng nếu sự thánh thiện là hoàn toàn thuộc về Chúa Cha trong từng hoàn cảnh, Nazareth sáng lên. Đức Maria không chỉ thánh ở biến cố Truyền Tin hay dưới chân thập giá; Mẹ thánh trong hàng ngàn ngày không được ghi lại: chuẩn bị bữa ăn, chăm sóc gia đình, sống đời một phụ nữ Do Thái bình thường, giữ những điều chưa hiểu trong lòng. Thánh Giuse không để lại một câu nói nào trong Tin Mừng. Ngài nên thánh trong lao động, bảo vệ gia đình, vâng phục những chỉ dẫn Thiên Chúa ban và hoàn thành những bổn phận không ai viết sử. Đó là một lời giải phóng lớn cho người giáo dân. Không phải ngày nào cũng cần “cảm thấy thiêng liêng”. Có những ngày chỉ cần trung thành. Không phải mỗi ngày đều có một biến cố thay đổi đời. Phần lớn đời người được làm nên từ những buổi sáng bình thường. Nếu ta chờ việc lớn mới yêu, ta sẽ bỏ lỡ phần lớn cơ hội nên thánh.
Sự thánh thiện đời thường cũng không đồng nghĩa với một đời vô vị. Đức Phanxicô nhấn mạnh niềm vui. Gaudete et Exsultate bắt đầu bằng lời “Hãy vui mừng và hân hoan”. Người thánh không phải người lúc nào cũng cau có vì sợ phạm tội. Có một thứ đạo đức làm người khác mệt: luôn xét nét, luôn nghiêm trọng hóa, luôn nhìn thấy nguy hiểm nhưng rất ít nhìn thấy ân sủng. Sự thánh thiện thật làm con người tự do hơn để vui. Họ biết cười, biết ăn một bữa ngon với lòng biết ơn, biết chơi với con, biết thưởng thức một buổi chiều, biết trân trọng tình bạn, biết nghỉ ngơi, biết thấy điều đẹp. Niềm vui Kitô giáo không phải cảm xúc liên tục. Người thánh vẫn có thể buồn, trầm lặng, mệt mỏi. Nhưng sâu hơn, họ biết đời mình nằm trong tay Chúa. Vì thế họ không cần biến mọi chuyện nhỏ thành thảm họa. Họ không cần luôn thắng. Họ có thể cười chính mình. Một gia đình nên thánh không nhất thiết là gia đình lúc nào cũng đọc kinh; còn là gia đình có thể ăn với nhau, cười với nhau, xin lỗi nhau, đón khách, mở cửa cho người cô đơn. Đức tin mà không làm đời sống trở nên nhân bản hơn cần được xét lại.
Đức Phanxicô cũng nhắc tới sự táo bạo, lòng nhiệt thành truyền giáo, đời sống cộng đoàn và cầu nguyện liên lỉ như những nét của sự thánh thiện. Đối với giáo dân, điều ấy không có nghĩa họ phải biến mọi cuộc trò chuyện thành bài giảng. Truyền giáo trong đời thường nhiều khi bắt đầu bằng việc sống khác một chút. Khi mọi người nói xấu một người vắng mặt, mình không tham gia. Khi mọi người gian lận, mình không gian lận. Khi một đồng nghiệp gặp nạn, mình là người đầu tiên đến. Khi nhân viên mắc lỗi, mình sửa mà không hạ nhục. Khi hàng xóm có tang, mình hiện diện. Khi có một người mới đến giáo xứ đứng một mình, mình đến chào. Khi con đặt câu hỏi khó về đức tin, mình không quát “đừng cãi” mà lắng nghe. Truyền giáo không phải lúc nào cũng nói thêm. Đôi khi là sống sao để người khác thấy Tin Mừng có thể làm một con người trở nên đáng tin, dịu dàng và can đảm hơn.
Cầu nguyện vẫn tuyệt đối cần thiết. Nói sự thánh thiện ở bếp núc không có nghĩa bếp thay nhà nguyện. Người giáo dân cũng cần những giờ thật sự dành cho Chúa, cần Lời Chúa, bí tích, Thánh Thể, hòa giải, thinh lặng. Nếu không, họ dễ biến hoạt động đời thường thành chủ nghĩa nhân bản tốt bụng mà thiếu nguồn. Nhưng cầu nguyện giáo dân không nhất thiết sao chép nguyên khung của đan viện. Một người mẹ có con nhỏ có thể không giữ được một giờ thinh lặng, nhưng có thể giữ mười lăm phút rất thật. Một người công nhân đi làm sớm có thể đọc Tin Mừng trên xe trước khi vào ca. Một người già có thể lần chuỗi trong lúc ngồi chờ khám bệnh. Một gia đình có thể đọc vài câu Lời Chúa sau bữa tối. Một người lái xe có thể biến đoạn đường thành thời gian cầu nguyện, miễn vẫn tập trung an toàn. Điều quan trọng là phải có những khoảng thật sự mở cho Thiên Chúa, chứ không chỉ nói “cả đời tôi là lời cầu nguyện” rồi chẳng bao giờ cầu nguyện. Nếu đời là lễ vật, nó cần được đặt trong tương quan với Đấng nhận lễ vật ấy.
Thánh Thể có vị trí đặc biệt. Người giáo dân không nên hiểu Thánh lễ Chúa Nhật như một nghĩa vụ phải hoàn thành trước khi trở lại “đời thật”. Chính Thánh lễ mặc khải ý nghĩa đời thật. Họ đem đến bàn thờ cả tuần sống: công việc, gia đình, thất bại, niềm vui, tiền bạc, mồ hôi, những lựa chọn chưa hoàn hảo. Trong Đức Kitô, tất cả được đặt vào hy tế của Ngài. Rồi họ được sai đi. “Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an” không có nghĩa nghi lễ chấm dứt và đời thường bắt đầu như hai thế giới tách nhau. Đó là sai đi. Từ bàn thờ họ trở về bàn ăn gia đình; từ Mình Thánh họ trở về thân thể người bệnh; từ việc nghe Lời họ trở về những lời mình nói với nhân viên; từ việc trao bình an họ trở về những xung đột cần hòa giải. Nếu Thánh Thể không đi vào cách sống trong tuần, ta đang để bàn thờ và đời sống xa nhau. Nếu đời sống không trở về Thánh Thể, ta sẽ khô cạn. Linh đạo giáo dân trưởng thành giữ được nhịp hai chiều ấy.
Cũng phải cẩn thận với một kiểu thần thánh hóa sự bận rộn đời thường. Có người nghe rằng “bếp núc cũng nên thánh” rồi dùng điều ấy để bỏ cầu nguyện, bỏ Thánh lễ, bỏ cộng đoàn. Không đúng. Người giáo dân không thánh chỉ vì họ bận. Bận rộn không phải nhân đức. Làm việc nhiều không tự động là hy sinh. Có người bận vì không biết sắp xếp. Có người bận vì nghiện thành tích. Có người dùng công việc để trốn gia đình. Có người luôn phục vụ để khỏi đối diện với đời sống nội tâm. Nên thánh trong đời thường có nghĩa đem Chúa vào đời thường và để Chúa phán xét cả cách mình sống đời thường. Có khi điều Chúa muốn không phải mình làm thêm mà là dừng lại. Có khi sự thánh thiện là ngủ đủ để ngày mai không trút mệt mỏi lên người nhà. Có khi là từ chối một công việc kiếm thêm vì gia đình đã không thấy mặt mình. Có khi là nghỉ ngày Chúa Nhật thật sự. Có khi là đi khám bệnh. Có khi là nhờ người khác giúp. Khiêm nhường cũng là biết mình có giới hạn.
Một sai lầm khác là lãng mạn hóa nghịch cảnh. Không phải cứ nghèo là thánh. Không phải cứ chịu khổ là thánh. Không phải cứ hôn nhân khó khăn là thập giá phải ôm vô điều kiện. Không phải cứ bị bóc lột nơi làm việc là nên im lặng để “hy sinh”. Các Mối Phúc không tôn vinh bất công. Đức Giêsu đứng về phía người nghèo nhưng cũng chữa bệnh, giải thoát người bị áp bức, lên án những kẻ dùng tôn giáo để đặt gánh nặng lên người khác. Người giáo dân nên thánh đôi khi bằng cách chịu đựng; nhưng đôi khi bằng cách lên tiếng. Có người nên thánh bằng việc nhẫn nhịn một tính xấu nhỏ của người thân. Có người lại cần can đảm báo cáo hành vi lạm dụng. Có người cần tha thứ. Có người cần đặt một ranh giới. Có người cần ở lại. Có người cần rời khỏi một nơi nguy hiểm. Phân định Kitô giáo không biến đau khổ thành giá trị tự thân. Giá trị nằm trong tình yêu và sự thật.
Các thánh giáo dân trong lịch sử Hội Thánh minh chứng sự đa dạng của con đường này. Có người là vua, người mẹ, bác sĩ, luật sư, công nhân, giáo viên, người trẻ, vợ chồng, góa phụ, nhà khoa học, chính trị gia. Họ không trở nên thánh bằng việc xóa nghề nghiệp và hoàn cảnh của mình, nhưng bằng cách để Tin Mừng thấm vào đó. Thánh Tôma More không thánh vì sống như đan sĩ; ngài thánh giữa luật pháp, chính trị, gia đình và lương tâm. Chân phước Pier Giorgio Frassati sống giữa bạn bè, học hành, leo núi, hoạt động xã hội và phục vụ người nghèo. Thánh Gianna Beretta Molla sống ơn gọi bác sĩ, người vợ, người mẹ. Chân phước Carlo Acutis sống giữa máy tính và văn hóa người trẻ. Hai thánh Louis và Zélie Martin sống hôn nhân, lao động, nuôi dạy con cái, chịu mất con và những đau khổ gia đình. Điểm chung của họ không phải cùng một lịch tu đức. Điểm chung là Đức Kitô dần trở thành trung tâm của một đời rất cụ thể. Hội Thánh phong thánh cho họ không phải để mọi giáo dân sao chép chi tiết đời họ, nhưng để chứng minh rằng ân sủng có thể làm nên sự thánh thiện trong rất nhiều hình thức sống.
Vì vậy, đừng hỏi người giáo dân trước hết: “Anh chị có cầu nguyện được như tu sĩ không?” Hãy hỏi: “Anh chị đang để Đức Kitô biến đổi phần nào của đời mình?” Đừng hỏi một người mẹ có đủ giờ thinh lặng hay không trước khi hỏi cách chị đang yêu con khi kiệt sức. Đừng hỏi một người cha tham gia bao nhiêu hội đoàn trước khi hỏi anh có sống công bình nơi công việc và dịu dàng trong nhà không. Đừng đánh giá một người trẻ chỉ bằng số giờ ở nhà thờ mà không hỏi cách họ sống tình bạn, tình yêu, mạng xã hội và trách nhiệm học hành. Đừng làm giáo dân cảm thấy hạng hai vì họ không có những trải nghiệm thiêng liêng đặc biệt. Nhưng cũng đừng an ủi họ bằng một thứ linh đạo dễ dãi nói rằng cứ làm người tốt là đủ. Tin Mừng đòi toàn bộ con người. Đức Kitô muốn bước vào cách ta tiêu tiền, cách ta yêu, cách ta tranh cãi, cách ta dùng điện thoại, cách ta làm việc, cách ta nghỉ, cách ta lái xe, cách ta đối xử với người phục vụ, cách ta nói về người vắng mặt và cả cách ta chịu thất bại. Không có vùng trung lập nào trong đời người đã được rửa tội.
Có lẽ điều đẹp nhất của Gaudete et Exsultate đối với linh đạo giáo dân là nó trả lại hy vọng cho những người tưởng đời mình quá bình thường để trở thành thánh. Một bà mẹ có thể nghĩ: đời tôi chỉ quanh quẩn chợ, bếp, trường học, tiền điện và những cuộc cãi nhau với con. Một người đàn ông có thể nghĩ: tôi chỉ là công nhân, ngày nào cũng một dây chuyền ấy. Một phụ nữ độc thân có thể nghĩ: tôi không có một sứ mạng lớn nào. Một người già có thể nghĩ: tôi chẳng còn làm được gì. Một người bệnh có thể nghĩ: đời tôi bây giờ chỉ là thuốc men. Nhưng Tin Mừng nói rằng không một giây phút nào phải nằm ngoài ân sủng. Một công việc lặp lại có thể được làm với tình yêu. Một bệnh tật có thể trở thành nơi học tín thác. Một tuổi già có thể trở thành lời cầu cho cả gia đình. Một đời độc thân giữa thế gian có thể trở thành không gian rộng cho tình bạn, phục vụ và hiến mình. Một ca làm việc có thể là nơi chứng tá. Một quán nhỏ có thể là nơi công bình được sống. Một căn bếp có thể là nơi đức ái được tập từng ngày. Một chiếc bàn ăn có thể trở thành nơi hòa giải. Một phòng bệnh có thể trở thành nơi một người học để mình được yêu và học yêu trong yếu đuối.
Sự thánh thiện không cần tiếng vỗ tay. Có những điều chỉ Chúa biết. Không ai phong thánh cho người mẹ đã thức hàng trăm đêm với đứa con bệnh. Không ai dựng tượng người chồng đã ba mươi năm chăm vợ mất trí nhớ. Không ai viết tiểu sử người công nhân cả đời không lấy một đồng không thuộc về mình. Không ai làm phim về người phụ nữ âm thầm chăm mẹ già trong khi anh chị em ở xa. Không ai biết một người trẻ đã bao nhiêu lần tắt màn hình để giữ lòng trong sạch. Không ai biết một chủ doanh nghiệp đã từ bỏ bao nhiêu lợi nhuận để không sa thải người giữa lúc khó khăn. Nhưng Nước Trời không được xây chỉ bằng những việc được biết đến. Nhiều phần quan trọng nhất của Hội Thánh luôn được mang bởi những người vô danh. Chính họ là “các thánh ở cửa bên”.
Đến ngày cuối cùng, có lẽ Thiên Chúa sẽ không hỏi phần lớn chúng ta đã làm những điều gây chấn động nào. Tin Mừng Matthêu 25 cho ta một thước đo rất đời thường: cho ăn, cho uống, đón tiếp, cho mặc, thăm viếng. Những động từ nhỏ. Không có gì hào nhoáng. Nhưng Đức Kitô đồng hóa mình với những người bé nhỏ ấy. Đó là một chìa khóa cho linh đạo giáo dân: Thiên Chúa thường ẩn trong bổn phận gần nhất và con người đang đứng trước mặt ta. Ta có thể tìm một sứ mạng lớn trong khi bỏ quên người trong nhà. Có thể muốn phục vụ nhân loại nhưng không rửa cái chén của mình. Có thể muốn cứu thế giới nhưng không gọi điện cho cha mẹ. Có thể nói về công bằng xã hội nhưng đối xử tệ với nhân viên. Có thể yêu người nghèo như một khái niệm nhưng khó chịu với người nghèo thật sự có mùi, có yêu cầu và có những thói quen không dễ chịu. Sự thánh thiện làm đức ái đi từ khẩu hiệu xuống mặt đất.
Vì thế, nên thánh trong hàng quán và bếp núc không phải câu văn thi vị. Đó là một đòi hỏi rất nghiêm túc. Hàng quán là nơi tiền bạc và lòng trung thực gặp nhau. Bếp núc là nơi tình yêu và mệt mỏi gặp nhau. Văn phòng là nơi quyền lực và lương tâm gặp nhau. Gia đình là nơi lý tưởng và tính khí gặp nhau. Mạng xã hội là nơi cái tôi và sự thật gặp nhau. Chính trong những chỗ va chạm ấy, Đức Kitô muốn được sống. Sự thánh thiện không phải khoác thêm một chiếc áo đạo đức lên đời thường. Nó là để Tin Mừng đổi cách ta sống đời thường từ bên trong.
Người giáo dân không phải tu sĩ thiếu lời khấn, cũng không phải linh mục thiếu chức thánh. Vì vậy sự thánh thiện của họ cũng không phải phiên bản giản lược của sự thánh thiện tu trì hay giáo sĩ. Họ có một trường riêng. Trường ấy có tiếng trẻ khóc, hóa đơn, những bữa cơm, kẹt xe, bệnh viện, công trường, chợ, họp phụ huynh, hợp đồng, thuế, quan hệ hàng xóm, cha mẹ già, những đứa con trưởng thành, ngày lãnh lương, ngày thất nghiệp và những ngày chẳng có gì đáng kể xảy ra. Chính ở đó họ mang chức tư tế cộng đồng khi dâng đời mình; mang chức ngôn sứ khi nói và sống sự thật; mang chức vương giả khi cai quản chính mình và phục vụ công ích. Chính ở đó họ sống Rửa tội. Chính ở đó họ thực hiện các Mối Phúc. Chính ở đó Thiên Chúa có thể làm một công trình thánh thiện không ồn ào.
Đừng chờ một hoàn cảnh lý tưởng mới nên thánh. Khi con lớn hơn tôi sẽ cầu nguyện. Khi trả xong nợ tôi sẽ sống quảng đại. Khi công việc ổn tôi sẽ dành thời gian cho gia đình. Khi về hưu tôi sẽ phục vụ. Khi hết căng thẳng tôi sẽ hiền. Khi người kia thay đổi tôi sẽ tha thứ. Đời sống cứ trôi trong những chữ “khi”. Nhưng ân sủng luôn đến trong “hôm nay”. Hôm nay có một người cần ta kiên nhẫn. Hôm nay có một lời ta cần nuốt lại. Hôm nay có một việc phải làm cho tử tế. Hôm nay có một khoản tiền cần dùng công bằng. Hôm nay có một người cần được gọi. Hôm nay có một tội cần xưng. Hôm nay có một trang Tin Mừng cần đọc. Hôm nay có một bữa cơm cần ăn với nhau mà không nhìn điện thoại. Hôm nay có một người cần được tha thứ thêm một chút. Hôm nay có một nỗi đau cần được đặt trước Chúa. Sự thánh thiện luôn bắt đầu ở thì hiện tại.
Và đừng khinh điều nhỏ. Thiên Chúa rất thích hạt cải, men trong bột, đồng tiền nhỏ của bà góa, năm chiếc bánh và hai con cá, chén nước lã cho người bé mọn. Tin Mừng đầy những điều nhỏ được đặt trong tay Chúa rồi trở nên lớn. Một gia đình thay đổi vì một người bắt đầu không nói lời cay độc. Một nơi làm việc thay đổi vì một người từ chối tham gia gian dối. Một đứa trẻ giữ được đức tin vì đã thấy bà ngoại cầu nguyện trong đau bệnh. Một người đang tuyệt vọng ở lại với cuộc đời vì có ai đó chịu ngồi nghe họ một giờ. Một giáo xứ có thể đổi khác vì vài gia đình thật sự sống Tin Mừng chứ không chỉ tham gia hoạt động. Sự thánh thiện lan bằng cách ấy: không phải luôn bằng sự kiện, nhưng bằng chất lượng hiện diện của một người đã để Chúa chạm vào mình.
Gaudete et Exsultate vì thế là một lời mời rất mạnh cho giáo dân: đừng sống đời mình như phòng chờ trước khi bước vào đời thánh thiện. Chính đây là nơi. Chính công việc này, gia đình này, tuổi này, giới hạn này, những con người này là vật liệu đầu tiên Thiên Chúa đang dùng. Có thể một số hoàn cảnh cần thay đổi. Có thể một số công việc phải bỏ vì bất chính. Có thể một tương quan cần chữa lành. Nhưng không cần một đời khác mới bắt đầu. Chúa không đợi ta trở thành một người khác mới gọi ta nên thánh. Ngài gọi chính con người đang sống hôm nay, với lịch sử thật, vết thương thật, bổn phận thật và những cơ hội rất nhỏ đang nằm trước mặt.
Các thánh giáo dân không thánh vì đã cố sống như tu sĩ giữa đời. Họ thánh vì đã sống trọn vẹn ân sủng Rửa tội trong chính đời giáo dân. Người mẹ vẫn là mẹ. Người cha vẫn là cha. Người thợ vẫn là thợ. Người bán hàng vẫn đứng ở quầy. Người bác sĩ vẫn đi bệnh viện. Người giáo viên vẫn đứng lớp. Người nông dân vẫn ra đồng. Người trẻ vẫn học, yêu, chơi, dùng công nghệ và xây tương lai. Nhưng trong tất cả những điều ấy, Đức Kitô dần dần trở thành cách họ nhìn, yêu, chọn, chịu đựng và hy vọng. Đó là sự thánh thiện. Không nhất thiết có hào quang nhìn thấy được. Không nhất thiết có một đời phi thường. Nhưng có một đời bình thường đã được ân sủng làm cho trong suốt đến mức người khác, khi gặp họ, có thể cảm được một chút gì đó của lòng nhân hậu Thiên Chúa.
Và có lẽ đó là hình ảnh đẹp nhất để khép lại chương này: một người đang đứng trong căn bếp rất bình thường, tay còn dính nước rửa chén, bên ngoài con đang gọi, điện thoại đang reo, trong đầu còn một khoản tiền phải lo, nhưng người ấy dừng lại một giây, thở, xin Chúa cho mình đừng cáu, rồi quay sang trả lời bằng một giọng dịu hơn. Không ai thấy đó là một biến cố thiêng liêng. Không có chuông nhà thờ. Không có nhạc. Không có ai ghi lại. Nhưng cái tôi vừa chết đi một chút và đức ái vừa được sinh ra thêm một chút. Nước Thiên Chúa thường đến như thế. Sự thánh thiện thường lớn lên như thế. Giữa hàng quán. Giữa bếp núc. Giữa đời thường. Và chính nơi ấy, Đức Kitô vẫn đang sống trong các chi thể của Người.
PHẦN II
NỀN TẢNG THỨ NHẤT — KITÔ HỌC
CHƯƠNG 10. ĐỨC KITÔ NHẬP THỂ GIỮA ĐỜI, KHÔNG RÚT LUI KHỎI ĐỜI
Linh đạo giáo dân không bắt đầu bằng một lý thuyết về giáo dân. Nó cũng không bắt đầu bằng câu hỏi giáo dân được phép làm gì trong nhà thờ, được giữ chức vụ nào trong giáo xứ, được đọc sách, trao Mình Thánh, làm thành viên hội đồng mục vụ hay tham gia bao nhiêu đoàn thể. Những điều ấy có thể quan trọng trong đời sống Hội Thánh, nhưng tất cả đều đến sau một thực tại căn bản hơn nhiều: Ngôi Lời đã làm người và cư ngụ giữa chúng ta. Muốn hiểu người giáo dân được gọi nên thánh ở đâu, phải nhìn Đức Giêsu Nazareth. Muốn hiểu một đời sống Kitô hữu có thể mang hình thức nào giữa thế gian, phải trở về căn nhà Nazareth, những con đường Galilê, những bữa ăn ở Cana, Capharnaum, Bêtania, Giêrusalem, những chiếc thuyền trên hồ, những ruộng lúa, những phiên chợ, những giếng nước, những căn nhà có người đau bệnh, bàn ăn của người thu thuế, sân Đền Thờ, đường phố đông người và cuối cùng là một ngọn đồi xử tử nằm ngoài thành. Kitô giáo không bắt đầu bằng một linh hồn trốn khỏi vật chất để bay lên với Thiên Chúa. Kitô giáo bắt đầu bằng việc Thiên Chúa bước vào vật chất, mang lấy thịt và máu, có một người mẹ, có quê hương, có ngôn ngữ, có nghề nghiệp, có bàn tay lao động, có bạn hữu, có mệt mỏi, đói khát, nước mắt, nỗi đau và cái chết. Thiên Chúa không cứu con người từ một khoảng cách an toàn. Người đến ở giữa chúng ta. Chính đó là điều đầu tiên phải khắc sâu khi nói về linh đạo giáo dân: đời sống bình thường không phải phần ngoài lề của công trình cứu độ; chính trong đời sống bình thường, Thiên Chúa đã đặt chân vào lịch sử con người.
Con Thiên Chúa không xuất hiện trên trần gian như một vị khách ghé qua vài ngày để chuyển giao một giáo huấn rồi lập tức trở lại trời. Người chịu thai trong lòng một người phụ nữ, được sinh ra như một trẻ thơ, lớn lên qua từng giai đoạn của đời người, học nói, học bước, học sống trong một gia đình, trong một làng nhỏ mà dân thành thị có thể coi thường. Trước khoảng ba năm đời sống công khai, Tin Mừng đặt trước mắt chúng ta gần ba mươi năm âm thầm. Ba mươi năm ấy không phải khoảng trắng vô nghĩa giữa lễ Giáng Sinh và phép rửa tại sông Giođan. Không phải Thiên Chúa “chờ” cho đến khi Đức Giêsu bắt đầu giảng thì mới thật sự làm công việc cứu độ. Chính việc Ngôi Lời sống một đời người bình thường đã là một phần của mầu nhiệm cứu độ. Chính lao động của Người, sự vâng phục trong gia đình, việc sống giữa làng xóm, việc dự những ngày lễ của dân tộc, những bữa cơm, những cuộc trò chuyện, những ngày bình thường đến mức không ai ghi lại, đều nói với chúng ta rằng những gì bình thường của đời người đã được Thiên Chúa mang lấy. Người giáo dân cần nghe điều này thật kỹ. Nếu phần lớn cuộc đời mình là đi làm, chăm con, trả tiền điện, mua thức ăn, sửa xe, lo học phí, đưa cha mẹ già đi khám, ngồi trong văn phòng, đứng trong xưởng máy, bán hàng ngoài chợ, dạy học, làm ruộng, lái xe, viết phần mềm, họp công ty, trả lời khách hàng, nấu cơm, giặt áo, dọn nhà, trò chuyện với hàng xóm, chịu đựng kẹt xe, mất điện, bệnh tật và hàng trăm việc nhỏ không ai thấy, thì người giáo dân không cần xấu hổ vì phần lớn đời mình xem ra “không thiêng”. Chính Ngôi Lời đã bước vào một đời sống trong đó phần lớn thời gian không diễn ra trong hội đường và càng không diễn ra trên bục giảng.
Có một kiểu tưởng tượng sai về sự thánh thiện đã làm khổ nhiều tín hữu: tưởng rằng càng xa đời thường càng gần Chúa. Theo kiểu tưởng tượng ấy, người đang cầu nguyện trong nhà thờ thì gần Chúa, còn người đang thay tã cho con thì ở ngoài đời thiêng liêng; người đang dự tĩnh tâm thì đang nên thánh, còn người đang ngồi tính sổ cuối tháng thì chỉ làm việc trần tục; người đang đọc sách đạo thì đang dùng thời gian cho Chúa, còn người đang chăm người cha già mất trí thì bị công việc thế gian lấy mất thời gian cầu nguyện. Nếu không cẩn thận, chúng ta sẽ tạo một thứ Kitô giáo hai tầng: tầng cao là kinh nguyện, bí tích, giáo xứ, tu viện, các hoạt động đạo đức; tầng thấp là gia đình, nghề nghiệp, tiền bạc, sức khỏe, công dân, xã hội, nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật và thân xác. Mầu nhiệm Nhập Thể phá vỡ cách chia đôi ấy. Thiên Chúa không cứu linh hồn bằng cách khinh thân xác. Thiên Chúa cứu con người toàn vẹn. Người không đứng bên ngoài lịch sử để gọi con người bỏ lịch sử. Người bước vào lịch sử để lịch sử có thể được đưa về cùng đích của nó. Vì thế, linh đạo giáo dân không thể là nỗ lực biến đời sống giáo dân thành một phiên bản nhẹ hơn của đời tu. Nó phải là học cách nhận ra và đáp lại sự hiện diện của Đức Kitô ngay trong những thực tại mà người giáo dân được sai đến.
Điều này không có nghĩa cứ làm việc đời là tự động thánh thiện. Đây là một phân biệt rất quan trọng. Đức Kitô nhập thể giữa đời không có nghĩa Người chấp nhận mọi sự của đời như nó đang là. Người đi vào thế giới để cứu thế giới, nghĩa là để chữa lành, thanh luyện, xét xử và biến đổi nó. Khi Người bước vào nhà Dakêu, căn nhà ấy không còn như trước. Khi Người gặp người phụ nữ Samari tại giếng, cuộc đời bà bị đặt lại trước sự thật. Khi Người dự tiệc với người thu thuế và người tội lỗi, Người không trở thành một người thu thuế tham lam hay một người tội lỗi; chính sự hiện diện của Người mở ra một khả năng hoán cải. Khi Người vào Đền Thờ, Người không nói: vì đây là thực tại tôn giáo của con người nên cứ để mọi thứ như thế; Người đánh đổ những gì biến nhà Cha Người thành nơi buôn bán. Khi Người đứng trước Philatô, Người không đồng hóa Nước Thiên Chúa với quyền lực chính trị, nhưng cũng không im lặng trước câu hỏi về quyền bính và sự thật. Nhập Thể không phải hòa tan Thiên Chúa vào thế gian. Nhập Thể là Thiên Chúa đi vào thế gian mà vẫn là Thiên Chúa, để thế gian được kéo ra khỏi sự đóng kín của nó và được mở về Nước Thiên Chúa.
Bởi đó, mầu nhiệm Nhập Thể chống lại hai cám dỗ song song thường xuyên xuất hiện nơi người giáo dân. Cám dỗ thứ nhất là coi đời thường như một miền thấp kém, nơi người tín hữu buộc phải sống vì chưa thể dành trọn thời gian cho Chúa. Theo cám dỗ này, người ta sống từ Chúa Nhật này đến Chúa Nhật kia như thể Thánh lễ mới là phần thuộc về Chúa, còn sáu ngày còn lại phải tạm chịu thế gian. Người giáo dân dễ mơ một đời sống khác: giá như tôi không phải lo công ty, giá như con cái bớt phiền, giá như có nhiều giờ đọc kinh hơn, giá như gia đình yên ổn hơn, giá như không phải gặp những người khó chịu, lúc đó tôi sẽ nên thánh. Nhưng nhiều khi chính những điều mà ta muốn loại bỏ lại là trường nên thánh Thiên Chúa đang trao. Không phải vì chúng tự chúng hoàn hảo, nhưng vì ở đó ta được học yêu, trung tín, kiên nhẫn, công bằng, hy sinh, tha thứ, tự chủ và tin tưởng. Một người cha trở về sau ngày làm việc mệt mỏi mà vẫn ngồi nghe con mình kể một câu chuyện dài tưởng như chẳng quan trọng; một người mẹ chăm đứa con bệnh suốt đêm mà không ai biết; một nhân viên từ chối sửa số liệu để lừa khách hàng dù có thể mất tiền thưởng; một bác sĩ kiên nhẫn với bệnh nhân nghèo; một người chủ trả lương đúng ngày khi chính mình đang khó khăn; một người bán hàng không cân thiếu; một công chức không nhận phong bì; một kỹ sư không ký vào công trình mình biết không an toàn; một người con chịu khó chăm cha mẹ già; một người vợ kiên trì gìn giữ lời hôn phối giữa những ngày tình cảm không còn dễ dàng: đó không phải những phần đời “thấp” cần được bỏ lại để đi tìm đời thiêng liêng. Đó chính là những nơi đời thiêng liêng được thử nghiệm xem có thật hay không.
Cám dỗ thứ hai đi theo hướng ngược lại: coi đời thường như tự đủ, đến mức không còn cần được chiếu sáng, thanh luyện và cứu chuộc bởi ân sủng. Nếu cám dỗ thứ nhất khinh thế gian, cám dỗ thứ hai thần thánh hóa thế gian. Người ta có thể nói: chỉ cần sống tử tế, làm việc chăm chỉ, yêu gia đình, có trách nhiệm xã hội là đủ; cầu nguyện, bí tích, Lời Chúa, đời sống Hội Thánh chỉ là thêm vào nếu thích. Nhưng Đức Kitô không chỉ là mẫu gương của một người sống đẹp giữa đời. Người là Con từ Chúa Cha mà đến. Toàn bộ đời Người hướng về Cha. Người cầu nguyện trước những quyết định lớn, lui vào nơi thanh vắng, sống từ Lời Cha, làm theo ý Cha, trao mọi sự cho Cha và cuối cùng phó linh hồn trong tay Cha. Người hoàn toàn ở giữa con người mà không bao giờ thôi thuộc về Cha. Chính sự kết hợp ấy là chìa khóa cho linh đạo giáo dân: ở giữa đời nhưng không bị đời sở hữu; làm việc giữa thế gian nhưng không lấy thế gian làm cùng đích; yêu những điều tốt đẹp của tạo thành nhưng không biến chúng thành thần tượng; tham gia xã hội nhưng biết mình trước hết thuộc về Thiên Chúa.
Vì thế câu “giáo dân ở giữa đời” sẽ trở nên nguy hiểm nếu thiếu vế thứ hai: “và thuộc về Thiên Chúa”. Một người có thể ở rất sâu trong đời nhưng không có linh đạo giáo dân gì cả. Có thể rất thành công trong nghề nghiệp, rất năng động xã hội, rất giỏi truyền thông, rất được kính trọng trong cộng đồng, nhưng nếu mọi quyết định chỉ do lợi nhuận, danh tiếng, tiện nghi, quyền lực và cái tôi điều khiển, thì người ấy chưa sống tính chất trần thế theo Tin Mừng. Người giáo dân không được sai vào các thực tại trần thế chỉ để hòa mình vào đó. Họ được sai vào đó như men trong bột, như muối trong đất, như ánh sáng đặt giữa nhà. Men không phải bột nhưng ở trong bột. Muối không phải thức ăn nhưng phải đi vào thức ăn. Ánh sáng không chạy khỏi bóng tối; nó có ý nghĩa chính vì bóng tối hiện diện. Đây là cấu trúc của ơn gọi giáo dân: thuộc về Đức Kitô đủ sâu để có thể ở giữa thế gian mà không thuộc về tinh thần thế gian.
Nazareth là một biểu tượng đặc biệt quan trọng cho điều ấy. Chúng ta thường thích những biến cố lớn của đời Đức Giêsu: phép lạ, diễn từ, những cuộc tranh luận, Thương Khó, Phục Sinh. Nhưng Nazareth dạy rằng Thiên Chúa cũng cứu bằng những năm tháng không ai vỗ tay. Ở đó không có đám đông. Không có người ghi chép. Không có dấu lạ ngoạn mục. Có một mái nhà, một gia đình, một nghề lao động, một nhịp sống đều đặn. Hội Thánh đặt Thánh Gia trước mắt người tín hữu không phải để biến gia đình Nazareth thành một bức tranh tình cảm không có căng thẳng, nhưng để cho thấy Thiên Chúa đã muốn sống trong chính cấu trúc căn bản nhất của đời người: gia đình. Người giáo dân sống hôn nhân cần hiểu rằng đời sống vợ chồng không phải chướng ngại cho sự thánh thiện, miễn là hôn nhân được sống trong Đức Kitô. Chính sự trung tín mỗi ngày, sự tha thứ, việc đón nhận sự sống, giáo dục con cái, cùng nhau chịu những giai đoạn khó khăn, cùng nhau trưởng thành, chăm sóc nhau lúc bệnh tật và già yếu là vật liệu của sự thánh thiện. Không có lý do gì để một người mẹ nghĩ rằng mình chỉ gặp Chúa khi đọc kinh sau khi con đã ngủ; chính lúc bồng đứa trẻ khóc, nếu bà yêu trong Đức Kitô, bà cũng đang sống một hình thức tự hiến rất thật. Không có lý do gì để người cha nghĩ rằng bổn phận kiếm sống chỉ là một gánh nặng ngoài đời thiêng liêng; nếu ông làm việc cách lương thiện để phục vụ gia đình, không tôn thờ công việc nhưng cũng không trốn tránh trách nhiệm, lao động ấy có thể trở thành một phần lễ dâng đời ông.
Đức Giêsu đã lao động. Sự kiện tưởng đơn giản này mang chiều sâu thần học rất lớn. Người không chỉ nói những dụ ngôn về người thợ; Người đã sống trong thế giới của lao động. Người biết giá của vật liệu, biết công việc đòi thời gian, biết mồ hôi, biết sự mệt của thân xác. Lao động vì thế không chỉ là cách kiếm tiền. Trong kế hoạch của Thiên Chúa, con người cộng tác vào việc chăm sóc tạo thành, làm phát triển các khả năng của thế giới, phục vụ người khác và xây dựng xã hội. Nhưng lao động cũng mang vết thương của tội lỗi: bóc lột, bất công, cạnh tranh vô độ, nghiện thành tích, coi con người như công cụ, biến công việc thành thần tượng. Chính ở đây giáo dân có một trách nhiệm mà không linh mục nào có thể thay thế họ. Một linh mục có thể giảng về công bằng xã hội; nhưng chính người giáo dân là chủ doanh nghiệp phải quyết định trả lương thế nào, người quản lý phải quyết định đối xử với nhân viên ra sao, người kỹ sư phải quyết định có ký vào hồ sơ sai không, người kế toán phải quyết định có làm hai sổ không, người công nhân phải quyết định có gian dối trong giờ làm không. Những nơi ấy không phải vùng ngoại biên của đời Kitô hữu. Đó chính là nơi Đức Kitô chờ được nhập thể qua đời sống của người đã chịu phép Rửa.
Nhập Thể cũng phục hồi giá trị của thân xác. Kitô giáo không phải tôn giáo ghét thân xác. Thân xác có thể bị tội lỗi sử dụng, nhưng thân xác tự nó không phải tội. Ngôi Lời đã mang thân xác. Người đói, khát, mệt, ngủ, chạm vào người bệnh, để người khác chạm đến mình, khóc trước mộ Lazarô, đau đớn trong cuộc Khổ nạn và sống lại trong thân xác được biến đổi. Điều này có hậu quả lớn cho linh đạo giáo dân. Chăm sóc sức khỏe không phải ích kỷ nếu được đặt đúng chỗ. Nghỉ ngơi không phải thiếu thiêng liêng. Niềm vui của bữa cơm gia đình, vẻ đẹp của thiên nhiên, nghệ thuật, thể thao, âm nhạc, tình bạn, tình yêu vợ chồng đều có thể được đón nhận như quà tặng, với sự thanh sạch và lòng biết ơn. Một linh đạo luôn nghi ngờ niềm vui của con người dễ biến Kitô giáo thành một đời sống co rút. Nhưng ngược lại, thân xác cũng không phải thần tượng. Cơ thể đẹp, khoái cảm, sức khỏe, tuổi trẻ đều hữu hạn. Người Kitô hữu trân trọng thân xác vì nó thuộc về Chúa, chứ không tôn thờ thân xác như cùng đích. Chính Nhập Thể cho phép ta tránh cả hai cực đoan: khinh thân xác và thần thánh hóa thân xác.
Đức Kitô còn thánh hóa những tương quan rất cụ thể. Người không cứu con người như những cá thể đóng kín. Người có Mẹ. Người gọi môn đệ. Người đến nhà bạn hữu. Người ăn với người khác. Người để những người phụ nữ đồng hành và phục vụ đoàn truyền giáo. Người khóc với Maria và Martha. Người nhìn người thanh niên giàu có với tình yêu. Người gọi Dakêu xuống khỏi cây và tự mời mình vào nhà ông. Người ăn với những người mà xã hội đạo đức không muốn ngồi cùng bàn. Những trang Tin Mừng đầy bàn ăn và khuôn mặt. Bởi đó, người giáo dân không thể xây một đời thiêng liêng chỉ bằng kinh nguyện cá nhân mà bỏ quên nghệ thuật sống với người khác. Có người đọc kinh rất nhiều nhưng cả nhà sợ nói chuyện với họ. Có người đi lễ mỗi ngày nhưng nhân viên dưới quyền không chịu nổi cách họ đối xử. Có người thuộc nhiều kinh nhưng không biết xin lỗi vợ. Có người hoạt động giáo xứ rất hăng nhưng nhiều năm không nói chuyện với anh em ruột. Mầu nhiệm Nhập Thể buộc linh đạo trở về những khuôn mặt thật. Đức tin phải có khả năng đi từ bàn thờ đến bàn ăn gia đình, từ nhà nguyện đến văn phòng, từ việc rước Mình Thánh Chúa đến cách chúng ta nói với người làm công, người phục vụ, người nghèo, người già, trẻ em và cả người làm ta khó chịu.
Không phải ngẫu nhiên mà rất nhiều cuộc gặp quan trọng của Đức Giêsu diễn ra ngoài nơi phụng tự. Người nói với người phụ nữ Samari bên giếng. Người gọi Mátthêu tại bàn thu thuế. Người gặp Dakêu trên đường. Người chữa người mù bên vệ đường. Người gặp các môn đệ trên hồ. Người giảng trên núi, ngoài đồng, trong nhà. Người phục sinh hiện ra với hai môn đệ trên đường Emmaus và được nhận ra khi bẻ bánh trong một căn nhà. Điều đó không hạ thấp Đền Thờ hay phụng tự; chính Đức Giêsu dự lễ, lên Đền Thờ, đọc Kinh Thánh trong hội đường. Nhưng Tin Mừng cho thấy Thiên Chúa không bị nhốt trong nơi thánh. Chính nơi thánh sai người tín hữu trở lại đời. Thánh lễ Chúa Nhật đạt tới một phần ý nghĩa của nó khi người giáo dân bước ra khỏi nhà thờ và trở về những nơi mà chỉ họ mới có thể mang Tin Mừng tới. Nếu sau Thánh lễ, người ta vẫn gian lận như cũ, khinh người nghèo như cũ, nói dối trong kinh doanh như cũ, coi thường vợ chồng như cũ, xúc phạm người dưới quyền như cũ, thì vấn đề không phải Thánh lễ thiếu sức mạnh; vấn đề là chúng ta đã dựng một bức tường giữa bàn thờ và đời sống.
Đức Kitô nhập thể còn cho thấy Thiên Chúa không ngại những thực tại xã hội phức tạp. Người sống dưới một đế quốc. Người biết thuế, quyền lực, bất công, giới lãnh đạo tôn giáo, phân tầng xã hội và xung đột dân tộc. Người không lập một đảng chính trị, nhưng cũng không rao giảng một đức tin vô can với đời xã hội. Khi nói về người Samari nhân hậu, Người đụng tới ranh giới dân tộc và tôn giáo. Khi đặt trẻ nhỏ giữa các môn đệ, Người đảo lộn thang giá trị về quyền lực. Khi nói người lớn nhất phải làm người phục vụ, Người thách thức cách con người tổ chức quyền bính. Khi bảo trả cho Caesar điều thuộc Caesar và trả cho Thiên Chúa điều thuộc Thiên Chúa, Người vừa nhìn nhận một trật tự chính trị tương đối vừa phủ nhận quyền tuyệt đối của Caesar. Caesar không phải Thiên Chúa. Bởi đó, người giáo dân tham gia chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội không phải đang bước ra khỏi lãnh vực Kitô giáo. Họ đang bước vào chính những nơi cần được soi bằng lương tâm Kitô hữu. Nhưng họ phải làm điều đó như giáo dân trưởng thành, không lấy danh Hội Thánh làm bình phong cho phe phái, cũng không để đức tin bị treo ngoài cửa khi bước vào đời công.
Đây là lý do linh đạo giáo dân luôn cần một thần học đúng về thế giới. Thế giới trong Kinh Thánh có nhiều nghĩa. Có thế giới là công trình tạo dựng được Thiên Chúa yêu đến nỗi ban Con Một. Có thế gian như hệ thống tội lỗi chống lại Thiên Chúa, được tổ chức quanh dục vọng, quyền lực, kiêu ngạo và dối trá. Người giáo dân phải yêu thế giới theo nghĩa thứ nhất và không thuộc về thế gian theo nghĩa thứ hai. Nếu không phân biệt, người ta hoặc ghét thế giới Thiên Chúa yêu, hoặc yêu thế gian mà Tin Mừng cảnh báo. Đức Giêsu cầu nguyện cho các môn đệ không phải để Chúa Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng để gìn giữ họ khỏi Ác thần. Câu ấy gần như có thể được đặt ở đầu mọi nền linh đạo giáo dân: không cất khỏi thế gian, nhưng được gìn giữ trong thế gian và được sai vào thế gian. Đó là một sự hiện diện có phân định. Không chạy trốn. Không hòa tan.
Người giáo dân vì thế cần học một nghệ thuật rất khó: ở gần mà không bị nuốt. Có gia đình nhưng không biến gia đình thành thần tượng. Có tiền nhưng không để tiền làm chủ. Có nghề nghiệp nhưng không lấy chức danh làm căn tính cuối cùng. Có quyền lực nhưng dùng nó để phục vụ. Có tiếng nói nhưng không dùng tiếng nói để nghiền người khác. Có mạng xã hội nhưng không để thuật toán định nghĩa lòng mình. Có thành tựu nhưng không coi thành tựu là bằng chứng rằng mình đáng giá hơn người khác. Có thất bại nhưng không nghĩ thất bại đã lấy mất phẩm giá của mình. Có những niềm vui của thế gian nhưng không quên niềm vui lớn hơn. Có những đau khổ của đời nhưng không tuyệt vọng như người không có hy vọng. Chính đây là hình thức “khổ hạnh” đặc biệt của nhiều giáo dân: không nhất thiết rời bỏ của cải, nhưng học sử dụng nó mà không bị nó chiếm hữu; không nhất thiết rời gia đình, nhưng học yêu gia đình trong Chúa thay vì chiếm hữu gia đình; không nhất thiết rời xã hội, nhưng học sống giữa xã hội mà không bán lương tâm cho xã hội.
Mầu nhiệm Nhập Thể còn sửa một sai lầm khác: tưởng rằng Thiên Chúa chỉ hiện diện trong những việc ngoạn mục. Đức Giêsu kể Nước Thiên Chúa bằng những hình ảnh rất nhỏ: hạt cải, chút men, đồng tiền bị mất, người đàn bà quét nhà, người gieo giống, người chăn chiên, người cha có hai con, người làm vườn nho, người chủ thuê thợ. Người lấy nguyên liệu của thần học từ chính đời sống bình thường. Điều ấy không ngẫu nhiên. Người cho thấy ân sủng có thể hoạt động trong cái nhỏ. Một người giáo dân không cần làm điều vĩ đại mới sống một ơn gọi lớn. Thiên Chúa có thể xây Nước Người qua hàng chục năm một người mẹ dạy con làm dấu Thánh Giá trước khi ngủ, một người cha giữ lời, một người giáo viên không bỏ học sinh yếu, một y tá đối xử tử tế với bệnh nhân không tiền, một người trẻ từ chối chia sẻ một tin làm nhục người khác, một người chủ không đẩy hết rủi ro xuống người lao động, một gia đình vẫn mở cửa cho một người cô đơn. Nước Thiên Chúa thường lớn lên bằng những hành vi mà không thuật toán nào đo được và không bản tin nào đăng.
Điều ấy giải phóng người giáo dân khỏi tâm lý phải luôn “làm việc nhà thờ” mới chứng minh mình đạo đức. Có những giáo dân hoạt động rất nhiều trong giáo xứ vì thật sự được Chúa gọi và đó là ân huệ lớn. Nhưng cũng có những người mang mặc cảm vì không thể tham gia nhiều. Họ đi làm xa, nuôi con nhỏ, chăm người bệnh, làm ca đêm, có trách nhiệm nghề nghiệp lớn. Nếu không được đào tạo đúng, họ có thể nghĩ mình là Kitô hữu hạng hai. Không. Giáo xứ là nơi quy tụ, nuôi dưỡng và sai đi; giáo xứ không phải toàn bộ cánh đồng sứ vụ của giáo dân. Một nữ giáo dân dành thứ Bảy chăm mẹ già có thể đang làm một việc rất phù hợp Tin Mừng hơn là bỏ mẹ ở nhà để chạy đến một cuộc họp không thật cần thiết. Một người cha không tham gia được một hội đoàn vì phải dành thời gian cho con mình không nhất thiết kém nhiệt thành. Điều quan trọng là phân định đâu là bổn phận và lời gọi thật của Chúa. Không phải mọi hoạt động mang nhãn Công giáo đều quan trọng hơn mọi bổn phận đời thường.
Ở đây cần nhắc một nguyên tắc cổ điển của truyền thống Kitô giáo: ân sủng không phá hủy tự nhiên nhưng chữa lành và kiện toàn tự nhiên. Đức tin không làm người ta bớt người. Nếu một linh đạo khiến người ta cầu nguyện nhiều hơn nhưng vô trách nhiệm hơn với gia đình, đó là một dấu hỏi. Nếu hoạt động mục vụ làm người ta nhiệt tình ngoài giáo xứ nhưng bỏ bê lời hứa trong hôn nhân, cần phân định lại. Nếu một người nói về lòng thương xót rất hay nhưng đối xử tàn nhẫn với nhân viên, có sự đứt gãy. Ân sủng thật không làm con người bay khỏi trách nhiệm; nó cho họ sức sống trách nhiệm trong chân lý và tình yêu. Đức Giêsu không trở thành kém thần linh khi làm người. Và người Kitô hữu không trở thành kém thiêng liêng khi trở nên nhân bản hơn theo nghĩa chân thật: biết nghe, biết xin lỗi, biết giữ lời, biết làm việc tử tế, biết nghỉ ngơi đúng mức, biết chăm sóc thân thể, biết tôn trọng giới hạn của người khác, biết dùng tiền có trách nhiệm, biết sống công bằng.
Nhập Thể cũng cho thấy Thiên Chúa đi vào một thế giới không hoàn hảo. Gia đình Nazareth phải trốn sang Ai Cập. Đức Giêsu lớn lên trong một quê hương bị chiếm đóng. Người gặp bệnh tật, nghèo đói, tang tóc, bất công, loại trừ, phản bội. Bởi đó, nói người giáo dân gặp Chúa trong đời thường không có nghĩa đời thường lúc nào cũng dễ chịu. Có những gia đình là nơi đau đớn. Có nghề nghiệp làm người ta kiệt sức. Có môi trường công sở độc hại. Có hôn nhân trải qua khủng hoảng. Có những đứa con làm cha mẹ khóc. Có những người giáo dân sống giữa hệ thống tham nhũng đến mức giữ lương tâm có giá rất đắt. Có người bệnh nhiều năm. Có người thất nghiệp. Có người chăm người thân không còn nhận ra mình. Mầu nhiệm Nhập Thể không lãng mạn hóa những điều ấy. Nó nói rằng không có vùng nào của kiếp người mà Đức Kitô từ chối bước vào. Hang đá Bêlem nghèo. Đường sang Ai Cập bất an. Nazareth nhỏ bé. Gethsemane đầy sợ hãi. Golgotha đầy đau đớn. Nếu Thiên Chúa đã có mặt ở đó, thì sự hiện diện của Người không bị giới hạn vào những lúc đời ta yên.
Chính vì vậy, linh đạo giáo dân không thể chỉ là “tìm Chúa trong những điều dễ thương của đời sống”. Nó còn là nhận ra thập giá nằm bên trong trách nhiệm. Có những thập giá không do ta chọn: bệnh tật, thất bại, mất việc, phản bội, tuổi già, con cái đau yếu. Có những thập giá là hệ quả của việc trung thành: nói thật có thể mất lợi ích, từ chối tham nhũng có thể bị cô lập, bảo vệ người yếu có thể mất quan hệ, giữ hôn nhân có thể đòi một hành trình tha thứ rất dài. Nhưng cũng phải cẩn thận: không phải mọi đau khổ đều là thập giá Chúa gửi. Có đau khổ do bất công phải đấu tranh để chấm dứt; có bạo hành không được thần thánh hóa; có cơ cấu xấu cần thay đổi. Nhập Thể và Thập Giá không dạy người Kitô hữu ca ngợi đau khổ vì chính đau khổ. Chúng cho thấy Thiên Chúa có thể hiện diện và cứu độ ngay cả trong đau khổ, đồng thời mời con người chống lại điều làm hạ thấp phẩm giá con người.
Ở tận cùng, mầu nhiệm Nhập Thể dẫn đến Phục Sinh. Thân xác mà Ngôi Lời mang lấy không bị bỏ lại như một bộ quần áo đã dùng xong. Đức Kitô sống lại. Điều đó cho thấy vật chất, thân xác, lịch sử và tạo thành không phải những thứ cuối cùng sẽ bị vứt bỏ để linh hồn trốn sang một thế giới khác. Toàn bộ tạo thành được hướng tới biến đổi trong Đức Kitô. Chính viễn tượng này cho người giáo dân lý do để chăm sóc thế giới. Nếu trái đất chỉ là phòng chờ trước thiên đàng, tại sao phải bảo vệ nó? Nếu công bằng xã hội không liên quan đời đời, tại sao phải đấu tranh? Nếu nghệ thuật, khoa học, văn hóa, lao động không có phẩm giá, tại sao phải làm chúng tốt? Nhưng nếu Đức Kitô là Đấng qua Người mọi sự được tạo thành và trong Người mọi sự sẽ được quy tụ, thì việc chăm sóc tạo thành, làm công việc cách tốt đẹp, xây dựng xã hội công bằng, phát triển văn hóa nhân bản đều có thể trở thành những hình thức cộng tác vào công trình Thiên Chúa, dù Nước Thiên Chúa không bao giờ đồng nhất với bất kỳ thành tựu trần thế nào.
Đây cũng là lý do người giáo dân cần tránh một thứ bi quan tôn giáo coi thế giới như con tàu đang chìm nên chỉ cần cứu vài linh hồn lên xuồng. Thế giới bị thương bởi tội lỗi, đúng. Lịch sử không tự động tiến về tốt đẹp, đúng. Không một hệ thống chính trị, công nghệ hay kinh tế nào tự cứu được nhân loại, đúng. Nhưng Kitô giáo vẫn là tôn giáo của tạo dựng, Nhập Thể và Phục Sinh. Thiên Chúa yêu thế giới. Đức Kitô đã đổ máu cho thế giới. Thánh Thần vẫn hoạt động trong lịch sử. Vì thế người giáo dân không được phép khoanh tay. Họ xây trường học tốt, bệnh viện tốt, doanh nghiệp công bằng, nghệ thuật đẹp, khoa học có đạo đức, chính trị phục vụ công ích, gia đình lành mạnh, môi trường sống nhân bản không phải vì tưởng rằng những điều ấy tự nó là Nước Trời, nhưng vì Nước Trời đã bắt đầu gieo hạt trong lịch sử và vì mọi sự thật, thiện hảo, công bằng, đẹp đẽ đều có tương quan với Đấng là Chân, Thiện, Mỹ tuyệt đối.
Một giáo dân trưởng thành vì thế có thể quỳ rất sâu trước Nhà Tạm và đứng rất thẳng giữa xã hội. Hai điều không đối nghịch. Chính vì quỳ trước Thiên Chúa nên họ không quỳ trước tiền bạc. Chính vì thờ phượng Thiên Chúa nên họ không thờ quyền lực. Chính vì biết mình được Thiên Chúa yêu nên họ không cần bán lương tâm để được người ta công nhận. Chính vì tin vào đời sau nên họ có tự do để phục vụ đời này mà không tuyệt vọng khi không thấy kết quả hoàn hảo. Chính vì biết lịch sử thuộc về Đức Kitô nên họ có thể kiên nhẫn gieo những hạt rất nhỏ của công bằng mà không cần mình phải nhìn thấy toàn bộ mùa gặt.
Thánh Thể là nơi mầu nhiệm ấy được cô đọng đặc biệt. Bánh và rượu, hoa màu của ruộng đất và lao công của con người, được mang lên bàn thờ. Không phải ngẫu nhiên phụng vụ dùng những thực tại bình thường của tạo thành và lao động. Bánh mang trong nó đất, mưa, nắng, hạt giống, bàn tay người gieo, người gặt, người xay, người nướng. Rượu mang trong nó vườn nho, mùa vụ, lao động, thời gian. Trong Thánh Thể, Đức Kitô trao chính mình và quy tụ đời người vào hy lễ của Người. Rồi cuối lễ, cộng đoàn được sai đi. Không phải sai về nhà như người vừa hoàn tất một nghĩa vụ tôn giáo, nhưng sai trở lại thế giới để sống điều đã cử hành. Người giáo dân đem bàn thờ vào tuần lễ không phải bằng cách dựng bàn thờ trong văn phòng, nhưng bằng cách biến đời mình thành lễ dâng: làm việc công bằng, yêu thương, phục vụ, tha thứ, nói thật, chịu khó, chăm người yếu, sử dụng của cải theo Tin Mừng. “Lễ tế thiêng liêng” của giáo dân không nằm ngoài đời họ; chính đời họ, kết hợp với Đức Kitô, trở thành lễ dâng.
Có thể nói người giáo dân sống giữa hai bàn: bàn Thánh Thể và bàn đời. Tại bàn Thánh Thể, họ nhận Đức Kitô. Tại bàn gia đình, bàn họp, bàn làm việc, bàn ăn với người nghèo, họ được mời trao điều mình đã nhận. Nếu hai bàn không nối với nhau, linh đạo sẽ bị chia cắt. Thánh lễ Chúa Nhật không thể bù cho một tuần sống bất công mà không hoán cải. Nhưng cũng không thể nghĩ một tuần làm người tốt đủ để không cần Thánh Thể. Người giáo dân vừa cần bàn thờ vừa cần thế giới. Họ được nuôi ở bàn thờ để được sai vào thế giới, và họ mang cả thế giới trở lại bàn thờ trong lời cầu, lễ vật và đời sống mình.
Vì thế, khi hỏi: “Người giáo dân nên thánh ở đâu?”, câu trả lời đầu tiên không phải “trong nhà thờ”, cũng không phải “ngoài xã hội”. Câu trả lời là: trong Đức Kitô, ngay tại nơi họ được sai sống. Có lúc đó là nhà thờ. Có lúc là nhà bếp. Có lúc là công ty. Có lúc là bệnh viện. Có lúc là phòng họp. Có lúc là ruộng đồng. Có lúc là bàn học với đứa con. Có lúc là giường bệnh của người mẹ già. Có lúc là nơi bỏ phiếu, phòng thí nghiệm, công trường xây dựng, lớp học, studio nghệ thuật, cửa hàng, chiếc xe chở khách. Không nơi nào tự động thánh. Nhưng không nơi nào bị loại khỏi khả năng được thánh hóa, nếu con người sống ở đó trong Đức Kitô.
Đây cũng là một tiêu chuẩn phân định rất thực tế. Một linh đạo càng làm người giáo dân xa trách nhiệm đời thường, càng cần được xem xét. Nếu sau nhiều năm sống đạo, một người trở nên khó sống hơn trong gia đình, ít có trách nhiệm hơn trong nghề nghiệp, ít nhạy cảm hơn với người nghèo, ít quan tâm hơn đến công bằng và sự thật, thì có điều gì đó đang sai. Ngược lại, nếu đời sống cầu nguyện làm họ hiền hơn nhưng không yếu đuối, công bằng hơn nhưng không kiêu căng, can đảm hơn nhưng không hung hăng, yêu gia đình hơn nhưng không chiếm hữu, làm việc tốt hơn nhưng không nghiện công việc, sử dụng tiền khôn ngoan hơn nhưng không tham lam, thì ân sủng đang thật sự nhập thể vào đời.
Người giáo dân không cần biến văn phòng thành tu viện để nên thánh. Họ cần để Đức Kitô có mặt trong văn phòng qua lương tâm mình. Không cần biến gia đình thành một nhà dòng. Họ cần để tình yêu của Đức Kitô định hình cách vợ chồng, cha mẹ và con cái sống với nhau. Không cần biến chính trị thành phụng vụ. Họ cần đem các nguyên tắc về phẩm giá con người, công ích, liên đới, bổ trợ, công bằng và ưu tiên cho người nghèo vào quyết định công dân. Không cần biến kinh doanh thành buổi giáo lý. Họ cần làm kinh doanh mà không biến người thành món hàng. Không cần viết câu Kinh Thánh trên mọi sản phẩm để chứng tỏ mình Công giáo. Họ cần làm sản phẩm tốt, trung thực, có ích và không gây hại. Đó là một Kitô giáo nhập thể hơn nhiều so với việc trang trí ngôn ngữ đạo đức bên ngoài một cách sống vẫn bị tiền bạc và ích kỷ điều khiển.
Đức Kitô nhập thể cũng dạy rằng sự thánh thiện không làm người ta trở nên xa lạ với con người. Người thánh thiện nhất lại là Đấng nhân bản nhất. Người có thể dự tiệc cưới. Có thể để trẻ nhỏ đến gần. Có thể khóc. Có thể đói. Có thể mệt đến ngủ giữa cơn bão. Có thể ăn với bạn hữu. Có thể nói những lời rất dịu dàng và những lời rất mạnh. Có thể thấy vẻ đẹp của hoa huệ ngoài đồng và con chim sẻ nhỏ. Có thể kể chuyện bằng hạt giống, đồng tiền, cánh đồng, cá, bánh, đèn, cửa, cây nho. Đức Giêsu không sống như thể thế giới vật chất là điều phiền toái cần bỏ qua. Một linh đạo giáo dân lành mạnh vì thế phải làm người ta sống sâu hơn, chứ không sống mỏng hơn; biết thấy điều nhỏ, biết cảm ơn, biết vui mà không phóng túng, biết buồn mà không tuyệt vọng, biết làm việc và biết nghỉ, biết cầu nguyện và biết lắng nghe người bên cạnh.
Có lẽ một trong những câu hỏi tốt nhất người giáo dân có thể tự hỏi cuối ngày không phải chỉ là: “Hôm nay tôi đã đọc bao nhiêu kinh?”, nhưng còn: “Hôm nay Đức Kitô có thể nhập thể qua cách tôi sống ở đâu?” Người khác có gặp sự thật của Người trong lời tôi nói không? Có gặp lòng thương xót của Người trong cách tôi nhìn họ không? Có gặp công bằng của Người trong quyết định của tôi không? Có gặp sự kiên nhẫn của Người trong gia đình tôi không? Có gặp sự tự do của Người trong cách tôi dùng tiền không? Có gặp sự khiêm nhường của Người trong cách tôi dùng quyền lực không? Có gặp tình yêu đối với người yếu thế trong cách tôi xử lý công việc không? Những câu hỏi ấy đưa mầu nhiệm Nhập Thể ra khỏi sách thần học và đặt nó vào chính lịch làm việc ngày mai.
Cuối cùng, người giáo dân không được gọi để trở thành người của hai thế giới tách biệt: một người Công giáo trong nhà thờ và một con người khác ngoài đời. Ơn gọi của họ là để Đức Kitô thống nhất cả hai. Cùng một người quỳ trước bàn thờ và ký hợp đồng. Cùng một lương tâm rước lễ và trả lương. Cùng một trái tim đọc Tin Mừng và nuôi con. Cùng một đức tin cầu nguyện và bỏ phiếu. Cùng một tình yêu đi lễ và chăm người bệnh. Cùng một người thuộc về Chúa và sống giữa thế gian. Chính sự thống nhất ấy là dấu chỉ của một đời sống đã được Tin Mừng thấm vào.
Đức Kitô không cứu thế giới bằng cách đứng ngoài thế giới. Người cứu thế giới bằng cách bước vào nó, mang lấy nó, yêu nó, chịu những vết thương của nó, chết trong nó và sống lại để mở cho nó một tương lai mới. Người giáo dân, trong mức độ riêng của mình, cũng được sai theo cùng một chuyển động ấy. Không chạy khỏi đời. Không thần tượng đời. Không sợ đời. Không hòa tan vào đời. Đi vào đời với Đức Kitô, ở giữa đời trong Đức Kitô, yêu đời bằng trái tim Đức Kitô, phân định đời dưới ánh sáng Đức Kitô, và góp phần đưa những thực tại của đời về với Đức Kitô.
Đó là linh đạo Nhập Thể của giáo dân. Không phải một linh đạo làm họ ít thuộc về Thiên Chúa hơn vì họ sống giữa thế gian, nhưng chính vì thuộc về Thiên Chúa mà họ có thể thực sự phục vụ thế gian. Không phải một linh đạo biến đời thường thành vật cản phải vượt qua, nhưng nhận ra đời thường là cánh đồng được trao. Không phải một linh đạo khép con người vào nhà thờ, nhưng từ nhà thờ sai họ trở lại gia đình, công sở, trường học, bệnh viện, chợ, mạng xã hội, chính trường, phòng thí nghiệm, xưởng máy và mọi nơi con người đang sống.
Con Thiên Chúa đã làm người. Từ giây phút ấy, không một điều gì thật sự thuộc về con người mà còn có thể bị chúng ta coi là không đáng để Tin Mừng chạm tới.
Và đó chính là niềm vui cũng như trách nhiệm lớn lao của người giáo dân: Đức Kitô đã nhập thể giữa đời; người giáo dân được sai để đời tiếp tục được Người chạm tới.
CHƯƠNG 11. MẦU NHIỆM VƯỢT QUA TRONG LỊCH LAO ĐỘNG VÀ GIA ĐÌNH
Có một cách nói về linh đạo rất dễ làm người giáo dân mệt thêm: nói như thể đời sống thiêng liêng là một tầng khác được đặt lên trên cuộc sống vốn đã quá nặng của họ. Người ta đi làm tám tiếng, mười tiếng, có khi mười hai tiếng, rồi trở về với tiền học của con, thuốc của cha mẹ già, hóa đơn điện nước, một cuộc hôn nhân đang cần được chăm sóc, một đứa trẻ đang bước vào tuổi nổi loạn, một người thân bệnh kéo dài, một khoản nợ chưa biết lấy đâu trả, rồi lại được nghe rằng phải “có thêm đời sống thiêng liêng”. Nếu hiểu linh đạo theo nghĩa ấy, người giáo dân sẽ luôn cảm thấy mình thiếu: thiếu giờ cầu nguyện, thiếu thinh lặng, thiếu việc đạo đức, thiếu những khoảng tĩnh tâm dài, thiếu một đời sống giống với tu viện. Nhưng linh đạo Kitô giáo không phải một món đồ trang trí được đặt thêm lên một đời sống đã có sẵn. Linh đạo là chính cách người Kitô hữu sống đời sống ấy trong Đức Kitô. Và trung tâm của đời sống Đức Kitô là mầu nhiệm Vượt Qua: Người đã chịu chết và đã sống lại. Vì thế, đời sống thiêng liêng của người giáo dân không thể chỉ được tìm trong những giờ họ thoát ra khỏi lao động và gia đình để cầu nguyện. Nó phải được nhận ra ngay trong những chu kỳ chết và sống, mất và được, buông và nhận, đau đớn và hy vọng, thất vọng và bắt đầu lại đang diễn ra từng ngày trong căn nhà, nơi làm việc, bàn ăn, bệnh viện, lớp học, công ty, ruộng đồng, công trường, quầy hàng, văn phòng và trong chính trái tim họ. Người Kitô hữu không chỉ “nhớ” mầu nhiệm Vượt Qua trong Tuần Thánh. Họ được gọi sống mầu nhiệm ấy trong lịch làm việc của mình, trong lịch gia đình của mình, trong những chuyện rất nhỏ mà không ai viết vào sách thiêng liêng nhưng lại làm nên phần lớn một đời người.
Đời giáo dân đầy những cái chết nhỏ. Một kế hoạch chuẩn bị nhiều tháng bỗng thất bại. Một cửa hàng thua lỗ. Một công ty cắt giảm nhân sự và tên mình nằm trong danh sách. Một người đã trung thành với nghề hai mươi năm bỗng thấy kỹ năng của mình bị xem là lỗi thời. Một người mẹ kỳ vọng rất nhiều vào con rồi nghe tin con làm điều khiến bà xấu hổ. Một người cha âm thầm làm lụng bao năm nhưng đến một ngày nhận ra con cái nhớ đến tiền mình đưa nhiều hơn nhớ đến mình. Một đôi vợ chồng từng nói với nhau rất nhiều nay ngồi cạnh nhau mà không biết nói gì. Một người bị chính người mình giúp quay lại làm tổn thương. Một tình bạn tưởng bền bỗng rạn vì quyền lợi. Một người trẻ đi phỏng vấn hết lần này đến lần khác mà vẫn không được nhận. Một người làm việc tử tế thấy người gian dối lại thăng tiến nhanh hơn. Một gia đình đang bình thường bỗng bước vào mùa bệnh tật. Một người ở tuổi trung niên nhìn lại và sợ rằng đời mình đã đi quá nửa mà những ước mơ lớn vẫn chưa thành. Những điều ấy không phải lúc nào cũng là bi kịch lớn. Nhiều khi chẳng ai ngoài người trong cuộc biết. Nhưng chính những cái chết nhỏ ấy làm con người mòn đi. Không có tang lễ cho một ước mơ thất bại. Không có vòng hoa cho một tình bạn vừa chết. Không có tiếng chuông nhà thờ cho một người vừa mất lòng tin vào một cộng sự. Không ai đến viếng khi một người nhận ra tuổi trẻ của mình đã qua. Không ai mặc áo tang cho một người mẹ vừa hiểu rằng mình không thể sống thay đời con. Vậy mà trái tim vẫn có tang. Đời sống thiêng liêng nếu chỉ nói đến những điều đẹp, cao, sáng mà không chạm vào những vùng tang chế âm thầm ấy thì chưa đủ là linh đạo Kitô giáo, bởi Đức Kitô không cứu con người bằng cách đứng bên ngoài đau khổ. Người đi vào đau khổ. Người không cứu thế giới bằng cách né ngày thứ Sáu Tuần Thánh. Người bước qua nó.
Nhưng ở đây phải phân biệt rất kỹ. Không phải mọi đau khổ tự nhiên đều là thập giá. Không phải cứ thất bại là đang “vác thập giá Chúa gửi”. Không phải cứ bị người khác đối xử tệ là nên đứng yên chịu đựng và gọi đó là thánh ý. Không phải mọi cơ chế bóc lột đều phải được thần thánh hóa bằng câu “Chúa thử thách”. Không phải người vợ bị bạo hành phải im lặng vì “hôn nhân là thập giá”. Không phải người lao động bị chủ quỵt lương phải coi đó là cơ hội hy sinh. Không phải một người tự hủy sức khỏe vì tham công tiếc việc rồi gọi sự kiệt quệ ấy là hy lễ. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ. Kitô giáo tôn thờ Đấng đã đi qua đau khổ bằng tình yêu. Thập giá không thiêng vì nó đau. Thập giá của Đức Kitô cứu độ vì trên đó có một tình yêu hoàn toàn tự hiến, một sự trung tín hoàn toàn với Chúa Cha và với nhân loại. Do đó, điều làm một đau khổ của người giáo dân trở thành thông phần vào Vượt Qua không phải đơn giản là mức độ nó đau, mà là cách người ấy sống nó trong đức tin, đức cậy và đức mến. Một thất bại có thể chỉ làm người ta cay độc. Nhưng cùng thất bại ấy, nếu được mang trong sự thật, cầu nguyện, trách nhiệm và tình yêu, có thể làm người ấy khiêm nhường hơn, tự do hơn, biết thương người thất bại hơn. Một căn bệnh có thể làm cả nhà quay sang trách móc nhau. Nhưng cũng căn bệnh ấy có thể dạy cả nhà chăm nhau, biết giới hạn của mình, biết quý một bữa ăn bình thường, biết xin lỗi, biết cầu nguyện. Một đứa con lầm đường có thể làm cha mẹ sống vì danh dự đến mức từ chối nó. Nhưng cũng hoàn cảnh ấy có thể làm cha mẹ học tình yêu giống tình yêu của người cha trong dụ ngôn đứa con hoang đàng: không gọi điều xấu là tốt, không phủ nhận sự thật, nhưng vẫn mở cửa cho một con người trở về. Mầu nhiệm Vượt Qua không biến sự dữ thành điều tốt. Nó làm điều kỳ diệu hơn: Thiên Chúa có thể đưa sự sống ra khỏi nơi sự dữ tưởng đã thắng.
Ở đây người giáo dân có một trường thần học mà sách vở không thể thay thế: gia đình. Gia đình là nơi người ta học Vượt Qua bằng hàng nghìn lần phải chết cho cái tôi mà không ai vỗ tay. Một thanh niên bước vào hôn nhân có thể tưởng tình yêu là tìm được người làm mình hạnh phúc. Rồi sau vài năm, anh bắt đầu hiểu tình yêu còn là thức dậy lúc hai giờ sáng khi con sốt dù sáng mai mình phải đi làm; là nhịn một câu đúng nhưng không cần nói đúng lúc người kia đang kiệt sức; là ngồi nghe lại một chuyện mình đã nghe nhiều lần vì hôm nay người bạn đời cần được nghe chứ không cần được sửa; là chịu khó đi làm về ngang chợ mua thứ nhỏ người kia cần; là thay đổi một thói quen vì thói quen ấy đang làm tổn thương người sống cùng mình; là tiếp tục trung tín khi cảm xúc không còn nóng như những năm đầu; là học xin lỗi khi lòng tự trọng muốn chứng minh mình đúng. Những cái chết như vậy không ồn ào. Không ai gọi chúng là anh hùng. Nhưng chính ở đó cái tôi cũ chết từng chút và một con người có khả năng hiệp thông được sinh ra. Thánh Phaolô nói người Kitô hữu được dìm vào cái chết của Đức Kitô để cùng sống một đời sống mới. Bí tích Rửa tội đã đặt quy luật ấy vào căn tính Kitô hữu. Hôn nhân, gia đình, nghề nghiệp, tương quan xã hội trở thành nơi quy luật ấy được thực hành bằng thịt xương.
Người cha cũng có những cuộc Vượt Qua riêng. Có một thời con nhỏ bám lấy cha, tin cha biết mọi thứ. Rồi đến tuổi con lớn, cha phải chịu cái chết của hình ảnh mình như trung tâm thế giới của con. Con bắt đầu có bạn, có ý kiến, có thất bại riêng, có chọn lựa mà cha không kiểm soát được. Nếu người cha không chấp nhận cái chết ấy, ông có thể biến tình thương thành kiểm soát. Ông muốn con mãi là đứa trẻ cần mình. Ông dùng tiền, quyền, kinh nghiệm hoặc mặc cảm tội lỗi để giữ con trong quỹ đạo ông định. Nhưng nếu biết sống mầu nhiệm Vượt Qua, người cha phải học một hình thức chết khác: chết cho nhu cầu kiểm soát để sinh ra trong tư cách người đồng hành. Ông vẫn là cha, vẫn nói điều đúng, vẫn đặt giới hạn khi cần, nhưng không đòi sống thay đời con. Có những người mẹ cũng phải đi qua Vượt Qua ấy khi con lập gia đình. Bao năm mẹ nấu cho con ăn, lo cho con từng chiếc áo, rồi một ngày phải chấp nhận trong đời con có một người khác đứng ở vị trí rất gần. Mẹ có thể biến mất mát ấy thành ganh đua, nhưng cũng có thể biến nó thành sự sinh nở lần thứ hai: lần đầu sinh con ra khỏi lòng mình; lần thứ hai sinh con ra khỏi sự chiếm hữu của mình. Đó là một cuộc Phục Sinh, bởi tình yêu từ chỗ nắm giữ được biến thành tình yêu ban tự do.
Người con cũng phải sống Vượt Qua với cha mẹ. Khi còn nhỏ, cha mẹ là những người gần như toàn năng. Lớn lên, người con dần thấy những giới hạn, vụng về, sai lầm, có khi cả những vết thương mà cha mẹ đã vô tình hoặc thực sự gây ra. Đến một tuổi nào đó, trưởng thành không chỉ là độc lập về tiền bạc. Trưởng thành còn là chấp nhận cha mẹ mình là con người. Có người mang cả đời một giấc mơ rằng một ngày cha mình sẽ thành người cha mình từng mong; mẹ mình sẽ nói câu xin lỗi mà mình chờ ba mươi năm; gia đình mình sẽ trở thành gia đình lý tưởng. Có những điều có thể chữa lành, phải cố chữa lành. Nhưng có những điều sẽ không bao giờ trở lại như mình muốn. Khi ấy cũng có một cái chết: cái chết của gia đình tưởng tượng. Nếu được sống trong ơn Chúa, cái chết ấy không dẫn đến lạnh lùng mà có thể mở ra lòng thương xót trưởng thành. Tha thứ không có nghĩa nói rằng điều sai chưa từng sai. Nó có nghĩa từ chối để điều sai ấy nắm quyền trên phần đời còn lại của mình. Đó cũng là Vượt Qua: từ ngôi mộ ký ức đi ra mà không cần phủ nhận ngôi mộ từng có.
Trong lao động, mầu nhiệm Vượt Qua hiện diện theo một cách khác. Lao động ban đầu trong Kinh Thánh không phải hình phạt. Con người được trao việc canh tác và gìn giữ vườn trước khi tội lỗi xuất hiện. Lao động thuộc về phẩm giá thụ tạo: con người tham dự vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa, làm cho thế giới sinh hoa trái, biến khả năng thành phục vụ, tạo ra của cải cần thiết cho bản thân, gia đình và xã hội. Nhưng sau tội lỗi, lao động mang dấu gai góc và mồ hôi. Vì thế lao động luôn có hai khuôn mặt: sáng tạo và nhọc nhằn, phẩm giá và nguy cơ nô lệ, niềm vui hoàn thành và nỗi sợ mất việc. Nếu linh đạo giáo dân chỉ nói “hãy thánh hóa công việc” theo nghĩa làm việc chăm chỉ hơn, nó sẽ vô tình tiếp tay cho một nền văn hóa đã quá tôn thờ năng suất. Thánh hóa công việc không đồng nghĩa biến mình thành máy làm việc có đọc kinh. Thánh hóa lao động trước hết là trả lao động về đúng chỗ trong kế hoạch của Thiên Chúa: một phương tiện phục vụ sự sống, không phải thần tượng nuốt sự sống. Có những người thành công trong nghề nhưng thất bại trong khả năng hiện diện. Họ có mặt trong mọi cuộc họp nhưng vắng mặt khỏi tuổi thơ của con. Họ trả được mọi hóa đơn nhưng không còn biết người vợ hoặc người chồng đang buồn điều gì. Họ luôn trả lời điện thoại của khách hàng mà không trả lời được câu hỏi của con. Đến một ngày họ nói: “Tôi làm tất cả cũng vì gia đình.” Có thể điều ấy thật. Nhưng nếu nhân danh gia đình mà cuối cùng không còn gia đình để sống cùng, lao động đã vượt quá chức năng phục vụ và bắt đầu trở thành ngẫu tượng.
Bởi thế, lao động có ngày thứ Sáu Tuần Thánh. Có những ngày mọi nỗ lực dường như không có kết quả. Một dự án sụp. Một quyết định sai phải trả giá. Một đồng nghiệp phản bội. Một cấp trên bất công. Một khách hàng xúc phạm. Một người phải rời khỏi nơi mình đã gắn bó nhiều năm. Có những người đi làm trong môi trường làm cạn dần lòng tự trọng: bị coi như con số, bị đo hoàn toàn bằng chỉ tiêu, bị yêu cầu nói dối, bóp méo báo cáo, bán thứ mình biết không tốt, im lặng trước điều sai vì “ai cũng làm vậy”. Ngày thứ Sáu của lao động không chỉ là mệt. Có khi là cuộc chiến lương tâm. Người Kitô hữu không được dạy rằng trung thực sẽ luôn đem lại lợi nhuận trước mắt. Có những lúc trung thực làm mất hợp đồng. Từ chối tham nhũng có thể làm mất cơ hội. Không hùa theo một nhóm để hạ người khác có thể làm mình bị cô lập. Nói một câu bảo vệ người yếu có thể làm con đường thăng tiến khó hơn. Ở đây thập giá trở nên rất cụ thể. Không phải thập giá của tưởng tượng, mà là cái giá của việc không bán lương tâm. Đức Kitô đã không xuống khỏi thập giá để chứng minh mình mạnh. Người Kitô hữu đôi khi cũng phải chấp nhận mất một phần lợi thế để không mất chính mình.
Nhưng đời lao động không thể chỉ có ngày thứ Sáu. Kitô giáo có ngày thứ Bảy. Giữa thập giá và Phục Sinh có sự yên lặng của mồ. Trong nhịp sống hiện đại, người ta rất sợ ngày thứ Bảy ấy. Người ta muốn mọi thời gian đều phải “có ích”. Nghỉ cũng phải tối ưu. Tập thể dục phải ghi số. Đi bộ phải đếm bước. Đi du lịch phải chụp đủ hình. Đọc sách phải biến thành kỹ năng. Ngồi chơi với con cũng có lúc bị biến thành một dự án giáo dục. Người ta mang logic năng suất vào cả lúc nghỉ. Nhưng Kinh Thánh đặt giới hạn vào lao động bằng ngày sabát. Thiên Chúa không nghỉ vì Người mệt. Ngày nghỉ tuyên xưng rằng công trình có thể được trao lại. Ta không phải Thiên Chúa. Thế giới không sụp nếu ta dừng tay. Công ty vẫn tồn tại khi ta tắt điện thoại vài giờ. Gia đình không cần một người cha kiếm tiền hai mươi bốn tiếng. Đứa trẻ không chỉ cần một người mẹ hữu ích. Có lúc nó chỉ cần mẹ ngồi đó. Ngày thứ Bảy của đời người là khả năng không làm gì để chứng minh giá trị. Nó dạy rằng giá trị của ta không hoàn toàn bằng sản lượng. Một người nghỉ ngơi đúng cách đang làm một hành vi đức tin: họ tuyên xưng rằng Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa trong lúc họ ngủ.
Có người không dám nghỉ vì sợ đối diện với chính mình. Khi bận, họ không nghe được nỗi trống rỗng bên trong. Khi lịch kín, họ không phải nghĩ đến một cuộc hôn nhân lạnh. Khi liên tục nhận thông báo, họ không phải ngồi với sự cô đơn. Vì vậy, ngày thứ Bảy cũng có thể đáng sợ. Thinh lặng làm nhiều điều bị che kín nổi lên. Nhưng chính ở đó mầu nhiệm Vượt Qua làm việc. Hạt giống nằm trong đất không tạo tiếng động. Ngôi mộ của Đức Kitô trong ngày thứ Bảy không cho môn đệ một dấu hiệu ngoạn mục nào. Thiên Chúa dường như im lặng. Có những mùa đời người cũng như vậy. Ta đã làm điều có thể, đã cầu nguyện, đã xin, đã tìm, nhưng chưa có câu trả lời. Một người chờ kết quả điều trị. Một gia đình chờ đứa con quay về. Một người thất nghiệp chờ cơ hội mới. Một người đang cố hàn gắn hôn nhân nhưng chưa thấy thay đổi. Một linh đạo quá nóng ruột sẽ buộc họ phải “nhìn thấy ý Chúa” ngay. Nhưng Vượt Qua có ngày thứ Bảy. Có những lúc đức tin không phải hiểu, mà là ở lại. Không phải giải thích, mà là không bỏ đi. Không phải nói “mọi chuyện đều tốt”, mà là nói “dù chưa biết chuyện này sẽ đi đâu, con vẫn không rời tay Chúa”.
Rồi có ngày Chúa Nhật. Kitô giáo không kết thúc ở thập giá. Nếu chỉ ca ngợi hy sinh mà thiếu Phục Sinh, linh đạo giáo dân dễ trở thành một thứ đạo đức chịu đựng. Người mẹ chịu, người cha chịu, công nhân chịu, người nghèo chịu, người bệnh chịu; ai chịu được nhiều thì tưởng là thánh hơn. Không. Tin Mừng là tin mừng của sự sống. Đức Kitô phục sinh không chỉ an ủi người đau khổ rằng hãy cố chịu thêm. Người mở một thế giới mới. Vì thế người giáo dân cần học nhận ra những phục sinh rất nhỏ. Một đứa con sau nhiều năm xa cách gọi về. Một đôi vợ chồng sau thời gian lạnh lẽo bắt đầu nói lại được một câu thật. Một người mất việc khám phá một khả năng mới. Một người từng bị phản bội vẫn dám tin người lần nữa. Một gia đình sau tang chế có ngày đầu tiên cùng cười mà không cảm thấy có lỗi. Một người bệnh không khỏi nhưng tìm lại bình an. Một doanh nhân từng chỉ nhìn lợi nhuận bắt đầu nhìn người lao động như con người. Một người cha từng nóng tính học được cách im mười giây trước khi nói. Một người mẹ từng kiểm soát con học cách cầu nguyện thay vì can thiệp vào mọi việc. Những điều ấy có thể không phải phép lạ theo nghĩa ngoại thường, nhưng đều là dấu chỉ một sự sống mới đang thắng dần những hình thức chết cũ.
Ngày Chúa Nhật là đỉnh của nhịp ấy. Đối với giáo dân, Thánh lễ Chúa Nhật không phải một bổn phận được nhét vào lịch cuối tuần vốn đã kín. Nó là nơi cả tuần được mang đến trước Chúa. Người bước vào nhà thờ không chỉ mang theo một cuốn sách kinh. Họ mang theo công việc chưa xong, cuộc cãi nhau tối qua, niềm vui của đứa con, hóa đơn chưa trả, bệnh của mẹ già, lo lắng về tuần tới, niềm vui vì vừa ký được hợp đồng, nỗi buồn vì vừa mất một khách hàng. Khi bánh và rượu được đem lên bàn thờ, cả vật chất của thế giới được tượng trưng ở đó: lúa mì của ruộng, nho của vườn, mồ hôi của người trồng, tay người xay, lao động của người vận chuyển, tiền của người mua, bàn tay của người chuẩn bị. “Hoa màu ruộng đất và công lao của con người” không phải câu văn trang trí. Đó là toàn bộ đời lao động được dâng. Người giáo dân đến Thánh lễ để công việc mình được đặt vào hy tế Đức Kitô, rồi từ Thánh lễ họ được sai trở lại công việc ấy. Nếu Thánh lễ không chạm gì đến cách họ trả lương, ký hợp đồng, dùng tiền, nói với nhân viên, chăm cha mẹ, sống với vợ chồng, thì sự nối kết giữa phụng vụ và đời sống đã bị gãy.
Chúa Nhật còn là lời phản kháng thiêng liêng chống một nền kinh tế muốn biến mọi ngày thành ngày sản xuất và tiêu thụ. Khi người Kitô hữu dành ngày Chúa Nhật cho Thánh Thể, gia đình, nghỉ ngơi, thăm viếng, phục vụ, họ tuyên bố rằng con người lớn hơn thị trường. Không phải thứ gì có thể kiếm tiền đều phải được khai thác đến cùng. Không phải giờ nào cũng phải bán. Không phải ngày nào cũng thuộc về khách hàng. Chúa Nhật nhắc người giáo dân rằng họ là con trước khi là nhân viên, là anh chị em trước khi là khách hàng, là thành viên Thân Thể Đức Kitô trước khi là một đơn vị kinh tế. Điều ấy đặc biệt quan trọng với những người buộc phải làm việc Chúa Nhật do nghề nghiệp và hoàn cảnh. Hội Thánh không coi thường họ. Bác sĩ trực, điều dưỡng, công nhân ca kíp, người phục vụ công cộng, lực lượng an ninh, người lao động nghèo không có quyền chọn giờ làm vẫn cần được giúp tìm lại tinh thần Chúa Nhật bằng những khoảng thờ phượng, nghỉ, gia đình và lòng biết ơn khả thi trong hoàn cảnh của mình. Luật lệ phụng vụ phải được giữ, nhưng mục vụ không thể mù trước thực tế lao động. Thiên Chúa không trở thành kẻ thù của người nghèo chỉ vì lịch làm việc của họ không đẹp.
Trong gia đình cũng có một tuần Vượt Qua. Có ngày thứ Sáu: những lúc hiểu lầm, bệnh tật, khủng hoảng tiền bạc, lỗi lầm của con, bất trung, mất mát, tang chế. Có ngày thứ Bảy: những mùa không biết phải làm gì nữa, chỉ có thể chờ, cầu nguyện và giữ nhau khỏi tan. Và có Chúa Nhật: bữa cơm lại có tiếng cười, người bệnh trở về, hai người làm hòa, đứa trẻ lớn thêm một chút, một sinh nhật được mừng, một đám cưới, một bí tích Rửa tội, một lần cả nhà cùng dự lễ sau nhiều ngày sóng gió. Gia đình Kitô hữu không phải gia đình không có thứ Sáu. Nó là gia đình không tuyệt đối hóa thứ Sáu. Nó biết ngôi mộ không có tiếng nói cuối cùng.
Điều nguy hiểm của con người khi đang ở ngày thứ Sáu là tưởng hôm nay chính là toàn bộ lịch sử. Một người vừa bị phản bội dễ nghĩ chẳng ai đáng tin. Một người thất nghiệp lâu dễ nghĩ mình vô dụng. Một cha mẹ có con sa ngã dễ nghĩ đời giáo dục của mình thất bại hoàn toàn. Một đôi vợ chồng đang khủng hoảng dễ nghĩ mọi năm tháng trước đó đều giả. Đau khổ có khả năng chiếm trọn tầm nhìn. Mầu nhiệm Vượt Qua dạy người Kitô hữu một cách nhìn khác: ngày thứ Sáu là thật, nhưng không phải là ngày cuối cùng. Kitô giáo không nói “đừng buồn”. Đức Maria dưới chân thập giá chắc chắn đã buồn. Kitô giáo không nói “mọi chuyện rồi sẽ ổn” theo nghĩa rẻ tiền. Có những vết thương không trở lại như cũ. Có người mất là mất thật. Có những gia đình sau biến cố không còn giống trước. Nhưng Phục Sinh không có nghĩa quay trở lại ngày trước thập giá. Đức Kitô phục sinh vẫn mang các dấu đinh. Sự sống mới không xóa lịch sử đau thương; nó biến lịch sử ấy thành một phần của căn tính đã được cứu chuộc. Người đã đi qua đau khổ cũng vậy. Có những vết sẹo ở lại. Nhưng sẹo không còn là vết thương đang chảy máu. Nó trở thành ký ức rằng mình đã đi qua và Chúa đã không bỏ mình.
Điều ấy đặc biệt quan trọng trong hôn nhân. Nhiều người mơ một đời sống vợ chồng “trở lại như ngày đầu”. Có những lúc không thể và cũng không cần. Sau hai mươi năm, sau con cái, bệnh tật, thử thách, tha thứ, tình yêu không cần trở về tuổi hai mươi. Nó được mời gọi phục sinh thành một hình thức trưởng thành hơn. Đức Kitô phục sinh không quay lại đời sống trước cuộc thương khó như thể chưa có gì xảy ra. Người bước vào một tình trạng mới. Hôn nhân cũng có thể như thế. Một cuộc khủng hoảng được chữa lành không nhất thiết đưa hai người về đúng chỗ cũ. Nó có thể đưa họ đến một tương quan thật hơn, ít ảo tưởng hơn, khiêm nhường hơn. Có những đôi sau biến cố mới lần đầu học nói thật. Có những cha mẹ sau khi con gặp nạn mới biết ngồi cạnh nhau cầu nguyện. Có những gia đình sau bệnh tật mới hiểu việc có nhau quan trọng hơn căn nhà đẹp. Đó là phục sinh không theo kịch bản mình từng viết, nhưng vẫn là phục sinh.
Lao động cũng có những cuộc phục sinh không phải lúc nào đồng nghĩa với thăng chức. Có người được thăng chức nhưng mất bình an. Có người bị giáng chức nhưng tìm lại gia đình. Có người mở doanh nghiệp thành công và nhận ra ơn gọi của mình là tạo việc làm tử tế cho người khác. Có người thất bại một nghề rồi tìm được nghề phù hợp hơn. Có người vẫn ở nguyên vị trí nhưng cách làm việc được phục sinh: trước kia làm vì chứng minh bản thân, nay làm để phục vụ; trước kia cạnh tranh vì sợ thua, nay biết cộng tác; trước kia dùng cấp dưới, nay đào tạo họ; trước kia đem việc về nhà mỗi tối, nay biết đóng máy để ăn cơm với con. Phục Sinh đôi khi không đổi hoàn cảnh. Nó đổi chủ thể sống hoàn cảnh ấy.
Người giáo dân cần được dạy rằng một phần quan trọng của linh đạo Vượt Qua là biết mất. Nền văn hóa hiện đại huấn luyện con người đạt, giữ, tăng, mở rộng, tích lũy. Tin Mừng dạy một quy luật nghịch lý: ai giữ mạng sống thì mất, ai mất mạng sống vì Đức Kitô thì được. Mỗi tuổi đời đều buộc ta mất một điều. Trẻ em mất tuổi thơ. Người trẻ mất dần những khả năng vô hạn để chọn một con đường cụ thể. Người kết hôn mất khả năng sống như người độc thân. Người có con mất một phần tự do cá nhân. Người trung niên mất tuổi trẻ. Người già mất sức khỏe, tốc độ, vai trò. Cha mẹ mất dần quyền kiểm soát con. Người lao động đến lúc phải nghỉ hưu mất vị trí từng định nghĩa mình. Nếu không có linh đạo Vượt Qua, mọi mất mát ấy chỉ là suy giảm. Nhưng trong Đức Kitô, mất có thể trở thành hình thức sinh ra. Người về hưu có thể khám phá mình không chỉ là chức danh. Người mẹ khi con ra riêng có thể tìm lại một ơn gọi phục vụ khác. Người lớn tuổi mất sức nhưng có thể tăng khả năng hiện diện, cầu nguyện, hòa giải. Kitô hữu không phủ nhận già đi. Họ học Vượt Qua qua việc già đi.
Ngay cả thành công cũng phải đi qua Vượt Qua. Đây là điều ít được nói. Người ta thường nghĩ chỉ thất bại cần thập giá. Nhưng thành công cũng nguy hiểm nếu cái tôi không chết. Khi thành công, con người dễ tin mình là nguồn của mọi điều. Một người làm ăn phát đạt có thể từ từ coi thường người thất bại. Một người con thành đạt có thể xấu hổ về cha mẹ nghèo. Một người có chức có thể bắt đầu nghĩ mọi người cần mình. Một chuyên gia giỏi có thể mất khả năng lắng nghe. Vì thế Vượt Qua trong thành công là biết trả vinh quang về đúng chỗ, biết chia sẻ hoa trái, biết không biến thành công thành căn tính tuyệt đối. Có những người chỉ cần một biến cố nhỏ để sụp vì cả giá trị bản thân đã buộc vào nghề nghiệp. Người Kitô hữu được mời gọi làm hết sức, phát triển tài năng, tìm sự xuất sắc, nhưng đồng thời biết nói: công việc là điều tôi làm, không phải toàn bộ điều tôi là. Tôi thuộc về Đức Kitô trước khi thuộc về một công ty. Tôi là con Thiên Chúa trước khi là người thành công hay thất bại.
Mầu nhiệm Vượt Qua cũng sửa một thứ linh đạo nguy hiểm trong gia đình: linh đạo của người luôn hy sinh nhưng âm thầm lập sổ nợ. Có người nói: “Tôi hy sinh cả đời cho chồng con.” Câu ấy có thể rất thật. Nhưng nếu mỗi hy sinh đều được ghi lại để một ngày đòi người khác trả, thập giá chưa thật sự đi qua Phục Sinh. Đức Kitô không sống lại để nhắc các môn đệ từng giờ rằng họ đã bỏ Người chạy. Người trở lại và nói: “Bình an cho anh em.” Người hỏi Phêrô về tình yêu, trao lại sứ mạng. Tình yêu Vượt Qua không phủ nhận vết thương nhưng không dùng vết thương làm vũ khí. Trong gia đình, có những người đã giúp rất nhiều nhưng làm người khác ngạt vì món nợ biết ơn. Có người mẹ dùng hy sinh để cấm con tự do. Có người chồng dùng tiền kiếm được để đòi quyền tuyệt đối. Có người vợ dùng những gì mình chịu đựng để trừng phạt mãi một lỗi đã được xin tha. Mầu nhiệm Vượt Qua đòi một cuộc chết sâu hơn: chết cả cho quyền được đứng trên người khác vì mình đã hy sinh.
Tất nhiên, tha thứ không loại trừ công lý. Phục Sinh không làm thập giá thành chuyện nhỏ. Người Kitô hữu không thể dùng “yêu thương” để che bạo lực gia đình, lạm dụng, gian lận hay bất công. Đức Giêsu phục sinh vẫn cho Tôma thấy vết thương. Hội Thánh cũng phải biết gọi tên vết thương. Có những tương quan cần khoảng cách. Có những hoàn cảnh phải nhờ pháp luật, chuyên gia, người có trách nhiệm. Có những việc phải nói ra để ngăn sự dữ tiếp tục. Chịu đựng sự dữ không mặc nhiên là thánh thiện. Nhiều khi bước Vượt Qua đúng nhất là ra khỏi một cơ chế đang giết sự sống, tìm sự giúp đỡ, bảo vệ người yếu và từ chối cho tội lỗi thêm quyền. Thập giá của Đức Kitô là tự hiến trong tình yêu, không phải sự hợp thức hóa quyền lực của kẻ làm ác.
Người giáo dân cũng cần học nghệ thuật cử hành những dấu hiệu phục sinh. Có gia đình rất giỏi lo nhưng không giỏi mừng. Sinh nhật qua nhanh. Bữa cơm ăn trong im lặng vì ai cũng nhìn điện thoại. Một đứa trẻ đạt một điều nhỏ không ai để ý. Người cha đi làm về sau một ngày nặng nề không ai hỏi. Người mẹ chăm cả nhà không nghe một lời cảm ơn. Kitô giáo là tôn giáo có lễ. Lễ không phải xa xỉ. Khả năng mừng là dấu hiệu con người không bị cái khẩn cấp nuốt hết. Một bữa cơm có mặt đủ nhau, một ngày kỷ niệm hôn phối, một chuyến thăm ông bà, một lời tạ ơn sau khi bệnh khỏi, một ngày nghỉ thật, một bữa ăn Chúa Nhật tử tế, một lần cả nhà tắt điện thoại để nói chuyện — tất cả có thể trở thành những “phụng vụ nhỏ” của lòng biết ơn, không thay phụng vụ bí tích nhưng kéo tinh thần phụng vụ vào nhà. Nếu ngày thứ Sáu nói rằng sự dữ có thật, Chúa Nhật nói rằng sự dữ không sở hữu toàn bộ thực tại. Vẫn có lý do để tạ ơn.
Một linh đạo giáo dân trưởng thành vì thế phải dạy cả ba nhịp: chịu đựng điều không thể tránh mà không cay độc, chống lại điều bất công mà không hận thù, và đón nhận niềm vui mà không thấy có lỗi. Có những người đạo đức kỳ lạ ở chỗ họ rất quen chịu khổ nhưng không biết vui. Hễ điều gì dễ chịu thì sợ mình thiếu hy sinh. Hễ nghỉ thì áy náy. Hễ cười giữa thời gian tang chế thì tưởng phản bội người đã mất. Nhưng Đức Giêsu dự tiệc cưới. Người ăn với bạn hữu. Người cho đám đông ăn. Phục Sinh là một buổi sáng có cuộc gặp, có tiếng gọi tên Maria, có bữa ăn bên bờ hồ, có cá và bánh. Niềm vui không phải kẻ thù của thập giá. Niềm vui Kitô giáo là hoa trái của thập giá đã được đi qua trong tình yêu.
Bởi thế, khi nói lao động có ngày thứ Sáu, ngày thứ Bảy và ngày Chúa Nhật, đó không chỉ là một hình ảnh đẹp. Đó là một nguyên tắc phân định. Nếu một người sống nhiều năm mà tuần nào cũng chỉ có “thứ Sáu” — làm, chịu, căng, trả, chạy, gồng — thì phải hỏi có điều gì đang sai trong cách tổ chức đời sống. Có thể nghèo đói và hoàn cảnh buộc họ phải lao lực; Hội Thánh phải đứng bên họ và đấu tranh cho điều kiện nhân bản hơn. Nhưng cũng có trường hợp chính con người tự xây thập giá cho mình bằng tham vọng, so sánh, tiêu dùng, nhu cầu chứng minh bản thân. Có người phải làm thêm vì con cần học. Có người làm thêm chỉ vì không chịu nổi việc hàng xóm có xe tốt hơn. Hai sự mệt có thể giống nhau bên ngoài nhưng khác về linh đạo. Vượt Qua Kitô giáo không mời gọi tích lũy thập giá nhân tạo. Nó mời gọi trung tín với những thập giá nảy sinh từ tình yêu và bổn phận, đồng thời khôn ngoan tháo bỏ những gánh nặng do ngẫu tượng tạo ra.
Một gia đình cũng cần ngày thứ Bảy. Không phải lúc nào cũng giải quyết vấn đề ngay. Có những cặp vợ chồng cãi nhau vì mỗi người đều muốn có kết luận trước khi đi ngủ, trong khi cả hai đã quá mệt để nói điều khôn ngoan. Đôi khi thánh thiện là nói: “Việc này quan trọng, ngày mai mình nói tiếp.” Có những cha mẹ thấy con khủng hoảng lập tức dồn mười lời khuyên, vì họ không chịu được bất lực. Nhưng có lúc đứa trẻ cần một người ngồi bên cạnh hơn một bài giảng. Có người nghe tin bệnh liền tìm hàng trăm lời giải thích thiêng liêng để trốn khỏi nỗi sợ. Ngày thứ Bảy dạy ta chịu được khoảng chưa biết. Hạt giống không bị đào lên mỗi tối để kiểm tra xem đã mọc chưa. Một tương quan chữa lành cũng cần thời gian.
Trong tất cả những điều ấy, Thánh Thể là trái tim. Người giáo dân không tự mình biến đau khổ thành Vượt Qua bằng ý chí. Chỉ có Đức Kitô mới đưa cái chết vào sự sống. Vì thế họ cần được kết hợp với Người. Khi tham dự Thánh lễ, họ không chỉ tưởng nhớ một biến cố quá khứ. Hy tế Vượt Qua của Đức Kitô được hiện tại hóa cách bí tích. Đời họ được đặt vào đó. Những thứ họ không thể tự cứu được được trao vào tay Đấng đã đi xuống tận đáy cái chết. Và họ nhận lại chính Đấng Phục Sinh làm lương thực. Sau lời “Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an”, họ trở về không phải vì việc thờ phượng kết thúc, mà vì phụng vụ sai họ vào thế giới. Bàn thờ mở ra bàn ăn. Mình Thánh mở ra thân thể mệt nhọc của người thân cần được chăm. Lời Chúa mở ra những cuộc đối thoại cần trung thực. Bình an của Đức Kitô mở ra cách người Kitô hữu làm việc, trả lương, tiêu tiền, tha thứ, nghỉ ngơi.
Nếu hiểu như thế, đời giáo dân không còn là vùng ngoài của mầu nhiệm Vượt Qua. Nó là một trong những nơi mầu nhiệm ấy muốn được nhập thể. Người công nhân chịu thiệt để không gian dối. Người chủ doanh nghiệp chấp nhận giảm lợi nhuận để trả lương công bằng. Người mẹ thức với con bệnh. Người cha biết xin lỗi. Đôi vợ chồng không bỏ cuộc quá nhanh khi tình cảm bước vào mùa khô. Người con chăm cha mẹ già dù việc ấy làm lịch mình chậm lại. Người thất nghiệp không để sự xấu hổ biến mình thành người cay độc. Người thành công không quên người yếu. Người đang đau không biến vết thương thành quyền làm đau kẻ khác. Người đang vui không quên tạ ơn. Tất cả những điều ấy, khi được sống trong Đức Kitô, đều có cấu trúc của Vượt Qua: cái tôi cũ chết đi, tình yêu được sinh ra; điều ta muốn giữ được trao đi, và một tự do khác xuất hiện; một hình thức sự sống chấm dứt, một hình thức sự sống sâu hơn bắt đầu.
Cuối cùng, linh đạo giáo dân không hứa rằng người tin Chúa sẽ tránh được ngày thứ Sáu. Có những ngày thứ Sáu rất dài. Có những cuộc Vượt Qua kéo nhiều năm. Có căn bệnh không khỏi, cuộc hôn nhân không trở lại như xưa, đứa con chưa về, nghề nghiệp không phục hồi, người đã chết không bước qua cửa nhà lần nữa. Đức tin không phải kỹ thuật tạo kết thúc đẹp. Nhưng đức tin tuyên xưng điều quyết định hơn mọi kết thúc đẹp mà ta có thể tưởng tượng: trong Đức Kitô, cái chết không còn là chủ cuối cùng của lịch sử. Vì thế người giáo dân có thể bước vào tuần mới mà không cần giả vờ mạnh. Họ có thể mệt mà vẫn hy vọng. Có thể khóc mà vẫn tin. Có thể thất bại mà không tự kết án mình là thất bại. Có thể nghỉ mà không thấy mình vô ích. Có thể mừng mà không quên thập giá. Có thể già đi mà không tuyệt vọng. Có thể buông một điều mà vẫn tin mình không mất tất cả.
Lao động có ngày thứ Sáu: những giọt mồ hôi, những bất công, những lần thất bại, những lựa chọn lương tâm phải trả giá. Lao động có ngày thứ Bảy: dừng lại, giới hạn, nghỉ ngơi, trao lại điều mình không kiểm soát cho Thiên Chúa. Lao động có ngày Chúa Nhật: Thánh Thể, ý nghĩa, niềm vui, lòng biết ơn, sự phục sinh của phẩm giá con người khỏi ách năng suất. Gia đình cũng có ba ngày ấy: có thương tích, có chờ đợi, có những khởi đầu lại. Người giáo dân trưởng thành không cố loại một ngày ra khỏi lịch. Họ học sống cả ba trong Đức Kitô. Họ không biến tuần thành một ngày thứ Sáu kéo dài. Họ không dùng Chúa Nhật để trốn ngày thứ Sáu. Họ cũng không bỏ cuộc trong ngày thứ Bảy chỉ vì chưa thấy bình minh. Họ sống với xác tín âm thầm nhưng cứng cỏi của Hội Thánh: sau thập giá có sự sống; sau hạt lúa rơi xuống đất có mùa gặt; sau những lần phải chết cho ích kỷ có một con người tự do hơn được sinh ra; và trong căn bếp, nơi công sở, trên ruộng đồng, giữa tiếng trẻ khóc, bên giường bệnh, trong một bữa cơm nghèo hay một ngày làm việc bình thường, Đức Kitô Phục Sinh vẫn đang viết mầu nhiệm Vượt Qua vào những trang rất thường của đời người.
CHƯƠNG 12. Ở LẠI TRONG ĐỨC KITÔ: LINH ĐẠO KHÔNG PHẢI HOẠT ĐỘNG THUẦN
Một trong những nghịch lý lớn của đời sống Kitô hữu hôm nay là người ta có thể rất bận vì Chúa mà lại dần dần xa Chúa, có thể làm rất nhiều việc cho Giáo hội mà trong lòng lại ngày càng khô cạn, có thể xuất hiện trong hầu hết các sinh hoạt của giáo xứ nhưng đời sống nội tâm lại nghèo đi từng ngày, có thể tham gia hội đoàn, ban ngành, ca đoàn, giáo lý, bác ái, truyền thông, hội đồng mục vụ, các khóa đào tạo, những chuyến công tác tông đồ, những cuộc họp nối tiếp nhau, mà đến một lúc nào đó chính người ấy cũng không còn biết mình làm tất cả những điều ấy vì yêu Đức Kitô, vì nhu cầu được công nhận, vì thói quen, vì trách nhiệm, hay đơn giản chỉ vì không còn biết cách dừng lại. Đây là một nguy cơ rất thật của linh đạo giáo dân. Người giáo dân sống giữa một thế giới vốn đã đầy áp lực công việc, gia đình, tài chính, con cái, các mối tương quan và vô số bổn phận xã hội. Nếu Giáo hội lại vô tình chỉ chất thêm lên vai họ những nhiệm vụ mà không giúp họ học cách ở lại trong Đức Kitô, thì đời sống đạo rất dễ trở thành một ca làm thứ hai sau giờ làm việc. Ban ngày họ làm thuê cho công ty, tối về họ lại làm thuê cho giáo xứ; ban ngày họ chạy theo chỉ tiêu của doanh nghiệp, tối về lại chạy theo chỉ tiêu của hội đoàn; ban ngày phải hoàn thành báo cáo, tối về lại phải hoàn thành chương trình mục vụ; cuối cùng một con người có thể trở nên rất hữu ích cho nhiều cơ cấu nhưng lại mất dần chính linh hồn mình. Tin Mừng không gọi người môn đệ trước hết trở thành người hữu dụng. Tin Mừng gọi người môn đệ ở lại trong Đức Kitô. Từ sự ở lại ấy mới phát sinh hoa trái. Đức Giêsu không nói: “Ai hoạt động nhiều thì sinh nhiều hoa trái.” Người nói: “Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5). Câu ấy phải được đặt ở trung tâm mọi linh đạo giáo dân, bởi nó sửa lại một ảo tưởng rất phổ biến của thời đại hiệu suất: tưởng rằng giá trị đời Kitô hữu được đo bằng số việc mình hoàn thành, số người mình phục vụ, số chương trình mình tổ chức, số cuộc họp mình tham dự, số dự án mình điều hành, số bài mình viết, số lượt người mình tiếp cận hay số trách nhiệm mình đang giữ. Đức Giêsu đặt một tiêu chuẩn khác: cành có gắn với cây nho hay không. Nếu còn gắn, cành sống và sinh trái. Nếu lìa, cành có thể còn giữ màu xanh một thời gian, thậm chí trông vẫn đẹp, nhưng bên trong nhựa sống đã ngừng chảy. Đời sống thiêng liêng cũng vậy. Một người có thể tiếp tục hoạt động nhờ quán tính, nhờ kỹ năng, nhờ trách nhiệm, nhờ danh dự, nhờ sợ bị đánh giá, nhưng nếu tương quan sống động với Đức Kitô đã khô đi thì sớm muộn hoạt động cũng sẽ trở thành mệt mỏi, cay đắng, tranh giành, kiểm soát, thất vọng hoặc tự tôn. Khi không còn kín múc từ Đức Kitô, người ta thường phải kín múc từ một nguồn khác để tiếp tục: từ lời khen, quyền lực, vị trí, cảm giác mình cần thiết, cảm giác mình đúng, cảm giác người khác phải biết ơn mình. Chính lúc ấy hoạt động tông đồ có thể vẫn tiếp tục nhưng tinh thần Tin Mừng đã suy yếu.
“Ở lại trong Đức Kitô” không phải một khẩu hiệu đạo đức mơ hồ. Trong Tin Mừng Gioan, “ở lại” là một động từ rất sâu. Nó nói tới một tương quan ổn định, một sự cư ngụ, một sự trung thành, một đời sống được đặt bên trong một đời sống khác. Người môn đệ không chỉ thỉnh thoảng tìm đến Đức Kitô để xin năng lượng rồi trở lại đời riêng của mình. Người môn đệ được mời sống trong Người. Đức Kitô không chỉ là một trạm xăng tinh thần cho những người đang kiệt sức vì sứ vụ. Người là sự sống của họ. Đó là khác biệt rất lớn. Nếu Chúa chỉ là nguồn năng lượng, người ta có thể đến khi cạn và rời đi khi đầy. Nếu Chúa là sự sống, người ta không thể tách mình khỏi Người mà vẫn là chính mình. Vì vậy linh đạo giáo dân không thể bị thu hẹp thành vài phút cầu nguyện phụ thêm vào một đời sống vốn được điều khiển hoàn toàn bởi logic của công việc, tiền bạc, thành công và hiệu suất. Ở lại trong Đức Kitô nghĩa là để tương quan với Người trở thành trục của cả ngày sống. Công việc vẫn là công việc. Con cái vẫn phải đưa đón. Hóa đơn vẫn phải trả. Cuộc họp vẫn phải dự. Khách hàng vẫn phải trả lời. Bữa cơm vẫn phải nấu. Cha mẹ già vẫn phải chăm. Nhưng tất cả được sống từ một trung tâm khác. Người giáo dân học làm mọi sự như một người đang thuộc về Đức Kitô. Họ không bước ra khỏi nhà nguyện rồi bỏ Chúa lại trong nhà nguyện. Họ đem sự hiện diện của Chúa vào cuộc họp. Họ đem Tin Mừng vào cách trả lời một nhân viên. Họ đem lòng thương xót vào cách dạy con. Họ đem sự thật vào cách ký một hợp đồng. Họ đem lòng trung tín vào đời hôn nhân. Họ đem đức cậy vào bệnh tật. Họ đem bình an của Đức Kitô vào một ngày đầy hỗn loạn. Đây chính là linh đạo giáo dân: không rời đời thường để tìm Thiên Chúa, nhưng cũng không để đời thường nuốt mất Thiên Chúa.
Nguy hiểm lớn của người giáo dân năng động là sống bằng adrenaline của trách nhiệm. Càng bận càng thấy mình có giá trị. Càng nhiều người gọi càng cảm thấy mình cần thiết. Càng nhiều việc chờ mình giải quyết càng có cảm giác nếu mình vắng thì mọi sự sẽ sụp. Từ đó nảy sinh một thứ nghiện hoạt động được khoác áo nhiệt thành. Người ấy không biết nghỉ vì nghỉ làm họ gặp chính sự trống rỗng trong mình. Họ không biết im vì im lặng khiến họ nghe những câu hỏi mà lâu nay họ né tránh. Họ không biết từ chối vì sợ mình mất vị trí. Họ không biết trao việc vì sợ người khác làm không bằng mình. Họ không biết rút lui vì đã đồng hóa căn tính Kitô hữu với chức vụ. Thế là một việc ban đầu làm vì yêu Chúa dần dần trở thành một bản ngã được xây quanh sứ vụ. Khi người khác không nhìn nhận, họ đau. Khi bị thay thế, họ tổn thương. Khi ý mình không được chọn, họ tức giận. Khi người khác làm tốt hơn, họ khó chịu. Những dấu hiệu ấy không nhất thiết cho thấy người ấy xấu. Chúng thường cho thấy một sự thật đáng buồn hơn: nguồn sống đã dịch chuyển. Từ Đức Kitô sang cái tôi. Chính vì vậy, linh đạo không thể chỉ cổ võ người giáo dân “dấn thân hơn nữa”. Có những người không cần thêm một việc. Họ cần học lại cách ở lại. Có những người không cần thêm một chức vụ. Họ cần một buổi chiều không điện thoại để ngồi trước Chúa. Có những người không cần thêm một chương trình bác ái. Họ cần trở về xin lỗi vợ, chồng hoặc con vì đã mang mọi người ngoài xã hội về trong trái tim nhưng lại bỏ quên người trong nhà. Có những người không cần thêm một khóa kỹ năng lãnh đạo. Họ cần xưng tội. Có những người không cần thêm một hội đoàn. Họ cần học lại cách đọc Tin Mừng chậm rãi. Đôi khi điều thiêng liêng nhất một người năng động có thể làm không phải nhận thêm việc, nhưng là đặt xuống một việc để lấy lại linh hồn.
Lời Chúa là một trong những cách căn bản nhất để người giáo dân ở lại trong Đức Kitô. Không phải mọi người đều có thể dành một giờ Lectio Divina mỗi sáng. Đòi điều ấy như chuẩn chung cho mọi gia đình có thể tạo mặc cảm hơn là sinh hoa trái. Nhưng không vì thế mà người giáo dân được phép sống cả tuần không nghe Lời. Một đoạn Tin Mừng buổi sáng, vài câu Thánh Vịnh trước khi đi làm, một câu Lời Chúa được nhớ lại lúc nghỉ trưa, một đoạn thư thánh Phaolô được đọc trước khi ngủ, nếu được sống trung thành, có thể trở thành mạch nước nhỏ nuôi một ngày rất bận. Điều quan trọng không phải số trang Kinh Thánh đã đọc nhưng mức Lời ấy có được để xuống tim hay không. Người giáo dân không đọc Lời chỉ để biết thêm thông tin tôn giáo. Họ đọc để Đức Kitô uốn lại cách nhìn. Thế giới nói: phải thắng. Tin Mừng nói: hãy phục vụ. Thế giới nói: trả đũa. Tin Mừng nói: tha thứ. Thế giới nói: tích lũy. Tin Mừng nói: đừng để lòng bị của cải chiếm. Thế giới nói: ai mạnh người ấy sống. Tin Mừng đặt một đứa trẻ, một người nghèo, một người bị bỏ rơi vào trung tâm. Nếu không đều đặn trở lại với Lời, người giáo dân sẽ rất dễ mang danh Kitô hữu nhưng suy nghĩ hoàn toàn theo logic của môi trường. Đức tin vẫn còn trong danh xưng, nhưng trí tưởng tượng, tiêu chuẩn thành công, cách đánh giá người khác và các lựa chọn thực tế lại do văn hóa xung quanh quyết định. Ở lại trong Lời chính là để Đức Kitô liên tục tái giáo dục trái tim mình.
Bí tích là nguồn ở lại mà không một phương pháp phát triển bản thân nào thay thế được. Người Kitô hữu không tự nuôi mình bằng nghị lực đạo đức. Họ sống bằng ân sủng. Thánh Thể là tâm điểm vì ở đó sự ở lại không còn chỉ là biểu tượng. “Ai ăn thịt và uống máu Tôi thì ở lại trong Tôi, và Tôi ở lại trong người ấy” (Ga 6,56). Người giáo dân đến Thánh lễ Chúa Nhật không phải chỉ để hoàn thành một bổn phận tôn giáo tối thiểu. Họ trở về nguồn sự sống. Suốt tuần họ bị phân tán thành hàng trăm vai trò: cha, mẹ, vợ, chồng, nhân viên, chủ doanh nghiệp, giáo viên, công nhân, người chăm bệnh, thành viên hội đoàn, công dân, người trả nợ, người giải quyết khủng hoảng. Thánh Thể quy tụ lại con người bị phân tán ấy và nhắc họ rằng căn tính sâu nhất không nằm trong bất kỳ vai trò nào. Họ là người được Đức Kitô yêu, cứu chuộc, nuôi dưỡng và sai đi. Bởi vậy một đời sống giáo dân mất Thánh Thể rất dễ bị biến thành một chuỗi công việc không trung tâm. Bí tích Hòa giải cũng giữ người tín hữu khỏi một loại tự lừa dối đặc biệt của người hoạt động nhiều: tưởng rằng làm nhiều việc tốt có thể bù cho việc mình không còn xét lòng. Một người có thể rất hữu ích cho Giáo hội mà vẫn nóng nảy trong gia đình, vẫn kiêu căng, vẫn giữ oán, vẫn gian dối nhỏ, vẫn thích nói xấu, vẫn nuôi một mối tương quan không trong sáng, vẫn sống hai mặt. Hoạt động không xóa tội. Trách nhiệm không thay hoán cải. Người càng phục vụ nhiều càng cần trở về thường xuyên với lòng thương xót, bởi một trong những cám dỗ tinh tế của người phục vụ là nghĩ rằng công trạng của mình cho phép mình bớt nghiêm khắc với chính lương tâm.
Cầu nguyện của người giáo dân cũng cần được giải thoát khỏi hai thái cực. Một thái cực là lý tưởng hóa những hình thức cầu nguyện dài đến mức người có gia đình cảm thấy đời mình không thể thiêng liêng. Thái cực kia là biện hộ cho sự bận rộn đến mức cả ngày không một phút thực sự quay lòng về Chúa. Con đường là sự trung thành thực tế. Có những mùa đời người giáo dân có thể dành ba mươi phút buổi sáng. Có những mùa chỉ có mười phút. Có khi người mẹ chăm con nhỏ chỉ có vài phút trong lúc con ngủ. Có khi người công nhân đi ca chỉ có thể đọc kinh trên xe buýt. Có khi người cha đang chăm bệnh chỉ nói được: “Lạy Chúa Giêsu, xin ở với con.” Đừng coi thường những lời cầu ngắn ấy. Truyền thống Kitô giáo luôn biết giá trị của những lời nguyện tên Chúa, những lời nguyện tắt, những ánh nhìn nội tâm. Một người đang mở máy tính có thể thầm thưa: “Lạy Chúa, xin cho con làm việc này ngay thẳng.” Trước cuộc họp khó có thể cầu: “Xin cho con biết nghe.” Khi bị xúc phạm có thể thầm nói: “Lạy Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường, giữ miệng con.” Trước khi về nhà sau ngày kiệt sức có thể ngồi trong xe hai phút và xin: “Xin đừng để con đem sự cáu gắt của công việc vào gia đình.” Trước khi ngủ có thể trao ngày sống: “Con tạ ơn, con xin lỗi, con phó thác.” Những nhịp nhỏ ấy không tầm thường. Chúng nối các mảnh đời thành một đời sống trước mặt Chúa. Cầu nguyện ngắn không thay cầu nguyện sâu hơn khi có thể, nhưng nó giữ cho ngày sống không bị chia thành một khu “đạo” và một khu “đời”.
Xét mình là một trường ở lại khác mà người giáo dân rất cần. Một ngày bận rộn có thể trôi qua như dòng nước xiết. Không dừng lại, người ta không biết điều gì đang xảy ra trong lòng mình. Xét mình không phải tự tra tấn bằng cảm giác tội lỗi. Đó là đứng dưới ánh sáng Chúa để nhìn ngày sống thật. Hôm nay lúc nào tôi gần Chúa nhất? Lúc nào tôi xa Người? Tôi đã đối xử với người nhà thế nào? Tôi có trung thực không? Tôi có dùng ai như phương tiện cho mục tiêu của mình không? Tôi đã để một lời xúc phạm chi phối cả ngày ra sao? Điều gì làm tôi biết ơn? Điều gì tôi cần xin tha? Tôi đang sợ gì? Tôi đang bám vào điều gì? Có một lời mời nhỏ nào của Chúa tôi đang cố né? Những câu hỏi ấy, nếu được hỏi trong bình an và trước lòng thương xót, giúp người giáo dân không sống mù. Một đời sống không xét mình rất dễ bị kéo đi bởi phản ứng. Người ta tưởng mình tự do nhưng thực ra bị điều khiển bởi nóng giận, sợ hãi, tham vọng, nhu cầu được công nhận và những thói quen chưa bao giờ được gọi tên. Ở lại trong Đức Kitô bao hàm việc cho phép ánh sáng của Người đi vào các vùng mờ ấy.
Tình bạn đức tin cũng rất quan trọng. Người giáo dân không được tạo dựng để sống đời Kitô hữu một mình. Có những giai đoạn đức tin của ta được người khác nâng đỡ. Một người bạn biết cầu nguyện, một đôi vợ chồng cùng nâng đỡ nhau, một nhóm nhỏ trung thành với Lời Chúa, một linh hướng, một linh mục giải tội, một cộng đoàn biết nói thật trong bác ái, tất cả có thể là những phương thế Chúa dùng để giữ một người khỏi trôi. Tình bạn đức tin khác tình bạn xã giao ở chỗ người bạn dám hỏi không chỉ “công việc sao rồi?” nhưng “lòng anh sao rồi?”, không chỉ “dạo này bận không?” nhưng “anh còn cầu nguyện không?”, không chỉ “hội đoàn thế nào?” nhưng “anh có còn vui trong Chúa không?”. Một người có thể có hàng nghìn bạn trên mạng nhưng không có một ai đủ gần để biết họ đang mất đức tin. Đó là một nghèo nàn lớn. Linh đạo giáo dân cần tái khám phá những tương quan trong đó người ta có thể nói về Thiên Chúa mà không giả, có thể thú nhận sự khô khan mà không bị xét đoán, có thể xin cầu nguyện mà không xấu hổ, có thể được nhắc nhở khi đang đi sai mà không coi đó là xúc phạm.
Điều đặc biệt quan trọng là phân biệt hoa trái với sản lượng. Thời đại chúng ta rất giỏi đo sản lượng. Bao nhiêu người tham dự? Bao nhiêu buổi đã tổ chức? Bao nhiêu tiền quyên được? Bao nhiêu lượt xem? Bao nhiêu trẻ học giáo lý? Bao nhiêu bài đăng? Bao nhiêu dự án hoàn thành? Những con số cần thiết cho quản trị, nhưng chúng không đo được sự sống thiêng liêng. Tin Mừng nói đến hoa trái, và hoa trái có một logic khác. Hoa trái của Thánh Thần là bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ. Một người sau mười năm phục vụ mà trở nên khó tính hơn, cay nghiệt hơn, kiểm soát hơn, hay nói xấu hơn, ghen tị hơn và ít cầu nguyện hơn, thì cần can đảm hỏi: tôi đã sinh sản lượng hay sinh hoa trái? Một người làm ít việc hơn nhưng trở nên hiền hơn với gia đình, trung thực hơn trong nghề, biết tha thứ hơn, biết cầu nguyện hơn và bình an hơn trong thử thách, có thể đang sinh nhiều hoa trái hơn người có lịch mục vụ kín cả tuần. Đây không phải lời cổ võ thụ động. Đức Kitô muốn môn đệ sinh nhiều hoa trái. Nhưng hoa trái phải phát sinh từ sự ở lại. Cành cây không cố gắng bằng ý chí để tạo quả. Nó nhận nhựa sống. Nhựa sống vận hành âm thầm, rồi hoa trái xuất hiện. Có một thứ hoạt động Kitô giáo phát sinh từ dư tràn: vì đã gặp Chúa nên muốn phục vụ; vì đã nhận lòng thương xót nên muốn thương xót; vì lòng đầy Lời nên muốn chia sẻ Lời; vì đã được nâng dậy nên muốn nâng người khác. Và có một thứ hoạt động phát sinh từ thiếu hụt: làm để được công nhận, làm để lấp trống, làm để tránh đối diện mình, làm để cảm thấy mình quan trọng. Bề ngoài hai người có thể cùng làm một việc. Bên trong nguồn khác nhau.
Vì vậy người giáo dân phải học nghệ thuật nói “không”. Không phải mọi nhu cầu đều là lời gọi của Chúa dành cho tôi. Không phải việc tốt nào tôi cũng phải làm. Không phải ai mời tôi cũng phải nhận. Đức Giêsu chữa nhiều người nhưng không chữa mọi người bệnh tại Palestine. Người rao giảng nhiều nơi nhưng cũng rút vào nơi thanh vắng. Có lúc đám đông tìm nhưng Người đi nơi khác. Sứ vụ Kitô giáo không đồng nghĩa với đáp ứng vô hạn mọi yêu cầu. Người không có giới hạn sẽ sớm yêu người khác bằng sự cáu gắt của một trái tim kiệt sức. Khi người giáo dân có gia đình, việc phân định càng cần thiết. Một người cha dành mọi tối cho giáo xứ nhưng không có giờ cho con không thể lấy “phục vụ Chúa” làm lý do mãi. Một người mẹ luôn có mặt cho hội đoàn nhưng không còn sức lắng nghe chồng cũng cần nhìn lại. Có những lúc trung thành với Chúa mang hình thức rời cuộc họp để về ăn cơm với gia đình. Có những lúc việc thánh nhất là ngủ đủ. Có những lúc phải tắt điện thoại. Có những lúc phải thôi nhận thêm trách nhiệm. Giới hạn không chống sứ vụ. Giới hạn giữ sứ vụ khỏi trở thành ngẫu tượng.
Ngày Chúa Nhật có vai trò đặc biệt trong linh đạo ở lại. Nếu Chúa Nhật chỉ là ngày làm thêm việc nhà thờ, người giáo dân sẽ mất một ân huệ lớn. Chúa Nhật trước hết là ngày của Chúa, ngày Thánh Thể, ngày nghỉ, ngày gia đình, ngày nhớ mình không phải nô lệ của sản xuất. Trong Cựu Ước, sabát là dấu tự do: nô lệ không có quyền nghỉ, người tự do có. Trong nền kinh tế hiện đại, con người rất dễ lại biến mình thành nô lệ tự nguyện của điện thoại, email, doanh số, mạng xã hội và cả hoạt động mục vụ. Chúa Nhật nói: anh không được cứu nhờ năng suất. Thế giới vẫn tồn tại nếu anh nghỉ. Giáo xứ vẫn sống nếu anh không kiểm soát mọi thứ. Chúa là Chúa, không phải anh. Nghỉ trong đức tin vì thế là một hành vi khiêm nhường. Nó tuyên xưng Quan Phòng.
Ở lại trong Đức Kitô cũng mang một chiều kích kín đáo rất mạnh. Có những điều chỉ Chúa thấy. Người giáo dân có thể gây ấn tượng trước cộng đoàn nhưng câu hỏi quyết định là: người ấy sống thế nào khi không ai nhìn? Khi một mình với điện thoại, họ xem gì? Khi có cơ hội gian lận mà không ai biết, họ chọn gì? Khi người phối ngẫu làm mình thất vọng, họ nói thế nào? Khi nhân viên yếu hơn, họ đối xử ra sao? Khi không được khen, họ còn làm điều tốt không? Khi không giữ chức vụ nữa, họ còn đến với Chúa không? Khi bệnh khiến không còn phục vụ, họ còn tin mình được yêu không? Đây là nơi sự thật của linh đạo xuất hiện. Có thể đứng trước cộng đoàn rất đạo đức mà sống một đời kín khác hẳn. Nhưng cũng có những người ít ai biết tên, không giữ chức gì, mỗi sáng lặng lẽ cầu nguyện, đi làm trung thực, chăm người bệnh, giữ lòng chung thủy, nuôi con tử tế, âm thầm giúp người nghèo, nhịn một lời cay độc, tha một món nợ, chịu một bất công mà không trở thành người cay nghiệt. Họ có thể không xuất hiện trong báo cáo mục vụ, nhưng Nước Thiên Chúa đang lớn lên trong họ.
Thử thách lớn nhất của việc ở lại thường đến khi không còn cảm giác. Có những mùa cầu nguyện rất khô. Thánh lễ không còn xúc động. Kinh Thánh đọc mà lòng như đóng. Công việc vẫn nặng. Gia đình vẫn rối. Khi ấy người ta dễ nghĩ mình đã xa Chúa. Nhưng ở lại không đồng nghĩa luôn cảm thấy Chúa gần. Ở lại nhiều khi chính là trung tín trong khô khan. Cành cây mùa đông nhìn như chết nhưng sự sống vẫn âm thầm trong thân. Đức tin trưởng thành không luôn cần cảm xúc xác nhận. Một người vẫn đến Thánh lễ, vẫn giữ giờ cầu nguyện nhỏ, vẫn tránh tội, vẫn làm điều đúng, vẫn nói với Chúa dù không cảm thấy gì, có thể đang ở lại sâu hơn người chỉ sốt sắng khi cảm xúc dâng cao. Tình yêu bền không được chứng minh trong những ngày dễ yêu. Nó được chứng minh khi sự hiện diện của người kia không đem lại hứng thú mà mình vẫn trung thành.
Có lúc ở lại còn có nghĩa chấp nhận được cắt tỉa. Đức Giêsu nói người làm vườn cắt tỉa cành sinh trái để nó sinh nhiều trái hơn. Một thất bại, một lần bị rút khỏi chức vụ, một bệnh tật, một kế hoạch bị dừng, một giai đoạn không còn được trọng dụng, thậm chí một thời kỳ cảm thấy đời mình vô ích, có thể trở thành nơi cắt tỉa. Người đã quen tìm căn tính nơi hoạt động sẽ rất đau khi không còn hoạt động được. Nhưng chính lúc ấy câu hỏi căn bản xuất hiện: tôi yêu Chúa hay yêu cảm giác mình đang hữu ích cho Chúa? Nếu một ngày tôi không thể làm gì, tôi có còn tin rằng đời mình có giá trị không? Tin Mừng trả lời có, bởi căn tính môn đệ có trước công việc môn đệ. Trước khi các tông đồ được sai đi, họ được gọi “để ở với Người”. Ở với Người có trước được sai. Căn tính có trước chức năng. Ân sủng có trước thành tích.
Một Giáo hội biết đào tạo linh đạo giáo dân sẽ không chỉ hỏi giáo dân có thể làm gì. Giáo hội sẽ hỏi họ đang sống với Chúa thế nào. Không chỉ huấn luyện kỹ năng điều hành mà dạy cầu nguyện. Không chỉ lập thêm ban mà tạo không gian thinh lặng. Không chỉ kêu gọi dấn thân mà dạy phân định. Không chỉ đo số người phục vụ mà quan tâm xem người phục vụ có đang kiệt sức không. Không chỉ cảm ơn họ vì công việc mà nhắc họ rằng giá trị của họ không tùy thuộc công việc ấy. Người mục tử khôn ngoan đôi khi phải bảo một giáo dân: anh hãy nghỉ một thời gian. Chị hãy về với gia đình. Anh không cần chứng minh gì nữa. Chị hãy chăm đời sống cầu nguyện trước. Đó không phải làm yếu sứ vụ. Đó là cứu sứ vụ khỏi ăn thịt người phục vụ.
Sau cùng, linh đạo giáo dân không được đo bằng số hội người ấy tham gia, số chức danh người ấy giữ, số sự kiện người ấy có mặt, số giờ người ấy bỏ ra cho cơ cấu Giáo hội. Tất cả điều ấy có thể quý, nhưng không phải thước đo cuối cùng. Thước đo sâu hơn là người ấy còn thuộc về Đức Kitô đến mức nào giữa những vùng đời không ai nhìn. Trong quyết định tiền bạc, họ có thuộc về Đức Kitô không? Trong ham muốn, họ có thuộc về Đức Kitô không? Trong cách đối xử với người yếu, họ có thuộc về Đức Kitô không? Trong lời nói khi tức giận, họ có thuộc về Đức Kitô không? Trong cách sử dụng thời gian và điện thoại, họ có thuộc về Đức Kitô không? Trong hôn nhân, nghề nghiệp, thất bại, bệnh tật, thành công, danh dự và sự quên lãng, họ có còn thuộc về Người không? Đây mới là trái tim của linh đạo. Người giáo dân không được gọi trở thành một cỗ máy Công giáo năng suất cao. Họ được gọi trở thành cành nho sống trong Đức Kitô. Từ sự sống ấy, việc phải làm sẽ được làm. Việc không phải làm sẽ được đặt xuống. Điều cần nói sẽ được nói. Điều cần im sẽ được im. Khi phải bước ra, họ bước ra. Khi phải rút vào, họ rút vào. Khi được thành công, họ tạ ơn. Khi thất bại, họ không mất căn tính. Khi được khen, họ không say. Khi bị quên, họ vẫn bình an. Bởi nguồn đời họ không nằm trong tiếng vỗ tay, chức vụ, hiệu suất hay sự cần thiết của mình. Nguồn đời ấy nằm trong một lời đơn sơ nhưng đủ cho cả đời môn đệ: “Hãy ở lại trong Thầy.” Và khi người giáo dân thực sự học được sự ở lại ấy, công việc không còn nuốt họ, sứ vụ không còn biến họ thành nô lệ, Giáo hội không còn là nơi họ chạy việc cho Chúa, nhưng trở thành thân thể trong đó họ sống từ Chúa, với Chúa và cho Chúa. Khi ấy, ngay cả một ngày rất bình thường giữa văn phòng, bếp núc, giao thông, con cái, hóa đơn và những mệt nhọc không tên cũng có thể trở thành một ngày ở lại trong Đức Kitô, và chính từ những ngày bình thường như thế, sự thánh thiện âm thầm lớn lên.
CHƯƠNG 13. ĐỨC MARIA, TÍN HỮU ĐẦU TIÊN GIỮA ĐỜI THƯỜNG
Nếu muốn tìm một khuôn mặt cho thấy rõ nhất rằng sự thánh thiện không đòi người Kitô hữu phải chạy trốn khỏi đời thường, người ta khó tìm được khuôn mặt nào sáng hơn Đức Maria. Hội Thánh tôn kính Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, là Đấng đầy ân sủng, là Đức Trinh Nữ, là Mẹ Hội Thánh; truyền thống Kitô giáo đã dành cho Mẹ những danh xưng cao cả đến mức đôi khi người tín hữu bình thường chỉ còn biết ngước nhìn mà quên rằng phần lớn cuộc đời của Mẹ đã diễn ra trong những không gian rất nhỏ, rất quen, rất đời: một căn nhà ở Nazareth, một con đường miền núi đến nhà bà Elizabeth, một chuồng súc vật hay nơi trú chân nghèo nàn tại Bethlehem, một cuộc chạy trốn vội vã sang Ai Cập, một mái nhà có chồng có con, một chuyến hành hương lên Đền Thờ, một đám cưới làng quê tại Cana, những ngày đi tìm Con giữa đám đông, một ngọn đồi hành quyết bên ngoài thành Jerusalem, và sau cùng là căn phòng nơi các môn đệ tụ họp cầu nguyện chờ đợi Chúa Thánh Thần. Mầu nhiệm của Đức Maria rất cao, nhưng đời sống của Mẹ lại được Thiên Chúa đặt giữa những gì hết sức bình thường. Chính ở đây linh đạo giáo dân có thể nhận ra nơi Đức Maria không phải một hình ảnh xa xôi chỉ để chiêm ngắm, nhưng một người chị, một người mẹ, một tín hữu đã sống trọn vẹn tiếng “xin vâng” trong điều kiện của đời sống giữa thế gian. Nói Đức Maria là “tín hữu đầu tiên” không có nghĩa giản lược Mẹ vào một phạm trù giáo luật hiện đại, cũng không có nghĩa phủ nhận vị trí độc nhất vô nhị của Mẹ trong lịch sử cứu độ. Mẹ là Mẹ của Ngôi Lời nhập thể, được ân sủng chuẩn bị cách đặc biệt cho sứ mạng không ai khác có thể thay thế. Nhưng chính trong sự độc nhất ấy, Mẹ cũng là người đã tin. Trước khi cưu mang Đức Kitô trong thân xác, Mẹ đã đón nhận Người bằng đức tin. Trước khi trao Con cho nhân loại, Mẹ đã trao chính mình cho Thiên Chúa bằng lời fiat: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Câu ấy không phải một khẩu hiệu đạo đức được thốt ra trong một giờ phút xúc động rồi kết thúc. Nó trở thành cấu trúc của cả cuộc đời Mẹ. Từ Nazareth đến Golgotha, từ Truyền Tin đến Hiện Xuống, tiếng “xin vâng” ấy liên tục được thanh luyện, mở rộng, thử thách, làm sâu hơn. Và đó chính là điều giáo dân cần học nơi Mẹ: đức tin không phải chỉ là một câu nói đúng vào một ngày đặc biệt; đức tin là để cho một câu “xin vâng” ban đầu đi qua tất cả các mùa của cuộc sống, từ lúc ánh sáng rất rõ cho đến lúc chẳng còn hiểu Chúa đang làm gì.
Đức Maria không phải nữ tu theo nghĩa của đời sống thánh hiến được tổ chức trong Hội Thánh về sau. Mẹ không sống trong một đan viện, không thuộc một hội dòng, không có một bản hiến pháp dòng tu, không trải qua nhà tập, không có đời sống cộng đoàn theo một luật dòng lịch sử nào. Nói điều ấy không phải để hạ thấp đời tu, cũng không phải để kéo Đức Maria về phía giáo dân nhằm tạo một cuộc cạnh tranh vô nghĩa giữa các bậc sống. Trái lại, mọi bậc sống trong Hội Thánh đều nhìn lên Mẹ như mẫu gương tuyệt hảo của việc thuộc trọn về Thiên Chúa. Người sống đời thánh hiến học nơi Mẹ sự trinh khiết của trái tim, sự nghèo khó của người chỉ có Chúa làm gia nghiệp, sự vâng phục tuyệt đối trước thánh ý. Linh mục học nơi Mẹ cách cưu mang và trao Đức Kitô cho Dân Chúa, cách ở bên cạnh thập giá, cách phục vụ mầu nhiệm mà không chiếm hữu mầu nhiệm. Nhưng giáo dân cũng có quyền và có bổn phận nhận Mẹ là khuôn mẫu rất gần với bậc sống của mình, bởi phần lớn cuộc đời Mẹ diễn ra không phải trong những hoạt động tôn giáo chuyên biệt, mà giữa gia đình, làng xóm, lao động, những chuyến đi, những bữa ăn, những lo toan, những tương quan họ hàng và những biến cố chính trị làm đảo lộn đời sống của một gia đình nhỏ. Mẹ biết thế nào là chuẩn bị cho một cuộc sinh nở mà không tìm được chỗ trọ. Mẹ biết thế nào là bế một đứa trẻ chạy khỏi quê hương vì quyền lực chính trị đe dọa mạng sống nó. Mẹ biết thế nào là trở về một miền quê nhỏ, sống âm thầm suốt nhiều năm mà không có ai biết rằng trong căn nhà ấy đang lớn lên Đấng Cứu Thế. Mẹ biết thế nào là đi tìm một đứa con mà cha mẹ tưởng đã lạc. Mẹ biết thế nào là nghe Con mình nói những lời mình chưa hiểu trọn. Mẹ biết thế nào là nhìn người ta hiểu lầm Con, chống đối Con, cuối cùng giết Con. Mẹ biết thế nào là đứng bên một người mình yêu mà chẳng còn có thể cứu người ấy khỏi đau đớn. Những kinh nghiệm ấy khiến Đức Maria không xa lạ với đời giáo dân. Người mẹ thức đêm bên con bệnh có thể hiểu một điều gì đó về Mẹ. Người cha người mẹ lo cho tương lai con cái có thể đến với Mẹ. Người di dân rời quê vì chiến tranh, đói nghèo hay việc làm có thể nhìn Mẹ trên đường sang Ai Cập. Người vợ âm thầm chăm sóc gia đình có thể gặp Mẹ ở Nazareth. Người đang phải đứng cạnh giường bệnh mà không biết nói gì có thể gặp Mẹ dưới chân thập giá. Người đang ở giữa một cộng đoàn Hội Thánh đầy sợ hãi nhưng vẫn cùng nhau cầu nguyện có thể gặp Mẹ trong nhà Tiệc Ly. Chính vì thế, linh đạo Maria của giáo dân không nên dừng lại ở việc đặt tượng Mẹ trong nhà hay đọc một số kinh kính Mẹ, dù những việc ấy rất quý. Linh đạo Maria phải đi xa hơn: học cách sống đời thường như Mẹ đã sống.
Điều đầu tiên người giáo dân học nơi Đức Maria là fiat trong hoàn cảnh không hiểu hết. Có một thứ vâng phục tương đối dễ: vâng khi đã được giải thích đầy đủ, biết trước kết quả, kiểm soát được rủi ro và thấy kế hoạch hợp lý. Nhưng đức tin của Đức Maria bắt đầu ở một nơi khác. Khi sứ thần báo tin, Mẹ hỏi: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào?” Câu hỏi ấy cho thấy đức tin không phải là ngừng suy nghĩ. Đức Maria không phải một người thụ động, nghe gì cũng chấp nhận mà không phân định. Mẹ hỏi, Mẹ đối thoại, Mẹ tìm hiểu. Nhưng khi nhận ra lời mời của Thiên Chúa, Mẹ không đòi Chúa phải đưa cho mình toàn bộ bản đồ cuộc đời trước khi đồng ý bước đi. Mẹ không biết Giuse sẽ phản ứng thế nào. Mẹ không biết dân làng sẽ nói gì. Mẹ không biết cuộc sinh nở sẽ xảy ra ở đâu. Mẹ không biết Hêrôđê sẽ tìm giết Hài Nhi. Mẹ không biết lời cụ già Simêon về “một lưỡi gươm đâm thâu tâm hồn” sẽ trở thành hiện thực ra sao. Mẹ càng chưa biết thập giá. Nhưng Mẹ nói xin vâng. Đây là một bài học lớn cho giáo dân, bởi đời giáo dân rất hiếm khi vận hành theo những kế hoạch hoàn chỉnh. Người ta kết hôn mà không biết hai mươi năm sau gia đình sẽ đi qua điều gì. Người ta sinh con mà không biết sức khỏe, tính khí, tương lai của đứa trẻ sẽ thế nào. Người ta chọn một nghề mà không biết thị trường sẽ đổi ra sao. Người ta bắt đầu một doanh nghiệp mà không biết ngày mai kinh tế có khủng hoảng hay không. Người ta chăm sóc cha mẹ mà không biết bệnh sẽ kéo dài bao lâu. Người ta bước vào một trách nhiệm trong giáo xứ mà không biết cộng đoàn sẽ đón nhận hay chống đối. Đức tin không loại bỏ sự bất định ấy. Đức tin cho người ta một cách sống bên trong bất định: không phải “tôi hiểu hết nên tôi vâng”, nhưng “tôi chưa hiểu hết, song tôi biết Đấng mà tôi đang tín thác.” Đó là sự khác biệt rất lớn. Linh đạo giáo dân nếu chỉ hoạt động trong những ngày mọi chuyện rõ ràng sẽ sụp khi đời trở nên mờ tối. Linh đạo Maria dạy người tín hữu giữ được tiếng “xin vâng” ngay cả khi Thiên Chúa không giải thích hết.
Nhưng fiat của Đức Maria không phải là thái độ cam chịu. Có một thứ đạo đức dễ biến “xin vâng” thành sự thụ động trước bất công, bạo lực, lạm dụng hoặc vô trách nhiệm. Đó không phải tinh thần của Đức Maria. Mẹ thưa xin vâng với Thiên Chúa chứ không thưa xin vâng với mọi sự dữ. Bài Magnificat cho thấy một Đức Maria có cái nhìn rất rõ về lịch sử: Thiên Chúa hạ bệ những ai quyền thế, nâng cao mọi kẻ khiêm nhường, cho người đói nghèo được no đầy, để người giàu có trở về tay trắng. Người nữ thưa “xin vâng” trong Truyền Tin cũng là người hát về một Thiên Chúa đảo ngược những trật tự kiêu ngạo của thế gian. Đức vâng phục Kitô giáo không phải nô lệ. Đó là tự do sâu nhất của người đặt mình dưới quyền Thiên Chúa để không phải làm nô lệ cho quyền lực khác. Một người giáo dân sống theo Đức Maria không trở thành con người không có tiếng nói. Trái lại, vì đã thuộc về Chúa, người ấy có thể nói sự thật. Vì không cần làm vừa lòng mọi người, người ấy có thể đứng về phía người yếu. Vì biết quyền lực tối hậu thuộc về Thiên Chúa, người ấy không tuyệt đối hóa tiền bạc, chức vụ hay thành công. Magnificat phải được trả lại cho linh đạo giáo dân như một bài ca của niềm tin giữa lịch sử. Chuỗi Mân Côi mà không dẫn người tín hữu đến một trái tim biết đau trước người nghèo, biết phản kháng sự kiêu ngạo trong chính mình, biết nhận ra Thiên Chúa đang đứng về phía người bé nhỏ thì mới chỉ được đọc bằng môi mà chưa xuống hết vào đời.
Điều thứ hai Đức Maria dạy giáo dân là nghệ thuật “ghi nhớ và suy đi nghĩ lại trong lòng”. Tin Mừng Luca hai lần dùng cách diễn tả này khi nói về Mẹ. Đây là một chi tiết nhỏ nhưng rất quan trọng. Đức Maria không sống các biến cố chỉ bằng phản ứng tức thời. Mẹ giữ lại. Mẹ suy. Mẹ nối các sự kiện với nhau. Mẹ không hiểu hết ngay, nhưng không vì chưa hiểu mà vứt bỏ điều mình đã nghe. Đó là một linh đạo rất cần cho người giáo dân trong thời đại bị thúc đẩy phải phản ứng liên tục. Tin đến thì bình luận. Có chuyện thì đăng. Nghe một câu thì trả lời ngay. Bị xúc phạm thì nhắn lại ngay. Thấy một biến cố trong Hội Thánh thì phán ngay. Mạng xã hội huấn luyện con người phản ứng trước khi suy niệm. Đức Maria đi theo chiều ngược lại: giữ lại, đem vào lòng, để thời gian và ân sủng làm công việc của chúng. “Giữ trong lòng” không phải kìm nén tâm lý, cũng không phải ôm chuyện rồi nghiền ngẫm trong cay đắng. Đó là đặt biến cố trước mặt Thiên Chúa. Có những chuyện trong gia đình hôm nay chưa hiểu được. Có đứa con đang làm cha mẹ đau mà chưa thể kết luận nó sẽ trở thành người thế nào. Có một thất bại nghề nghiệp hôm nay chưa biết có phải là đường đóng hay là một cửa khác đang mở. Có một lời cầu nguyện dường như không được nhận lời nhưng chưa tới lúc hiểu. Có một tổn thương trong cộng đoàn chưa thể giải thích. Người học nơi Đức Maria sẽ không vội đóng nghĩa cho mọi sự. Họ biết giữ một khoảng trống để Thiên Chúa còn nói tiếp. Đây là một phẩm chất thiêng liêng rất lớn: khả năng sống với điều chưa hoàn tất. Người non trong đức tin muốn mọi câu hỏi phải có đáp án ngay. Người trưởng thành có thể mang một câu hỏi nhiều năm mà không mất lòng tin.
Đức Maria còn dạy một điều rất thiết thực: đức tin đích thực làm người ta đứng dậy và đi phục vụ. Sau biến cố Truyền Tin, Mẹ “vội vã lên đường” đến miền núi thăm bà Elizabeth. Mầu nhiệm vừa xảy ra trong lòng Mẹ không biến Mẹ thành người chỉ ngồi chiêm ngắm đặc ân của mình. Người vừa được nghe rằng mình sẽ là Mẹ Đấng Cứu Thế lại trở thành người lên đường giúp một bà chị họ lớn tuổi đang mang thai. Đây là một trong những tiêu chuẩn đẹp nhất để phân định đời sống thiêng liêng. Một kinh nghiệm được gọi là “thiêng liêng” mà càng làm người ta quy về mình, càng thích được chú ý, càng coi mình là người đặc biệt, càng ít phục vụ người khác thì phải được xét lại. Ân sủng thật làm người ta đi ra. Mẹ mang Đức Kitô trong lòng và mang Người đến một mái nhà khác. Giáo dân cũng mang Đức Kitô vào đời chính bằng cách ấy. Có khi không cần mở một lớp giáo lý. Không cần cầm micro. Không cần giữ một chức vụ trong hội đoàn. Chỉ cần đi đến nơi có một người cần mình. Một bữa cơm nấu cho người bệnh. Một chuyến xe đưa người già đi khám. Một giờ ngồi nghe người đang khủng hoảng. Một khoản tiền âm thầm gửi cho gia đình đang thiếu. Một lần về thăm cha mẹ thay vì chỉ chuyển tiền. Một cuộc điện thoại cho người mình biết đang cô đơn. Đó không phải những việc “ít thiêng liêng” hơn việc đọc thêm một kinh. Có khi chính đó là kinh nguyện đã mặc lấy thân xác. Cuộc thăm viếng của Đức Maria còn cho thấy người mang Chúa không nhất thiết phải nói nhiều về mình. Mẹ đến, lời chào của Mẹ làm hài nhi trong lòng Elizabeth nhảy mừng. Khi Đức Kitô thật sự được cưu mang trong một người, sự hiện diện của họ có thể mang bình an trước cả khi họ giảng giải điều gì.
Ở Cana, Đức Maria lại hiện ra trong một nét khác của linh đạo giữa đời: sự chú ý. “Họ hết rượu rồi.” Một câu rất ngắn. Nhưng muốn nói được câu ấy, trước hết phải nhìn thấy. Trong một tiệc cưới đông người, nhiều người chắc vẫn ăn uống, nói chuyện, vui cười. Đức Maria nhận ra một gia đình đang sắp rơi vào tình thế xấu hổ. Linh đạo giáo dân rất cần loại con mắt ấy. Nên thánh giữa đời trước hết không phải là làm những điều phi thường, mà là không để trái tim trở nên vô cảm đối với điều đang xảy ra bên cạnh. Trong một gia đình, ai đang “hết rượu”? Có thể là người vợ đã quá mệt nhưng không nói. Có thể là người chồng đang khủng hoảng vì công việc nhưng giấu. Có thể là đứa con đang bị bắt nạt ở trường mà cha mẹ chỉ nhìn điểm số. Có thể là ông bà già đang thiếu người nói chuyện. Trong một giáo xứ, ai đang hết rượu? Có thể là người giáo lý viên phục vụ mười năm nhưng chẳng ai hỏi thăm. Có thể là một gia đình nghèo không dám xin. Có thể là người mới đến đứng cuối nhà thờ nhiều tháng mà không ai biết tên. Trong một công ty, ai đang hết rượu? Có thể là nhân viên dưới quyền đang kiệt sức. Có thể là người lao động lương thấp bị xem như một con số. Đức Maria không giải quyết mọi sự bằng chính sức mình. Mẹ mang điều Mẹ thấy đến với Đức Giêsu. Đó cũng là một nghệ thuật của đời sống thiêng liêng: thấy nhu cầu, mang nhu cầu ấy đến với Chúa, rồi làm phần mình. Có những người tưởng mình bác ái nên muốn cứu tất cả, cuối cùng kiệt sức và kiểm soát người khác. Đức Maria không như thế. Mẹ nói: “Họ hết rượu rồi.” Mẹ không ra lệnh Đức Giêsu phải làm phép lạ theo một kịch bản cụ thể. Mẹ tín thác. Rồi Mẹ nói với các gia nhân: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Có thể coi đây là một trong những câu đẹp nhất Mẹ để lại cho mọi thế hệ: đừng giữ người ta lệ thuộc vào mình; hãy đưa họ đến chỗ nghe Đức Kitô.
Đời sống của Đức Maria tại Nazareth còn dạy một chân lý khó chịu với nền văn hóa chuộng thành tích: phần lớn sự thánh thiện không được công chúng nhìn thấy. Tin Mừng gần như im lặng về khoảng ba mươi năm. Chúng ta rất muốn biết từng ngày Đức Giêsu sống ra sao, Maria làm gì, Giuse nói gì. Nhưng Tin Mừng không kể. Sự im lặng ấy có ý nghĩa thiêng liêng. Thiên Chúa không thấy ba mươi năm Nazareth là thời gian lãng phí. Đấng cứu thế giới đã dành phần lớn đời trần thế cho một cuộc sống ẩn dật. Đức Maria cũng sống phần lớn ơn gọi của mình không trước đám đông. Đây là thuốc giải mạnh cho bệnh thích được nhìn thấy. Một giáo dân có thể sống cả cuộc đời mà không ai viết tiểu sử. Một người mẹ có thể dành bốn mươi năm làm những việc lặp đi lặp lại trong nhà mà chẳng được cộng đoàn biết đến. Một người cha có thể âm thầm làm việc, trả nợ, nuôi con, chăm cha mẹ, không bao giờ giữ một chức vụ đáng kể. Một nhân viên có thể trung thực suốt ba mươi năm mà chẳng nhận giải thưởng nào. Một người cao tuổi có thể sống những năm cuối chỉ bằng cầu nguyện và chịu đựng bệnh tật. Nếu chỉ đo giá trị bằng sức ảnh hưởng nhìn thấy được, những đời sống ấy có vẻ nhỏ. Nazareth nói ngược lại. Thiên Chúa có một thước đo không giống thuật toán. Ngài nhìn sự trung tín trong điều nhỏ. Ngài nhìn chén nước. Ngài nhìn bữa cơm. Ngài nhìn một lời nhẫn nhịn. Ngài nhìn việc một người đóng cửa phòng rồi cầu nguyện. Ngài nhìn quyết định không gian lận dù chẳng ai biết. Ngài nhìn người vợ vẫn chăm chồng bệnh sau nhiều năm. Ngài nhìn người con vẫn dịu dàng với cha mẹ già dù mệt. Nazareth là lời tuyên bố rằng đời thường có thể trở thành nơi Thiên Chúa cư ngụ.
Bởi vậy, nói về Đức Maria như khuôn mẫu giáo dân mà chỉ nói về những lần Mẹ xuất hiện trong các ngày lễ sẽ là chưa đủ. Phải nói đến căn bếp Nazareth, dù Tin Mừng không mô tả nó. Phải nghĩ đến quần áo cần giặt, nước cần lấy, bữa ăn cần chuẩn bị, hàng xóm cần giao tiếp, đồ dùng cần sửa, những ngày nóng, những ngày lạnh, những mệt nhọc mà một gia đình bình thường ở Galilê phải trải qua. Không nên lãng mạn hóa những điều ấy thành một bức tranh dịu dàng không có mồ hôi. Đời sống gia đình thời đó không dễ. Chính trong những việc không gây chú ý ấy, Mẹ đã yêu Thiên Chúa. Đây là điều rất quan trọng cho linh đạo giáo dân: việc nhà không phải phần thời gian “mất đi” giữa hai giờ cầu nguyện. Chăm sóc con cái không phải sự gián đoạn của đời thiêng liêng. Kiếm sống lương thiện không phải hoạt động bên ngoài ơn gọi nên thánh. Nấu cơm, rửa chén, lái xe, thay tã, đưa con đến trường, đi chợ, thanh toán hóa đơn, sửa mái nhà, chăm người bệnh, gọi điện cho cha mẹ: tất cả những việc ấy có thể trở thành vật liệu của đức ái. Không phải tự thân chúng đã thánh. Người ta vẫn có thể nấu cơm trong cay cú, làm việc trong tham vọng, chăm con để kiểm soát con. Nhưng khi được làm trong tình yêu, sự hiện diện, trách nhiệm và tự hiến, đời thường trở thành bàn thờ. Đức Maria không cần biến Nazareth thành một tu viện để nên thánh. Mẹ để Nazareth trở thành nơi của sự hiện diện Thiên Chúa.
Linh đạo Maria còn giúp sửa một hiểu lầm khác: tưởng rằng cầu nguyện càng nhiều lời càng sâu. Đức Maria trong Tin Mừng nói rất ít. Những lời Mẹ nói đều ngắn, trừ Magnificat. Sự hiện diện của Mẹ lớn hơn số lượng câu nói. Ở Bethlehem, Tin Mừng không ghi Mẹ giảng cho các mục đồng. Dưới chân thập giá, Mẹ không có một bài diễn văn. Trong nhà Tiệc Ly, Mẹ ở đó cùng các môn đệ cầu nguyện. Có những giai đoạn của đời sống mà đức tin không còn nhiều lời. Người giáo dân cần biết điều ấy. Khi một gia đình gặp tang, không nhất thiết phải có câu giải thích nào cho đủ. Khi một người đang đau vì bệnh nặng, đôi khi câu đạo đức nói quá nhanh lại làm họ đau hơn. Khi con cái thất bại, không phải lúc nào cha mẹ cũng cần giảng. Có những khi người Kitô hữu được gọi đơn giản là đứng đó. “Stabat Mater” — Mẹ đứng. Không chạy. Không làm cho thập giá biến mất. Không nói những câu làm nhẹ sự dữ. Không phủ nhận cái chết. Mẹ đứng. Đó là một trong những hành vi thiêng liêng lớn nhất của đời người. Ai đã từng ở cạnh người thân trong giờ hấp hối sẽ hiểu. Ai đã từng ngồi cạnh một người đang khóc mà không có lời nào đủ sẽ hiểu. Ai đã từng sống một tình huống không thể sửa chữa bằng tiền, kiến thức hay quyền lực sẽ hiểu. Đức tin đôi khi là khả năng ở lại nơi tình yêu không còn có thể làm gì ngoài việc không bỏ đi.
Dưới chân thập giá, Đức Maria cũng cho thấy đức tin không miễn trừ con người khỏi đau khổ. Được “đầy ân sủng” không có nghĩa được bảo vệ khỏi mọi vết thương. Người nữ được sứ thần chào là đầy ân sủng cũng là người nghe Simêon báo một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn. Điều này cần được nói rất rõ trong mục vụ, bởi có những hình thức đạo đức vô tình gieo vào giáo dân ý tưởng rằng nếu đủ tin, đủ cầu, đủ lần chuỗi thì gia đình phải yên, con cái phải ngoan, bệnh phải khỏi, công việc phải thuận. Khi điều đó không xảy ra, người ta hoặc trách Chúa hoặc trách chính mình đã chưa đủ đạo đức. Đức Maria phá tan lối nghĩ ấy. Không ai có thể nói Mẹ thiếu đức tin. Nhưng Mẹ vẫn đi qua Ai Cập, lo âu, mất mát và Calvary. Ân sủng không phải hợp đồng bảo hiểm chống đau khổ. Ân sủng là sự hiện diện của Thiên Chúa làm cho con người có thể đi xuyên qua đau khổ mà không để đau khổ có tiếng nói cuối cùng. Một linh đạo Maria trưởng thành vì thế không hứa với giáo dân một đời dễ dàng. Nó dạy họ ở lại với Chúa trong đời thật.
Đức Maria cũng là người của hành trình. Mẹ không đóng khung trong Nazareth. Mẹ đi thăm Elizabeth. Mẹ đi Bethlehem. Mẹ sang Ai Cập. Mẹ về Nazareth. Mẹ đi Jerusalem. Mẹ có mặt ở Cana. Mẹ theo hành trình của Con trong mức Tin Mừng cho phép chúng ta thấy. Mẹ đứng ở Golgotha. Mẹ ở trong cộng đoàn sau Phục Sinh. Nhìn từ chiều kích này, Đức Maria cũng là khuôn mặt rất gần với thế giới giáo dân hôm nay, một thế giới của di chuyển, di dân, chuyến xe, chuyến bay, người lao động xa quê, gia đình phải đổi chỗ ở, người trẻ ra thành phố học tập, những người rời quê hương để tìm sự sống. Thánh Gia từng biết thế nào là người phải chạy sang một vùng đất khác để tránh bạo quyền. Bởi vậy, lòng sùng kính Đức Mẹ không thể khép lại trong sự êm đềm của những bàn thờ đẹp mà không mở trái tim ra với người di dân, người tị nạn, người xa quê, người không có chỗ trú. Mỗi khi đọc mầu nhiệm thứ ba mùa Vui về Chúa Giêsu sinh ra nơi nghèo khó, người tín hữu được hỏi về thái độ của mình với những gia đình không có chỗ. Mỗi khi suy niệm Thánh Gia trốn sang Ai Cập, người ta phải nhớ rằng Con Thiên Chúa từng mang khuôn mặt một trẻ em chạy trốn. Chuỗi Mân Côi, nếu được đọc thật, không làm người ta trốn lịch sử. Nó đưa lịch sử vào cầu nguyện.
Ở đây phải nói đến chuỗi Mân Côi. Với giáo dân, ít thực hành đạo đức nào bền bỉ, đơn sơ và thích hợp với nhịp sống đời thường như chuỗi Mân Côi. Có thể lần chuỗi trên đường đi làm, trong xe buýt, khi chờ khám bệnh, trong gia đình buổi tối, bên giường người bệnh, trên cánh đồng, trong một ngày không còn sức đọc những lời cầu dài. Chuỗi Mân Côi có một sự nghèo khó đẹp: những lời lặp đi lặp lại, không đòi người cầu phải luôn có cảm xúc mới. Nhưng chính vì quá quen, người ta có thể làm nó nghèo đi bằng cách chỉ còn đọc nhanh cho đủ. Mân Côi không phải máy đếm kinh. Nó là trường của mầu nhiệm. Khi đọc “Kính mừng Maria”, người tín hữu bước qua các biến cố của Đức Kitô bằng đôi mắt của Mẹ. Vui, Sáng, Thương, Mừng không chỉ là bốn nhóm mầu nhiệm; chúng là bốn mùa của mọi đời người. Có ngày vui. Có ngày ánh sáng. Có ngày thương. Có ngày mừng. Một gia đình không chỉ sống một mùa. Có đứa con sinh ra — mùa Vui. Có một quyết định cần ánh sáng — mùa Sáng. Có bệnh tật và mất mát — mùa Thương. Có hòa giải sau nhiều năm — mùa Mừng. Khi người giáo dân lần chuỗi giữa căn bếp, trên đường đến công ty, cạnh một giường bệnh, họ không rời đời để đi đến với Mẹ; họ mời Mẹ bước vào đời mình và học cùng Mẹ cách để mọi biến cố được đặt trong mầu nhiệm Đức Kitô.
Tuy nhiên, lòng sùng kính Đức Maria không thể đo bằng số chuỗi hạt nếu đời sống không thay đổi. Một người lần chuỗi rất nhiều mà khinh người nghèo, cay nghiệt với người nhà, gian dối trong kinh doanh, nói xấu hàng xóm, không chịu tha thứ thì chưa thể lấy lòng sùng kính Maria làm bình phong. Đức Maria luôn đưa người ta đến Đức Kitô. Tại Cana, lời của Mẹ là: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Nếu một hình thức đạo đức làm người ta dừng lại ở cảm xúc về Mẹ mà không vâng lời Tin Mừng, nó đã lệch khỏi chính tinh thần của Mẹ. Đạo đức Maria đích thực mang tính Kitô quy tâm. Mẹ không giữ người tín hữu cho mình. Mẹ đứng bên đường và chỉ về Con. Điều này cũng giúp chúng ta tránh những cách nói thiếu quân bình khiến người tín hữu tưởng rằng Đức Maria dễ thương hơn Đức Kitô, như thể phải nhờ Mẹ thuyết phục một Chúa Giêsu nghiêm khắc mới chịu thương chúng ta. Không. Lòng thương xót của Mẹ đến từ lòng thương xót của Thiên Chúa. Mẹ không cạnh tranh với Con. Mẹ sống nhờ Con, hướng về Con, phục vụ sứ mạng của Con. Yêu Mẹ đúng sẽ yêu Đức Kitô hơn, yêu Thánh Thể hơn, yêu Lời Chúa hơn, yêu Hội Thánh hơn, yêu người nghèo hơn và sống trách nhiệm hơn.
Đức Maria còn có một giá trị đặc biệt cho linh đạo hôn nhân và gia đình. Mẹ là vợ của Giuse. Tin Mừng không kể nhiều về đời sống vợ chồng của họ, nhưng chính sự thinh lặng ấy cho phép nhìn thấy một điều: kế hoạch cứu độ đã được Thiên Chúa trao vào tay một gia đình. Thiên Chúa có thể chọn một con đường khác, nhưng Ngài muốn Con mình lớn lên trong tương quan với một người mẹ và một người cha pháp lý. Nazareth vì thế trở thành trường của tình yêu gia đình. Đức Maria không chỉ có tương quan với Thiên Chúa theo chiều thẳng đứng. Mẹ phải sống tương quan với Giuse, phải tin tưởng, chia sẻ, cùng lên đường, cùng tìm Con, cùng sống trong nghèo khó. Điều này rất quan trọng. Có người tưởng rằng đời thiêng liêng càng sâu thì càng ít cần tương quan con người. Ngược lại, chính tương quan là nơi đức tin bị thử nghiệm. Dễ dịu dàng trước tượng Đức Mẹ hơn dịu dàng với người sống cùng nhà. Dễ nói “xin vâng” trong nhà thờ hơn xin lỗi chồng, xin lỗi vợ, xin lỗi con. Dễ hát thánh ca về Thánh Gia hơn ngồi xuống giải quyết một xung đột gia đình mà không xúc phạm nhau. Linh đạo Nazareth đòi đưa đức tin vào cách nói, cách nghe, cách dùng tiền, cách nuôi con, cách chăm người già, cách xử lý bất đồng. Nếu Đức Maria chỉ được đặt trên bàn thờ gia đình mà không đi vào các tương quan gia đình, việc tôn kính vẫn còn ở ngoài cửa.
Một nét nữa nơi Đức Maria rất cần cho giáo dân là khiêm tốn về vai trò của mình. Mẹ có vị trí độc nhất trong lịch sử cứu độ, nhưng Mẹ không xây một “sứ vụ cá nhân” quanh chính mình. Sau những chương đầu của Tin Mừng, Mẹ lùi vào hậu cảnh. Khi Đức Giêsu bắt đầu sứ vụ công khai, Mẹ không xuất hiện để đòi một ghế đặc biệt. Mẹ không nhắc mọi người rằng mình là người hiểu Con từ nhỏ. Mẹ không biến tương quan huyết thống thành quyền lực. Cuối cùng, dưới chân thập giá, Mẹ nhận một người môn đệ làm con. Từ chỗ là Mẹ Đức Giêsu theo xác thịt, Mẹ mở lòng thành Mẹ của cộng đoàn môn đệ. Đây là một bài học lớn cho mọi người phục vụ trong Hội Thánh. Có những giáo dân bắt đầu rất đẹp nhưng dần dần đồng hóa sứ vụ với bản thân: “nhóm này của tôi”, “ca đoàn của tôi”, “lớp giáo lý của tôi”, “hội này nếu không có tôi thì không được”. Đức Maria dạy một đường khác. Ai phục vụ Đức Kitô phải biết xuất hiện khi cần và lùi lại khi cần. Phải có khả năng trao việc cho thế hệ sau. Phải vui khi người khác làm tốt hơn mình. Phải để cộng đoàn thuộc về Chúa chứ không thuộc về người sáng lập. Khiêm nhường Maria không phải tự coi mình vô giá trị. Chính Mẹ hát: “Từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc.” Mẹ biết điều Thiên Chúa đã làm nơi mình. Nhưng Mẹ quy tất cả về Đấng Toàn Năng: “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả.” Khiêm nhường là biết mình là ai mà không chiếm lấy vinh quang của Thiên Chúa.
Hình ảnh Đức Maria tại nhà Tiệc Ly hoàn tất một nét quan trọng khác: Mẹ là người của Hội Thánh, không phải người đứng bên ngoài Hội Thánh. Sau khi Đức Giêsu lên trời, Mẹ ở giữa các môn đệ đang cầu nguyện. Mẹ không nói: tôi có tương quan riêng với Con tôi nên không cần cộng đoàn. Người có tương quan gần Đức Giêsu nhất lại ở giữa Hội Thánh đang chờ Chúa Thánh Thần. Điều này sửa một lệch lạc trong lòng sùng kính cá nhân: “Tôi chỉ cần Chúa và Đức Mẹ, không cần giáo xứ, không cần cộng đoàn, không cần Hội Thánh.” Không phải linh đạo của Maria. Mẹ ở với các Tông đồ, cả những con người đã từng bỏ chạy khi Con Mẹ bị bắt. Hãy nghĩ đến điều ấy. Phêrô đã chối Đức Giêsu. Các môn đệ đã bỏ Người. Nhưng sau Phục Sinh, Mẹ vẫn cùng họ cầu nguyện. Mẹ không lập một cộng đoàn những người “trung thành hơn các Tông đồ”. Mẹ ở lại với Hội Thánh mong manh mà Đức Kitô đã chọn. Đây là trường học rất thật cho giáo dân khi gặp những giới hạn của cộng đoàn. Yêu Hội Thánh không có nghĩa mù quáng trước khuyết điểm. Nhưng yêu Hội Thánh có nghĩa không bỏ cộng đoàn chỉ vì cộng đoàn không hoàn hảo theo ý mình. Đức Maria biết đứng dưới thập giá; Mẹ cũng biết đứng giữa một nhóm người từng thất bại.
Từ đây có thể hiểu rõ hơn thế nào là “tính Maria” của Hội Thánh và của đời giáo dân. Trước khi Hội Thánh làm nhiều việc cho Đức Kitô, Hội Thánh phải đón nhận Đức Kitô. Trước khi truyền giáo, phải để Lời nhập thể trong mình. Trước khi nói, phải nghe. Trước khi tổ chức, phải thưa xin vâng. Đức Maria là hình ảnh Hội Thánh chính ở điểm này: Mẹ nhận trước khi trao, tin trước khi sinh, lắng nghe trước khi hành động. Đây là một hiệu chỉnh rất cần cho giáo dân năng động. Có những người sống đạo bằng một lịch phục vụ dày kín: hội đoàn, cuộc họp, bác ái, sự kiện, truyền thông, lớp giáo lý. Làm nhiều không sai. Nhưng nếu không có chiều kích Maria, hoạt động sẽ trở thành sản xuất tôn giáo. Người ta làm cho Chúa đến mức không còn ở với Chúa. Đức Maria nhắc rằng hoa trái Kitô giáo không được sản xuất bằng sức ép. Nó được cưu mang. Một người mẹ không “sản xuất” đứa con theo kiểu nhà máy; người mẹ cưu mang một sự sống đã được nhận. Sứ vụ Kitô giáo cũng vậy. Trước khi làm một công việc cho Hội Thánh, phải hỏi: điều này có được cưu mang trong cầu nguyện không? Tôi đang trao điều đã nhận từ Chúa hay chỉ đang đưa ra ý tưởng của mình? Tôi đang sinh hoa trái hay chỉ sinh hoạt?
Đức Maria cũng dạy người giáo dân một thái độ rất quý trước con cái: không chiếm hữu. Từ lúc dâng Con trong Đền Thờ, Mẹ đã được nhắc rằng đứa trẻ này thuộc về một mầu nhiệm lớn hơn gia đình. Tại Jerusalem khi Đức Giêsu mười hai tuổi, Mẹ phải học đau đớn rằng Con có tương quan ưu tiên với Cha trên trời. Tại Cana, Đức Giêsu bước vào “giờ” của Người. Trong đời công khai, tương quan Mẹ-Con được mở ra thành tương quan của người nghe và thực hành Lời Chúa. Dưới thập giá, Mẹ lại được trao một người con khác. Làm mẹ theo kiểu Maria nghĩa là yêu mà không sở hữu. Đây là bài học khó cho cha mẹ Kitô hữu. Con cái không được sinh ra để hoàn thành giấc mơ dang dở của cha mẹ. Không phải tài sản của cha mẹ. Không phải dự án danh dự gia đình. Cha mẹ nhận con từ Chúa để giúp chúng trở thành điều Chúa gọi chúng trở thành, không phải bản sao của mình. Có lúc phải giữ. Có lúc phải dẫn. Có lúc phải sửa. Có lúc phải buông. Có lúc phải đứng xa và cầu nguyện. Có lúc phải chịu đau khi con đi một con đường mình không hiểu. Đức Maria không kiểm soát sứ vụ của Đức Giêsu. Mẹ đồng hành với mầu nhiệm của Con. Cha mẹ Kitô hữu cũng phải học đồng hành với mầu nhiệm của từng đứa con.
Nói Đức Maria là mẫu gương giáo dân cũng đòi nhắc đến lao động. Dù Tin Mừng không ghi nghề của Mẹ, đời sống một gia đình thợ ở Nazareth không thể tách khỏi lao động. Mẹ sống trong một căn nhà mà bánh phải có người làm, nước phải có người mang, vật dụng phải có người chăm, cuộc sống phải được tổ chức bằng mồ hôi con người. Giáo dân cần một linh đạo Maria không chỉ dành cho nhà thờ mà còn cho thứ Hai buổi sáng. Người nhân viên bước vào văn phòng có thể mang tinh thần Maria bằng sự trung thực, chăm chú, phục vụ, không khoa trương. Người buôn bán có thể sống tinh thần Maria khi không lừa cân, không ép người yếu, không để lợi nhuận trở thành thần. Người bác sĩ sống tinh thần ấy khi nhìn bệnh nhân như người chứ không chỉ hồ sơ. Người giáo viên khi nhớ rằng trước mặt mình là những cuộc đời chứ không chỉ điểm số. Người làm nội trợ khi không coi những việc không lương của mình là vô nghĩa. Người nông dân, công nhân, kỹ sư, nghệ sĩ, tài xế, người bán hàng đều có thể học Nazareth: làm điều cần làm, làm cho tốt, làm trong sự hiện diện của Chúa, không đòi mọi việc phải được công chúng thấy.
Đức Maria còn giúp giáo dân hiểu đúng thế nào là sự mạnh mẽ. Văn hóa thường đồng hóa mạnh với nói lớn, quyết liệt, chiến thắng, kiểm soát. Mẹ cho thấy một loại sức mạnh khác: sức mạnh của người có thể giữ lời, mang thai một lời hứa, đi đường dài, sống nghèo, chịu hiểu lầm, đứng dưới thập giá, không bỏ cộng đoàn, chờ đợi trong cầu nguyện. Đó không phải yếu đuối. Đó là sức bền của tình yêu. Trong nhiều gia đình, sức mạnh lớn nhất không nằm ở người nói lớn nhất mà ở người âm thầm giữ gia đình khỏi tan. Trong cộng đoàn, người quan trọng nhất không phải lúc nào cũng là người có chức vụ mà có thể là người vẫn cầu nguyện, vẫn hòa giải, vẫn đến thăm người bệnh, vẫn giữ sự tử tế khi người khác chia phe. Linh đạo Maria giúp Hội Thánh nhận ra những người thánh âm thầm ấy.
Một cách rất cụ thể, giáo dân có thể học năm động từ của Đức Maria: nghe, giữ, đi, thấy và đứng. Nghe Lời trước khi quyết định. Giữ điều chưa hiểu trong lòng thay vì phản ứng ngay. Đi đến với người cần mình. Thấy chỗ người khác đang thiếu. Đứng lại bên người đau khi không thể giải quyết. Năm động từ ấy đủ xây một đời sống thiêng liêng rất sâu. Nghe: mỗi ngày có một khoảng nhỏ cho Lời Chúa. Giữ: đừng biến mọi cảm xúc thành lời công khai. Đi: đức tin phải đưa mình ra khỏi sự tiện nghi. Thấy: tập nhìn người ở cạnh mình. Đứng: đừng bỏ người chỉ vì mình không sửa được vấn đề của họ. Người giáo dân sống năm động từ ấy giữa gia đình và xã hội đã bước rất xa trên con đường của Mẹ.
Có thể thêm một động từ thứ sáu: trao. Đức Maria trao Đức Giêsu cho thế giới. Mẹ không giữ Người. Tại Bethlehem, Mẹ đặt Người trong máng cỏ cho những mục đồng gặp. Tại Đền Thờ, Mẹ mang Người đến trong truyền thống của Israel. Tại Cana, Mẹ hướng gia nhân về Người. Dưới chân thập giá, Mẹ nhận sứ mạng làm mẹ theo một cách mới. Người giáo dân cũng được gọi trao Đức Kitô chứ không giữ đức tin như tài sản riêng. Nhưng cách trao của họ thường không bắt đầu trên bục giảng. Nó bắt đầu trong lối sống. Khi một người chủ doanh nghiệp quyết định đối xử công bằng với nhân viên dù lợi nhuận giảm, Đức Kitô được trao. Khi một gia đình đón người cô đơn vào bàn ăn, Đức Kitô được trao. Khi một người từ chối tham gia nói xấu dù cả nhóm đang làm, Đức Kitô được trao. Khi cha mẹ dạy con cầu nguyện nhưng đồng thời xin lỗi con khi mình sai, Đức Kitô được trao. Khi một người Kitô hữu trả lại món tiền không thuộc về mình dù không ai kiểm tra, Đức Kitô được trao. Đó là những cuộc “Truyền Tin” và “Thăm Viếng” bé nhỏ giữa đời.
Đức Maria cũng giúp chữa một cám dỗ khác của lòng đạo bình dân: tìm phép lạ mà quên sự trung tín. Nhiều người chạy từ nơi hành hương này đến nơi hành hương khác, tìm dấu lạ, thông điệp, chữa lành, nhưng lại bỏ quên những trách nhiệm rất rõ trong gia đình. Mẹ của Tin Mừng không dạy chúng ta săn tìm điều phi thường. Mẹ dạy: “Người bảo gì, hãy làm theo.” Lời Đức Kitô đã rất rõ về tha thứ, trung thực, chung thủy, phục vụ, yêu người nghèo, cầu nguyện, khiêm nhường. Không cần một mặc khải riêng để biết mình phải xin lỗi người vợ đã bị mình làm tổn thương. Không cần một dấu lạ để biết phải trả lương công bằng. Không cần một thị kiến để biết phải ngưng nói xấu. Không cần một sứ điệp mới để biết phải đến lễ Chúa Nhật, nuôi dưỡng đời cầu nguyện và sống bác ái. Lòng kính Mẹ lành mạnh làm con người vững trong Tin Mừng bình thường trước khi tìm điều phi thường.
Cuối cùng, nơi Đức Maria, giáo dân thấy rằng đời Kitô hữu là một cuộc Vượt Qua dài. Truyền Tin có niềm vui, nhưng lời tiên báo của Simêon đã đặt bóng thập giá vào niềm vui ấy. Bethlehem có thiên thần, nhưng sau đó là cuộc chạy trốn. Cana có rượu mới, nhưng Đức Giêsu nói về “giờ” của Người, một giờ sẽ hoàn tất trên Calvary. Golgotha có đau đớn, nhưng không phải chương cuối; sau đó là cộng đoàn cầu nguyện trong hy vọng Phục Sinh và Thánh Thần. Đời giáo dân cũng vậy. Không có gia đình nào chỉ có mầu nhiệm Vui. Không có đời người nào chỉ có mầu nhiệm Thương. Các mầu nhiệm đan vào nhau. Mẹ dạy người tín hữu đừng tuyệt đối hóa một mùa. Khi vui, biết rằng vẫn cần tín thác. Khi đau, biết rằng đau không phải tận cùng. Khi chưa hiểu, giữ trong lòng. Khi được sai đi, đi. Khi người khác hết rượu, thấy. Khi thập giá đến, đứng. Khi cộng đoàn sợ hãi, cầu nguyện cùng họ. Đây chính là linh đạo Maria giữa đời thường.
Vì thế, nói Đức Maria là khuôn mẫu của linh đạo giáo dân không phải là thêm một chương đạo đức vào sau những chương thần học. Mẹ chạm vào chính cấu trúc của đời sống Kitô hữu giữa thế gian. Mẹ cho thấy thế nào là sống hoàn toàn thuộc về Chúa mà vẫn hoàn toàn ở trong đời. Mẹ không phải tu sĩ nhưng sống trọn sự hiến dâng. Mẹ không có chức thánh nhưng trao cho thế giới Đấng là nguồn mọi chức tư tế. Mẹ không đứng trên bục giảng nhưng Magnificat của Mẹ vẫn vang qua các thế hệ. Mẹ không giữ quyền lãnh đạo hữu hình trong Hội Thánh sơ khai nhưng hiện diện của Mẹ ở giữa các môn đệ có một sức nâng đỡ không thể thay thế. Mẹ làm vợ, làm mẹ, làm người họ hàng, làm người hành hương, làm người tị nạn, làm người chịu tang, làm người cầu nguyện. Chính trong những điều ấy, Mẹ thuộc trọn về Thiên Chúa. Đó là niềm hy vọng rất lớn cho giáo dân: không cần bước ra khỏi đời mình để gặp con đường nên thánh. Cần để Thiên Chúa bước vào đời mình như Ngôi Lời đã bước vào nhà Nazareth.
Đạo đức Maria của giáo dân vì thế không chỉ là đặt một tượng Mẹ trong phòng khách, đeo một ảnh Đức Mẹ, đi hành hương tháng Năm, hát một bài kính Mẹ hay lần đủ một chuỗi mỗi ngày. Tất cả những việc ấy đều có thể rất tốt. Nhưng điều sâu hơn là biến đời mình thành một Nazareth: nơi Lời được đón nhận; một Ain Karim: nơi người ta lên đường phục vụ; một Bethlehem: nơi sự sống được đón dù hoàn cảnh nghèo; một Ai Cập: nơi gia đình giữ nhau giữa hiểm nguy; một Cana: nơi người ta thấy cái thiếu của người khác; một Jerusalem: nơi có những điều phải giữ trong lòng vì chưa hiểu; một Calvary: nơi người ta không bỏ người mình yêu; một nhà Tiệc Ly: nơi người ta kiên trì cầu nguyện với Hội Thánh. Khi những nơi ấy hiện ra trong một đời người, lòng sùng kính Đức Maria đã vượt khỏi môi miệng và đi vào máu thịt.
Và có lẽ đó là điều Đức Maria muốn dạy những người giáo dân đang bận rộn nhất: không phải trước hết hãy làm thêm một việc đạo đức, nhưng hãy sống điều đang làm theo một cách khác. Nấu bữa cơm với sự hiện diện. Đi làm với lương tâm ngay thẳng. Nuôi con mà không chiếm hữu. Yêu người bạn đời mà không coi họ là điều hiển nhiên. Chăm người già với kiên nhẫn. Giữ một lời chưa hiểu trong cầu nguyện. Nhìn thấy người đang “hết rượu”. Không bỏ đi khi người mình yêu đang ở trên thập giá. Và giữa tất cả những điều ấy, vẫn có thể thưa rất nhỏ: “Này con đây.” Đó là chuỗi Mân Côi đã trở thành đời sống. Đó là Magnificat được hát không chỉ bằng miệng mà bằng một tuần làm việc. Đó là Nazareth được tiếp tục giữa phố xá, chung cư, làng quê, bệnh viện, nhà máy và những căn bếp hôm nay. Và đó cũng là một trong những con đường chắc chắn nhất để người giáo dân nên thánh: ở giữa đời mà thuộc trọn về Đức Kitô, như Đức Maria đã ở giữa đời và thuộc trọn về Thiên Chúa.
PHẦN III
NỀN TẢNG THỨ HAI — GIÁO HỘI HỌC
CHƯƠNG 14. DÂN THIÊN CHÚA: PHẨM GIÁ CHUNG TRƯỚC THỪA TÁC VỤ KHÁC NHAU
Một trong những thay đổi quan trọng nhất mà Công đồng Vatican II đem lại cho cách Hội Thánh tự hiểu về chính mình không nằm ở một khẩu hiệu mới, cũng không nằm ở một kỹ thuật tổ chức mới, nhưng nằm ngay trong trật tự thần học của Hiến chế tín lý Lumen Gentium. Sau chương trình bày mầu nhiệm Hội Thánh, Công đồng không đi ngay vào hàng giáo phẩm, không bắt đầu bằng Đức Giáo hoàng, các giám mục, linh mục hay cơ cấu quản trị, nhưng đặt chương về “Dân Thiên Chúa” trước chương về phẩm trật. Thứ tự ấy không phải chuyện biên tập ngẫu nhiên. Nó mang một tuyên bố thần học rất mạnh: trước khi nói đến những khác biệt về chức vụ, bậc sống và trách nhiệm, phải nói đến điều mọi người đã cùng lãnh nhận; trước khi nói ai điều hành, ai giảng dạy, ai cử hành bí tích, phải nói ai đã được Thiên Chúa gọi, quy tụ, thánh hóa và làm thành dân của Người; trước khi phân biệt linh mục, tu sĩ và giáo dân, phải trở lại với một căn tính sâu hơn tất cả những phân biệt ấy: chúng ta là những người đã được tháp nhập vào Đức Kitô, được tái sinh bởi nước và Thánh Thần, được đưa vào Giao ước mới, được thuộc về một thân thể, được chia sẻ cùng một sự sống thần linh và được gọi nên thánh. Nói cách khác, Hội Thánh không khởi đầu bằng cơ cấu mà bằng ân sủng; không khởi đầu bằng chức vụ mà bằng ơn gọi; không khởi đầu bằng quyền hành mà bằng bí tích Rửa tội; không khởi đầu bằng câu hỏi “ai ở trên ai?” mà bằng câu hỏi “ai thuộc về Đức Kitô?”. Chính từ nền chung ấy các thừa tác vụ mới được trao ban và có ý nghĩa. Nếu quên nền ấy, Hội Thánh rất dễ bị tưởng tượng như một kim tự tháp tôn giáo trong đó một số người ở trên làm mọi điều còn phần đông ở dưới tiếp nhận, phục tùng và trợ giúp. Nếu giữ đúng nền ấy, phẩm trật không biến mất, quyền bính không bị xóa, chức linh mục thừa tác không bị hạ xuống, nhưng tất cả được đặt đúng chỗ của mình: là quà tặng Đức Kitô ban cho Dân Người để phục vụ sự hiệp thông, nuôi dưỡng đời sống bí tích, bảo vệ đức tin, hướng dẫn sứ mạng và giúp toàn thể Dân Thiên Chúa đạt tới sự trưởng thành trong Đức Kitô.
Cụm từ “Dân Thiên Chúa” không phải là phát minh xã hội học của thế kỷ XX. Nó đi rất sâu vào mạc khải Kinh Thánh. Cựu Ước kể câu chuyện Thiên Chúa gọi một dân làm dân riêng của Người, không phải vì dân ấy mạnh hơn, đông hơn hay đạo đức hơn các dân khác, nhưng vì tình yêu nhưng không của Người. Israel là dân Giao ước, dân được giải thoát khỏi Ai Cập, dân được dẫn qua sa mạc, dân nhận Lề Luật, dân được Thiên Chúa ở giữa. Căn tính của họ không do năng suất, tài sản hay quyền lực tạo nên, nhưng do tương quan với Thiên Chúa: “Ta sẽ là Thiên Chúa của các ngươi và các ngươi sẽ là dân của Ta.” Trong Tân Ước, Đức Kitô không phá bỏ lịch sử ấy nhưng hoàn tất và mở rộng nó. Người quy tụ một dân mới không theo huyết thống, địa lý hay dân tộc, nhưng trong Thánh Thần; không bị giới hạn bởi biên giới quốc gia, nhưng quy tụ “từ mọi chi tộc, ngôn ngữ, dân nước”; không có nền tảng tối hậu nơi huyết nhục nhưng trong đức tin, bí tích Rửa tội và sự hiệp thông với Người. Thánh Phêrô có thể gọi các Kitô hữu là “giống nòi được tuyển chọn, hàng tư tế vương giả, dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa”. Những danh xưng ấy trước hết không dành riêng cho một nhóm chức sắc, nhưng diễn tả phẩm giá chung của toàn thể những người đã thuộc về Đức Kitô. Chính ở đây ta chạm tới một điều căn bản: Hội Thánh không phải trước hết là nơi giáo dân “đến gặp các linh mục”, nhưng là một dân được Chúa quy tụ, trong đó có các thừa tác viên được đặt để nhằm phục vụ sự sống của dân ấy.
Nói rằng phẩm giá Rửa tội có trước mọi thừa tác vụ không có nghĩa tất cả mọi chức năng trong Hội Thánh giống nhau. Bình đẳng về phẩm giá không phải đồng nhất về nhiệm vụ. Hội Thánh không phải một tập thể nơi mọi người làm cùng một việc, cũng không phải một nền dân chủ tôn giáo trong đó mọi chức vụ chỉ là kết quả của việc phân công theo đa số. Đức Kitô đã thiết lập các Tông đồ; Hội Thánh tin nhận chức thánh như bí tích; giám mục, linh mục và phó tế có những nhiệm vụ không thể giản lược vào một sự ủy quyền cộng đồng. Nhưng điều phải giữ cùng lúc là: sự khác biệt ấy được đặt bên trong sự hiệp thông của một dân đã được sinh ra trước hết bởi cùng một ân sủng. Người linh mục không trở thành Kitô hữu hơn vì được truyền chức. Ngài lãnh nhận một ấn tích và một nhiệm vụ mới, được đồng hình đồng dạng với Đức Kitô theo cách đặc thù để phục vụ Dân Chúa, nhưng nền phẩm giá Kitô hữu của ngài vẫn là phẩm giá Rửa tội. Đức giám mục có quyền thánh hóa, giảng dạy và cai quản trong Hội Thánh địa phương, nhưng chính ngài trước hết cũng là người đã được Rửa tội, được nuôi bằng Thánh Thể, cần được tha thứ, cần cầu nguyện, cần nên thánh và cần được cứu độ bởi cùng một Đức Kitô. Người giáo dân không có chức thánh, nhưng không vì vậy mà thiếu một tầng nền nào đó của đời sống Kitô hữu. Họ không đứng ngoài để chờ một người có chức mang cho họ căn tính Hội Thánh. Họ đã ở trong Hội Thánh bởi Rửa tội. Họ đã thuộc về Đức Kitô. Họ đã có ơn gọi. Họ đã có sứ mạng. Họ đã tham dự vào chức tư tế, ngôn sứ và vương giả của Đức Kitô theo cách riêng. Họ không cần được “thăng cấp” thành gần giống linh mục mới trở nên quan trọng.
Điểm này sửa lại một trực giác rất dai dẳng trong nhiều cộng đoàn: tưởng rằng càng đứng gần cung thánh thì càng thuộc về Hội Thánh; càng cầm micro, càng tham gia ban nọ hội kia, càng có chức danh, càng được cha xứ gọi tên thì càng là người “có trách nhiệm”; còn những người không đảm nhiệm chức vụ giáo xứ, đi lễ âm thầm, nuôi con, làm ruộng, bán hàng, dạy học, chạy xe, làm kỹ sư, chăm người già thì chỉ là thành phần thụ động. Cách nhìn ấy không những làm nghèo thần học giáo dân mà còn làm nghèo chính linh mục học, vì biến linh mục thành trung tâm hút mọi hoạt động về mình. Một giáo dân có thể không bao giờ đứng trên bục đọc sách, nhưng bằng việc trung thực trong doanh nghiệp, bảo vệ người yếu, nuôi gia đình trong đức tin, chăm sóc người bệnh, chống lại gian lận, giáo dục con cái, giữ lòng trong sạch giữa môi trường nhiều cám dỗ, họ đang thi hành sứ mạng Hội Thánh ở một nơi mà linh mục không thể thay họ. Một bà mẹ đêm đêm dạy con làm dấu thánh giá, một người cha từ chối tiền bất chính, một bác sĩ không coi bệnh nhân như con số, một giáo viên không làm nhục học sinh yếu, một người làm truyền thông từ chối phát tán lời vu khống, một công nhân không hùa theo việc ăn cắp của công, một người trẻ chọn sống khiết tịnh và trung thực trong tình yêu — tất cả những điều ấy không nằm ở ngoại vi của đời sống Hội Thánh. Đó chính là Hội Thánh sống giữa đời. Nếu chỉ nhìn thấy Hội Thánh khi có áo lễ, micro, hội trường và bảng tên ban mục vụ, ta đã thu nhỏ thân mình Đức Kitô đến mức nguy hiểm.
Câu “giáo dân không được vào Hội Thánh nhờ linh mục” có thể nghe mạnh, nhưng cần được hiểu đúng. Không ai phủ nhận vai trò không thể thiếu của chức linh mục thừa tác trong đời sống bí tích. Bí tích Rửa tội thông thường được cử hành bởi thừa tác viên có thẩm quyền; Thánh Thể đòi linh mục có chức; bí tích Hòa giải đòi thừa tác viên có chức thánh và năng quyền; đời sống Hội Thánh không thể tự tổ chức thành những nhóm tín hữu không cần mục tử. Nhưng về thần học, linh mục không sở hữu Hội Thánh để mở cửa cho người khác bước vào như chủ một câu lạc bộ nhận thành viên. Hội Thánh thuộc về Đức Kitô. Rửa tội tháp một người vào Đức Kitô và thân thể Người. Chính Đức Kitô cứu. Chính Thánh Thần sinh Hội Thánh. Thừa tác viên phục vụ hành động cứu độ ấy như khí cụ được trao ban. Khi hiểu như thế, cả linh mục lẫn giáo dân đều được giải thoát khỏi một não trạng lệ thuộc méo mó. Linh mục không cần sống như thể mọi sinh hoạt phải qua tay mình mới có giá trị. Giáo dân không cần sống như thể không được cha xứ nhờ thì mình chẳng có sứ mạng. Có những việc giáo dân thực hiện không phải “thay cha”, nhưng vì chính Rửa tội đã sai họ. Có những trách nhiệm họ không nhận từ cha xứ, nhưng từ chính đời sống Kitô hữu: làm chứng cho Tin Mừng trong hôn nhân, nghề nghiệp, kinh tế, chính trị, văn hóa, học thuật, truyền thông và đời sống xã hội.
Công đồng nói phẩm trật để phục vụ Dân không có nghĩa biến linh mục thành nhân viên cung cấp dịch vụ tôn giáo cho khách hàng giáo dân. Đó lại là một cực đoan khác. Có người nghe từ “phục vụ” rồi hiểu theo logic thị trường: giáo dân trả tiền, yêu cầu nghi thức, linh mục phải đáp ứng; giáo dân là khách hàng, linh mục là người phục vụ; cộng đoàn thích gì thì mục tử phải làm điều ấy. Không. Phục vụ trong Tin Mừng không phải chiều theo mọi ý muốn. Đức Kitô phục vụ bằng cách rửa chân, nhưng cũng bằng cách dạy sự thật, sửa dạy, đòi hoán cải, đi lên thập giá và không chiều theo đám đông khi họ muốn kéo Người làm vua. Linh mục phục vụ Dân bằng Lời chân thật, bí tích được cử hành trung thành, sự hướng dẫn có trách nhiệm, việc giữ gìn hiệp thông và cả những lúc phải nói “không”. Nhưng quyền của ngài là quyền mục tử, nghĩa là quyền cho sự sống người khác lớn lên, không phải quyền làm người khác nhỏ lại. Người mục tử lành không cần chứng minh mình quan trọng bằng việc giữ mọi chìa khóa. Ngài quan trọng khi giúp đoàn chiên nghe được tiếng Đức Kitô, lớn lên trong đức tin, khám phá đặc sủng và thi hành sứ mạng của chính họ.
Từ đây có thể hiểu tại sao một giáo xứ vận hành hoàn toàn theo mô hình doanh nghiệp của cha xứ sẽ rất dễ làm lệch đời sống Hội Thánh. Trong mô hình ấy, cha xứ trở thành giám đốc điều hành, các hội đoàn là phòng ban, ban hành giáo là ban quản trị, giáo dân tích cực là nhân viên, còn phần đông giáo dân là khách hàng đến sử dụng dịch vụ thiêng liêng. Mọi ý tưởng chạy lên cha xin phép, mọi sáng kiến cần cha duyệt từng chi tiết, mọi vấn đề chờ cha giải quyết, mọi xung đột chờ cha phán quyết, mọi chương trình phải mang dấu ấn cá nhân của cha. Một giáo xứ như thế có thể rất đông hoạt động, lịch kín từ sáng đến tối, tài chính rõ ràng, công trình đẹp, truyền thông mạnh, nhưng vẫn chưa chắc trưởng thành theo tinh thần Dân Thiên Chúa. Bởi dấu hiệu trưởng thành không chỉ là nhiều chương trình mà là có nhiều người được trưởng thành trong trách nhiệm, phân định, cộng tác và sứ mạng. Một cha xứ ôm hết mọi việc đôi khi được khen là nhiệt thành, nhưng lâu dài có thể vô tình đào tạo một cộng đoàn lệ thuộc. Khi ngài đổi xứ, mọi thứ chao đảo. Người mới đến lại làm từ đầu. Một cộng đoàn trưởng thành hơn là cộng đoàn trong đó mục tử hướng dẫn, bảo đảm hiệp thông và phân định, nhưng không thay thế lương tâm, năng lực và trách nhiệm của giáo dân.
“Đồng trách nhiệm” là một từ dễ nói và khó sống. Nó không có nghĩa linh mục và giáo dân chia nhau 50-50 mọi quyết định. Nó cũng không có nghĩa Hội Thánh sao chép cơ chế hội đồng của đời chính trị. Đồng trách nhiệm nghĩa là mỗi thành phần, theo ân ban và nhiệm vụ của mình, thực sự mang lấy trách nhiệm đối với sứ mạng chung của Hội Thánh. Có những quyết định thuộc trách nhiệm riêng của mục tử và không thể đẩy sang một cuộc bỏ phiếu. Có những lãnh vực giáo dân có chuyên môn và kinh nghiệm mà mục tử cần nghiêm túc lắng nghe. Có những việc nếu linh mục quyết định thay người có năng lực chuyên môn sẽ trở thành thiếu khôn ngoan, dù về pháp lý ngài có thể có thẩm quyền cuối cùng. Ví dụ, một cha xứ không nhất thiết phải là người hiểu nhất về kết cấu xây dựng, tài chính doanh nghiệp, bảo vệ trẻ em, an ninh mạng, giáo dục đặc biệt, sức khỏe cộng đồng hay truyền thông số. Khi cộng đoàn có những giáo dân được đào tạo và sống đức tin trưởng thành trong các lĩnh vực ấy, việc lắng nghe họ không làm giảm quyền mục tử, mà giúp quyền mục tử trở nên khôn ngoan và có tính Hội Thánh hơn. Một mục tử trưởng thành không sợ người giáo dân giỏi hơn mình trong chuyên môn. Ngược lại, ngài biết nhận ra đó là quà Chúa ban cho cộng đoàn.
Ngược lại, giáo dân cũng phải trưởng thành khỏi tâm lý vừa lệ thuộc vừa phàn nàn. Có nơi giáo dân muốn cha xứ quyết hết nhưng khi không vừa ý lại trách cha độc đoán. Muốn cha lo mọi việc nhưng khi cha can thiệp lại nói cha ôm quyền. Muốn cha tìm người, tổ chức, gây quỹ, sửa nhà thờ, dạy giáo lý, thăm bệnh, giải quyết hôn nhân, điều hành hội đoàn, hòa giải xích mích, rồi vẫn mong cha có giờ cầu nguyện, học hỏi và chăm sóc mục vụ sâu. Một Hội Thánh của Dân Thiên Chúa không thể trưởng thành nếu giáo dân cứ đẩy mọi trách nhiệm lên hàng giáo sĩ. Đòi được lắng nghe đi cùng với bổn phận học hỏi. Đòi được tham gia đi cùng với trách nhiệm trung thành. Đòi đồng trách nhiệm đi cùng với kỷ luật, minh bạch, khả năng cộng tác và sẵn sàng chịu trách nhiệm về phần việc của mình. Không thể vừa nói “giáo dân là chủ thể” vừa làm việc tùy hứng, đến họp lúc nhớ lúc quên, không chuẩn bị, không chịu đào tạo, không đọc tài liệu, không tôn trọng thẩm quyền hợp pháp, nhưng lại muốn ý mình được xem như tiếng nói của Thánh Thần. Phẩm giá chung không miễn ai khỏi trưởng thành.
Khái niệm Dân Thiên Chúa còn bảo vệ Hội Thánh khỏi một thứ giáo sĩ trị tinh vi. Giáo sĩ trị không đơn giản là linh mục có quyền. Hội Thánh có phẩm trật và quyền thánh. Giáo sĩ trị xảy ra khi chức thánh bị biến thành địa vị xã hội, khi người có chức được coi như thuộc một đẳng cấp tinh thần cao hơn về phẩm giá, khi tiếng nói của giáo sĩ tự động được xem trọng hơn trong mọi lĩnh vực dù không có chuyên môn, khi giáo dân được khen nhất vì ngoan ngoãn và hữu dụng, khi sự trưởng thành của họ bị nghi ngờ như một nguy cơ cho quyền bính. Nhưng giáo sĩ trị cũng có thể được giáo dân nuôi dưỡng. Khi giáo dân chỉ thích “xin cha quyết”, coi cha như người có quyền thiêng giải đáp mọi thứ từ mua đất đến chọn nghề, từ chữa bệnh đến dạy con, từ kinh doanh đến bầu cử, họ đang đẩy giáo sĩ vào một vị trí mà thần học Công giáo không hề trao. Khi giáo dân tranh nhau gần cha, khoe được cha tin, lấy quan hệ với linh mục làm vốn xã hội trong cộng đoàn, họ cũng đang củng cố giáo sĩ trị. Vì thế chữa giáo sĩ trị không chỉ bằng việc yêu cầu linh mục bớt quyền, mà bằng việc cả linh mục và giáo dân trở về với thần học Rửa tội, đặc sủng, hiệp thông và sứ mạng.
Cũng cần phân biệt phẩm giá chung với chủ nghĩa bình quân. Trong một thân thể, tay không phải mắt, mắt không phải chân, nhưng không bộ phận nào có thể nói bộ phận kia không cần thiết. Thánh Phaolô đã dùng hình ảnh ấy để mô tả Hội Thánh. Cùng một thân thể không có nghĩa cùng một chức năng. Chính sự khác nhau được Thánh Thần dùng để làm nên hiệp thông. Người giáo dân không cần bắt chước linh mục để chứng minh phẩm giá. Linh mục không cần làm công việc của giáo dân để chứng minh mình gần đời. Tu sĩ không cần bị kéo vào tiêu chuẩn hiệu quả mục vụ của giáo xứ để chứng minh ơn gọi hữu ích. Mỗi bậc sống, mỗi đặc sủng, mỗi thừa tác vụ đều có vị trí. Cái làm chúng hiệp nhất không phải việc ai cũng giống nhau, nhưng việc tất cả cùng quy hướng về Đức Kitô và sứ mạng của Người. Hội Thánh nghèo đi khi mọi ơn gọi bị ép vào một khuôn duy nhất.
Ở đây nổi lên một câu hỏi rất thực tế: thế nào là một giáo dân “chủ thể” trong Hội Thánh? Chủ thể không đồng nghĩa với người có chức trong giáo xứ. Chủ thể là người biết mình được gọi và được sai. Người ấy không chờ người khác sống đạo thay mình. Người ấy có lương tâm được đào tạo, biết đọc Lời Chúa, tham dự bí tích, hiểu giáo huấn Hội Thánh, biết phân định và có khả năng chịu trách nhiệm cho các quyết định Kitô hữu trong đời sống thật. Một giáo dân chủ thể không hỏi cha xứ từng việc nhỏ như thể mình chưa bao giờ trưởng thành, nhưng cũng không lấy chữ “lương tâm” làm cớ tự tách mình khỏi Hội Thánh. Họ lắng nghe, học hỏi, cầu nguyện, tham khảo khi cần, rồi sống trách nhiệm trước Chúa. Trong nghề nghiệp, họ không hỏi “cha có cho phép tôi làm điều này không?” nếu đó là một quyết định chuyên môn hợp pháp cần được phân định theo lương tâm. Họ hỏi sâu hơn: điều này có hợp sự thật, công bằng, phẩm giá con người và Tin Mừng không? Họ không đẩy việc xây dựng xã hội công bằng cho linh mục. Họ hiểu đó là phần sứ mạng riêng của mình.
Một Hội Thánh biết mình là Dân Thiên Chúa cũng sẽ nhìn khác về những người âm thầm. Trong một nền văn hóa thích thấy mặt, có chức, có bảng tên và được nhắc đến, rất dễ tưởng chỉ người có vai trò công khai mới có giá trị. Nhưng Nước Thiên Chúa có vô số người không ai biết tên. Người bà cầu nguyện cho gia đình. Người cha âm thầm trả món nợ không ai buộc trả. Người phụ nữ chăm chồng bệnh nhiều năm. Người trẻ giữ đức tin trong ký túc xá nơi không ai nâng đỡ. Người công nhân gửi tiền về nuôi cha mẹ và vẫn sống trung thực. Người bệnh dâng đau khổ trong hy vọng. Những người ấy không đứng bên lề Dân Thiên Chúa. Họ là Dân. Hội Thánh không chỉ được xây bởi những người xuất hiện trong lịch sinh hoạt giáo xứ. Hội Thánh còn được xây bởi hàng triệu hành vi đức tin, hy vọng và bác ái không có biên bản.
Một hiểu biết đúng về Dân Thiên Chúa cũng thay đổi cách đào tạo giáo dân. Nếu giáo dân chỉ được đào tạo để phục vụ việc nội bộ nhà thờ, ta đang đào tạo nhân sự giáo xứ chứ chưa chắc đang đào tạo người môn đệ giáo dân. Họ cần học Kinh Thánh và giáo lý, nhưng cũng cần học đạo đức nghề nghiệp, giáo huấn xã hội, phân định lương tâm, đời sống hôn nhân, giáo dục con cái, trách nhiệm công dân, sử dụng tiền bạc, truyền thông số, bảo vệ người yếu, đối thoại trong xã hội đa nguyên. Một giáo dân biết xếp ghế hội trường nhưng không biết sống đức tin trong công ty vẫn chưa được chuẩn bị cho ơn gọi của mình. Một giáo dân rất giỏi điều hành đoàn thể nhưng trong doanh nghiệp lại gian dối thì đời sống Hội Thánh bị tách đôi. Phẩm giá Rửa tội phải đi đến tận bàn làm việc, hợp đồng, điện thoại, tài khoản ngân hàng và các quyết định gia đình.
Từ thần học Dân Thiên Chúa, ta cũng hiểu lại hội đồng mục vụ. Hội đồng mục vụ không phải quốc hội thu nhỏ đối trọng cha xứ, cũng không phải ban trợ lý đến để nghe cha thông báo những gì đã quyết. Nếu chỉ họp để hợp thức hóa quyết định của người đứng đầu, cơ cấu ấy mất ý nghĩa. Nếu họp để tranh quyền, cũng mất ý nghĩa. Hội đồng mục vụ đúng nghĩa là nơi mục tử và những người đại diện cho kinh nghiệm đa dạng của Dân Chúa cùng lắng nghe thực tại, cầu nguyện, phân định nhu cầu, nhận ra hướng đi và xây dựng sứ mạng chung. Cha xứ vẫn có trách nhiệm riêng, nhưng trách nhiệm ấy được thực thi trong tương quan hiệp thông, không trong cô lập. Người giáo dân tham gia cũng không đại diện phe nhóm để vận động quyền lợi, nhưng mang vào cuộc phân định tiếng nói của gia đình, người trẻ, người nghèo, người lao động, người già, người di dân và những người ít được nghe.
Dân Thiên Chúa còn là một khái niệm có sức thanh luyện tham vọng quyền lực trong Hội Thánh. Khi nhớ mình thuộc về một dân được Chúa cứu, người có chức hiểu quyền là gánh nặng phục vụ, không phải bậc thang danh dự. Khi nhớ mình thuộc về một dân được Chúa cứu, người giáo dân hiểu tham gia không phải giành vị trí. Mỗi người đứng trước thập giá đều là người được cứu bởi lòng thương xót. Không ai tự tạo căn tính Hội Thánh cho mình. Không ai sở hữu dân này. Đức Giáo hoàng không sở hữu Hội Thánh; giám mục không sở hữu giáo phận; cha xứ không sở hữu giáo xứ; hội đồng mục vụ không sở hữu cộng đoàn; một gia đình lâu năm không sở hữu giáo họ. Tất cả đều thuộc về Đức Kitô. Chính điều ấy làm phát sinh tự do. Khi không ai sở hữu Hội Thánh, ta có thể phục vụ mà không cần chiếm hữu.
Một giáo xứ sống đúng tinh thần Dân Thiên Chúa sẽ có những dấu hiệu khá rõ. Người ta không chỉ hỏi “cha muốn gì?” mà còn hỏi “Chúa đang mời cộng đoàn điều gì?”. Cha xứ không phải người phát biểu trong mọi chương trình. Người có chuyên môn được tin tưởng. Người trẻ có chỗ để nói mà không bị coi thường chỉ vì ít tuổi. Người nghèo được nghe chứ không chỉ được phát quà. Phụ nữ không chỉ lo bếp núc và trang trí nếu họ có khả năng giáo dục, quản trị và phân định. Hội đoàn không biến thành lãnh địa riêng. Tài chính minh bạch. Những quyết định quan trọng có tham khảo thích hợp. Người phục vụ được đào tạo. Người mắc lỗi có cơ hội sửa. Không ai được miễn khỏi trách nhiệm chỉ vì thân với cha. Mục tử gần đoàn chiên nhưng không thao túng. Giáo dân chủ động nhưng không tách khỏi mục tử. Sự hiệp thông không dựa trên tính cách của một cá nhân mà trên Đức Kitô.
Khi thần học này đi sâu vào linh đạo, người giáo dân không còn sống với mặc cảm “tôi chỉ là giáo dân”. Hai chữ “chỉ là” cần được bỏ đi. Không ai “chỉ là” người đã được Rửa tội nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Không ai “chỉ là” chi thể của Đức Kitô. Không ai “chỉ là” đền thờ Chúa Thánh Thần. Không ai “chỉ là” người được mời gọi nên thánh và dự phần vào sứ mạng cứu độ. Có thể một người không có chức vụ công khai nào. Điều đó không làm bí tích Rửa tội của họ nhỏ hơn. Đôi khi người đang âm thầm nuôi một gia đình trong đức tin thi hành một sứ mạng có hậu quả sâu hơn nhiều chương trình đông người. Hội Thánh không đo phẩm giá bằng micro.
Linh mục cũng được giải thoát khi nhận ra điều này. Ngài không phải cứu tinh của giáo xứ. Đấng Cứu Độ đã có rồi. Ngài không cần biết mọi thứ. Ngài không cần làm mọi thứ. Ngài không cần giữ cộng đoàn lệ thuộc để chứng minh sự cần thiết của chức thánh. Chức linh mục cần thiết không phải vì giáo dân bất lực, nhưng vì Đức Kitô muốn ban cho Dân Người những thừa tác viên làm dấu chỉ hữu hình của sự hiện diện mục tử của Người, cử hành bí tích và phục vụ hiệp thông. Một linh mục thành công không phải người khiến giáo xứ không thể sống nếu thiếu mình, nhưng người giúp cộng đoàn lớn lên đến mức khi mình chuyển đi, họ vẫn tiếp tục sống đức tin, phục vụ, cầu nguyện, cộng tác và đón người kế nhiệm trong bình an. Mục tử không trồng cây để cây bám mãi vào cọc chống. Ngài giúp cây bén rễ trong Đức Kitô.
Điều này đặc biệt quan trọng trong thời đại ngày nay, khi Hội Thánh ở nhiều nơi đối diện với tình trạng thiếu linh mục, di dân, đô thị hóa, khủng hoảng gia đình, văn hóa số và những vấn đề xã hội phức tạp. Không thể đáp lại các thách đố ấy bằng cách yêu cầu hàng giáo sĩ làm nhiều hơn mãi. Giải pháp không phải biến giáo dân thành linh mục phụ, nhưng làm thức tỉnh toàn thể Dân Thiên Chúa. Một cộng đoàn có hàng trăm giáo dân trưởng thành trong đức tin, mỗi người sống sứ mạng ở gia đình, trường học, công ty và xã hội, sẽ hiện diện trong thế giới theo cách một linh mục dù rất nhiệt thành cũng không thể thay thế. Linh mục cử hành Thánh Thể để nuôi dân ấy. Linh mục giảng Lời để dân ấy được soi sáng. Linh mục giải tội để dân ấy được chữa lành. Linh mục quy tụ để dân ấy hiệp thông. Rồi dân ấy được sai đi. Nếu mọi người chỉ quay lại làm việc quanh nhà xứ, động lực sai đi bị mất.
Có một hình ảnh rất đẹp cho toàn bộ chương này: bàn tiệc Thánh Thể. Trong Thánh lễ, cộng đoàn không tụ họp như nhân viên quanh giám đốc. Tất cả được Đức Kitô quy tụ. Linh mục chủ tế không ngồi đó nhân danh bản thân, nhưng phục vụ mầu nhiệm Đức Kitô là Đầu. Giáo dân không đứng đó như khán giả, nhưng tham dự tích cực bằng chức tư tế Rửa tội: lắng nghe, đáp lời, cầu nguyện, dâng lễ tế đời mình và hiệp lễ. Rồi chính lời sai cuối lễ cho thấy mục đích: “Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an.” Đi đâu? Đi về với thế giới. Chính nơi ấy Dân Thiên Chúa tiếp tục phụng tự bằng đời sống. Người giáo dân mang bàn tiệc Thánh Thể vào trong một tuần sống mà không biến bàn làm việc thành bàn thờ theo nghĩa nghi thức, nhưng bằng cách làm cho lao động, quan hệ, của cải, quyền lực và thời gian được đặt dưới quyền Chúa.
Vì thế, điều cần tránh là hai hình ảnh đối nghịch nhưng đều sai: một bên là Hội Thánh của giáo sĩ, trong đó giáo dân là người phụ giúp; bên kia là Hội Thánh của giáo dân, trong đó chức thánh bị xem như trở ngại. Hội Thánh không phải của bên nào. Hội Thánh là của Đức Kitô. Trong Người, một dân được sinh ra; trong dân ấy, nhiều ơn gọi và thừa tác vụ được trao. Không có phẩm trật thì Dân Thiên Chúa dễ mất hình thức tông truyền và sự hiệp thông hữu hình. Không có ý thức về phẩm giá chung thì phẩm trật dễ biến dạng thành giai cấp. Không có giáo dân trưởng thành thì sứ mạng giữa đời bị teo lại. Không có mục tử thì cộng đoàn dễ tan thành các nhóm tự định nghĩa đức tin. Chân lý Công giáo luôn giữ cả hai phía trong một mầu nhiệm hiệp thông.
Cuối cùng, Dân Thiên Chúa là một lời nhắc về cách Thiên Chúa hành động. Người không cứu từng cá nhân rời rạc rồi gom họ vào một tòa nhà. Người tạo một dân. Đức tin Kitô hữu có chiều kích “chúng ta”. Tôi được Rửa tội vào một thân thể. Tôi lãnh nhận đức tin từ Hội Thánh. Tôi sống nhờ lời cầu của người khác. Tôi được nuôi bằng cùng một Thánh Thể. Tôi mang trách nhiệm đối với anh chị em. Phẩm giá Rửa tội vì thế không phải một quyền cá nhân để đòi vị trí, nhưng là ơn gọi bước vào hiệp thông và sứ mạng. Người giáo dân càng nhận ra phẩm giá của mình càng phải biết phục vụ. Linh mục càng hiểu phẩm giá chung của Dân càng phải biết phục vụ. Tu sĩ càng hiểu điều ấy càng sống đặc sủng mình như quà tặng cho toàn thể thân thể. Không ai sống cho mình.
Có lẽ câu hỏi xét mình tốt nhất cho một giáo xứ không phải chỉ là: năm nay chúng ta xây được gì, tổ chức bao nhiêu lễ, có bao nhiêu hội đoàn, thu được bao nhiêu tiền, mà là: sau một năm, Dân Chúa ở đây có trưởng thành hơn không? Người giáo dân có hiểu đức tin hơn không? Có biết phân định hơn không? Có sống trách nhiệm trong gia đình và xã hội hơn không? Có người mới được trao trách nhiệm không, hay mọi việc vẫn nằm trong một nhóm quen thuộc? Có người nghèo được nghe không? Có người trẻ được tin không? Có sự cộng tác thật giữa mục tử và giáo dân không? Cha xứ có thể vắng vài ngày mà cộng đoàn vẫn sống bình an không? Người giáo dân có hiểu rằng họ được sai vào thế giới không? Nếu câu trả lời ngày càng là có, thần học Dân Thiên Chúa không còn nằm trong sách Công đồng. Nó đã thành hình trong một cộng đoàn sống.
Và khi ấy ta hiểu câu rất đơn giản nhưng có sức đảo lại cả não trạng: linh mục không phải là người ban cho giáo dân quyền được thuộc về Hội Thánh. Cả linh mục lẫn giáo dân đều đã được Đức Kitô gọi vào Hội Thánh bởi ân sủng. Nhưng trong dân ấy, Đức Kitô ban cho một số người chức thánh để phục vụ anh chị em mình. Thừa tác vụ không sinh ra Dân; thừa tác vụ được trao cho Dân. Quyền bính không đứng trên phẩm giá Rửa tội; quyền bính phục vụ cho phẩm giá ấy sinh hoa trái. Và giáo dân không phải nhân viên của giáo xứ. Họ là thành phần của Dân Thiên Chúa, được kêu gọi cùng chịu trách nhiệm cho sự thánh thiện và sứ mạng của Hội Thánh, ngay chính trong bậc sống và giữa thế giới mà Thiên Chúa đã đặt họ vào.
CHƯƠNG 15. HIỆP THÔNG VÀ SỨ MẠNG: GIÁO DÂN Ở TRONG, KHÔNG ĐỨNG NGOÀI
Có một cách nói rất quen trong đời sống Giáo hội nhưng nếu không cẩn thận lại làm sai hình ảnh về giáo dân: người ta nói giáo dân “đến với Giáo hội”, “giúp Giáo hội”, “cộng tác với Giáo hội”, “tham gia vào công việc của Giáo hội”, như thể Giáo hội là một thực tại đã có sẵn gồm giáo hoàng, giám mục, linh mục, tu sĩ, cơ cấu, văn phòng, nhà thờ, ban ngành, rồi giáo dân từ bên ngoài bước vào để góp sức. Cách nói ấy có thể vô hại trong giao tiếp hằng ngày, nhưng về thần học thì phải hết sức cẩn thận. Giáo dân không đứng ngoài Giáo hội để rồi được mời bước vào. Giáo dân là Giáo hội. Người đã chịu phép Rửa không phải khách của Dân Thiên Chúa. Họ thuộc về Dân Thiên Chúa. Họ không chỉ hỗ trợ sứ mạng của Hội Thánh; họ mang sứ mạng ấy theo cách riêng của ơn gọi mình. Họ không phải lực lượng dự bị được gọi đến khi cha xứ thiếu người. Họ cũng không phải khán giả ngồi dưới để một nhóm chuyên nghiệp trên cung thánh thực hiện đời sống Kitô giáo thay cho mình. Nhờ phép Rửa, họ được tháp nhập vào Đức Kitô, được trở nên chi thể của thân mình Người, được chia sẻ sự sống mới, được đưa vào một dân được Thiên Chúa quy tụ, và từ chính sự thuộc về ấy phát sinh trách nhiệm đối với đời sống và sứ mạng của toàn thể Hội Thánh. Bởi vậy, nói đến hiệp thông và sứ mạng của giáo dân không phải nói đến hai nhiệm vụ bổ sung cho một căn tính vốn có từ trước; đó là nói đến chính cách căn tính Kitô hữu triển nở. Người Kitô hữu được sinh ra trong một sự hiệp thông và được sai đi từ một sự hiệp thông. Không ai tự rửa tội cho mình, tự sinh mình vào đức tin, tự ban cho mình Thánh Thể, tự viết lấy Tin Mừng của mình, tự dựng nên Hội Thánh riêng rồi tuyên bố mình là môn đệ. Đức tin luôn được nhận. Bí tích luôn được cử hành trong Hội Thánh. Lời Chúa luôn đến với chúng ta qua một dân đã nghe trước chúng ta. Kinh Tin Kính mà một tín hữu đọc hôm nay là lời tuyên xưng đã được bao thế hệ giữ gìn bằng học hỏi, cầu nguyện, nước mắt, máu tử đạo và lòng trung thành. Người Kitô hữu luôn bước vào một câu chuyện đã bắt đầu trước mình và sẽ tiếp tục sau mình. Chính vì vậy, hiệp thông không phải một phụ kiện tình cảm của đời sống đức tin. Hiệp thông nằm trong cấu trúc của đời sống Kitô hữu.
Hiệp thông trước hết không phải cảm giác ấm áp giữa những người hợp tính nhau. Cũng không phải bầu khí dễ chịu trong một nhóm cầu nguyện. Một nhóm người có thể rất thân, cười với nhau nhiều, đi ăn với nhau thường xuyên, nhắn tin với nhau suốt ngày, nhưng chưa chắc vì thế đã sống mầu nhiệm hiệp thông Kitô giáo. Ngược lại, một cộng đoàn có thể trải qua bất đồng, có những con người rất khác tính, khác tuổi, khác nghề, khác hoàn cảnh xã hội, thậm chí có những vết thương cần nhiều năm để chữa lành, nhưng vẫn có thể thật sự sống hiệp thông nếu họ cùng ở lại trong Đức Kitô, cùng tuyên xưng một đức tin, cùng nhận một phép Rửa, cùng được nuôi dưỡng bởi một Thánh Thể, cùng tìm kiếm ý Chúa, cùng chịu sửa đổi bởi Tin Mừng và cùng học yêu nhau bằng tình yêu không chỉ dựa trên cảm tình tự nhiên. Hiệp thông Kitô giáo sâu hơn sự hòa hợp tâm lý. Nền sâu nhất của hiệp thông là chính sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi được trao ban cho con người. Chúa Cha quy tụ chúng ta trong Chúa Con nhờ Chúa Thánh Thần. Hội Thánh không đơn giản là một tổ chức do những người cùng quan điểm tôn giáo lập nên. Hội Thánh phát xuất từ hành động của Thiên Chúa. Thiên Chúa gọi, quy tụ, thánh hóa và sai đi. Vì thế, nguồn của hiệp thông không nằm trước hết ở khả năng tổ chức tốt, kỹ năng sinh hoạt nhóm, khả năng xây dựng quan hệ hay tài ngoại giao của con người. Những điều ấy cần, nhưng không đủ. Một giáo xứ có thể tổ chức rất chuyên nghiệp mà vẫn thiếu hiệp thông. Một hội đoàn có thể có nội quy chặt chẽ mà vẫn chia phe. Một ban mục vụ có thể họp đều mà người này vẫn khinh người kia. Một cộng đoàn có thể dùng rất nhiều chữ “chúng ta” nhưng thực tế chỉ là nhiều cái tôi đứng cạnh nhau. Hiệp thông đòi một công việc sâu hơn: để chính Đức Kitô trở thành trung tâm chung và để mỗi người chấp nhận rằng mình không sở hữu Hội Thánh.
Đây là chỗ giáo dân cần nhận lại một ý thức rất căn bản: tôi không “đến nhà thờ của cha xứ”. Tôi thuộc về một cộng đoàn Hội Thánh. Giáo xứ không phải tài sản thiêng liêng của linh mục đang được bổ nhiệm ở đó, cũng không phải tài sản của một nhóm gia đình lâu năm, một hội đoàn mạnh, một ban hành giáo, một nhóm ân nhân hay những người có tiếng nói lớn. Giáo xứ là một biểu hiện cụ thể của Hội Thánh tại một nơi, nơi Dân Thiên Chúa được quy tụ quanh Lời Chúa và Thánh Thể dưới sự chăm sóc mục tử hợp pháp. Linh mục có trách nhiệm đặc thù không ai được tùy tiện xóa nhòa; giáo dân cũng có phẩm giá và trách nhiệm riêng không ai được biến thành thứ phụ thuộc. Hiệp thông không xóa khác biệt. Hiệp thông làm các khác biệt phục vụ nhau. Nếu hiểu hiệp thông là mọi người phải làm giống nhau, nói giống nhau, có cùng thừa tác vụ và cùng quyền hạn, ta đã biến Hội Thánh thành một tập thể đồng dạng. Nếu hiểu hiệp thông là một người quyết tất cả còn những người khác chỉ việc nghe, ta lại biến Hội Thánh thành mô hình quyền lực đơn tuyến. Hình ảnh thân thể của thánh Phaolô mạnh hơn cả hai mô hình ấy: thân thể là một nhưng có nhiều chi thể; mắt không phải tay, tay không phải chân, đầu không phải toàn thân, và chính vì khác nhau nên các phần mới cần nhau. Sự khác biệt không phải tai nạn của hiệp thông. Được đặt đúng chỗ, khác biệt là điều làm hiệp thông phong phú. Một Hội Thánh chỉ có linh mục sẽ không phải Hội Thánh trọn vẹn. Một Hội Thánh muốn xóa chức tư tế thừa tác để mọi người giống nhau cũng không trung thành với cấu trúc bí tích Chúa Kitô đã ban. Một giáo xứ lành mạnh không hỏi ai quan trọng hơn, nhưng hỏi ân ban của mỗi người được dùng thế nào để xây dựng toàn thân mình.
Giáo dân vì thế ở trong Hội Thánh không phải bằng cách mặc lấy hình thức của giáo sĩ. Một sai lầm dai dẳng là cứ nghĩ càng tiến gần cung thánh càng gần trung tâm Hội Thánh, càng tham gia nhiều ban ngành càng là giáo dân trưởng thành, càng được xuất hiện nhiều trong các nghi lễ càng có vai trò. Từ đó nảy sinh một hình thức giáo sĩ hóa giáo dân rất tinh vi. Người giáo dân vốn được sai vào gia đình, công việc, kinh tế, văn hóa, khoa học, chính trị, nghệ thuật, giáo dục, truyền thông, đời sống xã hội, lại bắt đầu đánh giá giá trị Kitô hữu của mình bằng số lần được cầm micro trong nhà thờ. Có người làm cha mẹ tuyệt vời, giữ một gia đình giữa bao khủng hoảng, sống trung thực trong nghề nghiệp, chăm sóc cha mẹ già, bênh vực người yếu, giữ lương tâm giữa môi trường đầy gian dối, nhưng vẫn nghĩ mình “chẳng làm gì cho Giáo hội” vì không thuộc ban nào. Đó là một thất bại trong đào tạo thần học giáo dân. Một người mẹ nuôi con trong đức tin đang phục vụ Hội Thánh. Một bác sĩ bảo vệ phẩm giá bệnh nhân đang phục vụ sứ mạng Hội Thánh. Một người kinh doanh từ chối gian lận dù mất lợi nhuận đang làm chứng cho Tin Mừng. Một công nhân không hùa theo sự bất công đang thi hành chức năng ngôn sứ theo cách của mình. Một giáo viên không coi học trò nghèo là gánh nặng đang làm cho lòng thương xót của Đức Kitô có hình hài trong lớp học. Một luật sư bảo vệ công lý, một nhà khoa học tôn trọng sự thật, một nghệ sĩ nâng tâm hồn con người thay vì khai thác dục vọng thấp hèn, một người trẻ giữ sự trong sạch giữa nền văn hóa biến thân xác thành món hàng, một người con kiên trì chăm cha mẹ lúc tuổi già — những điều ấy không nằm ngoài sứ mạng Hội Thánh. Chính ở đó, nơi đời sống tưởng như hoàn toàn “trần thế”, người giáo dân sống điều Hội Thánh là và thi hành điều Hội Thánh được sai đến để làm.
Nhưng cũng phải nói chiều ngược lại. Nhấn mạnh tính trần thế của giáo dân không có nghĩa biến giáo dân thành những Kitô hữu sống biệt lập với đời sống Hội Thánh hữu hình. Có một thứ “thần học giáo dân” bị đẩy quá xa đến mức người ta nói gần như thể giáo dân chỉ cần sống tốt ngoài xã hội, còn phụng vụ, giáo lý, đời sống cộng đoàn, quyền giáo huấn, cơ cấu Hội Thánh và các vị mục tử chẳng liên quan bao nhiêu. Điều ấy cũng sai. Giáo dân không được sai đi như những cá nhân độc lập mang một thứ Tin Mừng tư nhân. Họ được sai đi từ trong thân mình Đức Kitô. Sứ mạng bắt nguồn từ hiệp thông. Một cành chỉ sinh hoa trái khi ở lại trong cây. Một chi thể chỉ sống khi ở trong thân thể. Một sứ vụ Kitô giáo chỉ thật sự Kitô giáo khi còn được nuôi từ Lời, bí tích, đức tin của Hội Thánh và sự hiệp thông với toàn thể Dân Chúa. Tách sứ mạng khỏi hiệp thông thì sứ mạng rất dễ biến thành hoạt động xã hội có màu Công giáo, thành phong trào cá nhân, thành dự án của một người sáng lập, thành nơi xây dựng tên tuổi, thành cuộc vận động theo ý thức hệ, hoặc thành một tổ chức bác ái tốt nhưng dần quên tại sao mình tồn tại. Có những công việc khởi đầu bằng lòng nhiệt thành Tin Mừng nhưng sau nhiều năm lại chỉ còn mục tiêu hiệu quả, ngân sách, số người tham gia, sức ảnh hưởng, thương hiệu và khả năng truyền thông. Không phải những điều ấy tự nó xấu. Vấn đề là khi nguồn mạch thiêng liêng khô đi, người ta vẫn có thể vận hành bộ máy rất lâu mà không còn biết nó có còn đưa người ta đến Đức Kitô hay không.
Tách hiệp thông khỏi sứ mạng lại sinh căn bệnh ngược lại: Hội Thánh thành nhóm kín. Cộng đoàn chỉ lo giữ người của mình, bảo vệ sự yên ổn của mình, duy trì sinh hoạt của mình, chăm chút nội bộ, nhưng không còn bị thao thức bởi người chưa nghe Tin Mừng, người đã bỏ đạo, người nghèo, người bị loại ra ngoài lề, gia đình đổ vỡ, người trẻ đang lạc hướng, người nghiện ngập, người thất nghiệp, người bị bóc lột, người di dân, người không còn tin vào bất kỳ tổ chức tôn giáo nào. Một cộng đoàn có thể cầu nguyện rất nhiều mà vẫn khép kín. Một hội đoàn có thể rất đạo đức mà mọi sinh hoạt chỉ nhằm nuôi hội viên. Một giáo xứ có thể xây dựng rất đẹp mà vùng chung quanh vẫn không cảm thấy nơi ấy có liên quan gì đến nỗi đau của họ. Nếu hiệp thông chỉ được hiểu là giữ cho nội bộ không cãi nhau thì đó chưa phải hiệp thông Tin Mừng. Hiệp thông của Ba Ngôi là tình yêu tự hiến. Hiệp thông với Đức Kitô đưa người môn đệ vào chính chuyển động của Người: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em.” Người được quy tụ cũng là người được sai. Người được nuôi bởi Thánh Thể cũng được trao cho thế giới. Động từ của Thánh lễ không kết thúc ở “hãy ở lại”. Nó kết thúc bằng một chuyển động ra đi. “Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an” không phải thông báo chương trình đã hết. Đó là tiếng sai đi. Người tín hữu đã nhận Mình Đức Kitô được sai để trở nên thân mình Đức Kitô giữa đời.
Vì vậy, phải nhìn bàn thờ và đường phố trong một chuyển động duy nhất. Người giáo dân đến Thánh lễ với đời mình: tuần lao động, tiền bạc, vết thương gia đình, trách nhiệm, tội lỗi, niềm vui, thất bại, con cái, bệnh tật, những con người mình gặp. Họ không để các thực tại ấy ở cửa nhà thờ. Trong lời dâng lễ, tất cả được kết hợp với hy tế Đức Kitô. Rồi họ rời nhà thờ mang lấy Đức Kitô vào chính những thực tại ấy. Nếu bàn thờ không liên hệ đến đường phố thì phụng vụ có nguy cơ bị thu hẹp thành nghi thức. Nếu đường phố không trở về bàn thờ thì hoạt động Kitô hữu có nguy cơ trở thành chủ nghĩa nhân bản tự sức mình. Linh đạo giáo dân sống chính nhịp này: từ đời đến bàn thờ và từ bàn thờ trở lại đời; từ công việc đến lời cầu và từ lời cầu trở lại công việc; từ gia đình đến Thánh Thể và từ Thánh Thể trở lại bàn ăn gia đình; từ những bất công mình chứng kiến đến ánh sáng Tin Mừng và từ ánh sáng Tin Mừng trở lại trách nhiệm biến đổi điều có thể biến đổi.
Sự hiệp thông ấy cũng giúp giáo dân tránh một cám dỗ rất hiện đại: Kitô giáo theo sở thích. Trong thế giới tiêu dùng, con người quen chọn thứ phù hợp với mình. Thích loại nhạc nào thì nghe loại ấy, thích nội dung nào thì thuật toán gửi nội dung ấy, không thích ai thì bỏ theo dõi, không hợp nhóm thì chuyển nhóm. Tâm thức ấy dễ đi vào đời sống Hội Thánh. Người ta chọn cha giảng mình thích, cộng đoàn mình thích, kiểu phụng vụ mình thích, trang Công giáo nói đúng điều mình muốn nghe. Dần dần, “Hội Thánh” của một người có thể chỉ còn là tập hợp những tiếng nói xác nhận quan điểm của họ. Hiệp thông đòi điều ngược lại: tôi thuộc về một thân thể không do tôi tự tuyển chọn từng chi thể. Tôi phải học sống với những người không giống tôi. Tôi phải nghe những điều sửa tôi. Tôi phải phân biệt đức tin của Hội Thánh với sở thích đạo đức của mình. Tôi phải chấp nhận rằng không phải mọi điều tôi không thích đều sai, và không phải mọi điều khiến tôi dễ chịu đều đúng. Một giáo dân trưởng thành không chỉ hỏi “tôi có thích giáo xứ này không?” nhưng còn hỏi “Chúa đang mời tôi yêu cộng đoàn cụ thể này như thế nào?” Dĩ nhiên hiệp thông không có nghĩa chấp nhận lạm dụng, bất công hay sai trái. Có lúc bác ái đòi lên tiếng. Có lúc trách nhiệm đòi sửa chữa cơ cấu. Có lúc phải bảo vệ người bị tổn thương. Nhưng ngay cả khi phê bình, người Kitô hữu phê bình như một chi thể đau vì thân thể mình, chứ không như người đứng ngoài ném đá.
Điều này rất quan trọng trong tương quan giáo dân và mục tử. Hiệp thông không phải im lặng tuyệt đối trước mọi quyết định của người có chức thánh. Sự vâng phục Kitô giáo không đồng nghĩa với mất lương tâm, và chức vụ mục tử không biến một con người thành người biết mọi chuyên môn. Một linh mục có thể hiểu thần học và mục vụ nhưng không vì thế tự động hiểu hơn một bác sĩ về y khoa, một kỹ sư về xây dựng, một phụ huynh về những khó khăn cụ thể của con cái họ, một chuyên gia tài chính về ngân sách, một luật gia về pháp luật, hay người lao động về đời sống nhà máy. Hiệp thông là biết lắng nghe những ân ban khác nhau. Giáo dân không cần trở thành đối thủ của linh mục để có tiếng nói. Linh mục cũng không cần sợ giáo dân trưởng thành. Một cộng đoàn khỏe mạnh là nơi mục tử có thể thi hành trách nhiệm mục tử rõ ràng mà không độc quyền mọi sáng kiến, và giáo dân có thể nói với sự tự do của con cái Thiên Chúa mà không biến mọi bất đồng thành cuộc đấu quyền lực. Cả hai phải học một điều khó hơn quyền lực: phân định.
Có một kiểu giáo dân thụ động được tạo nên không chỉ vì giáo dân lười, nhưng đôi khi vì cơ cấu đã tập họ thụ động nhiều năm. Mọi sáng kiến phải hỏi. Mọi quyết định phải chờ. Mọi việc đều do một người biết. Khi sai thì bị trách. Khi không làm thì lại bị trách là thiếu nhiệt thành. Cuối cùng người ta học cách đứng nhìn. Rồi một cha xứ mới đến hỏi: “Sao giáo dân ở đây không có tinh thần trách nhiệm?” Có khi câu trả lời nằm trong lịch sử cộng đoàn. Trách nhiệm không mọc trong đất của sự kiểm soát quá mức. Muốn giáo dân trưởng thành phải giao trách nhiệm thật, đào tạo thật, lắng nghe thật, và cho phép họ chịu trách nhiệm về những lĩnh vực thuộc chuyên môn và ơn gọi của họ. Ngược lại, cũng có kiểu giáo dân đòi “đồng trách nhiệm” nhưng thực chất muốn mọi điều đều phải theo ý mình. Họ dùng chữ hiệp hành để che tham vọng quyền lực, dùng chữ giáo dân trưởng thành để từ chối mọi thẩm quyền, hoặc dùng kiến thức chuyên môn để khinh những ai không học bằng mình. Đó cũng không phải hiệp thông. Hiệp thông Kitô giáo luôn có thập giá của việc từ bỏ ý riêng. Không ai bước vào hiệp thông mà giữ nguyên cái tôi như cũ.
Sứ mạng giáo dân chính vì thế không khởi đầu từ tham vọng làm việc lớn. Nó khởi đầu từ ý thức mình được sai. “Được sai” khác “tự chọn dự án”. Người được sai hỏi: Chúa muốn gì? Hội Thánh đang cần gì? Con người cụ thể trước mặt tôi đang cần gì? Ơn gọi và khả năng Chúa ban cho tôi phù hợp với việc gì? Tôi có đang làm điều này vì tình yêu hay vì cần được công nhận? Tôi có còn ở lại trong nguồn hay đang chạy bằng quán tính? Những câu hỏi ấy bảo vệ sứ mạng khỏi chủ nghĩa hoạt động. Trong đời sống giáo dân, sứ mạng thường rất âm thầm. Một người có thể không bao giờ đứng trước hàng trăm người. Sứ mạng của họ có thể chỉ diễn ra quanh một bàn ăn, một văn phòng, một phòng bệnh, một chiếc xe ôm, một quầy hàng, một lớp học, một xưởng máy. Nhưng quy mô không quyết định phẩm chất Tin Mừng. Đức Maria đã sống phần lớn cuộc đời ở Nazareth. Đức Giêsu dành phần lớn đời trần thế trong một cuộc sống ẩn dật đến mức các sách Tin Mừng gần như không kể gì. Điều ấy tự nó đã phá một thần học sứ mạng chỉ đo bằng phạm vi ảnh hưởng.
Hãy nghĩ đến gia đình. Đây là một trong những không gian hiệp thông và sứ mạng đầu tiên của giáo dân. Hai vợ chồng không chỉ sống cho nhau; bí tích hôn phối đưa tình yêu của họ vào mầu nhiệm Đức Kitô và Hội Thánh. Họ trở nên chứng nhân cho sự trung tín trong một nền văn hóa dễ bỏ cuộc khi cảm xúc thay đổi. Họ đón nhận con cái không chỉ như một dự án cá nhân mà như những con người được trao phó. Họ dạy con cầu nguyện, xin lỗi, tha thứ, chia sẻ, nói thật, tôn trọng thân xác, biết giới hạn, yêu người nghèo. Chẳng có gì ngoạn mục trong việc một người cha ngồi nghe con mình sau một ngày dài. Không có truyền thông nào đăng tin một người mẹ thức đêm chăm con sốt mà không cáu gắt. Không ai trao bằng khen cho hai vợ chồng dám xin lỗi nhau trước mặt con sau một cuộc cãi vã. Nhưng chính những việc ấy làm Hội Thánh hiện diện. Nếu đời sống giáo xứ rất mạnh mà gia đình Kitô hữu tan rã vì không ai còn thời gian cho nhau, ta phải hỏi sứ mạng đang được hiểu thế nào. Một người có thể có mặt ở nhà thờ mỗi tối mà vắng mặt khỏi chính gia đình mình. Hoạt động tôn giáo không tự động đồng nghĩa với trung thành ơn gọi.
Trong lao động cũng vậy. Sứ mạng giáo dân không chỉ là tranh thủ giờ nghỉ để mời đồng nghiệp đi lễ. Điều ấy có thể tốt, nhưng loan báo Tin Mừng trong công việc trước hết là để Tin Mừng thay đổi cách ta làm việc. Có trung thực không? Có trả lương công bằng không? Có khai thác người yếu thế không? Có hối lộ không? Có nói dối khách hàng không? Có làm hàng giả không? Có coi nhân viên chỉ là chi phí không? Có hy sinh đạo đức để đạt chỉ tiêu không? Có dùng quyền lực để quấy rối người dưới không? Có lãng phí tài nguyên chung không? Một giám đốc Công giáo treo ảnh Thánh Tâm trong văn phòng nhưng bóc lột công nhân là một phản chứng. Một người làm việc rất bình thường nhưng giữ lương tâm trong sạch giữa một hệ thống gian dối có thể đang loan báo Tin Mừng mạnh hơn nhiều bài nói. Đây chính là chỗ hiệp thông trở thành sứ mạng: người ấy không mang ý riêng mình vào công việc nhưng mang lương tâm đã được nuôi bởi Lời Chúa, được thanh luyện trong bí tích Hòa giải, được nuôi bởi Thánh Thể và được soi sáng bởi giáo huấn xã hội của Hội Thánh.
Trong xã hội, giáo dân cũng không thể núp sau hàng giáo sĩ để tránh trách nhiệm. Những vấn đề kinh tế, chính trị, môi trường, giáo dục, khoa học, công nghệ, truyền thông, luật pháp phần lớn là những vùng mà giáo dân có vị trí đặc biệt để thi hành trách nhiệm. Linh mục có nhiệm vụ đào tạo lương tâm, công bố những nguyên tắc luân lý, bảo vệ phẩm giá con người, nhưng không phải lúc nào cũng có nhiệm vụ đưa ra giải pháp kỹ thuật cụ thể. Giáo dân được đào tạo tốt cần đi vào những nơi quyết định ấy. Họ có thể bất đồng với nhau về những phương án thực hành mà vẫn cùng trung thành với các nguyên tắc luân lý nền tảng. Hiệp thông không đòi đồng nhất mọi lựa chọn chính trị hay kinh tế. Nếu biến Hội Thánh thành một phe chính trị, ta đã thu nhỏ Tin Mừng. Nhưng nếu lấy cớ “đạo là đạo, đời là đời” để mặc cho bất công vận hành thì cũng phản bội tính chất nhập thể của đức tin. Giáo dân ở trong thế giới không để chạy theo thế giới, mà để cùng với mọi người thiện chí làm cho trật tự trần thế ngày càng tương hợp hơn với phẩm giá con người và ý định của Thiên Chúa.
Một dấu hiệu quan trọng của hiệp thông là mạng lưới bác ái. Hội Thánh không chỉ hiệp thông trong tín điều và nghi thức, nhưng còn trong việc mang gánh nặng của nhau. Ngay từ Hội Thánh sơ khai, việc bẻ bánh đi cùng việc quan tâm đến người nghèo. Không thể nói “chúng ta là một thân thể” rồi để một chi thể đói mà những chi thể khác không biết. Giáo dân, nhờ hiện diện sâu trong xã hội, thường là người nhìn thấy những nhu cầu mà cơ cấu giáo xứ chưa nhìn thấy: một gia đình đang mắc nợ, một em bé có nguy cơ bỏ học, một người già sống một mình, một công nhân vừa mất việc, một bà mẹ đơn thân bị khinh miệt, một người bệnh không đủ tiền điều trị, một người trẻ trầm lặng đang mất hy vọng. Hiệp thông không phải biết tên nhau trong danh sách hội viên. Hiệp thông trở thành cụ thể khi nỗi đau của người khác làm tôi không thể thản nhiên.
Tuy nhiên bác ái cũng phải được thanh luyện khỏi lòng ban ơn. Có người làm việc bác ái nhưng vô tình dựng khoảng cách trên-dưới rất lớn: tôi là người có, anh là người thiếu; tôi cho, anh nhận; tôi chụp ảnh, anh trở thành hình ảnh minh họa. Hiệp thông Kitô giáo đi sâu hơn. Người nghèo không chỉ là đối tượng sứ vụ; họ là chi thể của cùng một thân mình và nhiều khi chính họ dạy Hội Thánh điều người giàu đã quên. Người phục vụ không chỉ “mang Chúa đến” cho người nghèo, như thể Chúa chưa có mặt ở đó. Nhiều lần chính khi đến với người bị bỏ rơi, người môn đệ khám phá Đức Kitô đã chờ mình từ trước. Vì vậy sứ mạng không chỉ đi một chiều từ người mạnh đến người yếu. Nó là cuộc gặp gỡ trong đó cả hai được biến đổi.
Hiệp thông cũng phải vượt ranh giới hội đoàn. Một trong những nguy cơ của sinh hoạt giáo xứ là mỗi nhóm trở thành một tiểu giáo hội. Nhóm ca đoàn chỉ biết ca đoàn. Nhóm giáo lý chỉ biết giáo lý. Hội đoàn chỉ lo hội viên. Ban này khó chịu ban kia. Nhóm cũ nhìn nhóm mới với nghi ngờ. Người phục vụ lâu năm nghĩ mình có quyền sở hữu. Khi ấy cộng đoàn có rất nhiều hoạt động nhưng thân thể bị chia nhỏ. Một dấu hiệu trưởng thành là mỗi nhóm biết mình tồn tại vì toàn thể. Ca đoàn không hát để chứng minh mình hay nhưng để phục vụ cộng đoàn cầu nguyện. Hội đồng mục vụ không họp để tạo ảnh hưởng nhưng để giúp cộng đoàn phân định. Nhóm giới trẻ không chỉ tạo sân chơi cho người trẻ Công giáo nhưng còn phải nhìn ra người trẻ đứng ngoài. Ban bác ái không thay thế trách nhiệm bác ái của toàn giáo xứ. Người điều phối không sở hữu nhóm mình. Không ai nói “đây là người của tôi”. Tất cả là của Đức Kitô.
Đặc biệt trong thời đại mạng xã hội, câu hỏi hiệp thông và sứ mạng càng trở nên cấp thiết. Một người có thể theo dõi hàng trăm trang Công giáo, nghe bài giảng mỗi ngày, tham gia nhiều nhóm cầu nguyện trực tuyến, nhưng lại không biết người ngồi cạnh mình trong nhà thờ đang đau khổ điều gì. Không gian số tạo những khả năng sứ mạng thật: người ở xa có thể nghe Lời Chúa, người bệnh có thể được đồng hành, giáo dân có thể học thần học, những lời chứng có thể đi xa. Nhưng tương tác số không tự động thành hiệp thông. Một người có năm mươi nghìn người theo dõi vẫn có thể cô độc. Một kênh Công giáo có triệu lượt xem vẫn có thể tạo chia rẽ. Một người bênh vực “chân lý” trên mạng nhưng sỉ nhục người khác không thể lấy chính thống làm bình phong cho thiếu bác ái. Sự thật Kitô giáo không cần được bảo vệ bằng cách phản bội cách hành xử của Đức Kitô. Hiệp thông đòi cả sự thật và bác ái. Bác ái không có sự thật thành dễ dãi. Sự thật không có bác ái thành vũ khí.
Ở đây giáo dân có một sứ mạng mới và rất lớn: làm chứng cho một cách hiện diện khác trên môi trường số. Không lan truyền tin chưa kiểm chứng. Không lấy danh dự người khác đổi lấy lượt tương tác. Không dùng đời tư làm nội dung rẻ tiền. Không biến mọi vấn đề trong Hội Thánh thành cuộc chiến phe phái. Không vội kết án người chỉ từ một đoạn video cắt ngắn. Không dùng danh nghĩa bảo vệ đức tin để nuôi cái tôi thích chiến thắng. Người giáo dân sống hiệp thông sẽ tự hỏi trước khi đăng: điều này có thật không? Có cần không? Có công bằng với người bị nói đến không? Có xây dựng thân mình Đức Kitô không? Tôi đang tìm sự thật hay đang tìm cảm giác thắng? Những câu hỏi nhỏ ấy là khổ chế của thời đại thuật toán.
Một chiều kích khác của hiệp thông là tính công giáo, nghĩa là tính phổ quát. Người giáo dân thuộc về một Hội Thánh lớn hơn giáo xứ mình, giáo phận mình, đất nước mình và thời đại mình. Điều này giúp tránh chủ nghĩa cục bộ. Có những thói quen địa phương rất quý nhưng không phải là bản chất đức tin. Có những cách làm mục vụ ta quen từ nhỏ nhưng không phải là luật vĩnh viễn. Có những kiểu đạo đức tốt nhưng không thể dùng để đo mọi Kitô hữu. Hiệp thông với Hội Thánh hoàn vũ mở con người khỏi cái lồng của kinh nghiệm riêng. Nó nhắc người giáo dân rằng mình thuộc về cùng một thân mình với Kitô hữu tại Phi châu, châu Á, Mỹ Latinh, châu Âu, với người đang sống đức tin giữa sung túc cũng như người đang chịu bách hại. Một Thánh Thể cử hành trong nhà thờ làng nhỏ ở Việt Nam không phải sự kiện cô lập. Đó là cùng một hy tế Đức Kitô được cử hành trong Hội Thánh hoàn vũ.
Tính công giáo ấy cũng giúp ta biết đau với Hội Thánh. Người trưởng thành không chỉ yêu Hội Thánh khi Hội Thánh làm mình tự hào. Có những giai đoạn lịch sử Hội Thánh bị thương bởi chính tội lỗi của con cái mình. Có những vụ lạm dụng, sai phạm, đấu đá, thất bại mục vụ làm người tín hữu đau đớn. Hiệp thông không đòi phủ nhận sự thật để bảo vệ hình ảnh. Trái lại, chính vì thuộc về mà ta muốn sự thật được đưa ra ánh sáng, nạn nhân được lắng nghe, kẻ sai phạm chịu trách nhiệm, cơ cấu được sửa đổi, và Hội Thánh được thanh luyện. Một tình yêu chỉ biết ca ngợi mà không dám nói về vết thương là tình yêu non nớt. Nhưng một thái độ chỉ biết đứng ngoài chế giễu mọi vết thương của Hội Thánh cũng không phải lòng của người con. Người giáo dân trưởng thành có thể vừa đau vừa ở lại, vừa phê bình vừa cầu nguyện, vừa đòi cải cách vừa không biến mình thành quan tòa tuyệt đối.
Sứ mạng phát sinh từ chính kiểu hiệp thông này. Thế giới không cần thêm một tổ chức tôn giáo chỉ biết tự bảo vệ. Thế giới cần thấy một dân có thể sống những tương quan khác với logic quyền lực thường thấy: người lớn phục vụ người nhỏ, người có của chia sẻ với người thiếu, người mạnh bảo vệ người yếu, người bất đồng vẫn không hủy diệt nhau, người phạm lỗi có đường hoán cải, người đau được mang lấy, người không tiếng nói được lắng nghe. Khi Hội Thánh sống thật điều mình là, chính đời sống ấy đã trở thành sứ mạng. Trước khi nói một lời về hiệp thông, một giáo xứ biết đón người lạ đã làm chứng. Trước khi tổ chức hội thảo về gia đình, một cộng đoàn biết nâng đỡ người đang gặp khủng hoảng hôn nhân đã làm chứng. Trước khi giảng về người nghèo, một giáo xứ biết dành nguồn lực thật cho người nghèo đã làm chứng. Trước khi nói về giới trẻ, một cộng đoàn thực sự lắng nghe họ đã làm chứng.
Điều này cũng sửa một hiểu lầm khác: sứ mạng không chỉ là làm cho người ngoài “vào đạo”. Loan báo Tin Mừng bao gồm lời mời gọi tin vào Đức Kitô, nhưng không bị thu hẹp thành đếm số người gia nhập. Sứ mạng là làm cho Tin Mừng hiện diện và có sức biến đổi con người cùng các thực tại nhân sinh. Có những cuộc gặp mà người giáo dân chỉ có thể gieo một hạt. Có người đồng nghiệp sẽ không bao giờ hỏi giáo lý, nhưng qua nhiều năm quan sát một Kitô hữu sống ngay thẳng, họ bắt đầu tự hỏi nguồn nào giúp người ấy sống như vậy. Có người từng tổn thương vì tôn giáo cần rất lâu trước khi dám bước lại gần nhà thờ. Có người không sẵn sàng nghe một bài giảng nhưng sẵn sàng nhận một hành vi nhân hậu. Sứ mạng không ép buộc kết quả. Người môn đệ gieo, tưới, nhưng Thiên Chúa làm cho mọc lên.
Chính vì thế, hiệp thông giải thoát người làm sứ mạng khỏi ảo tưởng mình là cứu tinh. Chỉ có Đức Kitô là Đấng Cứu Độ. Giáo dân không được sai đi để chứng minh mình quan trọng. Họ được sai để làm chứng cho Đấng quan trọng. Khi biết mình là một chi thể, người ta không cần gánh cả thân mình trên vai. Có việc tôi làm được. Có việc người khác làm tốt hơn. Có mùa tôi hoạt động mạnh. Có mùa tôi phải chăm cha mẹ già. Có lúc tôi có sức. Có lúc tôi bệnh và phải nhận sự chăm sóc. Tôi vẫn thuộc về thân mình. Một nền mục vụ chỉ biết coi trọng người làm được nhiều sẽ làm tổn thương ý nghĩa hiệp thông. Người già cầu nguyện trên giường bệnh vẫn thuộc về sứ mạng Hội Thánh. Người khuyết tật không phải đối tượng thụ động. Trẻ em không phải Kitô hữu chưa hoàn chỉnh. Người nghèo không phải gánh nặng. Mỗi người có chỗ trong thân mình.
Đến đây ta thấy hiệp thông và sứ mạng không phải hai chương đứng cạnh nhau. Chúng giống hai nhịp của một hơi thở. Hít vào: được quy tụ, được nuôi, được chữa lành, được nghe Lời, được kết hợp với Đức Kitô. Thở ra: được sai, trao điều đã nhận, phục vụ, làm chứng, đi đến vùng ngoại biên. Chỉ hít mà không thở thì chết. Chỉ thở ra mà không hít vào cũng chết. Một Hội Thánh chỉ quy tụ mà không sai đi sẽ ngạt trong chính mình. Một Hội Thánh chỉ hoạt động mà không trở về nguồn sẽ kiệt sức. Đời sống giáo dân cần cả hai nhịp.
Có thể dùng Chúa Nhật như một biểu tượng đẹp cho nhịp ấy. Người giáo dân sống sáu ngày giữa những thực tại phức tạp của thế giới. Họ mang về Chúa Nhật tất cả những gì đã sống. Trong cộng đoàn, họ nghe Lời, tuyên xưng đức tin, cầu cho thế giới, dâng lễ vật, nhận Thánh Thể. Rồi họ được sai trở lại chính thế giới ấy. Tuần sau họ trở về với những chiến thắng và thất bại mới. Cứ như vậy, đời sống và phụng vụ đan vào nhau. Nếu Chúa Nhật chỉ là giờ “nạp năng lượng tinh thần” cho cá nhân thì ta đã thu nhỏ Thánh Thể. Thánh Thể làm nên Hội Thánh. Người ăn cùng một tấm bánh được biến đổi thành một thân thể. Vì vậy, mâu thuẫn sâu sắc nhất là rước cùng một Chúa nhưng khinh nhau. Tuyên xưng “chúng con tin” mà sống như không liên quan gì đến nhau. Quỳ rất lâu trước Thánh Thể nhưng không chịu nhìn người nghèo. Hiệp thông bí tích đòi hiệp thông đời sống.
Đó cũng là lý do hòa giải cần thiết cho hiệp thông. Không cộng đoàn thật nào tránh được xung đột. Càng sống thật với nhau càng có khả năng làm đau nhau. Vấn đề không phải có xung đột hay không, mà là xung đột được xử lý theo Tin Mừng hay theo logic thế gian. Thế gian có thể trả đũa, bêu xấu, kéo phe, im lặng trừng phạt, giữ hồ sơ lỗi lầm của nhau nhiều năm. Tin Mừng mời gọi nói sự thật, sửa lỗi, xin lỗi, tha thứ, đặt giới hạn khi cần, nhưng không biến người khác thành tổng số của một sai lầm. Một cộng đoàn không có khả năng hòa giải sẽ không có khả năng làm sứ mạng lâu dài, bởi năng lượng của nó sẽ bị hút hết vào chiến tranh nội bộ. Có những giáo xứ rất nhiều chương trình nhưng vài nhóm không nhìn mặt nhau. Có những hội đoàn đọc kinh chung nhưng âm thầm phá nhau. Khi ấy điều cần không phải thêm một chương trình mới mà là trở về với Tin Mừng về người anh em.
Hiệp thông còn đòi kiên nhẫn với tốc độ khác nhau của người khác. Người này hiểu nhanh, người kia chậm. Người này được đào tạo thần học, người kia sống đức tin rất đơn sơ. Người trẻ đặt câu hỏi làm người lớn khó chịu. Người già giữ những thói quen người trẻ không hiểu. Người mới trở lại có nhiệt thành nhưng thiếu kinh nghiệm. Người phục vụ lâu năm có kinh nghiệm nhưng đôi khi mệt mỏi. Không ai là toàn thể Hội Thánh. Hiệp thông nghĩa là cho nhau thời gian. Thiên Chúa đã kiên nhẫn với tôi thì tôi không thể yêu cầu mọi người phải trưởng thành theo lịch của mình.
Từ đó, việc đào tạo giáo dân phải được nhìn như điều kiện của hiệp thông và sứ mạng. Không thể đòi giáo dân chịu trách nhiệm nhưng không cho họ cơ hội học hỏi. Một giáo dân chỉ được học giáo lý đến lúc lãnh bí tích rồi hàng chục năm sau chỉ nghe bài giảng Chúa Nhật thì rất khó đối diện với những câu hỏi phức tạp của thế giới hiện đại. Họ cần Kinh Thánh, tín lý, luân lý, giáo huấn xã hội, linh đạo, kỹ năng phân định. Đào tạo không nhằm biến mọi giáo dân thành nhà thần học chuyên nghiệp, nhưng giúp họ có một đức tin đủ trưởng thành để sống giữa đời. Một kỹ sư cần biết nối đức tin với công nghệ. Một bác sĩ cần biết suy tư đạo đức sinh học. Một người kinh doanh cần biết giáo huấn xã hội. Một phụ huynh cần hiểu những thách đố của giáo dục trẻ trong thời đại số. Một người trẻ cần học phân định giữa tự do và nghiện thuật toán. Nếu Hội Thánh chỉ đào tạo giáo dân để đọc sách, giúp lễ, hát, tổ chức lễ hội mà không đào tạo họ cho đời sống trần thế thì chính Hội Thánh đã thu nhỏ sứ mạng của giáo dân.
Nhưng đào tạo cũng phải dẫn đến cầu nguyện. Kiến thức không tự động sinh hiệp thông. Có người biết rất nhiều về giáo lý nhưng rất khó sống với người khác. Có người trích dẫn giáo huấn Hội Thánh rất giỏi nhưng không biết xin lỗi. Có người bảo vệ tín lý chính xác nhưng dùng sự chính xác ấy để hạ nhục. Hiệp thông là công việc của ân sủng trong một trái tim để cho mình được biến đổi. Vì vậy linh đạo giáo dân không thể chỉ là học để biết phải làm gì ngoài đời. Phải có đời nội tâm đủ sâu để không bị đời nuốt chửng. Phải có Lời Chúa để những tiếng ồn khác không thành tiếng duy nhất. Phải có bí tích Hòa giải để người môn đệ biết nhận tội mình trước khi sửa người khác. Phải có Thánh Thể để mọi hoạt động trở lại trung tâm. Phải có thinh lặng để phân biệt sứ mạng của Chúa với tham vọng của bản thân.
Sau cùng, hiệp thông và sứ mạng đưa chúng ta trở về một sự thật rất đơn sơ: giáo dân ở trong, không đứng ngoài. Khi một giáo dân nói “Giáo hội phải làm gì đó”, đôi khi cần hỏi thêm: “Anh chị là Giáo hội; Chúa đang mời anh chị làm phần nào?” Dĩ nhiên không phải mọi trách nhiệm đều đổ lên cá nhân. Có những việc thuộc thẩm quyền giám mục, linh mục hay cơ cấu. Nhưng câu hỏi ấy chữa tâm thức khán giả. Hội Thánh không phải “họ”. Hội Thánh là “chúng ta” trước khi là bất cứ bộ máy nào. Khi một người trẻ rời Giáo hội, không thể chỉ hỏi cha xứ đã làm gì. Cha mẹ, người đỡ đầu, giáo lý viên, bạn bè Công giáo, cộng đoàn đã đồng hành ra sao? Khi một gia đình nghèo bị bỏ quên, không thể chỉ hỏi Caritas ở đâu. Người sống cạnh họ có biết họ không? Khi môi trường làm việc đầy gian dối, không thể chỉ chờ giám mục viết một lá thư. Giáo dân đang ở chính nơi đó có thể làm gì? Khi văn hóa số làm tổn thương trẻ em, không thể chỉ xin linh mục giảng một bài. Phụ huynh, giáo viên, chuyên gia công nghệ, người làm truyền thông Kitô hữu có trách nhiệm riêng.
Ngược lại, “ở trong” cũng có nghĩa người giáo dân không phải tự mình gánh sứ mạng. Họ thuộc về một dân. Khi mệt, có cộng đoàn nâng đỡ. Khi không biết, có truyền thống để học. Khi lạc, có mục tử hướng dẫn. Khi phạm tội, có bí tích Hòa giải. Khi đói, có bàn tiệc Thánh Thể. Khi nản vì thế giới dường như không đổi, họ nhớ rằng sứ mạng trước hết là của Thiên Chúa. Hội Thánh tham dự vào sứ mạng ấy chứ không sáng chế ra nó.
Từ Ba Ngôi đến Hội Thánh, từ Hội Thánh đến thế giới, có một chuyển động của tình yêu. Chúa Cha sai Chúa Con. Chúa Cha và Chúa Con ban Thánh Thần. Thánh Thần quy tụ Hội Thánh. Hội Thánh được sai vào thế giới. Người giáo dân sống ngay giữa nơi chuyển động ấy đi qua những điều rất bình thường: một bữa ăn, một hợp đồng, một cuộc họp, một ca trực, một lần đưa con đến trường, một quyết định tài chính, một lời bênh vực người yếu, một lần tắt điện thoại để nghe người trước mặt, một chọn lựa trung thực khi không ai nhìn thấy. Đó không phải phần phụ của đời Kitô hữu. Đó là nơi hiệp thông mang hình hài sứ mạng.
Vì vậy, không được biến giáo dân thành khách mời trong chính ngôi nhà họ thuộc về. Cũng không được biến họ thành bản sao thu nhỏ của linh mục. Hãy trả họ về đúng phẩm giá Rửa tội, đúng chỗ trong thân mình Đức Kitô và đúng trường sứ mạng của họ. Họ ở trong Hội Thánh để cùng toàn thể Dân Chúa thờ phượng, lắng nghe, phân định, yêu thương và được sai đi. Họ ở giữa thế giới không phải như người bên ngoài Hội Thánh tạm thời rời nhà thờ, nhưng như Hội Thánh đang hiện diện giữa thế giới qua chính đời sống họ.
Hiệp thông không phải đóng cửa để được ấm bên trong. Hiệp thông là ở sâu trong Đức Kitô đến mức tình yêu của Người đẩy ta ra ngoài. Sứ mạng không phải chạy ra ngoài đến mức quên nhà. Sứ mạng là mang ra ngoài điều ta đã nhận từ trong. Hội Thánh sống khi hai chuyển động ấy không tách nhau: quy tụ và sai đi, bàn thờ và đường phố, Lời và đời, Thánh Thể và phục vụ, hiệp thông và sứ mạng.
Giáo dân đứng đúng chỗ khi họ không hỏi trước hết: “Trong nhà thờ tôi được làm gì?” nhưng hỏi: “Vì đã được tháp nhập vào Đức Kitô và thuộc về thân mình Người, hôm nay tôi được sai đến đâu?” Có ngày câu trả lời là nhà máy. Có ngày là phòng bệnh. Có ngày là bếp nhà mình. Có ngày là lớp học. Có ngày là phòng họp của một công ty. Có ngày là bàn làm việc của một cơ quan công quyền. Có ngày là một người già đang chờ ai đó ghé thăm. Có ngày chỉ là ngồi bên cạnh đứa con đang khủng hoảng mà không vội giảng giải. Nhưng trong tất cả những nơi ấy, nếu người giáo dân ở lại trong Đức Kitô, trung thành với Hội Thánh, để Thánh Thần hướng dẫn và đem tình yêu của Chúa vào thực tại mình được trao, thì Hội Thánh đang ở đó.
Đó là điều cần nhớ: giáo dân không đứng ngoài nhìn Hội Thánh thi hành sứ mạng. Họ ở trong Hội Thánh, và qua họ, Hội Thánh đi vào thế giới. Nhưng họ cũng không đi một mình. Sau lưng họ là một dân, trước mặt họ là Nước Thiên Chúa, trong họ là Thánh Thần, và cùng họ là Đức Kitô đã hứa ở lại với các môn đệ mọi ngày cho đến tận thế.
CHƯƠNG 16. ĐẶC SỦNG GIÁO DÂN VÀ SỰ BỔ SUNG VỚI GIÁO SĨ, TU SĨ
Khi nói về giáo dân trong Hội Thánh, một trong những sai lầm dai dẳng nhất là chỉ nhìn họ dưới góc độ cơ cấu: giáo dân được làm gì, không được làm gì, được tham gia hội đồng nào, được đọc sách thánh hay không, được trao tác vụ nào, có quyền biểu quyết đến đâu. Những câu hỏi ấy không vô nghĩa. Hội Thánh cần cơ cấu, cần giáo luật, cần ranh giới trách nhiệm, cần trật tự thừa tác. Nhưng nếu chỉ dừng ở đó, người ta dễ quên một thực tại còn sâu hơn cơ cấu rất nhiều: trước khi Hội Thánh là một tổ chức có chức vụ, Hội Thánh là một thân thể được Thánh Thần làm cho sống. Và trong thân thể ấy, Thánh Thần không chỉ hoạt động qua những người được truyền chức, cũng không chỉ hoạt động qua những người sống đời thánh hiến. Thánh Thần được ban cho toàn thể Dân Thiên Chúa. Người phân phát các ân huệ, khả năng, thôi thúc, đặc sủng và sứ mạng cho từng người “vì ích chung”. Chính từ điểm này phải bắt đầu khi nói về đặc sủng giáo dân. Giáo dân không phải một khối người đứng phía dưới cơ cấu rồi chờ hàng giáo sĩ phân công. Họ là những người đã lãnh nhận Thánh Thần. Họ đã được ghi ấn trong bí tích Thêm sức. Họ được nuôi bằng cùng một Thánh Thể. Họ được tham dự vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Đức Kitô. Vì thế, họ có thể được Thánh Thần ban những đặc sủng thực sự để xây dựng Hội Thánh và phục vụ thế giới. Có người được ban khả năng dạy giáo lý với một sự trong sáng lạ thường: họ có thể giải thích điều khó thành điều dễ hiểu, không làm nghèo chân lý nhưng cũng không biến giáo lý thành ngôn ngữ chuyên môn. Có người bước vào một gia đình đang tang chế và không cần nói nhiều, nhưng sự hiện diện của họ làm người đau khổ cảm thấy mình không bị bỏ một mình. Có người có khả năng tổ chức, quản trị, điều phối, nhìn thấy những điều người khác bỏ sót, làm cho một công việc chung đi vào trật tự mà không biến con người thành bánh răng. Có người biết sử dụng tiền bạc với một lương tâm Tin Mừng rất bén: họ biết tạo ra của cải nhưng không thờ lạy của cải, biết xây doanh nghiệp nhưng không nghiền nát người lao động, biết tính hiệu quả nhưng không tính con người như một chi phí phải cắt bỏ. Có người là nghệ sĩ, kiến trúc sư, nhạc sĩ, nhà văn, người làm điện ảnh, người làm truyền thông; qua khả năng sáng tạo của họ, một vẻ đẹp nào đó của Đấng Tạo Hóa có thể chạm vào những người có lẽ không bao giờ bước vào một lớp giáo lý. Có người có một sự nhạy cảm đặc biệt trước bất công xã hội, trước người di dân, người khuyết tật, trẻ bị bỏ rơi, phụ nữ bị bạo hành, người lao động bị bóc lột, người nghèo bị loại khỏi hệ thống. Họ không chỉ “có lòng tốt”; đôi khi nơi họ có một đặc sủng thật để đánh thức lương tâm cộng đoàn. Có người nhìn thấy rất sớm một vết nứt đạo đức trong nền văn hóa mà đa số chưa nhận ra. Họ đặt những câu hỏi làm người khác khó chịu. Họ cảnh báo rằng một công nghệ mới đang biến con người thành dữ liệu; rằng một mô hình kinh tế đang tạo lợi nhuận bằng cách tiêu hao gia đình; rằng một kiểu truyền thông Công giáo đang kiếm tương tác bằng giận dữ; rằng một sinh hoạt giáo xứ tưởng đang phát triển nhưng thực ra đang loại người nghèo ra ngoài. Trong nghĩa đó, họ thực thi một chiều kích ngôn sứ: không phải đoán tương lai, không phải tuyên bố mình nhận mặc khải riêng cho Hội Thánh, nhưng làm cho ánh sáng Tin Mừng soi vào lương tâm của một thời đại.
Công đồng Vaticanô II nhắc rằng Thánh Thần không chỉ thánh hóa và hướng dẫn Dân Thiên Chúa bằng các bí tích và các thừa tác vụ, nhưng còn phân phát những ân sủng đặc biệt giữa các tín hữu thuộc mọi bậc sống, làm cho họ thích hợp và sẵn sàng đảm nhận những công việc và trách nhiệm hữu ích cho việc canh tân và xây dựng Hội Thánh. Câu “thuộc mọi bậc sống” rất quan trọng. Nó phá một não trạng âm thầm nhưng rất mạnh: hễ nói đến “ơn Chúa” thì người ta nghĩ ngay đến linh mục hoặc tu sĩ; hễ nói đến giáo dân thì người ta nghĩ đến tài năng tự nhiên, nghề nghiệp hoặc tiền bạc. Nhưng tại sao một linh mục có khả năng giảng được gọi là có đặc sủng, còn một người mẹ có khả năng đồng hành với các gia đình khủng hoảng chỉ được gọi là “chị ấy khéo”? Tại sao một tu sĩ biết hướng dẫn tĩnh tâm thì người ta dễ nhận ra đó là ơn Chúa, còn một doanh nhân biết xây dựng một môi trường lao động nhân bản lại chỉ được khen là “ông ấy quản trị tốt”? Thiên Chúa không chia thế giới thành một vùng linh thiêng nơi Người hoạt động và một vùng đời thường nơi con người tự xoay xở. Thánh Thần có thể ban ơn giữa nhà nguyện, nhưng cũng có thể ban ơn giữa phòng họp. Người có thể làm cho một người giảng Lời đầy lửa, nhưng cũng có thể làm cho một bác sĩ nhìn bệnh nhân như một con người chứ không như một ca bệnh. Người có thể dùng một nữ tu để chăm sóc người hấp hối, cũng có thể dùng một luật sư giáo dân để bảo vệ người không có tiếng nói. Người có thể dùng một linh mục để hòa giải một cộng đoàn, cũng có thể dùng một người cha trong gia đình để chặn lại một vòng bạo lực truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chính vì vậy, thần học về đặc sủng giáo dân không phải một nhượng bộ của Hội Thánh hiện đại cho tinh thần dân chủ. Nó thuộc về chính thần học về Thánh Thần và về Hội Thánh như thân mình Đức Kitô.
Tuy nhiên, nói Thánh Thần ban đặc sủng cho mọi người không có nghĩa mọi điều một người cảm thấy mạnh trong lòng đều là đặc sủng. Đây là chỗ cần phân định. Trong thời đại đề cao cái tôi, chữ “đặc sủng” rất dễ bị biến thành một danh hiệu đẹp cho sở thích cá nhân. Tôi thích nói nên tôi bảo mình có đặc sủng giảng dạy. Tôi thích lãnh đạo nên tôi nói mình có đặc sủng quản trị. Tôi hay phản đối nên tôi gọi mình là ngôn sứ. Tôi có nhiều người theo dõi nên tôi nghĩ Chúa đang trao cho tôi một sứ mạng đặc biệt. Tôi cảm thấy một ý tưởng rất mạnh nên tôi nói Thánh Thần đã bảo tôi. Nhưng một cảm xúc mạnh không tự động là đặc sủng. Một tài năng nổi bật cũng chưa tự động là đặc sủng. Một thành công xã hội càng không phải chứng minh rằng Thiên Chúa đang chuẩn nhận mọi điều người ấy làm. Đặc sủng Kitô giáo luôn mang vài dấu chỉ cơ bản. Nó quy hướng về Đức Kitô chứ không quy hướng về cái tôi. Nó xây dựng thân thể chứ không phá thân thể. Nó phục vụ ích chung chứ không dựng sân khấu cho một cá nhân. Nó đi cùng với đức mến chứ không chỉ với hiệu quả. Nó có khả năng chịu phân định chứ không đòi miễn kiểm tra. Nó có thể bị sửa mà không lập tức tố cáo người sửa mình là “chống Thánh Thần”. Nó không đối nghịch với đức tin tông truyền. Nó không tự đặt mình cao hơn Hội Thánh. Và rất thường xuyên, đặc sủng thật mang theo một sự nghèo khó nội tâm: người có đặc sủng biết rằng điều mình có là quà tặng, không phải tài sản riêng.
Điều này càng cần nói rõ trong một thời đại mà người Công giáo cũng dễ bị cuốn vào văn hóa xây dựng thương hiệu cá nhân. Một người giảng hay có thể dần yêu hình ảnh “người giảng hay” hơn yêu Lời Chúa. Một người hoạt động bác ái có thể dần yêu vai trò “người cứu giúp” hơn yêu người nghèo. Một người bảo vệ chân lý có thể dần yêu cảm giác mình đúng hơn yêu chính chân lý. Một người làm truyền thông Công giáo có thể dần xem lượng người theo dõi như dấu xác nhận của Thánh Thần. Một nhóm giáo dân có thể khởi đầu bằng một ơn rất đẹp, rồi sau vài năm trở thành một tổ chức bảo vệ tên tuổi mình, mở rộng ảnh hưởng mình, giữ người của mình, phát triển logo của mình, và cuối cùng sợ Hội Thánh địa phương hơn sợ mất Tin Mừng. Đó là một tiến trình rất tinh vi. Đặc sủng được ban để phục vụ, nhưng bản ngã có thể chiếm đặc sủng làm tài sản. Vì thế Hội Thánh cần cả tự do cho đặc sủng lẫn phân định đặc sủng. Không tự do thì Thánh Thần bị cơ cấu làm nghẹt. Không phân định thì mọi xung động cá nhân đều có thể mặc áo Thánh Thần.
Một nguyên tắc rất quan trọng phải được giữ đồng thời: giáo sĩ không độc quyền Thánh Thần, nhưng giáo dân cũng không độc quyền “đời sống thật”. Hai thái cực ấy thường nuôi nhau. Khi giáo sĩ trị phát triển, người giáo dân bị xem như người nhận lệnh. Khi phản ứng lại giáo sĩ trị, đôi khi xuất hiện một thứ giáo dân trị: linh mục bị mô tả như người sống xa đời, tu sĩ như người không hiểu thực tế, còn giáo dân tự xem mình là tiếng nói duy nhất của kinh nghiệm. Cả hai đều nghèo. Linh mục không mất nhân tính khi chịu chức. Tu sĩ không mất khả năng hiểu đời khi khấn dòng. Giáo dân không trở nên nguồn mặc khải chỉ vì họ sống giữa xã hội. Không bậc sống nào có toàn bộ kinh nghiệm của Hội Thánh. Không ai mang một mình tất cả các đặc sủng. Chính sự thiếu ấy là một ân huệ, vì nó buộc ta cần nhau. Nếu một linh mục có thể làm hết mọi sự, giáo dân trở thành thừa. Nếu giáo dân có thể làm hết mọi sự, chức thánh trở thành thừa. Nếu đời tu không có một lời riêng để nói bằng chính hình thức sống của mình, các lời khấn chỉ còn là sở thích cá nhân. Nhưng Đức Kitô không xây Hội Thánh bằng những con người tự đủ. Người xây một thân thể trong đó mắt không bảo tay “tôi không cần anh”, đầu không bảo chân “tôi không cần chị”, và một chi thể không thể tự nhận mình là toàn thân.
Sự bổ sung giữa giáo dân, giáo sĩ và tu sĩ vì thế không nên được hình dung như ba công ty chia thị trường: giáo sĩ lo nhà thờ, tu sĩ lo nhà dòng, giáo dân lo ngoài đời. Thực tại phong phú hơn rất nhiều. Linh mục cũng sống giữa xã hội. Tu sĩ cũng làm giáo dục, y tế, truyền thông, nghiên cứu, lao động. Giáo dân cũng tham gia phụng vụ, giáo lý, bác ái và nhiều hoạt động nội bộ Hội Thánh. Nhưng mỗi bậc sống có một cách hiện diện mang ý nghĩa riêng. Chức tư tế thừa tác làm hiện diện Đức Kitô là Đầu và Mục tử qua việc rao giảng Lời, cử hành các bí tích và quy tụ cộng đoàn. Đời sống thánh hiến làm chứng cách công khai và mang tính cánh chung rằng Thiên Chúa là tuyệt đối, rằng Nước Trời đáng để một con người đặt toàn bộ đời mình vào đó, rằng giàu có, tính dục và quyền tự quyết không phải các thần tượng cuối cùng của con người. Giáo dân, với tính chất trần thế riêng biệt của họ, mang Tin Mừng vào tận bên trong các cấu trúc mà hàng giáo sĩ không thể và cũng không nên thay thế họ: hôn nhân, gia đình, trường học, thương mại, chính trị, khoa học, nghệ thuật, luật pháp, truyền thông, công nghệ, nông nghiệp, nhà máy, thị trường, bệnh viện, khu phố, hội nghề nghiệp, mạng xã hội. Ba bậc không cạnh tranh. Ba cách hiện diện làm chứng cho ba chiều kích của cùng một mầu nhiệm. Khi mỗi bậc sống đúng căn tính mình, bậc kia được tự do hơn để sống đúng căn tính của họ.
Hãy lấy một giáo xứ làm ví dụ. Nếu cha xứ nghĩ rằng vì mình chịu trách nhiệm mục tử nên mình phải biết và quyết mọi việc, giáo xứ sẽ trở nên nghèo đặc sủng rất nhanh. Cha quyết cả màu sơn nhà thờ, thiết kế hệ thống âm thanh, cách quản lý tài chính, cách truyền thông, chương trình trẻ em, phương pháp giáo dục, quy hoạch đất, xử lý dữ liệu, chính sách nhân sự, thậm chí cả những vấn đề chuyên môn mà những giáo dân trong giáo xứ đã học và làm hàng chục năm. Hệ quả không chỉ là cha xứ quá tải. Hệ quả sâu hơn là các đặc sủng của Dân Chúa bị vô hiệu hóa. Một kỹ sư giỏi chỉ được mời khi cần khiêng bàn. Một kế toán trưởng chỉ được giao thu tiền hội. Một nhà tâm lý chỉ được nhờ dẫn trò chơi thiếu nhi. Một giáo viên kinh nghiệm hai mươi năm được yêu cầu dạy giáo lý theo một phương pháp do người chưa từng đứng lớp áp xuống. Một kiến trúc sư bị bảo “cha thấy làm thế này đẹp hơn”. Một người hiểu truyền thông số bị giao nhiệm vụ đăng thông báo nhưng không được tham gia suy nghĩ chiến lược. Một doanh nhân có khả năng quản trị chỉ được gọi khi giáo xứ cần tài trợ. Khi đó, giáo xứ không thực sự sử dụng đặc sủng giáo dân. Giáo xứ chỉ sử dụng sức lao động và tài nguyên của giáo dân.
Nhưng phía ngược lại cũng sai. Một giáo dân có chuyên môn không vì thế mà tự động có quyền định đoạt toàn bộ đời sống Hội Thánh. Một chuyên gia quản trị không thể biến giáo xứ thành công ty. Một chuyên gia truyền thông không thể lấy tương tác làm chuẩn tối hậu cho việc loan báo Tin Mừng. Một nhà tâm lý không thể thay thần học bằng tâm lý học. Một người nhiều tiền không thể mua ảnh hưởng mục vụ. Một luật sư không thể giản lược mọi vấn đề lương tâm thành điều hợp pháp hay bất hợp pháp. Một nhà hoạt động xã hội không thể biến bục giảng thành diễn đàn cho chương trình phe phái của mình. Một giáo dân học thần học cũng không vì thế mà trở thành linh mục không chức thánh. Chuyên môn cần được thanh luyện trong đức tin. Đặc sủng cần đi vào hiệp thông. Người giáo dân trưởng thành không nói: “Cha không hiểu chuyện này, để con quyết.” Họ có thể nói: “Đây là lĩnh vực chuyên môn của con; con xin trình bày những gì con biết để cha và cộng đoàn có thể phân định tốt hơn.” Và một mục tử trưởng thành cũng không nói: “Tôi là cha xứ nên tôi biết.” Ngài có thể nói: “Đây là trách nhiệm mục tử của tôi, nhưng tôi cần lắng nghe những người có ơn và có chuyên môn Chúa đã đặt trong cộng đoàn.” Chính trong sự khiêm nhường hai chiều ấy, đặc sủng trở thành hiệp thông.
Đặc sủng giáo dân đặc biệt cần được nhìn nhận trong những lĩnh vực mà hàng giáo sĩ không thể có kinh nghiệm trực tiếp đầy đủ. Một linh mục có thể giảng rất đúng về hôn nhân, nhưng không có kinh nghiệm sống mỗi ngày với một người phối ngẫu suốt ba mươi năm, cùng nuôi con, cùng trả nợ, cùng trải qua im lặng, thất vọng, hòa giải và già đi bên nhau. Một tu sĩ có thể đồng hành rất sâu với người làm kinh tế, nhưng người giáo dân phải trực tiếp đứng trước quyết định hôm nay nên sa thải mười người để cứu công ty hay giữ họ và chấp nhận nguy cơ cả doanh nghiệp sụp đổ. Một linh mục có thể dạy giáo huấn xã hội của Hội Thánh, nhưng một công chức giáo dân mới biết cụ thể áp lực phải ký vào một hồ sơ sai diễn ra thế nào, cái giá của sự liêm chính là gì, và một chữ ký có thể ảnh hưởng tương lai gia đình mình ra sao. Một tu sĩ có thể nói rất đúng về phẩm giá con người trong công nghệ, nhưng một kỹ sư AI Công giáo đang ngồi trước mã nguồn mới biết thuật toán cụ thể ấy đang ưu tiên điều gì, thu thập dữ liệu nào, loại người nào ra khỏi hệ thống, và quyết định kỹ thuật nào đang âm thầm mang một lựa chọn đạo đức. Một linh mục có thể nói về việc nên thánh trong lao động, nhưng một công nhân ca đêm mới biết cơ thể kiệt sức lúc ba giờ sáng là thế nào. Một người mẹ nuôi con khuyết tật biết những điều mà sách mục vụ không thể dạy. Một người trẻ lớn lên trong mạng xã hội biết những kiểu cô đơn mà thế hệ trước chưa từng trải. Những kinh nghiệm ấy không tự động trở thành chân lý thần học, nhưng chúng là chất liệu không thể thiếu để Hội Thánh phân định cách trung thành với Tin Mừng trong từng thời đại. Khi giáo sĩ không nghe giáo dân, Hội Thánh có thể nói đúng về nguyên tắc nhưng nói trượt khỏi thực tại. Khi giáo dân không nghe huấn quyền và truyền thống, họ có thể rất sát thực tại nhưng mất tiêu chuẩn để phán đoán thực tại. Ta cần cả hai.
Đặc sủng giáo dân cũng không chỉ là những đặc sủng “có ích cho giáo xứ”. Đây là điểm phải nhấn mạnh mạnh mẽ. Vì quen nhìn Hội Thánh từ nhà thờ, người ta thường chỉ công nhận đặc sủng giáo dân khi nó phục vụ trực tiếp sinh hoạt giáo xứ: hát hay, đọc sách thánh tốt, dạy giáo lý, làm hội đoàn, dẫn chương trình, trang trí cung thánh, đi thăm bệnh. Tất cả những điều ấy đều quý. Nhưng đặc sủng của một giáo dân có thể nằm hoàn toàn ngoài lịch sinh hoạt giáo xứ. Một bác sĩ xây dựng mô hình chăm sóc người nghèo có thể đang phục vụ Nước Chúa mạnh hơn nhiều giờ anh đứng trong một ban ngành. Một giáo viên bảo vệ một học sinh bị bắt nạt đang thi hành một hành vi mang chiều kích ngôn sứ. Một chủ doanh nghiệp từ chối hối lộ dù mất hợp đồng đang dâng một hy tế thiêng liêng. Một kỹ sư thiết kế hệ thống tiết kiệm nước cho vùng hạn đang chăm sóc công trình tạo dựng. Một người làm báo từ chối bóp méo sự thật để lấy lượt xem đang sống ơn gọi ngôn sứ. Một nghệ sĩ tạo ra vẻ đẹp cứu người khỏi sự thô tục đang góp phần thánh hóa văn hóa. Một người mẹ ở nhà chăm cha già sa sút trí nhớ có thể chẳng có một chức danh nào trong giáo xứ, nhưng đời chị có thể là một trong những nơi Thánh Thần đang hoạt động mãnh liệt nhất trong cộng đoàn. Hội Thánh cần học cách nhận ra những đặc sủng không có bảng tên.
Điều này thay đổi cách một mục tử nhìn giáo dân. Câu hỏi không còn chỉ là: “Anh chị có thể giúp giáo xứ việc gì?” Câu hỏi sâu hơn là: “Thiên Chúa đang làm gì qua đời sống của anh chị?” Có người không thể giúp việc giáo xứ nhiều, vì họ đang nuôi ba con nhỏ. Đừng làm họ mặc cảm. Có người không thể vào hội đoàn, vì họ chăm người bệnh. Có khi đó chính là nơi họ đang sống đặc sủng bác ái. Có người phải đi làm xa và không thể dự các cuộc họp thường xuyên. Nhưng họ đang cố giữ đức tin giữa một môi trường lao động rất khó. Có người không có tài nói trước cộng đoàn, nhưng cả khu phố tìm đến họ mỗi khi có xung đột vì họ biết làm người khác bình tâm. Đó có thể là một đặc sủng hòa giải. Có người ít xuất hiện ở nhà xứ nhưng âm thầm giúp học phí cho vài đứa trẻ mà không cho ai biết. Có người là người đầu tiên phát hiện một gia đình đang đói. Có người biết cách nói với thanh thiếu niên mà người lớn khác không nói được. Có người có trực giác rất tốt trong việc nhận ra ai đang bị bỏ rơi khỏi một nhóm. Có người nhớ tên từng người già. Có người ngồi được lâu với một người đang đau mà không cần “giải quyết” nỗi đau ấy. Đặc sủng không phải lúc nào cũng hào nhoáng. Nhiều đặc sủng lớn của Hội Thánh không bao giờ có microphone.
Và chính ở đây ta phải phân biệt đặc sủng với chức danh. Một cộng đoàn yếu thường nhiều chức danh nhưng ít đặc sủng được sống. Người ta lập ban, bổ nhiệm trưởng, phó, thư ký, cố vấn, ủy viên, nhưng không hỏi người ấy có ơn gì, có khả năng gì, có đời sống thiêng liêng nào, có thích hợp với sứ mạng ấy không. Có người giữ chức giáo lý viên mười năm nhưng không có khả năng dạy và cũng không muốn học cách dạy. Có người làm trưởng nhóm nhưng đặc sủng thật của họ lại là chăm sóc cá nhân, không phải lãnh đạo. Có người rất giỏi tổ chức nhưng được bắt giảng. Có người có chiều sâu Lời Chúa nhưng không được dùng vì họ không thuộc “nhóm quen”. Có người được trao một vai trò chỉ vì có thời gian rảnh. Có người giữ chức vì đã giữ quá lâu, đến mức chức vụ trở thành một phần căn tính mà cộng đoàn không dám thay. Tất cả những điều đó làm méo đời sống đặc sủng. Đặc sủng không phải huân chương. Chức vụ không phải quyền sở hữu. Người có đặc sủng phục vụ phải có thể một ngày rời chức mà đặc sủng vẫn còn. Nếu rời ghế mà mất luôn căn tính, rất có thể ta đã yêu chiếc ghế hơn yêu ơn ban.
Một đặc sủng thật cũng phải có khả năng sinh hoa trái nơi người khác, không chỉ làm người mang đặc sủng nổi bật. Người có đặc sủng giáo dục thật không chỉ khiến học sinh thích mình; họ làm học sinh lớn lên. Người có đặc sủng lãnh đạo thật không tạo một đám người phụ thuộc; họ làm nảy sinh những người có trách nhiệm mới. Người có đặc sủng hòa giải không khiến mọi người phải tìm đến mình mãi; họ giúp người khác học hòa giải. Người có đặc sủng bác ái không xây một hệ thống trong đó người nghèo cần mình vĩnh viễn; họ giúp người nghèo đứng dậy với phẩm giá. Người có đặc sủng truyền thông không làm Đức Kitô biến mất sau thương hiệu cá nhân; họ giúp người khác gặp Đức Kitô. Một quy luật thiêng liêng rất đơn giản có thể được dùng để xét: sau một thời gian phục vụ, người xung quanh có trưởng thành hơn không, hay chỉ lệ thuộc người ấy hơn? Nếu càng phục vụ lâu, cộng đoàn càng không thể sống thiếu tôi, tôi cần xét lại cách mình sử dụng đặc sủng. Đức Kitô xây môn đệ; bản ngã xây người hâm mộ.
Sự bổ sung với linh mục trở nên rất đẹp khi cả hai bên không sợ nhau. Một linh mục không cần sợ một giáo dân giỏi. Giáo dân giỏi không làm giảm chức linh mục. Một người phụ nữ có khả năng thần học sâu không đe dọa căn tính của cha xứ. Một doanh nhân quản trị tốt không làm cha xứ “mất quyền”. Một người trẻ hiểu công nghệ hơn linh mục là điều hoàn toàn bình thường. Một giáo dân có khả năng diễn thuyết hay hơn linh mục cũng bình thường. Chức thánh không phải bí tích làm một người giỏi nhất trong mọi lĩnh vực. Chức thánh trao một cấu hình đặc thù với Đức Kitô Mục tử để phục vụ Hội Thánh qua Lời, bí tích và lãnh đạo mục vụ. Chính vì thế, một linh mục càng bình an trong căn tính chức thánh của mình, càng dễ vui khi thấy giáo dân có ơn. Chỉ khi chức thánh bị hiểu như địa vị ưu trội toàn diện thì tài năng của giáo dân mới trở thành đe dọa. Một người cha không buồn vì con mình giỏi hơn mình trong một lĩnh vực. Nếu buồn, vấn đề không nằm ở đứa con. Một mục tử thật cũng vậy. Niềm vui của ngài là Dân Chúa trưởng thành, chứ không phải mọi đường dây đều phải chạy qua mình.
Giáo dân cũng không cần cạnh tranh với linh mục để chứng minh giá trị của mình. Có một mặc cảm rất dễ sinh phản ứng: vì lâu nay giáo dân bị xem nhẹ, bây giờ phải chứng minh rằng giáo dân cũng giảng được, cũng lãnh đạo được, cũng học thần học được, cũng mặc áo đẹp được, cũng ngồi ghế chủ tọa được. Nhưng phẩm giá giáo dân không được phục hồi bằng cách bắt chước linh mục. Nếu sau Công đồng, giáo dân chỉ cảm thấy mình quan trọng khi đứng gần cung thánh hơn, thì thần học giáo dân vẫn chưa đi đủ xa. Giáo dân không cần trở thành “linh mục phiên bản khác” để được nhìn nhận. Chính đời giáo dân, khi được sống trọn vẹn, đã là một ơn gọi cao quý. Người cha chăm sóc gia đình không thấp hơn người đứng trên bục giảng. Người mẹ làm việc trung thực giữa thương trường không thấp hơn người đọc sách thánh. Người trẻ giữ đức khiết tịnh giữa một nền văn hóa tình dục hóa mọi thứ không thấp hơn người phục vụ bàn thờ. Một chính trị gia từ chối tham nhũng không cần một chức vụ trong giáo xứ để công việc của họ trở thành sứ mạng. Đừng kéo mọi đặc sủng giáo dân vào trong nhà thờ rồi gọi đó là thăng tiến giáo dân. Có khi thăng tiến giáo dân chính là sai họ ra ngoài.
Sự bổ sung với đời tu cũng cần được hiểu đúng. Đời thánh hiến và đời giáo dân có thể nhìn nhau bằng một chút ghen tị kín đáo. Giáo dân nhìn tu sĩ và nghĩ: họ có giờ cầu nguyện, có cộng đoàn, có nhà nguyện, có nhịp sống rõ ràng; mình thì bị con khóc, hóa đơn, công việc và kẹt xe chia vụn. Tu sĩ nhìn giáo dân và nghĩ: họ có gia đình riêng, có quyền sở hữu, có tự do chọn nghề, có không gian riêng; mình thì bị ràng buộc bởi cộng đoàn và lời khấn. Nếu cứ nhìn phần người khác có mà mình không có, cả hai sẽ đánh mất ân huệ của bậc mình. Đặc sủng của đời tu nhắc giáo dân rằng trần thế không phải cùng đích. Đặc sủng của giáo dân nhắc đời tu rằng trần thế không phải thứ phải khinh bỏ. Tu sĩ nhắc rằng “chỉ mình Thiên Chúa đủ”; giáo dân nhắc rằng chính Thiên Chúa ấy muốn được yêu trong những thực tại rất cụ thể của hôn nhân, công việc, văn hóa và xã hội. Đời tu gìn giữ một sự tự do cánh chung trước các của cải thế gian; giáo dân học cách sử dụng các của cải ấy mà không làm nô lệ chúng. Đời tu làm chứng cho một tình yêu dâng hiến trọn vẹn trong độc thân vì Nước Trời; đời hôn nhân làm chứng cho giao ước trung tín của Thiên Chúa qua một thân xác trao cho một người. Hai bên không phủ nhận nhau. Hai bên giải thích cho nhau.
Một giáo xứ lành mạnh vì thế phải có văn hóa khám phá và phân định đặc sủng. Không phải làm trắc nghiệm rồi dán nhãn cho mỗi người, nhưng tạo ra những không gian nơi con người có thể thử phục vụ, được quan sát, được phản hồi, được đào tạo và được sai đi. Một người nghĩ mình có ơn dạy giáo lý có thể được trao một nhóm nhỏ trước. Một người nghĩ mình có ơn lãnh đạo cần được xem cách họ đối xử với người yếu hơn mình. Một người nghĩ mình có ơn ngôn sứ cần được xem họ có khả năng nghe hay chỉ thích nói. Một người nghĩ mình có đặc sủng chữa lành cần đặc biệt được phân định cẩn trọng, tránh những tuyên bố quá mức, tránh thao túng người bệnh, tránh thay thế y khoa hoặc biến đau khổ thành sân khấu. Một người nghĩ mình có sứ mạng truyền thông cần được xem họ phục vụ sự thật đến đâu, hay chỉ biết kích thích cảm xúc. Một người nghĩ mình được gọi làm việc xã hội cần được xem họ có yêu những con người cụ thể hay chỉ yêu các khẩu hiệu. Đặc sủng phát triển trong thực tế phục vụ. Ta thường chỉ biết một cây qua quả của nó.
Phân định đặc sủng cũng cần thời gian. Văn hóa hiện đại thích tốc độ: một video lan truyền, một bài chia sẻ gây chú ý, một khóa học thành công, lập tức người ta gọi một người là “nhà truyền giáo”, “người ngôn sứ”, “người lãnh đạo”. Hội Thánh nên chậm hơn. Không phải vì sợ người mới, nhưng vì biết con người phức tạp. Có những ơn ban thật nhưng nhân cách chưa đủ trưởng thành để mang chúng. Có người có tài nói nhưng không chịu được người khác góp ý. Có người có khả năng thu hút nhưng cần được chữa lành nhu cầu được công nhận. Có người có trực giác thiêng liêng nhưng chưa phân biệt được cảm xúc cá nhân với tiếng Chúa. Có người có năng lực lãnh đạo nhưng chưa học cách giới hạn quyền lực. Có người rất nhiệt thành nhưng đời sống gia đình đang bị bỏ bê. Hội Thánh không chỉ hỏi: “Người này làm được việc không?” Hội Thánh phải hỏi: “Cách người này làm việc có mang hình dáng Đức Kitô không?” Một đặc sủng lớn đi qua một nhân cách không được thanh luyện có thể gây tổn thương lớn. Chính vì vậy, sự trưởng thành nhân bản, đời sống cầu nguyện, trách nhiệm, khả năng chịu sửa, sự trung thực tài chính, cách sử dụng quyền lực, cách đối xử với người yếu thế đều thuộc về việc phân định đặc sủng.
Càng có đặc sủng nổi bật càng cần hiệp thông. Đây là một quy luật mà lịch sử Hội Thánh đã nhiều lần chứng minh. Nhiều phong trào lớn bắt đầu từ một ơn thật. Nhiều hội dòng bắt đầu từ một trực giác Tin Mừng rất mạnh. Nhiều sáng kiến giáo dân bắt đầu từ một sự thúc đẩy của Thánh Thần. Nhưng một đặc sủng thật không sợ đi vào thân thể Hội Thánh. Nó có thể gặp căng thẳng với cơ cấu, bởi cơ cấu đôi khi chậm, nhưng nó không lấy căng thẳng làm lý do để tự phong mình thành một “Hội Thánh tinh tuyền” đối nghịch “Hội Thánh cơ chế”. Khi một nhóm bắt đầu nói: “Chỉ chúng tôi mới hiểu Thánh Thần”; “các cha không hiểu”; “giáo phận quá cứng”; “ai không theo linh đạo này là chưa trưởng thành”; “chúng tôi có mặc khải riêng nên không cần kiểm chứng”; khi sự trung thành với người sáng lập trở nên quan trọng hơn sự hiệp thông với Hội Thánh; khi nhóm đòi lòng trung thành tuyệt đối; khi người rời nhóm bị xem như phản bội Thiên Chúa; khi tài chính, quyền lực và đời sống riêng tư bị che kín nhân danh “gia đình thiêng liêng”, thì đặc sủng đã bước vào vùng nguy hiểm.
Giáo dân không dùng đặc sủng để lập một giáo hội song song. Câu này cần nói rõ. Một nhóm cầu nguyện không phải giáo phận nhỏ. Một phong trào không phải Hội Thánh đầy đủ. Một vị sáng lập không phải giám mục của các môn đệ mình. Một người có sức ảnh hưởng trên mạng không phải huấn quyền. Một nhà giảng thuyết giáo dân dù nổi tiếng đến đâu cũng không được biến cộng đồng người theo dõi thành một giáo hội cá nhân. Đặc sủng càng mạnh càng cần neo vào đức tin chung, bí tích chung, mục tử hợp pháp và sự hiệp thông hữu hình của Hội Thánh. Không phải mọi quyết định của một mục tử đều hoàn hảo. Không phải mọi cơ cấu đều phản ứng nhanh với một ơn mới. Lịch sử có những trường hợp đặc sủng bị hiểu lầm. Nhưng phương thuốc cho cơ cấu yếu không phải là vô cơ cấu. Phương thuốc cho một mục tử không biết lắng nghe không phải là tự phong một mục tử khác. Phương thuốc cho giáo sĩ trị không phải là ly khai mềm dưới danh nghĩa đặc sủng.
Ngược lại, mục tử cũng phải cẩn thận đừng bóp nghẹt đặc sủng chỉ vì nó không phát sinh từ kế hoạch của mình. Thánh Thần không bắt buộc phải xin lịch cha xứ trước khi đánh động một giáo dân. Có những sáng kiến bác ái phát sinh từ một bà mẹ thấy trẻ em trong xóm đói. Có những nhóm học Lời Chúa bắt đầu từ vài người bạn. Có những dự án môi trường bắt đầu từ người trẻ. Có những sáng kiến mục vụ cho người khuyết tật bắt đầu vì một gia đình đã chịu quá lâu cảnh con mình bị bỏ bên lề. Có khi cha xứ chưa nghĩ tới điều đó. Điều đầu tiên không nên là: “Ai cho phép?” mà nên là: “Ơn gì đang xuất hiện ở đây? Nó có phù hợp đức tin không? Có sinh ích chung không? Cần đồng hành thế nào?” Quyền mục tử không chỉ có nhiệm vụ kiểm soát; quyền mục tử có nhiệm vụ nhận ra, bảo vệ, hướng dẫn và nối kết đặc sủng. Người chăn chiên không tạo ra sự sống của đàn chiên. Ngài phục vụ sự sống ấy.
Sự phân định giữa đặc sủng và thừa tác vụ cũng giúp ta tránh một lẫn lộn khác. Đặc sủng và chức vụ không đồng nhất. Một người có chức vụ chưa chắc có đặc sủng nổi bật tương ứng; một người có đặc sủng chưa chắc cần được trao chức vụ. Một cha xứ có quyền mục tử do chức vụ, dù ngài không phải người quản trị tài chính giỏi nhất. Một giáo dân có đặc sủng quản trị có thể giúp ngài rất nhiều, nhưng đặc sủng ấy không tự động biến người ấy thành người có quyền tài phán trong giáo xứ. Một giáo dân có tài giảng dạy có thể là một nhà giáo lý tuyệt vời, nhưng khả năng ấy không xóa khác biệt giữa việc giáo huấn trong các môi trường thích hợp và bài giảng phụng vụ được luật Hội Thánh quy định. Một tu sĩ có đặc sủng đồng hành có thể giúp rất nhiều người, nhưng đặc sủng ấy không biến mọi lời khuyên của họ thành mệnh lệnh của Chúa. Giữ được các phân biệt này làm cho đặc sủng tự do hơn, không nghèo đi. Không cần biến mọi ơn thành chức mới chứng minh ơn ấy có giá trị.
Một cộng đoàn trưởng thành cũng học cách chịu đựng sự khác biệt giữa các đặc sủng. Người làm bác ái thường thấy người làm học thuật nói quá nhiều. Người làm học thuật có thể thấy người hoạt động thiếu chiều sâu. Người phụng vụ thấy truyền thông quá ồn. Người truyền thông thấy phụng vụ quá xa người trẻ. Người cầu nguyện chiêm niệm thấy nhóm hoạt động chạy liên tục. Người hoạt động thấy người chiêm niệm “không làm gì”. Người bảo vệ tín lý thấy người mục vụ dễ dãi. Người mục vụ thấy người bảo vệ tín lý thiếu lòng thương. Nhưng chính ở đây thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô vẫn còn tính thời sự: thân thể có nhiều chi thể. Không phải mọi người phải nhìn giống nhau. Một mắt rất tốt không có nghĩa chân vô ích. Một chân khỏe không có nghĩa tai thừa. Một cộng đoàn khôn ngoan không bắt mọi người vào cùng một linh đạo, cùng một kiểu phục vụ, cùng một tính khí. Nó hỏi: sự khác biệt này có thể trở thành bổ sung thế nào?
Đặc sủng ngôn sứ cần một lời riêng. Trong Hội Thánh, chữ “ngôn sứ” đôi khi bị dùng quá dễ. Người nói điều gây sốc tự gọi là ngôn sứ. Người chống cơ cấu gọi mình là ngôn sứ. Người dự báo biến cố tự nhận là ngôn sứ. Nhưng ngôn sứ Kinh Thánh không chỉ là người lên tiếng chống lại. Ngôn sứ là người bị Lời Thiên Chúa chiếm hữu đến mức không thể làm ngơ trước sự giả dối, bất công và ngẫu tượng. Người ấy trước hết để Lời xét xử chính mình. Một giáo dân có ơn ngôn sứ không chỉ chỉ tay vào xã hội. Họ cũng có thể chỉ ra những điểm mù của chính cộng đoàn Công giáo: sự xa hoa giữa người nghèo; việc lạm dụng quyền lực; ngôn ngữ kỳ thị; sự coi thường phụ nữ; việc che giấu sai phạm; cách sử dụng tiền thiếu minh bạch; cách truyền thông gieo sợ hãi; một nền mục vụ chú ý người đã ở trong nhưng bỏ quên người đứng ngoài cửa. Nhưng nếu họ thật sự mang một đặc sủng ngôn sứ, cách nói của họ cũng phải chịu xét dưới Tin Mừng. Ngôn sứ không đồng nghĩa cay độc. Đức Giêsu nói những lời rất cứng, nhưng Người khóc cho Giêrusalem. Người ngôn sứ thật không khoái chí vì người khác sai. Họ đau vì thân thể đang bị thương.
Đặc sủng quản trị cũng cần được phục hồi như một ơn thiêng liêng. Trong nhiều môi trường đạo đức, quản trị bị xem là chuyện trần tục, thấp hơn cầu nguyện. Nhưng một cộng đoàn quản trị tồi có thể làm tổn thương con người rất “thiêng liêng”. Sổ sách mập mờ, trách nhiệm không rõ, tiền bạc tùy tiện, không bảo vệ trẻ em, không có quy trình tiếp nhận khiếu nại, người lãnh đạo ôm quyền quá lâu, quyết định theo cảm tính — tất cả có thể phá hủy bao nhiêu lời cầu nguyện. Một giáo dân có khả năng quản trị tốt có thể giúp Hội Thánh sống công bằng và minh bạch hơn. Họ có thể đặt những câu hỏi đơn giản nhưng cần thiết: ai chịu trách nhiệm? tiền này từ đâu? chi cho ai? ai phê duyệt? có xung đột lợi ích không? người yếu thế có được bảo vệ không? Ta lưu dữ liệu cá nhân thế nào? Hợp đồng có công bằng với nhân viên không? Đừng vội xem những câu ấy là thiếu đức tin. Đôi khi chính đó là một hình thức của đức công bình.
Đặc sủng kinh tế lại càng cần được nhìn trong chiều kích Tin Mừng. Một người có khả năng làm ra của cải có thể là một quà tặng lớn cho xã hội và Hội Thánh. Nhưng đặc sủng kinh tế không đồng nghĩa khả năng quyên tiền cho nhà thờ. Giá trị lớn hơn nhiều: tạo việc làm tử tế, trả lương công bằng, xây mô hình sản xuất không phá môi trường, đối xử với người lao động như chủ thể, đầu tư vào những điều có ích cho cộng đồng, từ chối lợi nhuận bẩn, sử dụng tài sản để mở cơ hội cho người yếu thế. Một doanh nhân Kitô hữu trưởng thành không chỉ hỏi cuối năm “tôi cho nhà thờ bao nhiêu?”, nhưng hỏi ngay trong cách kiếm tiền “tôi đã tôn trọng phẩm giá con người thế nào?” Tiền dâng không thánh hóa một hệ thống bất công. Đặc sủng kinh tế được Tin Mừng hóa phải biến chính cấu trúc kinh tế thành nơi thực thi đức ái và công bình.
Đặc sủng nghệ thuật cũng vậy. Hội Thánh từng hiểu rất rõ sức mạnh của cái đẹp. Nhưng nhiều nơi ngày nay chỉ sử dụng nghệ sĩ như người trang trí chương trình. Nghệ thuật không chỉ là làm phông đẹp, hát hay hoặc thiết kế poster. Nghệ sĩ có thể giúp con người nhìn thấy điều họ đã quen đến mức không còn thấy. Một bức tranh, một bài hát, một câu chuyện, một bộ phim, một công trình kiến trúc có thể mở lòng người về mầu nhiệm, về đau khổ, về lòng thương xót, về vẻ đẹp của tạo dựng. Giáo dân hoạt động trong văn hóa cần được tôn trọng như những người ở tuyến đầu của việc đối thoại giữa Tin Mừng và trí tưởng tượng của thời đại. Họ không cần biến mọi tác phẩm thành bài giáo lý minh họa. Đôi khi làm một tác phẩm thật đẹp, thật nhân bản, thật trung thực đã là một phục vụ lớn cho chân lý.
Ngày nay cũng xuất hiện những đặc sủng cần thiết trong các vùng mới của đời sống: công nghệ, sinh học, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, sinh thái, truyền thông số. Hội Thánh không thể chỉ đợi đến khi vấn đề đã bùng nổ rồi mới hỏi một chuyên gia bên ngoài. Trong chính Dân Chúa có những người đang sống mỗi ngày giữa những lĩnh vực ấy. Họ có thể giúp Hội Thánh đặt câu hỏi sớm. Một chuyên gia dữ liệu Công giáo có thể nói cho cộng đoàn biết việc lưu thông tin giáo dân bừa bãi nguy hiểm ra sao. Một người làm AI có thể cảnh báo khi công nghệ được dùng thay thế tương quan mục vụ. Một bác sĩ có thể giúp phân định những vấn đề đạo đức sinh học. Một nhà khoa học môi trường có thể giúp giáo xứ hiểu rằng bảo vệ tạo dựng không phải khẩu hiệu. Một chuyên gia an ninh mạng có thể bảo vệ trẻ em và người già trước lừa đảo. Những khả năng ấy không nằm ngoài đời sống thiêng liêng. Chúng có thể là khí cụ của Thánh Thần khi được đặt dưới chân Đức Kitô.
Cuối cùng, đặc sủng được nhận ra đầy đủ nhất không phải khi người ta gọi đúng tên nó, nhưng khi nó trở thành tình yêu cụ thể. Thánh Phaolô đặt bài ca đức mến ngay giữa giáo huấn về các đặc sủng không phải ngẫu nhiên. Có nói được các thứ tiếng mà không có đức mến thì chỉ là tiếng thanh la. Có hiểu biết mọi mầu nhiệm mà không có đức mến thì cũng chẳng là gì. Có làm những việc lớn lao mà không yêu thì đặc sủng trở thành tiếng ồn. Đây là tiêu chuẩn cuối cùng. Một cộng đoàn có thể đầy người tài mà vẫn nghèo Thánh Thần nếu người ta ghen nhau. Một giáo xứ có thể có cả chục ban ngành mà không có hiệp thông. Một phong trào có thể thu hút hàng nghìn người mà làm người phục vụ kiệt sức và gia đình họ tan vỡ. Một nhà giảng thuyết có thể được hàng triệu lượt xem nhưng đối xử tệ với những người không thể đem lại lợi ích cho mình. Không có đức mến, mọi đặc sủng đều mất trật tự.
Vì thế, giáo dân không cần đi tìm đặc sủng như người sưu tập danh hiệu. Hãy bắt đầu từ đời sống thật. Tôi đang ở đâu? Ai đang cần tôi? Điều gì tôi làm mà qua đó người khác được sống hơn? Vết thương nào của thế giới làm tôi không thể làm ngơ? Khả năng nào Chúa đã đặt vào tay tôi? Người khác thường tìm đến tôi vì điều gì? Tôi có thể làm điều nào với một niềm vui sâu dù không ai biết? Điều gì cộng đoàn xác nhận nơi tôi qua thời gian? Và quan trọng nhất: điều ấy có làm tôi yêu Đức Kitô hơn, yêu Hội Thánh hơn, yêu con người hơn không? Đôi khi đặc sủng được nhận ra chính ở nơi giao nhau giữa một khả năng, một vết thương của thế giới và một lời mời của Chúa.
Hội Thánh tương lai không cần ít linh mục để có nhiều giáo dân hơn, cũng không cần ít giáo dân để bảo vệ linh mục. Hội Thánh cần linh mục thật sự là linh mục, tu sĩ thật sự là tu sĩ, giáo dân thật sự là giáo dân, mỗi người sống đầy ơn gọi mình và vui vì ơn gọi của người khác. Khi linh mục không sợ đặc sủng giáo dân, giáo dân trưởng thành. Khi giáo dân không cạnh tranh với chức thánh, linh mục được tự do phục vụ điều cốt yếu của chức thánh. Khi tu sĩ không xem đời thường là thấp, đặc sủng cánh chung của đời tu trở nên sáng hơn. Khi giáo dân không xem đời tu là trốn đời, họ nhận được lời nhắc rằng thế giới này không phải quê hương cuối cùng. Mỗi bậc sống trở thành quà tặng cho bậc kia.
Có lẽ hình ảnh đẹp nhất vẫn là thân thể. Không chi thể nào tự sinh ra mình. Không chi thể nào sống một mình. Không chi thể nào nhận máu cho riêng mình. Mọi sự sống đều đến từ cùng một nguồn và lưu chuyển để toàn thân được sống. Thánh Thần cũng vậy. Người không trao ơn cho một người để người ấy trở thành quan trọng. Người trao ơn cho một người để thân thể được xây dựng. Người ban đặc sủng dạy học để người khác hiểu. Ban đặc sủng quản trị để cộng đoàn sống có trật tự. Ban đặc sủng bác ái để người đau được chạm tới. Ban đặc sủng ngôn sứ để lương tâm không ngủ. Ban đặc sủng nghệ thuật để cái đẹp mở cửa cho mầu nhiệm. Ban đặc sủng kinh tế để của cải phục vụ con người. Ban đặc sủng khoa học để trí tuệ khám phá tạo thành. Ban đặc sủng mục tử cho những người được truyền chức để Dân được nuôi bằng Lời và bí tích. Ban đặc sủng đời thánh hiến để toàn Hội Thánh nhớ rằng chỉ Thiên Chúa mới là cùng đích. Không ơn nào là tất cả. Không bậc nào là tất cả. Chỉ Đức Kitô là tất cả.
Và khi Hội Thánh sống điều này, câu hỏi “ai quan trọng hơn?” dần trở thành vô nghĩa. Trong một thân thể khỏe mạnh, mắt không tranh quyền với tay, chân không đòi địa vị của đầu, đầu không coi chân là thấp kém. Mỗi phần chỉ làm điều mình được ban để làm, và chính trong sự trung thành đó, toàn thân lớn lên. Đó cũng là linh đạo của đặc sủng giáo dân: nhận ơn với lòng biết ơn, sử dụng ơn với trách nhiệm, để ơn được phân định trong Hội Thánh, không chiếm hữu ơn như tài sản riêng, không dùng ơn chống lại những bậc sống khác, và cuối cùng sẵn sàng để chính mình mờ đi miễn sao Đức Kitô được lớn lên. Đặc sủng trưởng thành không nói: “Hãy nhìn tôi.” Nó nói: “Hãy nhìn điều Chúa đang làm giữa Dân Người.” Giáo sĩ không độc quyền Thánh Thần. Giáo dân cũng không sở hữu Thánh Thần. Tu sĩ cũng không sở hữu Thánh Thần. Tất cả chúng ta thuộc về Thánh Thần; và Thánh Thần, trong tự do tuyệt đối của Người, làm cho mọi khác biệt trong Hội Thánh không trở thành những bức tường cạnh tranh, nhưng thành những tiếng khác nhau trong cùng một bản hòa âm, để qua Hội Thánh, Đức Kitô có thể tiếp tục chạm đến thế giới bằng nhiều bàn tay, nhiều khuôn mặt, nhiều ơn gọi, nhưng chỉ bằng một tình yêu.
CHƯƠNG 17. HỘI THÁNH TẠI GIA VÀ HỘI THÁNH GIỮA CHỢ
Gia đình Kitô giáo được gọi là “Hội Thánh tại gia” không phải trước hết vì trong nhà có một bàn thờ được trang trí đẹp, có tượng ảnh thánh, có cây nến được thắp mỗi tối, có một cuốn Kinh Thánh đặt trang trọng nơi phòng khách, hay vì mọi người trong nhà đều có tên thánh và mỗi Chúa Nhật vẫn cùng nhau đến nhà thờ. Những dấu chỉ ấy quý, cần, đáng gìn giữ, nhưng chúng chưa đủ để làm cho một mái nhà trở thành Hội Thánh tại gia. Hội Thánh tại gia có mặt khi chính mầu nhiệm Hội Thánh bắt đầu được sống trong những tương quan nhỏ nhất và thật nhất của gia đình: khi Lời Chúa không chỉ được đặt trên kệ mà được để cho chất vấn cách vợ chồng nói với nhau; khi người ta biết cầu nguyện không chỉ trước tượng Chúa mà còn biết nhịn một lời cay nghiệt vì nhớ rằng người đang đứng trước mình cũng là người Chúa đã trao; khi một đứa trẻ yếu đuối không bị coi là gánh nặng; khi người già không bị đẩy ra ngoài nhịp sống vì chậm chạp; khi người bệnh không bị xem như một sự phiền toái; khi người có lỗi vẫn có một con đường để trở về; khi thất bại của một thành viên không biến thành nhãn hiệu đóng lên đời người ấy; khi bữa cơm vẫn còn chỗ cho người đến muộn; khi đức tin được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác không chỉ bằng những bài giáo lý thuộc lòng nhưng bằng cách cha mẹ sống, xin lỗi, tha thứ, làm việc, sử dụng tiền bạc, chịu đau khổ và đối diện với cái chết. Hội Thánh tại gia không phải một nhà nguyện thu nhỏ theo nghĩa hình thức. Đó là nơi mầu nhiệm Đức Kitô bắt đầu mặc lấy da thịt của đời thường.
Trong Hội Thánh hoàn vũ, người tín hữu được sinh ra bởi nước và Thánh Thần, được nuôi bởi Lời và Thánh Thể, được chữa lành bởi lòng thương xót, được quy tụ thành một thân thể, được sai vào thế giới. Trong gia đình Kitô giáo, những chuyển động ấy cũng phải tìm được một hình thức rất cụ thể. Một em bé được cha mẹ đưa đến giếng Rửa tội không chỉ nhận một nghi thức đẹp cho album gia đình. Cha mẹ và người đỡ đầu đã công khai nhận trách nhiệm để đức tin được lớn lên trong em. Nghĩa là sau ngày Rửa tội phải có những đêm cha mẹ làm dấu thánh giá trên trán con; phải có những câu chuyện về Chúa được kể bằng ngôn ngữ trẻ thơ; phải có những lần con hỏi những câu rất vụng mà người lớn không được cười; phải có những Chúa Nhật cha mẹ đi lễ dù mệt, để con hiểu rằng Thiên Chúa không chỉ được dành cho những lúc rảnh; phải có những lần cha mẹ làm hòa để con thấy Tin Mừng không chỉ là bài đọc trong nhà thờ; phải có những quyết định khó về tiền bạc, sự thật và lương tâm để con khám phá rằng đức tin có giá. Nếu ngày Rửa tội rất long trọng nhưng sau đó Đức Kitô hầu như biến mất khỏi nhịp sống của gia đình, ta đã giữ tấm giấy chứng nhận mà làm yếu đi thực tại mà bí tích đã khai mở.
Nói gia đình là Hội Thánh tại gia cũng không có nghĩa biến người cha thành “linh mục của nhà” theo nghĩa chức thánh, hoặc biến người mẹ thành một thứ nữ tu không tu viện. Cần hết sức tránh sự lẫn lộn này. Gia đình không phải bản sao thu nhỏ của cơ cấu giáo xứ. Cha không phải cha xứ, mẹ không phải bà quản nhiệm, con cái không phải giáo dân thuộc quyền. Hôn nhân có ân sủng và trách nhiệm riêng của hôn nhân. Cha mẹ thi hành chức vụ giáo dục đức tin phát sinh từ chính ơn gọi và bí tích của mình. Họ không thay linh mục cử hành bí tích; họ chuẩn bị đất để bí tích sinh hoa trái. Họ không cần biến bữa cơm thành lớp thần học; họ cần làm cho cách ăn với nhau, nói với nhau, chia sẻ với nhau và nhớ đến người nghèo trở thành nơi Tin Mừng có thể được nhìn thấy. Có những gia đình kinh rất nhiều mà con cái lại sợ cầu nguyện, bởi giờ kinh đi liền với quát mắng. Có những gia đình nói nhiều về đạo đức nhưng không ai được phép nói thật về nỗi đau. Có nhà bàn thờ rất sáng mà phòng ăn rất lạnh. Có nhà treo câu “Thiên Chúa là tình yêu” nhưng một thành viên phạm lỗi nhiều năm trước vẫn bị nhắc mãi không được tha. Khi ấy dấu thánh có mặt nhưng logic Tin Mừng chưa thật sự thấm vào tương quan. Hội Thánh tại gia bắt đầu không phải từ việc tăng thêm bao nhiêu việc đạo đức, nhưng từ việc để những gì ta cầu nguyện biến đổi cách ta sống với nhau.
Gia đình là trường đầu tiên của hiệp thông bởi ở đó con người không được lựa người khác theo sở thích của mình. Ta có thể chọn bạn, chọn nhóm, chọn hội đoàn; nhưng phần lớn ta không chọn cha mẹ, anh chị em, con cái, những giới hạn của người phối ngẫu, tuổi già của cha mẹ mình, tính khí của con mình. Gia đình đặt ta trước những con người cụ thể mà Thiên Chúa đã để đi vào đời ta. Vì thế gia đình là một trường khổ chế rất thật. Không cần tìm thập giá xa. Có những thập giá mang hình một người nói mãi không chịu nghe; một người chậm chạp; một đứa con khó dạy; một người phối ngẫu khô khan; một cha già hỏi cùng một câu mười lần; một bà mẹ đau ốm cần chăm suốt đêm; một người trong nhà thất nghiệp và trở nên cáu gắt. Không phải mọi sự khó chịu trong gia đình đều tự động là thánh giá Chúa gửi. Có những điều phải thay đổi, có những bạo lực phải ngăn chặn, có những nghiện ngập phải điều trị, có những bất công không được nhân danh “hy sinh” để tiếp tục. Nhưng ngay cả khi phải đặt giới hạn, phải chữa lành, phải tìm trợ giúp, người Kitô hữu vẫn được gọi để chống lại cám dỗ biến người thân thành kẻ thù. Hội Thánh tại gia không phải nơi không có xung đột. Đó là nơi xung đột không có quyền nói lời cuối.
Đức tin được truyền trong gia đình thường không đi qua những khoảnh khắc lớn mà qua những điều nhỏ đến mức người ta không để ý. Một người mẹ làm dấu trước khi lái xe. Một người cha từ chối một khoản lợi bất chính dù gia đình đang cần tiền. Một đứa trẻ nghe bố nói: “Bố sai, bố xin lỗi con.” Một người con thấy mẹ chăm bà ngoại mất trí mà không kể công. Một gia đình tắt điện thoại trong bữa cơm vì người trước mặt quan trọng hơn thông báo trên màn hình. Một người chồng sau khi nổi nóng biết quay lại xin lỗi. Một người vợ không đem thất bại của chồng kể cho cả họ để tìm đồng minh. Một gia đình dành phần tiền nhỏ đều đặn giúp một người nghèo mà không chụp hình. Những cử chỉ ấy chính là giáo lý bằng thân xác. Trẻ em có thể quên nhiều điều đã học trong lớp giáo lý, nhưng chúng rất khó quên cách cha mẹ sống khi có tiền, khi thiếu tiền, khi bị xúc phạm, khi một người trong nhà lâm bệnh, khi gia đình có tang, khi có người làm điều sai, khi phải chọn giữa lợi ích và lương tâm. Đức tin được chuyền qua khí hậu của căn nhà trước khi được chuyền bằng giáo trình.
Vì thế, vai trò của gia đình trong đời sống đức tin không thể được giao khoán hoàn toàn cho giáo xứ. Một giờ giáo lý mỗi tuần không thể bù cho sáu ngày còn lại nếu toàn bộ môi trường gia đình nói một ngôn ngữ khác Tin Mừng. Giáo lý viên có thể dạy trẻ điều răn “chớ làm chứng dối”, nhưng nếu về nhà trẻ thấy người lớn bảo nó nói với người gọi điện rằng “ba không có nhà” trong khi ba đang ngồi trước mặt, bài học đã bị triệt tiêu bằng một câu rất nhỏ. Giáo lý viên có thể nói về người nghèo, nhưng nếu đứa trẻ nghe cha mẹ khinh người giúp việc, khinh người bán vé số, khinh người ít học, nó sẽ học hệ thống giá trị thật của gia đình chứ không học câu trả lời trong sách. Linh mục có thể giảng về tha thứ, nhưng nếu bàn ăn gia đình là nơi người ta nhắc mãi lỗi của nhau, trẻ sẽ hiểu rằng tha thứ là từ dành cho nhà thờ. Bởi vậy, canh tân giáo lý mà không canh tân gia đình rất dễ trở thành việc đổ nước vào một chiếc bình thủng.
Nhưng gia đình Kitô giáo không được khép kín trong chính mình. Hội Thánh tại gia không phải một pháo đài đạo đức xây để tránh thế gian. Nếu thật sự là Hội Thánh, gia đình phải có cửa. Hội Thánh luôn được sai đi. Gia đình cũng vậy. Một mái nhà Kitô giáo phải dần học cách có chỗ cho người ngoài gia đình: một người cô đơn, một người họ hàng gặp nạn, một người hàng xóm bệnh, một đứa trẻ con nhà nghèo chơi với con mình, một người nhập cư, một người không có ai đón Tết, một người đang khủng hoảng cần được nghe. Không phải nhà nào cũng đủ điều kiện mở cửa theo cùng một cách. Nhưng một gia đình chỉ biết tích lũy cho chính mình, bảo vệ sự tiện nghi của mình và dạy con rằng đời sống là cuộc chạy đua để vượt người khác thì dù đọc kinh đều đặn vẫn chưa thể hiện đầy đủ khuôn mặt Hội Thánh. Đức Kitô không quy tụ Hội Thánh để Hội Thánh ngắm chính mình. Người quy tụ để sai đi.
Và đây là điểm nối giữa Hội Thánh tại gia với Hội Thánh giữa chợ. Người giáo dân bước ra khỏi cửa nhà mỗi sáng không rời Hội Thánh để đi vào một vùng “đời” hoàn toàn tách biệt. Họ đem căn tính Rửa tội theo mình đến công ty, công trường, bệnh viện, lớp học, chợ, ngân hàng, văn phòng luật, nhà máy, tiệm ăn, phòng họp, cơ quan nhà nước, cửa hàng trực tuyến, nông trại và cả thế giới kỹ thuật số. Hội Thánh không chỉ hiện diện ở nơi có tháp chuông. Hội Thánh hiện diện nơi một người đã được Rửa tội đang sống như môn đệ Đức Kitô. Vì thế một người giáo dân trung thực trong phòng kế toán đang làm một việc có chiều kích Giáo hội. Một bác sĩ tôn trọng phẩm giá bệnh nhân đang làm chứng cho Tin Mừng. Một doanh nhân từ chối kiếm lời bằng bóc lột đang cho thấy Nước Chúa có thể đụng vào kinh tế. Một người cán bộ không nhận phong bì đang làm một hành vi luân lý không chỉ mang tính cá nhân. Một giáo viên không thiên vị học sinh nhà giàu đang biểu lộ phẩm giá bình đẳng của con người. Một người chủ trả lương đúng hẹn đang sống công bình. Một người tiêu dùng không cố tình ép giá người nghèo đến mức họ không còn sống được đang thực hành bác ái. Những việc ấy ít khi có tiếng đàn, áo lễ hay hương trầm; nhưng đó chính là nơi tính chất trần thế của ơn gọi giáo dân được thực hiện.
Ta quen nghĩ “làm việc đạo” là đọc sách thánh, giúp lễ, hát ca đoàn, dạy giáo lý, tham gia hội đoàn, quyên góp xây nhà thờ. Tất cả những việc ấy đáng quý. Nhưng nếu chỉ gọi đó là việc đạo, ta vô tình làm nghèo ơn gọi giáo dân. Chữ ký trên một hợp đồng cũng có thể là một hành vi của người môn đệ. Cách kê khai thuế cũng có thể là chỗ lương tâm Kitô hữu được thử. Một cuộc họp kinh doanh cũng có thể là chiến trường giữa sự thật và gian dối. Cách người chủ nói với người làm công cũng có thể bộc lộ họ tin con người là hình ảnh Thiên Chúa hay chỉ là công cụ sản xuất. Cách một người xử lý dữ liệu khách hàng, bảo vệ thông tin cá nhân, sử dụng AI, quảng cáo sản phẩm, trả hoa hồng, quản lý tài sản công, mua vật tư, ký hồ sơ, chấm điểm học sinh, phân ca cho công nhân — tất cả những việc rất “đời” ấy đều có thể trở thành nơi người Kitô hữu nói bằng hành động rằng Đức Kitô là Chúa.
Hội Thánh giữa chợ không có nghĩa là biến nơi làm việc thành nhà thờ, treo biểu tượng tôn giáo ở mọi chỗ hay đưa câu Kinh Thánh vào mọi cuộc họp. Đôi khi người ta tưởng truyền giáo nơi công sở là gửi ảnh thánh mỗi sáng vào nhóm chat, mở nhạc đạo lớn tiếng, hoặc tranh luận tôn giáo với đồng nghiệp. Có lúc những việc ấy thích hợp; nhiều lúc không. Sứ mạng giáo dân sâu hơn rất nhiều. Người ta phải có khả năng nhận ra một Kitô hữu trước hết qua trọng lượng đạo đức của sự hiện diện người ấy. Người ấy nói thật khi nói dối có lợi không? Người ấy có giữ lời không? Có dám nhận trách nhiệm khi làm sai không? Có đối xử tử tế với người không thể đem lại lợi ích cho mình không? Có cư xử giống nhau với giám đốc và người quét dọn không? Có dùng quyền để phục vụ hay để trả thù? Có nói xấu người vắng mặt để lấy lòng người hiện diện không? Có lấy việc “ai cũng làm vậy” làm tiêu chuẩn lương tâm không? Những câu ấy là thần học giáo dân ở dạng cụ thể nhất.
Chợ trong Kinh Thánh và trong truyền thống nhân loại không chỉ là nơi mua bán. Chợ là nơi gặp gỡ, trao đổi, hình thành dư luận, nơi tin tức đi qua, nơi người mạnh và người yếu đụng nhau, nơi lợi ích có thể lấn át lương tâm. “Chợ” hôm nay rộng hơn rất nhiều. Chợ là sàn thương mại điện tử. Chợ là Facebook. Chợ là TikTok. Chợ là nhóm Zalo phụ huynh. Chợ là diễn đàn chứng khoán. Chợ là nơi livestream bán hàng. Chợ là hệ thống dữ liệu khách hàng. Chợ là thuật toán phân phối quảng cáo. Chợ là một phòng họp trực tuyến với những con người ở năm quốc gia. Nếu giáo dân là Hội Thánh giữa chợ, thì họ cũng phải là Hội Thánh trong những không gian số ấy. Một người bán hàng Công giáo không được dùng hình ảnh giả để lừa khách. Một người làm nội dung không được tung tin chưa kiểm chứng chỉ vì tăng lượt xem. Một người làm công nghệ không được tự miễn trách nhiệm luân lý bằng câu: “Thuật toán quyết định.” Một người dùng mạng không được nhân danh bảo vệ đức tin để hủy danh dự người khác. Một người quản lý dữ liệu không thể nói mình sống đạo nếu tùy tiện xâm phạm riêng tư của con người. Lương tâm Kitô hữu không tắt khi màn hình sáng.
Đặc biệt, tiền bạc là một trong những nơi Hội Thánh tại gia và Hội Thánh giữa chợ gặp nhau rõ nhất. Cách một gia đình kiếm tiền, tiêu tiền, tiết kiệm, cho đi, vay nợ, để lại gia sản, dạy con về tiền nói rất nhiều về linh đạo thật của gia đình ấy. Không phải giàu là xấu, nghèo là thánh. Tin Mừng không đơn giản như thế. Vấn đề là của cải nằm ở đâu trong trật tự tình yêu. Tiền là phương tiện hay trở thành chúa? Gia đình có thể hy sinh sự hiện diện của cha mẹ, sức khỏe, ngày Chúa Nhật, lương tâm và các mối quan hệ chỉ để đạt một mức sống ngày càng cao không? Người ta có dạy con rằng giá trị của nó bằng thu nhập tương lai không? Có coi người kiếm ít hơn là thất bại không? Có thể xây một bàn thờ rất lớn bằng tiền kiếm từ việc làm thiệt người khác không? Của lễ không thanh tẩy bất công. Không thể lấy một phần lợi nhuận bất chính đem làm từ thiện rồi coi phần còn lại đã được thánh hóa.
“Nhà đạo đức mà chợ gian thì linh đạo rỗng.” Câu này cần được nói thật mạnh bởi một trong những cám dỗ lâu đời của đời sống tôn giáo là tách việc thờ phượng khỏi công bình. Người ta có thể rất sốt sắng trước bàn thờ nhưng rất lạnh lùng trước hóa đơn của người lao động. Có thể dâng cúng rộng rãi nhưng nợ lương nhân viên. Có thể hành hương đều đặn nhưng khai gian. Có thể đọc kinh gia đình mỗi tối nhưng sáng hôm sau ra chợ cân thiếu. Có thể đeo ảnh thánh trên xe nhưng chen lấn, chửi bới, đưa tiền để được ưu tiên trái phép. Có thể làm việc bác ái rất công khai nhưng sau hậu trường trốn trách nhiệm với chính cha mẹ già của mình. Đức tin không chịu được sự chia đôi ấy. Thiên Chúa mà ta thờ trong nhà thờ là chính Thiên Chúa đang đòi công bình ở ngoài chợ. Đức Kitô hiện diện trong Thánh Thể cũng là Đức Kitô nói: điều gì các con làm cho một trong những anh em bé nhỏ nhất là làm cho chính Ta. Không có hai Đức Kitô, một cho bàn thờ và một cho sổ sách.
Đồng thời cũng phải nói phần thứ hai: “Chợ lương thiện mà nhà không có Chúa thì nhân đức dễ mệt.” Điều này không nhằm phủ nhận những người không cùng đức tin vẫn có thể sống vô cùng cao đẹp, công chính và quảng đại. Hội Thánh nhìn nhận mọi điều chân thật và thiện hảo. Nhưng đối với người Kitô hữu, đạo đức không chỉ là dự án tự hoàn thiện bằng sức riêng. Nếu một người cố gắng sống tử tế hoàn toàn bằng ý chí, đến một lúc họ sẽ gặp giới hạn của mình: sự phản bội quá đau để tha, bất công kéo dài quá lâu để tiếp tục hy vọng, người mình giúp quay lại làm hại mình, sự trung thực khiến mình mất cơ hội, bệnh tật lấy đi sức lực, tuổi già lấy đi khả năng kiểm soát. Khi ấy người môn đệ cần một nguồn sâu hơn tính cách tốt. Họ cần được cắm vào Đức Kitô. Gia đình cầu nguyện không phải để trốn đời nhưng để có sức trở lại đời. Thánh lễ Chúa Nhật không phải giờ nghỉ khỏi trách nhiệm công dân nhưng là nơi đời sống được dâng lên, được uốn lại và được sai đi. Tòa giải tội không phải chỗ xóa điểm xấu để yên tâm, mà là trường học của sự thật và lòng thương xót để người đã được tha biết tha và sửa mình. Lời Chúa không phải câu động viên cho tuần mới mà là thanh gươm phân định các động cơ của trái tim.
Hai nơi — nhà và chợ — phải nuôi nhau. Người sống lương thiện ngoài xã hội sẽ đem những câu hỏi thật về nhà: tôi phải làm gì khi cấp trên yêu cầu điều sai? Tôi phải xử lý thế nào khi đồng nghiệp gian lận? Tôi có nên nhận một công việc lương cao nhưng sản phẩm gây hại không? Tôi phải trả bao nhiêu cho người làm công mới là công bằng? Tôi có nên nói thật dù mất khách hàng? Gia đình Kitô giáo phải là nơi những câu hỏi ấy được mang vào cầu nguyện, không phải nơi chỉ nói chuyện học phí, hóa đơn và điểm số. Con cái càng lớn, giờ kinh gia đình càng cần trưởng thành. Không phải chỉ đọc kinh thuộc lòng mà phải có lúc hỏi nhau: tuần này điều gì làm lương tâm con bất an? Ở chỗ làm bố đang gặp quyết định gì khó? Mẹ đã đối xử thế nào với người làm mình tổn thương? Chúng ta đang sử dụng tiền của gia đình theo điều gì? Có ai quanh nhà mình đang thật sự cần được giúp? Khi đời đi vào lời cầu nguyện, lời cầu nguyện mới có khả năng đi trở lại đời.
Ngược lại, những gì được học trong gia đình phải đi ra chợ. Một đứa trẻ được tôn trọng trong nhà có nhiều khả năng học tôn trọng người khác. Một người đã học nói “xin lỗi” với vợ chồng sẽ dễ nhận lỗi với đồng nghiệp hơn. Một người đã quen chăm người yếu trong gia đình có thể nhạy cảm hơn với nhân viên yếu thế. Một gia đình biết sống giới hạn sẽ giúp thành viên của mình không tuyệt đối hóa nghề nghiệp. Một người đã biết rằng mình được yêu không hoàn toàn dựa trên thành tích sẽ ít cần giẫm lên người khác để chứng minh giá trị. Vì thế, phẩm chất đời sống gia đình có ảnh hưởng xã hội sâu hơn ta tưởng. Gia đình không chỉ sản xuất những cá nhân. Gia đình hình thành lương tâm của những công dân, doanh nhân, giáo viên, bác sĩ, linh mục, tu sĩ, chính trị gia, công nhân, nghệ sĩ và người lao động tương lai.
Ở đây cần nhìn lại ngày Chúa Nhật. Chúa Nhật là chiếc bản lề giữa Hội Thánh tại gia và Hội Thánh giữa chợ. Người giáo dân đi qua một tuần lao động, mang vào Thánh lễ những thành công, thất bại, tiền công, mồ hôi, các lựa chọn đúng sai, những người mình đã gặp, những lỗi mình đã phạm. Bánh và rượu trên bàn thờ là hoa màu ruộng đất và lao công con người; đời sống con người được gom vào đó. Rồi sau Thánh lễ, họ được sai đi. “Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an” không có nghĩa buổi đạo đức đã kết thúc và bây giờ bắt đầu đời thường không liên quan. Chính nghĩa của “lễ” bao hàm việc được sai. Ta đã được nuôi để đi. Ta đã nghe Lời để sống Lời. Ta đã trao bình an cho người đứng cạnh để trở thành người kiến tạo bình an ở nơi làm việc. Ta đã tuyên xưng một Chúa để không quỳ trước những ông chủ giả là tiền bạc, quyền lực, danh tiếng hay thành công.
Bởi vậy, một linh đạo giáo dân trưởng thành không hỏi trước hết: “Tuần này tôi đã làm bao nhiêu việc đạo?”, nhưng còn hỏi: “Đức tin đã đi vào bao nhiêu quyết định thật của tôi?” Có những người rất ít xuất hiện ở các sinh hoạt giáo xứ vì phải làm việc, chăm con, chăm cha mẹ bệnh, nhưng mỗi ngày họ trung thành với lương tâm, nuôi con tử tế, giữ hôn nhân, trả nợ đúng, chăm người yếu, chống gian dối. Không được coi họ là Kitô hữu hạng hai. Ngược lại, có những người xuất hiện gần như mọi hoạt động nhà thờ nhưng cách sống ngoài nhà thờ không thay đổi. Cũng không được nhầm sự bận rộn tôn giáo với sự trưởng thành thiêng liêng. Cây được biết nhờ quả. Linh đạo giáo dân phải sinh quả trong chính những môi trường mà giáo dân đang sống.
Điều này cũng thay đổi cách giáo xứ đào tạo giáo dân. Nếu chương trình mục vụ chỉ đào tạo người đọc sách, người giúp lễ, ca viên, trưởng hội, giáo lý viên và thành viên ban ngành mà hầu như không giúp người tín hữu phân định tiền bạc, nghề nghiệp, hôn nhân, quyền lực, công nghệ, kinh doanh, chính trị, giáo dục, môi trường, trách nhiệm công dân, thì chương trình ấy mới đào tạo một phần nhỏ của con người giáo dân. Một kế toán viên cần được giúp suy nghĩ như Kitô hữu trong kế toán. Một doanh nhân cần thần học về lao động và công ích. Một bác sĩ cần được đào tạo lương tâm nghề nghiệp. Một giáo viên cần biết phẩm giá học sinh theo ánh sáng Tin Mừng. Một người làm truyền thông cần hiểu trách nhiệm với sự thật. Một người làm AI cần đặt câu hỏi về phẩm giá con người, thiên lệch, dữ liệu, quyền lực và hậu quả của hệ thống mình xây. Giáo xứ không cần trở thành trường dạy mọi ngành nghề. Nhưng phải giúp giáo dân có những nguyên tắc và đời sống thiêng liêng đủ sâu để họ tự đứng trước những vấn đề của chuyên môn mình với lương tâm được hình thành.
Linh mục cũng cần tin vào ơn gọi ấy. Nếu linh mục chỉ đánh giá giáo dân bằng mức họ có mặt trong khuôn viên giáo xứ, ngài dễ vô tình kéo họ ra khỏi chính nơi họ được sai đến. Một người mẹ có ba con nhỏ không thể dự mọi cuộc họp. Một bác sĩ trực đêm không thể hiện diện ở mọi sinh hoạt. Một công nhân làm ca không phải ít đạo vì không thể đi hội đều. Một doanh nhân đôi khi mang trách nhiệm lớn đối với hàng trăm gia đình công nhân. Điều mục tử cần hỏi không chỉ là: “Sao anh chị ít đến nhà thờ?”, nhưng còn: “Anh chị đang gặp Chúa và gặp những thách đố nào trong nơi mình làm việc? Hội Thánh có thể giúp lương tâm anh chị thế nào?” Khi ấy giáo xứ không còn hút giáo dân khỏi thế giới để làm đầy lịch sinh hoạt; giáo xứ trở thành nơi nuôi dưỡng rồi sai họ trở lại thế giới.
Tuy nhiên, việc nhấn mạnh Hội Thánh giữa chợ không được biến thành một Kitô giáo thuần đạo đức xã hội. Người giáo dân không chỉ được gọi sống tử tế như bất kỳ người lương thiện nào. Họ được gọi nên thánh trong Đức Kitô. Tính riêng của chứng tá Kitô hữu nằm ở nguồn và cùng đích: người ấy sống vì đã được yêu trong Đức Kitô, sống bằng Thánh Thần, và hướng mọi sự về Nước Thiên Chúa. Có những lúc chứng tá bằng đời sống phải đi đến chứng tá bằng lời. Nếu một đồng nghiệp hỏi: “Tại sao anh không trả đũa?”, người Kitô hữu không cần giấu Đức Kitô sau một câu đạo đức chung chung. Nếu một người hỏi: “Vì sao chị vẫn hy vọng sau biến cố này?”, có lúc câu trả lời chân thật là: “Vì tôi tin.” Loan báo Tin Mừng không phải ép người khác nghe một bài giảng; đó là sẵn sàng gọi tên nguồn hy vọng khi người khác thật sự muốn biết.
Hội Thánh tại gia và Hội Thánh giữa chợ gặp nhau sâu nhất ở sự nhất quán. Một người không thể mãi sống hai phiên bản của mình: bản đạo đức trước bàn thờ và bản thực dụng ngoài thị trường. Sự phân đôi ấy sẽ làm hỏng linh hồn. Người Kitô hữu có thể yếu, có thể ngã, có thể nhiều lần không sống được điều mình tin; nhưng họ không được bình thường hóa mâu thuẫn. Khi nhận ra mình sai, họ trở về, xưng thú, sửa chữa, bồi thường nếu cần và đi lại. Chính khả năng hoán cải cũng là chứng tá. Một chủ doanh nghiệp Kitô hữu không cần giả mình hoàn hảo; nhưng khi phát hiện đã đối xử bất công với nhân viên, người ấy phải đủ tự do để sửa. Một người cha không cần làm bộ không bao giờ nóng; nhưng phải biết xin lỗi con. Một người mẹ không cần che mọi yếu đuối để giữ quyền; nhưng có thể nói: “Mẹ đã làm điều đó không đúng.” Sự thánh thiện không phải một bức tường không vết nứt. Đó là đời sống trong đó ánh sáng có thể đi qua cả những chỗ nứt vì con người không ngừng trở về với ân sủng.
Cuối cùng, Hội Thánh tại gia và Hội Thánh giữa chợ chỉ là hai cách nói về cùng một mầu nhiệm: Đức Kitô muốn cư ngụ trong toàn bộ đời sống con người. Người không chỉ muốn một góc trang trọng trong căn nhà. Người muốn bàn ăn, phòng ngủ, cách vợ chồng yêu nhau, cách cha mẹ dạy con, cách gia đình dùng tiền, cách chăm người già. Người cũng không dừng lại ở ngưỡng cửa. Người đi cùng người giáo dân vào thang máy công ty, vào dây chuyền nhà máy, vào cánh đồng, vào lớp học, vào phòng mổ, vào phiên tòa, vào bàn thương lượng, vào máy tính, vào mạng xã hội, vào nơi ký hợp đồng và nơi nhận lương. Không có vùng nào của đời sống nhân loại tự nó nằm ngoài quyền của Đức Kitô. Vì Người đã nhập thể, đời thường có thể trở thành nơi gặp Thiên Chúa. Vì Người đã chịu đóng đinh, những hy sinh vì sự thật không vô nghĩa. Vì Người đã sống lại, người tín hữu có thể sống công chính mà không tuyệt vọng ngay cả khi công chính chưa được tưởng thưởng.
Một mái nhà có Chúa phải làm con người bước ra chợ tử tế hơn. Một ngày ở chợ được sống trong lương tâm phải làm con người trở về nhà khiêm tốn hơn, biết mình cần Chúa hơn. Nhà nuôi chợ. Chợ thử nhà. Bàn thờ gia đình phải dẫn tới bàn làm việc. Bàn làm việc phải được đem về bàn thờ. Lời kinh phải đi vào chữ ký. Chữ ký phải chịu sự phán xét của Lời. Bữa cơm phải dạy ta nhìn người lao động. Tiền lương phải phản ánh phẩm giá con người. Thánh lễ phải đi tới thị trường. Thị trường phải được đưa vào Thánh lễ như lễ vật, như câu hỏi, như vết thương và như trách nhiệm. Khi hai thế giới ấy nối lại, linh đạo giáo dân thoát khỏi sự chia đôi nguy hiểm nhất: chia Chúa khỏi đời.
Và có lẽ đây là một trong những hình ảnh đẹp nhất của Hội Thánh trong thế giới hôm nay: một gia đình nhỏ tối đến vẫn còn biết cầu nguyện với nhau, dù không hoàn hảo; sáng ra từng người tỏa đi mỗi hướng, người đến trường, người vào bệnh viện, người ra chợ, người đến công ty, người vào xưởng, người làm việc trên máy tính; không ai mặc áo đặc biệt, không ai đứng trên bục giảng, nhưng mỗi người mang theo một bí tích Rửa tội, một lương tâm đang được Tin Mừng uốn nắn, một ký ức về bàn tiệc Thánh Thể và một trách nhiệm với người mình sắp gặp. Tối đến họ lại trở về, đem theo những niềm vui, thất bại, cám dỗ, những lần đã sống đúng và những lần đã sống sai, rồi lại đặt tất cả trước Chúa. Ngày hôm sau họ lại đi. Đó không phải một linh đạo tầm thường. Đó là Hội Thánh đang thở bằng hai lá phổi: Hội Thánh tại gia và Hội Thánh giữa chợ. Một lá phổi nhận vào ân sủng, một lá phổi thở ân sủng ấy vào thế giới; và thật ra cả hai cùng nhận, cùng cho, cùng được thanh luyện, cùng được sai đi. Ở nơi chuyển động âm thầm ấy, Nước Thiên Chúa không đến bằng tiếng động lớn. Nước ấy đến khi một người không gian lận dù có thể; khi một gia đình không bỏ người yếu; khi một người chủ không coi lao động là món hàng; khi một người con kiên nhẫn với cha mẹ già; khi một người vợ giữ lòng trung tín giữa những năm tháng khó; khi một người chồng dám xin lỗi; khi một người trẻ từ chối thành công bằng cách chà đạp người khác; khi một người tín hữu mang Đức Kitô từ bàn thờ ra chợ và mang tất cả bụi bặm của chợ trở về bàn thờ. Chính ở đó, giữa bếp núc, hóa đơn, điện thoại, con cái, hợp đồng, đồng lương, tiếng cãi nhau, lời xin lỗi, giờ kinh, bữa cơm và ngày Chúa Nhật, Hội Thánh sống. Không đứng ngoài đời để phán đời, cũng không hòa tan vào đời để mất mình, nhưng ở trong đời như men, như muối, như ánh sáng: một Hội Thánh bắt đầu từ căn nhà và đi ra tận giữa chợ.
CHƯƠNG 18. HIỆP HÀNH: GIÁO DÂN KHÔNG CÒN LÀ THÍNH GIẢ
Một trong những chuyển động quan trọng nhất của đời sống Hội Thánh trong những năm gần đây là việc nhắc lại một điều vốn không mới, nhưng đã có lúc bị che khuất bởi thói quen mục vụ: Hội Thánh không phải là một cộng đoàn trong đó một số ít người nói còn số đông chỉ nghe; không phải là một cơ cấu trong đó mọi sáng kiến đều đi từ trên xuống, mọi chương trình đều được soạn xong rồi mới gọi giáo dân đến thực hiện, mọi phân định đều được hoàn tất trước khi cộng đoàn biết mình đang được hỏi điều gì. Hiệp hành không phát minh ra một Hội Thánh mới. Hiệp hành cũng không tạo thêm một “quyền lực” mới cho giáo dân. Hiệp hành chỉ buộc Hội Thánh nhớ lại điều mình đã là từ phép Rửa: một Dân được quy tụ bởi Chúa Cha, trong Đức Kitô, nhờ Chúa Thánh Thần; một Dân trong đó mỗi người đã được ban phẩm giá làm con, được trao một ơn gọi, một cảm thức đức tin, một trách nhiệm đối với sứ mạng chung; một Dân trong đó các thừa tác vụ khác nhau không xóa đi sự tham dự thật sự của mọi người vào đời sống và sứ mạng của Hội Thánh. Vì thế, câu nói “hiệp hành làm cho giáo dân có tiếng nói” chỉ đúng một phần. Chính xác hơn phải nói: hiệp hành giúp Hội Thánh nhìn nhận và thực hành điều mà phép Rửa đã ban cho giáo dân từ đầu. Họ không được trao thêm một cái miệng mà trước đây họ không có. Họ được mời sử dụng cái miệng đã có để nói trong sự thật và bác ái. Họ không được trao thêm đôi tai mà trước đây họ không có. Họ được mời dùng đôi tai ấy để nghe Lời Chúa, nghe Hội Thánh, nghe nhau, nghe tiếng kêu của thế giới, nghe cả những gì bất tiện đối với hệ thống quen thuộc của mình. Họ không được phong chức bởi tiến trình hiệp hành. Họ được đánh thức để sống nghiêm túc hơn chức tư tế cộng đồng, chức ngôn sứ và chức vương giả đã lãnh nhận trong Bí tích Rửa tội và được kiện toàn trong Bí tích Thêm sức.
Bởi vậy, nói “giáo dân không còn là thính giả” không có nghĩa từ nay giáo dân phải nói nhiều hơn linh mục, phải chiếm micro, phải biến mọi cuộc họp thành diễn đàn phát biểu, phải đòi quyền quyết định trong mọi lãnh vực như thể Hội Thánh là một nghị viện. Thính giả ở đây là một kiểu tồn tại thụ động: đến để nghe điều người khác đã quyết, làm điều người khác đã nghĩ, đóng góp cho kế hoạch người khác đã lập, vỗ tay cho chương trình người khác đã thiết kế, và sau cùng được khen là “nhiệt thành” nếu thi hành ngoan ngoãn. Một cộng đoàn có thể có rất nhiều giáo dân hoạt động nhưng vẫn không hiệp hành. Họ có thể hát rất đông, dạy giáo lý rất đông, tham gia hội đoàn rất đông, quyên góp rất mạnh, xây dựng rất giỏi, tổ chức lễ rất hoành tráng, nhưng nếu họ không bao giờ được lắng nghe về điều họ đang sống, nếu kinh nghiệm đức tin của họ không bao giờ đi vào tiến trình phân định mục vụ, nếu cha xứ và một nhóm rất nhỏ đã quyết hết mọi việc trước rồi mới phân công, thì họ vẫn có thể là những “thính giả năng động”: rất bận nhưng không thật sự là chủ thể. Hiệp hành đụng vào chỗ này. Nó hỏi không chỉ: ai đang làm việc? Nó hỏi sâu hơn: ai đang được lắng nghe? Ai có thể nói thật? Ai có thể nêu điều khó nghe mà không bị gắn nhãn chống đối? Ai đang bị bỏ ngoài tiến trình phân định? Ai biết rõ đời sống của gia đình trẻ, người lao động, người di dân, người nghèo, người mẹ đơn thân, người trẻ mất đức tin, người bệnh, người sống giữa áp lực nghề nghiệp, người ở vùng sâu, nhưng tiếng nói ấy chưa từng bước vào phòng họp mục vụ? Hiệp hành không phải là tăng số ghế trong phòng họp. Nó là thay đổi cách Hội Thánh nghe.
Điều này có nền tảng thần học rất sâu. Hội Thánh tin rằng Chúa Thánh Thần không chỉ hoạt động nơi hàng giáo phẩm, dù Người ban cho các mục tử những ân sủng và trách nhiệm đặc thù để giảng dạy, thánh hóa và cai quản. Chúa Thánh Thần cũng cư ngụ nơi toàn thể Dân Thiên Chúa. Người ban các đặc sủng, soi sáng lương tâm, gây nên những thao thức thánh, giúp người tín hữu nhận ra điều phù hợp với Tin Mừng, làm phát sinh những sáng kiến truyền giáo và bác ái mà nhiều khi cơ cấu chính thức đi sau mới nhận ra giá trị. Lịch sử Hội Thánh đầy những trường hợp như thế. Những phong trào canh tân, những hội dòng, những công cuộc phục vụ người nghèo, những sáng kiến giáo dục, y tế, truyền giáo, bảo vệ sự sống, nâng đỡ gia đình, truyền thông Tin Mừng, nhiều khi bắt đầu từ một trực giác nhỏ trong một người hay một nhóm tín hữu. Nếu Hội Thánh chỉ tin rằng Thánh Thần nói qua chức vụ mà không nói trong Dân, Hội Thánh sẽ nghèo đi. Nhưng nếu lại nói rằng bất cứ ý kiến nào xuất hiện trong Dân cũng là tiếng Thánh Thần, Hội Thánh sẽ rơi vào hỗn loạn. Hiệp hành đứng ở giữa hai sai lầm ấy bằng một động từ rất quan trọng: phân định. Không phải cứ nói là đúng. Không phải cứ đông người đồng ý là đúng. Không phải cứ người có chức nói là đúng vì người ấy có chức. Không phải cứ giáo dân nói là đúng vì đó là “tiếng nói từ cơ sở”. Tất cả đều phải được đặt dưới Lời Chúa, trong truyền thống sống động của Hội Thánh, trong đức tin tông truyền, trong cầu nguyện, trong lương tâm được đào tạo, trong sự hướng dẫn của các mục tử, và trong việc nhận ra hoa trái của Thánh Thần.
Chính vì thế, hiệp hành không phải là dân chủ nghị viện được rửa tội bằng vài kinh đầu giờ. Nghị viện vận hành bằng đại diện, tranh luận, liên minh, đa số, đối lập, thắng thua, kiểm soát quyền lực. Hội Thánh có thể học từ các thể chế dân chủ những điều tốt đẹp như minh bạch, trách nhiệm giải trình, tôn trọng tiếng nói, chống lạm quyền, nhưng bản chất Hội Thánh không phải nghị viện. Hội Thánh không nhận chân lý từ đa số phiếu. Nếu toàn thể một cộng đoàn biểu quyết rằng một điều trái Tin Mừng từ nay được coi là đúng, lá phiếu không biến nó thành chân lý. Nếu một mục tử đơn độc bảo vệ chân lý mà bị phản đối, chân lý không trở thành sai vì người ấy ở thiểu số. Ngược lại, chức vụ mục tử cũng không cho phép một người đồng hóa ý riêng của mình với ý Chúa. “Tôi là cha xứ nên tôi biết” không phải là một nguyên tắc thần học. “Tôi là giám mục nên mọi nhận định mục vụ của tôi đều là tiếng Chúa Thánh Thần” cũng không phải là giáo huấn của Hội Thánh. Quyền bính trong Hội Thánh là quyền phục vụ chân lý và hiệp thông, không phải quyền sở hữu cộng đoàn. Vì thế hiệp hành không phá quyền mục tử; nó thanh luyện quyền mục tử khỏi tính độc đoán. Đồng thời nó không phong giáo dân thành mục tử; nó thanh luyện sự tham gia của giáo dân khỏi cám dỗ tranh quyền. Hai thanh luyện này phải diễn ra cùng lúc.
Một cộng đoàn hiệp hành là cộng đoàn trong đó linh mục có đủ tự do nội tâm để nghe điều mình không thích nghe, và giáo dân có đủ trưởng thành thiêng liêng để nói điều cần nói mà không biến việc nói thành cuộc đấu quyền lực. Đây là điều khó hơn nhiều so với tổ chức một cuộc họp. Có thể học kỹ thuật “lắng nghe tích cực” trong một buổi tập huấn, nhưng để thật sự nghe người khác thì cần hoán cải. Linh mục phải từ bỏ cảm giác rằng mình luôn phải có câu trả lời cuối cùng ngay lập tức. Giáo dân phải từ bỏ nhu cầu chứng minh rằng mình hiểu đời hơn linh mục. Người có học phải từ bỏ thái độ coi thường người ít chữ. Người già phải từ bỏ câu “ngày xưa chúng tôi vẫn làm thế”. Người trẻ phải từ bỏ câu “cái gì cũ cũng lỗi thời”. Nhóm đang có ảnh hưởng phải chấp nhận rằng tiếng nói nhỏ có thể làm lộ một vấn đề lớn. Người điều phối phải chấp nhận rằng cuộc phân định có thể đi đến nơi mình không dự đoán. Cả cộng đoàn phải chấp nhận rằng Thánh Thần không luôn xác nhận điều mình đã muốn từ trước. Nếu không có sự từ bỏ ấy, “hiệp hành” dễ trở thành một từ đẹp phủ lên những cách vận hành cũ.
Giáo dân không còn là thính giả trước hết vì họ là người đã được Rửa tội. Phép Rửa không biến họ thành khách hàng của Hội Thánh. Người khách hàng đến nhận dịch vụ rồi đi. Người môn đệ được tháp vào một Thân Thể. Họ mang trách nhiệm về sự thánh thiện và sứ mạng của Thân Thể ấy theo phần của mình. Một người cha gia đình không chỉ “đến nhà thờ nhận Lời Chúa” rồi về. Kinh nghiệm anh sống Tin Mừng trong áp lực kiếm sống, trong việc giáo dục con, trong những quyết định đạo đức ở công ty, trong những xung đột gia đình, là một phần thực tại mà Hội Thánh cần nghe để thi hành sứ mạng. Một người mẹ không chỉ là người nấu ăn cho hội đoàn hay dọn lễ. Kinh nghiệm của chị về việc giữ đức tin cho con giữa mạng xã hội, về gánh nặng chăm sóc cha mẹ già, về những căng thẳng hôn nhân, về việc cầu nguyện giữa bếp núc là một dữ liệu thiêng liêng và mục vụ quý giá. Một người trẻ không chỉ là lực lượng múa hát trong các đại hội. Câu hỏi của họ về đức tin, khoa học, tình yêu, tính dục, nghề nghiệp, AI, mạng xã hội, công bằng, ý nghĩa cuộc sống phải được nghe thật, không phải chỉ để người lớn chuẩn bị câu trả lời có sẵn. Một người lao động xa quê không chỉ là đối tượng của mục vụ. Họ có thể cho Hội Thánh biết những điều mà người ngồi văn phòng giáo xứ không biết: ca làm việc cắt nát ngày Chúa Nhật ra sao, áp lực tiền nhà ra sao, sự cô đơn ra sao, việc sống đức tin trong khu công nghiệp ra sao. Hiệp hành là khi những kinh nghiệm ấy đi vào quá trình cầu nguyện và quyết định mục vụ.
Ở đây có một điểm rất quan trọng: lắng nghe giáo dân không phải vì giáo dân “thực tế hơn” còn linh mục “không biết đời”. Kiểu đối lập ấy cũng sai. Có linh mục hiểu rất sâu những đau khổ đời thường. Có giáo dân sống rất xa thực tế của người nghèo. Có linh mục có chuyên môn tốt về kinh tế, giáo dục hay xã hội. Có giáo dân cũng có thể cực kỳ giáo điều, khép kín, bè phái. Vấn đề không phải chia phe giáo sĩ – giáo dân. Vấn đề là thân thể cần các chi thể. Người mục tử thấy một phần. Người giáo dân thấy một phần. Người trẻ thấy một phần. Người già thấy một phần. Người nghèo thấy một phần mà người giàu rất khó thấy. Người phụ nữ thấy những điều mà một nhóm toàn đàn ông có thể không nhận ra. Người sống ở ngoại biên thấy những vết nứt mà trung tâm không thấy. Không một phần nào tự đủ. Hiệp hành không thần thánh hóa một nhóm. Nó đặt các phần vào tương quan để cùng tìm điều Chúa muốn.
Vì vậy, một trong những dấu chỉ cụ thể nhất của hiệp hành là câu hỏi được thay đổi. Cách cũ thường hỏi: “Làm sao huy động thêm giáo dân cho chương trình của chúng ta?” Cách hiệp hành hỏi: “Chúa đang làm gì trong đời sống Dân Người, và chúng ta phải phục vụ điều ấy thế nào?” Cách cũ hỏi: “Làm sao để người trẻ chịu đến sinh hoạt?” Cách hiệp hành hỏi: “Người trẻ đang sống điều gì, đang tìm điều gì, đang bị thương ở đâu, và Đức Kitô đang muốn gặp họ ở chỗ nào?” Cách cũ hỏi: “Làm sao tăng số người tham gia hội đoàn?” Cách hiệp hành hỏi: “Hội đoàn này có còn giúp người ta nên thánh và thi hành sứ mạng không?” Cách cũ hỏi: “Làm sao giáo dân nghe lời hơn?” Cách hiệp hành hỏi: “Chúng ta đang cùng nhau nghe Lời Chúa ra sao?” Chỉ cần đổi câu hỏi, cả não trạng mục vụ đã bắt đầu đổi.
Hiệp hành cũng đòi Hội Thánh học lại nghệ thuật thinh lặng. Điều này nghe có vẻ lạ khi đang nói về việc “giáo dân có tiếng nói”. Nhưng một cộng đoàn chỉ tăng tiếng nói mà không tăng thinh lặng sẽ nhanh chóng thành ồn ào. Người ta nói để được nghe, nói để bảo vệ nhóm mình, nói để xả bức xúc, nói vì sợ khoảng trống. Hiệp hành đích thực cần một nhịp sâu hơn: nói, nghe, im, cầu nguyện, rồi nói lại sau khi đã để lời người khác đi vào mình. Thinh lặng tạo khoảng trống cho Thánh Thần tách điều tôi muốn nói khỏi điều thực sự cần nói. Nó giúp tôi phân biệt một vết thương cá nhân với một vấn đề chung, một thành kiến với một trực giác, một phản ứng nóng với một lời mời gọi. Nhiều cuộc họp Hội Thánh thất bại không vì thiếu ý kiến mà vì không có khoảng trống giữa các ý kiến. Người này vừa dứt là người kia phản bác. Không ai thật sự tiếp nhận điều đã nghe. Hiệp hành không phải tốc độ của talk show. Nó gần với nhịp cầu nguyện hơn.
Một giáo dân hiệp hành vì thế không phải là người lúc nào cũng phát biểu. Có khi sự đóng góp tốt nhất của họ là nghe. Có khi là một câu hỏi đúng. Có khi là dám nói một kinh nghiệm mà cả phòng không muốn nhắc tới. Có khi là nói: “Tôi chưa biết.” Có khi là nhắc nhóm quay lại Tin Mừng khi tranh luận đã biến thành hơn thua. Có khi là chỉ ra rằng kế hoạch rất đẹp trên giấy nhưng người nghèo không thể tham gia. Có khi là hỏi: “Chúng ta đã nghe những người không có mặt chưa?” Có khi là chấp nhận rằng ý kiến mình không được chọn sau khi đã được nghe tử tế. Đây là dấu trưởng thành. Người chưa trưởng thành nghĩ rằng được lắng nghe đồng nghĩa với việc ý mình phải được làm. Không. Hiệp hành bảo đảm phẩm giá của tiếng nói, không bảo đảm chiến thắng của ý kiến. Tôi có quyền được nghe không có nghĩa cộng đoàn có nghĩa vụ làm theo tôi. Tôi góp một phần vào phân định chung. Nếu sau phân định quyết định khác ý tôi mà tiến trình chân thành, tôi vẫn có thể ở lại trong hiệp thông. Đây là điều nghị trường đảng phái rất khó làm nhưng Hội Thánh phải học.
Phía mục tử cũng vậy. Một linh mục biết nghe không có nghĩa ngài mất quyền lãnh đạo. Ngược lại, nghe sâu thường làm quyền lãnh đạo đáng tin hơn. Người mục tử có trách nhiệm cuối cùng trong những lãnh vực thuộc nhiệm vụ của mình, nhưng trách nhiệm cuối cùng không có nghĩa suy nghĩ một mình từ đầu đến cuối. Người bác sĩ chịu trách nhiệm điều trị nhưng vẫn nghe bệnh nhân, đọc xét nghiệm, hội chẩn đồng nghiệp. Người thuyền trưởng chịu trách nhiệm con tàu nhưng không vì thế tự mình làm mọi việc và bỏ qua người quan sát thời tiết. Trong Hội Thánh, trách nhiệm mục tử càng cần lắng nghe vì đối tượng không phải một cơ chế vô tri mà là Dân Chúa nơi Thánh Thần đang hoạt động. Một mục tử nói “tôi đã nghe” nhưng thực chất chỉ tổ chức lấy ý kiến để hợp thức hóa điều mình đã quyết thì chưa hiệp hành. Một cuộc tham vấn giả còn nguy hiểm hơn không tham vấn, vì nó tạo cảm giác bị sử dụng. Giáo dân nhận ra rất nhanh khi câu hỏi chỉ là hình thức. Nếu mọi cuộc họp đều kết thúc đúng điều cha xứ đã muốn trước khi họp, thì sớm hay muộn người ta sẽ im. Và khi giáo dân im không phải lúc nào cũng vì họ ngoan. Có khi họ đã học rằng nói cũng vô ích.
Sự im lặng ấy là một dấu bệnh cần được đọc. Có những giáo xứ rất “yên”: không ai góp ý, không ai phản đối, chương trình chạy đều. Nhưng yên không có nghĩa hiệp thông. Một gia đình có thể rất yên vì con cái sợ cha. Một cộng đoàn có thể rất yên vì người ta đã bỏ cuộc. Khi những người có năng lực không nói nữa, người trẻ rút khỏi các cuộc họp, phụ nữ chỉ nhận việc hậu cần, người nghèo không xuất hiện, người có chuyên môn tránh tham gia vì cảm thấy ý kiến không được dùng, đó không phải là trật tự đẹp. Đó có thể là sự rút lui âm thầm. Hiệp hành muốn chữa sự rút lui này bằng một nền văn hóa trong đó người ta có thể nói sự thật mà không lo bị trừng phạt bằng cách tinh tế: không được giao việc, bị nói xấu, bị gắn nhãn “khó”, bị loại khỏi nhóm, bị giảng bóng gió từ tòa giảng. Không thể có phân định nơi người ta sợ. Sợ làm miệng câm và tai điếc.
Tuy nhiên, cũng phải nói rõ nguy cơ ngược lại: có những người nhân danh hiệp hành để biến mọi tương quan thành cuộc đòi quyền. Họ xem bất cứ giới hạn nào của thẩm quyền đều là “giáo sĩ trị”. Họ nghĩ nếu đã được lắng nghe thì phải có quyền quyết mọi chuyện. Họ mang vào Hội Thánh mô hình đấu tranh quyền lực thuần túy và đọc mọi khác biệt thừa tác dưới lăng kính áp bức. Đây cũng là một giản lược. Hội Thánh có cơ cấu bí tích. Bí tích Truyền Chức không phải một thỏa thuận xã hội do lịch sử ngẫu nhiên tạo ra rồi có thể thay bằng biểu quyết. Giám mục, linh mục và phó tế có những nhiệm vụ không phát xuất từ ủy quyền của cộng đoàn nhưng từ bí tích. Giáo dân có phẩm giá ngang nhau trong Rửa tội nhưng không có cùng chức năng. Bình đẳng phẩm giá không đồng nghĩa đồng nhất thừa tác vụ. Một thân thể bình đẳng về sự sống không có nghĩa mắt phải làm việc của tay. Hiệp hành không phá các khác biệt ấy. Nó làm các khác biệt phục vụ nhau thay vì biến thành thứ bậc danh dự.
Ở đây, cần phân biệt quyền bính với đặc quyền. Quyền bính là cần thiết. Đặc quyền không cần. Người mục tử cần quyền để bảo vệ hiệp thông, gìn giữ đức tin, điều phối sứ mạng, quyết định khi cần. Nhưng nếu quyền ấy được dùng để bảo vệ tiện nghi cá nhân, tránh bị chất vấn, ưu ái nhóm thân, che sai lầm, hoặc biến giáo xứ thành sở hữu riêng, nó đã biến thành đặc quyền. Hiệp hành đặt quyền bính trở lại dưới thập giá. Đức Kitô có quyền nhưng rửa chân. Người mục tử không mất quyền khi rửa chân. Chính lúc đó quyền của ngài mang hình Đức Kitô. Tương tự, giáo dân không mất phẩm giá khi vâng phục một quyết định chính đáng. Vâng phục Kitô giáo không phải hèn yếu. Nó chỉ trở thành bệnh khi bị đòi hỏi để che lạm quyền hoặc cấm lương tâm nói sự thật. Một cộng đoàn trưởng thành biết cả nói và vâng, cả tham vấn và quyết định, cả tự do và hiệp thông.
Hiệp hành cũng đặt lại vai trò của hội đồng mục vụ. Một hội đồng mục vụ không phải là nhóm “cánh tay nối dài của cha xứ” theo nghĩa chỉ nghe cha trình bày rồi chia nhau làm. Nó cũng không phải hội đồng quản trị có quyền đối trọng với cha xứ. Nó phải là một không gian phân định. Điều này có nghĩa thành viên không chỉ được chọn vì ngoan, thân, giàu, có thời gian hay thuộc nhóm truyền thống. Cần có khả năng nghe nhiều khuôn mặt của cộng đoàn. Người làm kinh doanh, người lao động, người trẻ, người lớn tuổi, phụ nữ, người có chuyên môn giáo dục, người sống gần người nghèo, người có kinh nghiệm gia đình, người hiểu văn hóa địa phương, đều có thể mang một phần cái nhìn. Nhưng hội đồng càng đa dạng càng cần linh đạo. Nếu không, nó chỉ là nơi các nhóm lợi ích gặp nhau. Người tham gia hội đồng mục vụ phải học hỏi đức tin, cầu nguyện, biết đặt lợi ích chung trên phe mình, biết giữ kín điều cần giữ, biết phân biệt phản biện với công kích, biết nói dữ kiện thay vì tin đồn, biết chấp nhận giới hạn. Hội đồng không trở thành hiệp hành chỉ vì có nhiều giáo dân. Nó trở thành hiệp hành khi những người ấy cùng nhau tìm ý Chúa.
Một dấu khác của hiệp hành là việc nghe những người ở “rìa” của cộng đoàn. Thường chúng ta hỏi những người vốn đã có mặt. Nhưng người đã có mặt thường là người thích nghi tốt với hệ thống hiện tại. Người không còn đi lễ, người đã rời hội đoàn, người trẻ không muốn đến, gia đình ngại tiếp xúc với giáo xứ, người từng bị tổn thương trong Hội Thánh, người nghèo thấy mình lạc lõng, họ mới có thể chỉ cho chúng ta những chỗ mù. Nghe họ không có nghĩa phải đồng ý tất cả những gì họ nói. Nhưng nếu chỉ hỏi người hài lòng về chất lượng nhà hàng, ta sẽ không biết vì sao khách đã bỏ đi. Trong mục vụ cũng vậy. Một giáo xứ có thể tự đánh giá mình rất tốt vì nhóm nòng cốt rất hài lòng, trong khi một nửa giới trẻ đã biến mất. Hiệp hành buộc ta hỏi người đã rời đi, không phải để chạy theo thị hiếu, nhưng để hiểu họ đã gặp điều gì. Có khi câu trả lời làm đau: họ thấy người lớn giả hình; họ thấy xung đột nội bộ; họ không được phép đặt câu hỏi; họ bị phán xét vì cách ăn mặc; họ không hiểu ngôn ngữ phụng vụ; họ bị một người có trách nhiệm xúc phạm; họ thấy Hội Thánh chỉ gọi họ khi cần nhân lực. Những lời ấy có thể bất công một phần, nhưng vẫn phải được nghe.
Đặc biệt, hiệp hành có ý nghĩa lớn đối với phụ nữ trong Hội Thánh. Không phải vì phụ nữ phải được biến thành bản sao của nam giới hay vì mọi vấn đề phải được giải quyết bằng phân phối chức vụ. Nhưng một cộng đoàn trong đó phụ nữ chiếm phần rất lớn số người cầu nguyện, dạy giáo lý, chăm sóc người bệnh, nuôi dưỡng đức tin gia đình, làm việc bác ái, nhưng hầu như không hiện diện nơi các tiến trình suy nghĩ và quyết định mục vụ, là một cộng đoàn đang để mất một lượng kinh nghiệm khổng lồ. Nhiều người phụ nữ biết rất rõ điều gì đang diễn ra trong các gia đình, trẻ em, người già, bệnh nhân, người nghèo. Nếu chỉ dùng họ để nấu ăn, cắm hoa, quét dọn rồi không nghe họ về mục vụ, đó không phải là tôn trọng trọn vẹn phẩm giá Rửa tội. Hiệp hành không giải quyết mọi câu hỏi về phụ nữ bằng khẩu hiệu. Nó bắt đầu bằng điều rất căn bản: nghe thật.
Cũng thế với người trẻ. Người trẻ không cần được tâng bốc bằng câu “các con là tương lai Hội Thánh”. Họ là hiện tại. Một người 20 tuổi đã được Rửa tội hôm nay, có Chúa Thánh Thần hôm nay, có trách nhiệm truyền giáo hôm nay. Nếu chỉ gọi họ khi cần múa, hát, dựng sân khấu, làm truyền thông, nhưng không hỏi họ nghĩ gì về việc đồng hành đức tin, chúng ta đã sử dụng năng lượng của họ mà chưa tôn trọng chủ thể của họ. Người trẻ có thể sai. Người trẻ có thể nông. Nhưng người lớn cũng thế. Giải pháp không phải để một bên im. Giải pháp là tạo không gian đối thoại có đào tạo. Người trẻ cần học truyền thống, và truyền thống cần được truyền bằng ngôn ngữ họ có thể đi vào. Người lớn cần kinh nghiệm, người trẻ cần ký ức. Hiệp hành nối hai điều ấy.
Trong môi trường số, chuyện này càng quan trọng. Ngày nay nhiều giáo dân có thể lên mạng và nói bất cứ điều gì về Hội Thánh. Có người tưởng đây là “hiệp hành”. Không. Facebook không tự động là hiệp hành. Bình luận không tự động là lắng nghe. Một video phản ứng với giám mục, một bài viết công kích linh mục, một nhóm chat kín than phiền giáo xứ, không phải vì có tiếng giáo dân mà trở thành phân định của Dân Chúa. Không gian số thường thưởng cho phản ứng nhanh, giận dữ, chia phe, nội dung gây sốc. Hiệp hành đi ngược logic ấy: chậm hơn, có trách nhiệm hơn, có tương quan thật hơn. Nếu có điều cần góp ý, trước hết tìm kênh thích hợp. Nếu phải nói công khai, nói sự thật, có bằng chứng, giữ đức ái, không phá danh dự người khác. Nếu nghe điều trái ý, đừng lập tức gắn nhãn. Một Hội Thánh hiệp hành cần một văn hóa đối thoại số trưởng thành, nếu không tiếng nói được mở ra lại bị thuật toán biến thành tiếng ồn.
Hiệp hành cũng liên quan trực tiếp đến đặc sủng. Giáo dân không chỉ có ý kiến; họ có thể có đặc sủng. Một người có khả năng dạy học, một người có ơn quy tụ người trẻ, một người biết đồng hành người đau khổ, một người có năng lực quản trị, một người hiểu truyền thông, một người có trái tim với người nghèo. Nhiệm vụ của mục tử không phải tự làm hết nhưng nhận ra, phân định và mở chỗ cho đặc sủng. Một giáo xứ trong đó cha xứ làm mọi việc thường không phải dấu cha xứ giỏi mà có thể là dấu cộng đoàn chưa trưởng thành. Ngược lại, một giáo xứ trong đó giáo dân làm nhiều nhưng không có hiệp thông với mục tử cũng dễ tan thành các tiểu vương quốc. Hiệp hành nối đặc sủng với thừa tác vụ, sáng kiến với hiệp thông, tự do với sứ mạng chung.
Điều này đòi một thay đổi rất thực tế trong cách đào tạo giáo dân. Nếu chỉ đào tạo họ để thi hành công việc, họ sẽ mãi là nhân lực. Dạy giáo lý viên kỹ thuật lên lớp nhưng không dạy phân định, họ sẽ chỉ là người truyền nội dung. Dạy hội đồng mục vụ tổ chức sự kiện mà không học Giáo hội học, họ sẽ chỉ là ban hậu cần. Dạy truyền thông cách quay video mà không học luân lý truyền thông, họ sẽ tạo sản phẩm nhưng không xây hiệp thông. Giáo dân hiệp hành cần được đào tạo về Kinh Thánh, giáo huấn Hội Thánh, cầu nguyện, lương tâm, học thuyết xã hội, kỹ năng lắng nghe, phân định cộng đoàn, trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp. Không phải để họ “giống linh mục hơn”, nhưng để họ sống đầy hơn phẩm giá giáo dân.
Các chủng viện cũng phải đào tạo linh mục cho một Hội Thánh như thế. Nếu chủng sinh chỉ được học cách giảng, cử hành, quản trị nhưng không học cách nghe, làm việc với hội đồng, nhận phản hồi, phân quyền, sống với người có chuyên môn hơn mình, thì khi ra xứ rất dễ tái tạo mô hình một người biết hết. Một linh mục có thể giỏi thần học mà rất kém hiệp hành. Ngài có thể giảng hay nhưng không nghe nổi một lời góp ý. Ngài có thể yêu giáo dân nhưng vẫn vô thức xem họ là người giúp việc. Vì vậy hiệp hành phải đi vào linh đạo linh mục: quyền mục tử không giảm khi lắng nghe; nó trở nên giống Đức Kitô hơn.
Cuối cùng, hiệp hành không phải một dự án có ngày kết thúc. Không phải sau một Thượng Hội đồng là xong. Nó là một cách sống Hội Thánh. Nó phải đi vào giáo xứ, gia đình, hội dòng, hội đồng, trường học, các ban mục vụ. Một gia đình hiệp hành là nơi cha mẹ có quyền nhưng biết nghe con. Một cộng đoàn tu trì hiệp hành là nơi bề trên có trách nhiệm nhưng không bóp nghẹt tiếng nói. Một giáo xứ hiệp hành là nơi cha xứ là mục tử nhưng không sở hữu đoàn chiên. Một giáo phận hiệp hành là nơi giám mục có quyền tông truyền nhưng biết rằng Thánh Thần đang làm việc trong hàng ngàn đời sống mà ngài không thể biết hết. Tất cả cùng bước không có nghĩa tất cả đi ngang hàng về chức vụ. Nó có nghĩa không ai đi một mình.
Vì thế, giáo dân không còn là thính giả không có nghĩa họ từ hàng ghế bước lên bục để thay người giảng. Nó có nghĩa cả Hội Thánh phải nhớ rằng người ngồi ở hàng ghế cũng là môn đệ, cũng là người được sai đi, cũng có Thánh Thần, cũng có trách nhiệm. Sau Thánh lễ, chính họ đi vào những nơi linh mục thường không thể đi: công ty, nhà máy, bệnh viện, trường học, tòa án, phòng thí nghiệm, thị trường, gia đình, mạng xã hội, đời sống chính trị và văn hóa. Nếu Hội Thánh không nghe họ, Hội Thánh tự làm mình điếc trước một phần lớn thế giới mà mình được sai đến. Nếu họ không nghe mục tử và truyền thống, họ có nguy cơ biến đức tin thành ý kiến cá nhân. Hiệp hành giữ hai đôi tai mở cùng lúc: giáo dân nghe Hội Thánh, và Hội Thánh nghe giáo dân; tất cả cùng nghe Thánh Thần.
Một Hội Thánh như thế sẽ không bớt trật tự mà trật tự sâu hơn; không bớt quyền bính mà quyền bính tinh tuyền hơn; không bớt vai trò linh mục mà vai trò linh mục đúng hơn; không làm giáo dân thành giáo sĩ mà làm họ thành giáo dân trọn vẹn hơn. Khi ấy cha xứ không sợ giáo dân trưởng thành, vì biết trưởng thành của họ làm sứ mạng của ngài sinh hoa trái. Giáo dân không sợ quyền mục tử, vì nhận ra quyền ấy phục vụ hiệp thông chứ không bóp nghẹt họ. Mọi người không còn hỏi ai có nhiều quyền hơn, nhưng hỏi Chúa đang mời cộng đoàn đi đâu. Đó mới là trái tim của hiệp hành.
Hiệp hành bắt đầu rất nhỏ. Một cha xứ hỏi thật và nghe thật. Một hội đồng dám im ba phút trước khi phản ứng. Một giáo dân nói sự thật mà không cay độc. Một người có quyền nhận rằng mình đã sai. Một người bị bỏ quên được mời vào bàn. Một nhóm không chỉ hỏi người hay nói. Một quyết định được giải thích minh bạch. Một lời góp ý được cảm ơn dù không được làm theo. Một kế hoạch được thay đổi vì kinh nghiệm của người nghèo. Một người trẻ được hỏi trước khi chương trình giới trẻ được thiết kế. Một người mẹ được nghe không chỉ khi cần nấu tiệc. Một người có chuyên môn được trao trách nhiệm thật chứ không chỉ danh xưng. Những điều ấy không lớn trên báo chí, nhưng chính từ đó một văn hóa Hội Thánh thay đổi.
Và có lẽ câu hỏi xét mình rất đơn giản cho mỗi cộng đoàn là: nếu những người giáo dân trong giáo xứ này ngừng nói thật, liệu chúng ta có nhận ra không? Nếu họ chỉ còn nói điều họ nghĩ cha muốn nghe, liệu chúng ta có thấy đó là vấn đề không? Nếu người trẻ bỏ đi trong im lặng, ta có hỏi vì sao không? Nếu hội đồng mục vụ chỉ nhất trí vì không ai dám khác ý, ta có gọi đó là hiệp thông không? Nếu cha xứ nghe rất nhiều nhưng không bao giờ thay đổi bất cứ điều gì, đó có phải lắng nghe thật không? Nếu giáo dân góp ý rất nhiều nhưng không bao giờ sẵn sàng hy sinh để thực hiện điều tốt đã phân định, đó có phải đồng trách nhiệm không? Hiệp hành đặt những câu khó như thế vì nó không nhằm làm cho Hội Thánh dễ chịu hơn. Nó nhằm làm cho Hội Thánh trung thành hơn.
Ngày giáo dân không còn là thính giả không phải ngày họ nói lớn hơn. Đó là ngày họ biết mình thuộc về. Ngày mục tử không còn là người độc thoại không phải ngày ngài mất quyền. Đó là ngày quyền của ngài trở thành quyền sinh người khác vào trách nhiệm. Ngày cộng đoàn không còn là đám đông không phải ngày mọi người có cùng ý kiến. Đó là ngày khác biệt có thể được mang vào cầu nguyện mà không phá hiệp thông. Và ngày hiệp hành thật sự trưởng thành là ngày tất cả, giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân, đều có thể nói một câu rất đơn sơ: chúng ta không đi theo ý của người mạnh nhất, người nói hay nhất, người có chức cao nhất hay nhóm đông nhất; chúng ta đang cố gắng cùng nhau nhận ra con đường Đức Kitô đang đi phía trước và bước theo Người.
PHẦN IV
NỀN TẢNG THỨ BA — SỨ MẠNG TRẦN THẾ
CHƯƠNG 19. TRẦN THẾ KHÔNG PHẢI VÙNG NGUY HIỂM PHẢI CHẠY
Một trong những hiểu lầm dai dẳng nhất trong đời sống đạo là đồng hóa sự thánh thiện với việc rời xa thế giới. Người ta có thể không nói thành lời, nhưng cách giáo dục đức tin, cách kể chuyện các thánh, cách đánh giá ơn gọi, thậm chí cách khen một người đạo đức đôi khi vô tình gieo vào lòng giáo dân một cảm giác rằng càng ít dính đến chuyện đời thì càng gần Chúa, càng ít phải đụng đến tiền bạc, kinh tế, chính trị, nghề nghiệp, cạnh tranh, văn hóa, khoa học, nghệ thuật, kỹ thuật, gia đình, tình cảm, quyền lực và những căng thẳng của xã hội thì càng dễ nên thánh. Từ đó phát sinh một thứ tâm lý rất lạ: giáo dân vẫn phải sống giữa đời, vẫn phải lập gia đình, kiếm sống, nuôi con, điều hành doanh nghiệp, làm công chức, làm giáo viên, bác sĩ, nông dân, công nhân, kỹ sư, nghệ sĩ, luật sư, người buôn bán, nhưng trong sâu thẳm lại nghĩ rằng tất cả những điều ấy chỉ là phần bất đắc dĩ của cuộc sống, là những việc phải chịu đựng cho xong trước khi quay về với “việc Chúa”. Nhà thờ là việc Chúa, công ty là việc đời. Giờ cầu nguyện là giờ thánh, giờ họp là giờ tục. Đi lễ là gần Chúa, ký hợp đồng là xa Chúa. Làm việc bác ái là thiêng liêng, làm kế toán là thế tục. Cầu nguyện trước Thánh Thể là cao, ngồi sửa một bảng lương cho công bằng là thấp. Chính sự phân đôi ấy làm nghèo linh đạo giáo dân, vì nó biến phần lớn đời họ thành khoảng đất trung tính, thậm chí thành vùng nguy hiểm cần vượt qua càng nhanh càng tốt. Nhưng mặc khải Kinh Thánh không bắt đầu bằng một Thiên Chúa dựng nên một thế giới đáng ngờ. Kinh Thánh bắt đầu bằng một Thiên Chúa nhìn tạo thành và thấy rằng nó tốt. Ánh sáng tốt, đất tốt, biển tốt, cây cối tốt, thân xác con người tốt, sự khác biệt nam nữ tốt, lao động được trao như một trách nhiệm, tương quan được ban như một quà tặng, thế giới vật chất không phải sai lầm của một thần linh cấp thấp, cũng không phải nhà tù của linh hồn. “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp.” Câu ấy phải đứng ở nền của mọi linh đạo giáo dân. Nếu quên câu ấy, người ta sẽ dễ rơi vào một thứ Kitô giáo mang màu Manichê: linh hồn chống thân xác, nhà thờ chống chợ, cầu nguyện chống lao động, đời tu chống hôn nhân, thinh lặng chống tiếng máy, thiên đàng chống trái đất. Kitô giáo không dạy như thế. Đức tin Kitô giáo tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa của trời và đất. Chúng ta không tin chỉ linh hồn do Chúa dựng, còn vật chất do một quyền lực thấp hơn làm ra. Chúng ta không tin thế giới là một sự cố cần bị xóa. Chúng ta tin tạo thành phát xuất từ tình yêu, được nâng đỡ bởi tình yêu và được hướng về sự viên mãn trong tình yêu. Chính vì thế, người giáo dân khi bước vào đời không bước vào một miền đất nằm ngoài quyền của Thiên Chúa. Họ bước vào công trình của Thiên Chúa đã bị thương tích nhưng chưa mất dấu tay của Đấng Tạo Hóa.
Tuy nhiên, nói tạo thành tốt không có nghĩa là nhắm mắt trước thực tế tội lỗi. Đây là điểm linh đạo giáo dân cần giữ rất chặt: Kitô giáo không Manichê, nhưng cũng không lãng mạn. Trần thế không xấu tự bản chất, nhưng trần thế hiện tại là tạo thành đã bị tội làm tổn thương. Tội không hủy tạo thành thành một cái gì hoàn toàn khác, nhưng làm lệch các tương quan. Lao động tốt, nhưng tội có thể biến lao động thành bóc lột. Tiền bạc là phương tiện, nhưng tội có thể biến tiền thành thần tượng. Quyền lực cần cho đời sống chung, nhưng tội có thể biến quyền lực thành thống trị. Tình dục là quà tặng, nhưng tội có thể biến nó thành sở hữu và tiêu thụ. Khoa học là khả năng khám phá tạo thành, nhưng tội có thể dùng khoa học để hủy diệt. Công nghệ là năng lực sáng tạo, nhưng tội có thể dùng công nghệ để thao túng chú ý, kiếm lời trên cô độc, làm giả sự thật và biến con người thành dữ liệu. Chính trị có thể là hình thức cao quý của trách nhiệm công ích, nhưng tội có thể biến nó thành tranh giành quyền lợi, tuyên truyền, phe phái và loại trừ. Gia đình là nơi yêu thương, nhưng tội có thể làm gia đình thành nơi làm đau nhau sâu nhất. Giáo hội cũng sống giữa lịch sử ấy và các thành viên của Giáo hội cũng mang thương tích của tội. Vì vậy, người giáo dân không được bước vào trần thế với sự ngây thơ rằng mọi cái mới đều tốt, mọi xu hướng đều tiến bộ, mọi lựa chọn hợp pháp đều đạo đức, mọi thứ thị trường thưởng đều đáng theo, mọi thứ xã hội bình thường hóa đều vô hại. Đức tin không dạy chạy khỏi trần thế, nhưng cũng không dạy hòa tan trong trần thế. Có một khác biệt rất lớn giữa ở trong thế gian và thuộc về tinh thần thế gian. Đức Giêsu cầu xin Chúa Cha không cất các môn đệ khỏi thế gian, nhưng gìn giữ họ khỏi Ác thần. Người không cầu xin một cuộc di tản. Người cầu xin một sự hiện diện được gìn giữ. Đây là thần học sứ mạng. Người môn đệ không được dựng một khu vực sạch sẽ để tránh mọi va chạm với thế giới, nhưng được sai vào nơi con người đang sống, đang xây dựng, đang sai lầm, đang đau, đang tìm kiếm, đang mua bán, đang yêu, đang tranh đấu, đang sinh con, đang già đi, đang hy vọng và đang tuyệt vọng. Trần thế vì thế vừa là tạo thành tốt, vừa là chiến trường của tự do, vừa là cánh đồng sứ mạng. Ba điều phải nói cùng lúc. Nếu chỉ nói trần thế tốt, ta dễ thành ngây thơ. Nếu chỉ nói trần thế là chiến trường, ta dễ thành sợ hãi. Nếu chỉ nói trần thế là cánh đồng sứ mạng, ta có thể biến con người thành đối tượng để “làm mục vụ” mà quên rằng chính những thực tại trần thế cũng có giá trị và quy luật riêng cần được tôn trọng. Linh đạo giáo dân trưởng thành phải giữ cả ba: yêu tạo thành, tỉnh thức trước tội và chịu trách nhiệm với sứ mạng.
Tội làm gãy, nhưng tội không phải lời cuối. Chính ở đây mầu nhiệm Nhập Thể phá vỡ mọi quan niệm coi vật chất và đời thường là hạng hai. “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta.” Không phải Ngôi Lời chỉ giả vờ có thân xác. Không phải Con Thiên Chúa ghé ngang thế giới rồi vội trở về trời. Người mang lấy thịt người, sinh bởi một người nữ, lớn lên trong một gia đình, sống trong một làng, nói một ngôn ngữ cụ thể, ăn thức ăn của một dân tộc, làm việc bằng đôi tay, bước đi trên đất, mệt, đói, khát, vui trong tiệc cưới, khóc trước mồ bạn, ngủ trên thuyền, bị đám đông chen lấn, bị hiểu lầm, bị phản bội. Ba mươi năm đời ẩn dật tại Nazareth không phải phần mở đầu kém quan trọng trước “sứ vụ thật”. Chính đời ẩn dật ấy nói rằng cuộc sống bình thường có thể là nơi Thiên Chúa cư ngụ. Nếu Con Thiên Chúa có thể thánh hóa một mái nhà Nazareth bằng sự hiện diện trung tín của Người, thì căn bếp, xưởng thợ, bàn học, văn phòng, ruộng đồng, phòng bệnh, lớp học của người Kitô hữu cũng không phải những nơi bị loại khỏi chương trình cứu độ. Nhập Thể không có nghĩa mọi hoạt động trần thế tự động thánh. Nhưng Nhập Thể có nghĩa không thực tại nhân loại chân chính nào bị loại khỏi khả năng được cứu chuộc, thanh luyện và quy hướng về Thiên Chúa. Đức Kitô không cứu ta bằng cách dạy ta ghét làm người. Người cứu ta bằng cách đưa nhân tính thật của chúng ta vào sự hiệp thông với Thiên Chúa. Chính vì thế, linh đạo giáo dân không thể là một linh đạo luôn tìm cách thoát khỏi những điều cấu thành đời giáo dân. Một người chồng không nên nghĩ mình chỉ thật sự thuộc về Chúa khi ra khỏi gia đình để đi sinh hoạt đạo. Người ấy thuộc về Chúa khi kiên nhẫn nghe vợ, khi nuôi con lúc đêm, khi xin lỗi vì đã nóng giận, khi trung thành trong những năm hôn nhân không còn nhiều cảm xúc ban đầu. Một người mẹ không chỉ làm việc Chúa khi đọc kinh trong hội đoàn; chị làm việc Chúa khi chăm một đứa con bệnh, khi không dùng con như công cụ cho tham vọng của mình, khi giữ lòng hiền hậu giữa áp lực kinh tế. Một giám đốc không chỉ sống đạo khi tài trợ xây nhà thờ; người ấy sống đạo khi không bóp lương người làm, không hối lộ, không lừa khách, không che giấu rủi ro sản phẩm, không đẩy chi phí đạo đức sang người nghèo. Một công chức không chỉ là người Công giáo khi đeo ảnh thánh; người ấy là người Công giáo khi không nhận tiền để làm sai công lý. Một giáo viên không chỉ truyền giáo bằng việc dạy kinh; họ truyền giáo bằng cách không làm nhục học sinh yếu. Một bác sĩ không chỉ thi hành sứ mạng khi tham gia khám bệnh từ thiện; họ thi hành sứ mạng khi nhìn người bệnh nghèo bằng cùng phẩm giá như người có tiền. Một người nông dân không chỉ gần Chúa khi quỳ trong nhà thờ; họ gần Chúa khi không đầu độc đất vì lợi ích trước mắt, khi trả công công bằng cho người làm thuê, khi giữ lời trong mua bán. Đây không phải hạ thấp đời thiêng liêng xuống thành luân lý xã hội. Đây là trả lại cho đời thiêng liêng chiều kích Nhập Thể của nó.
Mầu nhiệm Vượt Qua còn đi xa hơn Nhập Thể. Đức Kitô không chỉ bước vào tạo thành như nó đáng lẽ phải là; Người bước vào một thế giới đã bị tội làm méo mó và mang chính hậu quả của tội vào thập giá. Người biết bất công của một bản án sai, bạo lực của quyền lực sợ mất chỗ, sự hèn nhát của đám đông, sự phản bội của bạn, sự cô độc, đau thân xác, xấu hổ công khai và cái chết. Nhưng Người đi qua tất cả những điều ấy trong vâng phục và tình yêu, rồi Phục Sinh. Như vậy, Vượt Qua không xóa thế giới mà bắt đầu công cuộc tái tạo thế giới từ bên trong. Người giáo dân sống giữa những cơ cấu chưa được cứu chuộc trọn vẹn không phải vì Thiên Chúa bất lực đưa họ ra, nhưng vì chính ở đó họ được kết hợp với Đức Kitô Vượt Qua. Khi một kế toán từ chối ký số liệu gian và bị mất cơ hội thăng chức, mầu nhiệm thập giá đi vào công sở. Khi một doanh nhân chấp nhận lợi nhuận ít hơn để không bóc lột người làm, Vượt Qua đi vào thị trường. Khi một người vợ kiên trì chữa lành cuộc hôn nhân thay vì dùng nhục mạ để trả đũa, Vượt Qua đi vào gia đình. Khi một người trẻ từ chối gian lận dù cả lớp xem gian lận là bình thường, Vượt Qua đi vào trường học. Khi một người làm truyền thông không đăng điều chưa kiểm chứng dù nó có thể mang lại hàng triệu lượt xem, Vượt Qua đi vào không gian số. Không phải vì mọi khó khăn tự nó là thập giá. Thập giá Kitô giáo không phải sùng bái đau khổ. Nhưng khi người tín hữu chấp nhận cái giá của sự thật, công bằng, bác ái và trung tín trong hiệp thông với Đức Kitô, những mất mát ấy trở thành nơi mầu nhiệm Vượt Qua tiếp tục sinh hoa trái. Chính ở đây người giáo dân học một điều rất quan trọng: không phải lúc nào sống đạo giữa đời cũng đem lại thành công dễ nhìn. Có khi trung thực làm mất tiền. Có khi tha thứ làm người khác hiểu lầm là yếu. Có khi bảo vệ người yếu làm mình bị cô lập. Có khi nói thật khiến mình mất chức. Có khi giữ Chúa Nhật cho gia đình và Thánh Thể khiến mình thua một cơ hội kinh doanh. Nếu linh đạo giáo dân chỉ dựa trên một công thức “sống tốt thì Chúa sẽ cho thuận lợi”, người ấy sẽ vỡ khi gặp thập giá. Linh đạo Vượt Qua dạy rằng thành công của người môn đệ không đồng nhất với thắng lợi tức thời. Có hạt lúa phải rơi xuống đất và chết đi mới sinh nhiều bông hạt. Nhưng Vượt Qua cũng ngăn người Kitô hữu khỏi bi quan. Thập giá không phải kết thúc. Trong Đức Kitô Phục Sinh, không việc lành nào mất, không trung tín nào vô nghĩa, không công lý nào hoàn toàn vô ích, dù kết quả có thể chỉ được thấy sau rất lâu hoặc không được thấy trong đời này.
Chính vì vậy, câu “trần thế là chiến trường” phải được hiểu đúng. Nó không phải chiến trường theo nghĩa người Công giáo phải xem mọi người khác là kẻ thù, xem văn hóa hiện đại là một khối tối, xem khoa học, nghệ thuật, truyền thông, kinh tế, chính trị đều đáng nghi, rồi sống trong tư thế phòng thủ thường trực. Chiến trường chính trước hết chạy qua lòng con người. Thánh Phaolô biết cuộc chiến giữa xác thịt và Thần Khí không đơn giản là cuộc chiến giữa “người đạo” và “người đời”. Người đạo cũng có tham, sân, kiêu, dục, sợ, ích kỷ. Người không cùng đức tin vẫn có thể sống công bằng, quảng đại và tìm sự thật. Vì vậy người giáo dân không được đi vào trần thế với vẻ của một đạo quân chiếm đóng. Họ đi vào như men, như muối, như ánh sáng. Men không đứng ngoài bột để lên án bột. Muối không ở trong lọ để tự hào mình mặn. Ánh sáng không nguyền rủa bóng tối từ một căn phòng khóa kín. Chúng đi vào và biến đổi từ bên trong bằng chính bản chất của mình. Người giáo dân không được sai để dựng một thế giới Công giáo song song nơi chỉ làm ăn với người Công giáo, học với người Công giáo, chơi với người Công giáo, đọc người Công giáo và cuối cùng không còn biết người hàng xóm đang nghĩ gì, đau gì, sợ gì. Một cộng đoàn Kitô giáo càng trưởng thành càng có khả năng giữ căn tính mà không sợ đối thoại. Đức Giêsu ngồi ăn với người thu thuế và người tội lỗi không vì Người đồng ý với mọi lựa chọn của họ, nhưng vì sự thánh thiện của Người không mong manh. Người có thể đến gần mà không hòa tan. Đây là bài học lớn cho giáo dân. Có người giữ đức tin bằng cách tránh tất cả những người nghĩ khác mình. Kiểu giữ ấy có thể tạo sự an toàn, nhưng chưa chắc tạo trưởng thành. Người trưởng thành biết nghe một tư tưởng khác mà không mất chân lý, biết làm việc với người không cùng niềm tin mà không giấu đức tin, biết cộng tác trong điều thiện chung mà không thỏa hiệp với điều sai, biết nói “không” mà vẫn tôn trọng người trước mặt.
Ở lại giữa trần thế vì thế là một hình thức vâng lời. Không phải ai cũng được Chúa gọi vào tu viện. Không phải ai cũng được gọi đến chức thánh. Nếu một người giáo dân cứ sống như thể ơn gọi cao nhất của mình là càng giống đời tu càng tốt, có thể họ đang bỏ quên chính nơi Thiên Chúa đã sai mình. Người mẹ muốn mỗi ngày có nhiều giờ thinh lặng như đan sĩ có thể thất vọng vì trẻ con cứ gọi. Người cha muốn mọi tối tham gia hội đoàn có thể nghĩ mình đạo đức mà vợ con cảm thấy bị bỏ. Người doanh nhân muốn dành mọi cuối tuần cho việc nhà thờ có thể bỏ bê trách nhiệm quản trị công bằng công ty. Một giáo dân nhiệt thành có thể chạy hết cuộc họp mục vụ này sang hội đoàn kia nhưng không còn biết tên người hàng xóm, không có thời gian nghe con, không học thêm chuyên môn, không quan tâm người làm dưới quyền. Tất nhiên việc phục vụ trong Hội Thánh là quý. Nhưng giáo dân không được gọi trước hết để trở thành người sống thường trực bên trong cơ cấu giáo xứ. Họ được sai vào thế giới. Có những người phải ở gần bàn thờ để phục vụ cộng đoàn. Có những người sau bàn thờ phải đi ra thật xa để Tin Mừng chạm đến những nơi linh mục không thể hiện diện hàng ngày. Một linh mục có thể giảng về đạo đức kinh doanh. Nhưng giáo dân mới là người ngồi trong phòng đàm phán khi quyết định có trả khoản hoa hồng bất chính hay không. Một giám mục có thể dạy về công ích. Nhưng giáo dân mới là người tham gia quy hoạch thành phố, làm ngân sách, điều hành doanh nghiệp, nghiên cứu chính sách, tổ chức bệnh viện, vận hành trường học. Một nhà thần học có thể viết về phẩm giá lao động. Nhưng người quản đốc phân ca, người chủ trả lương, người công nhân phản ứng với gian lận mới là nơi giáo huấn ấy thành thịt. Không hiểu điều này, ta sẽ tiếp tục đào tạo giáo dân rất giỏi việc nhà thờ nhưng rất ít chuẩn bị để sống như Kitô hữu ở nơi họ dành phần lớn thời gian trong tuần.
Vì vậy, cần trả lại ý nghĩa thiêng liêng cho nghề nghiệp. Nghề không chỉ là cách kiếm tiền để rồi dùng tiền làm việc đạo. Chính lao động có phẩm giá. Qua lao động, con người cộng tác với công trình tạo dựng, phục vụ tha nhân, phát triển khả năng, nuôi sống gia đình và góp phần xây dựng công ích. Dĩ nhiên có những nghề, những cách kinh doanh, những sản phẩm hay cơ cấu trái với phẩm giá con người và cần được từ chối hoặc cải tổ. Nhưng một nghề chân chính không cần được “rửa tội” bằng cách dán câu Kinh Thánh lên văn phòng mới thành nơi thánh hóa. Một kỹ sư thiết kế cây cầu an toàn đang phục vụ sự sống. Một đầu bếp nấu tử tế đang phục vụ con người. Một người quét đường làm việc có trách nhiệm đang góp phần cho thiện ích chung. Một nhà nghiên cứu trung thành với dữ liệu đang phục vụ sự thật. Một người viết phần mềm cố ý bảo vệ quyền riêng tư của người dùng đang thực thi trách nhiệm luân lý. Một nghệ sĩ tạo cái đẹp mà không biến con người thành hàng hóa đang góp phần làm thế giới nhân bản hơn. Sự thánh hóa trần thế không luôn có hình thức mang danh Công giáo. Nhiều khi nó có hình thức của một việc được làm rất tốt, rất công bằng, rất thật, rất có trách nhiệm. Nếu tất cả thợ Công giáo sửa điện đều làm cẩu thả nhưng hát thánh ca rất hay, thế giới không được thánh hóa. Nếu doanh nghiệp Công giáo treo ảnh Thánh Tâm nhưng chậm lương, không đóng bảo hiểm, đối xử tệ với phụ nữ mang thai, danh Công giáo trở thành phản chứng. Nếu trường Công giáo có nhà nguyện đẹp nhưng giáo viên làm nhục học sinh, ta đã tách phụng vụ khỏi trần thế. Trần thế được thánh hóa không bằng khẩu hiệu đạo đức phủ lên một cơ cấu bất công, nhưng bằng việc Tin Mừng thấm vào cách cơ cấu ấy vận hành.
Tiền bạc là một ví dụ rõ nhất. Nhiều người nói về tiền như thể tiền tự nó ô uế. Nhưng Tin Mừng không nói tiền tự nó là quỷ. Vấn đề là tương quan với tiền. Tiền có thể mua thuốc cho người bệnh, trả học phí, tạo việc làm, nuôi gia đình, xây bệnh viện, giúp người nghèo. Tiền cũng có thể trở thành thần Mammon khi nó định nghĩa giá trị con người và trở thành tiêu chuẩn cuối cùng của mọi quyết định. Linh đạo giáo dân vì vậy không phải bỏ tiền cho người khác quản rồi tưởng mình thánh. Linh đạo là học sử dụng tiền như người quản lý chứ không như chủ tuyệt đối. Kiếm tiền bằng cách nào? Dùng tiền cho việc gì? Có minh bạch không? Có đóng góp phần mình cho xã hội không? Có trả công xứng đáng không? Có tiêu dùng để khoe địa vị không? Có nợ nần vì ham hình ảnh không? Có dành chỗ cho người nghèo không? Có biết đủ không? Một người có thể rất giàu mà tự do nội tâm hơn người ít tiền nhưng bị tiền ám ảnh. Một người có thể nghèo mà vẫn tham. Vì thế trần thế không phải vùng nguy hiểm phải chạy; chính các thực tại trần thế là nơi các nhân đức được thử thật. Thanh bần không chỉ được thử khi không sở hữu, mà còn được thử khi sở hữu mà không bị sở hữu. Khiết tịnh không chỉ được thử trong tu viện, mà giữa quảng cáo, mạng xã hội, công sở, hôn nhân, cô đơn và những mối quan hệ phức tạp. Vâng phục không chỉ được thử khi có bề trên, mà khi lương tâm phải chọn điều đúng trái với lợi ích. Khiêm nhường không chỉ được thử trong nhà nguyện, mà khi bị người khác được khen hơn trong công ty. Bác ái không chỉ được thử trong giờ cầu nguyện chung, mà lúc người đồng nghiệp mình không ưa được thăng chức. Chính đời thường làm lộ mức thật của đời thiêng liêng.
Chính trị cũng không phải một vùng phải bỏ cho “người đời”. Nếu chính trị hiểu theo nghĩa chăm lo công ích, tổ chức đời sống chung, xây luật công bằng, bảo vệ người yếu, phân phối nguồn lực, thì đây là một lãnh vực sâu sắc của trách nhiệm luân lý. Giáo Hội không đồng nhất mình với một đảng phái, và giáo sĩ không nên chiếm lấy trách nhiệm chính trị riêng của giáo dân. Nhưng nếu giáo dân vì sợ bẩn mà rút khỏi mọi không gian công cộng, ai sẽ mang lương tâm Kitô giáo vào đó? Nếu người có đức tin chỉ than rằng xã hội xuống cấp nhưng không chịu học luật, kinh tế, hành chính, truyền thông, chính sách công, giáo dục và các ngành nghề cần thiết, lời than trở nên dễ dàng. Ở đây cần một linh đạo mạnh vì chính trị, quyền lực và lợi ích dễ làm hỏng người. Nhưng câu trả lời không phải bỏ hết. Câu trả lời là đào tạo những giáo dân đủ trưởng thành để đi vào mà không bán linh hồn. Họ cần biết rằng không có hệ tư tưởng nào là Nước Thiên Chúa. Không đảng nào xứng đáng nhận đức tin tuyệt đối. Không lãnh tụ nào là Đấng Cứu Thế. Không chiến thắng chính trị nào đồng nghĩa chiến thắng Tin Mừng. Người Kitô hữu có thể tham gia, tranh luận, bỏ phiếu, phục vụ công quyền, xây chính sách, nhưng phải giữ tự do nội tâm trước mọi phe. Đó là sự tự do khó, nhưng chính vì khó nên cần linh đạo.
Văn hóa và nghệ thuật cũng vậy. Có người sợ âm nhạc mới, điện ảnh, văn chương, thời trang, ngôn ngữ trẻ chỉ vì chúng không quen. Nhưng không phải cái lạ nào cũng xấu. Văn hóa là nơi con người diễn tả nỗi sợ, khát vọng, ký ức, vết thương và hy vọng. Giáo dân làm nghệ thuật có một sứ mạng đặc biệt: giúp cái đẹp không bị rút xuống thành kích thích, giúp sáng tạo không phải bán mình cho thị trường, giúp nghệ thuật nói sự thật về con người. Họ không nhất thiết phải vẽ thánh đường hay sáng tác thánh ca để nghề mình có ý nghĩa Kitô giáo. Một bộ phim chân thật về sự tha thứ, một bức ảnh tôn trọng phẩm giá người nghèo, một tác phẩm chống lại bạo lực, một bản nhạc chạm tới nỗi nhớ và hy vọng có thể mở đường cho điều thiêng liêng. Dĩ nhiên cần phân định. Có những hình thức văn hóa khai thác dục vọng, bạo lực, hư vô, nhưng cách trả lời Kitô giáo không chỉ là cấm. Còn phải tạo ra cái đẹp tốt hơn. Nếu người Công giáo chỉ phê bình văn hóa nhưng không biết sáng tạo văn hóa, họ sẽ nói với một thế giới mà họ không còn hiểu.
Công nghệ và môi trường số càng cho thấy trần thế vừa tốt, vừa bị thương, vừa là cánh đồng. Internet nối con người, mở tri thức, giúp người xa gặp nhau, giúp người bệnh tham dự, tạo cơ hội học tập. Cũng chính internet có thể tạo nghiện, cô độc, tin giả, bạo lực lời nói, khiêu dâm, lừa đảo, thao túng. AI có thể hỗ trợ y khoa, giáo dục, nghiên cứu, dịch thuật, quản trị. Nó cũng có thể được dùng để làm giả, giám sát, loại người khỏi quyết định, củng cố thiên kiến, tập trung quyền lực. Người giáo dân làm công nghệ không được xem mình chỉ làm chuyện kỹ thuật. Mỗi dòng code, mỗi mô hình kinh doanh, mỗi quyết định về dữ liệu đều có chiều kích con người. Nếu Công giáo chạy khỏi lĩnh vực này vì sợ, lĩnh vực ấy vẫn phát triển nhưng thiếu tiếng nói lương tâm. Sứ mạng không phải vào mạng để đăng thêm ảnh nhà thờ. Sứ mạng còn là xây công nghệ tôn trọng tự do, minh bạch, sự thật và phẩm giá. Người giáo dân trong ngành công nghệ có thể làm công việc thần học bằng ngôn ngữ của kỹ thuật khi họ đặt câu hỏi: hệ thống này phục vụ ai, loại ai, thu dữ liệu gì, có thao túng không, có làm con người tự do hơn hay lệ thuộc hơn? Đó là cách Tin Mừng đi vào nơi rất ít lời đạo đức được nói ra nhưng nhiều quyết định định hình tương lai con người được thực hiện.
Gia đình cũng là trần thế, và đôi khi chính vì quá quen mà ta không nhận ra chiều kích sứ mạng của nó. Có người thích đi truyền giáo xa vì ở xa người ta dễ lịch sự với mình hơn ở nhà. Ở nhà phải tha thứ nhiều lần cho cùng một người. Ở nhà không có tiếng vỗ tay. Ở nhà những yếu đuối lộ ra. Nhưng chính nơi đó Nước Thiên Chúa được thử thật. Một gia đình không hoàn hảo nhưng biết xin lỗi, biết chia sẻ trách nhiệm, biết chăm người già, biết không lấy tiền làm chuẩn duy nhất, biết giữ một bữa cơm không điện thoại, biết cầu nguyện cả khi mệt, biết mở cửa cho người cô đơn, đó là một mảnh trần thế được thánh hóa. Nhà không phải nơi chạy trốn thế giới; nhà là một phần thế giới cần Tin Mừng. Cũng vì thế không thể có một người ngoài xã hội rất đạo đức mà trong nhà độc đoán. Không thể một người phục vụ giáo xứ được mọi người khen nhưng vợ con sợ. Không thể đi nói về tình yêu Thiên Chúa mà người giúp việc trong nhà bị coi như hạng thấp. Chính những điểm ấy là phép thử của linh đạo nhập thể.
Một hình ảnh khác của Tin Mừng giúp ta hiểu việc ở lại trong trần thế: hạt giống. Đức Giêsu không mô tả Nước Trời như một vật rơi xuống hoàn tất từ trời. Người nói hạt giống được gieo, men được vùi trong bột, hạt cải lớn dần. Các hình ảnh ấy đều nói đến một tiến trình âm thầm từ bên trong. Giáo dân thường không có quyền ra lệnh cả hệ thống thay đổi. Một nhân viên Công giáo không thể một ngày làm công ty thành lý tưởng. Một giáo viên không thể tự sửa toàn bộ hệ thống giáo dục. Một bác sĩ không thể chữa mọi bất công y tế. Một người mẹ không thể bảo đảm con mình sẽ giữ đức tin. Nhưng họ có thể gieo. Có thể từ chối một lời gian. Có thể mở một quy trình minh bạch hơn. Có thể đối xử với một người cấp dưới bằng tôn trọng. Có thể dạy một đứa trẻ rằng người nghèo có phẩm giá. Có thể bảo vệ một đồng nghiệp đang bị bắt nạt. Có thể giữ một quyết định đúng giữa cuộc họp. Những việc ấy nhỏ, nhưng Nước Chúa thường bắt đầu nhỏ. Linh đạo giáo dân cần được giải thoát khỏi cơn nghiện thành tựu lớn. Nếu người giáo dân nghĩ sứ mạng chỉ có giá trị khi làm chương trình thật lớn, họ sẽ bỏ qua nơi Thiên Chúa giao mình mỗi ngày. Thánh hóa trần thế thường âm thầm đến mức không ai ghi nhận. Một người chủ không gian lận thuế không được lên báo. Một nhân viên không nói xấu đồng nghiệp không được trao huy chương. Một người cha tắt điện thoại để nghe con kể chuyện trường học không có ai vỗ tay. Nhưng chính những điều ấy làm thế giới bớt lạnh.
Ở lại trong trần thế cũng đòi biết chịu giới hạn. Có một kiểu nhiệt thành muốn sửa mọi sự ngay. Thấy môi trường xấu thì phẫn nộ, thấy cơ cấu bất công thì muốn đập bỏ, thấy người khác chưa hiểu đức tin thì muốn tranh luận đến cùng. Nhưng Đức Kitô sống ba mươi năm ở Nazareth trước ba năm công khai. Hạt giống có thời gian của nó. Người giáo dân phải học phân định điều gì mình có thể làm, điều gì phải chờ, điều gì phải giao cho người khác, điều gì chỉ có thể cầu nguyện. Không phải chịu đựng thụ động, nhưng hành động mà không tưởng mình là Đấng Cứu Thế. Một nguy cơ của những Kitô hữu rất dấn thân là họ bắt đầu nghĩ mọi sự phụ thuộc vào mình. Khi đó sứ mạng trở thành căng thẳng và giận dữ. Linh đạo dạy rằng Thiên Chúa yêu thế giới này trước chúng ta và nhiều hơn chúng ta. Ta được mời cộng tác, không được giao vai trò cứu thế. Điều ấy cho ta sức bền. Có thể làm hết sức mà vẫn ngủ. Có thể chiến đấu cho công lý mà không thù người bất công. Có thể sửa một cơ cấu mà không nghĩ tất cả những người trong đó đều xấu. Có thể thất bại mà không tuyệt vọng.
Một hệ quả rất quan trọng là người giáo dân cần được đào tạo không chỉ để “biết đạo” mà còn để “biết đời”. Không thể thánh hóa một thực tại mình không hiểu. Muốn làm kinh tế theo Tin Mừng thì phải hiểu kinh tế. Muốn tham gia chính trị có trách nhiệm thì phải hiểu luật pháp, thể chế, lịch sử, xã hội. Muốn làm truyền thông tốt thì phải hiểu truyền thông. Muốn nói về AI thì phải hiểu ít nhất nó vận hành ra sao và ảnh hưởng thế nào. Đạo đức không thay thế chuyên môn. Một người có ý tốt nhưng thiếu năng lực có thể gây hại. Giáo Hội cần những giáo dân vừa cầu nguyện sâu vừa học chuyên môn giỏi. Không nên tạo cảm giác rằng học thần học mới là học việc Chúa, còn học quản trị, sinh học, kỹ thuật, tâm lý, kiến trúc, tài chính chỉ là chuyện nghề. Mỗi ngành chân chính đều là một cách đọc tạo thành và phục vụ con người. Một giáo dân giỏi chuyên môn có thể làm một việc mà linh mục không làm được. Chính sự khác biệt ấy làm Hội Thánh phong phú.
Tuy nhiên, nếu nói nhiều về sứ mạng trần thế mà thiếu đời cầu nguyện, giáo dân sẽ dễ bị trần thế đồng hóa. Không chạy khỏi thế giới không có nghĩa không cần rút lui. Đức Giêsu ở giữa đám đông nhưng vẫn lên núi cầu nguyện. Người giáo dân cũng cần những khoảng lui về: Chúa Nhật, Thánh Thể, Lời Chúa, tĩnh tâm, thinh lặng, xét mình. Nhưng rút lui để trở lại, không rút lui để trốn. Nhà thờ là nơi người giáo dân được quy tụ để rồi được sai đi. Cuối Thánh lễ không phải “mọi sự đã xong”, nhưng “hãy đi”. Nếu phụng vụ không đẩy người tín hữu trở lại đời với đôi mắt mới, ta đã hiểu thiếu phụng vụ. Bàn thờ nhận lấy bánh và rượu là hoa màu ruộng đất và lao công của con người, rồi trao lại Mình và Máu Đức Kitô để nuôi chính những người sẽ trở về với ruộng đất và lao công ấy. Có một vòng tròn tuyệt đẹp: đời được đem lên bàn thờ, được biến đổi trong Đức Kitô, rồi được sai trở lại đời. Người giáo dân mang cả tuần lễ vào Thánh lễ: thành công, thất bại, hóa đơn, bệnh tật, tranh cãi, niềm vui, con cái. Họ không để đời ngoài cửa nhà thờ. Rồi họ mang Thánh Thể ra khỏi cửa nhà thờ: không mang Mình Thánh theo nghĩa vật chất, nhưng mang cách sống Thánh Thể, nghĩa là đời sống được bẻ ra vì người khác, lòng biết ơn, hiệp thông và tự hiến.
Sự thánh thiện của giáo dân vì vậy không đo bằng khoảng cách với thế giới, nhưng bằng cách họ hiện diện trong thế giới. Có người sống trong tu viện nhưng tâm trí đầy thế tục. Có người sống giữa thị trường mà lòng rất thuộc về Chúa. Tính thế tục mà Tin Mừng phê phán không đơn giản là sống ngoài nhà thờ. Nó là hệ thống giá trị đóng kín trước Thiên Chúa: quyền lực trên phục vụ, sở hữu trên hiệp thông, hình ảnh trên sự thật, thành công trên trung tín, khoái lạc trên tình yêu. Một giáo dân có thể rất “đạo” mà vẫn thế tục theo nghĩa ấy nếu họ dùng việc đạo để tìm địa vị, phe nhóm, tiếng khen. Ngược lại một người rất bận nghề nghiệp có thể sống sâu sắc theo Thần Khí nếu họ làm mọi việc trong chân lý và bác ái. Vì thế, cuộc chiến chống tinh thần thế gian không đồng nghĩa chống thế giới. Chính Đức Kitô yêu thế gian đến nỗi hiến mạng vì thế gian. Kitô hữu được mời yêu theo cách ấy: yêu đến mức không chiều theo cái sai của thế gian, nhưng cũng không bỏ mặc thế gian.
Có một câu người giáo dân cần nghe nhiều lần: ở lại trong đời không phải dấu hiệu bạn chưa đủ đạo để đi nơi khác. Nếu Chúa gọi bạn làm cha, làm mẹ, làm công dân, làm người lao động, làm nhà chuyên môn, thì chính nơi đó là bàn làm việc của ơn gọi. Bạn không phải Kitô hữu hạng hai vì sáng thứ Hai phải đi công ty thay vì ở nhà nguyện. Bạn không thấp hơn tu sĩ vì phải lo tiền học cho con. Bạn không kém thiêng liêng vì lịch sống đầy tiếng trẻ khóc, khách hàng gọi, deadline và giao thông. Câu hỏi không phải bạn có thoát khỏi những điều ấy không. Câu hỏi là Đức Kitô có ở trong cách bạn sống những điều ấy không. Bạn làm việc thế nào? Yêu thế nào? Tiêu tiền thế nào? Sử dụng quyền thế nào? Nghỉ ngơi thế nào? Nói sự thật thế nào? Chịu thiệt thế nào? Đó là linh đạo.
Và cũng cần nói điều ngược lại: ở lại giữa đời không phải cái cớ để hòa vào tất cả. Có những lúc người Kitô hữu phải ra khỏi một môi trường, bỏ một công việc, từ chối một hợp đồng, cắt một mối quan hệ, vì không thể tiếp tục mà không phản bội lương tâm. Chúa không sai ta ở lại bất cứ giá nào. Có những cơ cấu thực sự làm người ta hư. Có những nghề vận hành bằng điều trái luân lý. Có những môi trường bạo lực hay lạm dụng phải rời. Sự hiện diện sứ mạng không đồng nghĩa dung túng. Đức Giêsu có lúc ở lại, có lúc bỏ đi. Có lúc im, có lúc lên tiếng. Có lúc ăn với người tội lỗi, có lúc gọi họ hoán cải. Phân định là điều không thể thay bằng khẩu hiệu “ở lại giữa đời”. Nhưng nguyên tắc căn bản vẫn là: trần thế không phải kẻ thù. Tội là kẻ thù. Sự dối trá là kẻ thù. Bất công là kẻ thù. Tinh thần biến con người thành đồ vật là kẻ thù. Và người Kitô hữu chiến đấu những điều ấy bằng chân lý, bác ái, hy vọng, năng lực chuyên môn và sự trung tín lâu dài.
Cánh chung đem lại cho linh đạo giáo dân một quân bình cuối cùng. Thế giới này đáng yêu, nhưng không phải tuyệt đối. Chúng ta được gọi xây dựng nó, nhưng không thể biến nó thành thiên đàng bằng sức mình. Thành phố trần gian có giá trị, nhưng thành đô vĩnh cửu là quà Thiên Chúa. Chính vì tin có trời mới đất mới mà người Kitô hữu càng nghiêm túc với trái đất này, chứ không ít nghiêm túc hơn. Thân xác sẽ sống lại, vì vậy thân xác có phẩm giá. Công trình tình yêu không mất, vì vậy lao động vì công lý có ý nghĩa. Nhưng vì Nước Thiên Chúa vượt mọi thành tựu lịch sử, người tín hữu cũng được tự do trước thành công và thất bại. Không doanh nghiệp nào là vĩnh cửu. Không quốc gia nào là tuyệt đối. Không nền văn minh nào là Nước Chúa. Không dự án nào đáng để hy sinh linh hồn. Đây là tự do cánh chung: xây như thể trách nhiệm thật, nhưng không thờ điều mình xây.
Trần thế vì thế không phải vùng nguy hiểm phải chạy. Nó là tạo thành tốt đang rên siết vì tội và chờ sự giải thoát. Nó là nơi Con Thiên Chúa đã đặt chân, nơi Người đã ăn, làm việc, khóc, chết và sống lại. Nó là nơi Thánh Thần vẫn hoạt động, nhiều khi trước cả khi ta đến. Nó là cánh đồng mà người giáo dân được sai vào không như khách lạ, nhưng như người có trách nhiệm. Giáo dân không được gọi để đứng ngoài hàng rào rồi chỉ cho thế giới thấy mình sai. Họ được gọi bước vào ruộng, chịu nắng, chạm đất, gieo hạt, nhổ cỏ, chờ mùa. Họ có thể lấm bùn, nhưng không vì thế mà bùn trở thành căn tính. Họ có thể mệt, nhưng mệt không có nghĩa sứ mạng sai. Có khi chính sự hiện diện trung tín giữa một nơi khó khăn là lời vâng phục lớn nhất của họ.
Ở lại trong trần thế không phải thua cuộc. Đôi khi chạy khỏi đời mới là trốn ơn gọi. Nếu Thiên Chúa muốn một người giáo dân ở trong gia đình này, nghề này, thành phố này, bệnh viện này, trường học này, nhà máy này, hội đồng này, khu phố này, thì ở lại với một trái tim thuộc về Đức Kitô chính là vâng lời sai đi. Người ấy không ở đó một mình. Đức Kitô Phục Sinh đã đi trước. Chính Người đang làm cho mọi sự nên mới. Người giáo dân không phải cứu thế giới, nhưng được cho phép tham dự công việc ấy bằng những việc rất bình thường: một quyết định công bằng, một lời nói thật, một đồng lương sạch, một cuộc hôn nhân trung tín, một đứa trẻ được giáo dục trong tình yêu, một người yếu được bảo vệ, một công nghệ được dùng đúng, một mảnh đất được giữ, một món hàng không gian trá, một lá phiếu có lương tâm, một nghề được làm giỏi, một thất bại được chịu trong hy vọng. Những điều ấy trông nhỏ, nhưng đó là cách Nước Trời đi vào trần thế từ bên trong.
Và có lẽ đây là điều cuối cùng cần trả lại cho giáo dân: đừng xin Chúa cho mình thoát khỏi đời, nếu chính Người đang sai mình vào đời. Hãy xin Người cho một trái tim không bị đời nuốt. Đừng xin một thế giới không có cám dỗ, hãy xin một lương tâm biết phân định. Đừng xin không bao giờ bị bẩn tay, hãy xin biết làm việc giữa bùn mà không bán linh hồn. Đừng xin một cuộc đời chỉ toàn nhà nguyện, hãy xin mọi nơi mình bước vào đều có thể trở thành nơi thờ phượng bằng đời sống. Đừng xin được miễn khỏi thập giá của đời thường, hãy xin biết kết hợp nó với Đức Kitô. Đừng khinh tạo thành vì nó bị thương. Thiên Chúa đã không khinh nó. Người đã nhập thể trong đó, chết cho nó và khởi sự tái tạo nó. Người giáo dân sống đúng ơn gọi khi đứng giữa trần thế với hai chân thật vững trên đất và trái tim thật sâu trong Chúa, yêu điều Thiên Chúa đã dựng, chống điều tội đã làm méo, và âm thầm cộng tác với ân sủng để mọi sự được quy tụ trong Đức Kitô. Đó không phải linh đạo thấp hơn. Đó là một trong những cách lớn nhất mà Hội Thánh có mặt giữa thế giới.
CHƯƠNG 20. GIA ĐÌNH: NƠI LINH ĐẠO GIÁO DÂN THÀNH THỊT
Có những điều trong thần học nghe rất đẹp khi được nói trên bục giảng, nhưng chỉ biết chúng có thật hay không khi bước qua cánh cửa một gia đình. Người ta có thể nói rất hay về tình yêu, về hy sinh, về giao ước, về tha thứ, về trung tín, về đức tin, về sự sống, về thập giá, về niềm hy vọng, nhưng gia đình là nơi tất cả những từ ấy phải mang lấy thân xác. Ở đó tình yêu không còn là một khái niệm. Tình yêu là thức dậy lúc hai giờ sáng vì con sốt. Là nhịn một câu cay độc vì biết người kia đã quá mệt. Là đi làm khi không muốn đi làm vì phía sau đồng lương là tiền học của con, thuốc của cha mẹ, tiền thuê nhà, tiền điện tháng này. Là ngồi nghe một câu chuyện mình đã nghe mười lần nhưng người già vẫn cần kể lần thứ mười một. Là trở về nhà sau một ngày bị tổn thương ngoài xã hội mà không đem tất cả cơn giận ấy đổ xuống những người vô tội đang đợi mình. Gia đình là nơi linh đạo giáo dân không còn được phép chỉ là một hệ thống ý tưởng. Nó phải thành thịt. Nó phải có mùi cơm, mùi thuốc, mùi mồ hôi, tiếng trẻ khóc, tiếng cửa đóng mạnh, tiếng xin lỗi nói không tròn câu, tiếng kinh tối có hôm sốt sắng, có hôm buồn ngủ, có hôm chỉ còn một dấu thánh giá rất vội trước khi mọi người lăn ra ngủ. Nếu linh đạo giáo dân không đi được vào những nơi ấy, nó vẫn còn đứng ngoài đời sống của đại đa số Dân Chúa.
Hôn nhân Kitô giáo vì thế không phải một nghi lễ đẹp đặt ở đầu đời sống gia đình rồi sau đó đôi vợ chồng bước ra khỏi nhà thờ để sống một đời hoàn toàn “thế tục”. Bí tích Hôn phối không phải phần đạo đức mở màn cho một hành trình sau đó chủ yếu thuộc về kinh tế, sinh con, mua nhà, trả nợ, nuôi dạy con và già đi cùng nhau. Chính toàn bộ hành trình ấy được đưa vào trong bí tích. Chính những năm tháng tưởng rất đời thường ấy trở thành chất liệu của giao ước. Khi một người nam và một người nữ tự do trao hiến cho nhau trong Chúa, họ không chỉ nói với nhau một lời hứa đẹp trong ngày cưới. Họ trao cho Chúa cả một tương lai mà chính họ chưa biết. Họ trao những năm khỏe mạnh và những năm bệnh tật, những thời kỳ dư dả và những mùa thiếu hụt, những ngày dễ thương và những ngày khó chịu, sự nồng nhiệt của tuổi trẻ và sự mệt mỏi của tuổi trung niên, những đứa con có thể đến như mong đợi hoặc không đến như mong đợi, những giấc mơ có thể thành và những kế hoạch có thể vỡ. Bí tích không làm cho những thực tại ấy biến mất. Bí tích đưa Đức Kitô vào giữa chúng. Nói cách khác, Chúa không hứa rằng gia đình Kitô hữu sẽ không có nước mắt; Người hứa rằng những giọt nước mắt ấy không nhất thiết phải vô nghĩa.
Điều này rất quan trọng, bởi vì lâu nay người ta dễ nói về gia đình theo hai cách cực đoan. Một cách quá lãng mạn: gia đình Kitô giáo như một mái nhà luôn yên ấm, cha mẹ lúc nào cũng đạo đức, con cái ngoan ngoãn, cả nhà đọc kinh đều đặn, vợ chồng luôn hiểu nhau. Hình ảnh ấy có thể đẹp trên bức tranh, nhưng nếu biến thành tiêu chuẩn duy nhất, nó sẽ làm nhiều gia đình thật cảm thấy mình thất bại. Cách cực đoan kia lại quá thực dụng: hôn nhân chỉ còn là một hợp đồng chung sống, tồn tại khi đôi bên còn thấy có lợi hoặc còn cảm xúc. Giữa hai cực ấy, linh đạo Kitô giáo nhìn hôn nhân như giao ước: không phủ nhận cảm xúc, nhưng sâu hơn cảm xúc; không coi nhẹ hạnh phúc, nhưng hiểu hạnh phúc không phải lúc nào cũng là cảm giác dễ chịu; không thần thánh hóa đau khổ, nhưng cũng không chạy trốn mọi đau khổ ngay khi chúng xuất hiện. Giao ước có một phẩm chất mà hợp đồng không có: người ta không chỉ hỏi “tôi còn được gì từ mối quan hệ này?”, nhưng còn hỏi “tôi đang được mời gọi trở nên người nào qua việc trung thành với người đã được trao cho tôi?”.
Trung tín dài hạn vì thế là một trường nên thánh rất nghiêm. Trung tín không chỉ có nghĩa không ngoại tình. Đó là mức tối thiểu. Trung tín còn là tiếp tục đối xử với người kia như một nhân vị khi sự quen thuộc làm ta dễ coi họ như một phần đồ đạc trong nhà. Là không để cách nói năng với người ngoài lịch sự hơn cách nói với vợ hay chồng mình. Là không ngừng học lại người kia, bởi con người không đứng yên. Người ta cưới một con người ở tuổi hai mươi lăm nhưng phải học yêu chính người ấy ở tuổi ba mươi lăm, bốn mươi lăm, sáu mươi lăm, khi cơ thể thay đổi, tính khí đổi, vai trò xã hội đổi, những vết thương cũ lộ ra, những nhu cầu mới xuất hiện. Nhiều cuộc hôn nhân không tan vì một biến cố lớn nhưng mòn vì hàng ngàn lần thiếu chú ý nhỏ. Người ta không còn hỏi hôm nay anh mệt không, em đang lo gì, điều gì làm em buồn, điều gì đang diễn ra trong lòng anh. Hai người vẫn ở chung một mái nhà nhưng đã thôi tìm hiểu nhau. Linh đạo hôn nhân vì vậy không chỉ là đọc kinh chung. Nó còn là học nghệ thuật hiện diện.
Có những lúc hiện diện ấy rất nhẹ nhàng. Có lúc lại đòi hy sinh thật. Một người phối ngẫu mắc bệnh lâu năm có thể làm đảo lộn toàn bộ cấu trúc gia đình. Người kia từ bạn đời trở thành người chăm sóc. Những chuyện mà tuổi trẻ chưa từng nghĩ tới xuất hiện: thuốc men, tắm rửa, bệnh viện, tiền bạc, những đêm mất ngủ, cảm giác bất lực. Nếu chỉ hiểu hôn nhân là một chuỗi ngày lãng mạn, người ta sẽ thấy đây là thất bại. Nhưng trong ánh sáng bí tích, chính nơi này có thể trở thành một trong những hình thức tinh tuyền nhất của lời đã hứa: “khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi mạnh khỏe cũng như lúc đau yếu”. Lời ấy ngày cưới nghe đẹp. Hai mươi hay ba mươi năm sau, có lúc nó có mùi thuốc sát trùng và tiếng máy bệnh viện. Chính lúc ấy lời hứa mới bộc lộ trọng lượng thật của nó.
Mở ra với sự sống cũng là một chiều kích cốt lõi của linh đạo gia đình, nhưng sự sống ở đây không thể bị giản lược thành một khẩu hiệu sinh học. Đón nhận con cái là đón nhận những hữu thể không thuộc quyền sở hữu của cha mẹ. Đứa con không phải dự án chứng minh cha mẹ thành công. Không phải công cụ thực hiện những ước mơ cha mẹ bỏ dở. Không phải bảo hiểm tuổi già. Không phải vật trang trí cho hình ảnh một gia đình lý tưởng. Mỗi người con là một mầu nhiệm được trao, có tự do, có ơn gọi, có tính khí, có khả năng và giới hạn riêng. Cha mẹ Kitô hữu phải học một dạng nghèo rất sâu: yêu con hết lòng nhưng không chiếm con. Nuôi con nhưng không sở hữu con. Dạy con nhưng không viết sẵn cả cuộc đời con. Bảo vệ con nhưng dần dần phải để con bước vào tự do. Có khi điều đau nhất đối với cha mẹ không phải con yếu kém, mà là con chọn một con đường khác với hình dung của mình. Chính nơi đó, linh đạo lại thành thịt: cha mẹ phải phân biệt giữa yêu thương và kiểm soát.
Giáo dục đức tin cũng không bắt đầu bằng việc ghi danh con vào lớp giáo lý. Giáo lý rất cần, cộng đoàn rất cần, linh mục và giáo lý viên rất cần, nhưng không ai thay được khí hậu đức tin trong nhà. Một đứa trẻ có thể học đúng mọi câu hỏi giáo lý mà vẫn lớn lên với cảm tưởng rằng Chúa chỉ tồn tại sáng Chúa Nhật. Nó quan sát cha mẹ nhiều hơn nghe lời cha mẹ dạy. Nó thấy cha mẹ cầu nguyện khi gặp khó hay chỉ cuống cuồng tìm mọi giải pháp rồi cuối cùng mới nhớ đến Chúa. Nó thấy cha mẹ đối xử với người nghèo thế nào. Nó thấy cha mẹ nói về linh mục, về họ hàng, về người hàng xóm ra sao sau khi vừa đọc kinh tối. Nó thấy tiền bạc là ông chủ hay là phương tiện. Nó thấy cha mẹ có dám xin lỗi con hay luôn cho rằng người lớn không bao giờ sai. Nó thấy đức tin có làm cha mẹ nhân hậu hơn hay chỉ làm họ nghiêm khắc hơn. Tất cả những điều đó là giáo lý.
Một gia đình có thể không tổ chức được những giờ cầu nguyện dài. Có nhà con nhỏ khóc liên tục. Có nhà cha mẹ làm ca. Có nhà người này đạo đức hơn người kia. Có gia đình chỉ có một người giữ đạo. Có nhà sống chung ba thế hệ, giờ giấc rất khó sắp. Linh đạo gia đình không nên tạo thêm mặc cảm bằng những mô hình quá lý tưởng. Một kinh Lạy Cha đọc thật lòng có thể quý hơn một giờ kinh mà mọi người chỉ mong cho xong. Một đoạn Tin Mừng rất ngắn trước khi ngủ có thể gieo hạt. Một thói quen làm dấu trước bữa ăn, một lời cảm ơn Chúa sau một tin vui, một lời cầu cho người bệnh trong họ hàng, một lần cha mẹ nói với con “nhà mình thử cầu nguyện cho chuyện này” — những việc nhỏ ấy từ từ tạo nên ký ức đức tin. Sau này có thể con cái quên nhiều bài giáo lý, nhưng chúng vẫn nhớ mẹ từng quỳ bên giường khi bà ngoại bệnh, nhớ cha từng làm dấu trước khi đưa cả nhà lên đường, nhớ một tối cả nhà ngồi im vì chưa biết phải nói gì với nhau nhưng rồi vẫn đọc một kinh Kính Mừng. Đức tin được truyền không chỉ bằng nội dung. Nó được truyền bằng ký ức thân thể.
Tha thứ là một trường thần học khác mà không gia đình nào tránh được. Nói “tha thứ” trên lý thuyết dễ hơn rất nhiều so với việc tha thứ cho người mình phải tiếp tục gặp mỗi ngày. Tha thứ một người xa lạ có khi chỉ cần một quyết định nội tâm. Tha thứ trong gia đình còn phải ăn chung, ngủ cùng nhà, lo chung con cái, cùng xử lý tiền bạc sau khi đã bị tổn thương. Những phản bội trong gia đình có nhiều cấp độ. Có phản bội lớn như ngoại tình, bạo hành, nghiện ngập, dối trá lâu dài, che giấu nợ nần. Có những phản bội nhỏ hơn nhưng tích tụ: không giữ lời, coi thường nhau trước mặt con, ưu tiên điện thoại hơn người bên cạnh, tiết lộ chuyện riêng của vợ chồng cho người ngoài, liên tục bênh gia đình gốc chống lại người phối ngẫu, dùng im lặng để trừng phạt, dùng tiền để kiểm soát. Không nên gom mọi thứ vào một câu “Kitô hữu thì phải tha thứ” rồi ép người bị tổn thương chịu đựng vô hạn. Tha thứ không đồng nghĩa với xóa ranh giới. Hòa giải không thể có nếu không có sự thật. Có những trường hợp cần tư vấn tâm lý, cần mục vụ chuyên môn, cần can thiệp pháp lý, cần tách khỏi tình huống nguy hiểm. Linh đạo chân thật không bảo một người đang bị bạo hành cứ ở đó và gọi đó là vác thập giá. Thập giá Đức Kitô không phải giấy phép cho sự dữ.
Nhưng ở phần rất lớn của đời sống gia đình, người ta vẫn phải học tha thứ cho những con người không hoàn hảo mà Chúa đã đặt cạnh mình. Vợ không phải vị thánh đã hoàn tất. Chồng không phải người hiểu hết mọi nhu cầu của vợ. Cha mẹ có những vết thương từ thế hệ trước. Con cái có những giai đoạn làm cha mẹ kiệt sức. Anh chị em ruột có thể mang theo cạnh tranh, so bì, ký ức cũ. Người già có lúc khó tính. Người trẻ có lúc ích kỷ. Nếu một gia đình chỉ tồn tại khi mọi người cư xử đúng, nó sẽ không tồn tại lâu. Gia đình tồn tại vì sự thật được nói trong tình yêu, vì có những lời xin lỗi, vì người ta biết bắt đầu lại. Có những cuộc hòa giải lớn được mọi người nhớ cả đời. Nhưng đa số sự thánh thiện gia đình nằm trong những hòa giải rất nhỏ: “sáng nay anh nói quá lời”, “mẹ xin lỗi con”, “thôi chuyện đó mình bỏ qua”, “em hiểu hôm nay anh mệt”, “con không nên nói với ba như vậy”. Đó là thứ ngôn ngữ của Nước Chúa mà không ai ghi vào biên bản.
Gia đình cũng là nơi con người học một trong những sự thật căn bản nhất của Tin Mừng: tôi không phải trung tâm. Trẻ sơ sinh buộc cha mẹ phải học điều ấy rất nhanh. Người già buộc thế hệ trẻ học lại điều ấy một lần nữa. Một căn nhà có người bệnh làm cả gia đình phải sắp xếp lại thời gian. Một người con khuyết tật có thể thay đổi toàn bộ quỹ đạo của cha mẹ và anh chị em. Một người mất việc khiến mọi người phải thắt lưng buộc bụng. Một người đang khủng hoảng tinh thần cần được lắng nghe. Gia đình liên tục phá vỡ ảo tưởng rằng đời tôi chỉ thuộc về tôi. Chính vì thế, nếu được sống trong ân sủng, nó là trường đào tạo rất sâu về đức ái. Đức ái ở đây không có hào quang. Nó thường lặp đi lặp lại. Nấu ăn. Rửa chén. Đưa đón. Đóng học phí. Gọi điện cho mẹ. Chở cha đi khám. Trông cháu để con cái đi làm. Ngồi với một người đang hấp hối. Có những người cả đời không làm được việc gì lớn theo tiêu chuẩn xã hội, nhưng họ đã âm thầm giữ một gia đình khỏi tan. Trong Nước Thiên Chúa, có lẽ những việc ấy có trọng lượng khác hẳn bảng thành tích của thế gian.
Chăm sóc người già đặc biệt là một nơi linh đạo gia đình bị thử thách trong xã hội hiện đại. Nhịp sống nhanh khiến tuổi già dễ bị xem như phần dư thừa. Người già không còn tạo ra thu nhập, không theo kịp công nghệ, đi chậm, nhớ trước quên sau, kể chuyện cũ. Một nền văn hóa chỉ đo giá trị bằng năng suất sẽ rất khó hiểu phẩm giá của người già. Nhưng một gia đình Kitô hữu được mời gọi nhìn khác. Cha mẹ già không còn hữu ích theo nghĩa kinh tế vẫn là cha mẹ. Một người ông lẫn trí vẫn là một nhân vị. Một bà ngoại nằm liệt giường vẫn mang hình ảnh Thiên Chúa. Tất nhiên điều ấy không có nghĩa mọi gia đình phải tự mình gánh mọi chăm sóc y tế vượt quá khả năng. Xin trợ giúp, thuê người chăm sóc, dùng cơ sở chuyên môn khi cần không phải là bất hiếu. Vấn đề là người già có bị biến thành một bài toán cần giải quyết hay vẫn được coi là một người cần được yêu. Có thể gửi cha mẹ vào nơi chăm sóc tốt mà vẫn thăm nom trung tín. Cũng có thể ở chung một nhà nhưng bỏ mặc họ trước tivi cả ngày. Khoảng cách địa lý không tự quyết định lòng hiếu thảo.
Gia đình còn là nơi diễn ra cuộc gặp phức tạp giữa các thế hệ. Mỗi thế hệ mang một thế giới. Ông bà lớn lên trong nghèo khó có thể thấy con cháu phung phí. Con cháu lớn lên trong thời kỹ thuật số có thể thấy ông bà quá khắt khe. Cha mẹ ở giữa bị kéo hai phía. Những vấn đề tưởng nhỏ như cách nuôi trẻ, tiền bạc, chăm sóc người già, thừa kế, việc thờ cúng tổ tiên, lựa chọn nghề nghiệp, hôn nhân khác đạo có thể làm nổ những căng thẳng sâu. Linh đạo gia đình không xóa khác biệt thế hệ. Nó dạy một nghệ thuật khó hơn: giữ sự thật mà không hạ nhục nhau. Tôn trọng người lớn không có nghĩa mọi quyết định của người lớn đều đúng. Tự do của người trẻ không có nghĩa họ được cắt đứt mọi trách nhiệm. Gia đình Kitô hữu phải tập sống một hình thức hiệp hành rất cụ thể: lắng nghe, nói thật, phân định, nhường bước khi cần, giữ nguyên tắc khi phải giữ, và biết rằng thắng một cuộc tranh luận mà mất một người thân có thể là một thất bại lớn.
Người giáo dân độc thân cũng không đứng ngoài linh đạo gia đình. Đây là điều cần nói rõ, bởi khi nói đến gia đình trong Hội Thánh, người ta rất dễ chỉ nghĩ đến vợ chồng có con. Có nhiều người giáo dân không kết hôn vì lựa chọn, vì hoàn cảnh, vì chưa gặp người phù hợp, vì phải chăm sóc cha mẹ, vì một mối tình không thành, hoặc đơn giản vì đời đã đi theo một con đường khác. Họ không phải những người đang ở phòng chờ của đời sống gia đình. Họ vẫn thuộc về một mạng lưới quan hệ rất thật. Họ là con của cha mẹ, là anh chị em, là cô dì chú bác, là người bạn lâu năm, là cha mẹ đỡ đầu, là người dì giữ cháu cho em, là người anh đưa cha đi khám, là người con ở lại chăm mẹ khi các anh chị khác đã lập gia đình. Có những người độc thân giữ cả một đại gia đình khỏi đứt gãy. Họ nhớ ngày giỗ, gọi điện cho người già, chăm một đứa cháu đang khủng hoảng, hòa giải hai anh em đang bất hòa, giữ căn nhà tổ cho mọi người còn nơi gặp nhau. Linh đạo của họ cũng là linh đạo gia đình.
Trong nhiều nền văn hóa Á Đông, chiều kích thân tộc này đặc biệt quan trọng. Con người không chỉ là cá nhân đứng riêng. Một đám cưới nối hai gia đình. Một người bệnh kéo cả họ vào chăm sóc. Một cái chết quy tụ những người đã xa nhau nhiều năm. Điều ấy có vẻ đẹp lớn nhưng cũng có nguy cơ lớn. Mạng lưới thân tộc có thể nâng đỡ, cũng có thể kiểm soát. Cha mẹ có thể hy sinh rất nhiều cho con nhưng rồi dùng hy sinh ấy như món nợ. Anh chị em có thể thương nhau nhưng bị tiền thừa kế làm tan vỡ. Gia đình lớn có thể bảo vệ các thành viên, nhưng cũng có thể che giấu bạo hành vì sợ “xấu mặt”. Linh đạo gia đình phải thanh luyện cả những truyền thống tốt. Hiếu thảo là Tin Mừng khi nó phục vụ phẩm giá con người. Nó không còn là Tin Mừng khi biến thành áp lực khiến người trẻ không được sống ơn gọi chân thật của mình hoặc buộc nạn nhân phải im lặng để giữ danh dự dòng họ.
Áp lực kinh tế hiện nay đang đặt các gia đình trước những thử thách mà nhiều ngôn ngữ mục vụ cũ chưa chạm tới đủ. Một cặp vợ chồng có thể yêu nhau thật nhưng kiệt sức vì nợ. Cha mẹ có thể muốn dành thời gian cho con nhưng làm hai việc mới đủ sống. Người trẻ di cư lên thành phố sống trong phòng trọ chật, làm ca đêm, ít gặp nhau. Có những người đi lao động xa nhiều năm, hôn nhân được duy trì bằng cuộc gọi video. Có những người mẹ gửi con cho ông bà để đi làm ở nơi khác. Có những người cha chỉ về nhà vài lần mỗi năm. Trong những hoàn cảnh ấy, nói “gia đình phải ăn cơm chung mỗi ngày” có thể đúng như một lý tưởng nhưng vô nghĩa với thực tế. Mục vụ cần đi vào chính những cấu trúc kinh tế đang làm gia đình bị kéo căng. Linh đạo cũng phải đi vào đó. Một người cha ở xa vẫn có thể giữ hiện diện bằng sự trung tín gọi về, hỏi chuyện con, không chỉ gửi tiền. Một người mẹ làm ca có thể tìm một nhịp nhỏ để cầu nguyện với con. Một đôi vợ chồng xa nhau địa lý cần đặt những ranh giới rất rõ về sự chung thủy, tiền bạc, thời gian và tương quan trên mạng. Ân sủng không thay thế những thực hành cụ thể.
Di dân cũng làm thay đổi cấu trúc gia đình. Ngày xưa nhiều gia đình sống gần nhau nhiều thế hệ. Nay công việc kéo người trẻ đi xa. Sự di chuyển mở ra cơ hội nhưng cũng cắt nhiều dây liên hệ tự nhiên. Một đứa trẻ lớn lên với ông bà trong khi cha mẹ ở nước ngoài có thể có đủ tiền nhưng thiếu cảm giác được cha mẹ hiện diện. Một người già có nhiều con thành đạt ở thành phố nhưng sống cô đơn ở quê. Một cặp vợ chồng trẻ đến nơi mới không có mạng lưới hỗ trợ, mỗi khi con bệnh là cả hệ thống sụp. Hội Thánh phải học nhìn những gia đình ấy không như những “trường hợp mục vụ” nhưng như chính Dân Chúa đang dịch chuyển. Giáo xứ không chỉ phục vụ những gia đình ổn định lâu đời. Nó phải biết đón những người thuê trọ, người lao động nhập cư, sinh viên, người làm việc xa quê, những bà mẹ đơn thân, những người sống một mình.
Mạng xã hội và điện thoại thông minh tạo thêm một dạng áp lực khác. Có những gia đình ở chung một phòng nhưng mỗi người sống trong một thế giới riêng. Bữa cơm có đủ bốn người nhưng cũng có bốn màn hình. Con cái biết rất rõ tâm trạng của một người nổi tiếng trên mạng nhưng không biết cha mình hôm nay có chuyện gì. Vợ chồng nằm cạnh nhau nhưng mỗi người cuộn một dòng tin khác. Cha mẹ đăng hình con liên tục nhưng lại ít trò chuyện riêng với con. Linh đạo gia đình hôm nay phải có cả một khổ chế kỹ thuật số. Không phải ghét công nghệ. Điện thoại giúp gia đình xa nhau giữ liên lạc, giúp ông bà thấy cháu, giúp người di dân nói chuyện với nhà, giúp nhiều gia đình học giáo lý và cầu nguyện. Nhưng công nghệ phải trở lại đúng địa vị là phương tiện. Một gia đình không có những khoảng không màn hình sẽ dần mất khả năng hiện diện sâu. Có lẽ một trong những thực hành thiêng liêng mới của gia đình là đặt điện thoại xuống khi một người thật đang nói.
Điều nguy hiểm của mạng không chỉ là thời gian. Nó còn là so sánh. Người ta nhìn thấy những gia đình được chọn lọc trên mạng: chuyến đi đẹp, bữa ăn đẹp, con cái giỏi, vợ chồng tặng hoa. Ít ai đăng ảnh lúc cãi nhau, lúc tài khoản gần hết, lúc con bị điểm kém, lúc cha mẹ mất ngủ vì lo. Vì vậy một người có thể nhìn cuộc sống được biên tập của người khác rồi khinh thường đời thật của mình. Linh đạo gia đình phải giải phóng người ta khỏi ảo tưởng rằng một gia đình tốt là một gia đình trông đẹp. Gia đình tốt là gia đình học yêu trong sự thật. Có thể nhà nhỏ, bữa ăn đơn giản, con cái không nổi bật, cha mẹ có những giới hạn, nhưng nếu nơi đó người ta được tôn trọng, có thể xin lỗi, được phép yếu đuối, được cầu nguyện cho nhau và được lớn lên trong tự do, nơi đó có một vẻ đẹp mà thuật toán không đo được.
Ly tán là một vết thương ngày càng thật. Có những gia đình tan vì lỗi nặng. Có những gia đình tan sau nhiều năm kiệt sức. Có người ly dị trong đau đớn. Có người bị bỏ rơi. Có người bước vào những hoàn cảnh hôn nhân rất phức tạp. Hội Thánh phải giữ cả sự thật về hôn nhân lẫn lòng thương xót đối với những người đã thất bại. Nếu chỉ nhấn sự thật mà không có lòng thương xót, cộng đoàn sẽ trở thành nơi người bị thương không dám bước vào. Nếu chỉ nói lòng thương xót mà không nói sự thật, Hội Thánh không còn giúp con người phân định. Người đang sống sau đổ vỡ vẫn cần được cầu nguyện, vẫn cần Lời Chúa, vẫn cần cộng đoàn, vẫn cần được nhìn như một người chứ không phải một hồ sơ luân lý. Con cái của các gia đình ly tán càng không được đối xử như những đứa trẻ “có vấn đề”. Chúng cần những người lớn đáng tin trong cộng đoàn, những tương quan ổn định, những nơi chúng không phải chọn phe.
Có những căn nhà không thể “ở lại” theo nghĩa vật lý vì sự an toàn đòi phải rời đi. Cần nói điều ấy thật rõ. Khi có bạo hành thân thể, bạo hành tình dục, đe dọa nghiêm trọng, nghiện ngập gây nguy hiểm, sự thận trọng Kitô giáo không bắt nạn nhân tiếp tục ở trong nguy hiểm để chứng minh lòng trung tín. Ở lại trong giao ước không đồng nghĩa với ở lại trong một căn phòng nơi nhân phẩm bị chà đạp. Có lúc bước ra là điều kiện để sự thật được phơi bày và để khả năng chữa lành bắt đầu. Cộng đoàn Kitô hữu phải trưởng thành đủ để không dùng những câu Kinh Thánh rời rạc ép một người trở về với kẻ đang làm hại họ. Linh đạo không phải nghệ thuật chịu đựng vô hạn. Nó là nghệ thuật sống trong sự thật trước mặt Chúa.
Cùng lúc, xã hội hôm nay cũng có nguy cơ ngược lại: biến mọi khó khăn thành lý do rời bỏ. Hai người khác tính không có nghĩa hôn nhân sai. Giai đoạn khô khan không có nghĩa tình yêu chết. Cảm giác không còn như ban đầu không có nghĩa giao ước hết giá trị. Nhiều cuộc hôn nhân cần được giúp để vượt qua một mùa khó chứ không phải được cổ vũ kết thúc quá sớm. Có những đôi vợ chồng đã đi qua thời kỳ tưởng không thể cứu, rồi vài năm sau nhìn lại mới thấy chính mùa ấy làm họ trưởng thành. Sự phân định cần cả can đảm ở lại lẫn can đảm rời nguy hiểm. Không thể có một công thức duy nhất áp vào mọi gia đình.
“Xin giúp” là một hành vi thiêng liêng mà nhiều gia đình phải học. Văn hóa gia đình thường thích giữ chuyện nhà trong nhà. Có phần tốt: bảo vệ đời tư. Nhưng có lúc sự kín đáo biến thành cô lập. Vợ chồng khủng hoảng không nói với ai. Người nghiện rượu được cả nhà che giấu. Một người trầm cảm bị bảo phải cố lên. Một đứa trẻ bị bạo hành nhưng mọi người sợ mang tiếng. Một đôi vợ chồng đang bên bờ tan vỡ chỉ tìm linh mục khi mọi thứ đã quá muộn. Linh đạo trưởng thành biết rằng ân sủng của Chúa nhiều lúc đến qua người khác. Qua một chuyên viên tâm lý tốt. Qua bác sĩ. Qua người đồng hành thiêng liêng. Qua một đôi vợ chồng lớn tuổi. Qua nhóm hỗ trợ. Qua một người bạn biết giữ bí mật. Xin giúp không phải dấu hiệu thất bại. Có khi nó là bước đầu của sự thật.
Điều đó đòi Hội Thánh cũng phải mở cửa về phía gia đình đổ vỡ. Một giáo xứ chỉ quen với những gia đình “đúng chuẩn” sẽ vô tình làm nhiều người đứng ngoài. Người góa bụa, người đơn thân, người ly thân, người nuôi con một mình, ông bà đang nuôi cháu, gia đình có người nghiện, gia đình có con bỏ đạo, gia đình có con đang khủng hoảng, gia đình có người ở tù, người di dân không giấy tờ, những người sống trong hôn nhân hỗn hợp — tất cả đều mang đến những câu chuyện phức tạp. Không phải hoàn cảnh nào cũng có thể được xác nhận như nhau về mặt luân lý. Nhưng mọi con người đều phải được đón bằng phẩm giá. Hội Thánh không được biến giáo lý thành cánh cửa đóng. Giáo lý phải là ánh sáng để người ta tìm đường.
Gia đình còn có một chức năng truyền giáo mà không cần treo bảng truyền giáo. Một ngôi nhà biết đón người cô đơn đã là một hình thức loan báo Tin Mừng. Một gia đình mời người hàng xóm nghèo ăn cùng, một đôi vợ chồng chăm sóc cha mẹ già với lòng kính trọng, một người mẹ không nói xấu chồng trước mặt con, một người cha xin lỗi con sau khi nóng giận — những điều ấy nói về Thiên Chúa. Trong một xã hội mà nhiều người mất niềm tin vào những lời lớn, chứng tá gia đình trở nên rất mạnh vì nó cụ thể. Người ta có thể tranh luận về giáo lý của Hội Thánh, nhưng họ khó phủ nhận vẻ đẹp của một đôi vợ chồng già vẫn chăm nhau. Họ có thể không hiểu bí tích, nhưng họ nhận ra một điều khác thường khi một gia đình mở cửa đón một người không thân thích trong lúc khó khăn.
Tuy nhiên gia đình Kitô hữu không được đóng kín thành một pháo đài đạo đức. “Nhà tôi bình an là đủ” chưa phải Tin Mừng. Gia đình được ban cho nhau để rồi cùng mở ra. Trẻ em cần học rằng bàn ăn nhà mình có chỗ cho khách. Tiền bạc nhà mình có một phần cho người khác. Thời gian của gia đình không chỉ phục vụ giải trí nội bộ. Có những gia đình rất đạo nhưng mọi nguồn lực chỉ quay vào con cái mình: học thêm, thành tích, tài sản, tương lai. Tin Mừng mời mở rộng cái “chúng ta”. Một gia đình sống bác ái sẽ dạy con về xã hội tốt hơn nhiều bài nói. Đứa trẻ thấy cha mẹ kính trọng người giúp việc, trả lương công bằng, không gian lận, giúp một người nghèo kín đáo sẽ học một nền thần học xã hội mà sách vở khó truyền.
Gia đình cũng là nơi ơn gọi được nghe. Không phải theo nghĩa cha mẹ phải thúc con đi tu hay lấy chồng lấy vợ. Ơn gọi được nghe khi một đứa trẻ lớn lên với cảm giác rằng đời mình là câu trả lời cho Chúa, không phải một dự án thành công cá nhân. Cha mẹ có một sứ mạng rất tế nhị: giúp con tìm điều Chúa muốn chứ không phải biến ý mình thành ý Chúa. Có cha mẹ rất vui nếu con thành bác sĩ nhưng thất vọng nếu con chọn nghề ít danh giá hơn. Có người muốn con đi tu vì thấy đó là vinh dự gia đình. Có người lại ngăn con vì sợ mất chỗ dựa. Linh đạo gia đình đòi cha mẹ cũng phải buông con vào tay Chúa. Đó có thể là một trong những sự từ bỏ lớn nhất của tình phụ mẫu.
Khi con cái trưởng thành, gia đình phải chuyển từ cai quản sang đồng hành. Đây là bước rất khó. Cha mẹ từng quyết định gần như mọi thứ cho một đứa trẻ, rồi đến lúc phải chấp nhận một người trưởng thành có lựa chọn riêng. Nếu không chuyển được, tình thương dễ biến thành can thiệp. Con trưởng thành lại phải học tự do có trách nhiệm: không nhân danh độc lập để bỏ mặc cha mẹ. Mối quan hệ mới cần được thiết lập, không còn là người ra lệnh và người phải nghe, mà là những người trưởng thành liên hệ trong kính trọng. Có những gia đình đau khổ nhiều năm chỉ vì không ai nhận ra cấu trúc quan hệ đã cần thay đổi.
Rồi đến lúc cha mẹ yếu đi và vai trò đảo ngược. Người con từng được cha dắt tay nay phải dắt cha đi. Người mẹ từng nhớ mọi lịch tiêm của con nay hỏi đi hỏi lại một câu. Đây là một mầu nhiệm rất sâu của gia đình: thời gian dần đổi vị trí nhưng tình yêu vẫn nối. Người chăm sóc cha mẹ già nhiều khi mang những cảm xúc trái ngược: thương, mệt, bực, tội lỗi, buồn. Không nên thiêng liêng hóa đến mức cấm những cảm xúc ấy. Yêu một người không có nghĩa không bao giờ thấy họ nặng nề. Chính trong việc tiếp tục chăm sóc dù có lúc rất mệt, tình yêu được thanh luyện khỏi hình ảnh đẹp về chính mình.
Cái chết cuối cùng cũng bước vào mọi gia đình. Không một gia đình nào giữ được nguyên đội hình mãi mãi. Ông bà mất. Cha mẹ mất. Có gia đình đau đớn hơn khi mất con. Có người mất bạn đời sau hàng chục năm sống chung rồi phải học một căn nhà mới với một chiếc ghế trống. Linh đạo gia đình phải chuẩn bị con người cho cả chia ly. Đức tin phục sinh không làm tang chế ngắn đi. Nó không bắt người ta cười khi đang đau. Nó cho phép khóc với hy vọng. Những nghi thức cầu nguyện, Thánh lễ an táng, ngày giỗ, việc nhớ người đã mất là những cách Hội Thánh giúp gia đình đặt cái chết vào một câu chuyện lớn hơn. Người đã chết không bị xóa khỏi gia đình. Mối tương quan được trao vào trong sự hiệp thông các thánh.
Có lẽ vì thế gia đình là nơi tốt nhất để hiểu rằng linh đạo giáo dân không phải một môn học bổ sung cho đời sống. Nó chính là cách sống đời sống đã được trao. Nơi khác người ta có thể chọn giờ cầu nguyện. Trong gia đình, nhiều hy sinh không được chọn. Con bệnh không hỏi lịch tĩnh tâm. Cha mẹ già không chờ khi ta hết bận. Xung đột không đến đúng giờ thuận tiện. Chính những gián đoạn ấy có thể trở thành lời mời. Không phải cứ bị gián đoạn là nên thánh. Có người chỉ trở nên cay đắng. Nhưng nếu đón nhận chúng trong ân sủng, người giáo dân dần học một dạng sẵn sàng rất gần với Đức Kitô: đời tôi không hoàn toàn thuộc chương trình của tôi.
Gia đình do đó không phải chỗ trú ẩn khỏi thế giới. Nó là một trong những nơi thế giới được cứu từ bên trong. Những con người học trung tín trong nhà sẽ mang trung tín ra xã hội. Người học xin lỗi trong gia đình sẽ bớt độc đoán ở công sở. Người học chăm người yếu sẽ nhìn khác về người nghèo. Đứa trẻ lớn lên trong một nhà có sự thật và lòng thương xót có nhiều khả năng xây những tương quan lành mạnh hơn. Ngược lại, những vết thương gia đình không được chữa cũng thường đi theo con người ra xã hội. Người ta mang cách cha mẹ đối xử với nhau vào hôn nhân mình. Mang sự khinh miệt đã học ở nhà vào nơi làm việc. Mang nỗi sợ bị bỏ vào mọi mối quan hệ. Vì vậy chăm sóc gia đình không chỉ là mục vụ riêng tư. Nó có hậu quả xã hội rất lớn.
Không nên vì thế thần tượng hóa gia đình đến mức biến nó thành tuyệt đối. Gia đình cũng phải ở dưới Nước Chúa. Có lúc trung thành với Tin Mừng khiến một người phải không làm theo áp lực gia đình. Đức Giêsu yêu gia đình nhưng Người cũng mở gia đình ra: ai thi hành ý Cha là anh chị em của Người. Điều này giải phóng gia đình khỏi việc biến huyết thống thành ngẫu tượng. Gia đình là quà tặng lớn nhưng không phải Thiên Chúa. Có gia đình dùng tình thân để ép người khác gian lận, bao che, trả thù, giữ quyền lợi. Người Kitô hữu phải biết nói không. Tình yêu gia đình chỉ thật sự lành mạnh khi được đặt trong một tình yêu lớn hơn.
Vì vậy linh đạo gia đình có thể được tóm lại bằng vài động từ rất bình thường: ở lại, lắng nghe, nuôi dưỡng, tha thứ, bảo vệ, buông, mở cửa, xin giúp, cầu nguyện, bắt đầu lại. Không động từ nào trong số đó gây ấn tượng. Nhưng chính chúng làm nên hàng triệu cuộc đời thánh thiện không có tiểu sử. Có những bà mẹ sẽ không bao giờ được ai biết tên ngoài gia đình mình nhưng đã giữ đức tin cho ba thế hệ. Có những người cha nói ít nhưng cả đời làm việc ngay thẳng để con cái không phải ăn đồng tiền gian. Có những người con bỏ rất nhiều cơ hội để chăm cha mẹ cuối đời. Có những người độc thân trở thành chỗ dựa cho cả dòng họ. Có những đôi vợ chồng đã tha thứ cho nhau điều mà người ngoài không bao giờ biết. Hội Thánh được xây bằng rất nhiều vật liệu vô danh như thế.
Nếu muốn biết linh đạo giáo dân có thật hay không, đừng chỉ nhìn số người trong các hội đoàn. Hãy nhìn cách một người trở về nhà sau cuộc họp giáo xứ. Đừng chỉ nghe họ nói hay thế nào về bác ái. Hãy xem họ đối xử với cha mẹ già. Đừng chỉ đếm những giờ họ phục vụ nhà thờ. Hãy hỏi con cái có gặp được nơi cha mẹ một khuôn mặt của lòng thương xót không. Đừng chỉ hỏi đôi vợ chồng có đọc kinh chung không. Hãy xem họ có biết xin lỗi và biết tôn trọng nhau không. Đừng chỉ hỏi gia đình có treo ảnh Thánh Tâm không. Hãy xem trong căn nhà ấy người yếu nhất có được bảo vệ không.
Một Hội Thánh muốn phục hồi linh đạo giáo dân phải bắt đầu coi gia đình không phải là một trong nhiều “đối tượng mục vụ”, nhưng là nơi căn bản của đời sống Kitô hữu. Giáo xứ không nên kéo tất cả người lớn ra khỏi nhà hết tối này đến tối khác để chứng minh họ nhiệt thành. Có khi một người cha từ chối thêm một cuộc họp để ở nhà với con mới chính là chọn lựa thiêng liêng đúng. Một người mẹ không tham gia được nhiều sinh hoạt vì đang chăm cha mẹ già không phải là người kém dấn thân. Một đôi vợ chồng dành tối cuối tuần để nói chuyện với nhau có thể đang bảo vệ một bí tích. Mục vụ lành mạnh phải biết phân biệt giữa phục vụ Hội Thánh và làm cho gia đình kiệt sức vì các hoạt động Hội Thánh.
Cũng vậy, các linh mục và cộng đoàn phải học nghe gia đình. Người làm mục vụ không thể chỉ nói với gia đình từ bục giảng. Phải nghe người cha thất nghiệp, người mẹ có con nghiện, cặp vợ chồng hiếm muộn, ông bà nuôi cháu, người trẻ sợ kết hôn vì đã thấy quá nhiều đổ vỡ, người độc thân bị coi như chưa ổn định, người ly dị ngại bước vào nhà thờ. Những kinh nghiệm ấy không thay thế giáo huấn của Hội Thánh, nhưng chúng giúp Hội Thánh công bố giáo huấn bằng ngôn ngữ của đời thật. Một thần học gia đình không nghe các gia đình sẽ dễ trở thành lý thuyết về những con người tưởng tượng.
Gia đình hôm nay thật sự chịu rất nhiều sức ép: kinh tế, di dân, nhà ở, công việc, công nghệ, chủ nghĩa cá nhân, văn hóa tiêu thụ, sự bất ổn trong các tương quan. Không có lợi gì khi giả vờ rằng mọi thứ vẫn như xưa. Nhưng cũng không nên bi quan như thể gia đình đã hết thời. Con người vẫn cần một nơi thuộc về. Trẻ em vẫn cần những người lớn trung tín. Người già vẫn cần một bàn tay quen. Người đau vẫn cần ai đó nhớ mình thích uống nước ấm hay lạnh. Không nền tảng nào thay thế hoàn toàn được mái nhà nơi con người được biết bằng tên và bằng lịch sử.
Tin Mừng không đưa cho gia đình một công thức để tránh mọi đổ vỡ. Tin Mừng trao Đức Kitô. Người đã sống trong một gia đình. Người biết thân phận người con, biết lao động, biết thân tộc, biết đám cưới, biết tang chế. Người bước vào nhà ông Phêrô, nhà Dakêu, nhà Martha, Maria và Lazarô. Người để cho đời sống gia đình trở thành một trong những không gian của mạc khải. Và cuối cùng trên thập giá, Người còn trao Mẹ mình cho người môn đệ và người môn đệ cho Mẹ. Ngay trong giờ chết, Người tạo một gia đình mới.
Bởi thế, khi nói gia đình là nơi linh đạo giáo dân thành thịt, ta không dùng một hình ảnh văn chương. Ta nói điều rất sát với mầu nhiệm Nhập Thể. Thiên Chúa cứu con người không từ xa. Người bước vào một mái nhà, có mẹ, có cha nuôi, có họ hàng, có làng xóm. Ân sủng vẫn đi con đường ấy. Nó bước vào các căn hộ thành phố, những nhà trọ công nhân, những ngôi nhà quê có ba thế hệ, những gia đình chỉ còn một cha hoặc một mẹ, những căn phòng bệnh viện, những cuộc gọi từ xa, những bữa cơm không hoàn hảo. Và ở đó, giữa những con người còn nhiều giới hạn, Đức Kitô tiếp tục làm điều Người vẫn làm: biến nước thường thành rượu mới, biến sự trung tín nhỏ bé thành dấu chỉ giao ước, biến một mái nhà mong manh thành nơi Nước Thiên Chúa bắt đầu có hình hài.
CHƯƠNG 21. LAO ĐỘNG, NGHỀ NGHIỆP, DOANH NGHIỆP
Một trong những sai lầm dai dẳng nhất khi nói về đời sống thiêng liêng của người giáo dân là vô tình tách đời sống đạo ra khỏi lao động, như thể phần thuộc về Chúa nằm ở nhà thờ, trong giờ kinh, trong việc bác ái, trong hội đoàn, còn tám hay mười tiếng mỗi ngày ở văn phòng, nhà máy, bệnh viện, trường học, cửa hàng, công trường, ruộng đồng, phòng thí nghiệm, xưởng cơ khí, quầy thuốc hay trước màn hình máy tính chỉ là khoảng thời gian phải chịu đựng để kiếm sống. Nếu nghĩ như vậy thì phần lớn cuộc đời người giáo dân bị đặt ra ngoài linh đạo. Một người thức mười sáu tiếng mỗi ngày, trong đó tám tiếng làm việc, hai tiếng di chuyển, nhiều giờ lo gia đình, nhưng lại chỉ được dạy rằng đời thiêng liêng nằm trong mười lăm phút đọc kinh thì chẳng khác nào bảo họ rằng Thiên Chúa chỉ quan tâm đến một góc rất nhỏ trong ngày của họ. Đó không phải cái nhìn Kitô giáo về con người, cũng không phải cái nhìn của mầu nhiệm Nhập Thể. Con Thiên Chúa đã làm người thật, sống trong một gia đình thật, trong một làng nhỏ thật, giữa một nền kinh tế thật, bằng đôi tay con người thật. Truyền thống Kitô giáo không hề xấu hổ khi gọi Đức Giêsu là người thợ Nazareth. Trước khi giảng dạy trên núi, trước khi chữa người bệnh, trước khi tranh luận trong Đền Thờ, trước khi bước lên đường công khai loan báo Nước Thiên Chúa, Người đã sống nhiều năm trong âm thầm của một đời lao động bình thường. Chỉ điều ấy thôi đã đủ phá tan quan niệm cho rằng công việc bình thường là vùng thấp hơn của đời sống Kitô hữu. Lao động không phải một tai nạn nằm bên lề ơn gọi nên thánh. Trong mức độ nó phù hợp với phẩm giá con người và phục vụ thiện ích, lao động là một trong những nơi rất thật mà người giáo dân gặp Thiên Chúa, phục vụ tha nhân, rèn luyện chính mình và góp phần làm cho tạo thành đạt tới trật tự mà Thiên Chúa muốn.
Ngay từ trình thuật Sáng thế, con người được đặt trong một thế giới không hoàn tất theo nghĩa mọi thứ đã đóng kín. Thiên Chúa trao cho con người một tạo thành tốt đẹp nhưng cũng trao trách nhiệm canh tác, gìn giữ, đặt tên, khai mở các khả năng của thế giới. Bởi đó lao động có trước tội lỗi. Điều này rất quan trọng. Kinh Thánh không dạy rằng lao động là hình phạt của tội. Điều phát sinh bởi tội là sự nhọc nhằn, đổ vỡ, cạnh tranh, thống trị, bất công, mồ hôi cay đắng, tương quan bị méo mó giữa con người và đất, giữa người với người, giữa người làm và sản phẩm mình làm. Lao động tự nó thuộc về phẩm giá của con người được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa. Con người làm việc vì con người có khả năng nhận ra một điều chưa có rồi làm cho nó có; thấy một nhu cầu rồi đáp lại; thấy một cánh đồng rồi gieo; thấy một căn bệnh rồi nghiên cứu chữa trị; thấy một đứa trẻ chưa biết chữ rồi kiên trì dạy nó đọc; thấy một con đường chưa có rồi thiết kế; thấy một cộng đồng cần tổ chức rồi xây dựng cơ cấu; thấy một ý tưởng rồi biến thành sản phẩm, dịch vụ hay tác phẩm nghệ thuật. Trong lao động chân chính có một dấu vết của khả năng sáng tạo mà Thiên Chúa đã đặt trong con người. Dĩ nhiên con người không sáng tạo từ hư vô như Thiên Chúa, nhưng con người đón nhận vật liệu, trí tuệ, thời gian, khả năng và những quy luật có sẵn trong tạo thành rồi cộng tác vào việc làm cho những tiềm năng ấy sinh hoa trái. Vì vậy, người giáo dân không nên nhìn nghề nghiệp của mình chỉ bằng hai câu hỏi: việc này trả bao nhiêu tiền và có giúp tôi thăng tiến hay không. Hai câu hỏi ấy hợp pháp nhưng không đủ. Câu hỏi sâu hơn là: qua công việc này, tôi đang làm cho thế giới trở nên nhân bản hơn hay ít nhân bản hơn? Tôi đang phục vụ sự sống hay khai thác sự sống? Tôi đang làm cho sự thật sáng hơn hay làm cho giả dối tinh vi hơn? Tôi đang tạo ra của cải thực hay chỉ chuyển của cải từ túi người yếu sang túi người mạnh? Tôi đang làm cho người khác có thể sống tốt hơn hay đang dùng sự mong manh của họ để sinh lợi? Tôi đang cộng tác với công trình tạo dựng hay đang tiêu thụ tạo thành như thể không có ngày mai?
Mầu nhiệm cứu chuộc còn đưa lao động đi xa hơn. Sau tội lỗi, lao động mang thương tích. Có những công việc khiến người ta mệt đến mức không còn sức nhìn mặt con. Có những nơi người lao động bị tính như một con số trong bảng chi phí. Có người phải làm những việc vô nghĩa đối với họ chỉ để sống sót. Có người làm tốt nhưng không được công nhận. Có người bị cấp trên cướp công. Có người phải nín nhịn những điều nhục nhã vì đang nuôi cả gia đình. Có người bị mất việc ở tuổi mà xin việc mới rất khó. Có người xây dựng một doanh nghiệp mười năm rồi nhìn nó đổ xuống vì một khủng hoảng mình không gây ra. Có người chăm bệnh nhân suốt đêm nhưng sáng về lại bị người nhà bệnh nhân trách móc. Có người giáo viên dạy điều đúng nhưng phải sống trong một hệ thống chuộng thành tích. Có người công nhân làm ra sản phẩm mình không đủ tiền mua. Kitô giáo không lãng mạn hóa những điều đó. Không được nói nhẹ rằng tất cả lao động đều đẹp rồi bỏ qua bóc lột. Không được lấy câu “hãy vác thập giá” để bắt người lao động im miệng trước bất công. Không được bảo một người bị đối xử tệ rằng họ cứ nhẫn nhịn là đủ. Thập giá Đức Kitô không hợp thức hóa áp bức. Trái lại, chính vì Đức Kitô đã đứng về phía con người bị hạ thấp mà người Kitô hữu phải đấu tranh để lao động phục vụ con người chứ không nghiền nát con người. Tuy nhiên, trong thế giới chưa được chữa lành hoàn toàn này, lao động vẫn mang những giới hạn và đau đớn mà người tín hữu có thể kết hợp với mầu nhiệm Vượt Qua. Những mỏi mệt không tránh được, những trách nhiệm phải gánh vì yêu thương, sự kiên trì trong điều tốt dù không được khen, sự hy sinh của cha mẹ để con cái được học hành, sự trung thành của người lao động ngay cả khi công việc không hấp dẫn, sự cố gắng làm đúng trong một môi trường dễ gian dối, tất cả có thể trở thành lễ tế thiêng liêng khi được dâng trong Đức Kitô. Không phải vì đau khổ tự nó thánh, nhưng vì tình yêu có thể biến đau khổ không tránh được thành hiến lễ. Không phải vì thất bại tự nó cứu độ, nhưng vì một thất bại được sống trong đức tin có thể thanh luyện khỏi ảo tưởng rằng giá trị của ta bằng thành tích của ta.
Nói người giáo dân “nên thánh trong nghề nghiệp” phải hiểu mạnh hơn câu “đi làm mà vẫn nhớ Chúa”. Nhớ Chúa là cần, nhưng chưa đủ. Nên thánh trong nghề nghĩa là chính cách hành nghề phải được Tin Mừng thấm vào. Một bác sĩ không nên thánh chỉ vì trước giờ khám có đọc kinh. Người ấy nên thánh bằng cách khám bệnh như một Kitô hữu: nhìn bệnh nhân là người chứ không phải ca bệnh; tôn trọng thân xác và sự sống; không lợi dụng nỗi sợ của người bệnh để chỉ định điều không cần; không coi bệnh nhân nghèo là người hạng hai; biết giới hạn chuyên môn của mình; không biến y khoa thành thương mại thuần túy; nói sự thật cách nhân ái; tôn trọng bí mật; không để lợi ích của hãng dược hay áp lực doanh thu thắng lương tâm. Một y tá nên thánh không phải bằng cách dán ảnh thánh lên tủ cá nhân, nhưng bằng cách không cáu gắt với người già hỏi một câu lần thứ năm, bằng sự cẩn thận với một liều thuốc, bằng thái độ bảo vệ người bệnh yếu thế, bằng lòng thương không biến thành tùy tiện chuyên môn. Một dược sĩ sống ơn gọi Kitô hữu không bán thuốc chỉ vì khách đòi khi biết việc ấy nguy hiểm, không tư vấn theo mức hoa hồng cao nhất, không coi sức khỏe người khác là thị trường để tối ưu doanh số. Đó là linh đạo nghề nghiệp.
Một giáo viên không nên thánh chỉ vì dạy ở trường Công giáo hay đọc kinh trước lớp. Giáo viên nên thánh bằng cách yêu sự thật, không bóp điểm vì áp lực, không phân biệt học sinh theo tiền bạc hay thành tích, không làm nhục một em yếu trước lớp, không dùng kiến thức để phô trương quyền lực, không biến nghề dạy thành việc bán điểm hoặc bán lớp học thêm, không nuôi dưỡng sự gian trá dưới tên gọi thành tích. Người thầy có thể nói rất nhiều về đạo đức nhưng nếu dạy học sinh rằng chỉ cần điểm cao bất kể cách nào thì chính hệ thống giáo dục ấy đang truyền một thứ phản Tin Mừng. Ngược lại, một giáo viên dạy toán rất bình thường nhưng tập cho học sinh trung thực với một bài chưa biết làm, dạy chúng tôn trọng bạn yếu hơn, dạy chúng rằng sai không phải nhục nhưng gian dối mới đáng xấu hổ, người đó đang làm một công việc có chiều kích luân lý rất sâu. Người giáo dân là thầy giáo không cần biến giờ toán thành giờ giáo lý để sống sứ mạng. Có khi điều Tin Mừng nhất người ấy làm trong ngày là từ chối sửa điểm giả cho một học sinh có phụ huynh quyền thế.
Một người làm kinh doanh cũng vậy. Thương gia Kitô hữu không nên được nhận ra trước hết bằng tượng thánh trong văn phòng, lời chúc Giáng Sinh gửi khách hàng hay khoản tiền dâng cho giáo xứ. Những điều ấy có thể tốt, nhưng bài kiểm tra thật nằm trong hợp đồng, hóa đơn, chất lượng sản phẩm, cách quảng cáo, cách trả nợ, cách xử lý khi hàng hóa có lỗi, cách ứng xử với khách hàng ít quyền lực và cách chia rủi ro với đối tác. “Thương gia không bán lòng tin” là một nguyên tắc rất sâu. Mọi thị trường đều sống nhờ một mức tin cậy nào đó. Người mua không thể tự kiểm nghiệm mọi thành phần trong thực phẩm. Người thuê nhà không thể tháo cả căn nhà ra để kiểm tra. Khách hàng không thể đọc hết hàng trăm trang điều khoản. Nhà đầu tư không thể nhìn thấy mọi thứ bên trong công ty. Vì thế kinh tế vận hành trên một thứ vốn vô hình là niềm tin. Khi doanh nghiệp nói dối, che lỗi, quảng cáo nhập nhằng, viết điều khoản để bẫy người ít hiểu, đánh tráo chất lượng, tạo đánh giá giả, thổi phồng hiệu quả, người ta không chỉ lấy tiền bất chính. Người ta còn phá vốn xã hội. Một xã hội mà ai cũng nghi người khác đang lừa mình sẽ phải chi phí khổng lồ để kiểm soát, kiện tụng, bảo hiểm, xác minh, giám sát. Bởi vậy sự thật trong kinh doanh không phải một món trang sức đạo đức. Nó là điều kiện để kinh tế phục vụ công ích.
Người công nhân cũng không phải một “chi phí lao động”. Ngôn ngữ kinh tế đôi khi cần những thuật ngữ kỹ thuật để tính toán, nhưng Kitô hữu phải cảnh giác khi ngôn ngữ kỹ thuật trở thành cách nhìn con người. Trên bảng tính, lương nằm trong cột chi phí. Trong thực tại, người nhận đồng lương ấy là một người cha đang trả học phí cho con, một người mẹ mua thuốc cho cha già, một thanh niên đang cố gây dựng tương lai, một gia đình đang trả tiền thuê nhà. Bởi đó quyết định nhân sự luôn có chiều kích luân lý, ngay cả khi nó cũng là quyết định kinh tế. Có lúc doanh nghiệp buộc phải cắt giảm nhân sự để sống còn. Kitô giáo không đòi một công ty giữ mọi vị trí đến lúc phá sản. Nhưng cách cắt giảm cho thấy doanh nghiệp tin con người là gì. Người ta có thông báo tôn trọng không? Có cho thời gian hợp lý không? Có trả đầy đủ những gì đã cam kết không? Có cố gắng giảm thiệt hại cho người yếu hơn không? Có biến một nhân viên đã phục vụ nhiều năm thành một dòng bị xóa trong phần mềm không? Có dùng lý do giả để tránh trách nhiệm không? Có bắt những người còn lại gánh công việc gấp đôi mà không điều chỉnh điều kiện không? Không phải mọi sa thải đều bất công. Nhưng mọi sa thải đều liên quan đến một con người, vì thế không bao giờ chỉ là thao tác quản trị.
Đối với chủ doanh nghiệp Công giáo, trách nhiệm càng nặng. Chủ doanh nghiệp có một quyền rất đặc biệt: những quyết định của họ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống nhiều gia đình. Quyền ấy có thể tạo việc làm, nuôi sống người, mở cơ hội học nghề, tạo sản phẩm hữu ích, phát triển địa phương và phục vụ xã hội. Nhưng quyền ấy cũng có thể làm điều ngược lại: ép lương, khai thác lao động, phá môi trường, thao túng khách hàng, mua ảnh hưởng, đẩy rủi ro xuống người yếu, giữ lợi nhuận cho mình nhưng xã hội hóa thiệt hại. Vì vậy doanh nhân Công giáo không thể tách đức tin ra khỏi bảng lương. Tiền lương không chỉ là giá thị trường của sức lao động. Nó liên quan đến phẩm giá và khả năng sống của người lao động. Dĩ nhiên có những giới hạn thực tế: doanh nghiệp không thể trả những gì mình không có; mức lương còn tùy năng suất, ngành nghề, khu vực, khả năng tồn tại của công ty. Nhưng một nguyên tắc phải được giữ: con người không tồn tại cho doanh nghiệp; doanh nghiệp tồn tại trong xã hội để phục vụ những thiện ích của con người. Lợi nhuận cần thiết như máu cần cho cơ thể, nhưng cơ thể không tồn tại để tạo ra máu. Một doanh nghiệp không có lợi nhuận lâu dài sẽ chết; nhưng một doanh nghiệp coi lợi nhuận là mục tiêu tuyệt đối cũng đã chết theo một nghĩa khác, vì nó mất linh hồn luân lý.
Điều kiện làm việc là một lĩnh vực khác mà đời sống thiêng liêng phải bước vào. Một chủ Công giáo không thể tổ chức giờ chầu cho nhân viên rồi bắt họ làm việc trong điều kiện không an toàn. Không thể tài trợ lễ bổn mạng rất lớn mà nhà vệ sinh công nhân không đủ tiêu chuẩn. Không thể treo Thánh giá trong phòng họp nhưng tạo văn hóa trong đó người nữ bị quấy rối mà không dám nói. Không thể tổ chức tĩnh tâm hằng năm mà nhân viên phải luôn trực điện thoại ngoài giờ vì cấp trên cho rằng lương đã mua cả đời họ. Không thể kêu gọi nhân viên sống gia đình tốt rồi xây hệ thống khiến họ không bao giờ ăn tối với gia đình. Không phải mọi công việc đều có thể theo giờ hành chính đẹp đẽ; bệnh viện, vận tải, an ninh, nhà máy, dịch vụ đều có ca kíp. Nhưng ngay trong các yêu cầu ấy, người quản lý Kitô hữu vẫn phải hỏi: chúng ta đang dùng thời gian của con người như của cải vô chủ hay đang tôn trọng giới hạn của thân xác và gia đình? Ngày nghỉ không phải sự lãng phí. Giới hạn giờ làm không phải sự yếu đuối. Một nền kinh tế cần nghỉ ngơi vì con người không phải máy. Chính ngày Sabát trong truyền thống Kinh Thánh nhắc rằng không ai được sở hữu trọn vẹn thời gian của người khác, và ngay cả đất cũng cần được nghỉ.
Môi trường cũng thuộc trách nhiệm nghề nghiệp của người giáo dân. Một người Công giáo không thể cầu nguyện cho công trình tạo dựng nhưng ký những giấy tờ mà mình biết sẽ đầu độc nguồn nước chỉ vì việc đó hợp pháp. Luật pháp đặt ra mức tối thiểu cần thiết, nhưng lương tâm đôi khi đòi cao hơn mức tối thiểu. Có những hành vi đúng luật mà vẫn thiếu đạo đức. Có những cách khai thác tài nguyên hợp lệ trên giấy nhưng chuyển toàn bộ chi phí sang thế hệ sau. Có sản phẩm rẻ vì giá thật của nó được trả bởi một con sông ô nhiễm, một cộng đồng bị bệnh hoặc những người lao động ở nơi xa không có khả năng lên tiếng. Người giáo dân làm trong kỹ thuật, sản xuất, xây dựng, năng lượng, nông nghiệp hay đầu tư phải học nhìn chuỗi hậu quả dài hơn lợi nhuận quý này. Không ai một mình cứu được môi trường, nhưng cũng không ai được dùng sự nhỏ bé của mình làm cớ để không chịu trách nhiệm về phần mình biết và có thể làm.
Sự thật trong quảng cáo là một trường nên thánh đặc biệt của thời kinh tế chú ý. Quảng cáo luôn có chức năng thuyết phục, và thuyết phục không tự nó là xấu. Nhưng giữa thuyết phục và thao túng có một ranh giới. Khi người làm truyền thông cố tình khai thác nỗi sợ của cha mẹ, sự tự ti của người trẻ, mặc cảm thân hình của phụ nữ, nỗi cô đơn của người già hay sự thiếu hiểu biết của người nghèo để bán thứ họ không cần, hoạt động kinh tế đã đi vào một vùng luân lý nghiêm trọng. Công nghệ số còn làm vấn đề sắc hơn. Doanh nghiệp biết người dùng nhìn gì, dừng ở đâu, yếu lòng lúc nào, dễ mua gì. Khả năng hiểu hành vi tăng lên thì trách nhiệm đạo đức cũng phải tăng theo. Không thể nói: thuật toán tự làm. Thuật toán được thiết kế, huấn luyện, triển khai và tối ưu theo mục tiêu con người đặt. Nếu mục tiêu duy nhất là giữ người dùng trên màn hình lâu nhất bất kể hậu quả, thì vấn đề đã nằm trong mục tiêu trước khi nằm trong công nghệ. Một người Công giáo làm sản phẩm số phải hỏi những câu khó: tính năng này có phục vụ người dùng hay khai thác sự lệ thuộc của họ? Chúng ta có đang cố tình làm trẻ em khó rời ứng dụng? Chúng ta có đang che nút hủy dịch vụ? Chúng ta có thiết kế để người già bấm nhầm? Chúng ta có bán dữ liệu theo cách người dùng không thực sự hiểu? Không phải mọi thứ có thể tối ưu đều nên được tối ưu.
Đời sống nghề nghiệp cũng đặt người giáo dân trước vấn đề quyền lực. Không phải chỉ chính trị gia mới có quyền lực. Người quản lý có quyền lực trên lịch làm việc, đánh giá, cơ hội thăng tiến và thu nhập của người khác. Giáo viên có quyền lực trên học sinh. Bác sĩ có quyền lực trên người bệnh vì chênh lệch kiến thức. Kỹ sư có quyền lực vì quyết định kỹ thuật của họ có thể ảnh hưởng đến an toàn của hàng nghìn người. Kế toán có quyền lực vì biết những điều người khác không biết. Người làm nhân sự giữ những thông tin rất riêng của nhân viên. Người làm truyền thông có quyền lực trong việc tạo hình ảnh người khác. Linh đạo giáo dân phải dạy người ta xét mình về cách dùng quyền lực nghề nghiệp. Tôi có thích làm người khác sợ không? Tôi có dùng sự phụ thuộc của họ để đòi điều không chính đáng không? Tôi có thiên vị người biết nịnh không? Tôi có trả đũa người góp ý không? Tôi có giữ bí mật đúng chỗ không? Tôi có dùng thông tin nội bộ để trục lợi không? Tôi có làm cho người dưới quyền lớn lên hay cố giữ họ nhỏ để mình dễ kiểm soát? Một người có thể rất đạo đức trong đời tư mà rất tàn nhẫn khi làm sếp. Đời sống Kitô hữu không cho phép chia đôi như thế.
Tiền bạc cũng không thể tách khỏi linh đạo nghề nghiệp. Tiền không xấu. Tiền là công cụ mạnh để trao đổi, tích lũy, đầu tư, dự phòng, giúp đỡ và tổ chức đời sống xã hội. Nhưng tiền có khả năng trở thành một ngôn ngữ tuyệt đối khiến mọi sự bị quy thành giá. Khi đó người ta bắt đầu hỏi không phải “điều này có đúng không?” mà “điều này có lời không?”, không hỏi “người này cần gì?” mà “người này đáng giá bao nhiêu?”, không hỏi “tôi đủ chưa?” mà “tôi hơn người kia chưa?”. Người giáo dân sống giữa kinh tế thị trường cần một sự tự do nội tâm rất lớn. Có thể sở hữu nhiều mà không để tài sản sở hữu mình. Có thể kiếm lời mà không tôn thờ lợi nhuận. Có thể muốn thành công mà không biến thành công thành căn tính. Có thể phát triển doanh nghiệp mà vẫn biết dừng ở những giới hạn luân lý. Một trong những dấu chỉ trưởng thành thiêng liêng của doanh nhân không phải là họ cho đi bao nhiêu sau khi đã kiếm được tiền, nhưng là có những khoản tiền nào họ từ chối kiếm ngay từ đầu. Bác ái sau lợi nhuận không xóa được bất công trong cách tạo lợi nhuận. Không thể bóc lột mười người rồi dùng một phần tiền ấy giúp người nghèo và gọi đó là trách nhiệm Kitô hữu. Công lý đi trước từ thiện. Điều người lao động đáng được nhận theo công bằng không thể được thay bằng quà Tết tùy lòng tốt.
Một cám dỗ khác là biến nghề nghiệp thành căn tính toàn bộ. Xã hội hiện đại thường hỏi rất sớm: “Anh làm nghề gì?” rồi từ câu trả lời ấy suy ra gần như toàn bộ giá trị xã hội của một con người. Người có chức vụ cao được nhìn khác. Người thất nghiệp thấy mình phải giải thích. Người nghỉ hưu có thể rơi vào cảm giác mình không còn cần thiết. Người làm việc nội trợ thường bị coi như “không đi làm”, dù công việc của họ có thể kéo dài cả ngày. Người chăm sóc cha mẹ già không được tính vào GDP nhưng đang giữ một công việc rất nhân bản. Người khuyết tật không thể tham gia lao động theo cách thông thường có thể bị xã hội vô thức xếp ra bên lề. Kitô giáo phải chống lại sự đồng nhất phẩm giá với năng suất. Con người làm việc vì có phẩm giá; con người không có phẩm giá vì làm được việc. Trật tự ấy phải được giữ. Một em bé không sản xuất gì nhưng có phẩm giá. Một người già nằm liệt giường không đóng góp kinh tế nhưng có phẩm giá. Một người thất nghiệp vẫn có phẩm giá. Một người bệnh tâm thần không đạt năng suất vẫn có phẩm giá. Nếu chỉ kính trọng người hữu dụng, xã hội đã biến con người thành dụng cụ.
Bởi đó thất nghiệp là một nơi rất quan trọng của linh đạo giáo dân. Thất nghiệp không chỉ là thiếu thu nhập. Nó có thể đánh vào căn tính, nhịp sống, lòng tự trọng và tương quan gia đình. Người mất việc thường phải đối diện với những câu hỏi mà người ngoài không thấy: sáng mai tôi thức dậy để làm gì? Tôi nói sao với con? Tôi gặp bạn cũ thế nào khi họ hỏi đang làm ở đâu? Tôi có còn hữu ích không? Có phải mình thất bại không? Tại sao người khác tiến còn mình dừng? Một cộng đoàn Kitô hữu rất dễ nói những câu đúng nhưng đau: “Chúa sẽ lo”, “cứ tin”, “rồi sẽ có việc”. Những câu ấy không sai, nhưng nếu không đi kèm sự hiện diện, hỗ trợ và tôn trọng thì có thể thành rẻ tiền. Người thất nghiệp cần được nhắc rằng giá trị của họ không nằm trong chức danh. Nhưng họ cũng cần mạng lưới giới thiệu việc làm, tư vấn nghề nghiệp, đào tạo lại, hỗ trợ khẩn cấp, có khi cần một người giúp viết hồ sơ, một người giữ trẻ để đi phỏng vấn, một khoản vay nhỏ để vượt qua vài tháng. Đức tin nhập thể không chỉ nói về phẩm giá; nó tìm cách bảo vệ phẩm giá ấy bằng hành động.
Hội Thánh địa phương phản bội linh đạo giáo dân nếu chỉ thấy giá trị ở những người có nghề tốt, có tiền, có quan hệ và có khả năng đóng góp. Có những giáo xứ vô tình tạo ra một thứ phẩm trật xã hội song song với phẩm trật thiêng liêng: người thành đạt ngồi hàng đầu, được mời ban nọ ban kia, được gọi tên trong các dịp lớn; người nghèo, thất nghiệp, lao động tay chân thì chỉ xuất hiện khi cần nhân công hoặc nhận quà. Điều ấy phải được xét lại. Một người không có khả năng đóng góp tài chính vẫn có thể mang cho cộng đoàn một kho tàng đức tin, sự kiên nhẫn, kinh nghiệm đau khổ và tình liên đới mà người giàu chưa chắc có. Một giáo xứ chỉ huy động những người có nguồn lực sẽ dần dần mang khuôn mặt của tầng lớp có nguồn lực. Khi đó người thất nghiệp sẽ cảm thấy mình không còn chỗ, đúng vào lúc họ cần cộng đoàn nhất. Hội Thánh phải là nơi người ta biết rằng mất việc không đồng nghĩa mất vị trí trong Dân Chúa. Bí tích Rửa tội không bị hủy khi hợp đồng lao động hết hạn.
Cũng cần nói đến những người làm việc trong các ngành bị xã hội coi thường nhưng lại rất cần thiết. Người thu gom rác, người vệ sinh bệnh viện, người giao hàng, người chăm sóc người già, người bảo vệ, người làm bếp, người lao động thời vụ, người giúp việc gia đình, công nhân xây dựng, người chạy xe, người làm nông, tất cả giữ cho xã hội vận hành. Đại dịch đã từng làm lộ rõ một nghịch lý: có những nghề xã hội gọi là “lao động thiết yếu” nhưng lại trả lương và đối xử như thể người lao động không quan trọng. Kitô hữu cần nhìn thấy sự bất công trong nghịch lý ấy. Không được chỉ ca ngợi người lao động bằng diễn văn rồi tiếp tục mua dịch vụ theo cách ép giá đến mức người ở cuối chuỗi không đủ sống. Mỗi lựa chọn tiêu dùng cũng có chiều kích luân lý, dù trách nhiệm của người tiêu dùng không tuyệt đối và không thể truy hết mọi chuỗi cung ứng. Nhưng ít nhất người Kitô hữu phải tập hỏi: giá rẻ này được tạo ra bằng điều gì? Một món đồ quá rẻ có phải vì ai đó ở nơi xa đang trả phần giá còn thiếu bằng sức khỏe, thời gian hoặc phẩm giá của họ không?
Lao động trong gia đình cũng cần được phục hồi phẩm giá. Nấu ăn, giặt giũ, chăm con, đưa người già đi khám, dọn nhà, theo dõi học hành, giữ ngân sách gia đình, chăm người bệnh là lao động thật, dù thường không có lương và không được ghi nhận. Khi một người vợ hoặc chồng ở nhà làm công việc chăm sóc, đừng nói họ “không làm gì”. Một trong những bất công tế nhị là xã hội chỉ nhìn lao động có giá tiền. Nhưng nhiều việc quan trọng nhất của một nền văn minh không được trả lương tương xứng hoặc không được trả lương: sinh thành, dưỡng dục, chăm sóc, lắng nghe, đồng hành người yếu. Một linh đạo giáo dân lành mạnh phải giúp các gia đình phân chia những công việc ấy trong công bằng và yêu thương, không mặc định một người phải gánh tất cả vì giới tính hay tập quán. Người đi kiếm tiền không vì thế được miễn trách nhiệm làm cha, làm mẹ, làm vợ, làm chồng. Người đóng góp thu nhập nhiều hơn không có quyền biến người kia thành nhân viên phục vụ trong nhà.
Nghề nghiệp còn là nơi chứng tá. Nhưng chứng tá nghề nghiệp phải được hiểu cho đúng. Có người nghĩ làm chứng cho Chúa ở nơi làm việc là treo câu Kinh Thánh trên bàn, mở nhạc đạo, mời đồng nghiệp đi lễ hoặc nói nhiều về đức tin. Những việc ấy tùy hoàn cảnh có thể tốt, nhưng chứng tá đầu tiên vẫn là chất lượng và sự chính trực của công việc. Một người Công giáo đi trễ thường xuyên, làm ẩu, đùn việc, nói xấu đồng nghiệp, nhận hối lộ nhưng lại rất nhiệt thành mời người khác đi nhà thờ đang làm hại việc loan báo Tin Mừng. Đồng nghiệp sẽ phán đoán đức tin bằng đời sống của người có đức tin mà họ gặp. Người Kitô hữu không cần hoàn hảo, nhưng phải đáng tin. Họ biết nhận lỗi khi làm sai. Họ không dùng đạo để né trách nhiệm. Họ không biến câu “Chúa sẽ lo” thành lý do chuẩn bị cẩu thả. Họ không lấy lòng tốt thay cho năng lực ở những nơi năng lực là trách nhiệm luân lý. Một bác sĩ tốt bụng nhưng thiếu chuyên môn vẫn có thể gây hại. Một kỹ sư rất đạo đức nhưng tính sai kết cấu vẫn nguy hiểm. Bởi đó trau dồi chuyên môn là một phần của bổn phận Kitô hữu. Làm tốt công việc mình nhận là một dạng công bằng với người khác.
Đồng thời, hiệu quả không phải thần tượng. Thời đại quản trị rất dễ biến mọi sự thành chỉ số. Bao nhiêu sản phẩm, bao nhiêu khách hàng, bao nhiêu lượt tương tác, bao nhiêu giờ có thể tính tiền, bao nhiêu phần trăm tăng trưởng. Chỉ số cần thiết để quản lý, nhưng điều không đo được không vì thế không tồn tại. Một nhân viên dành mười phút giúp đồng nghiệp mới hiểu việc có thể làm giảm năng suất tức thời nhưng xây văn hóa lâu dài. Một bác sĩ nghe bệnh nhân thêm vài phút có thể không tối ưu số lượt khám nhưng cứu một con người khỏi cảm giác bị bỏ rơi. Một người quản lý dành thời gian huấn luyện người yếu thay vì loại họ ngay có thể không phải quyết định nhanh nhất nhưng là quyết định có tính nhân bản. Không phải lúc nào những lựa chọn ấy cũng khả thi; có giới hạn thật. Nhưng một nền văn hóa chỉ biết tối ưu sẽ sớm tối ưu con người ra khỏi chính đời sống con người. Người Kitô hữu phải bảo vệ những điều không dễ đưa vào bảng số: lòng trung thành, sự tử tế, tin cậy, thời gian dành cho người yếu, khả năng tha thứ, việc đào tạo một người chưa giỏi, niềm vui làm việc chung.
Có một khía cạnh khác rất khó: cạnh tranh. Kinh tế cần cạnh tranh ở mức nào đó để thúc đẩy sáng kiến, chất lượng và hiệu quả. Nhưng cạnh tranh dễ trượt thành quan niệm người khác tồn tại để bị đánh bại. Người Kitô hữu có thể cạnh tranh mà không thù ghét, có thể muốn sản phẩm mình tốt hơn mà không mong đối thủ bị tiêu diệt, có thể thương lượng cứng nhưng không gian dối, có thể bảo vệ lợi ích công ty mà không bôi nhọ người khác. Không phải mọi nhượng bộ đều là đức ái và không phải mọi quyết liệt đều là tham lam. Linh đạo nghề nghiệp cần sự khôn ngoan để phân định. Có lúc phải kiện để bảo vệ công bằng. Có lúc phải từ chối một hợp đồng. Có lúc phải sa thải một người gây hại nghiêm trọng. Có lúc phải đóng một bộ phận không còn khả năng duy trì. Có lúc phải nói không với khách hàng lớn vì yêu cầu của họ trái lương tâm. Đức tin không cho sẵn công thức quản trị từng tình huống, nhưng cho những nguyên tắc và một lương tâm cần được huấn luyện.
Tham nhũng và hối lộ là một vết thương đặc biệt của đời nghề nghiệp. Người ta thường biện minh: ai cũng làm; không làm thì công ty chết; đây chỉ là “chi phí quan hệ”; hệ thống đã như vậy; mình chỉ là người nhỏ. Chính ở đây sự trung tín trở nên đắt giá. Không thể viết những lời dễ dàng cho người đang phải chọn giữa mất hợp đồng và bước vào một cơ chế bất chính. Có những hoàn cảnh rất phức tạp cần phân biệt giữa lệ phí hợp pháp, quà xã giao thông thường, sự ép buộc, tống tiền và hối lộ thật sự. Nhưng nguyên tắc vẫn rõ: người Kitô hữu không được bình thường hóa việc mua bán công lý, quyền lực công hoặc quyết định nghề nghiệp. Cái giá của sự trung thực đôi khi rất cao. Chính vì thế cộng đoàn Kitô hữu phải nâng đỡ người muốn làm đúng, thay vì chỉ ca ngợi họ sau khi họ đã mất mọi thứ. Một doanh nhân đơn độc khó chống một hệ thống. Những mạng lưới doanh nhân có đạo đức, hiệp hội nghề nghiệp minh bạch, tư vấn pháp lý tốt và sự hỗ trợ lẫn nhau có thể là những hình thức rất cụ thể của hiệp thông Kitô giáo.
Công nghệ và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi ý nghĩa lao động ở nhiều ngành. Người giáo dân không nên tiếp cận sự thay đổi này chỉ bằng sợ hãi hoặc say mê. Công nghệ có thể giải phóng con người khỏi công việc nguy hiểm, lặp lại và kiệt sức; có thể hỗ trợ chẩn đoán, giáo dục, sản xuất, dịch thuật, quản trị; có thể tạo cơ hội cho người khuyết tật; có thể nâng năng suất để xã hội có thêm nguồn lực. Nhưng cùng một công nghệ cũng có thể làm lao động bị giám sát từng giây, biến người làm thành phần phụ của thuật toán, loại bỏ hàng loạt vị trí mà không có chuyển đổi công bằng, tập trung quyền lực vào một số doanh nghiệp, hoặc tạo ra áp lực tốc độ mà thân xác và tâm trí con người không theo nổi. Câu hỏi Kitô giáo không phải “AI tốt hay xấu?” nhưng “AI đang phục vụ ai, phục vụ mục tiêu gì, và ai đang trả giá?”. Nếu tăng năng suất nhờ tự động hóa, lợi ích có được chia một phần cho người lao động qua lương, thời gian nghỉ, đào tạo lại hay không, hay toàn bộ lợi ích dồn lên trên trong khi rủi ro đẩy xuống dưới? Nếu một nhân viên bị thay thế, công ty có coi họ như phế phẩm của tiến bộ không? Công nghệ phải phục vụ con người; con người không được buộc phải thích nghi vô hạn để phục vụ công nghệ.
Cũng phải nói đến sự nghỉ ngơi. Người nghiện việc thường được xã hội khen nhiều hơn người nghiện những thứ khác, vì sự nghiện ấy tạo ra sản phẩm. Nhưng một người không còn khả năng ngừng làm việc đang mất một phần tự do. Có những người giáo dân hoạt động trong nghề nghiệp đến mức gia đình chỉ nhận phần còn thừa. Họ biện minh rằng tất cả vì gia đình, nhưng con cái cần cha mẹ chứ không chỉ cần học phí; người phối ngẫu cần sự hiện diện chứ không chỉ cần tài khoản. Không phải ai cũng có quyền lựa chọn giờ làm; người nghèo đôi khi phải làm hai việc để sống. Nhưng với những ai có quyền điều chỉnh, việc biết đủ và biết dừng là một kỷ luật thiêng liêng. Ngày Chúa Nhật mang một ý nghĩa phản văn hóa rất mạnh: con người không phải giá trị vì sản xuất. Có một ngày ta ngừng để thờ phượng, gặp nhau, ăn uống, thăm người thân, nghỉ thân xác, nhìn trời đất và nhớ rằng thế giới vẫn tồn tại khi ta không làm việc. Đối với người phải làm Chúa Nhật vì nghề nghiệp cần thiết, tinh thần ấy vẫn phải được tìm lại bằng những nhịp nghỉ khác. Một xã hội không biết nghỉ cuối cùng cũng không biết tại sao mình làm việc.
Nghỉ hưu cũng là một chuyển tiếp thiêng liêng. Người đã gắn căn tính với nghề bốn mươi năm có thể thấy mình hụt khi không còn chức danh, phòng làm việc, nhân viên, khách hàng, đồng nghiệp. Hội Thánh cần giúp người nghỉ hưu nhận ra rằng ơn gọi không nghỉ hưu khi nghề nghiệp nghỉ. Kinh nghiệm nghề nghiệp có thể trở thành kho tàng cho thế hệ sau, nhưng cũng phải tránh một cám dỗ khác: biến người nghỉ hưu thành nguồn nhân lực miễn phí vô tận cho giáo xứ. Họ cũng cần nghỉ, chăm gia đình, cầu nguyện, học cách buông quyền lực và sống một giai đoạn mới. Có những người từng là lãnh đạo lớn nhưng về già phải học nhận giúp đỡ. Đó cũng là một trường nên thánh: từ người ra lệnh thành người phải chờ; từ người có lịch kín thành người có nhiều khoảng trống; từ người được hỏi ý kiến thành người ít được hỏi. Nếu đón nhận trong đức tin, sự thay đổi ấy có thể giải phóng một con người khỏi đồng nhất mình với chức vụ.
Linh đạo nghề nghiệp cuối cùng phải trở về câu hỏi căn bản: tôi thuộc về ai? Nếu tôi thuộc về công ty, tôi sẽ hy sinh mọi thứ cho công ty. Nếu tôi thuộc về tiền, mọi quyết định cuối cùng sẽ cúi trước tiền. Nếu tôi thuộc về danh tiếng, tôi sẽ chọn những gì giúp mình được nhìn thấy. Nếu tôi thuộc về Đức Kitô, công việc, tiền bạc, chức vụ, năng lực và cơ hội đều trở thành những thực tại tốt nhưng tương đối. Tôi làm việc hết lòng nhưng không thờ công việc. Tôi tìm thành công nhưng không bán lương tâm cho thành công. Tôi tôn trọng cấp trên nhưng không vâng phục điều xấu. Tôi muốn công ty phát triển nhưng không coi con người như nhiên liệu. Tôi nhận lương và đòi công bằng nhưng không để cay đắng chiếm lấy linh hồn. Tôi có thể mất chức mà không mất căn tính. Tôi có thể thất nghiệp mà không hết phẩm giá. Tôi có thể giàu mà biết mình chỉ là người quản lý. Tôi có thể nghèo mà không bị coi là người kém giá trị trong Hội Thánh.
Một cộng đoàn Kitô hữu trưởng thành phải giúp người giáo dân đem nghề nghiệp vào cầu nguyện. Không chỉ cầu “xin cho công việc thuận lợi”, nhưng cầu cho những quyết định khó, cho người mình quản lý, cho người làm mình bực, cho khách hàng mình không thích, cho những nơi có nguy cơ thỏa hiệp lương tâm. Xét mình cuối ngày không chỉ hỏi tôi có đọc kinh không, nhưng còn hỏi hôm nay tôi có nói dối trong công việc không; có hạ nhục ai không; có làm ẩu điều mình có trách nhiệm làm tốt không; có chiếm thời gian công ty cho việc riêng không; có dùng tài sản cơ quan như của mình không; có làm nhân viên sợ chỉ để cảm thấy quyền lực không; có trả công công bằng không; có giữ lời với khách hàng không; có im lặng trước điều sai chỉ vì có lợi không; có mang căng thẳng nghề nghiệp về trút lên gia đình không. Những câu hỏi ấy cũng thiêng liêng như câu hỏi về giờ kinh, vì Đức Kitô muốn làm Chúa của toàn bộ con người.
Thánh Thể Chúa Nhật chính là nơi công việc của tuần được mang đến bàn thờ. Bánh và rượu không rơi từ trời xuống. Chúng là hoa màu của đất và công lao của con người. Trong hai lễ vật đơn sơ ấy có ruộng nho, lúa mì, mồ hôi, vận chuyển, nghiền, nướng, bảo quản, những bàn tay của rất nhiều người. Phụng vụ nhận lấy sản phẩm của lao động con người và trong quyền năng Thiên Chúa biến chúng thành dấu chỉ cao nhất của ơn cứu độ. Điều ấy nói một điều lớn về lao động: những gì con người làm trong công lý và tình yêu có thể được mang vào việc thờ phượng. Người giáo dân đến Thánh lễ không để chạy khỏi tuần làm việc nhưng để mang tuần làm việc vào Đức Kitô, rồi từ bàn tiệc ấy lại được sai trở về với thế giới. “Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an” không phải là lúc đời thiêng liêng kết thúc. Đó là lúc đời thiêng liêng bước trở lại nhà máy, bệnh viện, văn phòng, lớp học, chợ, công trường và gia đình.
Bởi vậy, một linh đạo giáo dân thực sự không thể không có thần học về lao động. Nó phải dạy người ta rằng bàn làm việc có thể là nơi trung tín, máy móc có thể là nơi phục vụ, hợp đồng có thể là nơi công lý, doanh nghiệp có thể là dụng cụ của công ích, tiền bạc có thể trở thành phương tiện chia sẻ, nghề nghiệp có thể là con đường hiến mình. Đồng thời nó phải đủ tỉnh táo để nói rằng lao động có thể trở thành ngẫu tượng, nghề nghiệp có thể nuốt gia đình, doanh nghiệp có thể bóc lột, thị trường có thể thưởng cho điều xấu, công nghệ có thể làm người ta thành dữ liệu, thất nghiệp có thể làm con người tuyệt vọng. Tin Mừng không phủ lên thế giới lao động một lớp sơn đạo đức. Tin Mừng đi vào tận cấu trúc của nó và hỏi ai được phục vụ, ai bị bỏ lại, sự thật ở đâu, công bằng ở đâu, người yếu ở đâu, Thiên Chúa ở đâu.
Người bác sĩ trước bệnh nhân, người giáo viên trước học trò, người kỹ sư trước bản vẽ, người tài xế trước tay lái, người kế toán trước con số, người kinh doanh trước hợp đồng, người quản lý trước danh sách nhân sự, người công nhân trước dây chuyền, người nông dân trước đất, người nội trợ trước bữa cơm, người thất nghiệp trước một buổi sáng chưa biết phải đi đâu: tất cả đều có thể đứng trước Thiên Chúa ở chính nơi ấy. Có người được gọi nên thánh bằng cách cứu một mạng người. Có người bằng cách không ký một giấy gian. Có người bằng cách trả đúng một khoản lương. Có người bằng cách từ chối một món lợi bất chính. Có người bằng cách làm một sản phẩm cho thật tốt dù không ai biết tên mình. Có người bằng cách kiên trì đi xin việc mà không để thất bại biến mình thành cay độc. Có người bằng cách nhìn nhân viên không như chi phí nhưng như anh chị em cùng mang phẩm giá được Thiên Chúa ban. Đó không phải đạo đức phụ thêm bên ngoài nghề nghiệp. Đó chính là cách ơn Rửa tội đi vào trần thế.
Ngày nào người giáo dân còn nghĩ phải rời công việc mới gặp Chúa, linh đạo giáo dân ngày ấy vẫn chưa trưởng thành. Ngày nào chủ doanh nghiệp còn nghĩ chỉ cần dâng cúng nhiều là đủ Công giáo, dù cách làm ăn không công bằng, linh đạo doanh nhân ngày ấy vẫn chưa bắt đầu. Ngày nào giáo xứ còn kính trọng người có chức, có tiền hơn người thất nghiệp và nghèo, cộng đoàn ngày ấy vẫn chưa hiểu phẩm giá Rửa tội. Và ngày nào người tín hữu có thể bước vào công sở, nhà máy, trường học hay cửa hàng với xác tín rằng nơi này cũng thuộc về Đức Kitô, người ấy mới bắt đầu hiểu sứ mạng riêng của mình giữa trần thế: không chạy khỏi thế giới để nên thánh, cũng không hòa tan vào thế giới để thành công, nhưng ở lại giữa thế giới như men, như muối, như ánh sáng, làm việc bằng đôi tay của mình mà lòng thuộc về Chúa, kiếm sống mà không bán lương tâm, xây dựng mà không nghiền nát, tạo lợi nhuận mà không biến con người thành giá, và cuối cùng trao lại cho Thiên Chúa cả công trình, cả thành công, cả thất bại, với sự bình an của người biết rằng nghề nghiệp là một phần quan trọng của đời mình nhưng không bao giờ là tên cuối cùng của mình. Tên cuối cùng của người tín hữu vẫn là người được yêu, được gọi và được sai đi trong Đức Kitô.
CHƯƠNG 22. CHÍNH TRỊ, CÔNG ÍCH, VĂN HÓA, KHOA HỌC
Một trong những ngộ nhận dai dẳng nhất về đời sống thiêng liêng của người giáo dân là tưởng rằng muốn giữ đức tin trong sạch thì tốt nhất nên đứng xa những vùng “phức tạp” của đời sống xã hội: chính trị thì bẩn, kinh tế thì thực dụng, văn hóa thì dễ tục hóa, khoa học thì có nguy cơ chống đạo, nghệ thuật thì nhiều cám dỗ, giáo dục thì đầy tranh luận, truyền thông thì nhiễu loạn; vì thế người đạo đức nên lui về những khoảng không gian an toàn hơn như nhà thờ, hội đoàn, giờ kinh, việc đạo đức. Cách nghĩ ấy nghe có vẻ sốt sắng nhưng không phải là cái nhìn trọn vẹn của linh đạo giáo dân. Nếu Thiên Chúa gọi người giáo dân sống giữa trần thế, nếu tính chất trần thế không phải tai nạn của ơn gọi mà thuộc về chính cách họ nên thánh và thi hành sứ mạng, thì những lãnh vực phức tạp nhất của đời sống con người lại chính là những nơi không thể bị bỏ trống. Chính trị, công ích, văn hóa, khoa học, giáo dục, nghệ thuật, truyền thông, kinh tế, luật pháp, công nghệ không phải những vùng nằm ngoài quyền năng cứu độ của Đức Kitô. Đó là những nơi con người suy nghĩ, quyết định, sáng tạo, tổ chức đời sống chung, làm luật, phân phối của cải, hình thành lương tâm, kể câu chuyện về chính mình, đặt những câu hỏi về sự thật, thiện hảo, sự sống, cái chết, tự do và tương lai. Nếu Tin Mừng không có gì để nói với những nơi ấy, Tin Mừng đã bị thu nhỏ thành một thứ an ủi riêng tư. Nhưng Tin Mừng của Đức Kitô không đến chỉ để làm cho một số tâm hồn đạo đức được bình an. Tin Mừng đến để cứu con người toàn diện và để men Nước Thiên Chúa thấm vào bột của lịch sử. Chính ở đây, ơn gọi giáo dân đạt đến một trong những chiều kích trưởng thành nhất: không bỏ thế giới cho người khác định nghĩa, nhưng hiện diện trong thế giới bằng năng lực chuyên môn, lương tâm ngay thẳng, đức tin trưởng thành và lòng yêu mến công ích.
Tông huấn Christifideles Laici không cho phép người giáo dân dùng lòng đạo đức làm lý do để trốn tránh trách nhiệm xã hội. Người tín hữu giáo dân không thể nói: “Tôi chỉ lo cứu linh hồn tôi; chuyện xã hội đã có người khác.” Không ai cứu linh hồn mình trong chân không. Con người sống trong gia đình, xóm làng, trường học, bệnh viện, công ty, thị trường lao động, hệ thống pháp luật, truyền thông, môi trường tự nhiên, chính sách công, cơ cấu kinh tế và văn hóa. Một quyết định chính trị có thể làm hàng triệu gia đình được tiếp cận giáo dục hoặc bị đẩy ra ngoài giáo dục; một chính sách y tế có thể bảo vệ người yếu hoặc bỏ mặc họ; một quy hoạch đô thị có thể tạo ra không gian sống nhân bản hoặc nghiền nát những cộng đồng nghèo; một đạo luật có thể bảo vệ phẩm giá con người hoặc hợp pháp hóa sự khinh thường một nhóm người; một nền kinh tế có thể phục vụ con người hoặc biến con người thành chi phí cần cắt giảm; một hệ thống giáo dục có thể đào tạo lương tâm hoặc chỉ sản xuất lao động; một nền văn hóa có thể mở con người ra với chân thiện mỹ hoặc làm họ nghiện tiêu thụ, bạo lực và khoái cảm tức thời. Đứng trước những thực tại ấy, người giáo dân không có quyền coi mình là khách qua đường. Họ là công dân và đồng thời là môn đệ. Họ sống trong thành phố trần thế và hướng về thành đô vĩnh cửu. Hai điều ấy không loại nhau. Chính vì thuộc về Đức Kitô, họ càng phải quan tâm đến con người; chính vì hy vọng Nước Trời, họ càng không thể thờ ơ với trái đất.
Nhưng phải hiểu đúng chữ “chính trị”. Trong đời sống thường ngày, cứ nói đến chính trị là người ta nghĩ ngay đến đảng phái, tranh cử, vận động, quyền lực, chức vụ, phe này phe kia. Chính trị chắc chắn bao gồm những thực tại ấy, nhưng sâu hơn, truyền thống Kitô giáo hiểu chính trị theo nghĩa cao quý hơn: chăm sóc đời sống chung, tổ chức xã hội sao cho phẩm giá con người được tôn trọng và công ích được phục vụ. Nếu một nhóm người bàn cách làm đường để trẻ em tới trường an toàn, đó đã là vấn đề chính trị theo nghĩa rộng. Nếu một hội đồng địa phương quyết định ngân sách ưu tiên cho bệnh viện hay tượng đài, đó là chính trị. Nếu một quốc gia xây chính sách cho người già, người khuyết tật, người di dân, công nhân, nông dân, trẻ nhỏ, đó là chính trị. Nếu người dân tranh luận cách cân bằng phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, đó là chính trị. Nếu một luật gia góp ý dự luật, một bác sĩ lên tiếng về chính sách y tế, một giáo viên tham gia cải cách giáo dục, một kỹ sư cảnh báo tiêu chuẩn an toàn, một nhà khoa học trình bày dữ liệu khí hậu, một người dân phản ánh tham nhũng, tất cả đều bước vào không gian chính trị theo nghĩa chăm sóc công ích. Vì vậy nói giáo dân không được trốn chính trị không có nghĩa Hội Thánh buộc mọi người phải gia nhập một đảng hoặc tranh cử. Có những người được gọi trực tiếp vào đời sống chính trị chuyên nghiệp. Có những người phục vụ công ích qua nghề nghiệp, xã hội dân sự, học thuật, truyền thông, giáo dục, kinh doanh hoặc hoạt động cộng đồng. Có những người làm chính trị bằng cách bỏ phiếu có lương tâm, theo dõi chính sách, đóng thuế trung thực, bảo vệ người yếu thế, không đưa hối lộ và không im lặng trước bất công có thể sửa được. Mức độ tham gia khác nhau, nhưng thái độ thờ ơ hoàn toàn không thể được lý tưởng hóa thành đạo đức.
Người Công giáo bước vào không gian công không phải với một cuốn cẩm nang cho mọi vấn đề, cũng không với ảo tưởng rằng chỉ cần trích một câu Kinh Thánh là giải được ngân sách quốc gia, chính sách tiền tệ, quy hoạch đô thị, trí tuệ nhân tạo hay cải cách giáo dục. Đức tin không thay thế chuyên môn. Hội Thánh không phải viện nghiên cứu chính sách công. Tin Mừng không cung cấp công thức kỹ thuật cho mọi bài toán. Nhưng đức tin ban những nguyên tắc nền tảng để lương tâm phân định, và học thuyết xã hội Công giáo đã phát triển những nguyên tắc ấy qua kinh nghiệm dài của Hội Thánh đối diện với lịch sử. Trong số đó, bốn nguyên tắc thường được nhắc như những cột trụ: phẩm giá con người, công ích, liên đới và bổ trợ. Đây không phải bốn khẩu hiệu để treo trong phòng họp. Chúng là những lăng kính giúp người giáo dân đọc đời sống xã hội và tự hỏi: quyết định này đang làm gì với con người thật? Ai được lợi? Ai chịu giá? Người yếu có tiếng nói không? Quyền lực đang được tập trung ở đâu? Trách nhiệm thuộc về cấp nào? Có ai đang bị biến thành phương tiện cho lợi ích của người khác không?
Phẩm giá con người là khởi điểm. Người Kitô hữu không bắt đầu bằng câu hỏi người này có hữu dụng không, có năng suất không, có cùng quan điểm với tôi không, có thuộc nhóm của tôi không. Người Kitô hữu bắt đầu từ xác tín rằng mỗi con người mang phẩm giá không thể mua bán vì được Thiên Chúa tạo dựng và được Đức Kitô cứu chuộc. Phẩm giá ấy có trước năng suất, trước tình trạng kinh tế, trước sức khỏe, trước tuổi tác, trước thành tích. Một trẻ chưa sinh, một người khuyết tật nặng, một cụ già mất trí, một người nghiện, một tù nhân, một người thất nghiệp, một người di dân, một người bất đồng với mình, một kẻ đã thất bại lớn trong đời — không ai mất phẩm giá vì mất khả năng đóng góp theo tiêu chuẩn kinh tế hoặc xã hội. Chính trị Công giáo bắt đầu ở điểm này. Bất cứ chính sách nào cũng phải được hỏi xem nó đối xử với con người như chủ thể hay như vật liệu. Một nền kinh tế mà GDP tăng nhưng người lao động bị nghiền nát không thể được xem là thành công toàn diện. Một hệ thống y tế tối ưu chi phí nhưng bỏ người nghèo không thể được gọi là nhân bản chỉ vì hiệu quả. Một nền giáo dục tạo ra người cạnh tranh giỏi nhưng không biết sự thật, trách nhiệm, tương quan và lòng trắc ẩn thì đã đào tạo thiếu con người. Một hệ thống công nghệ tạo tiện lợi cực lớn nhưng biến người dùng thành nguồn dữ liệu để thao túng cũng phải được chất vấn. Phẩm giá con người là hàng rào đầu tiên chống lại mọi thứ chính trị biến con người thành con số.
Công ích đi xa hơn tổng hợp lợi ích cá nhân. Trong văn hóa cá nhân chủ nghĩa, người ta thường nghĩ xã hội tốt khi mỗi người có quyền đuổi theo điều mình muốn miễn không trực tiếp làm hại người khác. Cách nhìn đó có giá trị trong việc bảo vệ tự do cá nhân, nhưng chưa đủ. Con người không chỉ là những cá thể đứng cạnh nhau. Chúng ta nhận ngôn ngữ từ cộng đồng, giáo dục từ người khác, an ninh từ xã hội, đường sá từ tiền chung, tri thức từ nhiều thế hệ, văn hóa từ những người đi trước, môi trường từ tạo thành chung. Công ích là tổng hợp những điều kiện xã hội cho phép các cá nhân và cộng đồng đạt tới sự triển nở nhân bản đầy đủ hơn. Vì thế người giáo dân không chỉ hỏi: quyết định này có lợi cho tôi không? Họ phải học hỏi: nó có làm đời sống chung tốt hơn không? Nó có để lại xã hội có thể sống cho thế hệ sau không? Nó có tạo điều kiện cho gia đình, giáo dục, việc làm, chăm sóc người yếu, tự do lương tâm và hòa bình không? Công ích buộc ta đi khỏi sự ích kỷ của nhóm mình. Một người Công giáo không thể cổ võ chính sách chỉ vì giáo xứ mình được lợi, doanh nghiệp mình lời hoặc tầng lớp mình được ưu đãi nếu hậu quả là người khác bị đẩy xuống bất công. Không thể lấy chữ “quyền lợi” thay cho lương tâm.
Liên đới là quyết định nhìn người khác không như người dưng. Liên đới không chỉ là cảm xúc thương người nghèo vào dịp lễ. Nó là xác tín rằng số phận con người gắn với nhau. Khi công nhân bị bóc lột, điều đó không chỉ là chuyện giữa chủ và thợ. Khi một nhóm trẻ không được học hành, xã hội mai sau cùng trả giá. Khi người già bị bỏ mặc, chính nền văn hóa đã nghèo đi. Khi một cộng đồng sống trong ô nhiễm để cộng đồng khác hưởng lợi kinh tế, không thể gọi đó là phát triển công bằng. Khi chiến tranh ở nơi xa đẩy hàng triệu người thành tị nạn, thế giới không thể giả vờ không liên quan. Người giáo dân sống liên đới bằng việc phá thói quen nhìn xã hội theo phe ta và phe họ. Người nghèo không phải “họ”. Người di dân không phải “họ”. Người thất nghiệp không phải “họ”. Người khác tôn giáo không phải “họ”. Người khác ý kiến chính trị không tự động trở thành kẻ thù. Liên đới không xóa khác biệt và không cấm tranh luận. Liên đới buộc ta tranh luận mà không tước nhân tính của người khác.
Nguyên tắc bổ trợ lại ngăn một nguy hiểm khác: nghĩ rằng càng tập trung quyền lực càng giải quyết được mọi chuyện. Bổ trợ nói đơn giản rằng việc gì cá nhân, gia đình, cộng đồng nhỏ, hiệp hội địa phương hoặc cấp thấp hơn có thể làm tốt thì cấp cao hơn không nên tước khỏi họ; cấp cao hơn phải hỗ trợ khi cần chứ không thay thế mọi sáng kiến. Gia đình có những trách nhiệm không thể giao hoàn toàn cho Nhà nước. Trường học có một đời sống riêng không thể bị quản lý chỉ như chi nhánh hành chính. Cộng đồng địa phương có kinh nghiệm mà trung ương không luôn hiểu. Các hiệp hội tự nguyện, tổ chức nghề nghiệp, tôn giáo, xã hội dân sự tạo nên một khoảng giữa cá nhân và bộ máy quyền lực. Nếu khoảng này chết, con người đứng một mình trước quyền lực khổng lồ. Nhưng bổ trợ không phải cái cớ để chính quyền bỏ mặc người yếu. Khi cấp dưới không đủ khả năng, cấp cao hơn phải trợ giúp. Bổ trợ và liên đới phải đi chung. Bổ trợ không liên đới thành mặc kệ. Liên đới không bổ trợ thành bao cấp và tập trung. Người giáo dân trưởng thành cần học nghệ thuật giữ hai chiều ấy.
Vì vậy, khi một giáo dân tham gia chính trị, điều cần trước hết không phải là có “nhãn Công giáo” trên danh thiếp, mà là lương tâm được đào tạo. Một chính trị gia Công giáo có thể nói rất nhiều ngôn ngữ đạo đức mà vẫn tham nhũng. Một công chức có thể dự lễ hằng ngày mà vẫn nhận phong bì. Một doanh nhân có thể tài trợ xây nhà thờ nhưng bóc lột nhân công. Một người có thể chia sẻ hàng trăm bài bảo vệ đức tin mà lại tung tin giả hạ nhục người bất đồng. Không có linh đạo nào nghiêm túc nếu đời sống công khai và đời sống bí tích tách khỏi nhau. Bàn thờ phải đi vào chữ ký. Việc xưng tội phải đi vào cách dùng quyền. Rước lễ phải đi vào cách nhìn người yếu. Lời “xin tha nợ chúng con” phải đi vào cách xử lý món nợ của người nghèo. Lời “ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời” phải trở thành câu hỏi khi làm luật, ký hợp đồng, viết chính sách hoặc bỏ phiếu.
Nhưng cũng phải nói chiều ngược lại: Hội Thánh không thể bị biến thành một bộ máy đảng phái. Đây là ranh giới rất quan trọng. Giáo sĩ có nhiệm vụ công bố Tin Mừng, đào tạo lương tâm, dạy các nguyên tắc luân lý, bảo vệ phẩm giá con người và lên tiếng trước bất công; nhưng nhà thờ không được biến thành trụ sở vận động cho phe phái. Tòa giảng không phải bục mít tinh. Thánh lễ không phải chiến dịch tranh cử. Bí tích không được dùng để huy động khối cử tri. Linh mục không nên biến cộng đoàn thành đội ngũ chính trị của sở thích cá nhân. Một mục tử có thể và nhiều khi phải nói rõ rằng một hành vi hay chính sách nào đó vi phạm phẩm giá con người, đe dọa công ích hoặc bất công với người yếu. Nhưng từ nguyên tắc luân lý đến lựa chọn chính sách cụ thể thường có nhiều bước cần kiến thức chuyên môn và phán đoán thận trọng. Ở đó giáo dân, đặc biệt những người được đào tạo trong luật, kinh tế, y tế, khoa học, chính sách công, xã hội học, giáo dục, có trách nhiệm đặc biệt. Họ không phải những người chỉ ngồi nghe linh mục nói về mọi lãnh vực. Họ phải mang kinh nghiệm của trần thế vào trong sự phân định của Hội Thánh.
Đây là điều cần sửa ở nhiều cộng đoàn: cứ nghĩ chuyện nào quan trọng thì linh mục phải nói trước. Nhưng linh mục không được phong chức để trở thành chuyên gia kinh tế, kiến trúc, quản trị công, môi trường, AI, giáo dục, dịch tễ, ngoại giao hay luật hiến pháp. Chức thánh ban một sứ vụ, không ban kiến thức toàn năng. Có những vấn đề mục tử phải dạy nguyên tắc, nhưng giáo dân có trách nhiệm đưa nguyên tắc ấy vào thực tế với chuyên môn của mình. Khi một giáo dân bác sĩ biết rõ tác động của chính sách y tế, ý kiến chuyên môn của họ phải được lắng nghe. Khi một giáo dân kỹ sư phát hiện nguy cơ an toàn, tiếng nói ấy là phục vụ sự sống. Khi một giáo dân luật gia nhận ra quy định bất công, họ có trách nhiệm phân tích. Khi một nhà kinh tế Công giáo chỉ ra một chính sách tưởng giúp người nghèo nhưng hậu quả dài hạn lại làm họ nghèo hơn, họ không phản đối Tin Mừng; họ đang giúp tình yêu trở nên thông minh. Bác ái mà không có sự thật dễ thành cảm tính. Sự thật mà không có bác ái dễ thành lạnh lùng. Linh đạo giáo dân phải nối hai điều ấy.
Đối với chính người giáo dân, nguy hiểm ngược lại là dùng đức tin như công cụ chính trị. Khi ấy Đức Kitô không còn là Chúa, Người trở thành biểu tượng để củng cố phe mình. Kinh Thánh bị cắt thành khẩu hiệu. Các thánh được kéo vào trận tuyến. Đạo đức trở thành dấu hiệu nhận diện nhóm. Ai cùng lập trường thì được gọi là “người tốt”, ai khác lập trường thì bị nghi ngờ đức tin. Đây là một hình thức tục hóa tôn giáo rất tinh vi: không phải bỏ đạo, nhưng sử dụng đạo. Đức tin Công giáo luôn lớn hơn một đảng, một chương trình, một hệ tư tưởng, một giai đoạn lịch sử. Không một lực lượng chính trị nào đồng nhất với Nước Thiên Chúa. Có thể có lựa chọn gần với các nguyên tắc Công giáo hơn lựa chọn khác trong một vấn đề. Có thể có chính sách rõ ràng vi phạm luân lý. Nhưng người tín hữu không được trao toàn bộ lương tâm cho một phe. Khi phe mình sai, phải dám nói sai. Khi đối phương làm điều tốt, phải dám nhìn nhận. Nếu đức tin chỉ giúp ta phát hiện lỗi của bên kia mà không còn khả năng xét lỗi của bên mình, đức tin đã bị ý thức hệ bắt làm con tin.
Linh đạo chính trị vì thế cần một nhân đức ngày nay hiếm: sự thận trọng. Thận trọng không phải nhát. Thận trọng là khả năng nhận định điều đúng cần làm trong hoàn cảnh cụ thể. Hai người cùng chia sẻ một nguyên tắc luân lý có thể đề nghị những chính sách khác nhau vì họ đánh giá dữ liệu, hậu quả, khả năng thực hiện và ưu tiên khác nhau. Không phải mọi bất đồng chính sách giữa người Công giáo đều là bất đồng đức tin. Có những điều thuộc tín lý và luân lý căn bản không thể thương lượng như thể chỉ là sở thích. Nhưng có nhiều vùng thuộc phán đoán thực hành, nơi người tín hữu có thể bất đồng mà vẫn trung thành với Hội Thánh. Nếu không hiểu điều này, cộng đoàn Công giáo sẽ bị xé thành phe và mọi tranh luận chuyên môn sẽ bị thánh hóa thành chiến tranh tôn giáo. Một người nói tăng thuế, người khác nói giảm thuế; một người ưu tiên chính sách này, người khác ưu tiên chính sách kia; không phải cứ khác nhau là một bên phản Tin Mừng. Cần hỏi kỹ hơn: cả hai đang cố phục vụ phẩm giá, công ích, người nghèo và trách nhiệm dài hạn thế nào? Dữ liệu nào hỗ trợ? Hậu quả nào bị bỏ sót? Cách nào khả thi? Chính ở đó lương tâm và chuyên môn gặp nhau.
Người giáo dân bước vào đời sống công cũng phải chuẩn bị cho một thập giá đặc biệt: sự không trong sạch hoàn hảo của mọi lựa chọn. Trong đời tư, nhiều quyết định có thể khá rõ: nói thật hay nói dối, trung thành hay ngoại tình, lấy của người khác hay không. Trong chính sách công, thường phải chọn giữa những phương án đều có giới hạn, phải cân nhắc nhiều nhóm lợi ích, nhiều hậu quả dài ngắn, nhiều nguồn lực hữu hạn. Không có ngân sách vô tận. Không có chính sách không tạo chi phí. Không có cải cách không ảnh hưởng ai. Người đạo đức nhưng ngây thơ có thể tưởng chỉ cần “có lòng tốt” là đủ. Không. Chính trị cần lòng tốt, nhưng còn cần trí tuệ, dữ liệu, khả năng tổ chức, nghệ thuật thương lượng, hiểu biết thể chế và kiên nhẫn với những tiến bộ chưa trọn. Nếu đòi đời sống công phải tinh tuyền như một lý tưởng trừu tượng rồi mới tham gia, người tốt sẽ bỏ sân chơi cho người ít bận tâm đến lương tâm hơn. Linh đạo giáo dân không dạy chấp nhận điều xấu. Nó dạy bước vào thực tế mà không bán linh hồn, biết làm điều tốt có thể làm trong khi tiếp tục hướng về điều tốt hơn.
Trong lãnh vực văn hóa, trách nhiệm của giáo dân còn rộng hơn. Văn hóa là cách một dân tộc hiểu mình, kể chuyện về mình, yêu điều gì, xấu hổ điều gì, tôn vinh ai, cười điều gì, sợ điều gì và tưởng tượng tương lai thế nào. Văn hóa không chỉ là bảo tàng, ca múa, sách vở. Văn hóa nằm trong phim người ta xem, bài hát người trẻ nghe, câu chuyện trên mạng, cách quảng cáo định nghĩa thành công, hình ảnh về thân xác, quan niệm về tình yêu, cách xã hội nói về người già, người nghèo, người khuyết tật, phụ nữ, trẻ em, người thất bại. Văn hóa còn nằm trong ngôn ngữ. Khi một xã hội thay đổi cách gọi một thực tại, nhiều khi cách nghĩ về thực tại ấy cũng thay đổi. Khi phản bội được gọi là “trải nghiệm”, tham lam gọi là “tham vọng”, dối trá gọi là “chiến lược truyền thông”, vô cảm gọi là “chuyên nghiệp”, bóc lột gọi là “tối ưu nhân sự”, con người không chỉ đổi từ. Họ đang đổi lương tâm. Người giáo dân làm văn hóa vì thế đang đứng ở tuyến rất sâu của truyền giáo.
Người viết Công giáo không nhất thiết phải viết sách đạo mới truyền giáo. Một tiểu thuyết chân thật về nỗi cô độc, lòng trung thành, tội lỗi và tha thứ có thể mở con người đến mầu nhiệm sâu hơn nhiều bài tuyên truyền. Một đạo diễn không cần đặt cây thánh giá trong mọi cảnh để tác phẩm mang tinh thần Kitô giáo. Nếu bộ phim tôn trọng sự phức tạp của con người, không khai thác thân xác như hàng hóa, không chế nhạo người yếu, dám đặt câu hỏi về tội và trách nhiệm, mở một khe cho hy vọng, tác phẩm ấy đã làm công việc chuẩn bị Tin Mừng. Một nhạc sĩ có thể phục vụ vẻ đẹp. Một kiến trúc sư có thể thiết kế những không gian khiến con người gặp nhau hơn thay vì cô lập nhau. Một nhà báo có thể thi hành chức ngôn sứ bằng cách kiểm chứng sự thật, bảo vệ danh dự người chưa được xét xử, không bán nỗi đau để lấy lượt xem. Một giáo viên có thể truyền giáo bằng cách dạy học sinh yêu sự thật hơn điểm số. Một biên tập viên có thể từ chối loại nội dung làm nhục con người dù nó dễ viral. Một nhà thiết kế sản phẩm có thể chống lại những cơ chế cố tình gây nghiện. Đây là những việc không ồn ào nhưng có tầm thần học rất lớn, bởi văn hóa quyết định môi trường mà lương tâm thở.
Sai lầm của nhiều người Công giáo trong văn hóa là nhầm truyền giáo với tuyên truyền. Tuyên truyền bắt đầu từ kết luận có sẵn và dùng mọi phương tiện để ép người nghe đồng ý. Loan báo Tin Mừng tôn trọng sự thật, tự do và hành trình của con người. Tuyên truyền sợ câu hỏi. Đức tin trưởng thành không sợ câu hỏi. Tuyên truyền đơn giản hóa đối thủ để dễ đánh. Đức tin biết con người phức tạp. Tuyên truyền dùng cảm xúc để thao túng. Tin Mừng đánh động trái tim nhưng không lừa nó. Người nghệ sĩ Công giáo không phải họa sĩ minh họa cho các khẩu hiệu đạo. Họ phải là nghệ sĩ thật. Nhà văn Công giáo phải viết hay trước khi đòi độc giả gọi tác phẩm là Công giáo. Nhà khoa học Công giáo phải làm khoa học nghiêm túc. Giáo viên Công giáo phải dạy tốt. Kiến trúc sư Công giáo phải thiết kế có chất lượng. Nếu sự hiện diện Công giáo trong văn hóa chỉ có ý hướng tốt nhưng chất lượng kém, chúng ta vô tình làm người khác nghĩ đức tin chống lại sự xuất sắc.
Ở đây chạm đến khoa học. Từ lâu, một kiểu kể chuyện đơn giản hóa đã dựng khoa học và đức tin thành hai đội quân đối đầu: khoa học thuộc lý trí, đức tin thuộc mù quáng; khoa học càng tiến thì tôn giáo càng lùi. Lịch sử thực phức tạp hơn nhiều. Khoa học hiện đại phát triển trong một bối cảnh văn hóa trong đó niềm tin vào tính hợp lý của tạo thành, khả năng hiểu được trật tự tự nhiên và giá trị của việc tìm kiếm chân lý có vai trò đáng kể. Nhưng không cần lý tưởng hóa lịch sử để thấy một điều thần học căn bản: nếu Thiên Chúa là Đấng tạo dựng thế giới, việc nghiên cứu thế giới không thể tự nó là chống Thiên Chúa. Kính thiên văn không đe dọa Đấng Tạo Hóa. Kính hiển vi không làm mất mầu nhiệm. Giải mã gene không xóa phẩm giá con người. Khám phá tuổi vũ trụ không làm Thiên Chúa nhỏ đi. Đối với người Kitô hữu, sự thật không thể cuối cùng chống lại sự thật. Nếu một dữ kiện khoa học chắc chắn làm ta phải sửa một cách giải thích Kinh Thánh quá đơn giản, ta nên sửa cách giải thích chứ không sợ dữ kiện.
Người giáo dân làm khoa học có một sứ mạng cao quý: phục vụ sự thật của tạo thành. Họ không cần biến phòng thí nghiệm thành nhà nguyện bằng lời nói đạo đức. Họ làm chứng bằng sự trung thực với dữ liệu. Không sửa kết quả để đẹp hơn. Không che thất bại thí nghiệm. Không ký tên vào nghiên cứu mình không làm. Không thổi phồng kết luận để xin tài trợ. Không để lợi ích doanh nghiệp mua kết quả. Không dùng danh tiếng để đè nhà nghiên cứu trẻ. Không coi đồng nghiệp như công cụ. Sự liêm chính khoa học là một hình thức sống điều răn “chớ làm chứng dối”. Một nhà khoa học Công giáo gian lận dữ liệu nhưng dự lễ đều không làm chứng cho Đức Kitô. Một nhà khoa học vô thần trung thực với sự thật đôi khi đang đứng gần tinh thần của Đấng là Sự Thật hơn người tín hữu dùng danh Chúa nhưng không tôn trọng dữ kiện. Điều này không hạ thấp đức tin. Nó nhắc chúng ta rằng đức tin thật phải làm lương tâm sắc hơn.
Khoa học cũng đặt ra câu hỏi về giới hạn. Khả năng làm một việc không tự động có nghĩa được phép làm. Đây là nơi đạo đức bước vào. Kỹ thuật có thể trả lời “làm thế nào”; nó không luôn trả lời “có nên làm không” và “làm để làm gì”. Ta có thể chỉnh sửa gene ở mức nào? Có thể tạo hệ thống giám sát đến đâu? Có thể dùng dữ liệu cá nhân thế nào? Có thể phát triển vũ khí tự động không? Có thể kéo dài sự sống bằng mọi giá không? Có thể dùng phôi người như vật liệu nghiên cứu không? Có thể thiết kế thuật toán để giữ người dùng trên màn hình lâu nhất bằng cách khai thác điểm yếu tâm lý không? Những câu hỏi ấy không phải chống khoa học. Ngược lại, chúng tôn trọng khoa học đủ để hỏi trách nhiệm của quyền năng khoa học. Lịch sử cho thấy trí tuệ con người có thể chế tạo thuốc cứu sống và khí độc, điện năng và bom, mạng kết nối và hệ thống thao túng. Kỹ thuật khuếch đại ý định. Vì thế càng mạnh càng cần lương tâm.
Thời đại trí tuệ nhân tạo làm điều này rõ đặc biệt. Giáo dân làm công nghệ đang ở một trong những “Areopagus” lớn nhất của thời đại. Họ quyết định bằng code những điều sau này hàng triệu người tưởng là tự nhiên. Một kỹ sư thiết kế thuật toán đề xuất nội dung đang ảnh hưởng điều người dùng thấy. Một nhóm sản phẩm tối ưu thời gian sử dụng đang tác động đến giấc ngủ, sự chú ý và quan hệ gia đình. Một hệ thống tuyển dụng tự động có thể nhân bản định kiến trong dữ liệu. Một mô hình AI trong y tế có thể cứu sống nhưng cũng có thể tạo bất công nếu dữ liệu không đại diện. Một nền tảng có thể kết nối cộng đồng và đồng thời làm lan tin giả. Người giáo dân trong công nghệ không thể nói: “Tôi chỉ viết code, còn người khác dùng thế nào là chuyện của họ.” Khi biết sản phẩm mình tạo ra có hệ quả lớn, trách nhiệm luân lý cũng lớn theo. Không phải kỹ sư chịu trách nhiệm một mình; tổ chức, lãnh đạo, nhà đầu tư, luật pháp và người dùng đều tham gia. Nhưng không ai được núp sau câu “hệ thống quyết định”.
Giáo dục cũng là ruộng lớn của giáo dân. Giáo viên không chỉ truyền dữ kiện. Họ góp phần hình thành cách người trẻ nhìn thế giới. Một giáo viên dạy học sinh rằng câu hỏi tốt đáng giá hơn câu trả lời thuộc lòng đã phục vụ sự thật. Một nhà nghiên cứu giúp sinh viên phân biệt nguồn đáng tin với tin giả đang làm việc luân lý. Một hiệu trưởng xây văn hóa trường không dung túng bắt nạt đang bảo vệ phẩm giá. Một giảng viên đại học không lợi dụng quyền lực trên sinh viên đang làm chứng cho một kiểu quyền bính khác. Giáo dục Công giáo không chỉ là thêm giờ cầu nguyện vào chương trình. Nếu trường mang tên Công giáo mà học sinh bị áp lực thành tích đến mức đánh mất con người, giáo viên cạnh tranh độc hại, người yếu bị bỏ lại, tiền bạc quyết định mọi cơ hội, thì cây thánh giá trên tường chưa đủ. Căn tính Công giáo phải đi vào cách dạy, cách chấm, cách kỷ luật, cách đối xử với người thất bại và cách định nghĩa thành công.
Văn hóa và khoa học gặp nhau ở câu hỏi về sự thật. Xã hội hậu kỹ thuật số đang gặp một cuộc khủng hoảng không phải thiếu thông tin mà thiếu khả năng phân biệt thông tin. Con người có thể tiếp cận hàng triệu trang nhưng không biết tin ai. Hình ảnh có thể được tạo giả. Giọng nói có thể được mô phỏng. Tin tức chạy nhanh hơn kiểm chứng. Cảm xúc mạnh được ưu tiên hơn nội dung đúng. Trong bối cảnh ấy, người giáo dân làm báo, truyền thông, công nghệ và giáo dục có một sứ mạng gần như khổ chế: chậm lại đủ để kiểm tra. Không chia sẻ chỉ vì tin phù hợp với phe mình. Không dùng hình ảnh cắt ghép để hạ người khác. Không lấy lời người khác khỏi ngữ cảnh. Không dùng tiêu đề lừa để lấy lượt đọc. Không đổ dầu vào phẫn nộ vì phẫn nộ sinh tương tác. Một lần bấm “chia sẻ” cũng có thể là hành vi luân lý. Chức ngôn sứ của người giáo dân trên mạng không nằm ở việc đăng nhiều câu đạo. Nó nằm ở cách họ đối xử với sự thật.
Người trí thức Công giáo có một trách nhiệm đặc biệt: không được lười suy nghĩ nhân danh đức tin. Có một thứ chống trí thức được ngụy trang bằng lòng đạo: cái gì phức tạp thì nghi, chuyên gia thì không tin, nghiên cứu nào không hợp điều mình muốn nghe thì bảo thiên kiến, mọi vấn đề đều trả lời bằng vài câu đạo đức. Thái độ ấy làm hại Hội Thánh. Đức tin tìm kiếm sự hiểu biết. Truyền thống Công giáo có những đại học, thư viện, trường học, học giả, nhà thần học, nhà khoa học không phải do tình cờ. Tin vào Thiên Chúa Ngôi Lời nghĩa là tin thực tại có thể được hiểu, dù không bao giờ bị hiểu hết. Khi người tín hữu sợ lý trí, họ tự làm đức tin yếu đi. Khi họ dùng phép lạ để lấp mọi khoảng trống khoa học, rồi khoa học giải thích được khoảng trống ấy, đức tin của họ bị lung lay không phải vì khoa học mạnh quá nhưng vì thần học ban đầu quá yếu.
Ngược lại, khoa học cũng có cám dỗ vượt quá giới hạn của mình thành một thứ duy khoa học. Khoa học có thể nghiên cứu cơ chế của sự sống nhưng không bằng phương pháp thực nghiệm mà chứng minh được đời người có ý nghĩa hay không. Khoa học có thể mô tả hoạt động não khi con người cầu nguyện nhưng không từ đó kết luận Thiên Chúa có hay không. Khoa học có thể đo hiệu quả của một phương pháp giáo dục nhưng không tự quyết định con người đáng được giáo dục để trở thành loại người nào. Khoa học có thể dự báo xác suất sống còn nhưng không tự trả lời phẩm giá người bệnh là gì. Khi khoa học được biến thành một thế giới quan toàn bộ, nó đã đi khỏi phương pháp của mình sang triết học, đôi khi mà không thừa nhận. Người trí thức Công giáo cần có đủ khiêm tốn để không bắt khoa học trả lời câu hỏi thần học, và đủ tỉnh táo để không để thần học trả lời thay câu hỏi khoa học.
Một linh đạo giáo dân trưởng thành vì thế đòi sự hiệp nhất đời sống. Không có hai con người: một người đạo đức ngày Chúa Nhật và một người thực dụng từ thứ Hai đến thứ Bảy. Không có một lương tâm trong nhà thờ và một lương tâm ở phòng họp. Người giáo dân Công giáo làm chính trị phải là môn đệ trong chính trị. Nhà khoa học phải là môn đệ trong phòng thí nghiệm. Nghệ sĩ là môn đệ trong sáng tạo. Doanh nhân là môn đệ trong bảng lương. Nhà báo là môn đệ trước tin nóng. Luật sư là môn đệ trong hồ sơ. Giáo viên là môn đệ khi chấm bài. Kỹ sư là môn đệ khi ký nghiệm thu. Bác sĩ là môn đệ khi nói sự thật với bệnh nhân. Không phải lúc nào họ cũng nói tên Đức Giêsu. Nhưng mọi lúc họ phải thuộc về Đức Giêsu.
Điều này cũng giải thích vì sao đời cầu nguyện không làm người giáo dân rời xa thế giới mà trả họ về thế giới với đôi mắt khác. Một chính trị gia cầu nguyện thật sẽ dần thấy người dân không chỉ là cử tri. Một doanh nhân cầu nguyện thật sẽ thấy nhân viên không chỉ là chi phí. Một bác sĩ cầu nguyện thật sẽ thấy bệnh nhân không chỉ là ca bệnh. Một nhà khoa học cầu nguyện thật sẽ thấy dữ liệu không phải tài sản để bóp theo ý mình. Một nhà báo cầu nguyện thật sẽ thấy người trong tin tức có gia đình và danh dự. Một giáo viên cầu nguyện thật sẽ nhìn đứa học yếu không chỉ như cản trở thành tích lớp. Cầu nguyện không cung cấp giải pháp kỹ thuật, nhưng thanh luyện cái nhìn. Mà trong mọi nghề, cách nhìn quyết định cách hành động.
Thánh Thể có một chiều kích chính trị theo nghĩa sâu này. Trong Thánh Thể, người giàu và người nghèo, người học cao và người ít học, người quyền lực và người vô danh cùng đứng trước một Bánh. Không ai mua được Đức Kitô nhiều hơn. Không ai có ghế hạng thương gia trong ân sủng. Bàn tiệc ấy phán xét mọi cấu trúc xã hội biến phẩm giá thành hàng hóa. Khi người tín hữu rước cùng một Mình Thánh rồi bước ra khinh người nghèo, họ mâu thuẫn với điều vừa cử hành. Khi một cộng đoàn quỳ rất đẹp trước Thánh Thể nhưng không quan tâm đến người bị bóc lột ngay trong hệ thống kinh tế mình hưởng lợi, việc đạo đức cần được xét lại. Thánh Thể không phải một chương trình chính trị, nhưng tạo ra một dân có cách nhìn xã hội không thể hoàn toàn giống thế gian.
Đồng thời, người giáo dân phải tránh một cám dỗ rất lớn của những người dấn thân công ích: nghĩ mình cứu thế giới. Người làm xã hội dễ kiệt sức vì mang gánh không thuộc về mình. Bất công quá nhiều, chính sách đổi quá chậm, văn hóa quá mạnh, sự ngu dốt quá sâu, tham nhũng quá phức tạp. Nếu họ không có cánh chung Kitô giáo, họ dễ rơi vào hai cực: cuồng nhiệt cách mạng hoặc cay đắng tuyệt vọng. Người Kitô hữu làm việc cho công ích với tất cả sức mình nhưng biết Nước Thiên Chúa không do mình xây xong. Ta gieo, người khác gặt. Ta sửa được một quy định, không cứu được toàn xã hội. Ta giúp một nhóm trẻ, chưa chấm dứt bất bình đẳng. Ta viết một bài đúng, không dẹp hết tin giả. Ta giữ một phòng thí nghiệm trung thực, không làm cả ngành khoa học trong sạch. Khiêm tốn cánh chung bảo vệ người dấn thân khỏi kiêu ngạo và tuyệt vọng. Thiên Chúa là Đấng hoàn tất lịch sử, không phải ta.
Tuy nhiên hy vọng cánh chung không phải cớ cho sự chậm chạp đạo đức. “Đời này rồi cũng qua” không cho phép bỏ mặc đời này. Chính vì đời người có giá trị vĩnh cửu nên việc xảy ra trong thời gian có trọng lượng. Một đứa trẻ bị mất cơ hội học không thể được an ủi bằng câu “đời sau sẽ tốt hơn” để chúng ta khỏi sửa bất công hiện tại. Một người lao động bị đối xử như máy không thể chỉ được khuyên chịu khó cầu nguyện. Một người bị vu oan không chỉ cần lời mời tha thứ; họ còn cần công lý. Đức tin không làm công lý thừa. Tha thứ Kitô giáo không xóa trách nhiệm xã hội. Bác ái không thay công lý; bác ái đi xa hơn công lý nhưng trước hết không được thấp hơn công lý.
Ở Việt Nam và trong nhiều xã hội Á châu, người Công giáo còn phải học một sự trưởng thành đặc biệt: phân biệt giữa tôn trọng trật tự và thụ động. Văn hóa đề cao hòa khí có nhiều điều đẹp, nhưng cũng có thể khiến người ta ngại góp ý, ngại tố cáo sai phạm, ngại bảo vệ người yếu vì sợ “phiền”. Có khi sự im lặng được gọi là khôn ngoan nhưng thực ra là sợ. Có khi người ta nói “đừng dính vào” khi một bất công rõ ràng đang diễn ra. Linh đạo giáo dân không cổ võ gây rối. Nhưng Đức Kitô cũng không dạy một thứ bình an được mua bằng sự im lặng trước sự thật. Người tín hữu cần học cách nói thật có chứng cứ, đúng thẩm quyền, đúng cách, với lòng bác ái, sẵn sàng chịu trách nhiệm về lời mình nói. Phản biện không đồng nghĩa chống đối. Trung thành không đồng nghĩa im lặng. Vâng phục không đồng nghĩa từ bỏ lương tâm.
Trong mọi dấn thân công cộng, người giáo dân cần giữ một nguyên tắc khác: phương tiện cũng thuộc luân lý. Không thể bảo vệ sự thật bằng tin giả. Không thể bảo vệ phẩm giá bằng nhục mạ. Không thể chống tham nhũng bằng tham nhũng “vì mục tiêu tốt”. Không thể bảo vệ Hội Thánh bằng che giấu điều sai. Không thể phục vụ công ích bằng bạo lực ngôn từ khiến xã hội thêm độc. Mục tiêu tốt không rửa sạch phương tiện xấu. Đây là điểm kiểm tra rất thật cho người Công giáo trong tranh luận chính trị và văn hóa. Nếu để bảo vệ điều mình tin mà ta phải nói dối, bóp méo dữ kiện, gán động cơ, chế giễu người khác, tung thông tin chưa kiểm chứng, kích động đám đông, thì ta đã phản bội chính sự thật mình muốn bảo vệ.
Người giáo dân trí thức còn có ơn gọi làm cầu nối giữa Hội Thánh và những câu hỏi mới. Mỗi thời đại có những vấn đề chưa có câu trả lời đóng gói sẵn: công nghệ gene, AI tạo sinh, biến đổi khí hậu, dữ liệu sinh học, robot, lao động tự động hóa, kéo dài tuổi thọ, kinh tế nền tảng, truyền thông thuật toán. Mục tử cần người giáo dân chuyên môn giải thích thực tế. Nhà thần học cần dữ liệu khoa học. Nhà khoa học cần suy tư luân lý. Giáo hội học hiệp hành đích thực phải tạo chỗ cho cuộc gặp ấy. Một kỹ sư AI Công giáo không chỉ cần được giáo xứ hỏi giúp sửa máy chiếu. Một bác sĩ không chỉ được nhờ khám bệnh từ thiện. Một luật gia không chỉ được hỏi thủ tục giấy tờ. Một nghệ sĩ không chỉ được nhờ làm backdrop lễ. Nếu Hội Thánh chỉ dùng chuyên môn của giáo dân như dịch vụ phụ trợ mà không lắng nghe họ về những vấn đề lớn của thời đại, Hội Thánh đang lãng phí đoàn sủng của chính mình.
Cũng cần nói đến thất bại. Không phải giáo dân nào bước vào chính trị cũng giữ được mình. Quyền lực có sức làm mù. Không phải trí thức Công giáo nào cũng khiêm tốn. Kiến thức có thể biến thành kiêu ngạo. Không phải nghệ sĩ Công giáo nào cũng giữ được nội tâm. Danh tiếng có thể nuốt đời sống cầu nguyện. Không phải doanh nhân nào cũng giữ được công bằng khi cạnh tranh khốc liệt. Không phải nhà khoa học nào cũng chịu từ bỏ tài trợ đáng ngờ. Vì vậy linh đạo của những người ở tuyến đầu trần thế phải có những kỷ luật cụ thể: Thánh Thể, Lời Chúa, xét mình, bí tích Hòa giải, tình bạn đức tin, người có thể nói sự thật với mình, thời gian thinh lặng, giới hạn với quyền lực và tiền bạc. Người càng ở nơi ảnh hưởng lớn càng cần những người không sợ mình. Một nhà lãnh đạo chỉ nghe người khen sớm muộn sẽ mất thực tại. Một trí thức không còn ai được phép chất vấn sẽ dễ biến sự thông minh thành ngẫu tượng. Một nghệ sĩ sống bằng ánh nhìn công chúng cần một nơi không phải biểu diễn. Một người hoạt động xã hội cần một nơi được phép yếu.
Cuối cùng, chính trị, công ích, văn hóa và khoa học không phải phụ chương của linh đạo giáo dân. Chúng nằm ở trung tâm của sứ mạng giữa đời. Khi một giáo dân đi vào phòng họp với lương tâm được soi sáng, khi họ từ chối ký điều sai dù mất lợi ích, khi họ viết một nghiên cứu trung thực, làm một bộ phim tôn trọng con người, dạy một lớp học với lòng yêu sự thật, lập một doanh nghiệp không bóc lột, tham gia một chính sách bảo vệ người yếu, kiểm chứng tin trước khi đăng, tạo một công nghệ không coi người dùng là món hàng — họ đang thi hành sứ mạng của người đã được Rửa tội. Có thể không ai gọi việc ấy là “mục vụ”. Nhưng Nước Thiên Chúa không chỉ đi qua những việc được dán nhãn mục vụ. Nước Chúa đi qua men trong bột, muối trong đất, ánh sáng đặt trên giá. Giáo dân không được sai ra khỏi nhà thờ để bắt chước thế gian. Họ được sai vào thế gian để yêu nó đủ sâu mà không thờ nó, phục vụ nó đủ thật mà không bị nó sở hữu, học lấy tri thức của nó mà không đánh mất khôn ngoan, sử dụng quyền lực mà không quên người bé nhỏ, sáng tạo văn hóa mà không bán sự thật, làm khoa học mà không biến khả năng thành thần tượng.
Chính ở đó linh đạo giáo dân trở nên trưởng thành: không phải một linh đạo chạy khỏi thành phố để giữ tay sạch, nhưng là linh đạo bước vào quảng trường mà giữ trái tim thuộc về Đức Kitô. Không phải một linh đạo sợ câu hỏi của khoa học, nhưng dám tìm sự thật đến cùng. Không phải một linh đạo chỉ lên án văn hóa từ bên ngoài, nhưng tạo nên những tác phẩm đẹp hơn, thật hơn, nhân bản hơn. Không phải một linh đạo nguyền rủa chính trị, nhưng đào tạo những công dân có lương tâm. Không phải một linh đạo nói nhiều về công ích mà sống ích kỷ, nhưng sẵn sàng trả giá cho lợi ích của người khác. Giáo dân không cần biến mọi công sở thành nhà nguyện. Họ cần mang tinh thần của nhà nguyện vào công sở. Không cần biến mọi bài nghiên cứu thành bài giáo lý. Họ cần để tình yêu sự thật của Tin Mừng làm cho nghiên cứu ấy trung thực. Không cần đưa khẩu hiệu tôn giáo vào mọi chính sách. Họ cần để phẩm giá con người, công ích, liên đới và bổ trợ trở thành những câu hỏi thường trực trong lương tâm. Khi điều ấy xảy ra, chính trị bớt là cuộc tranh quyền và trở lại phần nào với ơn gọi phục vụ; khoa học bớt kiêu căng và trở thành sự kinh ngạc có kỷ luật trước tạo thành; văn hóa bớt là thị trường kích thích và trở thành nơi con người tìm ý nghĩa; chuyên môn bớt là phương tiện thăng tiến và trở thành tài năng được trao để phục vụ. Đó chính là thế giới được thánh hóa từ bên trong, không phải bằng cách dán nhãn Công giáo lên mọi sự, nhưng bằng cách để những người thuộc về Đức Kitô sống giữa mọi sự với một lương tâm mới.
Và có lẽ đây là câu hỏi xét mình thích hợp nhất cho người giáo dân ở cuối chương này: nơi tôi đang có chuyên môn, ảnh hưởng, lá phiếu, chữ ký, tiếng nói, kiến thức, tiền bạc, tài năng và quyền quyết định, Đức Kitô đang hiện diện thế nào? Tôi có chỉ bảo vệ lợi ích của mình không? Tôi có dùng đức tin để củng cố phe mình không? Tôi có đủ khiêm tốn để học từ khoa học không? Tôi có đủ can đảm để đặt giới hạn luân lý cho khoa học không? Tôi có tạo ra văn hóa hay chỉ tiêu thụ văn hóa? Tôi có yêu sự thật cả khi sự thật làm phe tôi khó chịu không? Tôi có quan tâm công ích hay chỉ quyền lợi nhóm? Tôi có lắng nghe người yếu vốn không có micro không? Tôi có bước vào đời sống xã hội như người môn đệ hay chỉ như người muốn thắng? Nếu những câu hỏi ấy được giữ sống, chính trị, văn hóa và khoa học không còn là vùng ngoại vi của đời thiêng liêng. Chúng trở thành bàn làm việc nơi người giáo dân đặt đời mình như một lễ dâng. Và từ bàn làm việc ấy, từ phòng thí nghiệm ấy, từ lớp học ấy, từ phòng họp ấy, từ tòa soạn ấy, từ xưởng sáng tác ấy, từ lá phiếu ấy, từ chữ ký ấy, một lời cầu không thành tiếng vẫn có thể dâng lên: “Lạy Chúa, xin cho Nước Chúa trị đến, xin cho ý Chúa thể hiện dưới đất cũng như trên trời.”
CHƯƠNG 23. NGƯỜI NGHÈO, CÔNG LÝ, NGÔI NHÀ CHUNG
Linh đạo giáo dân không hoàn tất trong một căn nhà sạch, những đứa con ngoan, một công việc ổn định, một đời sống đạo đều đặn và một lương tâm thấy mình chẳng làm điều gì quá xấu. Tất cả những điều ấy đều quý, đều đáng tạ ơn, nhưng chưa đủ để diễn tả sự trưởng thành của một người môn đệ Đức Kitô sống giữa trần thế. Tin Mừng không cho phép người Kitô hữu đóng cửa nhà mình, giữ cho đời mình ngăn nắp rồi nghĩ rằng phần còn lại của thế giới là chuyện của người khác. Đức Kitô không chỉ đứng trong nhà thờ để chờ người giáo dân đến viếng. Người đứng nơi cánh cửa người nghèo, nơi người lao động bị chèn ép, nơi người di dân không giấy tờ, nơi người mẹ đơn thân không biết ngày mai lấy gì nuôi con, nơi người già bị bỏ mặc trong căn phòng nóng, nơi đứa trẻ học trong mái trường thiếu thốn, nơi người mắc nợ bị siết đến kiệt quệ, nơi một công nhân bị buộc làm thêm giờ mà không dám nói, nơi người bán hàng rong bị xua khỏi vỉa hè nhưng chẳng có nơi nào khác để kiếm sống, nơi người nông dân nhìn ruộng mình chết dần vì hạn, mặn, lũ hoặc nguồn nước ô nhiễm. Đức Kitô nghèo không chỉ là một ý niệm thiêng liêng. Người tiếp tục chờ được nhận ra nơi những khuôn mặt thật. Bởi thế linh đạo giáo dân, nếu thật sự bắt nguồn từ Nhập thể và Vượt Qua, tất yếu phải đi đến người nghèo, đi vào những câu hỏi của công lý và đi vào trách nhiệm đối với ngôi nhà chung. Không phải mọi giáo dân đều phải trở thành nhà hoạt động xã hội. Không phải ai cũng phải nói về chính sách công. Không phải ai cũng có chuyên môn kinh tế, sinh thái hoặc luật pháp. Nhưng không một người đã chịu phép Rửa nào có thể nói rằng cách mình kiếm tiền, trả lương, mua hàng, tiêu dùng, bỏ rác, đầu tư, xây nhà, sử dụng đất, dùng nước, đối xử với người yếu, chọn người cộng tác hay ứng xử với tài nguyên thiên nhiên hoàn toàn nằm ngoài đời sống thiêng liêng. Đó chính là vùng đất riêng của linh đạo giáo dân: đem sự thánh thiện vào trong những quyết định mà người ta thường gọi là chuyện đời.
Một nguy cơ lớn của đời sống đạo là thu nhỏ đức ái thành những dịp làm từ thiện. Ngày Caritas, mùa Chay, mùa Giáng Sinh, một chuyến phát quà, vài bao gạo, một khoản quyên góp, một bức ảnh thăm người nghèo: tất cả đều có thể rất tốt và rất cần. Người đói cần cơm thật, người bệnh cần thuốc thật, người bị thiên tai cần mái tôn và nước sạch thật. Không được lấy những lời lớn về công lý để khinh thường một bữa cơm cứu đói. Nhưng Tin Mừng cũng không cho phép ta dừng lại ở đó. Có những lúc ta cho người nghèo một phần quà rồi trở về một cơ cấu kinh tế trong đó chính quyết định của ta tiếp tục làm người khác nghèo thêm. Ta có thể cho tiền người công nhân khó khăn vào cuối năm nhưng suốt năm trả họ dưới mức có thể sống. Ta có thể xây một căn nhà tình thương nhưng trong việc kinh doanh lại trì hoãn thanh toán cho nhà cung cấp nhỏ, biết rõ họ đang sống bằng dòng tiền ấy. Ta có thể đi thăm người bệnh nhưng trong công ty không đóng đầy đủ những quyền lợi căn bản cho nhân viên. Ta có thể phát học bổng nhưng lại khai thác lao động trẻ em gián tiếp qua chuỗi cung ứng mà mình không muốn nhìn kỹ. Ta có thể đưa tiền cho người nghèo nhưng vẫn dùng mọi kẽ hở để đẩy rủi ro xuống người yếu hơn. Khi ấy đức ái trở thành một miếng băng nhỏ che một vết thương mà chính cơ cấu mình tham dự tiếp tục làm sâu thêm. Đức ái Kitô giáo luôn cụ thể, nhưng đức ái trưởng thành sẽ đặt câu hỏi xa hơn: tại sao người này cứ nghèo? Điều gì đang giữ họ trong nghèo? Quyết định nào của tôi, của doanh nghiệp, của cộng đồng, của chính sách, của cách tiêu dùng đang góp phần vào tình trạng ấy? Làm sao không chỉ giúp một người vượt qua hôm nay nhưng còn tạo điều kiện để họ đứng được bằng đôi chân của mình ngày mai?
Công lý vì thế không phải phần phụ dành cho vài người thích xã hội. Công lý thuộc về đời sống luân lý căn bản của Kitô hữu. Bác ái cho nhiều hơn điều người khác có quyền đòi. Công lý trước hết trả cho người khác điều thuộc về họ. Nếu tôi nợ một công nhân tiền lương mà trì hoãn vô lý, việc tôi đóng góp lớn cho nhà thờ không biến sự bất công ấy thành thánh thiện. Nếu tôi bóp giá người nông dân đến mức họ không đủ sống nhưng sau đó dâng cúng hậu hĩnh, Thiên Chúa không bị mua chuộc bởi con số trên phong bì. Nếu tôi ký một hợp đồng mà cố ý cài điều khoản để bên yếu không thể hiểu và rồi gọi đó là thông minh kinh doanh, tôi đang làm một hành vi luân lý chứ không chỉ một hành vi kỹ thuật. Nếu một người chủ doanh nghiệp biết nhân viên nữ đang bị quấy rối nhưng im lặng vì người gây ra chuyện mang về nhiều doanh thu, đó không chỉ là vấn đề nhân sự. Đó là vấn đề linh hồn. Nếu một cán bộ dùng quyền để bắt người nghèo chạy giấy tờ vô lý vì họ không có quan hệ, đó không chỉ là lỗi hành chính. Đó là sự xúc phạm phẩm giá. Nếu một giáo dân làm nghề luật biết khách hàng nghèo không hiểu gì mà vẫn tận dụng sự mù mờ ấy để thu những khoản phi lý, đó là chuyện của lương tâm. Nếu một bác sĩ nhìn bệnh nhân như nguồn thu hơn là một con người, nếu một giáo viên coi học sinh yếu là gánh nặng, nếu một người cho vay thấy sự tuyệt vọng của người khác như cơ hội kiếm lợi, nếu một người kinh doanh bất động sản lợi dụng thông tin để đẩy người nghèo ra khỏi nơi họ sống, thì bàn thờ Chúa Nhật và bàn làm việc thứ Hai không thể bị ngăn bởi một bức tường thần học. Người giáo dân không có hai đời sống. Chỉ có một đời sống được gọi nên thánh.
Đây cũng là chỗ phải nói thật rõ về người nghèo. Người nghèo không phải một vật thể đạo đức để người khá giả thực hành lòng tốt. Họ là chủ thể có phẩm giá, có tiếng nói, có lịch sử, có năng lực, có những món quà và đôi khi có một đức tin sâu hơn rất nhiều người đang mang quà đến cho họ. Giúp người nghèo mà không lắng nghe họ rất dễ biến thành quản lý người nghèo. Nói thay họ mãi có thể khiến ta không còn nghe họ. Chụp hình họ liên tục để chứng minh lòng bác ái của mình có thể biến nỗi khốn khó của họ thành chất liệu truyền thông. Có những buổi từ thiện khiến người cho trở về thấy mình tốt còn người nhận trở về thấy mình nhỏ. Đó chưa chắc đã là Tin Mừng. Đức Kitô không chỉ cho người nghèo bánh. Người ngồi với họ, hỏi họ, gọi tên họ, chạm vào họ, cho họ đứng dậy, trả họ về cộng đồng. Người mù được hỏi: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Câu hỏi ấy quan trọng. Đức Giêsu có thể biết người ấy cần gì, nhưng Người vẫn tôn trọng tự do của người đang đứng trước mặt. Linh đạo người giáo dân cũng cần học thái độ ấy: không xem mình là đấng cứu thế nhỏ. Người nghèo không cần ta để ta được thấy mình nhân đức. Họ là anh chị em. Và đôi khi người cần được cứu khỏi tính ích kỷ, khỏi lối sống khép kín, khỏi một cái nhìn quá tiện nghi lại chính là người đang cầm túi quà.
Ưu tiên dành cho người nghèo của Hội Thánh cũng không có nghĩa Thiên Chúa yêu người giàu ít hơn. Thiên Chúa yêu mọi người. Nhưng tình yêu phổ quát của Thiên Chúa có một sự nhạy cảm đặc biệt đối với người đang bị đè xuống, như một người mẹ yêu mọi đứa con nhưng khi một đứa bị thương thì bà chạy về phía nó trước. Trong Tin Mừng, Đức Giêsu gần người đau, người tội lỗi, người bị loại, người không có tiếng. Người làm thế không phải để tạo một cuộc chiến giai cấp nhưng để phục hồi sự hiệp thông đã bị tội lỗi phá vỡ. Người giàu cũng cần cứu độ. Và một trong những cách người giàu được cứu chính là được giải thoát khỏi ảo tưởng rằng của cải cho mình quyền không cần người khác. Dakêu được cứu không phải chỉ vì Đức Giêsu vào nhà ông nhưng vì cuộc gặp ấy chạm vào túi tiền, vào cách ông đã làm giàu, vào việc ông hoàn trả. Tin Mừng khi chạm đến tài sản thì mới thật sự chạm sâu. Một thứ linh đạo không bao giờ đụng đến ví tiền, đầu tư, tiền lương, lợi nhuận, tiêu dùng và quyền sở hữu rất có thể chỉ đang đi vòng ngoài của con người.
Quyền sở hữu tư nhân là điều hợp pháp và có vai trò quan trọng. Người giáo dân được phép làm ra của cải, kinh doanh, tích lũy, để lại cho con cái, phát triển doanh nghiệp, đầu tư và hưởng hoa trái lao động của mình. Kitô giáo không thần thánh hóa nghèo đói. Nghèo đói do bất công là điều phải chống lại. Nhưng truyền thống Kitô giáo luôn nhắc rằng quyền sở hữu không tuyệt đối. Của cải mang một chức năng xã hội. Thiên Chúa tạo dựng trái đất cho toàn thể nhân loại. Tôi có thể gọi một mảnh đất là của tôi theo pháp luật và với quyền chính đáng, nhưng tôi không thể vì thế coi mọi nhu cầu của người khác là vô nghĩa. Tôi có thể sở hữu doanh nghiệp, nhưng người lao động trong đó không phải dụng cụ thuộc sở hữu của tôi. Tôi có thể làm chủ vốn, nhưng đồng vốn cũng bị xét xử bởi điều nó tạo ra. Tôi có thể giàu nhưng không được làm giàu bằng cách khiến người khác mất khả năng sống một đời xứng với phẩm giá. Có những lợi nhuận hợp pháp trên giấy nhưng nghèo nàn trước mặt Thiên Chúa. Có những hợp đồng hoàn toàn đúng luật nhưng thiếu công bằng. Pháp luật quy định đáy tối thiểu của hành vi xã hội; lương tâm Kitô hữu còn hỏi đến điều thiện.
Vì thế một chủ doanh nghiệp giáo dân phải coi bảng lương là một tài liệu thiêng liêng theo nghĩa rất thật. Không phải vì trên đó có câu Kinh Thánh, nhưng vì đằng sau từng con số là một gia đình, tiền học của một đứa trẻ, thuốc của một người mẹ, tiền thuê nhà, bữa ăn cuối tháng. Khi doanh nghiệp khó khăn, có lúc thật sự phải giảm nhân sự. Không phải mọi sa thải đều bất công. Nhưng cách làm nói lên linh đạo: người ấy có được thông báo tử tế không, có được trả những gì thuộc về họ không, có bị bêu xấu để công ty tránh trách nhiệm không, có được đối xử như con người sau những năm phục vụ không? Một người lãnh đạo Kitô hữu không được phép tự ru ngủ mình bằng câu “kinh doanh là kinh doanh” như thể Tin Mừng chỉ áp dụng sau giờ làm. Kinh doanh chính là một trong những nơi Tin Mừng bị thử lửa. Khi lợi nhuận cao, ta chia thế nào? Khi lỗ, ai gánh trước? Khi cần cắt chi phí, ta cắt từ đặc quyền của người trên hay từ sự sống còn của người dưới? Khi một nhân viên không đạt, ta xử lý họ thế nào? Khi khách hàng yếu thế, ta có lợi dụng không? Khi đối tác gặp khó, ta có dùng thời cơ để ép đến tận cùng không? Mỗi câu hỏi ấy đều có thể là một phút xét mình.
Người lao động giáo dân cũng có trách nhiệm công lý từ phía mình. Không thể chỉ nói về quyền mà quên bổn phận. Nhận lương nhưng làm việc cẩu thả, lấy giờ công làm việc riêng, ăn cắp vật tư nhỏ, gian giờ, khai khống, dùng tài sản cơ quan cho lợi ích cá nhân, thông đồng, đẩy việc cho người khác, cố ý trì hoãn để nhận thêm lợi ích: đó cũng là bất công. Người nghèo không tự động thánh vì nghèo. Người lao động không tự động đúng trong mọi xung đột. Công lý không phải đứng về một nhóm bằng phản xạ. Công lý tìm sự thật, phẩm giá và thiện ích chung. Linh đạo giáo dân trưởng thành không biến học thuyết xã hội của Hội Thánh thành một khẩu hiệu để đánh phe này bằng phe kia. Nó tập cho lương tâm nhìn mọi phía nhưng luôn đặc biệt cảnh giác khi cán cân quyền lực lệch quá mạnh, bởi nơi quyền lực chênh lệch, người yếu rất dễ không còn tiếng.
Từ người nghèo, câu chuyện mở sang ngôi nhà chung. Đây không phải một chuyển đề tùy tiện. Người nghèo và trái đất bị thương thường cùng chịu hậu quả của một kiểu phát triển thiếu giới hạn. Người giàu có thể mua máy lạnh khi khí hậu nóng hơn; người nghèo làm ngoài trời phải chịu nhiệt. Người giàu có thể chuyển nhà khi khu vực ngập; người nghèo có khi mất cả tài sản sau một đêm nước lên. Người giàu có thể mua nước sạch; người nghèo uống nguồn nước gần nơi xả thải. Một doanh nghiệp có thể ghi lợi nhuận trong sổ sách còn cộng đồng chung quanh ghi chi phí ấy bằng bệnh hô hấp, nước bẩn, đất chết, tiếng ồn, bụi và sinh kế mất đi. Khi chi phí môi trường bị đẩy ra ngoài bảng cân đối kế toán, thường một người khác đang trả nó bằng thân xác. Chính vì thế sinh thái và công lý không tách nhau. “Tiếng kêu của trái đất” và “tiếng kêu của người nghèo” rất thường là cùng một tiếng kêu phát ra từ hai vết thương.
Laudato Si’ phải được đọc như một văn kiện linh đạo giáo dân chứ không chỉ như một văn kiện về cây xanh, khí hậu hoặc quản lý rác. Trung tâm của nó rộng hơn nhiều: tương quan giữa Thiên Chúa, con người, xã hội và tạo thành đã bị thương bởi tội lỗi và cần được chữa lành. Sinh thái toàn diện không hỏi riêng: chúng ta đã trồng bao nhiêu cây? Nó hỏi: chúng ta đang sống kiểu gì? Cái gì đang định nghĩa hạnh phúc? Tại sao phải mua nhiều đến thế? Vì sao cái còn dùng được trở thành rác chỉ vì có mẫu mới? Vì sao tốc độ sản xuất, tiêu thụ và thay thế lại được coi như luật tự nhiên? Vì sao tăng trưởng kinh tế được xem như mục tiêu không cần chất vấn, kể cả khi sức khỏe cộng đồng, gia đình, đất đai và tương lai con trẻ bị đặt vào sau? Một cuộc khủng hoảng sinh thái tận gốc cũng là khủng hoảng về ham muốn. Con người muốn nhiều hơn, nhanh hơn, rẻ hơn, tiện hơn, ngay lập tức hơn. Trái đất không đủ sức đáp vô hạn cho lòng ham vô hạn. Linh đạo ở đây không phải trang trí tôn giáo trên một chương trình bảo vệ môi trường. Linh đạo chạm đến câu hỏi cổ xưa nhất: ai là Chúa? Nếu Thiên Chúa là Chúa thì tôi không phải. Nếu tạo thành là quà tặng thì nó không chỉ là vật liệu. Nếu con người là thụ tạo thì con người có giới hạn. Học chấp nhận giới hạn là một hành vi thờ phượng.
Tội nguyên tổ trong sách Sáng Thế có thể được đọc ở đây với ánh sáng rất thực tế. Con người được trao vườn để canh tác và gìn giữ, nhưng lại muốn chiếm điều thuộc về Thiên Chúa. Tội không chỉ là ăn một trái cây bị cấm. Tội là sự từ chối thân phận thụ tạo, muốn tự mình quyết định thiện ác, muốn sở hữu như thể chẳng nhận từ ai. Mọi nền văn hóa tiêu dùng vô hạn đều có một tiếng vọng của cám dỗ ấy: lấy đi mà không cần biết giới hạn; sử dụng mà không cần trả lại; hưởng lợi mà không cần biết ai chịu hậu quả. Trái lại, đời sống thiêng liêng giáo dân học lại lời “đủ”. Đủ không phải là nghèo nàn. Đủ là tự do. Một người biết đủ không dễ bị quảng cáo điều khiển. Một gia đình biết đủ không cần biến mọi mong muốn của con thành nhu cầu. Một doanh nhân biết đủ có thể nói không với một khoản lời đòi đánh đổi quá nhiều. Một cộng đoàn biết đủ không cần xây mọi thứ thật lớn để chứng minh sức mạnh. Một xã hội biết đủ mới để lại chỗ cho thế hệ sau.
Điều này cần đi xuống những chuyện rất nhỏ, nếu không linh đạo sinh thái lại trở thành bài diễn văn. Rác là một vấn đề thiêng liêng. Không phải vì mỗi lần bỏ nhầm một chai nhựa là phạm một trọng tội, nhưng vì cách ta đối xử với vật chất phản ánh cách ta hiểu tạo thành. Một nền văn hóa “dùng rồi bỏ” rất dễ lan từ đồ vật sang con người. Điện thoại cũ thì bỏ. Quần áo lỗi mốt thì bỏ. Thức ăn dư thì bỏ. Nhân viên kém hiệu quả thì bỏ. Người già không còn năng suất thì bỏ. Thai nhi bất tiện thì bỏ. Người bệnh tốn kém thì trở thành gánh. Người nghèo không phù hợp với mỹ quan đô thị thì bị đẩy đi. Một logic thải loại có thể bắt đầu từ hàng hóa và kết thúc trên khuôn mặt con người. Bởi thế việc sửa một món đồ thay vì vứt, dùng lại, tiết chế, tránh lãng phí thức ăn, cân nhắc trước khi mua, không chạy theo thay mới vô tận không chỉ là mẹo tiết kiệm. Chúng có thể trở thành những thao luyện nhỏ của một linh đạo chống lại văn hóa thải loại.
Nước cũng vậy. Vặn vòi nước là một động tác thường ngày đến mức ta quên rằng ở nhiều nơi nước sạch là một ân huệ khó kiếm. Một người giáo dân sống linh đạo tạo thành không hoảng loạn trước mọi giọt nước mình dùng, nhưng biết lòng biết ơn. Biết ơn làm thay đổi cách dùng. Cái gì được nhận như quà thì người ta ít phung phí hơn. Điện, nước, thực phẩm, đất, không khí, nhiên liệu đều có thể được nhìn bằng đôi mắt Thánh Thể: đón nhận, tạ ơn, sử dụng trong chừng mực, chia sẻ. Thánh Thể dạy một logic ngược với tiêu dùng. Tiêu dùng nói: lấy, dùng, bỏ. Thánh Thể nói: nhận, tạ ơn, bẻ ra, trao. Không phải ngẫu nhiên mà linh đạo Kitô giáo sâu nhất lại có khả năng tạo nên một lối sống sinh thái sâu nhất. Người biết mọi sự là hồng ân sẽ khó đối xử với thế giới như kho vật liệu vô tận.
Bữa ăn gia đình là một nơi khác để học sinh thái toàn diện. Một bữa cơm không chỉ là calo. Trong một hạt gạo có đất, nước, nắng, người gieo, người gặt, người vận chuyển, người bán, người nấu. Cầu nguyện trước bữa ăn, nếu không trở thành máy móc, là một hành vi kháng cự lại sự vô cảm. Nó nhắc rằng ta không tự tạo thức ăn cho mình. Ta sống nhờ mạng lưới của tạo thành và lao động con người. Khi đứa trẻ học không bỏ thức ăn không chỉ vì “tiếc tiền” nhưng vì biết đằng sau miếng cơm có công sức và tài nguyên, nó đang học một bài học thần học rất căn bản. Khi gia đình chọn ăn vừa đủ, không biến tiệc tùng thành phô trương, không lấy lượng thức ăn bị bỏ đi làm dấu hiệu của sự dư dả, đó là một hình thức tiết độ. Tiết độ là nhân đức bị quên trong xã hội tiêu thụ, nhưng không có nó thì mọi lời kêu gọi bảo vệ ngôi nhà chung rất yếu. Công nghệ có thể giúp ta tiêu thụ hiệu quả hơn; chỉ nhân đức mới giúp ta muốn ít đi.
Giao thông, nhà ở, du lịch, thời trang, đồ điện tử cũng đi vào linh đạo theo cách ấy. Không ai được cứu độ chỉ vì đi xe nhỏ, và không ai bị kết án chỉ vì có điều kiện sống tiện nghi. Kitô giáo không xây một bảng điểm đạo đức sinh thái để người này khinh người kia. Một người sống ở vùng xa có nhu cầu xe cộ khác người sống giữa trung tâm thành phố. Một gia đình đông con có nhu cầu khác người độc thân. Một người làm nghề cần thiết bị mạnh có nhu cầu khác người chỉ mua vì chạy theo mẫu mới. Linh đạo không đồng nhất hóa mọi hoàn cảnh; linh đạo dạy phân định. Tôi thật sự cần gì? Tôi mua vì nhu cầu hay để lấp một khoảng trống tâm lý? Tôi đổi đồ vì nó hỏng hay vì sợ mình trông lỗi thời? Tôi đi một chuyến vì cần nghỉ, gặp người thân, phục vụ hay chỉ vì mạng xã hội khiến tôi thấy đời người khác hấp dẫn hơn? Tôi có thể sống đơn giản hơn chút nào mà không làm tổn hại trách nhiệm của mình không? Những câu hỏi nhỏ ấy chống lại một cơn đói lớn mà thị trường luôn muốn giữ cho không bao giờ no.
Nhưng sẽ là sai nếu đặt toàn bộ trách nhiệm sinh thái lên lựa chọn cá nhân. Người giáo dân có trách nhiệm cá nhân, nhưng cũng sống trong cơ cấu. Có những vấn đề mà một cá nhân mang bình nước riêng không giải quyết được. Nguồn nước bị ô nhiễm cần luật và quản trị. Không khí độc cần tiêu chuẩn và thực thi. Quy hoạch đô thị cần chính sách. Năng lượng cần chiến lược dài hạn. Rác thải cần hạ tầng. Người dân không thể tự mình chống một nhà máy xả độc nếu hệ thống bảo vệ môi trường không hoạt động. Vì thế công dân Kitô hữu không chỉ hỏi mình phân loại rác chưa nhưng còn phải quan tâm đến thiện ích chung. Chính trị theo nghĩa cao quý là chăm lo công ích. Người giáo dân có thể có những lựa chọn chính trị khác nhau, những đánh giá kỹ thuật khác nhau, những cách ưu tiên khác nhau. Giáo huấn xã hội không đưa sẵn một chương trình kỹ thuật duy nhất. Nhưng lương tâm Kitô hữu không được phép thờ ơ với hậu quả của chính sách đối với người nghèo, đối với sự sống, đối với gia đình, đối với lao động, đối với môi trường và các thế hệ tương lai. Không thể nói “đạo ở trong nhà thờ, chuyện xã hội không liên quan”. Chính nơi xã hội, người giáo dân thực thi phần lớn sứ mạng riêng của mình.
Điều này đòi một thái độ rất tỉnh táo. Khi môi trường trở thành chủ đề chính trị, người Kitô hữu rất dễ bị kéo vào hai cực. Một cực biến mọi cảnh báo sinh thái thành tôn giáo mới, nơi con người gần như bị xem là kẻ thù của hành tinh và sự sống con người bị hạ thấp. Cực kia phủ nhận hoặc chế giễu mọi trách nhiệm môi trường như thể quan tâm đến khí hậu, nước sạch, đa dạng sinh học hay ô nhiễm là chuyện của một phe ý thức hệ. Cả hai đều nghèo. Đức tin Kitô giáo bảo vệ đồng thời phẩm giá con người và giá trị nội tại của tạo thành như công trình của Thiên Chúa. Con người không phải ung thư của trái đất. Con người là thụ tạo được trao trách nhiệm. Nhưng chính vì được trao trách nhiệm mà con người không có quyền tàn phá vô trách nhiệm. Thống trị theo sách Sáng Thế không phải giẫm đạp; đó là quản lý trong tư cách người đại diện. Quyền lực càng lớn, trách nhiệm càng lớn.
Một doanh nghiệp Công giáo hoặc do người Công giáo điều hành vì thế không thể coi môi trường là hạng mục trang trí truyền thông. Trồng cây một ngày nhưng cả năm xả thải sai chuẩn là đạo đức hình ảnh. In khẩu hiệu xanh trên bao bì nhưng thiết kế sản phẩm để nhanh hỏng nhằm tăng doanh số là một câu hỏi luân lý. Mua tín chỉ hay làm chiến dịch quảng bá không thay thế việc xem xét chính quá trình sản xuất. Linh đạo ở đây đòi sự thật. Ta đang lấy gì từ đất? Ta trả lại gì? Chất thải đi đâu? Nước thải về đâu? Người sống chung quanh có đang gánh chi phí mà báo cáo tài chính không ghi? Sản phẩm của ta có được thiết kế để tồn tại đủ lâu không? Chuỗi cung ứng có bóc lột một vùng đất hoặc một nhóm người mà khách hàng cuối không nhìn thấy không? Tất nhiên không một doanh nghiệp nào có thể giải quyết mọi vấn đề cùng lúc. Trách nhiệm phải thực tế. Nhưng có khác biệt lớn giữa chưa làm được hết và cố ý không muốn biết. Lương tâm thường chết trước khi hành vi xấu xảy ra: nó chết ở chỗ ta không muốn hỏi.
Người giáo dân làm trong tài chính cũng cần đặt vấn đề này. Đồng tiền không trung tính tuyệt đối. Tiền đi đâu thì năng lực tạo thực tại đi theo đó. Đầu tư vào điều gì, cấp vốn cho ai, cho vay theo điều kiện nào, đánh giá rủi ro theo tiêu chí nào, đó là các hành vi định hình thế giới. Không phải mọi người đều có khả năng kiểm tra từng đồng đầu tư. Các hệ thống tài chính phức tạp. Nhưng càng có quyền quyết định lớn, trách nhiệm càng lớn. Người quản lý quỹ, ngân hàng, doanh nghiệp, nhà đầu tư có thể góp phần rất nhiều cho thiện ích chung nếu biết nhìn lợi nhuận cùng với tác động dài hạn. Điều nguy hiểm nhất là khi tiền trở thành trừu tượng đến mức người quyết định không còn thấy khuôn mặt phía sau con số. Một khoản lợi tức thêm hai phần trăm có thể tương ứng với một cộng đồng mất đất, một người vay mắc bẫy, một nhà máy cắt an toàn, một cánh rừng bị hạ hoặc một chuỗi lao động bị ép đến tận cùng. Không phải lúc nào mối liên hệ cũng rõ, nhưng linh đạo khiến người có quyền đặt câu hỏi mà thị trường thuần túy không tự đặt.
Người giáo dân làm việc trong nhà nước, chính quyền, quy hoạch, xây dựng, nông nghiệp, tài nguyên, y tế, giáo dục lại đứng ở những nút rất nhạy. Một chữ ký có thể cứu hoặc làm khổ hàng ngàn người. Một hồ sơ bị trì hoãn vì người ta không “biết điều” có thể là một gia đình mất cơ hội. Một quy hoạch trên bản đồ có thể là nơi tổ tiên ai đó đã sống nhiều thế hệ. Một mức bồi thường có thể là con số đối với văn phòng nhưng là toàn bộ tương lai của một nhà. Một dự án thủy lợi, đường sá, khai thác tài nguyên có thể thật sự cần cho phát triển, nhưng người bị ảnh hưởng có được nghe không? Có phương án giảm thiệt hại không? Ai hưởng lợi, ai trả giá? Linh đạo giáo dân không cho sẵn mọi câu trả lời kỹ thuật. Nhưng nó tạo một lương tâm không chấp nhận biến con người thành con số dễ di chuyển.
Công lý còn phải bước vào trong chính gia đình. Có những gia đình rất sốt sắng nhưng người giúp việc bị đối xử như người hạng hai. Ăn riêng, nghỉ sau, làm không giờ, bị gọi bằng giọng khinh miệt. Có gia đình đọc kinh chung nhưng người tài xế bị bắt chờ hàng giờ mà không được tính thời gian. Có chủ nhà trọ Công giáo nâng giá vô lý khi người thuê đang khó. Có người đi lễ mỗi sáng nhưng nợ tiền người thợ sửa nhà nhiều tháng dù hoàn toàn có khả năng trả. Đây là những nơi rất cụ thể để xét mình. Không cần đợi một dự án xã hội lớn. Người nghèo ở ngay trong danh bạ điện thoại, trong bảng lương, trong người giao hàng đang đứng dưới mưa, trong cô lao công đến trước ta và về sau ta, trong nhân viên bảo vệ trực đêm. Cách ta nhìn họ nói nhiều về đức tin hơn nhiều lời đạo đức.
Người nghèo cũng có thể ở trong chính gia đình ta: cha mẹ già phụ thuộc, người anh em thất nghiệp, người thân bệnh dài ngày, một đứa trẻ khuyết tật, người họ hàng liên tục cần giúp. Đây là nơi bác ái khó hơn nhiều việc từ thiện công cộng, vì không có tiếng vỗ tay, không có ảnh đẹp, không kết thúc sau một buổi. Người nghèo gần làm ta mệt. Họ gọi đúng lúc ta bận. Họ lặp lại câu chuyện. Họ đôi khi không biết ơn như ta mong. Họ có những yếu đuối khiến ta mất kiên nhẫn. Chính nơi đó linh đạo được thử. Yêu người nghèo như một ý tưởng rất dễ. Yêu một người nghèo cụ thể với tính khí cụ thể thì khó. Đức Kitô không yêu “nhân loại” theo nghĩa trừu tượng. Người yêu Phêrô nóng nảy, Tôma chậm tin, người phụ nữ Samari với một lịch sử rối, Dakêu cụ thể, Bartimê cụ thể. Bác ái Kitô giáo luôn có tên.
Nhưng bác ái cũng cần khôn ngoan. Giúp không có nghĩa cho bất cứ điều gì được xin. Có những cách giúp làm người kia lệ thuộc hơn. Có những khoản tiền nuôi nghiện ngập, cờ bạc hoặc sự vô trách nhiệm. Có những gia đình bị kiệt quệ vì một người luôn dùng tình thân để ép người khác giải cứu hậu quả do mình gây ra. Tình yêu không đồng nghĩa với thiếu ranh giới. Công lý đối với người được giúp cũng bao gồm tôn trọng khả năng trưởng thành của họ. Có khi yêu là cho. Có khi yêu là tìm việc. Có khi yêu là cho vay có trách nhiệm. Có khi yêu là cùng lập kế hoạch. Có khi yêu là từ chối tiền nhưng đưa người ấy đến một nơi điều trị, tư vấn hoặc hỗ trợ. Có khi yêu là nói một sự thật khó. Linh đạo người nghèo không phải tình cảm mềm. Nó là lòng thương xót đi cùng sự thật.
Một trong những hình thức nghèo mới của thời đại là nghèo tương quan. Có người không thiếu tiền nhưng không có ai gọi khi nhập viện. Có người sống trong thành phố lớn, giữa hàng triệu người, mà chẳng thuộc về nơi nào. Người già có con cái thành đạt nhưng ăn cơm một mình. Người trẻ có hàng nghìn người theo dõi nhưng không có một người đủ tin để nói rằng mình đang sợ. Một người di dân vào thành phố có việc làm nhưng không có cộng đồng. Một công nhân ở khu trọ chỉ tồn tại giữa ca ngày và ca đêm. Linh đạo giáo dân đối với người nghèo vì thế không chỉ là chuyển tiền. Có một thứ nghèo chỉ được chữa bằng hiện diện. Một bữa cơm mời thêm người. Một cuộc gọi cho người già. Một chỗ ngồi cho người mới. Một gia đình mở cửa. Một nhóm giáo xứ biết tên những người ngoài rìa. Trong nền kinh tế chú ý, cho ai đó hai mươi phút không nhìn điện thoại có thể là một hình thức bố thí thật.
Cũng có nghèo kỹ thuật số. Người không có thiết bị, không biết sử dụng dịch vụ số, không đọc được các giao diện phức tạp dễ bị đẩy xa hơn khỏi cơ hội việc làm, y tế, giáo dục và thủ tục. Khi xã hội số hóa, người mạnh đi nhanh hơn, người yếu có thể tụt lại. Một người giáo dân làm công nghệ phải hỏi: sản phẩm của tôi phục vụ ai? Ai bị bỏ ngoài? Giao diện này có làm người già bất lực không? Một hệ thống chấm điểm tự động có bất lợi cho người ít dữ liệu không? Một thuật toán tối ưu lợi nhuận có đẩy quảng cáo vay nợ vào người dễ tổn thương không? Một ứng dụng thu thập dữ liệu đến mức người nghèo phải đổi riêng tư lấy quyền tiếp cận dịch vụ không? Ngôi nhà chung hôm nay không chỉ có sông, rừng, đất và không khí. Nó còn có hạ tầng số đang tổ chức đời sống xã hội. Công lý phải bước vào đó.
Laudato Si’ nhấn mạnh rằng mọi sự liên kết với nhau. Câu này không phải khẩu hiệu thơ. Nó mô tả thực tại. Cách ta sản xuất liên quan đến cách ta tiêu dùng. Cách ta tiêu dùng liên quan đến quảng cáo. Quảng cáo liên quan đến ham muốn. Ham muốn liên quan đến căn tính. Căn tính liên quan đến đời sống thiêng liêng. Ô nhiễm liên quan đến quy hoạch. Quy hoạch liên quan đến chính trị. Chính trị liên quan đến văn hóa. Văn hóa liên quan đến cách ta hiểu con người. Vì thế không thể chữa cuộc khủng hoảng sinh thái chỉ bằng kỹ thuật. Kỹ thuật rất cần nhưng kỹ thuật không tự quyết định mục tiêu. Một chiếc máy hiệu quả hơn có thể giúp giảm tiêu thụ năng lượng, nhưng nếu hiệu quả ấy khiến người ta tiêu thụ gấp ba thì tổng hậu quả vẫn tăng. Cần hoán cải cách muốn. Đây là đóng góp đặc biệt của linh đạo. Thế giới không chỉ cần động cơ sạch hơn. Thế giới cần trái tim bớt tham hơn.
“Hoán cải sinh thái” vì thế là một từ rất Kitô giáo. Hoán cải không phải thay vài thói quen ngoài mặt. Metanoia là đổi tâm trí, đổi cái nhìn, đổi hướng. Người giáo dân bắt đầu nhìn tạo thành không chỉ bằng giá tiền. Một cây không chỉ là lượng gỗ. Một con sông không chỉ là nước cho sản xuất. Một vùng đất không chỉ là tài sản. Một con vật không chỉ là đơn vị hàng hóa. Điều này không phủ nhận việc con người sử dụng tài nguyên. Ta cần nhà, cần thức ăn, cần vật liệu, cần năng lượng. Nhưng sử dụng khác với tuyệt đối hóa. Người Kitô hữu có thể chặt cây nhưng không tôn thờ quyền chặt. Có thể khai thác nhưng phải biết giới hạn và phục hồi. Có thể ăn thịt nhưng không được coi sự tàn nhẫn là vô nghĩa. Có thể xây dựng nhưng phải hỏi cảnh quan, cộng đồng và thế hệ sau. Thụ tạo có giá trị vì đến từ bàn tay Thiên Chúa trước khi có giá thị trường.
Phụng vụ có thể giáo dục cái nhìn ấy. Nước trong Rửa tội, dầu, bánh, rượu, lửa, hương, thân xác, tiếng hát, mùa màng: đời sống bí tích của Hội Thánh dùng tạo thành để nói ân sủng. Kitô giáo không coi vật chất là thấp. Ngôi Lời đã làm người. Nước trở thành dấu chỉ tái sinh. Dầu xức trên thân xác. Bánh và rượu được đưa vào Thánh Thể. Chính vật chất được mang vào hành vi thờ phượng cao nhất. Một người sống Thánh Thể sâu sẽ khó có thể khinh thường thế giới vật chất. Sau khi đón nhận bánh là hoa màu ruộng đất và lao công con người, làm sao lại bước ra để tham gia một nền kinh tế coi đất và lao công là thứ có thể vắt đến cạn? Có một mối liên hệ nội tại giữa bàn thờ và cánh đồng. Nếu ta tách chúng, phụng vụ bị thu nhỏ thành nghi thức.
Chúa Nhật cũng là một lời phê bình mạnh đối với một nền văn hóa không biết dừng. Giới răn nghỉ ngày sabát đã có từ rất sâu trong mặc khải. Con người không phải máy sản xuất. Đất cũng không phải máy sản xuất. Người lao động cần nghỉ. Người giúp việc cần nghỉ. Người chủ cần nghỉ. Gia súc trong thế giới Kinh Thánh cũng được đưa vào nhịp nghỉ. Có một giới hạn được Thiên Chúa đặt vào logic hiệu quả. Ngày Chúa Nhật nói rằng giá trị con người không bằng năng suất. Người giáo dân tôn trọng ngày nghỉ của người khác đang sống công lý. Một chủ cửa hàng sắp ca để nhân viên có đời sống gia đình, có khả năng thờ phượng, đang làm một hành vi thiêng liêng. Một nền kinh tế bắt con người làm bảy ngày liên tục vì sợ mất doanh thu đang nói một thần học ngầm: tiền là chúa, con người là phương tiện. Chúa Nhật chống lại thần học ấy.
Giáo xứ cũng phải xét mình về người nghèo và ngôi nhà chung. Một giáo xứ không trở nên gần người nghèo chỉ vì có quỹ Caritas. Cần hỏi người nghèo có thực sự có chỗ trong đời sống cộng đoàn không. Họ có bị mặc cảm vì quần áo không đẹp? Một gia đình nghèo có thể cho con học giáo lý mà không bị áp lực bởi những khoản chi không cần thiết không? Những dịp lễ có vô tình biến thành cuộc thi trang trí, tiệc tùng và quà cáp khiến người yếu thấy mình đứng ngoài không? Khi tổ chức hành hương, trại hè, sinh hoạt, có nghĩ đến người không đủ tiền không? Người khuyết tật có vào nhà thờ dễ không? Người già có được đưa đón không? Giáo xứ có biết những người nợ nần, thất nghiệp, bệnh dài ngày trong địa bàn không, hay chỉ biết số hộ Công giáo? Những câu hỏi ấy làm Caritas trở thành cấu trúc của hiệp thông chứ không chỉ một ban chuyên phát quà.
Các công trình giáo xứ cũng là nơi làm chứng. Không cần biến nhà thờ thành phòng thí nghiệm sinh thái, nhưng có thể giảm lãng phí, quản lý nước, điện, rác, cây xanh, đồ dùng, tiệc tùng một cách có trách nhiệm. Một đại lễ để lại núi rác nhựa rồi hôm sau giảng về tạo thành là một sự mâu thuẫn ít nhất cũng đáng suy nghĩ. Một giáo xứ xây rất lớn nhưng không quan tâm thoát nước làm khu dân cư chung quanh chịu hậu quả cũng phải xét mình. Một cộng đoàn sử dụng đất đai cần nhớ mình không chỉ là chủ sở hữu pháp lý nhưng còn mang trách nhiệm chứng tá. Sự đơn giản của Hội Thánh có sức truyền giáo. Người ta sẽ khó tin lời ta nói về người nghèo nếu mọi sinh hoạt đạo đức đều mang dáng vẻ phô trương.
Trong gia đình, giáo dục con cái về công lý và ngôi nhà chung phải tránh hai thái cực. Một là không nói gì, để trẻ học rằng thành công chỉ nghĩa là kiếm nhiều, mua nhiều, đi nhiều. Hai là làm trẻ hoảng sợ trước tương lai bằng một thứ đạo đức đầy tội lỗi về môi trường. Trẻ cần được dạy hy vọng có trách nhiệm. Hãy cho chúng chăm một cây. Dạy chúng không chế giễu người nghèo. Cho chúng biết người giao hàng cũng cần được nói cảm ơn. Cho chúng thấy cha mẹ trả tiền người thợ đúng hẹn. Cho chúng tham gia một việc phục vụ nhưng không chụp hình người nhận như đạo cụ. Dạy chúng tắt điện khi không dùng, không vì hóa đơn mà thôi nhưng vì tài nguyên là quà. Cho chúng biết sửa đồ, dùng lại, chia sẻ. Đưa chúng ra thiên nhiên để yêu trước khi bắt chúng bảo vệ. Người ta khó bảo vệ điều mình chưa từng yêu.
Yêu tạo thành cũng chữa con người khỏi một kiểu sống hoàn toàn trong màn hình. Một người có thể nói rất nhiều về môi trường mà không bao giờ nhìn một cái cây đủ lâu. Sinh thái Kitô giáo có chiều kích chiêm niệm. Đức Giêsu nói về chim trời, hoa huệ, hạt giống, cây nho, mùa gặt, đàn chiên, ánh mặt trời và mưa. Người nhìn thiên nhiên như sách của Cha. Người giáo dân giữa thành phố vẫn có thể học lại cái nhìn ấy. Một buổi sáng thấy ánh sáng trên hàng cây không phải chuyện lãng mạn thừa. Nó dạy ta mình đang sống trong một thế giới được nhận chứ không tự chế tạo. Lòng biết ơn là bước đầu của tiết độ. Người không còn ngạc nhiên trước bất cứ điều gì rất dễ coi mọi thứ là hàng hóa.
Ngôi nhà chung cũng bao gồm văn hóa địa phương. Một làng quê, một cộng đồng dân tộc, một nghề truyền thống, một ngôn ngữ, một ký ức tập thể đều có thể bị nghiền nát bởi phát triển nếu con người chỉ đo giá trị bằng doanh thu. Không phải cái cũ nào cũng phải giữ. Văn hóa cũng cần thanh luyện. Nhưng phát triển không thể chỉ có nghĩa là thay mọi thứ bằng cùng một mẫu đô thị, cùng một chuỗi cửa hàng, cùng một loại nhà, cùng một nhịp sống. Người giáo dân làm quy hoạch, du lịch, kinh doanh và truyền thông có thể giúp bảo vệ vẻ đa dạng của đời sống con người. Sinh thái toàn diện bao gồm cả sinh thái văn hóa. Con người mất đất có thể mất luôn ký ức. Một cộng đồng bị di dời không chỉ đổi tọa độ trên bản đồ. Họ có thể mất nghĩa trang tổ tiên, mạng lưới xóm giềng, cách kiếm sống, tiếng nói và căn tính. Công lý phải tính những giá trị khó đưa vào bảng tính.
Một chiều kích nữa là trách nhiệm liên thế hệ. Người chưa sinh ra không bỏ phiếu, không ký hợp đồng, không gửi đơn khiếu nại. Vì thế họ hoàn toàn phụ thuộc vào lương tâm người đang sống. Chúng ta có quyền sử dụng tài nguyên nhưng không có quyền ăn hết phần của người đến sau. Người giáo dân làm cha mẹ hiểu điều này theo trực giác: ta không muốn để con một căn nhà đẹp mà ngoài cửa là một thế giới không thể sống. Nhưng trách nhiệm liên thế hệ cũng không được dùng để chống lại người nghèo hôm nay. Không thể bảo người nghèo tiếp tục đói để bảo vệ một ý tưởng về tương lai trong khi người giàu tiếp tục tiêu thụ. Chuyển đổi sinh thái chỉ công bằng nếu chi phí không bị ném xuống người yếu. Một chính sách xanh làm điện tăng đến mức người nghèo không đủ trả mà người giàu không thay đổi lối sống thì cần được xem xét. Công lý xã hội và sinh thái phải đi cùng nhau.
Trong toàn bộ câu chuyện này, tội và ân sủng phải được nói thật. Chúng ta sẽ không sống hoàn hảo. Không ai có thể kiểm soát toàn bộ chuỗi cung ứng của mọi thứ mình mua. Không ai tránh được mọi tác động sinh thái. Chúng ta ăn, đi lại, sử dụng điện, tạo rác, chiếm không gian. Chính sự sống sinh học cũng có dấu chân. Linh đạo không biến người tín hữu thành người ám ảnh với sự tinh sạch luân lý. Điều ấy lại là một hình thức quy về mình. Mục tiêu không phải là có một đời sống không tạo tác động; mục tiêu là sống có trách nhiệm, biết ơn, tiết độ, công bằng và luôn sẵn sàng sửa đổi. Ân sủng không làm ta vô tội giả tạo. Ân sủng cho sức bắt đầu lại. Hôm nay thấy một thói quen xấu, đổi một điều. Ngày mai thấy một bất công trong công việc, lên tiếng trong khả năng. Năm tới doanh nghiệp có điều kiện, cải tiến thêm. Không ai cứu ngôi nhà chung một mình. Nhưng cũng không ai được miễn khỏi phần mình.
Điều quan trọng là tránh hai sự tuyệt vọng. Một là tuyệt vọng vì vấn đề quá lớn: khí hậu, nghèo đói, bất bình đẳng, ô nhiễm toàn cầu, tôi làm gì có nghĩa? Hai là tuyệt vọng ngược, che giấu bằng hưởng thụ: dù sao cũng chẳng thay đổi được, cứ sống cho mình. Tin Mừng không cho phép cả hai. Hạt cải nhỏ. Men ít. Năm chiếc bánh nhỏ. Một ly nước. Thiên Chúa không đòi người giáo dân giải quyết cả hành tinh. Người đòi sự trung tín ở phần đất được trao. Một giám đốc có vùng trách nhiệm của giám đốc. Một người nội trợ có vùng trách nhiệm của người nội trợ. Một kỹ sư, bác sĩ, giáo viên, tài xế, nông dân, công chức, sinh viên đều có vùng ảnh hưởng riêng. Trung tín trong vùng ấy là linh đạo. Và khi nhiều người trung tín nhỏ nối lại, cấu trúc bắt đầu thay đổi.
Người giáo dân cũng cần hiểu rằng đấu tranh cho công lý không cho phép mình trở nên bất công với người bị coi là phía bên kia. Đây là cám dỗ lớn. Một người có thể bắt đầu bằng lòng thương người nghèo rồi dần ghét người giàu. Bắt đầu bảo vệ môi trường rồi khinh những ai chưa ý thức. Bắt đầu chống tham nhũng rồi nghiện sự kết án. Bắt đầu bảo vệ nạn nhân rồi mất khả năng nhìn nhân tính nơi người sai. Tin Mừng không cho phép sự công chính biến thành hận thù. Công lý Kitô giáo phải có sự thật, nhưng không vui mừng khi kẻ xấu ngã. Nó muốn người bị áp bức được giải thoát và người áp bức được hoán cải. Nó bảo vệ nạn nhân trước, nhưng vẫn tin không con người nào chỉ bằng tội của mình. Nếu không giữ điều ấy, hoạt động công lý sẽ dần nuôi một linh đạo tức giận, trong đó người ta cần có kẻ thù để biết mình là ai.
Cầu nguyện vì thế là điều không thể thiếu cho người giáo dân dấn thân xã hội. Không cầu nguyện, người làm việc cho công lý dễ kiệt sức, cay đắng hoặc ảo tưởng mình là người cứu thế. Người nghèo sẽ luôn còn nhiều hơn khả năng giúp. Các cơ cấu thay đổi chậm. Có những thất bại rất đau. Có những người mình bảo vệ lại phản bội. Có những dự án tốt bị phá. Có những cuộc vận động không thành. Nếu căn tính của tôi nằm trong việc tôi phải làm cho thế giới tốt lên, một ngày tôi sẽ gãy vì thế giới không chịu tốt lên theo tốc độ tôi muốn. Đức Kitô là Đấng Cứu Thế. Tôi là môn đệ. Câu này giải thoát người dấn thân khỏi tuyệt vọng. Tôi phải làm hết phần mình nhưng không phải gánh thế giới trên vai. Trong đêm, khi tôi ngủ, Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa.
Ngược lại, cầu nguyện thật sẽ không biến ta thành người thờ ơ. Một người có thể quỳ rất lâu trước Thánh Thể và chính Thánh Thể sẽ đẩy người ấy về phía thân mình Đức Kitô đang bị thương. “Amen” trước Mình Thánh cũng là lời đồng ý bước vào một thân thể trong đó những chi thể yếu nhất không thể bị bỏ. Người giáo dân không thể nhận Đức Kitô nơi bàn thờ rồi cố ý không nhận Người nơi Lazarô trước cửa. Thánh Gioan Kim Khẩu đã nhắc Hội Thánh từ rất sớm về mối liên hệ giữa bàn thờ và người nghèo. Truyền thống này không phải mốt xã hội hiện đại. Nó nằm trong chính máu của Kitô giáo. Thờ phượng Thiên Chúa thật làm mắt ta mở. Nếu sau nhiều năm cầu nguyện mà càng ngày càng ít thấy nỗi khổ của người khác, phải hỏi lại ta đang cầu nguyện với ai.
Người nghèo còn là thầy của Hội Thánh ở chỗ họ phơi bày những ảo tưởng. Người có tiền dễ tin mình kiểm soát được đời. Người có địa vị dễ tin mình quan trọng. Người có kiến thức dễ tin mình hiểu. Người nghèo, bệnh, già, mất việc, bị từ chối đưa ta về sự thật rằng con người sống nhờ nhận. Không nên lãng mạn hóa nghèo đói. Thiếu ăn không tự động làm người ta thánh. Nhưng gặp những người sống trong thiếu thốn mà vẫn quảng đại, cầu nguyện, chia sẻ có thể làm một người giàu phải xấu hổ về sự nghèo của chính lòng mình. Có những căn nhà chẳng có gì nhưng khách đến vẫn được mời ăn. Có những bà mẹ không biết thần học nhưng hiểu tín thác sâu hơn nhiều sách. Có những người lao động nhỏ sống công bằng trong khi họ hoàn toàn có thể gian một chút mà chẳng ai biết. Người nghèo không chỉ cần được Hội Thánh phục vụ. Hội Thánh cần được họ phúc âm hóa.
Cuối cùng, linh đạo người giáo dân đối với người nghèo, công lý và ngôi nhà chung không phải một phụ lục xã hội gắn vào đời sống thiêng liêng sau khi đã nói xong về cầu nguyện. Nó là một trong những nơi đời cầu nguyện được kiểm chứng. Người giáo dân sống giữa tiền, đất, việc làm, gia đình, sản xuất, tiêu dùng, luật lệ và thiên nhiên. Chính ở đó họ được gọi nên thánh. Có thể họ không bao giờ đứng trước một đám đông để nói về công lý. Nhưng họ trả lương đúng. Họ không nhận phong bì. Họ không ép người yếu. Họ không lợi dụng người đang túng. Họ sửa một quy trình để bớt chất thải. Họ từ chối một khoản lợi nhuận bẩn. Họ dạy con biết cảm ơn người phục vụ. Họ không bỏ thức ăn vô nghĩa. Họ chăm cha mẹ già. Họ giúp một người tìm việc thay vì chỉ cho tiền. Họ ký một hợp đồng tử tế. Họ giữ một mảnh đất không bị khai thác đến chết. Họ lên tiếng khi một người không có tiếng bị đối xử bất công. Họ dành một chỗ trong đời mình cho người không thể trả lại. Những điều ấy có thể chẳng bao giờ xuất hiện trên bản tin giáo xứ. Nhưng đó là linh đạo giáo dân bằng xương bằng thịt.
Đức Kitô nhập thể đã bước vào một thế giới vật chất, nghèo, chính trị, kinh tế và đầy thương tích. Người sinh không trong cung điện nhưng trong cảnh thiếu chỗ. Người lớn lên trong gia đình lao động. Người biết cái đói, biết bụi đường, biết thuyền cá, biết thuế, biết nợ, biết ngày công, biết người giàu, người nghèo, người bị loại, người có quyền và người không quyền. Người không cứu thế giới bằng cách đứng ngoài thế giới. Người đi vào tận cùng của nó. Người giáo dân cũng được sai theo cách ấy: không chạy khỏi trần thế, không thờ trần thế, nhưng ở trong trần thế với trái tim thuộc về Thiên Chúa. Khi người giáo dân cầm tiền mà không để tiền cầm mình, sử dụng đất mà không thờ quyền sở hữu, làm kinh tế mà không hy sinh con người, dấn thân xã hội mà không nuôi hận thù, sử dụng tạo thành mà không tàn phá, giúp người nghèo mà không hạ phẩm giá họ, người ấy đang làm một điều rất lớn dù đời mình có vẻ bình thường: người ấy đang làm cho thế giới nhớ lại nó thuộc về ai.
Ngôi nhà chung cuối cùng không phải của chúng ta. Chính vì thế chúng ta phải chăm nó. Người nghèo cuối cùng không phải “đối tượng” của chúng ta. Chính vì thế chúng ta phải kính trọng họ. Công lý cuối cùng không phải công trình ta tự phát minh. Chính vì thế ta phải phục vụ nó trong khiêm tốn. Trái đất là của Chúa. Người nghèo là anh chị em của Chúa. Lịch sử đang đi về với Chúa. Người giáo dân sống giữa những thực tại ấy bằng hai bàn tay: một tay nhận thế giới như quà, một tay trao thế giới lại cho Thiên Chúa qua lao động công bằng và tình yêu cụ thể. Đó là lễ tế thiêng liêng của họ. Đó là chức tư tế giữa đời. Đó là cách bàn làm việc nối với bàn thờ, cách bếp ăn nối với Thánh Thể, cách bảng lương nối với Tin Mừng, cách thùng rác nối với lòng biết ơn, cách lá phiếu và chữ ký nối với lương tâm, cách một ly nước cho người bé nhỏ nhất nối với chính Đức Kitô. Và đến ngày mọi sự được hoàn tất, câu hỏi có lẽ không phải chúng ta đã nói hay thế nào về người nghèo, công lý và ngôi nhà chung, nhưng giữa những gì được trao cho mình, chúng ta đã yêu thế nào.
CHƯƠNG 24. MÔI TRƯỜNG SỐ: CÁNH ĐỒNG TRẦN THẾ MỚI
Nếu ngày trước khi nói đến “trần thế”, người ta nghĩ đến gia đình, chợ búa, trường học, đồng ruộng, công sở, nhà máy, nghị trường, bệnh viện, sân vận động, phòng nghiên cứu, xưởng nghệ thuật và những con đường của thành phố, thì hôm nay danh sách ấy phải được mở rộng thêm một không gian mà con người đang dành một phần rất lớn đời mình ở đó: môi trường số. Người ta thức dậy và nhìn điện thoại trước khi nhìn khuôn mặt người thân. Người ta nhận tin tức qua một dòng thông báo. Người ta mua một món hàng mà chưa bao giờ gặp người bán. Người ta làm việc với những đồng nghiệp ở cách mình hàng ngàn cây số. Người ta học, yêu, cãi nhau, buôn bán, vận động dư luận, chia sẻ đức tin, tìm kiếm sự an ủi, phạm tội, làm việc thiện, xây dựng danh tiếng và phá hủy danh dự của nhau qua những màn hình nhỏ. Vì thế, nếu linh đạo giáo dân thực sự là linh đạo của người được sai vào trong các thực tại trần thế để tìm kiếm Nước Thiên Chúa từ bên trong, thì không thể nào môi trường số lại bị coi là chuyện phụ, chuyện kỹ thuật, chuyện giải trí sau giờ làm hay một vùng “không thiêng liêng” nằm ngoài phán xét của Tin Mừng. Chợ hôm nay có cả chợ thuật toán. Quảng trường hôm nay có cả quảng trường mạng. Bục diễn thuyết hôm nay có cả tài khoản cá nhân. Tờ báo hôm nay có thể là một video ba mươi giây. Gian hàng hôm nay có thể nằm trong một ứng dụng. Tin đồn ngày xưa đi từ miệng người này sang miệng người khác; tin đồn hôm nay có thể lan qua một triệu tài khoản trước khi người bị nói đến kịp biết mình đang bị nói gì. Tội của chiếc lưỡi ngày xưa có một bán kính nhất định; tội của một cú nhấn “chia sẻ” hôm nay có thể đi qua biên giới, tồn tại nhiều năm, được chụp lại, sao chép lại và tiếp tục gây thương tích khi người đăng đã quên từ lâu. Vì thế, môi trường số phải được đưa trở lại dưới ánh sáng của lương tâm Kitô giáo. Không có hai lương tâm: một lương tâm cho đời thật và một lương tâm nới lỏng hơn cho đời mạng. Không có hai Tin Mừng: một Tin Mừng áp dụng khi đứng trước bàn thờ và một Tin Mừng tạm ngưng khi mở Facebook, TikTok, YouTube, Zalo, diễn đàn, phòng chat hay bất cứ nền tảng nào. Người được Rửa tội vẫn là người được Rửa tội khi đăng nhập. Người môn đệ Đức Kitô vẫn là người môn đệ Đức Kitô khi không ai biết tên thật của mình. Điều răn “chớ làm chứng dối”, “chớ giết người”, “chớ ngoại tình”, “chớ tham của người”, “hãy yêu người thân cận” không mất hiệu lực khi bàn tay chạm vào màn hình. Chính ở đây linh đạo giáo dân phải bước vào một cánh đồng mới với tất cả sự nghiêm túc thần học của nó: không sợ công nghệ như thể công nghệ tự nó là quỷ dữ, nhưng cũng không ngây thơ như thể mọi công nghệ trung tính hoàn toàn và chỉ cần người dùng có ý tốt là đủ. Công nghệ là sản phẩm của trí tuệ con người, và như mọi sản phẩm của trí tuệ con người, nó có thể phục vụ sự sống hoặc làm nghèo sự sống, mở rộng tự do hoặc thao túng tự do, nối con người lại hoặc làm họ cô đơn hơn, giúp sự thật lan nhanh hoặc làm lời nói dối mạnh hơn bao giờ hết. Người giáo dân không được sai vào môi trường số để chạy trốn thế giới thật, nhưng để sống sự hiện diện Kitô hữu trong một phần rất thật của thế giới hôm nay.
Điều đầu tiên phải khẳng định là môi trường số không phải một “đời khác” nơi người ta có thể trở thành một nhân vật không liên hệ gì với con người mình ngoài đời. Có những người rất lịch sự khi gặp mặt nhưng dữ dằn trong bình luận. Có những người không bao giờ dám xúc phạm ai trong phòng khách nhưng có thể dùng những lời tàn nhẫn với một người lạ trên mạng. Có người trước mặt nói nhẹ nhàng nhưng sau lưng dùng tài khoản ẩn danh để chế nhạo, hạ nhục hoặc tung tin. Sự tách đôi ấy là một bệnh thiêng liêng. Người Kitô hữu không thể nói: “Trên mạng thôi mà.” Trên mạng cũng là mình. Điều mình nói ở đó cũng đi ra từ lòng mình. Đức Giêsu nói rằng lòng có đầy miệng mới nói ra; thời nay có thể thêm rằng lòng có đầy thì ngón tay mới gõ ra. Một câu viết bằng bàn phím không ít thật hơn một câu nói bằng miệng. Nạn nhân đọc câu ấy bằng trái tim thật, có thể đau thật, khóc thật, mất ngủ thật, mất danh dự thật, mất việc thật, thậm chí rơi vào tuyệt vọng thật. Vì thế, nhân đức Kitô giáo trong môi trường số bắt đầu bằng sự thống nhất nội tâm: tôi là cùng một người trước mặt Chúa ở nhà thờ, ở bàn ăn gia đình, ở công ty và trên mạng. Không có khu vực vô danh trước mặt Thiên Chúa. Có thể người khác không biết ai đứng sau tài khoản, nhưng Thiên Chúa biết, và quan trọng hơn, chính lương tâm mình biết. Khi người giáo dân hiểu điều đó, họ không còn hỏi đơn giản: “Có bị phát hiện không?”, mà hỏi: “Điều này có xứng với một người thuộc về Đức Kitô không?” Đó là bước chuyển từ đạo đức của sợ hậu quả sang đạo đức của người môn đệ. Một đời sống số thánh thiện không bắt đầu bằng việc đăng nhiều câu Kinh Thánh. Nó bắt đầu bằng việc không trở thành một con người khác khi màn hình che mặt mình.
Sự thật là thửa ruộng đầu tiên của cánh đồng số. Không thời nào nhân loại có khả năng tiếp cận thông tin lớn như hôm nay, nhưng cũng có lẽ chưa bao giờ mỗi người bình thường lại có khả năng phát tán điều sai với tốc độ và quy mô lớn như vậy. Ngày trước, để xuất bản một lời vu khống phải có máy in, tòa soạn, tiền bạc và hệ thống phân phối. Hôm nay một người đang tức giận có thể viết vài dòng và trong vài phút tạo ra một đám đông. Người giáo dân sống chức năng ngôn sứ của mình không chỉ khi nói về Chúa, nhưng trước hết khi tôn trọng sự thật. Một người không kiểm chứng mà đã chia sẻ không thể tự miễn trách nhiệm bằng câu: “Tôi chỉ đăng lại.” Chính hành vi đăng lại là hành vi đạo đức. “Tôi nghe người ta nói” không biến điều chưa biết thành điều được phép phát tán. “Nhiều trang đăng rồi” không làm một điều sai thành đúng. “Tôi chỉ đặt câu hỏi” cũng không thể là chiếc áo đẹp che cho một lời ám chỉ có chủ ý hủy danh dự người khác. Có những câu hỏi được đặt không để tìm sự thật mà để gieo nghi ngờ. Có những tiêu đề được viết không để thông tin mà để kích thích giận dữ. Có những hình ảnh được cắt khỏi bối cảnh để tạo ấn tượng khác. Có những video được ghép, âm thanh được cắt, lời nói được lấy nửa câu, và người xem chỉ cần thiếu bình tĩnh một chút là trở thành người tiếp tay cho điều sai. Linh đạo giáo dân trong thời số vì thế đòi một khổ chế mới: khổ chế của việc chậm chia sẻ. Chậm một phút để đọc hết. Chậm vài phút để kiểm chứng. Chậm một chút để hỏi xem nguồn ở đâu. Chậm đủ lâu để cơn giận nguội xuống. Có những lúc sự thánh thiện đơn giản chỉ là không nhấn nút “chia sẻ”. Có những lúc bảo vệ chân lý không đòi viết một bài dài, mà chỉ đòi từ chối tham gia vào vòng truyền tin mình không thể xác minh.
Tính ngôn sứ của giáo dân trên mạng cũng không đồng nghĩa với việc lúc nào cũng phải chiến đấu. Một hiểu lầm đáng lo trong đời sống Công giáo số là đồng hóa “bảo vệ đức tin” với phản ứng tức khắc, cứng rắn và công kích. Chân lý Kitô giáo không cần sự hung hăng để trở thành chân lý. Chân lý có thể được nói rõ ràng, nhưng bác ái quyết định cách nói. Thánh Phaolô không tách “nói sự thật” khỏi “trong lòng bác ái”. Trong môi trường số, nơi người ta chỉ thấy chữ mà không thấy giọng, chỉ thấy một đoạn mà không thấy cả con người, cách nói càng quan trọng. Một người giáo dân có thể đúng về nội dung mà sai sâu về tinh thần. Có thể bảo vệ giáo lý nhưng làm người khác ghét Hội Thánh vì cách mình cư xử. Có thể trích dẫn Kinh Thánh rất chính xác nhưng dùng Kinh Thánh như đá ném. Có thể bảo vệ Đức Mẹ bằng lời lẽ mà Đức Mẹ sẽ không bao giờ nói. Có thể bảo vệ Thánh Thể trong một cuộc tranh cãi nhưng hoàn toàn đánh mất thái độ Thánh Thể là bẻ mình ra trong yêu thương. Điều này không có nghĩa Kitô hữu phải nhạt nhòa, không được phản biện, không được nói điều sai là sai. Bác ái không phải mềm yếu, và lịch sự không phải thỏa hiệp. Nhưng sự thật Kitô giáo luôn mang hình thập giá: mạnh mà không bạo lực, rõ mà không sỉ nhục, kiên quyết mà không hủy diệt con người. Người giáo dân thánh trên mạng không tìm cảm giác chiến thắng sau một cuộc khẩu chiến. Họ tự hỏi sau điều mình vừa viết: người đọc có được dẫn gần sự thật hơn không, hay chỉ biết rằng tôi rất giỏi làm họ nhục?
Bạo lực lời nói là một trong những tội phổ biến nhất của môi trường số vì nó được thưởng bằng tương tác. Một câu bình tĩnh ít người chú ý; một câu cay độc thường được chia sẻ mạnh. Một lời giải thích cần năm phút để đọc; một lời chửi chỉ cần năm giây. Thuật toán có thể ưu tiên điều khiến người ta ở lại lâu hơn, và giận dữ là một chất keo rất mạnh giữ mắt người trên màn hình. Điều này tạo ra một hoàn cảnh luân lý mới: không chỉ người dùng có cám dỗ, mà toàn bộ môi trường có thể được thiết kế để kéo dài sự kích động. Người Kitô hữu không thể bước vào đó như một người ngây thơ. Họ phải hiểu rằng có những hệ thống kiếm lợi từ việc mình nổi giận. Mỗi lần mình lao vào một cuộc xung đột vô bổ, mỗi lần mình mở đi mở lại một nội dung khiến mình tức, mỗi lần mình gửi tiếp một video gây phẫn nộ vì “cho mọi người biết”, mình có thể đang nuôi chính cơ chế đã tạo ra vòng giận ấy. Linh đạo giáo dân trong môi trường số vì thế cũng là linh đạo chống lại việc bị thuật toán dẫn dắt. Không phải chống công nghệ, nhưng chống việc giao khả năng chú ý, cảm xúc và phán đoán của mình cho một hệ thống tối ưu hóa sự tương tác. Người tự do trong Đức Kitô phải học lấy lại quyền quyết định mình nhìn gì, dừng ở đâu, nghe ai, tin ai, và khi nào phải đặt điện thoại xuống. Một thuật toán biết rất nhiều về thói quen của tôi không có nghĩa nó biết điều gì tốt cho linh hồn tôi. Nó có thể biết tôi dừng lại lâu ở loại hình ảnh nào, nhưng nó không yêu tôi. Nó có thể dự đoán điều gì khiến tôi bấm tiếp, nhưng nó không chịu trách nhiệm cho sự trưởng thành luân lý của tôi. Người giáo dân thánh thiện không để chiếc máy quyết định toàn bộ chế độ tinh thần của mình.
Ở đây xuất hiện một vấn đề sâu hơn: sự chú ý. Trong truyền thống thiêng liêng, chú ý luôn là một phần của cầu nguyện. Người cầu nguyện là người học hiện diện. Người yêu cũng là người biết hiện diện. Môi trường số có thể giúp liên lạc nhưng cũng có thể chia nhỏ sự chú ý đến mức người ta ở mọi nơi mà không thật sự ở đâu. Một người cha ngồi cạnh con nhưng mắt ở màn hình. Một người mẹ nghe con kể chuyện mà tay vẫn cuộn. Hai vợ chồng đi ăn nhưng cả hai liên tục đọc thông báo. Một tu sĩ ngồi trong giờ nghỉ với cộng đoàn nhưng thực ra đang ở trong hàng chục cuộc trò chuyện khác. Một người dự lễ mà đầu óc vẫn còn trong dòng tin vừa đọc. Đây không chỉ là vấn đề lịch sự. Đây là vấn đề nhân học và thiêng liêng. Con người trở thành mình qua những tương quan có chiều sâu, mà chiều sâu cần thời gian không bị cắt vụn. Nếu sự chú ý liên tục bị phân mảnh, khả năng cầu nguyện, lắng nghe, học hỏi, đọc dài, suy nghĩ, thương cảm và kiên nhẫn cũng bị ảnh hưởng. Vì thế, một phần của khổ chế số là tập lại nghệ thuật có mặt ở nơi thân xác mình đang có mặt. Khi con nói, nhìn con. Khi vợ hay chồng nói, đặt điện thoại xuống. Khi ăn, ăn. Khi cầu nguyện, cầu nguyện. Khi nghỉ, nghỉ. Không phải vì điện thoại là xấu, nhưng vì con người trước mặt mình là một mầu nhiệm không thể bị hạ xuống ngang hàng với một thông báo.
Tính chất trần thế của giáo dân còn bao gồm kinh tế số. Người Kitô hữu không chỉ được hỏi mình đăng gì, mà còn mua gì, bán gì, quảng cáo gì, kiếm tiền bằng cách nào, thu thập dữ liệu của ai, sử dụng dữ liệu ấy ra sao. Một doanh nhân Công giáo không hết trách nhiệm luân lý khi hoạt động chuyển sang nền tảng. Gian lận vẫn là gian lận dù diễn ra qua một ứng dụng. Lừa khách vẫn là lừa dù người bán không gặp mặt người mua. Đẩy hàng kém chất lượng bằng quảng cáo sai vẫn là bất công. Thu thập dữ liệu cá nhân mà người dùng không hiểu rõ vẫn có thể đặt ra vấn đề về công bằng và quyền riêng tư. Dùng tâm lý sợ hãi, mặc cảm, dục vọng hay nghiện ngập để tăng doanh số phải được xét không chỉ bằng hiệu quả kinh doanh mà bằng phẩm giá con người. Giáo dân làm trong quảng cáo, công nghệ, truyền thông, thương mại điện tử, tài chính số và trí tuệ nhân tạo có một trách nhiệm đặc biệt, vì họ đứng ở bên trong những cơ cấu đang định hình hành vi của hàng triệu người. Đây chính là nơi tính chất trần thế của ơn gọi giáo dân xuất hiện rõ: linh mục có thể giảng về công bằng, nhưng người viết thuật toán đề xuất, người thiết kế giao diện, người đặt mục tiêu tăng trưởng, người quyết định cách thu thập dữ liệu, người duyệt chiến dịch quảng cáo lại thường là giáo dân. Chính họ phải đem lương tâm Kitô giáo vào những quyết định mà không một bài giảng Chúa Nhật nào có thể thay thế.
Đặc biệt, môi trường số làm xuất hiện một thứ quyền lực mới: quyền lực của việc định hình điều người khác thấy. Ngày trước, người biên tập báo chí biết mình có quyền lực khi chọn tin nào lên trang nhất. Hôm nay quyền lực ấy được phân tán vào những nền tảng, hệ thống đề xuất và thuật toán. Điều gì hiện lên trước mắt một người có thể ảnh hưởng đến điều họ nghĩ là quan trọng, phổ biến, bình thường, đáng sợ hay đáng mong muốn. Một người làm trong ngành công nghệ có thể không bao giờ đứng trước micro, nhưng một quyết định kỹ thuật của họ có thể ảnh hưởng đến nhận thức của hàng triệu con người. Vì thế, lương tâm nghề nghiệp trong thời kỹ thuật số là một vấn đề thần học giáo dân rất lớn. Người Kitô hữu không được phép nói: “Tôi chỉ viết code.” Không ai “chỉ” viết code nếu code đó điều khiển hành vi con người. Cũng như người làm tài chính không thể nói “tôi chỉ tính số”, người làm quảng cáo không thể nói “tôi chỉ chạy chiến dịch”, người làm AI không thể nói “tôi chỉ huấn luyện mô hình”. Mỗi nghề đều có chiều kích luân lý vì mỗi nghề chạm đến con người. Linh đạo giáo dân là học nhìn thấy người thật phía sau dữ liệu: một đứa trẻ phía sau một lượt xem, một gia đình phía sau một đơn hàng, một người cô đơn phía sau một phiên sử dụng kéo dài lúc nửa đêm, một người dễ tổn thương phía sau một quảng cáo được tối ưu hóa hoàn hảo.
Vấn đề bảo vệ trẻ em trong môi trường số vì thế không thể giao hoàn toàn cho nhà trường hay công ty công nghệ. Gia đình là tuyến đầu. Nhưng bảo vệ không đồng nghĩa chỉ với cấm. Cấm mà không giáo dục chỉ trì hoãn vấn đề. Trẻ cần được dạy rằng màn hình không phải vùng vô đạo đức. Cần dạy trẻ phân biệt nội dung tốt và nội dung độc hại, quảng cáo và sự thật, người bạn thật và người lạ đang đóng vai bạn, sự nổi tiếng và giá trị, sự tò mò và nguy hiểm. Cần dạy trẻ rằng hình ảnh gửi đi có thể không lấy lại được, lời viết ra có thể tồn tại lâu, một người trên mạng có thể không phải người họ nói mình là. Cần có giới hạn thời gian, không gian và nội dung. Nhưng sâu hơn, phải giúp trẻ xây một đời sống đủ phong phú ngoài màn hình để màn hình không trở thành nơi duy nhất chúng cảm thấy mình sống. Một đứa trẻ có gia đình biết nói chuyện, có bạn bè thật, có vận động, có đọc sách, có việc phục vụ, có cầu nguyện, có cộng đoàn đức tin, sẽ có một nền khác với đứa trẻ chỉ tìm căn tính qua phản hồi trực tuyến. Cha mẹ không thể vừa dạy con hạn chế điện thoại vừa chính mình không rời điện thoại trong bữa ăn. Giáo dục số trước hết là chứng tá. Trẻ học cách dùng công nghệ bằng cách nhìn người lớn dùng công nghệ.
Một vùng rất nhạy cảm khác là việc giữ mắt và giữ lòng. Trong truyền thống Kitô giáo, khiết tịnh không chỉ là tránh một số hành vi, nhưng là học nhìn con người như con người chứ không như đồ vật. Môi trường số có khả năng biến thân xác thành hàng hóa mạnh chưa từng có. Hình ảnh kích dục có thể đến tận phòng ngủ, không cần bước ra khỏi nhà. Thuật toán có thể học điều người dùng dừng lại và ngày càng đưa nhiều hơn. Những gì ngày trước đòi chủ động tìm kiếm hôm nay có thể chủ động tìm đến người sử dụng. Vì vậy, đức khiết tịnh của giáo dân trong thời số cần một sự trưởng thành mới. Không thể chỉ nói “đừng xem” rồi kết thúc. Phải hiểu cách cám dỗ vận hành: tò mò, cô đơn, buồn chán, căng thẳng, đêm khuya, thiếu ngủ, cảm giác bị bỏ rơi. Phải biết những giờ mình yếu, những nền tảng mình dễ trượt, những thói quen dẫn đến sa ngã. Có khi giải pháp thiêng liêng rất cụ thể: không mang điện thoại vào phòng ngủ; không dùng một mình lúc quá khuya; cài bộ lọc; có người đồng hành; tập nói thật khi đã thành thói quen cưỡng bách. Ân sủng không loại bỏ sự khôn ngoan thực tế. Cầu nguyện không thay cho việc cắt con đường dẫn đến cám dỗ. Người giáo dân được mời nên thánh trong chính thân xác mình, và môi trường số là một trong những nơi cuộc chiến ấy diễn ra.
Nhưng sẽ sai nếu chỉ nói về nguy hiểm. Môi trường số cũng là nơi những điều tốt có thể lan xa với tốc độ chưa từng có. Một người bệnh có thể tham gia giờ cầu nguyện khi không thể ra ngoài. Một sinh viên ở xa có thể học thần học từ những nguồn trước đây khó tiếp cận. Một gia đình di dân có thể giữ liên hệ với quê nhà. Một giáo dân có thể dùng chuyên môn của mình để phổ biến giáo lý, hướng dẫn cha mẹ, giúp người trẻ, gây quỹ cho người nghèo, nối một người cô đơn với một cộng đoàn. Những người chưa từng bước vào nhà thờ có thể lần đầu nghe một câu Tin Mừng qua một đoạn video tình cờ. Một người đang tuyệt vọng lúc hai giờ sáng có thể tìm thấy một bài chia sẻ giúp họ biết mình chưa bị bỏ rơi. Không nên coi những điều ấy là giả. Ân sủng có thể dùng cả những phương tiện rất mới. Hội Thánh từ đầu đã dùng đường sá Rôma, thư từ, ngôn ngữ Hy Lạp chung, rồi sách chép tay, máy in, radio, truyền hình. Không có lý do thần học nào để cho rằng kỹ thuật số nằm ngoài khả năng được dùng cho sứ mạng. Vấn đề không phải “có dùng mạng không”, nhưng “dùng mạng theo logic nào”. Logic Tin Mừng khác logic nền tảng. Nền tảng có thể hỏi: nội dung nào giữ người xem lâu nhất? Tin Mừng hỏi: nội dung nào giúp người này sống thật hơn trước mặt Chúa? Nền tảng hỏi: làm sao tăng lượt theo dõi? Tin Mừng hỏi: làm sao tôi nhỏ đi để Đức Kitô lớn lên? Nền tảng hỏi: làm sao gây phản ứng? Tin Mừng hỏi: làm sao gieo hạt có thể lớn âm thầm? Đây là cuộc phân định rất khó vì người làm truyền thông Công giáo dễ dần dùng tiêu chuẩn của nền tảng để đo hiệu quả sứ mạng. Khi đó, số view trở thành một loại bí tích giả của thành công.
Một tài khoản Công giáo nhiều người theo dõi không tự động là một công việc tông đồ lành mạnh. Có thể rất nhiều lượt xem nhưng rất ít hoán cải. Có thể nói nhiều về Chúa nhưng cái tôi của người nói ngày càng lớn. Có thể nhân danh truyền giáo để xây một thương hiệu cá nhân mà sau cùng Đức Kitô chỉ còn là nội dung phục vụ thương hiệu ấy. Đây là cám dỗ đặc biệt của người có ảnh hưởng trong môi trường tôn giáo. Họ được khen vì điều thiêng liêng nên rất khó nhận ra khi mình bắt đầu nghiện lời khen. Họ có thể nghĩ mình đang bảo vệ chân lý, trong khi sâu bên trong đang bảo vệ vị trí của mình. Họ có thể nghĩ mình đang chịu bách hại vì Tin Mừng, trong khi thật ra bị phản ứng vì cách cư xử không khôn ngoan. Linh đạo số cần một nhân đức cổ xưa: khiêm nhường. Khiêm nhường để biết rằng không phải điều gì mình nghĩ cũng cần đăng. Khiêm nhường để xóa một bài khi thấy mình sai. Khiêm nhường để xin lỗi công khai nếu đã làm tổn thương công khai. Khiêm nhường để không biến mọi phê bình thành bách hại. Khiêm nhường để biết tắt máy và trở lại với một đời sống không có khán giả. Người chỉ cảm thấy mình có giá trị khi đang được nhìn thấy sẽ rất khó làm môn đệ của Đấng đã sống ba mươi năm âm thầm tại Nazareth.
Ở đây cần phân biệt rõ môi trường số là nhịp cầu với môi trường số là nơi thay thế Hội Thánh. Mạng có thể đưa một người đến với Lời Chúa, nhưng không biến video Thánh lễ thành chính Bí tích Thánh Thể. Mạng có thể tạo một nhóm cầu nguyện, nhưng không làm thân xác trở nên thừa. Mạng có thể giúp học giáo lý, nhưng không thay thế hoàn toàn việc được một cộng đoàn biết tên, sửa dạy, tha thứ, phục vụ và cùng bẻ bánh. Có nguy cơ rất thật là người ta xây một “nhà thờ theo sở thích” trên mạng: chỉ nghe những linh mục mình thích, chỉ theo những trang cùng quan điểm, chỉ ở với những người xác nhận mình, không bao giờ phải chịu đựng một cộng đoàn thật với những con người bất toàn. Nhưng Hội Thánh thật luôn gây bất tiện. Người bên cạnh có thể hát sai. Cha xứ có thể giảng không hay như vị giảng thuyết trên YouTube. Giờ lễ có thể không hợp lịch. Hội đồng mục vụ có thể làm mình bực. Người nghèo cần mình mang đồ đến tận nhà. Người bệnh cần một thân xác đến thăm chứ không chỉ một biểu tượng trái tim. Chính những bất tiện đó lại là trường của hiệp thông. Hội Thánh không phải một danh sách nội dung được cá nhân hóa theo sở thích. Hội Thánh là một thân mình mình được tháp vào. Vì vậy, truyền giáo số lành mạnh luôn phải có hướng trở về với thân xác, bí tích và cộng đoàn cụ thể.
Một hình thức “nhà thờ giả” khác xuất hiện khi môi trường số được phủ đầy nội dung đạo đức nhưng đời sống thật không thay đổi. Một người có thể chia sẻ mỗi ngày mười câu Lời Chúa nhưng vẫn đối xử tàn nhẫn với gia đình. Có thể tranh luận thần học rất giỏi nhưng không nói chuyện với người anh em cùng nhà. Có thể đăng lời cầu nguyện cho người nghèo mà không bao giờ biết tên một người nghèo thật. Có thể lên án thế gian sa đọa nhưng lại nghiện chính sự chú ý của thế gian. Linh đạo Kitô giáo luôn đòi nhập thể. Lời phải thành xác phàm. Điều đọc trên màn hình phải đi xuống bàn ăn, sổ lương, cách nói, cách tiêu tiền, cách xin lỗi, cách chăm người bệnh. Nếu đời số càng đạo đức mà đời thật càng lạnh, thì có điều gì đó đã lệch. Nếu một người càng hoạt động Công giáo trên mạng mà càng ít cầu nguyện trong thinh lặng, ít kiên nhẫn với gia đình, ít tham dự đời sống giáo xứ và ít quan tâm người thật quanh mình, môi trường số đang dần ăn sứ mạng thay vì phục vụ sứ mạng.
Người giáo dân cũng phải học phân định giữa chứng tá và phô bày. Tin Mừng mời người môn đệ làm ánh sáng cho đời, nhưng cũng cảnh báo đừng làm việc đạo đức để được người ta thấy. Môi trường số làm ranh giới này rất tinh tế. Đăng một hoạt động bác ái có thể giúp người khác biết và cùng tham gia; cũng có thể biến người nghèo thành phông nền cho hình ảnh của mình. Chia sẻ một câu chuyện đức tin có thể khích lệ; cũng có thể trở thành cách xây hình ảnh thánh thiện. Đăng ảnh gia đình có thể là niềm vui; cũng có thể xâm phạm quyền riêng tư của con cái khi chúng chưa đủ tuổi đồng ý. Người Kitô hữu phải học hỏi: vì sao tôi đăng điều này? Ai được lợi? Người yếu thế có bị biến thành đối tượng không? Tôi có đang kể một câu chuyện của người khác mà chưa được phép? Nếu không ai bấm thích, tôi còn muốn làm việc này không? Những câu hỏi ấy là xét mình của thời kỹ thuật số.
Quyền riêng tư cũng là một phần của phẩm giá. Văn hóa mạng dễ tạo cảm giác rằng mọi thứ đều nên được công khai. Ăn gì, đi đâu, con học trường nào, gia đình cãi gì, người thân bệnh gì, cộng đoàn có chuyện gì — tất cả có thể thành nội dung. Nhưng con người có quyền giữ những khoảng riêng không bị biến thành hàng hóa công khai. Gia đình Kitô hữu cần học lại sự kín đáo. Không phải bí mật theo nghĩa giả dối, nhưng kín đáo theo nghĩa tôn trọng mầu nhiệm người khác. Chồng không sở hữu quyền kể mọi điều về vợ. Cha mẹ không sở hữu toàn bộ câu chuyện của con. Người làm mục vụ không sở hữu câu chuyện của người đến xin giúp. Người phục vụ người nghèo không mặc nhiên có quyền chụp hình và đăng khuôn mặt họ. Một cộng đoàn không được biến lời chia sẻ riêng thành nội dung truyền thông nếu người nói không đồng ý. Đức bác ái thời số có một khuôn mặt rất cụ thể: biết điều gì không được đăng.
Đời sống chính trị và xã hội trên mạng cũng đòi người giáo dân trưởng thành. Tính chất trần thế của họ bao gồm trách nhiệm công dân, quan tâm công ích, công bằng và sự thật. Nhưng mạng xã hội dễ làm chính trị thành căn tính toàn diện: người khác không còn là người có một quan điểm khác, mà trở thành kẻ thù. Một Kitô hữu có thể tham gia tranh luận xã hội, thậm chí rất mạnh mẽ, nhưng không được phép hạ người khác khỏi phẩm giá làm người. Không một lựa chọn chính trị nào cho phép khinh miệt. Không một vấn đề xã hội nào cho phép vu khống. Không một sự nghiệp tốt nào làm phương tiện xấu trở thành tốt. Giáo dân phải đặc biệt cảnh giác khi đức tin bị kéo thành công cụ của phe phái. Khi người ta dùng biểu tượng Công giáo chỉ để xác nhận một khối chính trị; khi lòng trung thành với một nhân vật vượt qua khả năng phê phán luân lý; khi mọi người bất đồng bị gán là phản đức tin, thì tính ngôn sứ đã biến thành tuyên truyền. Hội Thánh phải có khả năng nói với mọi phía, vì Tin Mừng luôn lớn hơn mọi chương trình chính trị. Người giáo dân sống giữa đời có nhiệm vụ rất khó: tham gia mà không bị nuốt, dấn thân mà không thần tượng hóa, có chính kiến mà không đánh mất khả năng nhìn người khác như anh chị em.
Một khía cạnh khác cần nói đến là trí tuệ nhân tạo. Nó không phải một sinh vật huyền bí ngoài lịch sử, mà là một công cụ mạnh được tạo ra bởi con người, được huấn luyện trên dữ liệu con người và được triển khai trong các cơ cấu kinh tế, giáo dục, truyền thông, quân sự và xã hội của con người. Giáo dân sẽ là những người sử dụng, thiết kế, quản trị, đầu tư và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ nó. Vì vậy, AI là một vấn đề của linh đạo giáo dân chứ không chỉ của các chuyên gia kỹ thuật. Người dùng phải học không giao phó trách nhiệm lương tâm cho máy. “AI nói vậy” không phải một lý do luân lý. Máy có thể gợi ý, tổng hợp, dự đoán, nhưng người chịu trách nhiệm về quyết định vẫn là con người. Trong giáo dục, không thể để công cụ làm mất việc học thật. Trong mục vụ, không thể để văn bản sinh tự động thay cho việc người mục tử hay người giáo lý viên thực sự cầu nguyện, học hỏi và chịu trách nhiệm về điều mình nói. Trong truyền thông, không được tạo hình ảnh, âm thanh hay nội dung giả để lừa người. Trong doanh nghiệp, không được lấy hiệu quả làm lý do duy nhất để loại bỏ phẩm giá người lao động. Trong đời sống cá nhân, không nên để máy trở thành người bạn thay thế toàn bộ tương quan thật. Một công cụ càng mạnh càng đòi lương tâm mạnh hơn.
Đặc biệt nguy hiểm là khi con người bắt đầu tin rằng điều gì máy làm được thì con người không cần làm nữa. Nhưng có nhiều điều trong đời Kitô hữu không thể ủy quyền. Không thể ủy quyền việc yêu. Không thể ủy quyền việc thống hối. Không thể ủy quyền sự hiện diện bên giường người bệnh. Không thể ủy quyền việc tha thứ. Không thể ủy quyền lương tâm. Một chương trình có thể viết lời chia buồn, nhưng không thể đau với người đang mất người thân. Nó có thể soạn một bài cầu nguyện, nhưng không cầu nguyện thay mình. Nó có thể phân tích một xung đột gia đình, nhưng không ôm đứa con đang khóc. Nó có thể tạo một bài giáo lý tròn trịa, nhưng không sống niềm tin thay người dạy. Người giáo dân thời AI phải bảo vệ những điều không thể tự động hóa vì chính những điều ấy làm người thành người.
Môi trường số cũng đặt lại câu hỏi về lao động. Làm việc từ xa có thể tạo tự do nhưng cũng xóa ranh giới nghỉ ngơi. Điện thoại làm việc nằm ngay trên bàn ngủ khiến công ty có thể đi vào gia đình bất cứ lúc nào. Người ta có thể luôn “sẵn sàng”, luôn trả lời, luôn bị đo, luôn bị thông báo. Linh đạo giáo dân phải bảo vệ ngày Sa-bát của thời số: quyền tắt máy, quyền nghỉ, quyền không phản hồi ngay, quyền để thân xác và tâm trí được phục hồi. Nếu lao động số khiến con người không bao giờ rời công việc, nó đang xâm phạm một nhịp nền tảng của tạo thành. Thiên Chúa dựng nên con người không chỉ để sản xuất. Giá trị của người lao động không bằng tốc độ trả lời tin nhắn. Một người làm việc tốt cần học cả việc nghỉ tốt. Đây không phải lười biếng, mà là tuyên xưng rằng thế giới vẫn vận hành khi tôi đặt máy xuống, vì tôi không phải Thiên Chúa.
Cũng cần một linh đạo của sự im lặng kỹ thuật số. Thinh lặng ngày nay không còn tự nhiên. Mỗi khoảng trống đều có thể được lấp bằng nội dung. Đợi thang máy: mở điện thoại. Xếp hàng: mở điện thoại. Ngồi xe: mở điện thoại. Trước khi ngủ: mở điện thoại. Vừa thức dậy: mở điện thoại. Nếu mọi khoảng trống đều bị lấp, nội tâm không còn nơi để nghe chính mình, càng khó nghe Thiên Chúa. Vì thế, một trong những việc khổ chế có tính ngôn sứ nhất của giáo dân hôm nay có thể đơn giản là để một số khoảng trống được trống. Đi bộ mà không tai nghe. Ngồi chờ mà không cuộn. Ăn mà không xem. Cầu nguyện mà điện thoại ở phòng khác. Có một buổi tối trong tuần không mạng. Có một giờ trước ngủ không màn hình. Những thực hành ấy không phải bài tập sức khỏe đơn thuần. Chúng là cách lấy lại không gian nội tâm khỏi nền kinh tế chú ý.
Người giáo dân còn phải học nghệ thuật rút lui khỏi những cuộc tranh cãi không sinh hoa trái. Không phải trận nào cũng phải đánh. Không phải lời sai nào cũng cần mình sửa. Không phải người khiêu khích nào cũng cần mình trả lời. Có lúc im lặng là hèn; nhưng cũng có lúc im lặng là khôn ngoan. Đức Giêsu có lúc tranh luận, có lúc trả lời, có lúc im trước Hêrôđê. Phân định quan trọng hơn phản xạ. Một người trưởng thành không để người lạ trên mạng điều khiển nhịp tim mình. Nếu chỉ một câu bình luận của ai đó có thể lấy mất bình an cả ngày, thì tự do nội tâm đang bị giao cho người ấy. Người Kitô hữu cần học hỏi: cuộc đối thoại này còn khả năng hướng đến sự thật không? Người kia đang tìm hiểu hay chỉ muốn gây hấn? Tôi đang trả lời vì trách nhiệm hay vì tự ái? Nếu không nói, điều gì thật sự mất? Có lúc rời một cuộc tranh luận chính là chiến thắng lớn nhất đối với cái tôi.
Môi trường số còn là nơi phải thực hành lòng thương xót. Người ta rất dễ đóng khung một con người bằng một sai lầm được ghi lại. Một câu nói cũ, một tấm hình cũ, một hành động thời trẻ có thể bị đào lên và biến thành toàn bộ căn tính của họ. Văn hóa mạng dễ không biết tha thứ vì bộ nhớ kỹ thuật số rất dài. Nhưng Kitô giáo tin vào khả năng hoán cải. Điều này không xóa trách nhiệm, không yêu cầu che đậy tội ác, không chống lại công lý. Nhưng nó chống việc biến con người thành vĩnh viễn đồng nhất với điều tồi tệ nhất họ từng làm. Nếu Thiên Chúa chỉ đọc hồ sơ quá khứ của Phêrô, Hội Thánh đã không có vị Tông đồ trưởng. Nếu cộng đoàn đầu tiên chỉ nhớ Phaolô là kẻ bắt đạo, đã không có vị Tông đồ dân ngoại. Vì thế, khi môi trường số có xu hướng làm mọi lỗi lầm trở thành vĩnh viễn, người Kitô hữu phải làm chứng cho sự thật khó hơn: con người có lịch sử, nhưng con người cũng có thể đổi.
Cũng không thể bỏ qua vấn đề so sánh. Mạng xã hội thường cho người ta nhìn cuộc đời người khác qua những lát cắt đã chọn lọc. Người khác đi du lịch, mình ở nhà. Người khác có gia đình đẹp, mình đang căng thẳng. Người khác thành công, mình đang thất bại. Người khác có thân hình đẹp, mình thấy mình thiếu. Người khác làm mục vụ đông người, nhóm mình chỉ có vài người. Dần dần người ta sống trong cảm giác đời mình thua. Nhưng so sánh một đời sống đầy đủ của mình với đoạn phim đã biên tập của người khác luôn bất công. Linh đạo giáo dân cần chữa căn bệnh này bằng lòng biết ơn và sự thật. Mình chỉ có một ơn gọi để sống, không phải sống tất cả đời người khác. Sự thánh thiện không được đo bằng mức độ cuộc đời mình trông đẹp trên màn hình. Có những gia đình rất thánh mà không có tấm hình nào đẹp. Có những người làm việc âm thầm không ai theo dõi. Có những hy sinh không thể quay video. Nước Thiên Chúa lớn bằng những hạt cải mà camera không thấy.
Môi trường số cũng mở ra một nhiệm vụ truyền giáo mới, nhưng truyền giáo ở đây trước hết phải là hiện diện như người. Người Kitô hữu không chỉ đưa nội dung Công giáo vào mạng; họ đưa cách hiện hữu Kitô giáo vào đó. Một người bán hàng trung thực là truyền giáo. Một người quản trị nhóm không dung túng việc bôi nhọ là truyền giáo. Một người biết xin lỗi khi đăng sai là truyền giáo. Một người không lợi dụng nỗi đau người khác để câu tương tác là truyền giáo. Một người bảo vệ trẻ, bảo vệ người yếu, tôn trọng dữ liệu, chống tin giả, giữ lời và đối thoại văn minh đang làm cho không gian số bớt vô nhân. Có thể họ không nhắc tên Đức Kitô trong mọi bài đăng, nhưng cách họ cư xử làm chứng rằng họ thuộc về một Đấng không cho phép mình coi người khác là phương tiện.
Đó là điều phải giữ rất rõ: truyền giáo số không đồng nghĩa biến mọi tài khoản thành bảng thông báo đạo. Người giáo dân không cần chèn câu đạo đức vào mọi chủ đề để chứng minh mình Công giáo. Họ cần sống đức tin một cách thống nhất. Một bác sĩ Công giáo chia sẻ kiến thức y khoa chính xác và nhân bản đang phục vụ sự thật. Một luật sư giải thích pháp luật công bằng đang phục vụ công ích. Một giáo viên giúp phụ huynh hiểu trẻ đang phục vụ phẩm giá con người. Một kỹ sư cảnh báo rủi ro an toàn dù điều đó bất lợi cho công ty đang sống chức năng ngôn sứ. Một người làm nghệ thuật tạo ra cái đẹp chân thật đang phục vụ tạo thành. Chính sự hiện diện chuyên nghiệp, lương thiện và bác ái ấy là tính chất trần thế của giáo dân được thực hiện trong môi trường số.
Giáo xứ và cộng đoàn cũng cần học cách đồng hành giáo dân về đời sống số, thay vì chỉ dùng mạng để đăng lịch lễ. Đây là một lãnh vực giáo dục lương tâm rất lớn. Cần nói với người trẻ về khiết tịnh số, tin giả, bắt nạt mạng, quyền riêng tư, AI, nghiện nội dung, hình ảnh bản thân, quảng cáo, tiền bạc số. Cần giúp cha mẹ hiểu công nghệ thay vì chỉ trách con. Cần giúp người lớn tuổi nhận biết lừa đảo. Cần đào tạo người làm truyền thông Công giáo về đạo đức hình ảnh, sự thật, bảo mật và trách nhiệm. Cần dạy cả linh mục và tu sĩ rằng tài khoản cá nhân cũng có hậu quả mục vụ. Không thể cho rằng những vấn đề này thấp hơn thần học. Chính ở đây thần học nhập thể phải đi vào đời.
Một giáo xứ trưởng thành không chỉ hỏi bao nhiêu người theo dõi trang, mà hỏi trang ấy có giúp xây hiệp thông không. Có cung cấp thông tin chính xác không. Có bảo vệ trẻ không. Có làm người yếu bị phơi bày không. Có tạo phe nhóm không. Có làm giáo dân trưởng thành hay chỉ lệ thuộc? Có dẫn người ta trở về đời sống bí tích và cộng đoàn không? Một trang Công giáo có thể rất đông nhưng rất độc. Có thể mỗi ngày đăng giáo lý nhưng phần bình luận đầy hạ nhục. Có thể nói về hiệp nhất nhưng thuật toán của chính trang sống bằng xung đột. Truyền thông Hội Thánh cần một cuộc hoán cải không chỉ về nội dung, mà về cách vận hành.
Sau cùng, linh đạo giáo dân trong môi trường số vẫn trở về một câu hỏi rất cổ: tôi thuộc về ai? Nếu tôi thuộc về Đức Kitô, thì thời gian của tôi, đôi mắt của tôi, lời nói của tôi, sự chú ý của tôi, dữ liệu tôi quản lý, nghề nghiệp tôi làm, thiết bị tôi dùng và ảnh hưởng tôi có đều nằm dưới vương quyền của Người. Đức Kitô không chỉ là Chúa của nhà thờ. Người là Chúa của màn hình. Người không chỉ muốn bước vào bữa cơm gia đình mà cả lịch sử tìm kiếm, hộp thư, nhóm chat, tài khoản ngân hàng số và thói quen xem của tôi. Điều này không làm đời số trở nên u ám. Trái lại, nó giải phóng. Người thuộc về Đức Kitô không cần chạy theo mọi xu hướng. Không cần trả lời mọi lời khiêu khích. Không cần chứng minh giá trị bằng số người theo dõi. Không cần để thuật toán quyết định mình là ai. Không cần biến mình thành sản phẩm.
Thánh thiện trên mạng có lẽ ít hào nhoáng hơn người ta nghĩ. Đó là người kiểm tra trước khi chia sẻ. Người không bình luận khi đang giận. Người xin lỗi khi sai. Người không gửi hình ảnh làm nhục người khác. Người không đọc trộm điều không thuộc về mình. Người không lợi dụng sự yếu đuối của khách hàng. Người không dùng trẻ em làm nội dung. Người biết đặt điện thoại xuống khi người thân cần nói. Người giữ mắt khi cám dỗ đến. Người không để đêm khuya trở thành vùng vô luật của lương tâm. Người biết tắt mạng để cầu nguyện. Người không biến đời tư người khác thành chuyện giải trí. Người không mua vui bằng sự sụp đổ của một con người. Người có thể nói một điều khó mà vẫn giữ phẩm giá người nghe. Người biết rằng đằng sau mỗi tài khoản là một khuôn mặt, một lịch sử, một vết thương, một linh hồn Thiên Chúa yêu.
Và chính ở điểm ấy môi trường số thật sự trở thành cánh đồng trần thế mới. Không phải vì nó huyền bí, nhưng vì con người thật đang ở đó. Giáo dân được sai đến nơi con người đang sống. Nếu con người sống một phần đời mình trên mạng, người môn đệ cũng phải hiện diện ở đó, không như người đi chinh phục một lãnh thổ, nhưng như men trong bột, muối trong đất, ánh sáng không chói mắt. Họ không được trốn khỏi môi trường số vì sợ, cũng không được hòa tan trong môi trường số vì mê. Họ bước vào đó như người tự do, mang theo một lương tâm đã được Tin Mừng huấn luyện, một cái nhìn biết nhận ra phẩm giá, một lời nói đã học dưới chân thập giá và một trái tim không coi ai là dữ liệu.
Chợ thuật toán vẫn là chợ. Và Đức Kitô vẫn sai môn đệ vào chợ.
Nhưng khi đi vào đó, người giáo dân phải nhớ: mình không phải sản phẩm của thuật toán. Mình đã được gọi bằng tên trong phép Rửa. Mình không phải tổng số lượt thích. Mình là người con trong Người Con. Mình không phải những gì hệ thống dự đoán mình sẽ bấm tiếp. Mình là người có tự do để nói không. Mình không phải một tài khoản vô danh. Mình là một con người sẽ đứng trước mặt Thiên Chúa.
Bởi vậy, linh đạo giáo dân trong thời kỹ thuật số có thể được tóm lại bằng một nguyên tắc rất đơn giản nhưng rất đòi hỏi: hãy sống trên mạng như người mình muốn trở thành trước mặt Chúa. Đừng để màn hình làm mờ lương tâm. Đừng để khoảng cách làm mất lòng thương xót. Đừng để thuật toán làm chủ tự do. Đừng để tương tác thay thế hiệp thông. Đừng để việc xuất hiện thay thế hiện diện. Đừng để nội dung đạo đức thay thế đời sống thánh thiện. Đừng xây một nhà thờ giả trên mạng để rồi bỏ hoang gia đình, giáo xứ, người nghèo và bàn tiệc Thánh Thể.
Mạng chỉ là phương tiện. Con người là mục đích. Đức Kitô là Chúa.
Và người giáo dân được sai vào môi trường số không để trở thành một tài khoản Công giáo, nhưng để trở thành một con người Kitô hữu toàn vẹn giữa một thế giới đang rất cần gặp lại con người thật.
PHẦN V
CON ĐƯỜNG THIÊNG LIÊNG GIỮA ĐỜI THƯỜNG
CHƯƠNG 25. ƠN GỌI NÊN THÁNH KHÔNG CÓ HẠNG HAI
Có một câu nói nghe rất khiêm tốn nhưng thật ra có thể che giấu một sai lầm thần học rất sâu: “Tôi chỉ là giáo dân thôi.” Câu ấy đôi khi được nói với ý tốt. Người nói không muốn tranh phần của linh mục, không muốn tỏ ra mình quan trọng, không muốn bước vào những công việc mình không có trách nhiệm. Nếu hiểu theo nghĩa ấy thì chẳng có gì đáng trách. Nhưng rất nhiều lần, phía sau chữ “chỉ” lại là một mặc cảm đã ăn sâu vào đời sống Hội Thánh: giáo dân là Kitô hữu hạng thường, linh mục và tu sĩ mới là những người sống đời thánh thiện cao hơn; giáo dân chỉ cần giữ đạo vừa phải, đi lễ đều, tránh tội nặng, nuôi gia đình tử tế là đủ; còn những đòi hỏi triệt để của Tin Mừng, đời sống cầu nguyện sâu, sự kết hợp với Đức Kitô, việc chết cho mình mỗi ngày, tinh thần nghèo khó, lòng trong sạch, sự vâng phục ý Chúa, lòng yêu kẻ thù, việc nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện — những chuyện ấy dường như dành cho một tầng lớp đạo đức chuyên nghiệp nào đó. Công đồng Vaticanô II đã đập thẳng vào não trạng ấy trong chương V của Hiến chế tín lý Lumen Gentium. Công đồng không nói một số người được gọi nên thánh. Công đồng không nói giáo sĩ được gọi tới sự thánh thiện cao hơn còn giáo dân được gọi tới một mức vừa đủ để được cứu. Công đồng cũng không dựng nên hai con đường, một con đường cao tốc cho tu sĩ và linh mục, một con đường làng thấp hơn cho giáo dân. Công đồng tuyên bố một điều rất mạnh: tất cả mọi người trong Hội Thánh, dù thuộc hàng giáo phẩm hay được hàng giáo phẩm chăm sóc, đều được mời gọi nên thánh. “Tất cả mọi Kitô hữu, dù thuộc bậc sống hay địa vị nào, đều được kêu gọi tiến đến sự viên mãn của đời sống Kitô hữu và sự trọn lành của đức ái.” Đó không phải một lời động viên đạo đức. Đó là một khẳng định về chính bản chất của đời Kitô hữu. Rửa tội không cho người ta một phần Đức Kitô. Rửa tội không tháp giáo dân vào một Đức Kitô hạng hai. Thánh Thần không cư ngụ trong giáo dân theo một phiên bản yếu hơn. Thánh Thể mà người mẹ gia đình rước lấy cũng là chính Đức Kitô mà vị đan sĩ rước lấy. Máu Đức Kitô đổ ra cho người công nhân, người bán hàng, người kỹ sư, người tài xế, người mẹ đơn thân, người nông dân, người sinh viên, người góa bụa không phải ít hơn máu Người đổ ra cho giám mục, linh mục hay tu sĩ. Vì cùng được tháp nhập vào một Đức Kitô, cùng được nhận một Thánh Thần, cùng được gọi một Thiên Chúa là Cha, nên cùng được mời gọi tới một đích điểm: sự viên mãn của đức ái. Ơn gọi nên thánh vì thế không phải một phụ kiện thêm vào đời sống giáo dân. Nó là hình thức trưởng thành bình thường của bí tích Rửa tội.
Điều cần nói thật rõ là: không có “thánh linh mục” và “thánh giáo dân” theo nghĩa hai phẩm chất thánh thiện khác nhau. Có các bậc sống khác nhau, có các bổn phận khác nhau, có các đoàn sủng khác nhau, có những phương thế khổ chế khác nhau, có những hình thức phục vụ khác nhau, nhưng sự thánh thiện tự bản chất vẫn là một: được nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô trong tình yêu. Một người mẹ thức đêm chăm con bệnh không nên thánh ít hơn một tu sĩ thức đêm chầu Thánh Thể nếu cả hai đều làm việc ấy trong tình yêu Chúa. Một người cha từ chối một khoản tiền bất chính dù biết rằng gia đình mình sẽ khó khăn hơn không nên thánh ở một mức thấp hơn một linh mục hy sinh để phục vụ một giáo xứ nghèo nếu cả hai đều vâng theo tiếng Chúa trong lương tâm. Một cô giáo kiên nhẫn với một đứa trẻ khó dạy, một bác sĩ không khai thác bệnh nhân, một người chủ trả lương công bằng, một nhân viên không ký vào chứng từ gian dối, một người vợ tiếp tục yêu khi cuộc hôn nhân trải qua khô cằn, một người chồng bỏ một thú vui để chăm cha mẹ già, một người trẻ giữ lòng trong sạch giữa một nền văn hóa liên tục khiêu khích dục vọng, một người buôn bán không gian cân dù biết gian lận sẽ lời hơn — tất cả những điều ấy có thể là chất liệu thật của sự thánh thiện. Sự thánh thiện không nằm trước hết ở loại việc làm. Nó nằm ở mức độ người ta để Đức Kitô chiếm lấy con tim và biến việc ấy thành hành vi yêu mến. Chính vì vậy, một đời sống nhìn bên ngoài rất bình thường có thể chứa một mức thánh thiện rất lớn, trong khi một đời sống đầy hoạt động tôn giáo bên ngoài vẫn có thể rất nghèo đức ái. Chúa không cân sự thánh thiện bằng số giờ người ta ở trong nhà thờ, dù thời gian dành cho Chúa là rất quý. Chúa cân bằng tình yêu. Mà tình yêu không phải cảm xúc mơ hồ. Tình yêu là hiến mình. Tình yêu là trung tín. Tình yêu là từ bỏ ý riêng khi ý riêng chống lại Tin Mừng. Tình yêu là nói thật khi nói dối dễ hơn. Tình yêu là tha thứ khi tự ái muốn trả đũa. Tình yêu là giữ lòng sạch khi chẳng ai biết. Tình yêu là tiếp tục làm điều đúng khi điều đúng không được thưởng. Tình yêu là ở lại với người yếu khi người ấy không còn đem lại lợi ích cho mình.
Công đồng nói tới “sự viên mãn của đời sống Kitô hữu” và “sự trọn lành của đức ái”. Hai cụm từ này cần được nghe cho thật mạnh. “Viên mãn” không có nghĩa vừa đủ. “Trọn lành” không có nghĩa nhẹ nhàng. Chúa Giêsu không nói: “Các linh mục hãy nên hoàn thiện như Cha trên trời.” Người cũng không nói: “Các tu sĩ hãy yêu kẻ thù, còn những người có gia đình thì tùy khả năng.” Tin Mừng được công bố cho toàn thể người môn đệ. “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.” Câu ấy không có chú thích nhỏ bên dưới: “chỉ áp dụng cho người sống đời thánh hiến.” “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.” Câu ấy cũng không phân hạng. Tiêu chuẩn của tình yêu Kitô giáo không phải là “hãy yêu tùy bậc sống của anh em cho đỡ cực”, nhưng là “như Thầy đã yêu”. Mà Đức Kitô yêu đến cùng. Vì thế, nói rằng giáo dân có một lối nên thánh “nhẹ” hơn không phải là bảo vệ giáo dân. Đó là hạ thấp phẩm giá Rửa tội của họ và làm loãng Tin Mừng. Giáo dân không cần một Phúc Âm rút gọn. Họ cần toàn bộ Phúc Âm được dịch vào hoàn cảnh của họ. Điều thay đổi không phải mức đòi hỏi của tình yêu, nhưng là hình thức cụ thể trong đó tình yêu được sống. Tu sĩ có thể thực hành nghèo khó bằng việc từ bỏ quyền sở hữu cá nhân theo luật dòng; giáo dân có thể thực hành nghèo khó bằng cách sử dụng tài sản với tự do nội tâm, không để tiền bạc thành chủ, biết chia sẻ, không phô trương, không xây cuộc đời trên tiêu dùng. Tu sĩ sống khiết tịnh theo lời khấn độc thân thánh hiến; người có gia đình sống khiết tịnh bằng trung tín vợ chồng, tôn trọng thân xác người kia, không biến người mình yêu thành đồ vật của dục vọng, không phản bội bằng thân xác cũng như bằng những quan hệ kín trên màn hình. Tu sĩ sống vâng phục qua bề trên và hiến pháp dòng; giáo dân sống vâng phục Thiên Chúa trong lương tâm được đào luyện, trong giáo huấn Hội Thánh, trong những bổn phận khách quan của gia đình và nghề nghiệp, trong sự thật mà mình không được bóp méo chỉ vì bất tiện. Hình thức khác nhau. Sự tận căn không khác.
Một trong những hậu quả tai hại nhất của việc chia sự thánh thiện thành “hạng nhất” và “hạng hai” là giáo dân dễ miễn chuẩn cho chính mình khỏi đời sống thiêng liêng nghiêm túc. “Con bận gia đình nên không cầu nguyện được.” Đúng là người mẹ nuôi con nhỏ không thể giữ lịch cầu nguyện như một nữ tu chiêm niệm. Nhưng từ đó không thể kết luận rằng người mẹ ấy không cần cầu nguyện. “Con làm ăn nên chuyện tiền bạc phải linh động.” Đúng là thương trường có những áp lực mà người ngoài nghề không hiểu. Nhưng không áp lực nào biến gian dối thành nhân đức. “Con là người đời mà cha.” Câu ấy đôi khi trở thành giấy miễn trừ khỏi những đòi hỏi của Đức Kitô. Người ta dùng đời thường để biện minh cho sự nguội lạnh, dùng trách nhiệm gia đình để biện minh cho việc không bao giờ gặp Chúa, dùng cạnh tranh nghề nghiệp để biện minh cho gian dối, dùng văn hóa môi trường để biện minh cho ngoại tình, dùng tuổi trẻ để biện minh cho buông thả, dùng tuổi già để biện minh cho cay đắng. Nhưng chính ở nơi người ta nói “vì tôi là giáo dân nên tôi không thể”, Tin Mừng nhiều lần nói: “chính ở đó con được gọi nên thánh.” Không phải bằng cách bỏ việc, bỏ gia đình, bỏ phố chợ để giả làm tu sĩ, nhưng bằng cách cho Đức Kitô bước vào đúng nơi mình đang sống. Không ai cần đổi nghề để bắt đầu nên thánh, trừ khi nghề ấy tự bản chất bất chính. Không ai cần chuyển nhà vào tu viện để bắt đầu nên thánh. Không ai cần chờ con lớn, trả xong nợ, nghỉ hưu hay hết bận mới bắt đầu. Sự thánh thiện luôn bắt đầu trong thì hiện tại.
Cũng cần tránh một sai lầm ngược lại: nói về ơn gọi nên thánh của giáo dân rồi biến đời sống thường ngày thành một thứ tự động thánh. Không phải cứ làm cha mẹ thì nên thánh. Không phải cứ đi làm thì lao động thành lời cầu nguyện. Không phải cứ chịu cực thì đau khổ tự động có giá trị cứu độ. Không phải cứ bận rộn phục vụ gia đình thì đời sống ấy đã thuộc về Chúa. Chính Đức Kitô mới thánh hóa. Những thực tại trần thế trở thành đường nên thánh khi chúng được sống trong đức tin, đức cậy và đức mến; khi người tín hữu để Tin Mừng phán xét cách mình làm chồng, làm vợ, làm cha, làm mẹ, làm chủ, làm nhân viên, làm công dân, làm người tiêu dùng, làm người dùng mạng, làm người giữ tài sản. Một người cha có thể dùng quyền làm cha để phục vụ hoặc để thống trị. Một người mẹ có thể hy sinh vì con nhưng cũng có thể dùng sự hy sinh ấy để kiểm soát con. Một doanh nhân có thể tạo công ăn việc làm như một hình thức phục vụ ích chung hoặc có thể biến công ty thành công cụ khai thác. Một người tham gia hội đoàn giáo xứ có thể phục vụ Chúa hoặc phục vụ nhu cầu được nhìn nhận của chính mình. Thế nên nói “đời thường là đường nên thánh” không phải phong thánh cho mọi điều đời thường. Đó là tuyên bố rằng không có vùng nào của đời sống được miễn khỏi quyền cai trị của Đức Kitô.
Ơn gọi nên thánh phổ quát cũng giải phóng giáo dân khỏi một mặc cảm lâu đời: phải bắt chước đời tu mới nghiêm túc về đường thiêng liêng. Nhiều người giáo dân đạo đức đã vô tình được huấn luyện theo một kiểu khiến họ nghĩ rằng muốn nên thánh thì phải thu nhỏ thế giới đời mình lại, càng ít dính tới tiền bạc, chính trị, nghề nghiệp, gia đình càng tốt; càng gần nhà thờ, càng nhiều giờ kinh, càng giống tu sĩ thì càng thánh. Nhưng Công đồng không nói giáo dân nên thánh bằng cách bớt là giáo dân. Công đồng nói họ nên thánh trong chính điều kiện sống của mình. Điều ấy rất quan trọng. Người mẹ không cần xấu hổ vì đang lần chuỗi Mân Côi mà con khóc làm gián đoạn. Có thể chính lúc đặt chuỗi xuống để bế con, bà đang sống mầu nhiệm thứ sáu chưa được viết vào sách kinh: yêu một con người cụ thể bằng sự kiên nhẫn của Đức Kitô. Người cha không cần mặc cảm vì không dự được mọi buổi hội đoàn nếu anh đang trung tín với bổn phận nuôi gia đình, nhưng anh cũng không được dùng gia đình làm cớ để loại Chúa khỏi đời mình. Người bác sĩ không cần rời bệnh viện để tìm “việc Chúa”; nếu ông khám bệnh trong lương tâm, tôn trọng phẩm giá bệnh nhân, từ chối lợi dụng nỗi sợ của họ, kiên nhẫn với người nghèo, giữ sự thật trong chuyên môn, thì bàn khám bệnh của ông đang nằm trong địa lý của Nước Thiên Chúa. Người kế toán không cần giảng Tin Mừng tại văn phòng để sống chức ngôn sứ; đôi khi lời ngôn sứ mạnh nhất của họ là từ chối làm một con số giả. Người làm truyền thông không cần biến mọi bài viết thành bài giảng; họ cần không bán sự thật lấy lượt xem. Người làm chính trị không nên thánh bằng cách biến chính trường thành nhà nguyện nhưng bằng cách không biến quyền lực thành ngẫu tượng, không bán người nghèo để mua phiếu, không đặt lợi ích phe nhóm trên công ích, không dùng lời nói để kích động điều mình biết là sai. Người làm công nghệ không cần dán câu Kinh Thánh lên mỗi sản phẩm; họ cần hỏi sản phẩm ấy đang phục vụ con người hay đang khai thác sự yếu đuối của con người. Chính ở đó đời giáo dân trở thành địa chỉ của sự thánh thiện.
Không có hạng hai cũng có nghĩa không có vùng đạo đức hạng hai. Có người nghĩ cầu nguyện là cao, rửa chén là thấp; chầu Thánh Thể là thánh, thay tã cho con là đời; giảng tĩnh tâm là việc Chúa, lái xe đưa cha già đi bệnh viện chỉ là bổn phận tự nhiên. Cách phân chia ấy nếu tuyệt đối hóa sẽ làm méo linh đạo Kitô giáo. Tất nhiên phụng vụ có địa vị không thể thay thế. Thánh Thể là nguồn mạch và chóp đỉnh đời sống Kitô hữu. Cầu nguyện không thể bị thay bằng hoạt động. Nhưng chính Thánh Thể sai người ta trở lại đời sống để biến đời sống thành lễ dâng. Người vừa rước Mình Thánh Chúa mà về nhà khinh vợ, chửi con, bóc lột nhân viên thì chưa hiểu điều mình vừa lãnh nhận. Người vừa quỳ trước Thánh Thể mà sau đó đi ký một hợp đồng gian dối đang tách bàn thờ khỏi bàn làm việc. Thánh thiện giáo dân nằm ở chỗ nối hai bàn ấy lại: bàn thờ và bàn ăn gia đình, nhà thờ và văn phòng, kinh nguyện và bảng lương, Thánh Thể và cách tiêu tiền, Tin Mừng và cách dùng điện thoại. Không phải làm cho mọi thứ thành nghi lễ, nhưng để ân sủng thấm vào mọi thứ.
Chính trong viễn tượng ấy chúng ta mới hiểu tại sao những việc rất nhỏ có thể mang một trọng lượng vĩnh cửu. Một gia đình không đổ vỡ nhiều khi không được giữ bằng những biến cố anh hùng, nhưng bằng hàng ngàn lần một người nuốt xuống một câu độc ác mà họ hoàn toàn có thể nói. Một đứa trẻ lớn lên trong đức tin nhiều khi không nhờ một bài giáo lý xuất sắc, nhưng nhờ nó thấy cha nó xin lỗi mẹ. Một người già chết trong bình an có khi không vì được nghe những lời thần học lớn, nhưng vì có đứa con ngồi bên cạnh không nhìn đồng hồ. Một nhân viên giữ được phẩm giá có khi chỉ vì người chủ gọi đúng tên họ, trả lương đúng hẹn và không coi họ là một chi phí. Một người nghèo còn tin rằng Thiên Chúa chưa bỏ mình có khi chỉ vì một người tín hữu không đi ngang qua. Những điều ấy có thể không được ghi trong biên bản mục vụ, không được chụp ảnh, không được đăng mạng, không bao giờ được tuyên dương. Nhưng Nước Trời được xây rất nhiều bằng những viên gạch không có bảng tên.
Sự thánh thiện của giáo dân cũng có một chiều kích chiến đấu rất thật. Không nên lãng mạn hóa đời thường như thể chỉ cần sống đời thường là đủ. Thị trường có những cơ chế thúc người ta tham. Mạng xã hội thúc người ta khoe, so sánh và phán xét. Văn hóa tiêu thụ dạy rằng người có nhiều thì đáng giá hơn người có ít. Một số môi trường nghề nghiệp bình thường hóa gian lận đến mức người trung thực bị xem là ngây thơ. Một số lối sống bình thường hóa ngoại tình, quan hệ không trách nhiệm, phá vỡ lời hứa và coi sự chung thủy như một thứ cổ lỗ. Có những áp lực khiến người tín hữu phải trả giá nếu muốn sống Tin Mừng. Vì vậy, nên thánh giữa đời không phải một phiên bản mềm của tu đức. Có khi nó rất đắt. Người từ chối hối lộ có thể mất hợp đồng. Người từ chối gian lận có thể chậm thăng chức. Người giữ lòng chung thủy có thể phải đi qua những năm rất cô đơn trong hôn nhân. Người dám bảo vệ người yếu có thể mất sự ủng hộ của nhóm mình. Người giữ Chúa Nhật có thể mất một cơ hội kiếm tiền. Người từ chối tham gia chuyện nói xấu có thể bị coi là không hòa đồng. Người dám thú nhận mình sai có thể mất mặt. Có những cuộc tử đạo không đổ máu nhưng làm chết cái tôi từng ngày. Chính ở đó lời “vác thập giá mình hằng ngày” trở nên rất cụ thể.
Một điều khác cũng phải được nói mạnh: sự thánh thiện không đồng nghĩa với hoàn hảo tâm lý, không có khuyết điểm, không bao giờ thất bại. Nếu đặt tiêu chuẩn ấy, không ai có thể bắt đầu. Các thánh không phải những người chưa từng ngã. Các ngài là những người để ân sủng Thiên Chúa kéo mình dậy hết lần này tới lần khác. Một giáo dân đang chiến đấu với tính nóng có thể đang thật sự bước trên đường nên thánh nếu mỗi lần ngã họ biết nhận lỗi, xin tha thứ, tập im lặng và xin Chúa biến đổi. Một người chồng đã từng làm vợ đau có thể bắt đầu nên thánh khi anh thôi biện minh, nhận trách nhiệm và kiên trì sửa mình. Một người trẻ từng sống hỗn loạn có thể nên thánh nếu biết để lòng thương xót của Chúa viết lại hướng đời mình. Một người từng tham tiền có thể nên thánh bằng một cuộc hoán cải thật sự trong cách dùng của cải. Không có ai bị loại khỏi ơn gọi nên thánh vì quá khứ của họ. Nhưng cũng không ai được miễn khỏi hoán cải vì tình trạng của họ. Ân sủng không nói: “con cứ ở nguyên như thế.” Ân sủng nói: “hãy đứng dậy và đi.”
Điều này rất quan trọng trong mục vụ giáo dân. Nếu chỉ nói cho giáo dân nghe về bổn phận mà không nói về sự thánh thiện, ta sẽ đào tạo những người giữ luật chứ chưa chắc đào tạo môn đệ. Nếu chỉ nói: đi lễ Chúa Nhật, giữ các điều răn, đóng góp giáo xứ, cho con học giáo lý, ta mới dựng một hàng rào tối thiểu. Hàng rào cần, nhưng Tin Mừng không phải hàng rào. Tin Mừng là lời mời bước vào sự sống của chính Thiên Chúa. Một giáo dân trưởng thành không hỏi mãi: “việc này có tội không?” Họ còn hỏi: “việc này có làm tôi giống Đức Kitô hơn không?” Không chỉ hỏi: “tôi bắt buộc phải làm gì?” nhưng hỏi: “tình yêu đang mời tôi làm gì?” Không chỉ hỏi: “đi lễ trễ bao nhiêu phút thì còn được?” nhưng hỏi: “tại sao lòng tôi ngày càng ít khao khát Thánh Thể?” Không chỉ hỏi: “xem cái này có phạm điều răn thứ sáu không?” nhưng hỏi: “tôi đang tập nhìn người khác bằng đôi mắt nào?” Không chỉ hỏi: “tôi có buộc bố thí không?” nhưng hỏi: “tài sản đang làm tôi tự do hơn để yêu hay đang trói tôi chặt hơn?” Khi câu hỏi thay đổi, đời sống thiêng liêng bắt đầu trưởng thành.
Chương V của Lumen Gentium vì vậy là một cuộc cách mạng âm thầm trong cách Hội Thánh nhìn chính mình. Nếu mọi người đều được gọi nên thánh, mục vụ không thể chỉ xoay quanh việc giữ giáo dân “đừng bỏ lễ”. Giáo xứ phải trở thành trường nên thánh. Giáo lý không thể chỉ dạy kiến thức để thi lãnh bí tích; phải dẫn người ta vào đời sống với Đức Kitô. Hội đoàn không thể chỉ tổ chức sự kiện; phải giúp các thành viên hoán cải. Hội đồng mục vụ không chỉ bàn sân, mái, âm thanh, lễ hội; phải hỏi làm sao cộng đoàn này giúp người ta yêu Chúa và yêu nhau hơn. Linh mục không chỉ là người cung cấp dịch vụ tôn giáo; ngài là người phục vụ sự thánh thiện của Dân Chúa bằng Lời, bí tích, hướng dẫn và đời sống mục tử. Giáo dân cũng không tới giáo xứ chỉ để nhận dịch vụ. Họ tới để được nuôi dưỡng rồi được sai đi. Nếu sau nhiều năm sống đạo, một người biết rất rõ giờ lễ, lịch hội đoàn, thủ tục bí tích nhưng vẫn gian dối trong làm ăn, tàn nhẫn trong nhà, cay nghiệt trên mạng và không có đời cầu nguyện, thì mục vụ đã chưa chạm tới mục tiêu.
Không có hạng hai cũng đồng nghĩa với việc Hội Thánh phải học nhận ra các thánh đang sống giữa mình trước khi họ chết. Họ có thể là bà mẹ không ai biết tên, đã chăm người chồng liệt suốt mười năm mà không than với ai. Có thể là một ông lão làm nghề sửa xe, mỗi ngày dành vài phút cầu nguyện và chưa bao giờ lấy quá giá của người nghèo. Có thể là cô giáo lý viên đi làm cả tuần rồi Chúa Nhật dạy trẻ mà không cần ai cảm ơn. Có thể là một bác sĩ giữ lương tâm nghề nghiệp trong một hệ thống rất nhiều cám dỗ. Có thể là một người con chăm cha mẹ mất trí đến kiệt sức nhưng vẫn không bỏ. Có thể là một người vợ bị tổn thương nhưng không gieo độc vào lòng con về người cha của chúng. Có thể là một người chồng sau giờ làm về rửa chén vì thấy vợ mệt mà không nghĩ mình đang làm chuyện gì lớn. Có thể là một thanh niên giữ lòng trong sạch giữa hàng ngàn hình ảnh khiêu khích mà không ai biết cuộc chiến ấy tốn bao nhiêu sức. Có thể là một cô gái từ chối mối quan hệ sai dù lòng mình đau. Có thể là người nhân viên im lặng trả lại khoản tiền chuyển nhầm mà không ai phát hiện nếu họ giữ. Không phải tất cả những người ấy đều là thánh theo nghĩa được Hội Thánh tuyên phong. Nhưng chính trong những đời sống như thế, sự thánh thiện phổ quát mang khuôn mặt.
Đức Thánh Cha Phanxicô sau này đã dùng một hình ảnh rất đẹp: “các thánh ở cửa bên”, những người sống gần chúng ta, những người phản chiếu sự hiện diện của Thiên Chúa bằng những việc không ồn ào. Hình ảnh ấy không hạ thấp sự thánh thiện. Trái lại, nó trả sự thánh thiện về đúng chỗ của nó: giữa Dân Chúa. Lịch sử Hội Thánh cần những thánh lớn được tuyên phong để soi sáng mọi thời đại. Nhưng Hội Thánh sống mỗi ngày nhờ vô số người thánh không có tượng. Một giáo phận không đứng vững chỉ nhờ giám mục giỏi. Nó đứng vững nhờ hàng ngàn người tín hữu cầu nguyện, tha thứ, trung tín, nuôi con, chăm bệnh nhân, giữ lời hứa, làm việc lương thiện. Một giáo xứ không tồn tại chỉ nhờ cha xứ. Nó tồn tại vì có những người mẹ dạy con làm dấu thánh giá, những người cha đưa gia đình đi lễ, những ông bà giữ ngọn lửa đức tin qua nhiều thế hệ, những giáo lý viên âm thầm, những người quét nhà thờ, những người thăm bệnh, những người giúp đám tang, những người nâng đỡ một gia đình khốn khó mà không cần ghi tên. Hội Thánh có rất nhiều cột nhà không mang phẩm phục.
Nói mọi người được gọi nên thánh không có nghĩa xóa khác biệt giữa các bậc sống. Chính vì cùng hướng tới sự thánh thiện mà mỗi bậc phải trung thành hơn với ơn gọi riêng. Linh mục nên thánh như linh mục, không như doanh nhân kiêm áo lễ. Tu sĩ nên thánh như tu sĩ, không như nhân viên mục vụ không có đời cộng đoàn. Người lập gia đình nên thánh trong giao ước hôn nhân, không bằng cách bỏ bê người phối ngẫu để chạy theo mọi hoạt động đạo đức. Người độc thân giáo dân nên thánh trong sự tự hiến của đời mình, không bằng cách sống như thể không thuộc về ai và không có trách nhiệm với ai. Người trẻ nên thánh trong học tập, tình bạn, việc phân định tương lai, cách sử dụng thân xác và công nghệ. Người già nên thánh trong việc chấp nhận giới hạn, truyền đức tin, không biến tuổi già thành cay đắng. Người bệnh nên thánh không phải vì bệnh tự nó tốt, nhưng bằng cách để Đức Kitô ở cùng mình trong sự mong manh. Mỗi bậc sống là một ngữ pháp khác nhau để viết cùng một từ: yêu.
Và chính ở đây phải chỉnh lại một ngôn ngữ rất quen: “đời thánh hiến” không có nghĩa những đời khác là đời không thánh hiến. Theo nghĩa bí tích nền tảng, mọi người đã được thánh hiến cho Thiên Chúa trong Rửa tội. Đời sống thánh hiến theo các lời khuyên Phúc Âm có một vị trí đặc biệt và không thể thay thế trong Hội Thánh; nó làm chứng cách công khai và mang tính cánh chung rằng Thiên Chúa là tuyệt đối. Nhưng không vì thế mà đời hôn nhân là một thứ Kitô giáo ít thánh hơn. Hôn nhân cũng là bí tích. Một người chồng nói “anh nhận em” và giữ lời ấy năm mươi năm qua bệnh tật, nghèo khó, thay đổi, thất vọng, tha thứ, tuổi già — người ấy đang sống một sự hiến thân rất thật. Một người vợ đón nhận chồng mình không phải như hình mẫu lý tưởng nhưng như con người cụ thể, tiếp tục học yêu qua từng mùa đời, đang bước một con đường khổ chế mà không cần mặc áo dòng. Gia đình có noviciat của nó: những năm đầu học chết cho cái tôi. Có lời khấn của nó: lời hứa hôn nhân. Có đêm tối của nó: những giai đoạn không còn cảm xúc. Có đời cộng đoàn của nó: những người không được chọn lại mỗi sáng. Có bổn phận thường nhật của nó: cơm nước, bệnh tật, học hành, hóa đơn, người già. Và có bàn thờ của nó: nơi một người liên tục đặt cái tôi xuống để người khác được sống.
Nói không có hạng hai cũng có nghĩa không được nhìn người giáo dân chỉ bằng mức họ hữu ích cho giáo xứ. Một người giáo dân không tích cực hội đoàn vẫn có thể đang sống một đời thánh thiện lớn trong gia đình và nghề nghiệp. Dĩ nhiên, mỗi người tín hữu đều được mời gọi tham gia đời sống cộng đoàn theo khả năng. Nhưng không thể đánh giá đời sống đức tin chỉ qua số buổi họp. Một người mẹ có ba con nhỏ không tham gia ban ngành nhiều nhưng mỗi tối đọc kinh với con có thể đang làm một công việc truyền giáo căn bản hơn rất nhiều cuộc họp. Một doanh nhân không đứng trong ban tài chính nhưng trả lương đúng, tạo việc làm nhân bản, không hối lộ, giúp nhân viên phát triển đang sống học thuyết xã hội của Hội Thánh ngay trong cơ cấu kinh tế. Một giáo viên không nói nhiều trong giáo xứ nhưng ba mươi năm không làm nhục học sinh, không bán điểm, không phân biệt giàu nghèo đang thực hành đức ái trong nghề. Giáo xứ phải biết nhận ra và chúc lành những nơi ấy. Nếu chỉ gọi một người “nhiệt thành” khi họ xuất hiện thường xuyên ở nhà thờ, ta vô tình nói rằng nơi duy nhất Chúa làm việc là trong khuôn viên giáo xứ.
Nhưng giáo dân cũng không được dùng điều ấy để thoát khỏi hiệp thông Hội Thánh. “Tôi sống tốt ngoài đời là đủ” cũng là một méo mó. Sự thánh thiện Kitô giáo không phải đạo đức cá nhân tự chế. Nó được nuôi bởi Lời Chúa, các bí tích, cộng đoàn, giáo huấn, cầu nguyện. Người giáo dân được sai vào thế giới từ một thân thể là Hội Thánh và phải trở về thân thể ấy để được nuôi dưỡng. Không ai tự sản xuất ân sủng. Không ai có thể nói: “Tôi yêu người nên không cần Thánh Thể.” Vì chính Đức Kitô trong Thánh Thể dạy ta yêu bằng tình yêu của Người. Không ai có thể nói: “Tôi có lương tâm nên không cần Hội Thánh.” Lương tâm cần được đào luyện. Không ai có thể nói: “Tôi cầu nguyện riêng nên không cần Chúa Nhật.” Đức tin Kitô giáo luôn có chữ “chúng ta”. Vì thế, nên thánh giữa đời không phải tách khỏi Hội Thánh, nhưng là mang sự sống đã nhận trong Hội Thánh vào đời rồi mang đời trở về bàn thờ.
Một điều nữa rất đáng suy nghĩ: khi giáo dân tin rằng sự thánh thiện không dành cho mình, ma quỷ không cần làm họ bỏ đạo. Chỉ cần làm họ bằng lòng với mức trung bình. Đi lễ nhưng không hoán cải. Xưng tội nhưng không sửa một thói quen đã biết là sai. Cầu nguyện nhưng không tha thứ. Làm việc bác ái nhưng không đụng tới sự kiêu căng. Giữ hình thức đạo nhưng để tiền bạc làm chủ. Không phạm những điều quá lớn nhưng cũng không để tình yêu lớn lên. Một đời Kitô hữu như thế có thể rất ổn định và rất vô sinh. Nguy hiểm lớn không phải lúc nào cũng là sa ngã nặng nề. Đôi khi là không còn khao khát nên thánh. Người ta không chống Chúa. Người ta chỉ không muốn Chúa đòi nhiều quá. Không từ chối Tin Mừng. Chỉ xin Tin Mừng đừng đi quá sâu vào ví tiền, điện thoại, giường ngủ, tự ái, lựa chọn nghề nghiệp, cách đối xử trong nhà. Nhưng Đức Kitô không đến để trang trí một phần đời. Người đến để làm Chúa toàn bộ con người.
Nên thánh vì thế luôn đòi một sự nghiêm túc với những điều nhỏ. Thánh thiện không phải chờ một hành vi anh hùng. Nếu chờ, phần lớn chúng ta sẽ chết mà chưa có cơ hội. Nó được xây bằng cách thức ta trả lời một tin nhắn, cách ta lái xe khi bị chen, cách ta nói về người không có mặt, cách ta nhìn người giúp việc, cách ta phản ứng khi bị sửa, cách ta dùng tiền khi không ai kiểm tra, cách ta đối xử với người trong nhà sau khi vừa cư xử rất tử tế với người ngoài. Có người dịu dàng với cả giáo xứ nhưng khắc nghiệt với vợ. Có người nói chuyện đạo rất hay trên mạng nhưng không nói nổi một lời tử tế với cha mẹ. Có người phục vụ người nghèo ngoài đường nhưng coi người làm trong nhà như thấp hơn mình. Nếu sự thánh thiện không đi vào các quan hệ gần nhất, nó rất đáng nghi. Gia đình là nơi những mặt nạ đạo đức dễ rơi nhất. Vì vậy, gia đình cũng là phòng thí nghiệm rất thật của sự thánh thiện.
Cùng lúc, sự thánh thiện không thể bị giản lược thành sống tử tế. Tử tế rất quý, nhưng Kitô hữu được gọi xa hơn: hiệp nhất với Đức Kitô. Có nhiều người không tin Chúa vẫn sống rất đẹp. Người Kitô hữu không được kiêu ngạo vì điều ấy; trái lại phải xấu hổ nếu mình sống tệ hơn. Nhưng sự thánh thiện Kitô giáo có một chiều sâu riêng: đời mình được dâng cho Chúa Cha trong Đức Kitô nhờ Thánh Thần. Người tín hữu không chỉ nhẫn nhịn vì muốn gia đình yên. Họ nhẫn nhịn vì muốn yêu như Đức Kitô. Không chỉ trung thực vì sợ pháp luật. Họ trung thực vì Thiên Chúa là sự thật. Không chỉ giúp người nghèo vì lòng nhân đạo. Họ nhận ra nơi người nghèo khuôn mặt Đức Kitô. Không chỉ tha thứ để nhẹ lòng. Họ tha thứ vì mình đã được tha. Không chỉ giữ thân xác vì sức khỏe. Họ biết thân xác là đền thờ Thánh Thần. Không chỉ yêu vợ chồng vì tình cảm. Họ sống giao ước như dấu chỉ tình yêu Đức Kitô dành cho Hội Thánh. Chính chiều kích quy hướng về Thiên Chúa ấy làm cho đời sống đạo đức trở thành thánh thiện theo nghĩa Kitô giáo.
Điều đáng sợ nhất của cụm từ “tôi chỉ là giáo dân” không nằm ở chữ giáo dân, mà ở chữ “chỉ”. Trong Đức Kitô không có một người đã được Rửa tội nào là “chỉ”. Người ấy là con trong Người Con. Là chi thể Thân Mình Đức Kitô. Là đền thờ Thánh Thần. Là người được xức dầu. Là người được sai đi. Là người có một chỗ trong lịch sử cứu độ mà không ai thay được. Một bà mẹ không phải “chỉ là nội trợ”. Một người nông dân không phải “chỉ là nông dân”. Một người già không còn làm được việc không phải “chỉ là người vô dụng”. Một người bệnh nằm trên giường không phải “chỉ là gánh nặng”. Trong cái nhìn của Nước Trời, giá trị không được đo bằng năng suất. Sự thánh thiện nhiều khi lớn lên chính khi năng suất giảm. Có những năm tuổi trẻ ta nên thánh bằng làm. Có những năm tuổi già ta nên thánh bằng chịu để người khác làm cho mình. Có lúc yêu là tiến lên. Có lúc yêu là chấp nhận bất lực. Đức Kitô cứu thế giới không chỉ bằng những bước chân rao giảng trên đường Galilê, mà còn bằng những giờ bị đóng đinh không thể nhúc nhích trên thập giá.
Nếu thực sự tin ơn gọi nên thánh không có hạng hai, cách đào tạo giáo dân phải thay đổi. Đừng chỉ đào tạo họ để làm việc cho giáo xứ. Hãy đào tạo họ để thuộc về Đức Kitô. Đừng chỉ dạy kỹ năng điều hành hội đoàn. Hãy dạy cầu nguyện. Đừng chỉ dạy cách đọc sách thánh trong lễ. Hãy dạy họ để Lời Chúa đọc chính đời mình. Đừng chỉ dạy giáo huấn luân lý dưới dạng danh sách cấm. Hãy giúp họ thấy vẻ đẹp của một đời được tự do khỏi tội. Đừng chỉ nhắc họ phải làm chứng giữa đời. Hãy cho họ một đời nội tâm đủ sâu để có cái mà làm chứng. Đừng chỉ gửi họ vào trần thế với khẩu hiệu. Hãy nuôi họ bằng Thánh Thể, hòa giải, Lời Chúa, đời sống cộng đoàn và sự đồng hành. Một giáo dân không có đời nội tâm sẽ sớm hoặc muộn bị thế giới đồng hóa. Nhưng một giáo dân được nuôi sâu trong Đức Kitô có thể bước vào những nơi mà linh mục không bao giờ bước vào và mang Tin Mừng tới những bàn họp, phòng học, phòng mổ, nhà máy, công trường, bếp ăn, phòng lập trình, phòng xử án, văn phòng chính quyền, phòng ngủ gia đình và những cuộc trò chuyện riêng nơi vận mệnh con người được quyết định.
Và cuối cùng, sự thánh thiện không phải một dự án tự hoàn thiện. Nếu hiểu sai, chương này có thể làm người ta kiệt sức: tôi phải thánh, phải tốt, phải hoàn hảo. Không. Nên thánh trước hết là để Thiên Chúa thánh hóa mình. Chủ thể đầu tiên là ân sủng. Không ai tự leo tới Chúa bằng đạo đức. Đức Kitô đi xuống tìm ta. Thánh Thần hoạt động trong ta. Bí tích nuôi ta. Lời Chúa cắt tỉa ta. Những thất bại làm ta khiêm nhường. Người khác mài ta. Thập giá thanh luyện ta. Vai trò của người tín hữu là cộng tác, mở cửa, đáp lại, bắt đầu lại. Thánh thiện không phải nói: “Tôi sẽ chứng minh cho Chúa rằng tôi xứng đáng.” Thánh thiện là nói: “Lạy Chúa, xin làm trong con điều con không thể tự làm.” Vì vậy, người khao khát nên thánh không phải người tự tin nhất vào mình. Thường là người ngày càng biết mình cần lòng thương xót.
Có lẽ đến đây ta có thể sửa lại câu nói ban đầu. Đừng nói: “Tôi chỉ là giáo dân nên không cần nên thánh như các cha, các sơ.” Hãy nói: “Tôi là giáo dân, nên Chúa đang gọi tôi nên thánh ngay trong đời giáo dân này.” Đừng nói: “Tôi không có ơn gọi.” Hãy nói: “Rửa tội đã là ơn gọi.” Đừng nói: “Tôi không làm việc đạo nhiều.” Hãy hỏi: “Tôi có để Đức Kitô sống trong điều tôi đang làm không?” Đừng nói: “Tôi không có thời giờ làm chuyện lớn.” Hãy hỏi: “Tôi có yêu trong chuyện nhỏ hôm nay không?” Đừng nói: “Tôi không phải tu sĩ.” Hãy cảm tạ Chúa vì Ngài không gọi mọi người vào cùng một trường, nhưng gọi mọi người tới cùng một sự trọn lành của tình yêu.
Hội Thánh không cần hàng triệu giáo dân cố trở thành phiên bản nhỏ của linh mục hay tu sĩ. Hội Thánh cần giáo dân thánh. Những người chồng thánh. Những người vợ thánh. Những người cha người mẹ thánh. Những người trẻ thánh. Những doanh nhân thánh. Những công nhân thánh. Những bác sĩ thánh. Những giáo viên thánh. Những nghệ sĩ thánh. Những nông dân thánh. Những người làm chính trị thánh. Những người làm truyền thông thánh. Những người làm khoa học và công nghệ thánh. Không phải những người suốt ngày nói lời đạo đức, nhưng những người để Đức Kitô cai trị từ lương tâm đến túi tiền, từ bàn thờ đến bàn làm việc, từ lời cầu nguyện đến cách họ đối xử với người yếu hơn mình.
Ngày sau hết, Thiên Chúa không hỏi chúng ta đã thuộc “hạng” nào trong Hội Thánh. Người hỏi tình yêu đã đi được bao xa. “Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước.” Đó là kỳ thi cuối cùng của sự thánh thiện. Không hỏi áo gì đã mặc. Không hỏi chức gì đã giữ. Không hỏi có bao nhiêu người biết tên. Chỉ hỏi liệu Đức Kitô đã trở thành hình hài trong đời ta hay chưa.
Ơn gọi nên thánh không có hạng hai, bởi Đức Kitô không có Tin Mừng hạng hai, Rửa tội không có ân sủng hạng hai, Thánh Thần không có sự hiện diện hạng hai, và tình yêu không có tiêu chuẩn hạng hai. Có nhiều con đường. Có nhiều hoàn cảnh. Có nhiều ơn gọi. Có nhiều nhịp bước. Nhưng cùng một tiếng gọi: “Hãy nên thánh, vì Ta là Đấng Thánh.” Cùng một mẫu mực: Đức Kitô. Cùng một sức mạnh: Thánh Thần. Cùng một đích điểm: hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa trong tình yêu.
Vì thế, câu “tôi chỉ là giáo dân” nên biến mất khỏi ngôn ngữ thiêng liêng của Hội Thánh. Không phải vì giáo dân cần được nâng lên một tầng quyền lực mới, nhưng vì họ cần nhớ lại tầng sâu của phẩm giá đã được ban ngay từ giếng Rửa tội. Họ không phải Kitô hữu dự khuyết. Không phải khán giả của sự thánh thiện người khác. Không phải lực lượng phụ trợ của hàng giáo sĩ. Họ là những người đã được Đức Kitô gọi đích danh, đã được Thánh Thần xức dầu, đã được Hội Thánh sai đi, và đang mang trong những bình sành rất bình thường một kho tàng có khả năng làm đổi mới thế giới.
Không có thánh hạng linh mục và thánh hạng giáo dân. Chỉ có những con người để tình yêu của Thiên Chúa đi đến cùng trong bậc sống của mình.
Và đến cùng — đó là tiêu chuẩn duy nhất.
CHƯƠNG 26. CẦU NGUYỆN CỦA NGƯỜI KHÔNG CÓ NHÀ NGUYỆN RIÊNG
Một trong những bất công âm thầm mà người ta đôi khi gây ra cho giáo dân là nói về đời cầu nguyện bằng một khuôn mẫu được xây dựng gần như hoàn toàn từ kinh nghiệm của đời đan tu, đời tu cộng đoàn hoặc đời giáo sĩ, rồi lấy khuôn mẫu ấy làm thước đo cho mọi người. Người ta nói đến một giờ suy niệm mỗi sáng, một giờ chầu đều đặn, kinh thần vụ nhiều lần trong ngày, những khoảng thinh lặng dài, những cuộc tĩnh tâm nhiều ngày, những lần viếng nhà nguyện, những khung giờ thiêng liêng tương đối ổn định, rồi nhìn một người mẹ sáng chưa mở mắt đã nghe con khóc, một người cha sáu giờ đã phải ra khỏi nhà để kịp chuyến xe đi làm, một công nhân thay ca, một tài xế chạy đường dài, một người bán hàng từ sáng đến tối, một bác sĩ trực đêm, một giáo viên mang bài về chấm, một người chăm cha mẹ già, một người lao động nhập cư ở trọ trong căn phòng chật hẹp với năm sáu người khác và kết luận rằng họ “không có đời sống thiêng liêng” vì họ không giữ được những khung cầu nguyện giống người sống trong nhà dòng. Kết luận ấy có thể rất đạo đức về âm thanh nhưng lại rất thiếu công bằng về thần học. Chúa không gọi mọi người vào cùng một hình thức sống. Chúa gọi mọi người nên thánh, nhưng Người không bắt một bà mẹ có ba con nhỏ sống lịch cầu nguyện của một nữ đan sĩ chiêm niệm, cũng không đòi một người công nhân làm ca đêm giữ cùng nhịp sinh hoạt với một linh mục có nhà nguyện ở ngay bên phòng mình. Ân sủng không phá hủy thực tại; ân sủng đi vào thực tại, chữa lành nó, nâng nó lên và biến nó thành nơi gặp gỡ Thiên Chúa. Vì thế, muốn nói nghiêm túc về linh đạo giáo dân, phải bắt đầu bằng việc tôn trọng hình dạng thật của ngày sống giáo dân. Ngày của họ không có tiếng chuông nhà nguyện gọi kinh. Ngày của họ có tiếng chuông báo thức, tiếng trẻ gọi mẹ, tiếng xe ngoài đường, tiếng máy trong nhà xưởng, tiếng điện thoại khách hàng, tiếng người bệnh, tiếng cấp trên, tiếng nồi cơm, tiếng tin nhắn của con cái, tiếng người bạn đời hỏi một chuyện mình đang quá mệt để trả lời. Chính trong vùng âm thanh ấy mà họ được gọi học nghe tiếng Chúa. Không phải bằng cách giả vờ rằng mọi âm thanh đều là tiếng Chúa, nhưng bằng cách gìn giữ trong lòng một khoảng thuộc về Chúa để giữa rất nhiều tiếng gọi, họ không quên tiếng gọi căn bản nhất: “Con thuộc về Ta.”
Điều đó không có nghĩa đời cầu nguyện của giáo dân được phép trở thành tùy tiện. Ngược lại, chính vì họ không có nhà nguyện riêng, không có chuông cộng đoàn, không có bề trên nhắc giờ, không có một cơ cấu tu trì nâng đỡ từ bên ngoài, họ càng cần một kỷ luật cầu nguyện đơn sơ nhưng thực tế, nhỏ nhưng trung thành. Người tu sĩ bước vào một cơ cấu trong đó nhiều quyết định thiêng liêng đã được cộng đoàn quyết định giúp: giờ thức dậy, giờ kinh, giờ lễ, giờ thinh lặng, giờ xét mình. Giáo dân phần lớn phải tự quyết định lấy những điều ấy giữa một ngày bị hàng trăm nhu cầu khác tranh giành. Bởi vậy, một phút cầu nguyện thật sự của một người mẹ đang kiệt sức có thể chứa một cuộc chiến nội tâm mà người ngoài không thấy. Một lần người cha tắt điện thoại mười phút để đọc Tin Mừng trước khi đi ngủ có thể là một hành vi khổ chế thật. Một người trẻ không mở mạng xã hội ngay khi thức dậy nhưng ngồi yên hai phút để làm dấu Thánh giá và trao ngày sống cho Chúa đang thực hiện một lựa chọn thiêng liêng rất cụ thể. Một nhân viên bước khỏi bàn làm việc giữa giờ nghỉ trưa, tìm một góc yên, đọc chậm năm câu Tin Mừng và nói: “Lạy Chúa Giêsu, xin ở với con trong buổi chiều này”, đang làm điều nhỏ nhưng không nhỏ chút nào. Linh đạo giáo dân phải dạy họ nhận ra giá trị của những hành vi ấy, không phải để tự mãn với mức tối thiểu, nhưng để xây một đời cầu nguyện có thể tồn tại lâu dài. Một chương trình thiêng liêng rất đẹp mà chỉ giữ được ba ngày có khi kém ích hơn một nhịp cầu nguyện khiêm tốn nhưng được giữ suốt ba mươi năm.
Người giáo dân cần được giải phóng khỏi một mặc cảm rất phổ biến: mặc cảm rằng cầu nguyện chỉ “đúng” khi dài. Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu có những đêm cầu nguyện lâu dài, nhưng Người cũng dạy những lời nguyện hết sức ngắn. Người thu thuế chỉ thưa: “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.” Người trộm lành chỉ nói: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi.” Ông Phêrô chìm xuống nước chỉ kêu: “Lạy Thầy, xin cứu con.” Những câu ấy không dài, nhưng cả con người nằm trong đó. Đời cầu nguyện không được cân bằng đồng hồ trước hết; nó được đo bằng sự thật của tương quan. Có những người đọc rất nhiều kinh nhưng lòng không bao giờ trình diện trước Chúa. Có những người chỉ có thể thốt lên một câu giữa ca làm mà trong câu ấy có cả nỗi mệt, cả hy vọng, cả sự phó thác. Điều cần dạy giáo dân không phải là khinh những giờ cầu nguyện dài. Ai có thể dành một giờ cho Chúa thì đó là ân huệ lớn và nên gìn giữ. Nhưng đừng biến thời lượng thành thần tượng. Đừng để một người không có một giờ nghĩ rằng mười phút của mình vô nghĩa, rồi vì không làm được một giờ nên bỏ luôn mười phút. Ma quỷ rất thích kiểu hoàn hảo chủ nghĩa ấy: hoặc thật nhiều, hoặc không gì cả. Linh đạo khôn ngoan nói khác: hãy bắt đầu bằng điều có thể làm thật, rồi để tình yêu lớn dần. Năm phút mỗi sáng với Tin Mừng, nếu thật sự năm phút ấy thuộc về Chúa, có thể mở đường cho mười phút, mười lăm phút và những khoảng sâu hơn. Nhưng ngay cả khi nhiều năm một người chỉ giữ được năm hay mười phút vì hoàn cảnh gia đình quá nặng, Chúa không ngồi với đồng hồ để trách họ. Người nhìn xem trong năm phút ấy trái tim có tìm Người hay không.
Bởi vậy, trường cầu nguyện đầu tiên của giáo dân phải là Lời Chúa vừa sức. Không phải vì sách thiêng liêng không cần. Có những cuốn sách tuyệt vời đã nuôi bao thế hệ Kitô hữu. Nhưng sách thiêng liêng không được thay Lời Chúa, và một cuốn sách dày mua về để trên đầu giường sáu tháng không mở không nuôi ai cả. Một đoạn Tin Mừng ngắn được đọc mỗi ngày có thể làm việc trong tâm hồn sâu hơn nhiều. Người giáo dân không nhất thiết phải bắt đầu bằng những phương pháp chú giải phức tạp. Họ có thể đọc Tin Mừng ngày hôm đó, đọc chậm một lần, đọc lại lần thứ hai, dừng ở một câu chạm mình, hỏi: “Lạy Chúa, hôm nay Chúa đang nói gì với con?”, rồi giữ câu ấy trong ngày. Một người mẹ đọc: “Đừng sợ, chỉ cần tin thôi”, rồi mang câu ấy vào bệnh viện với con. Một người đang bị xúc phạm đọc: “Anh em hãy yêu kẻ thù”, rồi cả ngày phải vật lộn với câu ấy. Một doanh nhân đọc: “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì nào có ích gì?”, rồi câu Tin Mừng bước vào một quyết định tài chính rất cụ thể. Một nhân viên đọc: “Có thì nói có, không thì nói không”, và thấy câu ấy đứng cạnh mình khi được yêu cầu sửa một con số không trung thực. Đó là Lectio divina giữa đời theo nghĩa rất căn bản: Lời không chỉ được hiểu, Lời được mang theo, được để cho chất vấn và được chuyển thành một cách sống.
Cầu nguyện của giáo dân cũng cần trở về với kinh gia đình, một truyền thống rất bình thường nhưng đang mất dần ở nhiều nơi. Không cần biến phòng khách thành một nhà nguyện thu nhỏ đầy đủ nghi thức. Một bàn thờ gia đình đơn sơ là tốt nếu nó giúp nhớ Chúa, nhưng cốt lõi không phải số tượng ảnh trên bàn; cốt lõi là người trong nhà có thật sự quay về với Chúa cùng nhau hay không. Có gia đình bàn thờ rất đẹp nhưng nhiều tháng không ai đứng trước đó. Có gia đình chỉ có một cây thánh giá nhỏ trên tường nhưng tối đến cha mẹ con cái làm dấu Thánh giá, đọc vài câu Tin Mừng, nói một lời tạ ơn, xin lỗi nhau và cầu cho người đang đau. Gia đình ấy đang trở thành Hội Thánh tại gia. Kinh gia đình có thể vụng. Trẻ con có thể ngáp. Một đứa đọc sai. Một đứa quậy. Người cha có thể không biết nói lời cầu nguyện tự phát. Người mẹ có thể mệt đến mức chỉ muốn đọc thật nhanh. Đừng vì vậy mà bỏ. Cầu nguyện gia đình không phải buổi trình diễn đạo đức. Gia đình không cần cầu nguyện đẹp trước mặt nhau; gia đình cần đứng thật trước mặt Chúa. Có tối chỉ đọc được một kinh Lạy Cha vì con nhỏ khóc. Cứ đọc một kinh Lạy Cha. Có hôm mọi người căng thẳng, hãy cầu nguyện chính từ sự căng thẳng ấy: “Lạy Chúa, hôm nay nhà chúng con mệt và dễ làm đau nhau. Xin cho chúng con biết nhịn nhau.” Một lời cầu như vậy có thể thật hơn mười kinh đọc trong khi lòng đang giận mà không ai dám nói.
Thánh lễ Chúa Nhật phải nằm ở trung tâm của trường cầu nguyện giáo dân, không như một nghĩa vụ cô lập nhưng như nguồn mạch và đỉnh cao của tuần sống. Nếu chỉ dạy “bỏ lễ Chúa Nhật là mắc tội” mà không giúp người giáo dân hiểu tại sao Thánh lễ là sự sống của họ, người ta có thể giữ luật nhưng chưa khám phá quà tặng. Chúa Nhật không phải khoản thuế tôn giáo Chúa thu một giờ mỗi tuần. Chúa Nhật là ngày Hội Thánh nói với con người đang bị xé vụn bởi công việc rằng: anh không phải chỉ là năng suất; chị không phải chỉ là người kiếm tiền; anh không phải chỉ là chức vụ; chị không phải chỉ là người chăm sóc mọi người; anh chị trước hết là những người được Thiên Chúa gọi tên, được quy tụ, được nghe Lời, được nuôi bằng Mình và Máu Đức Kitô, rồi được sai trở lại thế giới. “Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an” không có nghĩa cuộc thánh thiện vừa kết thúc. Nó có nghĩa phụng vụ trong nhà thờ mở ra phụng vụ đời sống. Người giáo dân đem bàn tiệc Thánh Thể vào bàn ăn gia đình bằng cách học chia sẻ. Đem lời “Này là Mình Thầy, bị nộp vì anh em” vào đời hôn nhân bằng cách tự hiến. Đem lời “Bình an của Chúa hằng ở cùng anh chị em” vào một nơi làm việc nhiều xung đột bằng sự bình tĩnh và công chính. Đem lời “Hãy đi bình an” vào đường phố bằng cách không sống như thể vừa bước ra khỏi một nghi thức không liên hệ gì với đời.
Cũng phải trả lại giá trị cho những hình thức đạo đức bình dân có khả năng đi cùng nhịp sống giáo dân, đặc biệt kinh Mân Côi. Có người lần hạt khi đi bộ. Có người lần hạt trên xe buýt. Có người đọc một chục kinh khi chờ con tan học. Có người lái xe đường dài nghe và đọc kinh Mân Côi, miễn việc ấy không làm mất tập trung an toàn. Có người không đọc nổi năm chục kinh một lúc nhưng sáng một chục, trưa một chục, chiều một chục. Đừng khinh những hình thức ấy vì chúng không giống một giờ kinh trang trọng trong nhà nguyện. Mân Côi vốn là lời kinh có thể đi với người nghèo, người ít chữ, người bận rộn, người bệnh, người hành hương. Nhịp lặp lại của Kính Mừng không nhằm nhồi nhiều chữ vào Chúa. Nó để lòng chậm xuống và bước vào những mầu nhiệm Đức Kitô cùng Đức Maria. Người giáo dân có thể mang mầu nhiệm Vui vào bếp, mầu nhiệm Sáng vào công việc, mầu nhiệm Thương vào bệnh viện, mầu nhiệm Mừng vào nghĩa trang. Một bà mẹ lần hạt khi đợi con ngoài phòng cấp cứu không đang làm một việc “thấp” hơn thần học. Bà đang đặt nỗi sợ của mình vào trong ký ức đức tin của Hội Thánh.
Một thực hành khác rất cần phục hồi là phút xét mình trước khi ngủ. Xét mình không phải cuộc kiểm toán đạo đức nơi mỗi tối ta đếm bao nhiêu lỗi rồi tự ghét mình. Cũng không phải liệu pháp tự phân tích vô tận. Xét mình Kitô giáo là đứng lại dưới ánh mắt Chúa để nhìn ngày vừa qua cùng Người. Hôm nay con đã nhận được gì? Con biết ơn điều gì? Con đã ở đâu gần Chúa? Ở đâu con đã chạy khỏi Chúa? Con đã làm ai vui? Con đã làm ai đau? Có lời nào cần xin lỗi? Có điều gì con phải sửa ngày mai? Có nỗi lo nào con đang ôm mà phải trao lại cho Chúa trước khi ngủ? Chỉ năm phút như vậy mỗi tối có thể cứu một con người khỏi sống nhiều năm trong tình trạng không bao giờ nhìn lại mình. Thế giới số làm con người đi ngủ với màn hình trên mặt và thức dậy với màn hình trong tay. Linh đạo giáo dân cần dạy một hành vi phản kháng rất nhỏ: trước khi ngủ, đặt điện thoại xuống và đặt ngày sống trước mặt Chúa. Không phải xem thêm một tin cuối cùng, nhưng nghe câu cuối cùng: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha.” Có những đêm người ta mệt đến mức chỉ nói được: “Lạy Chúa, con cám ơn. Xin tha cho con. Xin giữ con đêm nay.” Thế là đủ để ngày sống không khép lại trong vô thức.
Cầu nguyện tắt giữa ngày cũng là kho báu cần được phục hồi. Truyền thống Kitô giáo từ lâu đã biết sức mạnh của những lời nguyện ngắn được lặp lại trong ngày. “Lạy Chúa Giêsu Kitô, xin thương xót con.” “Lạy Chúa, xin ở với con.” “Lạy Chúa, con tín thác nơi Ngài.” “Xin Thánh Thần soi sáng con.” “Lạy Chúa, xin cho con biết nói điều phải nói.” “Lạy Chúa, xin giữ miệng con.” “Lạy Chúa, xin chúc lành cho người này.” Những lời nguyện ấy có thể được thở ra trước một cuộc họp khó, trong thang máy, trước khi gọi điện thoại cho một người mình ngại, giữa lúc con khóc, khi nghe một tin xấu, lúc bị cám dỗ nói dối, khi muốn nổi nóng, trước khi ký hợp đồng, trước khi bấm nút gửi một tin nhắn có thể làm tổn thương ai đó. Như những sợi chỉ nhỏ, các lời nguyện tắt nối những mảnh rời của ngày sống về với Chúa. Một đời cầu nguyện trưởng thành không nhất thiết là đời trong đó người ta nghĩ về Chúa từng giây. Điều ấy gần như không thể khi đang mổ cho bệnh nhân, lái xe, dạy học, tính toán hay điều hành máy móc. Nhưng có thể sống với một hướng sâu trong lòng về Chúa, rồi thường xuyên trở về bằng những dấu nhỏ. Người yêu nhau không cần nói tên nhau từng giây để biết mình thuộc về nhau. Nhưng nếu nhiều tháng không nhìn mặt, không nói chuyện, không dành giờ cho nhau mà vẫn nói “tình yêu của chúng tôi nằm trong mọi công việc”, thì phải đặt câu hỏi. Với Thiên Chúa cũng vậy.
Ở đây phải đối diện với câu nói rất phổ biến: “Làm việc là cầu nguyện.” Câu ấy có phần đúng, và chính vì có phần đúng nên nó dễ bị dùng sai. Lao động có thể trở thành lời cầu nguyện. Công đồng Vaticanô II và cả truyền thống Kitô giáo đã khẳng định giá trị thánh hóa của đời thường. Khi một người làm việc trong ân sủng, làm với lương tâm ngay thẳng, vì tình yêu đối với gia đình và tha nhân, hiến dâng công việc cho Thiên Chúa, chịu những mệt nhọc trong hiệp thông với Đức Kitô và dùng tài năng để phục vụ công ích, lao động của người ấy có thể trở thành lễ tế thiêng liêng. Nhưng chữ quan trọng là “có thể”. Không phải mọi công việc tự động là cầu nguyện. Một người làm việc mười sáu giờ vì nghiện thành tích không nhất thiết đang cầu nguyện mười sáu giờ. Một người gian lận rất chăm chỉ không biến gian lận thành phụng vụ. Một người bỏ bê gia đình nhân danh công việc không thể dễ dàng nói công việc ấy là cầu nguyện. Và ngay cả một công việc tốt, nếu được dùng làm lý do để không bao giờ trực tiếp ở với Chúa, thì câu “làm việc là cầu nguyện” đã trở thành một cách tránh cầu nguyện.
Làm việc có thể là cầu nguyện khi người làm việc thuộc về Chúa. Nhưng thuộc về Chúa thì phải có lúc nhìn mặt Người. Đây là điểm không thể thương lượng. Tình yêu cần hiện diện. Hôn nhân không tồn tại chỉ nhờ một người nói: “Anh đi làm kiếm tiền cho em, đó là cách anh yêu em”, nhưng không bao giờ ngồi nghe vợ, không bao giờ nhìn vợ, không bao giờ có một cuộc trò chuyện thật. Cha mẹ không thể nói: “Tôi nuôi con là đủ”, nhưng không bao giờ ở bên con. Tình bạn không sống chỉ bằng việc làm cho nhau; nó sống bằng hiện diện. Tương quan với Chúa cũng vậy. Nếu một người nói rằng cả ngày họ sống cho Chúa nhưng một tuần không có nổi năm phút chỉ dành cho Chúa, cần nhẹ nhàng nhưng thật lòng hỏi xem “cho Chúa” ấy còn là tương quan hay đã thành khẩu hiệu. Cầu nguyện không phải báo cáo công việc cho Thiên Chúa. Cầu nguyện là ở với Người. Có khi nói. Có khi nghe. Có khi không biết nói gì. Có khi chỉ ngồi trước Thánh Thể và thở. Có khi mở Tin Mừng mà chẳng hiểu. Có khi lần hạt trong khô khan. Có khi khóc. Có khi chỉ thưa: “Con đây.” Chính những giờ không sản xuất gì ấy bảo vệ con người khỏi biến Thiên Chúa thành ông chủ của một dự án đạo đức.
Người giáo dân rất cần được học rằng khô khan trong cầu nguyện không có nghĩa là cầu nguyện thất bại. Đời họ đã bị huấn luyện bởi một nền văn hóa đánh giá mọi thứ qua cảm giác và hiệu quả: món ăn ngon hay không, video hấp dẫn hay không, bài hát chạm cảm xúc hay không, một ứng dụng hữu ích hay không. Nếu mang cùng tiêu chuẩn ấy vào cầu nguyện, người ta sẽ nghĩ buổi cầu nguyện tốt là buổi có cảm xúc mạnh, thấy bình an rõ, có một ý tưởng đẹp, nghe Chúa “nói” điều gì đó đặc biệt. Nhưng tương quan trưởng thành không sống bằng cảm xúc liên tục. Có những buổi cầu nguyện chẳng thấy gì. Tin Mừng đọc không vào. Chuỗi Mân Côi khô. Thánh lễ thấy mình phân tâm. Chầu Thánh Thể chỉ thấy mệt. Vậy mà việc vẫn ở lại có thể quý hơn nhiều cảm xúc. Người chồng ngồi cạnh người vợ bệnh không cần lúc nào cũng có lời đẹp; sự ở lại đã là tình yêu. Người mẹ thức bên con sốt không cảm thấy “hứng thú”; bà ở lại vì con là con bà. Người Kitô hữu cũng học ở với Chúa vì Người là Chúa, không chỉ vì Người làm mình cảm thấy dễ chịu. Linh đạo giáo dân phải đủ sâu để không biến đời cầu nguyện thành một hình thức tiêu thụ cảm xúc tôn giáo.
Cũng cần dạy giáo dân chiến đấu với sự phân tâm mà không hoảng hốt. Một người bước vào nhà thờ sau cả ngày làm việc, vừa quỳ xuống thì hóa đơn xuất hiện trong đầu, chuyện con cái xuất hiện, câu nói của đồng nghiệp quay lại, danh sách việc ngày mai hiện lên. Họ nghĩ: “Con cầu nguyện tệ quá.” Không nhất thiết. Đầu óc đang mang cả một ngày. Hãy đem chính những điều ấy đến Chúa. “Lạy Chúa, con đang lo khoản tiền này.” “Con đang giận người kia.” “Con không biết phải làm gì với đứa con này.” “Con đang sợ kết quả khám bệnh.” Cầu nguyện không phải rũ sạch đời ngoài cửa nhà thờ rồi bước vào bằng một tâm trí vô trùng. Cầu nguyện là đem đời vào trước mặt Chúa để đời được soi sáng. Đương nhiên phải tập thu tâm. Phải tắt điện thoại. Phải ngừng cố ý chạy theo ý nghĩ. Nhưng khi những lo lắng chân thật xuất hiện, có thể biến chúng thành chất liệu cầu nguyện. Người giáo dân không cần có một nội tâm giống căn phòng trống. Nội tâm họ giống một căn nhà đầy người. Chúa không sợ bước vào căn nhà ấy.
Không có nhà nguyện riêng không có nghĩa không cần một “góc cho Chúa”. Nếu có điều kiện, gia đình nên tạo một dấu chỉ vật chất nhỏ giúp cầu nguyện: một cây thánh giá, một ảnh thánh, một cuốn Kinh Thánh để ở nơi dễ lấy chứ không đóng bụi trong tủ, một chiếc ghế quen nơi mình có thể ngồi năm phút. Không phải vật thánh tự động làm người ta cầu nguyện, nhưng con người là hữu thể có thân xác và cần dấu chỉ. Ta đặt bàn ăn để biết nơi ăn, giường để biết nơi ngủ, bàn làm việc để biết nơi làm. Một góc cầu nguyện nói với cả nhà rằng trong căn nhà này có một khoảng không được dành cho tiêu thụ hay sản xuất, mà dành để nhớ Thiên Chúa. Với người sống phòng trọ nhỏ, góc ấy có thể chỉ là cây thánh giá cạnh giường. Với người đi công tác liên tục, “góc” ấy có thể là cuốn Tin Mừng nhỏ luôn nằm trong túi. Với người bệnh nằm lâu, chiếc giường bệnh có thể thành nơi cầu nguyện. Chúa không cần kiến trúc để hiện diện, nhưng ta cần những dấu nhắc để đừng quên Người.
Điều đặc biệt nguy hiểm hôm nay là chiếc điện thoại đã trở thành một thứ “nhà nguyện ngược”: nơi người ta tự động quay về mỗi khi có khoảng trống. Chờ thang máy: mở điện thoại. Ngồi xe: mở điện thoại. Đợi món ăn: mở điện thoại. Trước khi ngủ: điện thoại. Vừa thức dậy: điện thoại. Đi vệ sinh: điện thoại. Năm phút trống từng là nơi một lời kinh có thể nảy ra; nay thuật toán đi vào trước. Không cần demon hóa công nghệ. Điện thoại có thể chứa Kinh Thánh, kinh Phụng vụ, bài giảng, chuỗi Mân Côi, sách thiêng liêng, nhạc thánh. Nhưng chính thiết bị mang Lời Chúa cũng mang hàng nghìn thứ cạnh tranh với Lời Chúa. Vì thế, cầu nguyện của giáo dân thời kỹ thuật số đòi một khổ chế mới: giành lại những khoảng trống nhỏ. Không cần bắt đầu bằng một giờ không điện thoại nếu chưa làm được. Có thể bắt đầu bằng mười phút đầu ngày không màn hình. Năm phút cuối ngày không màn hình. Không cầm điện thoại trong lúc kinh gia đình. Tắt thông báo khi đọc Tin Mừng. Không chụp hình giờ chầu để đăng trước khi mình thật sự chầu. Không biến mọi khoảnh khắc thiêng liêng thành nội dung. Có những điều phải được sống mà không cần ai biết. “Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo”, vẫn là trường linh đạo căn bản giữa một thời đại muốn biến mọi trải nghiệm thành bài đăng.
Một đời cầu nguyện lành mạnh của giáo dân cũng không thể tách khỏi bí tích Hòa giải. Có người muốn học nhiều phương pháp cầu nguyện nhưng không muốn đối diện với tội. Khi đó cầu nguyện dễ thành một căn phòng tự an ủi. Gặp Chúa thật thì ánh sáng sẽ chiếu vào những chỗ ta không muốn nhìn. Một người cầu nguyện lâu mà ngày càng dễ khinh người, ngày càng cố chấp, ngày càng không xin lỗi, ngày càng coi mình đạo đức hơn người khác thì phải đặt câu hỏi về chất lượng của cầu nguyện ấy. Cầu nguyện đúng không làm ta hoàn hảo ngay, nhưng dần làm ta thật hơn. Nó giúp nhận ra: câu nói đó của tôi độc ác; cách tôi đối xử với vợ là bất công; tôi đang thiên vị con; tôi có lòng tham; tôi nói xấu; tôi nghiện được công nhận; tôi dùng đạo đức để kiểm soát người khác. Bí tích Hòa giải đưa những nhận biết ấy vào lòng thương xót cụ thể của Đức Kitô. Người giáo dân không cần nhà nguyện riêng, nhưng họ cần những cuộc trở về thật.
Cầu nguyện cũng phải nối với thân xác. Người giáo dân mệt bằng thân xác, nên họ cầu nguyện cũng bằng thân xác. Làm dấu Thánh giá chậm. Quỳ khi có thể. Đứng trước bàn thờ. Chắp tay. Cúi đầu. Đi bộ trong thinh lặng. Hít một hơi sâu trước khi đọc Lời Chúa. Những cử chỉ ấy không phải ngoại hình rỗng. Chúng giúp con người toàn vẹn hiện diện. Tuy nhiên, cũng phải có lòng thương đối với giới hạn thân xác. Người già không quỳ được thì ngồi. Người mẹ đang bế con có thể cầu nguyện khi bế. Người bệnh không đọc nổi kinh dài thì lắng nghe. Người công nhân kiệt sức ngủ quên giữa kinh tối không nhất thiết xúc phạm Chúa; có khi giấc ngủ ấy chính là thân xác kêu cứu. Linh đạo không được tàn nhẫn. Thiên Chúa không cạnh tranh với nhu cầu ngủ của một người đã lao động mười bốn tiếng. Có lúc việc thiêng liêng nhất là đi ngủ đúng giờ để sáng mai có thể sống tử tế. Nhưng cũng đừng biến sự mệt thành lý do thường trực. Con người vẫn có khả năng xem video bốn mươi phút nhưng nói không có năm phút đọc Tin Mừng thì vấn đề không còn là thời gian. Đó là thứ tự tình yêu.
Đây có lẽ là câu hỏi thật nhất: không phải “Tôi có thời gian cầu nguyện không?” nhưng “Trong những điều tôi có thời gian, Chúa đứng ở đâu?” Ai cũng có giới hạn. Nhưng thời gian phơi bày phần nào điều ta coi trọng. Không cần nói điều này để làm người bận rộn mặc cảm. Phải nói để giúp họ phân định. Một bà mẹ chăm con đặc biệt có thể thật sự không kiểm soát nổi lịch ngày. Một người chăm bệnh nhân có thể bị đánh thức nhiều lần trong đêm. Một công nhân có thể lệ thuộc ca làm khắc nghiệt. Những người ấy cần lòng thương và sự linh hoạt. Nhưng một người tiêu hai giờ mỗi tối trên mạng rồi nói mình quá bận để cầu nguyện cần được mời nhìn lại. Linh đạo không lên án; linh đạo giúp gọi đúng tên. Nhiều khi ta không thiếu thời gian. Ta thiếu quyết định.
Một nhịp cầu nguyện khả thi cho giáo dân có thể rất đơn giản: sáng thức dậy làm dấu Thánh giá, dâng ngày, đọc vài câu Tin Mừng; trong ngày có một vài lời nguyện tắt; trước bữa ăn nhớ tạ ơn; tối xét mình và cầu nguyện với gia đình nếu có thể; Chúa Nhật dự Thánh lễ với ý thức; định kỳ xưng tội; khi có điều kiện thêm giờ chầu, Lectio divina dài hơn, tĩnh tâm, hành hương, đọc sách thiêng liêng. Đó không phải luật cứng cho mọi người, nhưng là một cấu trúc có thể nâng đỡ. Điều quan trọng là có nhịp. Tình yêu nếu không có nhịp sẽ bị việc gấp nuốt mất. Người ta đánh răng mỗi ngày không phải vì mỗi sáng đều được truyền cảm hứng đánh răng. Người ta ăn nhiều lần mỗi ngày vì thân xác cần. Linh hồn cũng cần một sự trung thành vượt lên trên cảm hứng.
Và rồi sẽ có những mùa đời khác nhau. Người độc thân có thể có những khoảng thinh lặng rộng hơn. Người mới có con nhỏ phải thay đổi toàn bộ nhịp cầu nguyện. Người về hưu có thể mở rộng thời gian cho Lời Chúa và Thánh Thể. Người bệnh có thể khám phá một hình thức cầu nguyện hoàn toàn khác. Không nên đóng băng một chương trình rồi nghĩ bỏ chương trình ấy là bỏ Chúa. Có người thời sinh viên cầu nguyện một giờ mỗi sáng, lấy chồng sinh con rồi không còn làm được và rơi vào mặc cảm nhiều năm. Điều cần không phải cố tái tạo nguyên xi mùa cũ, mà hỏi: “Lạy Chúa, trong mùa này Chúa muốn gặp con ở đâu?” Có khi Chúa gặp người mẹ trong lúc cho con bú giữa đêm. Có khi Người gặp người cha lúc lái xe đi làm sáng sớm. Có khi Người gặp một người con lúc thay tã cho cha già. Không phải những việc ấy thay thế mọi cầu nguyện trực tiếp, nhưng chúng có thể trở thành nơi cầu nguyện khi được nối với những thời khắc nhìn về Chúa.
Sau cùng, cầu nguyện của người không có nhà nguyện riêng phải làm rõ một chân lý đẹp: nhà nguyện quan trọng, nhưng Thiên Chúa không bị nhốt trong nhà nguyện. Nhà thờ là nơi đặc biệt của phụng vụ và sự hiện diện Thánh Thể; không gì trong đời thường thay thế được điều ấy. Nhưng Đức Kitô phục sinh cũng đi trên đường Emmaus. Người đứng bên bờ hồ khi các môn đệ đang làm nghề. Người vào nhà Phêrô. Người ngồi bên giếng. Người dự tiệc cưới. Người ăn trong nhà người thu thuế. Kitô giáo không đưa Chúa ra khỏi thế giới để đặt Người trong một khu vực thiêng liêng biệt lập. Kitô giáo tuyên xưng Ngôi Lời đã làm người và cư ngụ giữa chúng ta. Bởi vậy, căn bếp có thể nghe lời cầu. Xe buýt có thể chứa lời cầu. Bàn làm việc có thể nhận một dấu Thánh giá kín đáo. Hành lang bệnh viện có thể thành nơi phó thác. Nhà máy có thể nghe một lời nguyện tắt không ai khác nghe. Người mẹ rửa chén có thể nhớ đến Chúa. Người cha chờ con về khuya có thể lần hạt. Người trẻ đi bộ từ trường về có thể nói chuyện với Đức Kitô. Người bán hàng giữa hai lượt khách có thể đọc một câu Tin Mừng trên điện thoại rồi khóa màn hình lại trước khi thuật toán kéo mình đi nơi khác. Đó không phải một Kitô giáo hạng hai. Đó là đời sống bí tích Rửa tội đang thấm vào thời gian.
Tuy nhiên, phải giữ câu cuối cùng như một tiêu chuẩn để tránh mọi lãng mạn hóa: Thiên Chúa ở mọi nơi, nhưng con người vẫn phải dừng lại để gặp Người. Chính vì Người ở trong công việc nên ta có thể dâng công việc. Nhưng chính vì Người là một Đấng chứ không phải một ý tưởng nên ta phải có lúc quay mặt về Người. Chính vì cả đời có thể thành lời cầu nên phải có những phút ta thật sự cầu. Chính vì lao động có thể trở thành lễ tế nên phải có bàn thờ từ đó lễ tế ấy nhận ý nghĩa. Chính vì Chúa đồng hành giữa chợ nên người tín hữu cần Chúa Nhật trở về Thánh Thể. Chính vì Người đi cùng ta cả ngày nên buổi sáng phải có lúc nói: “Lạy Chúa, hôm nay con đi với Ngài”, và buổi tối có lúc nói: “Lạy Chúa, ngày này con trả lại cho Ngài.”
Người giáo dân không cần trở thành đan sĩ để có đời cầu nguyện. Họ cũng không được dùng đời bận rộn để sống như thể mình không cần cầu nguyện. Con đường nằm giữa hai sai lầm ấy. Đừng bắt người mẹ sống lịch của tu viện. Nhưng cũng đừng nói với người mẹ rằng chăm con tự động thay được mọi phút ở với Chúa. Đừng bắt công nhân giữ giờ kinh như một chủng viện. Nhưng cũng đừng nói với người công nhân rằng tám tiếng đứng máy đã tự động là tám tiếng cầu nguyện. Đừng bắt người trẻ rời thế giới để nên thánh. Nhưng cũng đừng để chiếc điện thoại nuốt hết mọi khoảng mà Chúa có thể nói. Hãy dạy họ một nghệ thuật nhỏ mà sâu: giữ Chúa trong nhịp ngày bằng những cuộc trở về. Trở về với Lời. Trở về với Thánh Thể. Trở về với một kinh Lạy Cha. Trở về với chuỗi Mân Côi. Trở về với năm phút thinh lặng. Trở về với tòa giải tội. Trở về với dấu Thánh giá trước khi ra khỏi nhà. Trở về với lời “Xin Chúa thương xót con” khi vừa làm điều sai. Trở về với lời “Tạ ơn Chúa” khi nhận điều vui. Trở về với lời “Xin giúp con” khi không biết làm gì. Những cuộc trở về nhỏ, nếu trung thành, dần tạo nên một con người sống trước mặt Thiên Chúa.
Và có lẽ đó là định nghĩa giản dị nhất của cầu nguyện giáo dân: không phải lúc nào cũng ở trong nhà nguyện, nhưng ngày càng sống trước mặt Chúa; không phải lúc nào cũng đọc kinh, nhưng không để quá lâu mà không quay về với Người; không phải biến mọi việc thành một nghi thức, nhưng để mọi việc được soi bởi một tương quan; không phải trốn đời để tìm Chúa, nhưng cũng không chìm trong đời đến mức quên Chúa. Người giáo dân bước từ Thánh lễ ra đường, từ đường về nhà, từ nhà đến nơi làm việc, từ công việc trở lại bàn ăn, từ bàn ăn đến giường ngủ, rồi ngày hôm sau lại bắt đầu. Nếu trong vòng quay ấy vẫn có một sợi chỉ nối mọi sự với Đức Kitô, nếu Lời Người còn được nghe, Mình Người còn được lãnh nhận, tên Người còn được kêu, ý Người còn được tìm, lòng thương xót Người còn được xin, thì căn hộ nhỏ, căn phòng trọ, chiếc xe, nơi làm việc và cả những đoạn đường bình thường nhất của đời người đã bắt đầu có những cánh cửa mở về phía trời.
Nhưng đừng bao giờ nói: “Tôi gặp Chúa trong mọi sự” nếu đã quá lâu không còn tìm gặp chính Chúa. Đừng nói: “Cả đời tôi là cầu nguyện” nếu không còn một phút nào thật sự dành cho cầu nguyện. Đừng nói: “Công việc của tôi là lời kinh” nếu công việc đã làm mình không còn nghe được Lời. Làm việc có thể thành cầu nguyện khi người ấy thuộc về Chúa. Và thuộc về Chúa thì phải có giờ nhìn mặt Người. Không nhất thiết một giờ. Có khi chỉ mười phút. Có mùa chỉ năm phút. Có ngày chỉ một tiếng thở dài với tên Giêsu. Nhưng phải có cuộc nhìn ấy, bởi tình yêu không sống mãi chỉ bằng ý niệm rằng người mình yêu đang ở đâu đó. Tình yêu muốn gặp. Tình yêu muốn nghe. Tình yêu muốn ở lại.
Người giáo dân không có nhà nguyện riêng. Nhưng họ có một căn phòng sâu trong lòng mà Đức Kitô đã nhận làm nơi cư ngụ từ ngày Rửa tội. Việc của đời cầu nguyện là mỗi ngày mở cửa căn phòng ấy, dù chỉ một lúc, và nói: “Lạy Chúa, con đây.” Rồi từ căn phòng ấy, họ bước ra, rửa chén, lái xe, nuôi con, ký giấy tờ, đứng máy, chữa bệnh, bán hàng, dạy học, chăm cha mẹ, trả nợ, tha thứ, chịu đựng, xây dựng xã hội. Và khi tất cả những việc ấy được đem vào tương quan với Đức Kitô, đời thường không còn là khoảng thời gian nằm ngoài đời thiêng. Nó trở thành nơi đời thiêng mang lấy thịt. Không có tiếng chuông nhà nguyện, nhưng có một trái tim biết trở về. Không có hành lang tu viện, nhưng có con đường đi làm. Không có giờ kinh cộng đoàn nhiều lần trong ngày, nhưng có những lời nguyện tắt rải như hạt giống. Không có thinh lặng dài, nhưng có những phút được bảo vệ khỏi tiếng ồn. Không có nhà nguyện riêng, nhưng có Chúa ở đó. Và người biết Chúa ở đó sẽ dần học cách ở đó với Người.
CHƯƠNG 27. PHÂN ĐỊNH GIỮA ĐỜI: LƯƠNG TÂM, LỜI, CỘNG ĐOÀN
Đời sống giáo dân là một đời sống phải chọn gần như không ngừng. Có những lựa chọn nhỏ đến mức người ta không gọi tên là phân định: hôm nay nói câu này hay im đi, ký vào giấy này hay đọc lại thêm một lần, nhận thêm việc hay từ chối, tiêu món tiền này cho mình hay dành cho người khác, trả lời ngay một tin nhắn đang làm mình nóng hay để đến sáng mai. Có những lựa chọn lớn làm cả gia đình mất ngủ: nhận một công việc lương cao nhưng phải xa nhà; ở lại một công ty ổn định nhưng môi trường ngày càng bất chính; chuyển trường cho con; bán căn nhà đang ở; đi định cư; cho cha mẹ già vào cơ sở chăm sóc vì không còn đủ khả năng tự chăm; có nên tố cáo một sai phạm mà nếu nói ra mình có thể mất việc; có nên tiếp tục một mối cộng tác đã mất lòng tin; có nên vay tiền để mở một việc làm mới; có nên nhận chức vụ mà mình biết sẽ kéo theo rất nhiều thỏa hiệp; có nên khuyên con theo một ngành dễ sống hay để nó đi vào con đường mình không hiểu; có nên nói sự thật với một người đang bệnh; có nên cắt đứt một quan hệ đang làm hại đời sống gia đình; có nên tha thứ thêm một lần; có nên im lặng thêm một lần. Phần lớn những điều quyết định nên thánh của người giáo dân không xảy ra trong phòng tĩnh tâm nhưng ở chính những ngã ba như thế. Bởi vậy linh đạo giáo dân mà không dạy phân định thì chỉ mới dạy người ta đạo đức trong những hoàn cảnh đã rõ, trong khi đời thật hiếm khi rõ hoàn toàn. Người ta cần không chỉ biết điều gì là tốt và điều gì là xấu trong sách, nhưng còn phải học cách nhận ra điều thiện cụ thể mà Thiên Chúa đang mời mình làm giữa một tình huống có nhiều tiếng nói, nhiều lợi ích, nhiều sợ hãi, nhiều trách nhiệm chồng lên nhau. Phân định Kitô giáo vì thế không phải một kỹ thuật để tìm cho ra lựa chọn làm mình dễ chịu nhất. Cũng không phải bói ý Chúa bằng cảm giác, bằng một câu Kinh Thánh mở ngẫu nhiên, bằng một sự trùng hợp, bằng lời của người nào mình thích, hay bằng câu “con thấy bình an” được dùng để đóng mọi tranh luận. Phân định là hành vi của một con người có lý trí, có tự do, có lương tâm, đứng trước mặt Thiên Chúa, lắng nghe Lời Người, đón nhận ánh sáng của Hội Thánh, xét những bổn phận thật của bậc sống, hỏi ý người khôn ngoan, nhìn các hoa trái, rồi chịu trách nhiệm về quyết định của mình trong đức tin. Nó có chiều kích thiêng liêng nhưng không huyền hoặc. Nó có chỗ cho cảm xúc nhưng không để cảm xúc làm vua. Nó cần cầu nguyện nhưng không dùng cầu nguyện để trốn suy nghĩ. Nó cần Hội Thánh nhưng không biến người khác thành người quyết định thay mình. Nó cần lương tâm nhưng không biến lương tâm thành một cái tên đạo đức cho sở thích cá nhân.
Cần bắt đầu từ lương tâm vì đây là nơi con người đứng trước điều thiện và điều ác cách riêng tư nhất. Nhưng phải nói thật rõ: lương tâm không phải “tôi cảm thấy thế này”. Lương tâm không phải trực giác bất khả sai. Lương tâm không phải lá phiếu cuối cùng của cái tôi sau khi đã nghe mọi người rồi muốn chọn gì thì chọn. Lương tâm là phán đoán của lý trí thực hành về điều phải làm hoặc phải tránh trong một hoàn cảnh cụ thể dưới ánh sáng của sự thật luân lý. Nói cách đơn giản hơn: lương tâm là con người tự hỏi trước mặt Chúa: trong hoàn cảnh này, điều đúng là gì, điều tốt phải làm là gì, điều xấu phải tránh là gì, và tôi có dám làm điều đó không? Vì lương tâm là phán đoán, nó có thể đúng và cũng có thể sai. Vì thế Hội Thánh vừa dạy con người phải tuân theo lương tâm chắc chắn của mình, vừa dạy lương tâm phải được đào tạo. Hai điều ấy không chống nhau. Nếu chỉ nói “hãy theo lương tâm” mà không nói “hãy đào tạo lương tâm”, ta biến luân lý thành chủ quan. Nếu chỉ nói “hãy nghe luật” mà không dẫn con người đến phán đoán lương tâm trưởng thành, ta biến đời sống đạo thành tuân lệnh bên ngoài. Một người trưởng thành trong đức tin không sống bằng cách hỏi suốt ngày: “Cha cho con làm cái này được không?”, như thể cha linh hướng hay cha xứ là bộ não luân lý thay cho mình. Nhưng người ấy cũng không nói: “Lương tâm con thấy được nên không ai có quyền nói gì”, như thể lương tâm là vùng miễn nhiễm với chân lý. Lương tâm đúng nghĩa khiêm tốn trước sự thật. Nó biết mình có thể tự lừa mình. Nó biết lợi ích có thể làm mình mù. Nó biết giận dữ có thể giả dạng công lý. Nó biết sợ hãi có thể giả dạng thận trọng. Nó biết tham vọng có thể giả dạng trách nhiệm. Nó biết hèn nhát có thể giả dạng hiền lành. Nó biết cố chấp có thể giả dạng trung thành. Nó biết sự thoải mái có thể giả dạng bình an. Vì biết những điều ấy, người có lương tâm không vội tuyên bố “tôi đã phân định xong” chỉ vì mình đã thích một phương án từ đầu.
Lương tâm được đào tạo bằng gì? Trước hết bằng sự thật. Người ta không thể có lương tâm tốt nếu không chịu học điều thiện. Giáo dân cần được huấn luyện luân lý không phải để thuộc một danh sách cấm đoán, nhưng để có một trí óc Kitô giáo đủ sắc bén khi bước vào những vùng phức tạp của đời sống. Một người làm kế toán phải biết không chỉ điều răn “chớ lấy của người”, mà còn phải học nhận ra những hình thức gian dối mà nghề nghiệp có thể bình thường hóa. Một bác sĩ phải đối diện những quyết định về sự sống, sự chết, đau đớn, khả năng điều trị, quyền lợi bệnh nhân, giới hạn kỹ thuật. Một người làm truyền thông phải phân định về sự thật, danh dự người khác, thao túng, giật tít, thuật toán, quyền riêng tư. Một người làm kinh doanh phải phân định lợi nhuận, lương công nhân, giá thành, trách nhiệm xã hội, cạnh tranh, hối lộ, thuế, môi trường. Cha mẹ phải phân định về kỷ luật, tự do của con, thành tích, giáo dục đức tin, công nghệ, chọn trường, chọn môi trường sống. Người làm chính quyền phải phân định giữa lợi ích chung, mệnh lệnh cấp trên, luật pháp, lương tâm và những vùng xám của quyền lực. Những chuyện ấy không thể giải quyết chỉ bằng một câu “cầu nguyện rồi Chúa soi”. Chúa soi bằng cả lý trí được Người ban, bằng Lời Người, bằng giáo huấn luân lý của Hội Thánh, bằng kinh nghiệm, bằng khoa học chân chính, bằng lời khuyên và bằng khả năng đọc các hậu quả của hành động. Ân sủng không phá hủy tự nhiên; ân sủng chữa lành, nâng lên và sử dụng tự nhiên. Vì thế người phân định tốt cũng phải là người chịu học.
Lời Chúa là ánh sáng căn bản cho phân định, nhưng dùng Lời Chúa trong phân định cũng cần trưởng thành. Có người đang phân vân một việc rồi mở Kinh Thánh ngẫu nhiên, gặp câu nào thì coi đó là lệnh trực tiếp của Thiên Chúa. Cách ấy đôi khi có thể đánh động lòng người, nhưng không phải phương pháp bình thường và chắc chắn của phân định Kitô giáo. Kinh Thánh không phải sách bói. Lời Chúa đào tạo cái nhìn, chứ không thay thế trách nhiệm suy xét. Người đọc Tin Mừng lâu ngày sẽ dần có tâm trí của Đức Kitô: biết Người đặt người bé nhỏ ở đâu, Người đối xử với tiền bạc thế nào, Người nghĩ gì về quyền lực, Người nói sự thật ra sao, Người tha thứ thế nào, Người không thỏa hiệp ở đâu, Người biết rút lui lúc nào, Người biết đối đầu lúc nào, Người đặt ý Chúa Cha trên thành công ra sao. Khi một người mang những nhịp ấy của Tin Mừng vào trí mình, lúc gặp một chọn lựa cụ thể, người ấy sẽ không chỉ hỏi “phương án nào lợi nhất?”, mà bắt đầu hỏi: phương án nào thật hơn, công bình hơn, bác ái hơn, trung tín hơn, phù hợp hơn với trách nhiệm mà Chúa đã trao cho tôi? Điều này có làm tôi gian dối không? Có đẩy người yếu xuống để tôi đi lên không? Có làm tôi xa những bổn phận căn bản của bậc sống không? Có khiến tôi phải sống hai mặt không? Có làm tôi dần mất tự do nội tâm không? Có làm tôi thành người mà Tin Mừng đang muốn giải thoát tôi khỏi không? Những câu hỏi ấy là cách Lời Chúa trở thành tiêu chuẩn sống động.
Cùng với Lời Chúa là học thuyết và giáo huấn của Hội Thánh. Có một dạng đạo đức thích nói “Chúa nói với lòng con” nhưng rất ngại hỏi Hội Thánh dạy gì. Đó là nguy hiểm. Đức Kitô không để mỗi người tự xây một Kitô giáo riêng từ những câu Kinh Thánh mình thích. Người trao Tin Mừng cho Hội Thánh, và trong Hội Thánh có một truyền thống luân lý được suy tư qua nhiều thế kỷ. Giáo huấn Hội Thánh không giải sẵn mọi tình huống bằng một công thức cơ học, nhưng cho người tín hữu những nguyên tắc mà nếu bỏ qua, phân định sẽ rất dễ thành hợp thức hóa điều mình muốn. Trong một số vấn đề, hành vi tự nó đã sai và không thể biến thành tốt chỉ vì ý định tốt hoặc hoàn cảnh khó. Trong những vấn đề khác, phải cân nhắc mục đích, phương tiện, hoàn cảnh, bổn phận, hậu quả dự kiến, lợi ích chung và khả năng chịu trách nhiệm. Người giáo dân cần trưởng thành đủ để phân biệt hai loại ấy. Không phải việc gì cũng là vùng xám. Có những điều cần nói là không. Nhưng cũng không phải việc gì cũng có thể giải bằng một điều khoản đơn độc. Có những quyết định cần khôn ngoan thực hành, cần nhận định con người cụ thể và toàn cảnh. Học thuyết Hội Thánh bảo vệ phân định khỏi hai cực: duy luật và tùy tiện.
Một trong những trường lớn nhất của phân định là nhận biết bổn phận của bậc sống. Nhiều người đi tìm ý Chúa ở rất xa trong khi ý Chúa đang nằm ngay trong lời hứa họ đã nói. Người đã kết hôn thì không phân định như người độc thân. Người có con nhỏ không phân định giống người không có trách nhiệm gia đình. Người đang gánh cha mẹ bệnh không thể chỉ hỏi mình thích công việc nào hơn. Người đã nhận một trách nhiệm công cộng phải tính đến những người sẽ bị ảnh hưởng bởi việc mình bỏ ngang. Người sống đời thánh hiến có lời khấn. Linh mục có trách nhiệm mục tử. Giáo dân có trách nhiệm gia đình, nghề nghiệp, công dân, cộng đồng. Bậc sống không giam tự do; nó định hình tự do. Sau khi đã tự do trao lời hứa, có những cánh cửa mình không còn quyền mở như trước. Một người chồng không thể nói “con phân định thấy bình an với mối quan hệ này” nếu mối quan hệ ấy phá giao ước hôn nhân. Một người mẹ không thể lấy việc đạo đức để bỏ bê con cái rồi nói mình đang phục vụ Chúa. Một người lãnh đạo không thể lấy sự nghiệp chung làm lý do để liên tục hy sinh người yếu hơn mà không bao giờ hy sinh lợi ích của mình. Phân định Kitô giáo không bao giờ bắt đầu từ con số không. Ta phân định từ trong một lịch sử, một giao ước, một mạng lưới trách nhiệm đã có.
Điều này giải thích vì sao cộng đoàn rất quan trọng. Không ai nhìn mình hoàn toàn rõ. Người khác không thể sống thay ta, nhưng có thể nhìn thấy những điểm mù mà ta không thấy. Một người đang yêu thường đánh giá khác người ngoài. Một người đang tức có thể chắc chắn rằng mình đang rất sáng suốt. Một người đang thành công có thể tưởng mọi dấu hiệu đều xác nhận Chúa chúc lành. Một người đang thất bại có thể tưởng mọi cánh cửa đóng đều là dấu Chúa không muốn. Vì thế phân định cần những người đủ gần để hiểu mình và đủ tự do để không chiều mình. Có thể là người phối ngẫu, một người bạn trưởng thành trong đức tin, một linh mục, một tu sĩ, một người linh hướng, một cố vấn có chuyên môn, một cộng đoàn nhỏ biết cầu nguyện. Người cần tìm không nhất thiết là người nói điều mình muốn nghe. Thậm chí thường người hữu ích nhất là người dám hỏi câu làm mình khó chịu nhưng vẫn tôn trọng tự do của mình. “Anh đã nghĩ đến vợ con chưa?” “Nếu không có mức lương này anh còn thấy đây là ý Chúa không?” “Nếu người khác làm đúng điều anh đang tính làm, anh có gọi nó là công bằng không?” “Anh nói muốn bảo vệ sự thật, nhưng trong lòng có muốn trả đũa không?” “Chị nói vì con, nhưng có thể chị đang sợ người ta nghĩ con mình thất bại không?” Những câu như thế có thể mở những cánh cửa nội tâm mà một mình ta không mở được.
Cha linh hướng có vị trí đặc biệt nhưng phải được hiểu đúng. Linh hướng không phải nhà tiên tri quyết định thay người khác. Người linh hướng tốt không biến người được hướng dẫn thành lệ thuộc. Cha không sống hôn nhân của con, không làm nghề của con, không nuôi con của con, không gánh hậu quả kinh tế của quyết định thay con. Linh hướng giúp người khác đứng tự do hơn trước mặt Chúa: giúp nhận ra động lực, phân biệt sợ hãi và thận trọng, phân biệt ước muốn ngay lành và tham vọng, giúp nhớ lại Lời Chúa, nhắc giáo huấn Hội Thánh, đặt câu hỏi, nhận ra các khuôn lặp của tội và ân sủng. Cuối cùng người phải quyết là người mang trách nhiệm. Một nền linh đạo tạo ra những giáo dân không dám quyết gì nếu chưa xin phép cha là nền linh đạo chưa trưởng thành. Nhưng một nền linh đạo khiến mỗi người chỉ nghe chính mình cũng không trưởng thành hơn. Trưởng thành là biết xin ánh sáng mà không giao nộp lương tâm.
Một yếu tố thường được nói nhiều trong phân định là bình an. Bình an thật sự rất quan trọng, nhưng phải phân biệt bình an với dễ chịu. Có những quyết định đúng làm người ta mất ngủ. Có những lựa chọn theo Tin Mừng khiến tim run. Đức Giêsu ở Ghếtsêmani không ở trong trạng thái dễ chịu. Các ngôn sứ nhiều khi sợ. Một người phải tố cáo gian lận trong cơ quan có thể rất bất an. Một người phải chấm dứt một quan hệ độc hại có thể đau. Một người từ chối khoản tiền bất chính có thể lo về tương lai gia đình. Một người xin lỗi dù mình cũng bị tổn thương có thể thấy rất khó. Không thể vì khó mà kết luận không phải ý Chúa. Bình an thiêng liêng sâu hơn cảm giác thoải mái. Đó là một sự ngay thẳng bên trong khi biết mình đang chọn điều có thể đứng trước mặt Chúa mà không phải che giấu. Có thể có nước mắt nhưng không có hai mặt. Có thể có sợ hãi nhưng không phản bội sự thật. Có thể mất lợi nhưng không mất mình. Bình an ấy đôi khi đến sau khi đã bước, không phải trước khi bước.
Ngược lại, có những thứ rất dễ chịu nhưng hoàn toàn không phải bình an. Một người trả thù xong có thể thấy hả. Một người nghỉ việc trong cơn giận có thể thấy nhẹ. Một người bỏ trách nhiệm có thể thấy tự do. Một người mua món mình thèm có thể thấy vui. Một người thắng tranh luận có thể thấy thỏa. Nhưng những cảm giác ấy không đủ để gọi là hoa trái Thánh Thần. Phân định cần nhìn lâu hơn. Quyết định này làm tôi trở thành người thế nào sau một tháng, một năm? Nó làm tôi tự do hơn để yêu hay ngày càng phải bảo vệ cái tôi? Nó làm tôi thật hơn hay bắt tôi dựng thêm những câu chuyện để biện minh? Nó làm các mối tương quan căn bản của tôi được chữa lành hay bị xói mòn? Nó làm tôi gần Chúa hơn hay tôi bắt đầu né cầu nguyện vì không muốn ánh sáng chạm tới quyết định ấy? Hoa trái là điều cần thời gian. Vì thế những quyết định lớn hiếm khi nên làm trong một cơn xúc động cao độ, trừ khi hoàn cảnh khẩn cấp thật. Giận quá thì chưa nghỉ việc. Yêu quá thì chưa hứa mọi điều. Sợ quá thì chưa ký. Tổn thương quá thì chưa cắt. Hưng phấn quá thì chưa đầu tư. Phân định cần khoảng cách nội tâm.
Khoảng cách ấy trong linh đạo gọi là tự do hay sự không dính bén. Không dính bén không có nghĩa không có ước muốn. Ta có thể rất muốn một việc. Điều cần là khả năng nói: “Lạy Chúa, con muốn điều này, nhưng con muốn sự thật và ý Chúa hơn.” Đây là một lời nguyện cực khó. Nhiều khi ta đến với Chúa không phải để hỏi ý Người, mà để xin Người xác nhận ý ta. Ta đã quyết từ trước, rồi tìm một câu Kinh Thánh, một cha, một dấu chỉ, một người bạn để đóng dấu thiêng liêng. Phân định thật bắt đầu khi ta cho phép một phương án mình thích có thể sai. Nếu ta tuyệt đối không thể chấp nhận phương án B, thì rất có thể ta chưa tự do để phân định giữa A và B. Ta chỉ đang tìm lý do chọn A. Tự do nội tâm cũng cần được kiểm tra bằng những câu rất thật: nếu không ai biết tôi đã làm việc này, tôi còn muốn làm không? Nếu việc này không mang danh tiếng, tôi còn thấy nó đáng không? Nếu mất tiền, tôi còn cho là đúng không? Nếu người tôi không thích đề nghị đúng điều này, tôi có còn thấy nó hợp lý không? Nếu phải chờ sáu tháng, tôi có còn muốn không? Nếu Chúa không giải thích cho tôi, tôi có vâng không?
Giáo dân cần đặc biệt học phân định tiền bạc vì tiền làm rất nhiều tiếng nói nghe có vẻ hợp lý. Tiền tự nó không xấu. Gia đình cần tiền. Cha mẹ có trách nhiệm nuôi con, chữa bệnh, lo tuổi già, giúp người thân. Nhưng chính vì tiền cần thiết nên con người rất dễ thiêng liêng hóa tham muốn tài chính. Một công việc lương gấp đôi có phải luôn là “Chúa mở cửa” không? Chưa chắc. Cần hỏi giá của mức lương ấy là gì: thời gian, hôn nhân, sức khỏe, lương tâm, môi trường của con cái, khả năng sống đạo, mức độ lệ thuộc vào một cơ cấu không ngay thẳng. Ngược lại, cũng đừng đạo đức hóa sự thiếu trách nhiệm: có người từ chối công việc tốt chỉ vì ngại thay đổi rồi bảo “con chọn bình an”. Phân định không chống lại thăng tiến. Nó hỏi thăng tiến để làm gì và bằng giá nào. Một số người được Chúa gọi dùng năng lực để gánh trách nhiệm lớn hơn, kiếm nhiều hơn, quản trị nhiều hơn, tạo việc làm cho nhiều người hơn. Vấn đề không phải nhiều hay ít. Vấn đề là tự do hay nô lệ, công bình hay bất chính, phục vụ hay tự tôn.
Phân định nghề nghiệp cũng phải chống lại một ảo tưởng khác: cứ việc nào làm trong Giáo hội thì thiêng hơn việc ngoài đời. Một giáo dân có thể nghĩ bỏ công ty để làm toàn thời gian cho giáo xứ là bước cao hơn. Có trường hợp đó là ơn gọi thật. Nhưng cũng có trường hợp đó là trốn khỏi nơi Chúa đang sai. Nếu một người giỏi pháp luật, tài chính, giáo dục, y tế, kỹ thuật, nghệ thuật, quản trị, và có khả năng làm men Tin Mừng trong những môi trường ấy, đừng mặc định rằng bước gần bàn thờ hơn về không gian là bước gần Chúa hơn về ơn gọi. Cần phân định ơn riêng. Có người được gọi phục vụ trực tiếp cơ cấu Hội Thánh. Có người được gọi đứng giữa một doanh nghiệp khó, một trường học nhiều áp lực, một bệnh viện, một phòng thí nghiệm, một xưởng, một cơ quan nhà nước, một khu chợ. Nơi nào cũng có thể là chỗ vâng lời. Chỉ đừng dùng “ơn gọi” để trốn bổn phận hoặc nuôi cái tôi.
Trong gia đình, phân định thường đau hơn vì không chỉ có một ý chí. Vợ chồng phải học phân định chung. Không phải chồng cầu nguyện rồi thông báo “Chúa cho anh thấy chúng ta phải chuyển nhà”. Cũng không phải vợ nói “em không bình an” là cuộc nói chuyện kết thúc. Phân định hôn nhân đòi hai người cùng mang dữ kiện ra ánh sáng: tài chính, công việc, con cái, cha mẹ, sức khỏe, cộng đoàn đức tin, những ước muốn sâu, những nỗi sợ. Cùng cầu nguyện. Cùng nghe. Có thể không đồng ý ngay. Có khi một người thấy nhanh, người kia cần thời gian. Sự chậm ấy không nhất thiết là chống ý Chúa. Nó có thể là phần của ý Chúa, vì giao ước hôn nhân không được xây bằng sự thắng thế của người mạnh hơn. Nhiều gia đình đau vì một người có ngôn ngữ thiêng liêng mạnh hơn và dùng nó để áp người kia: “Anh đã cầu nguyện kỹ rồi.” “Cha nói vậy.” “Nhóm cầu nguyện bảo thế.” Khi ngôn ngữ Thiên Chúa trở thành công cụ kết thúc đối thoại, phân định đã bị tổn thương.
Với con cái cũng vậy. Cha mẹ phân định cho con khi chúng còn nhỏ, nhưng mục tiêu của việc giáo dục là dần dạy chúng biết phân định chứ không sống cả đời bằng quyết định của cha mẹ. Chọn trường, chọn ngành, chọn bạn, chọn hướng sống là những chỗ cha mẹ phải phân biệt giữa trách nhiệm và kiểm soát. Có cha mẹ nói “chúng tôi chỉ muốn điều tốt cho con” nhưng thực ra điều tốt được định nghĩa bằng danh dự gia đình, mức lương, nghề được xã hội nể. Có con nói “đây là đam mê của con” nhưng chưa đủ thực tế về khả năng và trách nhiệm. Phân định cần cả hai chiều: đừng giết ước muốn, cũng đừng phong thánh mọi ước muốn. Ơn gọi thường gặp nhau ở ba chỗ: điều thiện khách quan, ân ban thật của con người, và nhu cầu thật của thế giới. Không phải thích là gọi. Nhưng ơn gọi cũng hiếm khi hoàn toàn không chạm tới những năng lực và khát vọng sâu mà Chúa đã đặt vào con người.
Một trường phân định khác là nói hay im. Không có công thức rằng người tốt luôn phải nói thẳng. Có lúc im là hèn. Có lúc nói là kiêu. Có lúc nói thật là bác ái. Có lúc nói thật không đúng lúc chỉ là trút giận. Người giáo dân ở công sở gặp việc này liên tục. Có nên góp ý sếp? Có nên bảo vệ đồng nghiệp? Có nên phản đối một quyết định? Có nên nói cho người khác biết một sự thật về ai đó? Phân định cần hỏi: tôi có trách nhiệm nói không? Người này có quyền biết không? Điều tôi sắp nói có chắc là thật không? Có cần nói với đúng người thay vì kể cho nhiều người? Tôi đang muốn sửa điều xấu hay muốn hạ người? Thời điểm này có giúp sự thật được đón nhận không? Có cách nói nào ít gây tổn thương hơn mà vẫn không bóp méo sự thật không? Im lặng không phải luôn khôn. Nói không phải luôn can đảm. Can đảm Kitô giáo là đặt lời nói dưới sự thật và bác ái cùng lúc.
Phân định cũng cần học cách nhận ra những động lực pha trộn. Ít quyết định nào hoàn toàn tinh tuyền. Tôi có thể thật sự muốn phục vụ và đồng thời thích được nhìn nhận. Tôi có thể thật sự muốn bảo vệ gia đình và đồng thời sợ mất tiện nghi. Tôi có thể thật sự muốn công lý và đồng thời ghét người đã làm mình đau. Tôi có thể thật sự yêu Hội Thánh và đồng thời muốn quyền lực trong Hội Thánh. Điều quan trọng không phải chờ đến khi mọi động lực hoàn hảo mới hành động, vì có lẽ ta sẽ không bao giờ hành động. Điều quan trọng là gọi đúng tên các động lực, không để phần tối điều khiển phần sáng. Một người có thể nói: “Con nghĩ việc này tốt, nhưng con cũng nhận ra con rất thích được khen. Xin Chúa thanh luyện điều đó.” Đó là trưởng thành. Nguy hiểm là khi tham vọng được đặt tên là nhiệt thành và rồi trở thành bất khả chất vấn.
Có lúc sau tất cả cầu nguyện, học hỏi, hỏi ý và suy nghĩ, ta vẫn không chắc một trăm phần trăm. Đây là phần nhiều người sợ. Họ muốn một dấu chỉ tuyệt đối để không còn rủi ro. Nhưng đời Kitô hữu không phải đời được miễn mọi bất định. Thiên Chúa thường cho đủ ánh sáng để bước, không cho toàn bộ bản đồ. Người trưởng thành biết quyết định trong mức chắc hợp lý, rồi phó thác phần còn lại. Nếu hai phương án đều không trái luân lý, đều có lý do tốt, đều phù hợp bậc sống, thì đôi khi Thiên Chúa thực sự để ta tự do chọn. Không phải mọi câu hỏi đều có một phương án duy nhất được viết sẵn trên trời mà nếu chọn khác là “lỡ ý Chúa”. Cách nghĩ ấy làm con người hoảng sợ và dễ lệ thuộc vào dấu chỉ. Thiên Chúa là Cha, không phải người đặt bẫy. Người hướng dẫn, nhưng Người cũng cho con cái trưởng thành. Có khi ý Người chính là ta dùng trí khôn, tự do và đức ái Người đã ban để chọn giữa hai điều tốt, rồi trung thành làm cho lựa chọn ấy sinh hoa trái.
Sau khi chọn, phân định chưa kết thúc. Cần kiểm chứng bằng đời sống. Có những quyết định ban đầu đúng nhưng cách ta sống nó lại sai. Có những quyết định được làm trong giới hạn hiểu biết lúc ấy, sau này xuất hiện dữ kiện mới thì phải xem lại. Trung thành không đồng nghĩa cố chấp. Người Kitô hữu không thay đổi quyết định chỉ vì khó, nhưng cũng không bám một quyết định chỉ để chứng minh mình không sai. Cần hỏi định kỳ: hoa trái đang là gì? Gia đình ra sao? Lương tâm ra sao? Tôi có trở nên tự do và bác ái hơn không? Tôi có phải liên tục dối để duy trì quyết định không? Những dấu hiệu xấu kéo dài có phải do thập giá bình thường hay vì tôi đã đi sai và đang sợ quay lại? Đây là lý do đời sống cầu nguyện đều đặn quan trọng. Nếu ta chỉ cầu nguyện lúc có quyết định lớn, ta sẽ rất khó nhận ra tiếng Chúa vì chưa quen giọng Người. Phân định lớn được chuẩn bị bởi hàng trăm lần trung tín nhỏ.
Sau cùng, phân định không phải nghệ thuật tránh đau, mà là nghệ thuật chọn điều đáng chịu đau vì nó. Mọi cuộc đời trưởng thành đều có giá. Giữ một lời hứa có giá. Nói sự thật có giá. Nuôi con có giá. Tha thứ có giá. Từ bỏ một lợi ích bất chính có giá. Ở lại với một trách nhiệm có giá. Rời khỏi một nơi không còn có thể ở lại trong sự thật cũng có giá. Nếu tiêu chuẩn là “phương án nào ít đau nhất”, ta sẽ nhiều lần chọn sai. Tiêu chuẩn sâu hơn là “ở đâu tôi có thể yêu trong sự thật và trung tín với điều Chúa đang trao?” Đôi khi câu trả lời dẫn qua thập giá. Nhưng thập giá của Đức Kitô không phải sự vô nghĩa. Nó là cái giá của tình yêu không phản bội.
Vì thế, trường phân định của giáo dân không cần biến căn bếp thành đan viện hay văn phòng thành phòng tĩnh tâm. Nó cần đưa Chúa vào ngay giữa những lựa chọn có thật. Buổi sáng đọc một đoạn Tin Mừng để tâm trí được uốn. Trong ngày giữ một chút tự do trước những phản ứng đầu tiên. Khi có việc lớn, đừng vội. Thu thập dữ kiện. Xét luật Chúa và giáo huấn Hội Thánh. Nhìn bổn phận bậc sống. Nói thật với người phối ngẫu và những người sẽ bị ảnh hưởng. Hỏi một người khôn ngoan. Cầu nguyện không chỉ để được điều mình muốn. Xem động lực. Xem hoa trái. Rồi quyết định và chịu trách nhiệm. Có thể sai. Nếu sai, khiêm tốn sửa. Có thể đúng mà vẫn khổ. Nếu đúng, trung tín đi tiếp. Có thể chưa thấy gì rõ. Nếu chưa rõ, làm điều thiện rõ nhất hôm nay và chờ ánh sáng cho bước kế tiếp. Đó là phân định giữa đời: không sống như người có sẵn mọi đáp án, cũng không sống như người bị ném giữa hỗn loạn. Sống như con cái có một Người Cha, có Lời dẫn đường, có Hội Thánh đồng hành, có lý trí được ban, có lương tâm phải đào tạo, có anh chị em để hỏi và có Thánh Thần đang âm thầm làm việc trong một đời sống rất bình thường. Lương tâm đứng trước mặt Chúa; Lời Chúa thanh luyện lương tâm; Hội Thánh bảo vệ lương tâm khỏi tự lừa; cộng đoàn giúp ta thấy điểm mù; cầu nguyện giữ lòng tự do; và cuối cùng, chính tình yêu trong sự thật là tiêu chuẩn lớn nhất. Người giáo dân nên thánh không phải vì luôn chọn được phương án hoàn hảo, nhưng vì ngày càng học chọn trước mặt Chúa, chọn với trách nhiệm, chọn trong sự thật, và sau mỗi lựa chọn lại trở nên tự do hơn để thưa một lời căn bản của cả đời Kitô hữu: “Lạy Chúa, xin đừng để con chỉ làm điều con muốn. Xin dạy con muốn điều lành, nhận ra điều lành, và khi đã nhận ra, xin cho con đủ can đảm để làm.”
CHƯƠNG 28. CÁC NHÂN ĐỨC TRẦN THẾ: TRUNG TÍN, CẦN MẪN, CÔNG CHÍNH, VUI
Có một cách nhìn về đời sống thiêng liêng rất dễ làm người giáo dân nản lòng: người ta chỉ nhận ra sự thánh thiện khi thấy một điều gì đó có vẻ trực tiếp thuộc về tôn giáo. Một người cầu nguyện lâu thì được xem là đạo đức. Một người đi lễ nhiều thì được xem là sốt sắng. Một người tham gia nhiều hội đoàn thì được xem là nhiệt thành. Một người nói chuyện về Chúa thường xuyên thì được xem là có đời sống thiêng liêng. Những điều ấy có thể rất quý, và nhiều khi thật sự là dấu chỉ của một đời sống gắn bó với Thiên Chúa. Nhưng nếu chỉ nhìn như thế, ta sẽ bỏ quên một phần rất lớn của con đường nên thánh dành cho giáo dân. Bởi người giáo dân không sống phần lớn đời mình trong nhà thờ. Họ sống ở bàn ăn, trên đường đi làm, trong nhà máy, ở công sở, ngoài ruộng, trong bệnh viện, trong trường học, trong cửa hàng, trước màn hình máy tính, giữa cuộc họp, giữa hóa đơn, tiền điện, tiền học của con, những cuộc điện thoại phải trả lời, những lời hứa phải giữ, những công việc phải hoàn thành. Chính ở đó, những nhân đức tưởng như rất “trần thế” lại trở thành nơi mầu nhiệm ân sủng nhập thể. Đúng giờ, giữ lời, làm hết phần mình, không gian dối, không nói xấu, trả món nợ đúng hạn, tôn trọng tài sản chung, không lấy của công làm của riêng, vui với người vui, biết cám ơn, biết xin lỗi, không đùn trách nhiệm, biết nhẫn nại với người chậm chạp, biết làm việc dù không ai kiểm tra: tất cả những điều ấy nhìn bên ngoài có thể không mang vẻ huyền nhiệm nào, nhưng chúng có thể là chất liệu rất thật của một đời sống thánh thiện. Nếu đức ái là tình yêu được Thiên Chúa đổ vào lòng con người, thì các nhân đức đời thường chính là hình dạng mà đức ái mang lấy khi phải sống giữa thời gian, trách nhiệm và các tương quan cụ thể. Đức ái không chỉ là cảm xúc tốt. Đức ái phải có chân để đi, có tay để làm, có trí nhớ để giữ lời, có đồng hồ để đến đúng giờ, có lương tâm để trả lại điều không thuộc về mình, có sự kiên trì để làm một việc tốt không phải một lần mà một ngàn lần. Vì thế, những nhân đức trần thế không đứng bên ngoài linh đạo giáo dân. Chúng là một trong những khuôn mặt quan trọng nhất của linh đạo ấy.
Điều này cần được nói rõ, bởi trong đời sống đạo đôi khi tồn tại một sự phân chia giả tạo giữa “đạo đức” và “tử tế”, giữa “thiêng liêng” và “nhân bản”. Có người đọc kinh rất nhiều nhưng thất hứa liên tục. Có người sốt sắng trong nhà thờ nhưng thường xuyên đi trễ và xem thời gian của người khác như không đáng kể. Có người nói về lòng thương xót nhưng trả lương người làm không công bằng. Có người rất nhiệt thành việc đạo nhưng khi làm chung thì thiếu trách nhiệm, công việc dang dở luôn để người khác dọn. Có người nói những lời rất đẹp về hiệp thông nhưng lại thích nói xấu sau lưng. Có người kêu gọi sống nghèo nhưng vay tiền rồi không trả. Có người chia sẻ những câu Kinh Thánh về bình an mỗi sáng nhưng khiến cả gia đình căng thẳng vì tính nóng nảy và bất nhất của mình. Những nghịch lý ấy không phải chuyện nhỏ. Chúng cho thấy đời sống thiêng liêng chưa đi đủ sâu để biến đổi con người. Ân sủng không phá hủy nhân tính nhưng chữa lành, nâng cao và hoàn thiện nhân tính. Nếu một người càng cầu nguyện mà càng khó sống với người khác, càng giữ đạo mà càng thiếu ngay thẳng, càng làm việc Hội Thánh mà càng thiếu trách nhiệm, thì phải can đảm hỏi xem đời sống thiêng liêng ấy đang đi về đâu. Không phải vì cầu nguyện là vô ích, nhưng vì cầu nguyện thật phải dần sinh hoa trái trong cách sống. Đức tin không thay thế nhân bản. Đức tin cứu chuộc nhân bản. Đức ái không xóa công bằng. Đức ái đòi công bằng trước khi đi xa hơn công bằng. Lòng thương xót không cho phép một người thiếu trách nhiệm. Trái lại, lòng thương xót chân thật khiến người ấy càng thấy mình phải sống đáng tin cậy hơn, bởi mình biết mỗi sự bất cẩn của mình có thể trở thành gánh nặng cho người khác.
Trong số các nhân đức đời thường ấy, trung tín có lẽ là một trong những từ quan trọng nhất. Trung tín không phải là làm được một điều lớn một lần. Trung tín là tiếp tục làm điều đúng sau khi cảm xúc đã nguội, sau khi sự mới mẻ đã hết, sau khi không còn ai vỗ tay. Trong đời sống Kitô hữu, ta dễ cảm động trước những khoảnh khắc lớn: ngày kết hôn, ngày khấn, ngày chịu chức, ngày lãnh bí tích, ngày nhận một sứ vụ, ngày bắt đầu một công việc. Nhưng giá trị thật của những lời “xin vâng” ấy chỉ được chứng minh sau nhiều năm. Một đôi vợ chồng không thành thánh chỉ bởi đã nói lời hứa trước bàn thờ. Họ nên thánh bằng việc sáng hôm sau vẫn ở lại với nhau, mười năm sau vẫn học cách tha thứ, hai mươi năm sau vẫn chăm sóc nhau khi người kia không còn hấp dẫn như thuở đầu, khi bệnh tật đến, khi khó khăn tài chính đến, khi những khác biệt tính khí không biến mất. Trung tín là đức ái có ký ức. Nó nhớ điều mình đã hứa ngay cả khi cảm xúc không còn nhớ. Người cha trung tín là người về với gia đình, không chỉ gửi tiền. Người mẹ trung tín là người không bỏ cuộc trước một đứa con khó dạy. Người con trung tín là người không quên cha mẹ khi mình đã thành đạt. Người bạn trung tín là người không chỉ xuất hiện khi mọi sự vui. Người giáo dân trung tín với giáo xứ không có nghĩa là lúc nào cũng phải làm thật nhiều, nhưng nghĩa là việc gì đã nhận thì làm cho tới nơi, lời gì đã hứa thì cố giữ, không đột nhiên biến mất khiến cả nhóm phải xoay xở thay mình.
Trung tín cũng liên quan đến một điều rất nhỏ mà xã hội hiện đại dễ coi thường: giữ lời. Người Kitô hữu phải là người mà lời nói có trọng lượng. Khi nói “tôi sẽ đến”, thì người khác có thể tin rằng mình sẽ đến. Khi nói “tôi sẽ làm”, thì người khác không phải gọi năm lần để nhắc. Khi nói “tôi sẽ trả”, thì mình hiểu đó là nghĩa vụ chứ không phải một lời xã giao. Khi nói “tôi sẽ cầu nguyện cho anh”, thì nếu có thể, mình thật sự cầu nguyện. Khi nói “chuyện này tôi giữ kín”, thì mình không đem kể với người thứ ba rồi biện minh rằng “tôi chỉ chia sẻ để xin cầu nguyện”. Một xã hội mất khả năng giữ lời sẽ mất dần lòng tin. Một cộng đoàn Hội Thánh mất khả năng giữ lời cũng vậy. Người ta có thể tổ chức rất nhiều chương trình về hiệp thông, nhưng nếu các thành viên không đáng tin, hiệp thông vẫn mong manh. Lòng tin không được xây bằng khẩu hiệu. Lòng tin được xây bằng hàng ngàn hành vi nhỏ trong đó lời nói và hành động trùng nhau.
Đúng giờ cũng là một hình thức của trung tín. Có người xem chuyện đúng giờ như một quy tắc kỹ thuật, không liên quan đến đạo đức. Thực ra đúng giờ là một cách tôn trọng đời người khác. Khi tôi đến trễ thường xuyên vì tôi cho rằng mọi người phải chờ tôi, tôi đang mặc nhiên nói rằng thời gian của tôi quý hơn thời gian của họ. Tất nhiên có những hoàn cảnh bất khả kháng, và đời sống không phải chiếc đồng hồ cơ khí. Nhưng thái độ thường xuyên xem nhẹ giờ giấc phản ánh một vấn đề sâu hơn về trách nhiệm. Một người đi lễ trễ có thể có lý do. Nhưng nếu suốt nhiều năm luôn đi lễ trễ mà không bao giờ thử thay đổi thói quen, thì có lẽ đây không còn là sự cố nữa mà là một kiểu sống. Một người đi họp trễ làm cả nhóm chờ. Một người giao công việc trễ khiến người khác phải làm đêm. Một linh mục đến trễ giờ lễ làm cộng đoàn chờ đợi. Một giáo lý viên đến trễ khiến trẻ em học rằng giờ giấc không quan trọng. Những điều này không cần biến thành chủ nghĩa cứng nhắc, nhưng cũng không nên được coi là chuyện nhỏ. Tình yêu thật luôn có ý thức về tác động của mình trên người khác.
Cùng với trung tín là cần mẫn. Cần mẫn không có nghĩa là nghiện việc. Người nghiện việc có thể làm rất nhiều nhưng chưa chắc sống nhân đức. Cần mẫn là làm điều phải làm với sự chăm chỉ, kiên trì và có trách nhiệm. Nó khác với bận rộn. Một người có thể rất bận mà hiệu quả rất thấp, vì làm nhiều việc không cần thiết và bỏ việc chính. Cần mẫn biết phân định bổn phận của mình rồi làm nó cách tốt nhất có thể. Với người giáo dân, đây là một nơi nên thánh rất thật. Người thợ sửa một đường dây điện cẩn thận để không gây nguy hiểm cho người dùng. Người bác sĩ đọc kỹ hồ sơ bệnh nhân thay vì làm qua loa. Người giáo viên chuẩn bị bài trước khi đứng lớp. Người kế toán không gian lận con số. Người công nhân không ăn bớt vật liệu. Người bán hàng không cố tình lừa khách. Người nội trợ làm một bữa cơm bằng tình yêu dù không ai vỗ tay. Người sinh viên học nghiêm túc thay vì gian lận trong thi cử. Người chủ doanh nghiệp không chỉ đòi nhân viên chăm chỉ nhưng chính mình cũng chịu trách nhiệm cho quyết định của mình. Mỗi hành vi như thế có thể trở thành lời thờ phượng âm thầm. Không phải vì công việc tự nó là cầu nguyện, nhưng vì người làm việc đang dâng khả năng, thời gian và trách nhiệm của mình cho Thiên Chúa.
Cần mẫn còn chống lại một cám dỗ rất quen thuộc trong đời sống Hội Thánh: làm việc đạo thì cho phép mình làm sơ sài vì “Chúa hiểu”. Một tờ giấy phụng vụ đánh sai rất nhiều lỗi. Một buổi giáo lý không chuẩn bị. Một chương trình mục vụ sắp xếp tùy tiện. Một bài đọc không tập trước. Một ca đoàn hát mà không tập vì nghĩ “hát cho Chúa”. Một người phụ trách tài chính không ghi chép rõ vì nói rằng “đây là việc nhà Chúa”. Chính vì là việc nhà Chúa mà càng phải làm cẩn thận. Không phải cầu toàn, không phải phô trương chuyên nghiệp, nhưng phải tránh lấy lòng đạo đức làm cớ cho sự lười biếng. Đức tin không giảm tiêu chuẩn của trách nhiệm. Đức tin nâng trách nhiệm lên. Thánh Phaolô khuyên rằng bất cứ làm gì, hãy làm như làm cho Chúa. Điều ấy không có nghĩa là phải đạt thành tích cao nhất, bởi khả năng mỗi người khác nhau. Nó có nghĩa là đem hết sự ngay thẳng và khả năng hiện có vào việc mình được trao. Thiên Chúa không đòi người có một nén phải tạo ra mười nén. Nhưng Người không khen người đem nén bạc chôn xuống đất.
Cần mẫn cũng phải đi cùng khả năng nghỉ ngơi. Đây là điểm rất quan trọng. Một linh đạo lao động đúng đắn không thần thánh hóa kiệt sức. Có người nghĩ rằng mình càng mệt thì càng hy sinh, càng hy sinh thì càng thánh. Không hẳn. Có những mệt mỏi đến từ tình yêu, nhưng cũng có những mệt mỏi đến từ việc không biết giới hạn, không biết tổ chức, không dám nói không, muốn kiểm soát mọi sự hoặc muốn chứng minh giá trị bản thân. Người giáo dân cần học rằng nghỉ ngơi cũng là một hành vi đức tin. Nghỉ là thừa nhận thế giới không nằm trên vai tôi. Nghỉ là chấp nhận mình là thụ tạo. Nghỉ ngày Chúa Nhật là tuyên xưng rằng công việc không phải Thiên Chúa. Một người chỉ biết làm mà không biết nghỉ cuối cùng sẽ làm người khác mệt theo. Họ dễ cáu, dễ mất kiên nhẫn, dễ biến gia đình thành phần phụ của công việc. Vì thế cần mẫn Kitô giáo không phải là làm không ngừng. Nó là làm điều cần làm trong nhịp sống có trật tự, trong đó lao động, cầu nguyện, gia đình và nghỉ ngơi được giữ trong một tương quan lành mạnh.
Nhân đức thứ ba là công chính. Nếu trung tín làm cho các tương quan có độ bền và cần mẫn làm cho công việc có phẩm chất, thì công chính làm cho đời sống chung có trật tự. Công chính là trả cho mỗi người điều thuộc về họ. Nghe như một định nghĩa khô, nhưng nó chạm tới gần như mọi vùng đời sống giáo dân: lương bổng, hợp đồng, thuế, tài sản, lời nói, danh dự, cơ hội, quyền lợi của người yếu, trách nhiệm của người mạnh. Người giáo dân sống giữa các cơ cấu kinh tế và xã hội, vì thế công chính không phải đề tài phụ. Đây là một phần trực tiếp của sứ mạng trần thế. Một người có thể đóng góp rất nhiều cho nhà thờ nhưng nếu bóc lột công nhân thì không thể gọi đó là đời sống đạo toàn vẹn. Một doanh nhân có thể tài trợ một công trình tôn giáo lớn nhưng nếu cố tình trốn lương người lao động, việc bác ái ấy không xóa được bất công. Công bằng không thể được thay thế bằng bố thí. Trước khi cho người khác điều thuộc về mình, phải trả họ điều vốn thuộc về họ.
Công chính bắt đầu từ những việc rất gần. Trả nợ là công chính. Nhiều người xem việc vay tiền rồi chậm trả như một chuyện cá nhân nhỏ. Nhưng tiền của người khác là công sức của họ. Người Kitô hữu phải có lương tâm rất rõ về điều này. Nếu khó khăn thật sự, phải nói thật, xin gia hạn, cố gắng trả dần. Không nên im lặng, tránh mặt rồi tiếp tục sống như không có nghĩa vụ gì. Cũng vậy, trả lương đúng hạn là công chính. Không thể bắt nhân viên hiểu cho doanh nghiệp vô thời hạn trong khi chủ vẫn chi tiêu thoải mái. Sử dụng tài sản chung đúng mục đích là công chính. Không lấy đồ của cơ quan về nhà chỉ vì “một chút có sao đâu”. Không dùng ngân quỹ cộng đoàn cho việc cá nhân. Không lợi dụng chức vụ để đem lợi ích về cho người thân. Không dùng quan hệ để lấy phần đáng lẽ thuộc về người khác. Những hành vi ấy thường được xã hội gọi là “khôn”, nhưng Tin Mừng có một tên khác: bất công.
Công chính còn áp dụng vào lời nói. Danh dự của người khác là một thứ họ có quyền được tôn trọng. Nói xấu không chỉ là lỗi bác ái. Nhiều trường hợp nó là lỗi công bằng, vì ta lấy đi danh dự của người khác mà không có quyền. Một câu chuyện đúng chưa chắc đã cần kể. Một sự thật về lỗi của ai đó không biến nó thành tài sản công cộng. Người giáo dân trưởng thành phải biết phân biệt giữa việc cần báo cho người có trách nhiệm để bảo vệ cộng đoàn và việc kể chuyện để thỏa mãn tò mò. Có những cộng đoàn bị tổn thương không vì giáo lý sai, nhưng vì văn hóa nói xấu đã trở thành bình thường. Người ta đi lễ với nhau, đọc kinh với nhau, rồi sau đó xé nhau bằng lời. Không thể xây hiệp thông như thế. Một người không nói xấu không phải vì họ không thấy lỗi người khác. Họ thấy, nhưng họ biết rằng con người lớn hơn lỗi của mình. Nếu cần góp ý, họ cố nói với đúng người. Nếu không có trách nhiệm gì, họ biết im.
Công chính cũng phải có chiều kích xã hội và chính trị. Giáo dân được gọi đặc biệt để làm men Tin Mừng trong các cơ cấu trần thế. Điều đó không có nghĩa mọi người phải tham gia chính trị đảng phái. Nó có nghĩa bất cứ ở đâu có quyền lực, tiền bạc, luật lệ và quyết định ảnh hưởng tới người khác, ở đó lương tâm Kitô hữu phải hiện diện. Một cán bộ công chức không nhận hối lộ đang làm một hành vi có chiều kích thiêng liêng rất thật. Một người làm luật cố bảo vệ người yếu đang sống chức năng vương giả của người đã chịu Phép Rửa. Một người chủ dám từ chối hợp đồng gian dối dù mất lợi nhuận đang làm chứng cho Tin Mừng. Một nhân viên không sửa số liệu để chiều cấp trên đang sống chức vụ ngôn sứ. Có lẽ không ai gọi những việc đó là “hoạt động tông đồ”, nhưng đó chính là một trong những nơi hoạt động tông đồ của giáo dân mạnh nhất. Có những bài giảng không được nói từ bục giảng. Chúng được viết bằng một chữ ký không gian dối.
Tuy nhiên, công chính Kitô giáo không dừng ở sự lạnh lùng của luật lệ. Công bằng cần được hoàn tất trong bác ái. Có những điều tôi có quyền đòi nhưng có thể tự nguyện nhường vì yêu thương. Có những lỗi tôi có quyền giữ trong lòng nhưng có thể tha. Có những người không thể trả lại cho tôi điều họ nợ, và tôi có thể chọn lòng thương xót. Nhưng lòng thương xót chỉ có ý nghĩa khi nó tự do. Không được dùng lòng thương xót để ép người bị hại im lặng. Không được nói với người bị đối xử bất công rằng “hãy tha thứ” để tránh sửa một hệ thống sai. Công lý và lòng thương xót không đối nghịch. Lòng thương xót chữa lành điều công lý một mình không đủ sức chữa, nhưng nó không gọi điều sai thành đúng.
Nhân đức thứ tư là niềm vui. Đây có vẻ là nhân đức nhẹ nhất, nhưng trong thực tế lại rất khó. Vui Kitô giáo không phải tính khí hoạt bát. Có người bẩm sinh ít nói vẫn có thể rất vui. Cũng không phải lúc nào cũng cười. Có những ngày người Kitô hữu khóc. Đức Giêsu đã khóc. Niềm vui là một tầng sâu hơn: xác tín rằng đời mình ở trong tay Thiên Chúa, rằng sự dữ không có tiếng nói cuối cùng, rằng mình được yêu trước khi thành công, rằng Nước Chúa đang đến ngay giữa một thế giới chưa hoàn hảo. Niềm vui ấy làm thay đổi cách người giáo dân ở giữa đời. Họ không trở thành người ngây thơ. Họ thấy điều xấu, nhưng không để điều xấu biến họ thành cay đắng. Họ biết thất bại, nhưng không đồng hóa mình với thất bại. Họ biết người khác có khuyết điểm, nhưng không vì thế mà mất khả năng quý mến họ.
Một trong những biểu hiện đẹp nhất của niềm vui là vui với người vui. Nghe rất dễ nhưng không dễ chút nào. Buồn với người buồn nhiều khi dễ hơn vui với người vui, bởi thành công của người khác có thể chạm vào mặc cảm của mình. Một người được thăng chức, và trong lòng tôi lập tức tìm lý do để hạ giá thành công ấy. Một người có gia đình hạnh phúc, và tôi bắt đầu nói rằng “chắc bên trong cũng có chuyện”. Một linh mục được nhiều người quý, và linh mục khác có thể nghi ngờ động cơ. Một giáo dân được trao trách nhiệm, người khác có thể nói rằng họ thích thể hiện. Một người làm ăn thành công, ta vội nói họ chắc có mánh khóe. Đố kỵ là một thứ buồn vì điều tốt xảy ra cho người khác. Niềm vui Kitô giáo chữa căn bệnh ấy bằng khả năng cảm tạ vì ân sủng Thiên Chúa nơi tha nhân. Thành công của họ không làm Thiên Chúa nghèo đi. Ơn gọi của họ không lấy mất ơn gọi của tôi. Ánh sáng của người khác không buộc ánh sáng của tôi phải tắt.
Niềm vui cũng làm cho chứng tá Kitô giáo trở nên nhẹ. Không phải nhẹ theo nghĩa hời hợt, nhưng nhẹ theo nghĩa không chất thêm gánh nặng không cần thiết lên vai người khác. Có những người rất đạo đức nhưng ở gần họ ai cũng sợ. Họ luôn cau mặt, luôn sửa lỗi, luôn nói về nguy cơ, luôn làm người khác cảm thấy mình chưa bao giờ đủ tốt. Nếu một đời sống Kitô hữu chỉ tạo ra sự căng thẳng, người ta sẽ khó nhận ra trong đó Tin Mừng nghĩa là “tin vui”. Thánh thiện không phải một vẻ mặt nghiêm nghị. Các thánh có thể rất đòi hỏi, nhưng nơi họ thường có một sức tự do khiến người khác được thở. Niềm vui đến từ việc không phải giữ hình ảnh bản thân quá chặt. Người biết mình được Thiên Chúa yêu có thể cười về những vụng về của mình. Họ không cần luôn chứng minh mình đúng. Họ có thể để người khác được sáng. Họ có thể đón nhận một bữa ăn ngon, một chuyến đi, tiếng trẻ con, tiếng cười bạn bè, một ngày nắng, một bài hát đẹp như quà của Đấng Tạo Hóa mà không cảm thấy mình đang kém thiêng liêng.
Tuy nhiên, niềm vui Kitô giáo không phải lạc quan rẻ tiền. Nó không nói với người đau khổ: “Đừng buồn nữa, hãy vui lên.” Có những nỗi đau cần được khóc. Có những tang chế không thể rút ngắn bằng vài câu đạo đức. Có những gia đình mất con, có người mất việc, có người bị phản bội, có người sống với bệnh tật dài ngày. Niềm vui Kitô giáo không phủ một nụ cười giả lên những vết thương ấy. Nó ở sâu hơn nước mắt. Nó có thể tồn tại cùng nước mắt bởi nó đặt hy vọng nơi Đức Kitô phục sinh. Người vui trong Chúa không phải người không biết buồn, mà là người không để nỗi buồn trở thành chúa của đời mình.
Bốn nhân đức trung tín, cần mẫn, công chính và vui liên hệ chặt với nhau. Trung tín mà không vui có thể thành nghĩa vụ nặng nề. Vui mà không trung tín trở thành cảm xúc nhất thời. Cần mẫn mà không công chính có thể trở thành công cụ phục vụ tham vọng. Công chính mà không có bác ái và niềm vui có thể hóa thành khô cứng. Một đời sống trưởng thành cần để các nhân đức điều chỉnh nhau. Người lao động chăm chỉ nhưng phải công bằng. Người vợ trung tín nhưng cũng cần giữ niềm vui. Người làm quản lý phải công chính nhưng cũng phải nhân hậu. Người phục vụ giáo xứ phải nhiệt thành nhưng cũng biết giữ lời và hoàn thành việc đã nhận. Nhân đức Kitô giáo không phải một bộ sưu tập các phẩm chất rời nhau. Chúng tạo thành một con người.
Điều đáng chú ý là phần lớn các nhân đức này không tạo ra cảm giác thiêng liêng mạnh. Người ta hiếm khi xúc động vì mình trả một hóa đơn đúng hạn. Không ai vỗ tay khi ta không nói xấu. Không có nhạc nền khi ta đến đúng giờ. Không có cảm giác xuất thần khi ta hoàn thành một bảng tính cách trung thực. Nhưng chính ở đây linh đạo giáo dân đạt đến độ trưởng thành: làm điều tốt vì nó tốt, không cần cảm xúc thưởng công. Nên thánh phần lớn không diễn ra trong những khoảnh khắc phi thường. Nó xảy ra trong sự lặp lại. Một ngày giữ lời. Một ngày không gian dối. Một ngày không nói câu làm tổn thương người khác dù mình có thể. Một ngày làm công việc đến nơi đến chốn. Rồi ngày khác. Rồi năm khác. Sau ba mươi năm, những lựa chọn rất nhỏ ấy đã tạo nên một con người.
Đây cũng là lý do Hội Thánh cần cẩn thận khi đánh giá một giáo dân chỉ bằng mức độ hiện diện trong các hoạt động nhà thờ. Có người ít tham gia hội đoàn vì phải làm việc nuôi gia đình, nhưng họ là người chồng trung tín, người cha có trách nhiệm, người công nhân ngay thẳng, người hàng xóm tử tế. Không nên vội kết luận họ có đời sống đức tin yếu. Dĩ nhiên họ vẫn cần Lời Chúa, Thánh Thể, cầu nguyện và cộng đoàn. Nhưng hoa trái của những nguồn ân sủng ấy có thể đang xuất hiện ở những nơi giáo xứ không nhìn thấy. Có một thứ thánh thiện không có micro. Nó đi làm đúng giờ. Nó trả nợ. Nó nuôi cha mẹ già. Nó từ chối một phong bì. Nó không ngoại tình khi không ai biết. Nó không khai gian một con số. Nó im lặng trước một câu chuyện có thể hạ nhục người vắng mặt. Thiên Chúa nhìn thấy những điều ấy.
Ngược lại, cũng không được dùng nhân đức tự nhiên để thay thế hoàn toàn đời sống đức tin. Có người nói: “Tôi sống tốt là đủ, cần gì cầu nguyện.” Đây là cực đoan ngược lại. Kitô giáo không chỉ là đạo làm người. Một người có thể ngay thẳng, chăm chỉ và tốt bụng nhưng linh đạo Kitô giáo còn là sự sống trong tương quan với Đức Kitô. Các nhân đức trần thế của người Kitô hữu được cắm rễ trong ân sủng. Trung tín của họ phản chiếu Thiên Chúa trung tín. Công chính của họ phát xuất từ việc nhìn người khác như hình ảnh Thiên Chúa. Niềm vui của họ đến từ Tin Mừng cứu độ. Cần mẫn của họ là cách cộng tác với công trình tạo dựng. Vì thế, đời sống cầu nguyện và đời sống nhân đức không cạnh tranh. Cầu nguyện nuôi nhân đức; nhân đức kiểm chứng cầu nguyện. Thánh lễ Chúa Nhật sai người tín hữu trở lại với Thứ Hai. Nếu Thánh lễ không chạm đến Thứ Hai, có điều gì đó chưa hoàn tất. Và nếu Thứ Hai không bao giờ trở về Thánh lễ, đời sống cũng mất nguồn.
Trong đời sống gia đình, các nhân đức trần thế này đặc biệt quan trọng. Hôn nhân không sống được lâu chỉ bằng cảm xúc. Hai người có thể yêu nhau thật lúc đầu, nhưng để tình yêu ấy tồn tại, họ phải học trung tín, đúng giờ, giữ lời, chia việc, quản lý tiền bạc, nói thật, làm hòa, chăm sóc con, tôn trọng gia đình bên kia. Những điều nghe rất bình thường ấy chính là cơ bắp của tình yêu. Không có chúng, những lời lãng mạn sớm trở thành rỗng. Một người chồng đi lễ thường xuyên nhưng luôn để vợ một mình gánh việc nhà cần xét lại cách mình hiểu đạo. Một người vợ cầu nguyện nhiều nhưng dùng lời cay nghiệt hạ nhục chồng cũng cần xét lại. Một gia đình Kitô giáo không nên thánh bằng việc đặt thật nhiều ảnh tượng trên tường mà bằng việc những người dưới mái nhà ấy học đối xử với nhau trong sự thật, công bằng, kiên nhẫn và vui.
Trong đời sống nghề nghiệp, các nhân đức ấy lại càng là nơi truyền giáo. Nhiều đồng nghiệp không bao giờ đọc Tin Mừng. Cuốn Tin Mừng họ đọc có thể là người Kitô hữu ngồi bàn bên cạnh. Nếu người ấy làm việc cẩu thả, nói dối, ích kỷ, hay đổ lỗi, việc đeo thánh giá trên cổ sẽ không cứu được chứng tá. Trái lại, một người đáng tin, tử tế, công bằng, biết nhận lỗi, không tranh công và không hại người khác có thể khiến người ta đặt câu hỏi: điều gì làm người này sống như vậy? Rao giảng Tin Mừng bằng đời sống không phải khẩu hiệu. Nó đòi một đời sống có chất lượng đạo đức đủ thật để người khác nhận ra khác biệt.
Trong đời sống chính trị và kinh tế, điều này càng quyết định. Không thể có một nền chính trị Kitô giáo nếu những người mang danh Kitô hữu vẫn tham nhũng. Không thể có một nền kinh tế thấm Tin Mừng nếu người Công giáo vẫn coi lợi nhuận là chuẩn duy nhất. Không thể nói về giáo huấn xã hội Hội Thánh mà không trả lương công bằng. Không thể bảo vệ gia đình bằng diễn văn rồi tạo ra môi trường lao động khiến cha mẹ không còn thời gian cho con cái. Sự thánh thiện giáo dân phải chạm đến cơ cấu, bởi người giáo dân chính là những người đang đứng trong các cơ cấu ấy mỗi ngày. Khi một người quản lý quyết định không sa thải một người cách bất công, khi một chủ doanh nghiệp chọn minh bạch thuế vụ, khi một luật sư không bóp méo sự thật, khi một bác sĩ không xem bệnh nhân như một mã số, khi một nhà báo không đăng tin chưa kiểm chứng để câu tương tác, Tin Mừng đang có mặt trong trần thế theo một cách rất cụ thể.
Cuối cùng, các nhân đức trần thế dạy một bài rất đơn giản nhưng khó sống: sự thánh thiện thường có dáng vẻ bình thường. Ta hay chờ một điều lớn để dâng cho Chúa, trong khi Chúa trao cho ta hôm nay. Một cuộc hẹn cần đến đúng giờ. Một công việc phải hoàn thành. Một món nợ phải trả. Một người cần được nghe. Một câu chuyện không nên kể. Một thành công của người khác cần được chúc mừng. Một sai sót của mình cần được nhận. Một bữa cơm cần có mặt trọn vẹn. Một lời hứa cần giữ. Đó là nơi linh đạo bước xuống đất.
Không trung tín thì không có hôn nhân thánh, bởi tình yêu không thể sống bằng những lời hứa bị phản bội liên tục. Không cần mẫn thì không có lao động thánh, bởi công việc cẩu thả không thể được thánh hóa chỉ bằng một dấu thánh giá đầu ngày. Không công chính thì không có chính trị hay kinh tế thánh, bởi không thể xây Nước Thiên Chúa trên sự bất công. Không vui thì chứng tá trở thành nặng nề, bởi Tin Mừng được loan báo như tin dữ sẽ khó làm người khác nhận ra khuôn mặt Đấng Cứu Độ. Giáo dân nên thánh không bằng cách thoát khỏi những điều rất đời ấy, nhưng bằng cách để ân sủng đi vào chúng. Một người giữ lời vì biết Thiên Chúa giữ lời. Một người làm việc tốt vì biết công trình tạo dựng được giao cho mình chăm sóc. Một người công bằng vì người trước mặt mình mang hình ảnh Thiên Chúa. Một người vui vì biết đời mình không rơi vào hư vô nhưng đang được dẫn về nhà Cha. Khi ấy, những nhân đức tưởng “không vẻ thiêng” lại trở thành một phụng vụ âm thầm giữa đời. Bàn làm việc thành nơi dâng mình. Hợp đồng thành nơi kiểm chứng lương tâm. Đồng hồ thành lời nhắc tôn trọng người khác. Tiền bạc thành nơi thực hành công bằng. Tiếng cười thành một cách tuyên xưng rằng ân sủng vẫn lớn hơn sự nặng nề của thế giới. Và người giáo dân, không cần rời chợ, rời nhà, rời công sở, rời nghề nghiệp, vẫn có thể sống trọn một đời thánh thiện, bởi Thiên Chúa không chỉ chờ họ trong nhà nguyện. Người đã đi trước họ vào trong chính những điều rất bình thường của đời người.
CHƯƠNG 29. BÍ TÍCH VÀ ĐỜI SỐNG: THÁNH THỂ SAI ĐI, HÒA GIẢI CHỮA ĐỜI
Một trong những nguy cơ lớn của đời sống thiêng liêng giáo dân là tách bí tích ra khỏi đời sống, như thể bí tích thuộc về một khu vực thiêng liêng riêng biệt nằm bên trong nhà thờ, còn công việc, gia đình, tiền bạc, những va chạm giữa người với người, những quyết định nghề nghiệp, những vết thương tình cảm, những trách nhiệm xã hội lại thuộc về một thế giới khác. Người ta có thể đi lễ đều, xưng tội đều, đọc kinh đều, nhưng khi bước ra khỏi cửa nhà thờ thì cách sống gần như không chịu ảnh hưởng bao nhiêu bởi điều vừa cử hành. Khi ấy bí tích có nguy cơ trở thành một thứ nghi lễ được đặt bên cạnh đời sống chứ chưa thấm vào đời sống. Nhưng theo đức tin Công giáo, bí tích không phải là một phần phụ của đời Kitô hữu. Bí tích là hành động của Đức Kitô trong Hội Thánh, là nơi ân sủng chạm đến thân xác, thời gian, các tương quan và lịch sử cụ thể của con người. Kitô giáo không phải một tôn giáo của những ý tưởng bay phía trên đời sống. Con Thiên Chúa đã nhập thể. Người đã dùng nước, bánh, rượu, dầu, lời nói, cử chỉ, thân xác, bàn tay, bữa ăn, sự tha thứ và chính cái chết của mình để cứu con người. Bởi vậy linh đạo giáo dân càng không thể là một thứ linh đạo thoát xác. Giáo dân nên thánh giữa những thực tại rất vật chất: cơm ăn, tiền lương, căn nhà, chiếc xe, bệnh viện, trường học, nhà máy, ruộng đồng, phòng họp, giường bệnh, phòng sinh, bàn ăn gia đình. Chính vì đời sống giáo dân mang chiều kích vật chất và tương quan rất mạnh nên các bí tích không phải gánh nặng thêm vào lịch sống; chúng là nguồn mạch làm cho lịch sống ấy mang hình dạng của Đức Kitô. Nói cách khác, người giáo dân không đi tới bí tích để tạm rời đời mình; họ đem đời mình tới bí tích để đời ấy được Đức Kitô nhận lấy, thanh luyện, chữa lành và sai trở lại thế giới.
Điều này được thấy rõ nhất nơi Thánh Thể. Nói Thánh lễ không kết thúc khi hát bài kết lễ không phải là phủ nhận nghi thức phụng vụ có một điểm kết thúc rõ ràng. Phụng vụ thực sự kết thúc bằng lời sai đi. Nhưng chính lời sai đi ấy cho thấy điều vừa cử hành không bị đóng lại. Trong tiếng Latinh, lời “Ite, missa est” chứa trong lịch sử của nó một âm vang rất đẹp: cộng đoàn được sai đi. Thánh lễ là nguồn và đỉnh cao đời sống Kitô hữu, nhưng nguồn thì phải chảy và đỉnh thì phải mở ra một con đường đi xuống đồng bằng. Người vừa rước Mình Thánh Chúa không được giữ Đức Kitô như tài sản riêng trong một khoảnh khắc đạo đức. Họ mang Đấng mình vừa đón nhận trở về nhà. Họ mang Người vào cuộc nói chuyện với vợ hoặc chồng. Họ mang Người vào cách trả lời con cái khi đã quá mệt. Họ mang Người vào cuộc họp sáng thứ Hai. Họ mang Người vào bảng lương, hóa đơn, hợp đồng, cửa hàng, ruộng vườn, lớp học, bệnh viện, công trường. Nếu Thánh Thể không đi được từ bàn thờ đến bàn ăn, từ bàn thờ đến bàn làm việc, từ bàn thờ đến nơi người nghèo đang chờ, người Kitô hữu cần tự hỏi mình đã thực sự để Thánh Thể biến đổi đời mình chưa.
Thánh Thể trước hết dạy giáo dân rằng đời mình là đời được nhận lãnh. Bánh và rượu được dâng lên không tự nhiên trở thành lễ vật nếu không được nhận, chúc tụng, bẻ ra và trao ban trong Đức Kitô. Đời người cũng vậy. Một người giáo dân dễ tưởng mình là chủ tuyệt đối của đời mình: tiền tôi làm ra, nghề tôi chọn, nhà tôi xây, con tôi nuôi, thời gian của tôi, khả năng của tôi, danh tiếng của tôi. Nhưng đứng trước bàn thờ, họ nghe toàn bộ đời mình được đặt lại vào một trật tự khác. Mọi sự là hồng ân trước khi là thành quả. Sức khỏe là hồng ân. Trí tuệ là hồng ân. Công việc là hồng ân, kể cả khi nó rất cực nhọc. Khả năng kiếm tiền là hồng ân. Người phối ngẫu là một người được trao cho mình chứ không phải tài sản của mình. Con cái là những sự sống được giao phó chứ không phải sản phẩm thành công của cha mẹ. Thánh Thể làm sụp đổ ảo tưởng sở hữu tuyệt đối và dạy con người sống trong tâm tình tạ ơn. Eucharistia chính là tạ ơn. Người tham dự Thánh Thể mà vẫn coi mọi điều mình có chỉ là “của tôi” thì chưa để tâm tình Thánh Thể đi sâu vào đời. Người giáo dân sống Thánh Thể bắt đầu nhận ra rằng căn nhà mình ở có thể trở thành nơi đón khách, tiền mình có thể trở thành sự chia sẻ, thời giờ mình có thể được dành cho người đau yếu, kiến thức của mình có thể phục vụ người khác, quyền lực nghề nghiệp có thể bảo vệ người yếu hơn. Khi ấy Thánh Thể không còn nằm trên bàn thờ như một mầu nhiệm xa; Thánh Thể đang tạo ra một lối sống.
Thánh Thể còn dạy rằng tình yêu Kitô giáo là tình yêu biết bị bẻ ra. “Này là Mình Thầy, bị nộp vì anh em.” Đời giáo dân đầy những kinh nghiệm bị bẻ nhỏ: giờ ngủ bị bẻ bởi tiếng con khóc, kế hoạch cá nhân bị bẻ bởi cha mẹ già cần chăm sóc, ngân sách bị bẻ bởi một cơn bệnh bất ngờ, thời gian nghỉ bị bẻ bởi trách nhiệm, cái tôi bị bẻ bởi những va chạm trong hôn nhân, danh dự bị bẻ bởi những hiểu lầm, sức khỏe bị bẻ bởi tuổi tác. Không phải bất cứ sự kiệt sức nào cũng tự động trở thành lễ tế đẹp lòng Chúa. Kitô giáo không ca tụng kiệt quệ và cũng không dạy người ta để người khác bóc lột mình. Nhưng khi một hy sinh được đón nhận trong tự do, tình yêu, công chính và kết hợp với Đức Kitô, sự hy sinh ấy có thể được đưa vào chuyển động Thánh Thể: nhận lấy, tạ ơn, bẻ ra, trao ban. Người mẹ thức đêm chăm con không chỉ “chịu cực”. Người chồng trung tín với gia đình giữa lúc nghề nghiệp thất bại không chỉ “cố gắng”. Người con chăm cha mẹ già không chỉ làm nghĩa vụ xã hội. Người lao động từ chối tiền bất chính dù điều đó khiến đời sống khó khăn hơn không chỉ là người có nguyên tắc. Tất cả những điều ấy có thể trở thành lễ vật nếu được đặt trong Đức Kitô. Chính vì vậy phụng vụ Thánh Thể luôn liên hệ chặt chẽ với đời sống. Khi linh mục nói: “Anh chị em hãy cầu nguyện để hy lễ của tôi cũng là của anh chị em được Thiên Chúa là Cha toàn năng chấp nhận”, giáo dân không đứng đó tay không. Họ mang tới bàn thờ cả một tuần sống: những giọt mồ hôi chưa ai biết, những lần nhịn một lời cay độc, những quyết định lương thiện, những nỗi lo tiền bạc, những cố gắng hàn gắn gia đình, những thất bại, những niềm vui. Bánh và rượu đại diện cho tạo thành và lao công con người; nhưng cùng với chúng, toàn bộ đời sống được mời bước vào hy tế của Đức Kitô.
Vì thế có một câu hỏi rất thực tế để xét xem Thánh lễ đang đi vào đời người giáo dân đến đâu: sau khi rước lễ, người ấy có sống khác không? Không cần tìm những cảm xúc phi thường. Có thể sau Thánh lễ họ vẫn mệt. Có thể họ chẳng cảm thấy sốt sắng hơn. Nhưng nếu Thánh Thể thực sự làm việc trong đời họ, dần dần phải có những dấu hiệu. Họ bớt nói những lời làm người khác tổn thương. Họ trung thực hơn khi không ai kiểm tra. Họ biết chia sẻ hơn. Họ chịu khó hòa giải trước. Họ bớt biến tiền bạc thành thần tượng. Họ bớt khinh người nghèo. Họ có sức ở lại bên một người bệnh. Họ có khả năng chịu đựng một người khó tính mà không lập tức trả đũa. Họ biết xin lỗi. Họ biết tạ ơn. Họ biết làm việc không chỉ để tích lũy mà còn để phục vụ. Đó là những hoa trái Thánh Thể rất bình thường và cũng rất thiêng liêng. Nếu một người rước lễ nhiều năm mà vẫn nhất quyết duy trì gian lận, bóc lột nhân viên, bạo lực trong gia đình, thù hận kéo dài, khinh miệt người yếu, thì vấn đề không nằm ở hiệu lực của bí tích nhưng ở việc họ đang kháng cự ân sủng. Bí tích không phải phép thuật làm con người nên thánh bất chấp sự tự do của họ. Ân sủng được ban thật, nhưng ân sủng mời gọi sự đáp trả thật.
Thánh Thể cũng tạo nên một cái nhìn mới về cộng đoàn. Người giáo dân không thể nói mình yêu Thánh Thể mà hoàn toàn dửng dưng với Thân Thể Đức Kitô là Hội Thánh và với những chi thể đau khổ của Người. Thánh Phaolô đã cảnh báo cộng đoàn Côrintô về việc họ cử hành bữa ăn của Chúa trong khi vẫn để những chia rẽ và bất công tồn tại giữa họ. Đó là một cảnh báo còn nguyên tính thời sự. Người ta có thể rất sốt sắng trong nhà thờ nhưng ra ngoài lại khinh người giúp việc, đối xử bất công với công nhân, coi thường người ít học, nói xấu người cùng giáo xứ, tranh chức trong hội đoàn, chia phe trong gia đình. Thánh Thể phản đối kiểu đạo đức ấy từ bên trong. Một bánh làm nên một thân thể. Người rước cùng một Đức Kitô không thể dễ dàng sống như kẻ xa lạ với người bên cạnh. Điều này không có nghĩa mọi xung đột sẽ biến mất. Hội Thánh gồm những con người thực, có tính khí khác nhau, lợi ích khác nhau, lịch sử tổn thương khác nhau. Nhưng Thánh Thể đặt họ trước một sự thật lớn hơn xung đột: họ đã được quy tụ bởi một Đức Kitô và được nuôi bằng một Bánh. Bởi vậy đời sống Thánh Thể phải làm người giáo dân trở thành người xây dựng hiệp thông, không phải người sản xuất chia rẽ.
Một trong những dấu hiệu rõ nhất của đời sống Thánh Thể là tương quan với người nghèo. Từ bàn thờ mà không đi đến người nghèo thì Thánh Thể bị hiểu thiếu. Đức Kitô được nhận dưới hình bánh cũng là Đức Kitô đang hiện diện cách đặc biệt nơi người đói, người đau, người bị bỏ rơi, người ngoại kiều, người bị gạt ra bên lề. Người giáo dân có thể không làm những việc bác ái lớn lao. Nhưng nếu họ thực sự để Thánh Thể uốn lòng mình, họ sẽ khó bình thản trước nỗi khổ của người khác. Một gia đình sống Thánh Thể sẽ học cách dành một phần ngân sách cho người cần. Một chủ doanh nghiệp sống Thánh Thể sẽ phải suy nghĩ về lương công bằng, điều kiện lao động, giờ nghỉ, cách đối xử với người yếu thế. Một bác sĩ sống Thánh Thể sẽ không nhìn bệnh nhân chỉ như ca bệnh. Một giáo viên sống Thánh Thể sẽ nhớ học sinh yếu không phải là vật cản thành tích. Một người buôn bán sống Thánh Thể sẽ không thể vừa rước Mình Thánh Chúa vừa coi gian cân thiếu lượng là chuyện bình thường. Chính nơi những lựa chọn ấy, “Amen” khi rước lễ được dịch sang tiếng nói của đời sống. Khi thừa tác viên nói “Mình Thánh Chúa Kitô” và người tín hữu thưa “Amen”, họ không chỉ nói: tôi tin đây là Mình Chúa. Họ còn đang bước vào một lời cam kết: tôi muốn thuộc về Thân Thể này, muốn để đời mình mang hình dạng của Đấng tự hiến này.
Bí tích Hòa giải cũng phải được đưa ra khỏi một cách hiểu quá hẹp. Nhiều người Công giáo lớn lên với ấn tượng rằng xưng tội chủ yếu là kể một số vi phạm tôn giáo: bỏ lễ, bỏ kinh, chia trí, nói tục, ăn chay không đúng. Những điều ấy có thể là tội và cần được xét mình. Nhưng nếu lương tâm chỉ nhạy với “tội nhà đạo” mà mù với những bất công của đời thường, lương tâm ấy chưa được huấn luyện đầy đủ. Bí tích Hòa giải chữa toàn bộ đời người. Người giáo dân cần đem vào tòa giải tội cả cách mình kiếm tiền, dùng tiền, nói chuyện trong gia đình, đối xử với cha mẹ, giáo dục con, sử dụng quyền lực, tiêu thụ nội dung trên mạng, phản ứng khi bị xúc phạm, giữ lời hứa, trả nợ, nộp thuế, tôn trọng sự thật. Có người chưa bao giờ nghĩ gian lận một chút trong hóa đơn cần được đem ra xét mình. Có người coi việc quát mắng vợ con mỗi ngày chỉ là tính nóng. Có người nói xấu đồng nghiệp như một thứ giải trí. Có người trì hoãn trả nợ dù có khả năng. Có người dùng chức vụ để ưu ái người thân. Có người sống nhiều năm trong thói quen khinh người nghèo, khinh người ít học, khinh người từ vùng khác đến. Những điều ấy không nằm ngoài đời sống thiêng liêng. Chính ở đó đức ái bị thương, công bằng bị thương, các tương quan bị thương. Hòa giải với Thiên Chúa không thể tách khỏi việc để Thiên Chúa soi ánh sáng vào những vùng rất đời thường ấy.
Tòa giải tội không phải phòng kiểm tra đạo đức. Đó là nơi con người gặp lòng thương xót của Đức Kitô. Nhưng lòng thương xót không phải cái khăn phủ lên mọi sự để không phải thay đổi. Lòng thương xót chữa lành bằng cách nói sự thật trong tình yêu. Khi một người xưng tội, họ không chỉ thú nhận rằng mình đã phá một luật. Họ thú nhận rằng mình đã làm tổn thương một tương quan. Tội trước hết là chống lại Thiên Chúa, nhưng vì con người sống trong những mạng lưới tương quan nên tội luôn có những hậu quả lan ra. Một lần nói dối có thể làm hỏng lòng tin. Một cơn nóng giận có thể để lại trong đứa trẻ một nỗi sợ kéo dài. Một sự phản bội trong hôn nhân có thể phá cấu trúc an toàn của cả gia đình. Một hành vi tham nhũng nhỏ có thể nuôi một cơ chế bất công lớn. Một lời nói xấu có thể phá danh dự người khác khi họ không có mặt để tự bảo vệ. Bí tích Hòa giải đưa người tội lỗi đến trước Đức Kitô để không chỉ được tha nhưng còn được chữa. Người xưng tội nghe lời tha thứ và được đặt lại trên con đường của sự thật. Có khi con đường ấy đòi phải sửa lại một việc. Đã lấy của người khác thì phải hoàn trả nếu có thể. Đã làm tổn thương thì cần xin lỗi. Đã vu khống thì phải tìm cách phục hồi danh dự. Đã sống một thói quen nguy hiểm thì cần tạo những hàng rào cụ thể. Đã nghiện một kiểu sử dụng mạng khiến mình dễ phạm tội thì phải thay đổi cách sử dụng. Hòa giải thật luôn có chiều hướng sửa đời.
Với giáo dân, việc xét mình cũng cần trưởng thành theo bậc sống. Một người chồng không chỉ xét xem hôm nay mình có đọc kinh chưa mà còn hỏi: tôi đã có mặt thật sự cho vợ con chưa? Tôi có dùng sự mệt mỏi như cái cớ để lạnh lùng không? Tôi có mang áp lực công việc về nhà rồi trút lên những người không gây ra áp lực ấy không? Một người vợ cũng không chỉ xét việc đạo đức cá nhân mà phải nhìn cách mình sử dụng lời nói, sự im lặng, tiền bạc, tình cảm. Cha mẹ phải xét cách họ giáo dục: có làm nhục con không, có đem con mình so với con người khác đến mức làm tổn thương phẩm giá của chúng không, có chỉ đòi thành tích mà bỏ quên nhân cách không, có dạy đức tin bằng chính đời sống không. Người đi làm phải xét lương tâm nghề nghiệp: tôi có làm hết trách nhiệm mình đã nhận lương không? Có dùng giờ công vào việc riêng quá mức không? Có gian dối trong báo cáo không? Có im lặng trước điều sai chỉ để giữ lợi ích không? Người làm quản lý phải xét xem quyền lực mình đang bảo vệ người yếu hay chỉ bảo vệ vị trí. Người làm kinh doanh phải xét xem lợi nhuận có đang được mua bằng bất công. Người làm nghề truyền thông phải xét xem mình có kiếm lượt xem bằng cách bóp méo sự thật. Người dùng mạng xã hội phải xét xem có đang gieo độc bằng những bình luận vô trách nhiệm. Khi xét mình như thế, Bí tích Hòa giải không còn là chuyện nằm bên lề đời sống. Nó trở thành một trường đào tạo lương tâm.
Có một nguy cơ ngược lại cũng cần tránh: biến tòa giải tội thành phòng phân tích tâm lý vô tận. Bí tích Hòa giải có chiều kích chữa lành sâu xa, nhưng linh mục giải tội không thay thế mọi hình thức hỗ trợ tâm lý, y khoa hay chuyên môn. Có những vết thương tâm lý cần trị liệu. Có những rối loạn cần bác sĩ. Có những xung đột gia đình cần tư vấn hôn nhân. Có những vấn đề pháp lý cần chuyên gia. Linh đạo lành mạnh không biến mọi vấn đề thành “thiếu cầu nguyện”. Đồng thời, không vì cần các hỗ trợ nhân bản mà phủ nhận chiều kích tội lỗi và ân sủng. Con người vừa cần được hiểu vừa cần được hoán cải; vừa có những thương tích mình không tự gây ra vừa có những lựa chọn mình phải chịu trách nhiệm. Bí tích Hòa giải nằm trong chính sự thật ấy: không kết án con người vào quá khứ, nhưng cũng không gọi bóng tối là ánh sáng.
Bí tích Hôn phối đặc biệt quan trọng đối với linh đạo giáo dân bởi phần rất lớn đời sống giáo dân được sống trong hôn nhân và gia đình. Nếu người Công giáo coi hôn phối chỉ là một nghi thức đẹp để bắt đầu đời sống gia đình thì họ đã bỏ lỡ một chiều sâu nền tảng. Hôn phối là bí tích. Điều đó có nghĩa chính mối dây giữa hai người đã được thánh hiến để trở thành dấu chỉ hữu hiệu của tình yêu Đức Kitô đối với Hội Thánh. Không phải vì hai người phối ngẫu thánh thiện sẵn. Chính vì họ yếu đuối nên họ cần ân sủng. Bí tích không loại bỏ khác biệt tính cách. Không ngăn cãi nhau. Không tự động khiến đời sống tình cảm lúc nào cũng nồng nàn. Không bảo đảm không có khủng hoảng. Nhưng bí tích đặt tất cả những điều ấy vào một giao ước lớn hơn cảm xúc. Hai người không chỉ nói: tôi yêu bạn khi bạn làm tôi hạnh phúc. Họ nói: tôi nhận bạn và trao mình cho bạn trong một giao ước được Thiên Chúa chứng giám và nâng đỡ.
Chính ở đây linh đạo hôn nhân trở thành linh đạo của sự ở lại. Trong một nền văn hóa dễ bỏ cái gì không còn cho cảm giác thỏa mãn ngay, hôn nhân Kitô giáo làm chứng rằng tình yêu có thể có lịch sử. Tình yêu không chỉ là cường độ của cảm xúc hôm nay. Nó có ký ức, lời hứa, trách nhiệm, sự tha thứ, sức chịu đựng, khả năng bắt đầu lại. Nhưng nói “ở lại” không bao giờ được dùng để biện minh cho bạo lực, lạm dụng hay việc đặt người bị hại vào nguy hiểm. Hội Thánh không thể nhân danh thập giá để bắt một người chịu đòn trong im lặng. Có những tình huống cần phải tách ra để bảo đảm an toàn, cần can thiệp pháp lý, cần chuyên môn, cần sự bảo vệ của cộng đồng. Sự trung tín Kitô giáo không phải đồng nghĩa với việc để sự dữ tự do tiếp tục. Tuy nhiên trong vô số khủng hoảng thông thường của hôn nhân, khi không có nguy hiểm như thế, ân sủng bí tích giúp đôi vợ chồng học một điều rất khó: không bỏ nhau chỉ vì người kia không còn giống hình ảnh mình từng mơ. Họ học yêu một người có thật, với giới hạn có thật. Đó là một trong những trường nên thánh lớn nhất của giáo dân.
Thánh Thể và Hôn phối đặc biệt gắn với nhau. Trên bàn thờ, Đức Kitô nói bằng cả đời Người: “Đây là Mình Thầy, hiến ban vì anh em.” Trong hôn nhân, người phối ngẫu cũng được mời học một thứ ngôn ngữ tương tự: đời tôi không còn chỉ thuộc về tôi. Dĩ nhiên không ai có thể tự hiến hoàn hảo như Đức Kitô. Nhưng chính Thánh Thể dạy đôi vợ chồng cách yêu. Tình yêu vợ chồng không chỉ có lúc lãng mạn mà còn có những lần rất nhỏ của việc tự hiến: thức cùng con, chăm người kia khi bệnh, kiên nhẫn với thói quen khó chịu, cùng gánh nợ, từ chối một cám dỗ, biết trở về nhà đúng lúc, dành sự chú ý cho nhau thay vì chỉ nhìn điện thoại, giữ lòng trung tín trong những giai đoạn đời sống tình dục khó khăn, bảo vệ người phối ngẫu trước những lời hạ nhục của người ngoài. Những điều ấy làm nên thần học của thân xác bằng đời sống chứ không bằng bài giảng.
Bí tích Xức dầu Bệnh nhân cũng cần được trả lại đúng vị trí trong linh đạo giáo dân. Nhiều gia đình vẫn sợ bí tích này vì nghĩ mời linh mục đến xức dầu là báo hiệu người bệnh sắp chết. Vì sợ, họ trì hoãn đến lúc bệnh nhân không còn tỉnh. Nhưng Xức dầu Bệnh nhân là bí tích chữa lành và nâng đỡ dành cho người bệnh nặng, người gặp nguy cơ do tuổi già hay tình trạng sức khỏe nghiêm trọng. Nó đặt bệnh tật vào trong mầu nhiệm Vượt Qua. Giáo dân dành phần lớn đời sống để làm, xây, nuôi, kiếm, chăm, di chuyển. Rồi có một lúc thân xác nói: dừng lại. Bệnh tật đánh thẳng vào ảo tưởng tự chủ. Người từng mạnh phải nhờ người khác tắm. Người từng quyết định mọi chuyện phải chờ bác sĩ. Người từng nuôi cả nhà trở thành người được chăm. Đây là một khủng hoảng thiêng liêng rất thật. Xức dầu không hứa rằng mọi người sẽ khỏi bệnh thể lý. Nhưng bí tích nói rằng khi thân xác yếu đi, con người không rơi ra khỏi tay Đức Kitô. Bệnh tật cũng có thể được đưa vào sự hiệp thông với Người.
Đối với gia đình, bí tích Xức dầu cũng biến cách nhìn người bệnh. Người bệnh không phải một gánh nặng hậu cần. Họ vẫn là một chi thể của Đức Kitô, một người có phẩm giá trọn vẹn dù không còn năng suất. Xã hội hiện đại rất dễ định giá con người bằng khả năng sản xuất. Thánh Thể và Xức dầu cùng nhau phản đối logic ấy. Một cụ già nằm liệt giường không kiếm ra tiền nữa nhưng vẫn quý trước mặt Chúa. Một người sa sút trí nhớ vẫn có phẩm giá. Một người bệnh nan y không trở thành một “ca” cần giải quyết. Linh đạo giáo dân trưởng thành được thấy nơi cách một gia đình chăm người yếu nhất. Chính lúc ấy các lời kinh, bí tích và đức tin được thử nghiệm ở nơi rất thật: mùi thuốc, đêm mất ngủ, hóa đơn viện phí, sự lặp đi lặp lại của việc chăm sóc. Có những gia đình trở nên thánh không phải vì làm điều lớn trước công chúng, nhưng vì nhiều năm không bỏ một người bệnh phía sau.
Các bí tích Khai tâm cũng tiếp tục định hình linh đạo giáo dân suốt đời. Phép Rửa không nằm lại trong album ảnh ngày bé. Người giáo dân sống mỗi ngày từ căn tính đã được Rửa tội: thuộc về Đức Kitô, chết cho tội và sống đời sống mới. Bí tích Thêm sức không nằm lại trong kỷ niệm tuổi thiếu niên. Ơn Thánh Thần tiếp tục thúc đẩy người tín hữu làm chứng giữa thế giới. Khi người giáo dân đối diện một cuộc họp nơi họ phải nói sự thật, một môi trường nghề nghiệp nơi người ta chế giễu đức tin, một hoàn cảnh bất công cần người lên tiếng, họ cần nhớ mình đã được xức dầu Thánh Thần cho sứ mạng. Khi ấy bí tích Thêm sức không còn là lễ trưởng thành xã hội. Nó là một ấn tín truyền giáo.
Có thể nói toàn bộ đời sống bí tích tạo nên một nhịp thở cho người giáo dân. Rửa tội nói: anh đã được sinh lại. Thêm sức nói: anh được sai đi với sức mạnh Thánh Thần. Thánh Thể nói: anh được nuôi bằng chính Đức Kitô và được trở nên điều anh lãnh nhận. Hòa giải nói: khi anh phản bội căn tính ấy, đường trở về vẫn mở. Hôn phối nói với người được gọi sống đời gia đình: tình yêu của anh có thể trở thành bí tích của tình yêu Đức Kitô. Xức dầu nói: khi thân xác yếu đi, anh vẫn được Đức Kitô ôm lấy. Chức thánh, dù không phải bí tích dành cho mọi giáo dân lãnh nhận, phục vụ đời sống bí tích của toàn Dân Chúa. Nhìn như thế, các bí tích không còn là bảy nghi thức rời nhau mà là cấu trúc của một đời sống được cứu độ.
Chính vì vậy việc bỏ đời sống bí tích rồi đi tìm “linh đạo” trên mạng là một nghịch lý sâu sắc. Thời đại số cung cấp vô số tài nguyên tốt: bài giảng, giờ cầu nguyện, Lectio divina, sách nói, lớp thần học, các buổi chia sẻ, chứng từ. Tất cả có thể giúp ích. Nhưng mạng không thể thay bí tích. Xem Thánh lễ trực tuyến không phải là tham dự Thánh lễ theo cùng nghĩa khi một người có thể hiện diện mà cố ý không hiện diện. Nghe một bài nói về Hòa giải không phải là lãnh nhận ơn tha tội bí tích. Tham gia một nhóm cầu nguyện online không thay việc bước vào cộng đoàn Thánh Thể. Nghe hàng trăm podcast linh đạo cũng không thay được một lần thành thật quỳ xuống xưng tội. Một người có thể tích lũy kiến thức thiêng liêng trên điện thoại nhưng vẫn khô héo vì đã lâu không chạm vào nguồn bí tích. Điều này giống như đọc hàng trăm bài về nước nhưng không uống. Mạng có thể chỉ cho ta đường đến giếng. Nó không biến màn hình thành giếng.
Nguy cơ của thời đại số là tạo cảm giác mình đang sống đời thiêng liêng chỉ vì đang tiêu thụ nội dung tôn giáo. Người ta nghe giảng lúc lái xe, theo dõi nhiều trang Công giáo, chia sẻ câu Kinh Thánh, xem các cuộc tranh luận thần học, thuộc tên nhiều nhà giảng thuyết, biết tin tức Vatican từng ngày. Tất cả có thể tốt. Nhưng một câu hỏi phải được giữ: những điều ấy có đưa tôi về với Đức Kitô trong bí tích và về với tha nhân bằng xương bằng thịt không? Nếu nội dung thiêng liêng làm tôi tranh luận nhiều hơn nhưng yêu ít hơn, có điều đang sai. Nếu tôi biết rất nhiều về phụng vụ nhưng thường xuyên bỏ Thánh lễ Chúa Nhật vì lý do nhỏ, có điều đang sai. Nếu tôi chia sẻ bài về lòng thương xót nhưng nhiều năm không xưng tội, có điều đang sai. Nếu tôi say mê các hiện tượng đạo đức trực tuyến nhưng bỏ bê vợ chồng, con cái, người già trong nhà, linh đạo ấy đang mất trục.
Đời sống bí tích cũng chữa một căn bệnh khác của người giáo dân: chủ nghĩa cá nhân thiêng liêng. Người ta thích nói: tôi có tương quan riêng với Chúa. Điều này đúng ở một mức nào đó: mỗi người có một lịch sử cá nhân với Chúa. Nhưng Kitô giáo không phải tôn giáo của cá nhân riêng lẻ. Bí tích luôn mang tính Hội Thánh. Tôi không tự rửa tội cho mình. Tôi không tự tha tội cho mình. Tôi không tự làm Thánh Thể cho mình. Tôi được đón nhận vào một Dân. Tôi được nuôi ở một bàn chung. Tôi được tha thứ qua một thừa tác vụ được trao cho Hội Thánh. Tôi được gọi sống đức tin với những người tôi không tự chọn. Chính điều này rất quan trọng cho giáo dân. Người ta dễ chọn cộng đồng trên mạng hợp sở thích mình: cùng phong cách, cùng quan điểm, cùng gu đạo đức. Nhưng giáo xứ thực tế thường không như thế. Ở đó có người mình thích và người mình không thích, người già, trẻ nhỏ, người hát hay, người hát dở, người nói nhiều, người ít nói, người khá giả, người nghèo, người có học, người đơn sơ. Bàn tiệc Thánh Thể quy tụ một thân thể không được tổ chức theo thuật toán sở thích. Đó là một ân sủng lớn vì chính ở đó cái tôi được chữa.
Bí tích Hòa giải cũng chữa chủ nghĩa tự biện minh, một căn bệnh rất phổ biến. Con người dễ kể tội của người khác rõ hơn tội của mình. Trong hôn nhân, mỗi người biết lỗi bên kia. Trong giáo xứ, mỗi phe biết bên kia sai gì. Trong xã hội, mỗi nhóm thấy sự giả hình của nhóm khác. Tòa giải tội buộc tôi nói ở ngôi thứ nhất số ít: con đã phạm tội. Không phải “vì chồng con nên con…”, “vì cha xứ nên con…”, “vì đồng nghiệp nên con…”. Hoàn cảnh có thể giải thích nhiều điều, thậm chí giảm trách nhiệm luân lý trong một số trường hợp, nhưng lương tâm trưởng thành vẫn học nhận phần trách nhiệm của mình. Đây là một trường tự do rất sâu. Người luôn đổ lỗi cho người khác thì vẫn bị người khác điều khiển. Người có thể nói “tôi đã sai” bắt đầu có khả năng thay đổi.
Tuy nhiên, để các bí tích thực sự nuôi linh đạo giáo dân, mục vụ bí tích cũng phải tránh biến bí tích thành thủ tục. Nếu người trẻ học giáo lý chỉ để đủ điều kiện nhận bí tích rồi biến mất, chúng ta cần tự hỏi cách đào tạo đã xảy ra điều gì. Nếu các đôi học hôn nhân như hoàn tất hồ sơ, bí tích Hôn phối dễ bị hiểu như giấy phép tổ chức lễ cưới trong nhà thờ. Nếu xưng tội trở thành đọc nhanh một danh sách thuộc lòng mà không có xét mình thật, người ta có thể đi xưng nhiều lần nhưng tiến bộ ít. Nếu tham dự Thánh lễ chỉ là “đi cho đủ luật”, người giáo dân sẽ không nhận ra mình được mời bước vào một hy tế. Luật phụng vụ và kỷ luật bí tích rất cần; nhưng luật phục vụ mầu nhiệm. Mục vụ tốt phải giúp người ta thấy điều đang xảy ra: Đức Kitô đang gặp họ, Hội Thánh đang cử hành, đời họ đang được biến đổi.
Điều này đặc biệt quan trọng trong việc dạy trẻ em. Một đứa trẻ chuẩn bị rước lễ lần đầu không chỉ cần biết cách xếp hàng, chắp tay và thưa Amen. Nó cần dần hiểu rằng bàn ăn gia đình và bàn tiệc Thánh Thể có một liên hệ. Nếu cha mẹ đưa con đi rước lễ nhưng trong nhà thường xuyên chửi mắng nhau, trẻ sẽ hấp thụ một bài thần học ngược: nghi thức không liên hệ với cách sống. Nếu sau lễ, cả nhà có thể nói với nhau một câu tử tế hơn, cùng thăm một người bệnh, biết chia sẻ với người khó khăn, đứa trẻ bắt đầu thấy Thánh Thể có hình dạng. Giáo lý mạnh nhất về bí tích thường là đời sống của những người lớn xung quanh.
Đối với người trưởng thành, việc chuẩn bị Thánh lễ cũng có thể rất đơn sơ mà sâu. Trước lễ, thay vì chỉ đến cho kịp, người giáo dân có thể mang trong lòng một câu hỏi: tuần này tôi đang đặt điều gì trên bàn thờ? Một mối lo? Một người tôi đang khó tha? Một quyết định nghề nghiệp? Một niềm vui? Một người thân bệnh? Khi dâng lễ vật, họ có thể âm thầm đặt đời mình vào đó. Khi nghe Lời Chúa, họ không chỉ hỏi đoạn này có nghĩa gì trong sách, nhưng hỏi: Lời này đang đụng vào phần nào của tuần sống? Khi rước lễ, họ không cần cố tạo cảm xúc. Họ có thể chỉ thưa trong lòng: Lạy Chúa, xin sống trong những nơi con sắp trở về. Sau lễ, thay vì để mọi sự tan ngay vào cuộc trò chuyện và điện thoại, có thể giữ một khoảnh khắc nhỏ của tạ ơn. Những thực hành rất nhỏ như vậy giúp Thánh lễ có đường vào đời.
Đời sống Hòa giải cũng cần một nhịp ổn định. Không nên đợi đến khi có một tội rất lớn mới xưng. Xưng tội định kỳ có thể giống việc dọn nhà. Bụi nhỏ nếu không dọn sẽ thành lớp dày. Những thói quen xấu cũng vậy. Một lời châm chọc nhỏ, một ít gian dối, một ít ghen tị, một ít lạnh lùng, một ít tự mãn — nếu cứ để chúng lắng xuống, tâm hồn dần mất độ nhạy. Bí tích Hòa giải định kỳ giữ lương tâm sống. Nhưng cũng cần tránh ám ảnh tội lỗi, xưng đi xưng lại những tội đã được tha, hoặc biến đời sống thiêng liêng thành kiểm tra liên tục. Mục tiêu của Hòa giải là tự do để yêu, không phải nhốt người ta trong sợ hãi. Một lương tâm tốt không phải lương tâm lúc nào cũng thấy mình bẩn. Đó là lương tâm biết nhận ra sự thật, biết đau khi làm điều sai, biết đón nhận lòng thương xót, sửa điều cần sửa và tiếp tục bước.
Có những người xa bí tích vì cảm thấy xấu hổ. Họ nghĩ mình đã bỏ lễ quá lâu, hôn nhân quá rối, đời mình quá nhiều sai lầm nên không dám quay lại. Đây là nơi Hội Thánh phải cho thấy gương mặt của người cha trong dụ ngôn người con hoang đàng. Không ai phải tự làm sạch mình hoàn toàn rồi mới trở về. Người con trở về trong tình trạng bẩn thỉu. Người cha chạy ra. Dĩ nhiên có những hoàn cảnh hôn nhân và luân lý phức tạp cần được phân định cẩn thận theo giáo huấn Hội Thánh; không thể giải quyết mọi tình huống bằng một câu đơn giản. Nhưng nguyên tắc mục vụ không được mất: người đang xa không phải đối tượng để chúng ta lạnh lùng xếp loại. Họ là người cần được đồng hành để tìm con đường sự thật và ân sủng. Bí tích không phải giải thưởng cho người hoàn hảo. Thánh Thể là lương thực cho người hành hương, dù việc lãnh nhận bí tích luôn cần phù hợp với những điều kiện mà Hội Thánh dạy. Hòa giải chính là bí tích dành cho người biết mình cần lòng thương xót.
Người giáo dân sống bí tích trưởng thành cũng hiểu rằng ân sủng không hủy bỏ trách nhiệm. Có người xin Chúa cho gia đình bình an nhưng không chịu thay cách nói chuyện. Có người xưng tội nóng giận nhưng tiếp tục để mình kiệt sức, uống quá mức, thiếu ngủ rồi bùng nổ. Có người xin Chúa cứu hôn nhân nhưng không chịu dành thời gian cho người phối ngẫu. Có người cầu cho công việc nhưng làm thiếu trách nhiệm. Có người xin chữa nghiện mạng nhưng không chịu tắt thông báo. Bí tích ban ân sủng để con người hành động, không phải để thay con người hành động. Thiên Chúa chữa chúng ta như những hữu thể có tự do. Hòa giải đi cùng việc sửa đổi. Thánh Thể đi cùng việc tự hiến. Hôn phối đi cùng chăm sóc giao ước. Xức dầu đi cùng điều trị thích hợp và chăm sóc người bệnh. Đức tin Công giáo không đối lập ân sủng với phương tiện nhân loại. Ân sủng nâng và chữa tự nhiên.
Một linh đạo bí tích cũng làm người giáo dân có một cái nhìn lành mạnh về thân xác. Nhiều hình thức “tâm linh” đương đại tìm cách vượt khỏi thân xác, coi thân xác như vỏ bọc tạm. Kitô giáo không như thế. Rửa tội cần nước chạm thân thể. Thêm sức dùng dầu. Thánh Thể được ăn và uống. Hòa giải dùng lời nói phát ra và nghe bằng tai. Hôn phối được cử hành bằng sự ưng thuận của những con người có thân xác và hoàn tất trong đời sống vợ chồng. Xức dầu chạm đến thân xác đau yếu. Toàn bộ nhiệm cục bí tích nói rằng thân xác quan trọng. Điều này có hệ quả trực tiếp cho đạo đức giáo dân. Cách ta ngủ, ăn, làm việc, nghỉ, sống tính dục, chăm sóc sức khỏe, sử dụng chất kích thích, đối xử với thân xác người khác đều thuộc đời sống thiêng liêng. Không thể sống một linh đạo rất “cao” mà khinh thân xác mình hay sử dụng thân xác người khác như đồ vật.
Thánh Thể cũng dạy giá trị của Chúa Nhật. Trong một nền kinh tế có xu hướng biến mọi ngày thành ngày làm việc, Chúa Nhật là một hành vi thần học. Nó tuyên bố rằng con người không chỉ là lao động. Giá trị của ta không bằng năng suất. Thế giới không tồn tại nhờ mình làm việc không ngừng. Ta có thể dừng vì Thiên Chúa là Chúa. Tham dự Thánh lễ Chúa Nhật không phải một khoản thuế thời gian Chúa đòi. Nó tái sắp xếp tuần sống. Người giáo dân đến với Thánh Thể để nhớ mình là ai trước khi trở lại với những vai trò: giám đốc, công nhân, người cha, người mẹ, sinh viên, bác sĩ, nông dân. Trước tất cả những vai trò ấy, họ là con cái Thiên Chúa được quy tụ trong Đức Kitô. Chúa Nhật còn mở ra thời gian cho gia đình, nghỉ ngơi, người nghèo, niềm vui và các tương quan. Nếu xã hội làm mất Chúa Nhật, giáo dân không chỉ mất một giờ lễ; họ có nguy cơ mất cả một cách hiểu về con người.
Đời sống bí tích cũng đưa niềm vui vào linh đạo. Người Kitô hữu không cử hành Thánh Thể như dự một đám tang mỗi tuần. Thánh Thể là tưởng niệm cuộc Vượt Qua: Đấng chịu đóng đinh đã sống lại. Hòa giải cũng kết thúc trong niềm vui của người được tha. Hôn phối là lễ hội của giao ước. Rửa tội là sự sinh lại. Linh đạo bí tích vì thế không tạo ra những người lúc nào cũng mang khuôn mặt nặng nề như thể nghiêm túc với Chúa đồng nghĩa với buồn. Có thập giá thật, nước mắt thật, thống hối thật; nhưng đường bí tích đi về niềm vui phục sinh. Một gia đình Công giáo sống bí tích phải biết ăn mừng, biết mời nhau ăn, biết hát, biết tạ ơn những điều nhỏ. Niềm vui không phải trang trí. Nó là dấu hiệu rằng ân sủng không chỉ cấm con người làm điều xấu nhưng giải phóng họ để nhận ra sự thiện.
Có thể tóm lại đời sống bí tích giáo dân bằng một chuyển động kép: đem đời tới bàn thờ và đem bàn thờ vào đời. Đem đời tới bàn thờ nghĩa là không giấu trước Chúa bất cứ điều gì: công việc, tiền bạc, tình dục, hôn nhân, bệnh tật, mệt mỏi, thất bại, tham vọng, lỗi lầm. Tất cả đều có thể và phải đi vào lời cầu, xét mình, Thánh lễ, Hòa giải. Đem bàn thờ vào đời nghĩa là những gì nhận được trong bí tích phải mang hình dạng cụ thể: tha thứ cho một người, trả một món nợ, sửa một lời gian dối, chăm một người bệnh, bảo vệ người yếu, nghỉ ngơi đúng lúc, trung tín với lời hứa, từ chối một khoản lợi bất chính, dành thời gian cho gia đình. Nếu chỉ đem đời tới bàn thờ mà không đem bàn thờ vào đời, phụng vụ trở thành chỗ trú. Nếu chỉ cố sống tốt ngoài đời mà tách khỏi nguồn bí tích, đời Kitô hữu dần trở thành đạo đức dựa trên sức riêng.
Thánh lễ giáo dân vì thế không kết khi bài hát cuối cùng chấm dứt. Khi cánh cửa nhà thờ mở ra, phần khó hơn bắt đầu. Người vừa nói “Amen” với Mình Thánh Đức Kitô nay phải nói “Amen” với người phối ngẫu nhiều giới hạn của mình. Phải nói “Amen” với trách nhiệm nghề nghiệp. Phải nói “Amen” với sự thật dù sự thật làm mình thiệt. Phải nói “Amen” với người nghèo mình muốn né. Phải nói “Amen” với việc tha thứ không dễ. Phải nói “Amen” với thân xác đang già đi. Phải nói “Amen” với một đứa con không trở thành như mình kỳ vọng. Chính ở đó Thánh Thể kéo dài.
Bí tích Hòa giải cũng không kết khi linh mục nói lời tha tội. Nó kéo dài khi người ấy bước ra và sống như người đã được tha. Người được tha phải học tha. Người được Chúa kiên nhẫn phải học kiên nhẫn. Người được trả lại phẩm giá phải thôi làm nhục người khác. Người được nghe “Cha tha tội cho con” phải dần biết nói “tôi xin lỗi” và “tôi tha thứ”. Nếu xưng tội xong mà vẫn nuôi khoái cảm trả thù, bí tích đang mời ta đi sâu hơn. Hòa giải chữa đời bằng cách làm ta có khả năng trở thành người hòa giải.
Hôn phối cũng không kết ở nghi thức trao nhẫn. Bí tích ấy kéo dài trong hàng chục năm, qua bữa cơm, hóa đơn, việc nuôi con, bệnh tật, tình dục, im lặng, cãi vã, tha thứ, tuổi già. Xức dầu không chỉ là vài phút bên giường bệnh; nó đặt những tháng năm yếu đau vào trong mầu nhiệm Đức Kitô. Rửa tội không kết khi áo trắng được cởi; nó kéo dài đến hơi thở cuối. Bí tích luôn mở một lịch sử.
Bởi vậy, một linh đạo giáo dân không có bí tích sẽ sớm trở thành một trong hai thứ: hoặc đạo đức luân lý dựa sức riêng, hoặc tâm linh cảm xúc dựa sở thích. Cả hai đều không đủ cho đời Kitô hữu dài hạn. Người ta cần một nguồn không do mình tạo. Cần được nuôi khi mình hết sức. Cần được tha khi mình thất bại. Cần được nhắc rằng tình yêu là giao ước khi cảm xúc nguội. Cần được xức dầu khi thân xác không nghe lời. Cần được Hội Thánh nâng khi đức tin riêng mình yếu. Đó là lý do Đức Kitô ban các bí tích.
Có một hình ảnh có thể giữ lại ở cuối chương này. Mỗi Chúa Nhật, người giáo dân bước lên rước lễ với hai bàn tay trống. Bàn tay ấy suốt tuần đã làm rất nhiều việc: ký hợp đồng, nấu ăn, bế con, cầm vô lăng, gõ bàn phím, đếm tiền, lau nước mắt, có khi cũng đã chỉ tay kết án, nắm lại vì giận, giữ quá chặt điều không thuộc về mình. Đến trước bàn thờ, đôi tay ấy mở ra. Không mua được Thánh Thể. Không sản xuất được ân sủng. Chỉ nhận. “Mình Thánh Chúa Kitô.” “Amen.” Rồi đôi tay ấy trở lại thế giới. Câu hỏi của linh đạo giáo dân là: sau khi đã nhận lấy Đức Kitô, đôi tay này sẽ làm gì?
Nếu nó biết mở ra cho người nghèo, Thánh Thể đang sống. Nếu nó biết nắm tay người phối ngẫu trong lúc khó, Hôn phối đang sống. Nếu nó biết đặt xuống tiền bất chính, Hòa giải đang sống. Nếu nó biết đỡ một thân xác đau yếu, Xức dầu đang sống. Nếu nó biết làm dấu thánh giá trước một quyết định khó và chọn điều thật, Rửa tội đang sống. Bí tích khi ấy không còn là những nghi thức nằm trong lịch Công giáo. Bí tích đã trở thành hình dạng của một đời người.
Bỏ bí tích rồi đi tìm linh đạo ở nơi khác quả thật giống tìm nước trên đá khô trong khi ngay bên cạnh là dòng suối. Nhưng lời này không nhằm kết án những người đang xa bí tích. Nó là lời mời trở về nguồn. Có thể trở về bằng một Thánh lễ Chúa Nhật được tham dự với ý thức mới. Có thể bắt đầu bằng một lần xưng tội thành thật sau nhiều năm. Có thể là một đôi vợ chồng quyết định cầu nguyện lại với nhau. Có thể là một gia đình gọi linh mục đến xức dầu cho người bệnh thay vì chờ đến phút cuối. Có thể chỉ là người giáo dân sau khi rước lễ hôm nay hỏi một câu rất nhỏ: “Lạy Chúa, Chúa muốn đi đâu với con trong tuần này?”
Và có lẽ câu trả lời luôn rất gần. Chúa muốn đi về căn nhà ấy. Đi vào nơi làm việc ấy. Đi đến chiếc giường bệnh ấy. Đi vào mối quan hệ đang rạn ấy. Đi vào khoản tiền đang làm lương tâm bất an ấy. Đi đến người mình chưa tha ấy. Đi vào những nơi ta thường nghĩ quá trần tục để có Chúa. Chính ở đó bí tích hoàn tất sứ mạng của mình: không kéo người giáo dân ra khỏi đời, nhưng đưa Đức Kitô vào tận ruột của đời; không làm đời sống bớt thật, nhưng làm nó thật hơn; không làm con người thôi là người, nhưng chữa con người để họ trở thành điều mình đã được tạo dựng và cứu chuộc để trở thành.
Linh đạo giáo dân vì thế không đứng bên cạnh đời sống bí tích. Nó phát sinh từ bí tích và trở về bí tích. Từ giếng Rửa tội người tín hữu bước ra thế giới. Từ dầu Thêm sức họ được sai đi. Từ bàn tiệc Thánh Thể họ được nuôi. Từ tòa Hòa giải họ được dựng dậy. Trong Hôn phối họ học tự hiến. Trong Xức dầu họ học tín thác khi thân xác yếu đi. Và qua tất cả những điều ấy, Đức Kitô tiếp tục nhập thể trong một thế giới rất bình thường bằng đời sống của những con người rất bình thường.
Đó chính là vẻ đẹp của linh đạo giáo dân: bàn thờ không tách khỏi bàn ăn; lời tha tội không tách khỏi lời xin lỗi; Mình Thánh không tách khỏi thân mình người nghèo; dầu thánh không tách khỏi thân xác bệnh nhân; lời hứa hôn phối không tách khỏi những năm tháng cơm áo. Ân sủng không bay trên đời. Ân sủng đi vào đời. Và khi ân sủng được đón nhận như thế, đời thường không còn chỉ là nơi phải cố sống sót cho đến khi được về trời. Nó trở thành nơi bí tích sinh hoa trái, nơi Đức Kitô tiếp tục hiện diện, nơi Nước Thiên Chúa âm thầm lớn lên giữa những điều nhỏ nhất.
CHƯƠNG 30. LINH HƯỚNG CHO GIÁO DÂN: ĐỪNG TU SĨ HÓA NGƯỜI NGHE
Một trong những nguy cơ âm thầm nhất của việc linh hướng cho giáo dân là người linh hướng, với tất cả thiện chí của mình, lại dùng một khuôn linh đạo vốn được hình thành cho chủng viện, nhà tập, đan viện hay đời sống cộng đoàn tu trì để đo đời sống thiêng liêng của một người đang sống giữa gia đình, nghề nghiệp, con cái, hóa đơn, bệnh tật, giao thông, điện thoại, áp lực cơm áo và hàng trăm bổn phận không thể bỏ. Khi đó, điều đáng lẽ phải là một cuộc đồng hành giúp người giáo dân nhận ra tiếng Chúa ngay trong chính đời mình lại vô tình trở thành một cuộc huấn luyện để họ cố sống giống một tu sĩ đang ở nhầm ngoài đời. Người mẹ hai con nhỏ được hỏi tại sao không có một giờ nguyện gẫm yên tĩnh mỗi sáng. Người cha làm ca đêm bị áy náy vì không giữ được khung giờ kinh như một cộng đoàn có chuông báo. Người kinh doanh được khuyên phải “bớt dính bén với công việc” theo một cách khiến anh tưởng rằng nghề nghiệp chỉ là vật cản của đời thiêng liêng. Người phụ nữ chăm mẹ già được khuyên nên tham gia thêm những sinh hoạt đạo đức trong khi mỗi ngày chị đã kiệt sức vì bệnh viện, thuốc men và việc nhà. Một người trẻ vừa đi làm, vừa trả nợ học phí, vừa chăm sóc cha mẹ được yêu cầu phải dự thêm khóa này, nhóm kia, giờ chầu nọ, buổi tĩnh tâm khác, rồi nếu anh không đủ sức thì người ta kết luận anh “thiếu lòng quảng đại”. Những lời khuyên ấy có thể không sai tự thân; nhiều thực hành trong đó rất quý. Điều sai nằm ở chỗ đem một khung sống của người này làm thước đo ơn gọi của người khác. Linh hướng Kitô giáo không phải việc sản xuất những con người giống nhau. Linh hướng là giúp một người cụ thể, trong bậc sống cụ thể, hoàn cảnh cụ thể và trách nhiệm cụ thể, nhận ra Chúa đang gọi họ nên thánh bằng con đường nào. Người linh hướng giáo dân vì thế phải bắt đầu bằng một xác tín rất căn bản: đời thường của người giáo dân không phải phòng chờ của đời thiêng liêng; đó chính là nơi đời thiêng liêng phải nhập thể. Không phải sau khi đã lo xong gia đình, xong công việc, xong những chuyện tiền bạc, xong việc chăm con, xong những rắc rối của cuộc sống rồi người giáo dân mới có thể gặp Chúa. Họ phải học gặp Chúa trong những điều ấy. Và người linh hướng phải giúp họ làm điều đó.
Điều này đòi người linh hướng phải hiểu “lịch” của một người giáo dân, không chỉ lịch phụng vụ nhưng lịch đời thường. Người mẹ có con sơ sinh sống bằng một thứ đồng hồ rất khác với linh mục trong nhà xứ. Giấc ngủ của chị bị chia thành từng đoạn nhỏ. Một giờ cầu nguyện liên tục có thể là điều gần như bất khả. Có những sáng chị chưa kịp làm dấu thánh giá đã nghe con khóc. Có những ngày chị ăn bữa sáng lúc gần trưa và tắm vào cuối chiều. Nếu người linh hướng chỉ biết hỏi: “Chị có nguyện gẫm đủ ba mươi phút không?”, có thể người ấy đang hỏi sai câu hỏi. Có khi nên hỏi: “Trong lúc bế con giữa đêm, chị có thể nói một câu với Chúa không? Khi mệt và cáu, chị có nhận ra giới hạn của mình và xin ơn đừng làm tổn thương người thân không? Chị có cho phép mình được nghỉ khi có thể, hay lại mang mặc cảm vì nghỉ? Chị có nhớ rằng chăm sóc sự sống đang được trao cho chị cũng là một phần của ơn gọi không?” Một lời nguyện tắt giữa tiếng trẻ khóc có thể là lời cầu nguyện rất thật. Một hành vi kiên nhẫn khi cả người đã mỏi có thể là một lễ dâng. Một lần xin lỗi con vì đã nóng nảy có thể là một bước hoán cải sâu hơn nhiều trang sách thiêng liêng đọc mà không chạm vào đời. Điều ấy không có nghĩa hạ thấp việc cầu nguyện có giờ, cũng không có nghĩa biến mọi việc đời thành cầu nguyện rồi khỏi cần cầu nguyện. Trái lại, linh hướng tốt phải giúp người giáo dân tìm một nhịp cầu nguyện thực tế, trung thành và có thể sống lâu dài. Có người cần mười lăm phút buổi sáng. Có người chỉ có thể giữ được mười phút trước khi ngủ. Có người đọc Tin Mừng trên xe buýt. Có người lần hạt trên đường đi làm. Có người cần một giờ mỗi tuần thật yên để hồi tâm. Có người có thể dành nhiều hơn. Vấn đề không phải ai đạt chuẩn của một chương trình tu đức nào, nhưng là người ấy có đang thật sự sống tương quan với Chúa trong điều kiện đời mình hay không.
Tu sĩ hóa người giáo dân còn xảy ra khi nghề nghiệp bị nhìn như một vùng thấp của đời sống. Có người đi linh hướng chỉ được hỏi về cầu nguyện, xưng tội, Thánh lễ, các cơn chia trí, những cám dỗ và vài việc đạo đức, còn tám đến mười tiếng mỗi ngày tại công sở hầu như không được nhắc tới. Như thể Chúa chỉ quan tâm đến phần thời gian mà người ấy ở trong nhà thờ. Nhưng với giáo dân, nghề nghiệp thường chiếm một phần rất lớn của đời sống và chính ở đó xảy ra vô số chọn lựa luân lý, những tương quan, những va chạm với quyền lực, tiền bạc, danh dự, tham vọng, công bằng và bác ái. Một giám đốc phải quyết định có sa thải nhân viên hay không. Một kế toán phải đối diện với yêu cầu sửa sổ sách. Một nhân viên kinh doanh phải chọn giữa nói thật và hứa quá mức để đạt chỉ tiêu. Một bác sĩ phải xử lý một bệnh nhân nghèo không đủ khả năng chi trả. Một giáo viên phải đối diện với học sinh yếu nhưng gia đình gây áp lực. Một công chức phải biết lúc nào ký và lúc nào không ký. Một người làm nội dung phải cân nhắc có nên dùng scandal để kiếm lượt xem. Một chủ doanh nghiệp phải quyết định trả lương đúng hạn hay giữ dòng tiền cho mình. Một người đang thất nghiệp phải chiến đấu với cảm giác mình vô dụng. Một người thành đạt lại phải chiến đấu với ý nghĩ rằng mình tự làm nên mọi sự. Nếu linh hướng không đi vào những nơi ấy, nó mới chỉ chạm một phần rất nhỏ của đời người giáo dân.
Người linh hướng vì thế cần hỏi về nghề. Không phải tò mò nghề nghiệp, càng không phải đóng vai chuyên gia mọi lĩnh vực. Người linh hướng không cần biết cách vận hành dây chuyền sản xuất, viết phần mềm, quản trị ngân hàng hay điều hành bệnh viện. Nhưng cần biết hỏi những câu thần học và luân lý đúng chỗ: “Công việc này đang làm anh thành người thế nào? Có điều gì anh phải làm mỗi ngày mà lương tâm không bình an? Anh có đang nói dối để tồn tại? Có người nào dưới quyền anh đang bị đối xử bất công? Anh có sống như thể giá trị của mình bằng mức lương không? Khi bị thất bại, anh thấy mình mất tất cả hay vẫn biết mình là con Thiên Chúa? Anh có biết nghỉ hay công việc đã trở thành một thần tượng? Anh có đang dùng địa vị để phục vụ hay để được phục vụ? Có sự gian dối nào mà anh gọi là ‘luật chơi’ để khỏi phải đối diện với nó? Công việc của anh có phục vụ ích chung chút nào không?” Những câu hỏi như thế không biến linh hướng thành tư vấn quản trị. Chúng đưa ánh sáng Tin Mừng vào nơi người giáo dân thực sự sống.
Cũng phải hỏi về gia đình. Một người có thể rất sốt sắng trong giáo xứ mà đời sống hôn nhân đang nguội lạnh. Có người cầu nguyện đều nhưng nhiều tháng không nói chuyện tử tế với vợ. Có người phục vụ rất nhiệt tình nhưng con cái gần như không gặp cha mẹ. Có người bên ngoài mềm mỏng, bên trong gia đình lại cay nghiệt. Có người viện dẫn “việc Chúa” để tránh việc nhà. Có người đi hết khóa linh thao này đến khóa linh thao khác trong khi người phối ngẫu kiệt sức vì phải gánh phần còn lại. Nếu linh hướng chỉ cổ võ thêm hoạt động đạo đức mà không nhìn vào sự bất cân bằng ấy, người linh hướng có thể vô tình giúp một người dùng đời đạo để trốn bổn phận. Có những trường hợp điều người giáo dân cần nghe không phải là “hãy làm thêm”, nhưng là “hãy về nhà sớm hơn”. Có người cần bỏ bớt một hội đoàn để ăn tối với gia đình. Có người cần giảm một buổi sinh hoạt để đưa mẹ già đi khám. Có người cần thôi nhận thêm chức vụ trong giáo xứ để cứu một hôn nhân đang cạn kiệt. Đó không phải là sống kém đạo. Có khi đó chính là việc phải làm trước mặt Chúa.
Linh hướng cho giáo dân cũng phải đủ can đảm nói đến tiền bạc. Đây là một trong những vùng rất thực của đời sống nhưng nhiều cuộc linh hướng lại tránh. Người ta dễ nói về lòng mến, khó nói về món nợ. Dễ nói về thanh thoát, khó hỏi người ấy đang sử dụng tiền thế nào. Dễ giảng về nghèo khó, khó hỏi liệu họ có trả lương công bằng cho người làm hay không. Tiền bạc không phải chuyện ngoại đạo. Đức Giêsu nói về tiền rất nhiều, không phải vì tiền tự nó là xấu, nhưng vì tiền chạm trực tiếp vào tự do của trái tim. Người giáo dân sống giữa các quyết định tài chính hằng ngày: mua nhà hay thuê, vay hay không vay, gửi con trường nào, phụ giúp cha mẹ bao nhiêu, tiết kiệm thế nào, đóng góp cho người nghèo ra sao, sử dụng của cải thế nào, làm gì khi vợ chồng bất đồng về tiền, có nên kiếm thêm bằng một công việc không hoàn toàn minh bạch, có đang sống vượt khả năng chỉ để giữ hình ảnh, có đang đổ tiền vào cờ bạc, mua sắm, đầu tư mạo hiểm hoặc hưởng thụ để lấp khoảng trống bên trong không. Linh hướng không phải kế toán tài chính, nhưng nếu hoàn toàn không đụng đến tiền thì một vùng lớn của lương tâm bị bỏ trắng.
Cần hỏi cả về mạng. Đời giáo dân hôm nay không chỉ có nhà, công sở và nhà thờ. Có một không gian thứ tư luôn nằm trong túi áo: điện thoại. Có người không phạm điều gì “lớn” theo nghĩa cổ điển nhưng mỗi ngày để ba bốn giờ trôi trong màn hình. Có người liên tục so sánh mình với người khác. Có người nghiện tin tức, nghiện tranh luận, nghiện được nhìn thấy. Có người dùng mạng để sống một nhân cách khác với đời thật. Có người nhắn tin với một người không phải vợ hay chồng theo cách ngày càng vượt ranh giới mà vẫn tự trấn an rằng “chưa làm gì”. Có tu sĩ hóa kiểu cũ, nhưng cũng có số hóa kiểu mới: đời thiêng liêng bị chia cắt khỏi cả hệ sinh thái kỹ thuật số. Người linh hướng hôm nay cần hỏi: “Điện thoại đang lấy của anh điều gì? Anh mở máy khi cô đơn để tìm gì? Có nội dung nào anh xem mà sau đó lòng tối đi? Có mối quan hệ nào trên mạng đang phá sự trung tín ngoài đời? Anh có thể đặt điện thoại xuống để ở thật với người trước mặt không? Anh có đang dùng mạng để xây dựng một hình ảnh đạo đức hơn con người thật của mình không?” Đây là những câu hỏi rất thiêng liêng.
Phải hỏi về người nghèo nữa. Linh hướng có nguy cơ thành một thứ nội soi thiêng liêng liên tục, trong đó người ta chỉ quan sát những chuyển động nội tâm của chính mình: tôi cảm thấy gì, tôi được an ủi hay khô khan, tôi tiến hay lùi, tôi có bình an không. Những điều ấy cần thiết. Nhưng Tin Mừng luôn kéo người môn đệ ra khỏi cái tôi. Một người cầu nguyện tốt mà dần dần trở nên ít nhạy với người nghèo thì cần xem lại kiểu cầu nguyện ấy. Một người rất quan tâm đến sự hoàn thiện của mình nhưng không quan tâm người làm thuê trong nhà được đối xử ra sao, người bảo vệ ngoài cổng ăn trưa ở đâu, cha mẹ già có được hỏi han không, đồng nghiệp yếu thế có bị chèn ép không, thì linh hướng cần mở cửa sổ. Đời thiêng liêng không chỉ là xem mình có gần Chúa hơn không; một dấu chỉ quan trọng là mình có gần người khác hơn trong tình yêu thật hay không.
Điều này cũng giúp phân biệt giữa linh hướng và một thứ quản trị đạo đức vi mô. Người linh hướng không được điều khiển mọi quyết định của giáo dân. Người ấy không sống thay họ. Không quyết định thay họ nên lấy ai, bỏ việc nào, đầu tư gì, học trường nào, sinh mấy con, chuyển nhà ở đâu, nhận chức vụ nào. Có những trường hợp cần lời khuyên cụ thể, nhưng mục tiêu sâu của linh hướng là đào luyện khả năng phân định trước mặt Chúa. Nếu sau nhiều năm linh hướng mà người được hướng dẫn ngày càng không dám quyết định điều gì nếu chưa hỏi cha linh hướng, thì phải đặt câu hỏi: họ đang trưởng thành hay đang phụ thuộc? Một người linh hướng giỏi không tạo ra tín hữu lệ thuộc vào mình. Người ấy giúp họ ngày càng có lương tâm ngay thẳng, biết cầu nguyện, biết lắng nghe Lời Chúa, biết đọc các hoàn cảnh, biết tham khảo người khôn ngoan, biết phân biệt giữa sợ hãi và tiếng gọi, giữa ham muốn và bổn phận, giữa nhiệt thành và bốc đồng. Mục tiêu không phải để họ luôn cần mình. Mục tiêu là để họ thuộc về Chúa hơn.
Ở đây có một sự khác biệt quan trọng giữa đời tu và đời giáo dân. Trong đời tu, có những cấu trúc vâng phục cụ thể gắn với lời khấn và với quyền bề trên theo hiến pháp của hội dòng. Người giáo dân không sống trong cấu trúc ấy. Người linh hướng không phải bề trên của họ. Một linh mục nghe một giáo dân trình bày đời sống không có quyền biến lời khuyên thiêng liêng thành mệnh lệnh trên mọi chuyện đời. Câu “cha bảo con phải…” cần được dùng rất thận trọng, nhất là khi vấn đề thuộc chuyên môn, kinh tế, tâm lý, y khoa, pháp lý hoặc những chọn lựa gia đình mà người linh hướng không có đủ dữ kiện. Quyền thiêng liêng có thể bị lạm dụng chính khi một người nghĩ mình đang làm điều tốt. Một tín hữu kính trọng linh mục có thể làm theo một lời nói chỉ vì sợ trái ý “cha”, dù trong lòng thấy bất ổn. Người linh hướng phải đặc biệt cảnh giác trước sức nặng của lời mình.
Linh mục không biết đời giáo dân thì hãy hỏi. Câu này đơn giản nhưng rất quan trọng. Có những linh mục đã sống từ nhỏ trong chủng viện, sau đó ở nhà xứ hoặc cộng đoàn, chưa từng phải nuôi một gia đình bằng lương tháng, chưa từng trải nghiệm nỗi sợ mất việc khi có hai con nhỏ, chưa từng phải thương lượng tiền học, tiền nhà, tiền viện phí trong cùng một tháng, chưa từng đi làm tám tiếng dưới quyền một người quản lý khó tính, chưa từng ngồi trong cuộc họp nơi một câu nói sai có thể ảnh hưởng cả sự nghiệp, chưa từng trải nghiệm căng thẳng của hôn nhân lâu năm. Điều đó không làm linh mục kém khả năng linh hướng. Nhưng nó đòi khiêm nhường. Không biết thì hỏi. Không hiểu thì nghe. Không có kinh nghiệm thì đừng giả vờ có. Đừng biến vài khái niệm thần học thành câu trả lời cho mọi vấn đề. Người linh hướng có thể hỏi: “Trong nghề của anh, điều đó thực tế nghĩa là gì? Áp lực ấy diễn ra thế nào? Nếu anh từ chối việc này thì hậu quả là gì? Vợ anh nghĩ sao? Anh đã nói chuyện với người có chuyên môn chưa?” Những câu hỏi ấy không làm giảm uy tín của linh mục. Ngược lại, chúng bảo vệ tính chân thật của đồng hành.
Có lúc phải nói rất rõ: “Việc này tôi không đủ chuyên môn.” Một người đang có dấu hiệu trầm cảm nặng cần bác sĩ hoặc chuyên viên sức khỏe tâm thần, không chỉ cần thêm kinh nguyện. Một cặp hôn nhân có bạo lực cần biện pháp bảo vệ và hỗ trợ thích hợp, không thể chỉ được khuyên “cố nhịn vì thánh giá”. Một người đang có tranh chấp pháp lý phức tạp cần luật sư. Một doanh nhân đứng trước quyết định tài chính lớn cần cố vấn chuyên môn. Một người có biểu hiện nghiện cần điều trị phù hợp. Linh hướng không mất giá trị khi giới thiệu người ta đến chuyên gia. Trái lại, đó là dấu hiệu người linh hướng biết giới hạn của mình. Ân sủng không chống lại chuyên môn. Đức tin không đòi người ta bỏ qua những phương thế tự nhiên mà Thiên Chúa cho nhân loại phát triển.
Đừng thiêng liêng hóa mọi đau khổ. Đây là một nguyên tắc khác. Người giáo dân đến linh hướng đôi khi mang một cuộc hôn nhân bị bạo hành, một nơi làm việc độc hại, một người cha nghiện rượu, một người mẹ thao túng, một cộng đoàn gây tổn thương. Nếu mọi câu trả lời chỉ là “hãy vác thập giá”, thì rất có thể ta đang dùng thập giá để che một bất công đáng lẽ phải được gọi tên. Không phải mọi đau khổ đều là ý Chúa theo nghĩa phải ở nguyên trong đó. Có những thập giá cần mang. Có những bất công cần chống lại. Có những tương quan cần đặt ranh giới. Có những nơi cần rời đi. Có những chuyện cần báo cho người có trách nhiệm. Phân định nằm ở đó. Đức Kitô mang thập giá vì yêu và vâng phục Chúa Cha; Người không dạy các nạn nhân làm cho cái ác được tiếp tục vô thời hạn bằng cách gọi sự im lặng của họ là nhân đức.
Ngược lại, cũng đừng tâm lý hóa mọi sự đến mức mất chiều kích tội và ân sủng. Có thời người ta nói mọi vấn đề đều là tội. Hôm nay có nguy cơ đảo ngược: mọi lỗi đều được giải thích như vết thương, cơ chế phòng vệ, quá khứ gia đình hoặc hoàn cảnh. Những yếu tố ấy có thật và cần được hiểu. Nhưng con người cũng có tự do, trách nhiệm, tội lỗi và nhu cầu hoán cải. Linh hướng giáo dân phải có đủ chiều sâu để giữ cả hai: lòng thương xót và sự thật. Có người cần được nghe rằng họ đã bị tổn thương. Có người cũng cần nghe rằng họ đang làm tổn thương người khác và phải thay đổi. Có người cần tự tha thứ. Có người cần đi xin lỗi. Có người cần thôi tự kết án. Có người cần thôi tự biện hộ. Không thể dùng một chìa khóa cho mọi cánh cửa.
Đừng đo đời thiêng liêng bằng số lượng thực hành. Một người đọc kinh rất nhiều chưa chắc đang lớn lên trong đức ái. Một người không thể tham dự nhiều sinh hoạt nhưng trung tín với gia đình, sống công chính nơi làm việc, đi lễ Chúa Nhật, cầu nguyện đơn sơ mỗi ngày và âm thầm chăm người bệnh có thể có một đời thiêng liêng rất sâu. Các việc đạo đức là phương tiện quý giá, nhưng mục tiêu là hiệp nhất với Đức Kitô và được biến đổi trong Người. Hãy hỏi một người cầu nguyện nhiều: “Anh có dễ xin lỗi hơn không? Anh có bớt cay nghiệt không? Anh có công bằng hơn không? Anh có bớt cần người khác khen không? Anh có kiên nhẫn với người nhà không?” Những câu hỏi ấy không coi nhẹ cầu nguyện. Chúng thử hoa trái của cầu nguyện.
Một dấu hiệu tu sĩ hóa khác là lý tưởng hóa sự thinh lặng theo cách không phù hợp đời gia đình. Thinh lặng là cần. Người giáo dân cũng cần những khoảng không không màn hình, không tiếng ồn, không liên tục bị kéo bởi công việc. Nhưng sự thinh lặng của một người cha có ba con không thể giống sự thinh lặng của một đan sĩ. Có khi sự thinh lặng của người cha là tắt điện thoại trong ba mươi phút để nghe con kể chuyện. Có khi là không bật thêm nội dung nào lúc lái xe về nhà. Có khi là vài phút ngồi trong xe trước khi bước vào nhà, thở và xin Chúa giúp mình không mang hết căng thẳng công sở vào bữa cơm. Có khi là đi bộ sáng sớm. Có khi là ngồi trước Nhà Tạm mỗi tuần một lần. Linh hướng khôn ngoan giúp người giáo dân phát hiện các “khe hở thánh” có thật trong lịch sống, thay vì làm họ thất vọng vì không có đời sống của một đan viện.
Cũng không nên lý tưởng hóa nghèo khó theo kiểu thiếu thực tế. Một người giáo dân có trách nhiệm tích lũy cho gia đình, mua bảo hiểm, tiết kiệm, lo học hành cho con, chuẩn bị tuổi già. Điều đó không trái nghèo khó Phúc Âm. Vấn đề không phải có tài sản hay không, nhưng tài sản có làm chủ trái tim không; cách kiếm tiền có công chính không; cách dùng tiền có liên đới không; người ấy có coi tài sản như tuyệt đối không. Người linh hướng không nên làm một người cha thấy tội lỗi chỉ vì muốn bảo đảm một mái nhà ổn định cho con. Nhưng cũng không nên im lặng nếu sự “bảo đảm” trở thành lòng tham không đáy.
Đời sống hôn nhân cũng cần được linh hướng với một thần học đúng về thân xác. Người giáo dân sống ơn gọi trong thân xác, trong tình yêu vợ chồng, trong việc sinh dưỡng, trong mệt mỏi, ham muốn, tuổi tác, bệnh tật và sự thân mật. Nếu linh hướng chỉ nói về khiết tịnh như né tránh dục tính, sẽ không giúp được người đã kết hôn. Khiết tịnh hôn nhân là học yêu người kia như một nhân vị, không sở hữu, không sử dụng, biết trung tín, biết tôn trọng, biết tiết chế, biết trao hiến. Có những khó khăn vợ chồng cần được nói với sự tế nhị, không tò mò, không gây xấu hổ. Một linh mục đồng hành cần biết giới hạn câu hỏi của mình và đôi khi biết giới thiệu người ta đến chuyên gia hôn nhân thích hợp.
Linh hướng giáo dân cũng phải tính đến giai đoạn đời sống. Một sinh viên khác một người mới cưới. Một cặp có con nhỏ khác một đôi đã về hưu. Một người đang chăm cha mẹ già khác một người độc thân tự lập. Đời thiêng liêng có mùa. Có mùa người ta đọc được nhiều. Có mùa chỉ đủ sức giữ vài điều căn bản. Có mùa sống trong an ủi. Có mùa mọi thứ khô. Có mùa trách nhiệm mở rộng. Có mùa phải thu lại. Trưởng thành thiêng liêng không phải giữ mãi một thời khóa biểu từ tuổi hai mươi đến bảy mươi. Có những thực hành cần đổi để trung thành hơn với ơn gọi.
Người linh hướng giỏi còn giúp người giáo dân nhận ra rằng đôi khi chính bổn phận đang gọi họ ra khỏi một thực hành thiêng liêng vào lúc ấy. Một người đang nguyện gẫm mà con khóc cần đứng dậy. Điều đó không nhất thiết là “chia trí”. Có thể đó là tiếng gọi của đức ái. Một người định đi chầu nhưng vợ đang rất cần nói chuyện có thể cần ở nhà. Một người đã đăng ký tĩnh tâm nhưng mẹ phải nhập viện có thể cần hủy. Không nên biến các việc đạo đức thành những tuyệt đối cạnh tranh với bổn phận. Ngược lại, cũng đừng để chữ “bổn phận” trở thành lý do vĩnh viễn để không bao giờ dành giờ cho Chúa. Phân định chân thật luôn tránh cả hai cực đoan.
Linh hướng cũng phải giúp người giáo dân đối diện với tham vọng. Tham vọng không chỉ thuộc giới doanh nhân. Nó có thể có trong học thuật, nghề nghiệp, nghệ thuật, chính trị và cả hoạt động giáo xứ. Muốn làm tốt, muốn tiến xa, muốn phát triển khả năng không tự nó là xấu. Một Kitô hữu không cần giả vờ mình không muốn thành công. Nhưng người ấy cần hỏi: tôi muốn thành công để làm gì? Tôi sẵn sàng đánh đổi điều gì? Nếu không được công nhận, tôi còn bình an không? Nếu người khác vượt tôi, tôi có vui được không? Tôi có làm hại gia đình để giữ hình ảnh thành công không? Người linh hướng không dập tắt mọi khát vọng lớn. Có thể Chúa thật sự gọi một người vào vị trí có ảnh hưởng. Nhưng người ấy cần học mang quyền lực mà không để quyền lực mang mình.
Với những người phục vụ tích cực trong Hội Thánh, nguy cơ tu sĩ hóa lại mang một hình thức khác: đồng nhất đời thiêng liêng với công việc giáo xứ. Một giáo dân có thể có năm chức danh nhưng gần như không còn đời sống gia đình. Có người cảm thấy mình chỉ có giá trị khi cha xứ cần. Có người tìm trong hoạt động tông đồ sự công nhận mà họ thiếu ở nơi khác. Có người không biết nói “không” vì sợ bị xem là thiếu nhiệt thành. Người linh hướng phải đủ tự do để nói: “Anh không cần làm tất cả.” Hội Thánh không được xây bằng việc làm kiệt sức vài người trung thành. Đức Kitô là Đấng Cứu Thế, không phải người giáo dân ấy. Có khi một việc từ bỏ chức vụ là hành vi khiêm nhường. Có khi nghỉ một mùa để chăm gia đình là lựa chọn thánh thiện.
Một điểm rất quan trọng nữa là linh hướng không biến người giáo dân thành bản sao của chính người linh hướng. Mỗi linh mục có một linh đạo, một lịch sử, một nhạy cảm. Có người yêu phụng vụ. Có người thiên về hoạt động xã hội. Có người sống linh đạo Thánh Thể. Có người rất mến Đức Mẹ. Có người thuộc một truyền thống thiêng liêng cụ thể. Tất cả đều có thể là ân huệ. Nhưng ân huệ của người linh hướng không phải khuôn đúc bắt mọi người chui vào. Người được hướng dẫn có thể được Chúa dẫn theo một nhịp khác. Có người gặp Chúa sâu trong Lời. Có người qua phục vụ. Có người qua nghệ thuật. Có người qua đời sống gia đình. Có người qua chiêm niệm. Có người qua dấn thân xã hội. Dĩ nhiên mọi linh đạo Công giáo thật phải quy về Đức Kitô, bí tích, Lời Chúa, Hội Thánh, đức ái. Nhưng trong khung ấy có một sự phong phú thật.
Người linh hướng phải đặc biệt cẩn thận với giáo dân có tính lương tâm scrupulous, dễ mặc cảm. Với họ, thêm nhiều luật nhỏ có thể làm bệnh nặng hơn. Một người luôn sợ “mình cầu nguyện chưa đủ”, “xưng tội chưa đúng”, “ý ngay chưa trọn”, “có phạm tội không” không nhất thiết cần thêm phân tích chi li. Có khi họ cần học tín thác. Ngược lại, với người dễ dãi với mình, linh hướng phải biết chất vấn. Nghệ thuật nằm ở chỗ nhận ra người này cần được nâng hay cần bị đánh thức, chứ không phát cùng một toa thuốc.
Cũng cần tôn trọng bí mật và tự do nội tâm của người được hướng dẫn. Linh hướng không phải nơi khai thác thông tin. Người hướng dẫn không được dùng những gì nghe trong đồng hành để điều khiển người đó trong các môi trường khác. Đặc biệt khi linh mục vừa là cha xứ, bề trên một hoạt động, người tuyển chọn nhân sự hay người có quyền trong cộng đoàn, cần phân biệt rõ các vai trò. Một người chỉ có thể nói thật khi biết điều mình nói không bị dùng để chống lại mình. Sự an toàn ấy là điều kiện của sự thành thật.
Linh hướng giáo dân còn có một mục tiêu lớn hơn giải quyết vấn đề: giúp họ đọc toàn bộ đời mình như lịch sử ơn gọi. Không chỉ “tôi đang gặp rắc rối gì?”, nhưng “Chúa đang làm gì trong đời tôi qua những năm này?” Có những biến cố ban đầu tưởng chỉ là thất bại nghề nghiệp nhưng về sau mở ra một hướng phục vụ mới. Có cuộc khủng hoảng hôn nhân làm hai người học yêu thật hơn. Có bệnh tật buộc một người thành đạt phải học nhận mình có giới hạn. Có đứa con khó nuôi dạy cha mẹ một thứ kiên nhẫn mà không sách nào dạy. Có thời gian chăm cha mẹ già biến thành một trường học về lòng hiếu thảo và sự chết. Linh hướng giúp nối các chấm rời thành một câu chuyện cứu độ.
Một cuộc linh hướng tốt vì thế thường không cần người linh hướng nói quá nhiều. Có khi câu quan trọng nhất là câu hỏi. “Anh nghĩ Chúa đang mời anh trung tín ở đâu lúc này?” “Điều gì trong đời anh đang chiếm chỗ của Chúa?” “Người gần anh nhất đang phải trả giá cho lối sống hiện tại của anh ở điểm nào?” “Nếu không sợ bị đánh giá, anh biết mình cần thay đổi điều gì?” “Trong quyết định này, đâu là tình yêu, đâu là nỗi sợ?” “Nếu bỏ tiền bạc và danh tiếng ra khỏi bài toán, anh sẽ thấy gì?” “Anh có đang cố cứu một thứ Chúa không bắt anh cứu không?” “Có người nào anh cần xin lỗi?” “Có giới hạn nào anh cần chấp nhận?” Câu hỏi đúng mở cửa tự do. Câu trả lời sẵn đôi khi đóng nó lại.
Người linh hướng cũng phải giúp giáo dân trở về những điều căn bản. Có những giai đoạn đời quá rối, không phải lúc thêm phương pháp. Hãy đi lễ Chúa Nhật trung thành. Xưng tội đều đặn nhưng không ám ảnh. Đọc một đoạn Tin Mừng ngắn mỗi ngày. Giữ một khoảng cầu nguyện có thể thực hiện. Sống trung thực. Hòa giải với người nhà. Ngủ đủ khi có thể. Bớt điện thoại. Đừng bỏ người nghèo. Khiêm nhường xin giúp. Những điều ấy nghe không “cao”, nhưng đời thánh thiện được dệt từ những điều như vậy.
Và cuối cùng, người linh hướng giáo dân phải nhớ rằng mình đang đứng trước một người đã được Thánh Thần hướng dẫn trước khi họ đến gặp mình. Linh mục không mang Chúa đến cho một vùng đất trống. Chúa đã ở đó, trong cuộc hôn nhân ấy, trong những tháng thất nghiệp ấy, trong căn phòng bệnh, trong nơi làm việc, trong những lựa chọn khó khăn, trong những lần thất bại, trong tiếng trẻ khóc, trong những giọt nước mắt mà không ai thấy. Nhiệm vụ của linh hướng không phải chiếm chỗ của Thánh Thần nhưng giúp người kia nhận ra dấu chân Người. Có lúc nói. Có lúc sửa. Có lúc cảnh báo. Có lúc đề nghị một việc cụ thể. Nhưng rất nhiều lúc là lắng nghe đủ lâu để chính người được hướng dẫn nhận ra điều họ đã biết ở một tầng sâu mà chưa dám gọi tên.
Đừng tu sĩ hóa người giáo dân. Cũng đừng thế tục hóa họ. Đừng biến họ thành những người sống đạo tối thiểu với lý do “bận việc đời”. Ơn gọi giáo dân không phải một phiên bản dễ hơn của Kitô giáo. Đó là một con đường đòi hỏi rất nhiều: thuộc về Đức Kitô trong lúc xử lý tiền bạc, giữ lòng trong sạch giữa một nền văn hóa kích thích, sống công bằng trong nghề, trung tín nhiều năm trong hôn nhân, nuôi dạy con cái, chăm người già, chịu những thất bại không ai vỗ tay, giữ đức tin giữa nhịp sống gấp, làm chứng cho Tin Mừng trong những nơi linh mục không có mặt. Người linh hướng phải giúp họ nên thánh ở đó, không kéo họ ra khỏi đó bằng một tưởng tượng sai về đời thiêng liêng.
Một ngày nào đó, người giáo dân trưởng thành có thể không nhớ hết những lời cha linh hướng đã nói. Nhưng nếu cuộc đồng hành lành mạnh, họ sẽ học được một điều sâu hơn: biết đứng một mình trước mặt Chúa mà không cô độc; biết đọc đời mình dưới ánh sáng Tin Mừng; biết yêu Hội Thánh mà không lệ thuộc con người; biết cầu nguyện trong hoàn cảnh thật; biết nhận trách nhiệm về các chọn lựa; biết xin giúp khi cần; biết sửa sai khi ngã; biết rằng bàn làm việc, căn bếp, giường bệnh, bảng lương, phòng họp, chiếc xe máy, bữa cơm gia đình và những mối tương quan rất đời đều có thể trở thành nơi Đức Kitô gặp họ. Khi ấy, linh hướng đã đạt mục đích: không tạo một “tu sĩ ngoài đời”, nhưng giúp một người giáo dân trở nên chính điều họ đã được gọi để trở thành — một môn đệ của Đức Kitô giữa lòng trần thế, thánh hóa trần thế từ bên trong, bằng một đời sống vừa rất người vừa hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa.
PHẦN VI
THẾ GIỚI TỤC HÓA, ĐA NGUYÊN, TOÀN CẦU HÓA
CHƯƠNG 31. TỤC HÓA KHÔNG TỰ ĐỘNG LÀ THÙ
Có một cách nói về tục hóa khiến người Kitô hữu vừa nghe chữ ấy đã lập tức thủ thế, như thể mọi điều mang tên “tục hóa” đều là phản Kitô, mọi xã hội càng hiện đại thì càng xa Thiên Chúa, mọi hình thức tự trị của khoa học, kinh tế, chính trị, văn hóa đều là một cuộc nổi loạn của tạo vật chống lại Đấng Tạo Hóa. Cách nhìn ấy dễ hiểu về mặt tâm lý, bởi người tín hữu hôm nay quả thật chứng kiến nhiều biểu hiện của một thế giới sống như thể Thiên Chúa không hiện hữu, nhiều cơ cấu công cộng cố ý đẩy tôn giáo ra ngoài, nhiều cách sống coi đức tin là chuyện riêng tư không được phép có tiếng nói xã hội, nhiều nền văn hóa tiêu thụ làm cho con người có thể sống rất bận, rất đủ tiện nghi, rất nhiều thông tin mà hoàn toàn không cần đặt câu hỏi về nguồn gốc, cùng đích và ý nghĩa sau cùng của đời mình. Nhưng nếu vì thế mà gom tất cả những gì gọi là tục hóa vào một khối rồi kết án, linh đạo giáo dân sẽ rơi vào phản ứng phòng thủ, mà phản ứng phòng thủ kéo dài rất dễ biến thành sợ hãi thế giới. Một người giáo dân sợ thế giới thì khó mà được sai vào thế giới. Một Hội Thánh chỉ nhìn xã hội hiện đại như chiến tuyến của kẻ thù thì sẽ rất khó nhận ra những hạt giống Lời Chúa vẫn đang mọc trong chính những khát vọng nhân bản của thời đại. Và nghiêm trọng hơn, nếu không phân biệt các tầng nghĩa của tục hóa, người tín hữu có thể chống lại cả những gì chính đức tin Kitô giáo đã góp phần làm nảy sinh: sự phân biệt giữa Thiên Chúa và tạo thành, giữa Hội Thánh và nhà nước, giữa thẩm quyền thiêng liêng và năng lực chuyên môn, giữa mặc khải cứu độ và những phương pháp khoa học có quy luật riêng của chúng.
Cần nói cho rõ: tục hóa không chỉ có một nghĩa. Có một thứ tục hóa lành mạnh, hay nói chính xác hơn, là sự nhìn nhận tính tự trị chính đáng của các thực tại trần thế. Có một thứ tục hóa khác tìm cách loại Thiên Chúa, đức tin và tôn giáo ra khỏi không gian công cộng. Và có một thứ tục hóa sâu hơn nữa đi vào tâm thức, khiến con người tổ chức toàn bộ đời sống như thể Thiên Chúa không hề hiện hữu, dù ngoài miệng có thể chưa bao giờ phủ nhận Người. Ba lớp ấy không giống nhau. Nếu không phân biệt, ta hoặc quá ngây thơ, hoặc quá cực đoan. Nếu coi tất cả đều tốt, ta sẽ mất khả năng nhận ra sự bào mòn đức tin. Nếu coi tất cả đều xấu, ta sẽ đánh mất khả năng sống ơn gọi giáo dân giữa thế giới hiện đại.
Công đồng Vaticanô II, đặc biệt trong Gaudium et Spes, đã có một bước trưởng thành rất quan trọng khi nhìn nhận rằng các thực tại trần thế có những quy luật, giá trị, phương pháp và trật tự riêng mà con người phải học biết và tôn trọng. Thế giới không phải một sân khấu rỗng, nơi Thiên Chúa thỉnh thoảng can thiệp để sửa những điều con người không hiểu. Tạo thành có tính nhất quán bởi chính Thiên Chúa đã dựng nên nó như vậy. Vật lý có quy luật vật lý. Sinh học có phương pháp sinh học. Kinh tế có những cơ chế kinh tế. Xã hội học có phương pháp nghiên cứu xã hội. Nghệ thuật có ngôn ngữ nghệ thuật. Y khoa phải dựa trên chẩn đoán, bằng chứng, kinh nghiệm lâm sàng, không phải chỉ dựa vào một câu đạo đức. Người kỹ sư xây cầu phải tính lực, tải trọng, vật liệu, độ bền; không thể thay công thức kỹ thuật bằng một giờ cầu nguyện rồi nói mình tin Chúa giữ cây cầu khỏi sập. Người bác sĩ không thể bỏ xét nghiệm cần thiết rồi nói bệnh nhân hãy tín thác. Người làm tài chính không thể từ chối học kế toán mà viện cớ mình sống theo Tin Mừng. Người làm nông không thể bỏ hiểu đất, giống, thời tiết, sâu bệnh rồi nói mùa màng thuộc tay Chúa. Chính vì tin rằng Thiên Chúa dựng nên một thế giới có trật tự mà Kitô hữu có thể nghiêm túc với khoa học và chuyên môn.
Đây là một điểm rất quan trọng cho linh đạo giáo dân. Tính tự trị chính đáng của trần thế không cạnh tranh với Thiên Chúa. Nó bắt nguồn từ Thiên Chúa. Một người làm khoa học trung thực không cần phải thêm câu “Chúa bảo thế” vào mỗi kết luận thí nghiệm để chứng minh mình có đức tin. Nếu thí nghiệm được thiết kế tốt, dữ liệu được thu đúng, giả thuyết được kiểm chứng nghiêm túc, sai số được công bố trung thực, thì chính sự tôn trọng chân lý ấy đã có giá trị đạo đức. Nhà khoa học Công giáo không phải người nhét câu Kinh Thánh vào bài nghiên cứu. Nhà khoa học Công giáo trước hết là người không sửa dữ liệu để được công bố, không đạo văn, không giấu kết quả bất lợi, không làm khoa học giả để kiếm lợi, không coi con người như vật liệu thí nghiệm. Đức tin của người ấy không phá phương pháp khoa học; đức tin thanh luyện lương tâm của người làm khoa học và đặt câu hỏi về mục đích sử dụng tri thức.
Cũng vậy, người giáo dân làm chính trị không cần biến mọi diễn văn thành bài giảng. Chính trị có nghệ thuật của thương lượng, luật pháp, thể chế, lợi ích chung, ngân sách, quy trình. Nhưng tính tự trị ấy không có nghĩa chính trị được tự do khỏi đạo đức. Một cuộc bỏ phiếu có thể đúng thủ tục mà vẫn bất công. Một đạo luật có thể được đa số thông qua mà vẫn làm tổn thương phẩm giá con người. Một chính sách có thể hiệu quả kinh tế mà vẫn nghiền nát người yếu thế. Tính tự trị chính đáng không phải là quyền tự phong của trần thế để trở thành tuyệt đối. Nó là quyền của các thực tại được vận hành theo bản chất của chúng, trong trật tự của tạo thành, nhưng vẫn nằm dưới phán xét của sự thật, công lý và phẩm giá con người.
Người giáo dân làm kinh tế cũng vậy. Thị trường có quy luật. Doanh nghiệp phải có doanh thu, chi phí, lợi nhuận, dòng tiền, năng suất, chiến lược. Không thể quản trị một công ty chỉ bằng lòng tốt. Một doanh nghiệp không có lợi nhuận lâu dài thì không thể trả lương, không thể đầu tư, không thể phục vụ khách hàng. Nhưng từ đó không thể suy ra rằng lợi nhuận là tiêu chuẩn tối hậu. Kinh tế có tính tự trị, nhưng không có tính thần thánh. Khi lợi nhuận trở thành tuyệt đối, con người sẽ thành chi phí, lao động thành hàng hóa, thiên nhiên thành kho nguyên liệu vô hạn, người nghèo thành phần dư. Lúc ấy tục hóa đã chuyển từ tự trị chính đáng sang một hình thức ngẫu tượng mới. Không còn thờ thần bằng tượng gỗ, nhưng thờ chỉ số tăng trưởng, cổ phiếu, lợi nhuận, vị thế, năng suất. Tôn giáo có thể biến mất khỏi ngôn ngữ, nhưng sự thờ phượng không biến mất. Con người luôn thờ một cái gì đó. Vấn đề chỉ là cái gì được đặt vào vị trí tuyệt đối.
Vì thế, điều đầu tiên linh đạo giáo dân cần học là đừng sợ tính chuyên môn. Có một thứ đạo đức giả dễ xuất hiện trong môi trường Công giáo: hễ ai nói nhiều câu đạo đức thì được coi là sốt sắng, còn ai âm thầm làm việc rất giỏi, rất trung thực, rất có trách nhiệm thì ít được nhìn nhận về chiều kích thiêng liêng. Điều này phải sửa. Người kỹ sư tính đúng, người kế toán làm sạch sổ sách, người thợ làm đúng tiêu chuẩn, người giáo viên chuẩn bị bài tử tế, người bác sĩ học cập nhật, người nông dân chăm đất đúng kỹ thuật, người công chức xử hồ sơ đúng luật — tất cả những việc ấy có phẩm chất luân lý. Đức tin không miễn cho giáo dân khỏi sự xuất sắc nghề nghiệp. Trái lại, ơn gọi trần thế đòi họ phải đủ giỏi để thực sự phục vụ trần thế từ bên trong.
Không ít người tín hữu đã vô tình làm chứng ngược vì tưởng lòng đạo có thể bù cho sự cẩu thả nghề nghiệp. Đi lễ đều nhưng đi làm trễ. Đọc kinh nhiều nhưng hồ sơ sai liên tục. Nói “xin Chúa chúc lành” nhưng giao hàng kém chất lượng. Treo ảnh thánh trong văn phòng nhưng gian lận thuế. Kinh doanh mang tên Công giáo nhưng đối xử bất công với nhân viên. Một linh đạo trưởng thành phải nói thẳng: Thiên Chúa không cần được bảo vệ bằng sự bất tài của người có đạo. Trần thế có các yêu cầu thật của nó. Người giáo dân được sai vào đó phải tôn trọng các yêu cầu ấy.
Nhưng từ sự tự trị chính đáng của trần thế, xã hội hiện đại có thể đi một bước khác: không chỉ nói “khoa học hãy làm việc theo phương pháp khoa học”, mà nói “chỉ khoa học mới có quyền nói điều có nghĩa”; không chỉ nói “nhà nước không áp đặt một tôn giáo”, mà nói “tôn giáo không được xuất hiện trong không gian công cộng”; không chỉ nói “pháp luật dân sự không phải giáo luật”, mà nói “lập luận tôn giáo mặc nhiên không có giá trị công dân”; không chỉ nói “nghệ thuật có tự do”, mà nói “mọi giới hạn luân lý đều là kiểm duyệt”; không chỉ nói “con người có quyền chọn cách sống”, mà nói “không có chân lý nào về con người ngoài lựa chọn cá nhân”. Đây không còn đơn giản là tự trị. Đây là một ý thức hệ tục hóa theo nghĩa mạnh hơn.
Ở cấp độ này, Thiên Chúa không nhất thiết bị tuyên bố là không tồn tại. Người ta chỉ sắp xếp xã hội sao cho câu hỏi về Thiên Chúa trở thành thừa. Đức tin được phép tồn tại nhưng phải thu nhỏ lại thành sở thích riêng tư. Anh có thể cầu nguyện trong phòng ngủ, nhưng đừng để niềm tin ấy định hướng cách anh hiểu công lý, gia đình, kinh tế, giáo dục, phẩm giá sự sống. Anh có thể đi lễ, nhưng khi bước vào nơi làm việc, nghị trường, trường học, phòng khám hay phòng nghiên cứu, anh phải cư xử như thể niềm tin không liên quan gì tới lương tâm công cộng. Đây là một đòi hỏi không trung lập. Nó thực chất yêu cầu người tín hữu sống hai nhân cách: một nhân cách có Chúa trong nhà thờ và một nhân cách không Chúa ngoài xã hội.
Linh đạo giáo dân không chấp nhận sự phân mảnh ấy. Giáo dân không mang theo một “gói tôn giáo” để áp vào mọi tình huống, nhưng cũng không để đức tin ở cửa khi bước vào thế giới. Đức tin không thay cho chuyên môn, nhưng đức tin định hướng con người sử dụng chuyên môn để làm gì. Đức tin không cung cấp công thức toán học, nhưng đức tin nói rằng gian lận số liệu là sai. Đức tin không đưa ra thiết kế cầu đường, nhưng đức tin buộc người kỹ sư phải đặt sự an toàn con người cao hơn việc tiết kiệm chi phí bất chính. Đức tin không viết ngân sách nhà nước, nhưng đức tin nhắc rằng người nghèo không phải những con số có thể xóa đi cho bảng cân đối đẹp hơn. Đức tin không thay sách giáo khoa y khoa, nhưng đức tin đặt bệnh nhân trước mặt bác sĩ như một con người có phẩm giá, không phải một ca bệnh sinh lợi.
Có một khác biệt lớn giữa “không dùng Thiên Chúa để lấp chỗ trống chuyên môn” và “sống như thể Thiên Chúa không liên quan gì đến đời sống”. Người giáo dân trưởng thành phải đi được giữa hai bờ ấy. Một bên là thứ đạo đức can thiệp thô sơ: chuyện gì cũng lấy một câu Kinh Thánh thay cho suy nghĩ. Bên kia là thứ đời sống phân ly: giữ đạo nhưng thực hành nghề nghiệp như người hoàn toàn vô thần. Ở giữa là con đường Nhập thể: Thiên Chúa không phá hủy nhân tính, Người đi vào nhân tính; ân sủng không xóa tự nhiên, ân sủng chữa lành và nâng tự nhiên lên.
Lớp thứ ba của tục hóa còn sâu hơn: sống như thể Thiên Chúa không có. Đây có lẽ là thách đố lớn nhất, vì nó không nhất thiết xuất hiện dưới hình thức chống đạo. Một người có thể vẫn giữ mọi dấu hiệu Công giáo mà đã sống theo logic vô thần thực hành. Anh ta vẫn đi lễ, vẫn xin lễ, vẫn treo ảnh thánh, vẫn gửi con học giáo lý, nhưng mọi quyết định thực tế đều được điều khiển hoàn toàn bởi tiền, danh, tiện nghi và nỗi sợ mất lợi ích. Khi chọn nghề cho con, câu hỏi duy nhất là thu nhập. Khi chọn người hợp tác, câu hỏi duy nhất là ai có lợi. Khi định cư, câu hỏi duy nhất là chỗ nào dễ sống hơn. Khi tiêu tiền, câu hỏi duy nhất là mình thích gì. Khi giải quyết xung đột, câu hỏi duy nhất là mình thắng hay thua. Khi đối diện một người yếu, câu hỏi duy nhất là họ có ích gì cho mình. Chúa vẫn có mặt trong nghi lễ, nhưng không còn có quyền trên lịch làm việc, ví tiền, tính dục, tham vọng, cách sử dụng quyền lực và cách đối xử người khác.
Đó là tục hóa của nội tâm. Nó nguy hiểm hơn một cuộc tranh luận công khai về vô thần. Người vô thần ít nhất đặt câu hỏi về Thiên Chúa. Người sống vô thần thực hành có thể đã thôi đặt câu hỏi. Anh ta không chống Chúa; anh ta chỉ không cần Chúa. Không cần đến mức cầu nguyện thành việc thêm vào khi còn giờ. Không cần đến mức Chúa Nhật được giữ nếu lịch gia đình không vướng. Không cần đến mức Tin Mừng được lắng nghe nhưng không có quyền sửa quyết định đã chốt. Không cần đến mức khi có khủng hoảng mới nhớ cầu xin, còn khi thành công thì sống hoàn toàn bằng logic tự đủ.
Một trong những dấu chỉ sâu nhất của tục hóa nội tâm là mất cảm thức về giới hạn. Khi không còn Thiên Chúa như Đấng Tuyệt Đối, con người rất dễ tự biến mình thành tuyệt đối. Tôi phải kiểm soát được đời mình. Tôi phải tối ưu hóa mọi thứ. Tôi phải thành công. Tôi phải khỏe. Tôi phải đẹp. Con tôi phải giỏi. Gia đình tôi phải ổn. Công việc phải đi theo kế hoạch. Khi một điều vượt khỏi kiểm soát, con người sụp vì đã đặt mình vào vị trí mà chỉ Thiên Chúa mới có thể đứng. Xã hội tục hóa không chỉ bỏ Chúa; nó trao cho cá nhân một gánh nặng gần như thần linh: tự tạo ý nghĩa, tự định nghĩa căn tính, tự cứu mình, tự hoàn tất mình. Không lạ khi con người có nhiều quyền tự do hơn nhưng cũng dễ kiệt sức hơn.
Linh đạo giáo dân ở đây không phải là trốn khỏi xã hội ấy. Giáo dân vẫn dùng công nghệ, vẫn lập kế hoạch, vẫn xây dựng nghề nghiệp, vẫn kiếm tiền, vẫn nghiên cứu, vẫn đầu tư, vẫn giáo dục con, vẫn làm chính trị. Nhưng họ sống tất cả những điều ấy trong tương quan với Đấng lớn hơn mình. Họ làm kế hoạch nhưng biết kế hoạch không phải Quan Phòng. Họ tiết kiệm nhưng biết tiền không phải cứu độ. Họ chăm sức khỏe nhưng biết thân xác không bất tử. Họ giáo dục con thật tốt nhưng biết con không thuộc sở hữu của mình. Họ lao động chăm chỉ nhưng biết giá trị bản thân không đồng nhất với năng suất. Họ tham gia xã hội nhưng biết mọi quyền lực trần thế đều hữu hạn. Chính ý thức về giới hạn ấy giải phóng con người khỏi sự nô lệ của tự đủ.
Một thách đố nữa của tục hóa là thay đổi ngôn ngữ về thiện và ác. Khi xã hội không còn một chân trời siêu việt chung, điều “đúng” rất dễ được đồng hóa với điều “được chấp nhận”, điều “tốt” với điều “có lợi”, điều “thật” với điều “tôi cảm thấy thật”, điều “có giá trị” với điều “được nhiều người thích”. Ở đây giáo dân cần một lương tâm được đào luyện sâu. Không phải để ngày nào cũng phán xét xã hội, nhưng để không bị cuốn theo xã hội mà không nhận ra. Tục hóa thường không bắt ta chối Chúa trong một biến cố lớn. Nó chỉ yêu cầu ta nhượng bộ từng chút. Một lời nói dối nhỏ để giữ khách hàng. Một khoản tiền ngoài sổ vì ai cũng làm. Một mối quan hệ mập mờ vì “bây giờ người ta bình thường hóa rồi”. Một cách nói ác về người khác vì mạng xã hội thưởng cho sự gây sốc. Một Chúa Nhật bỏ lễ vì cuối tuần quá bận. Một giờ cầu nguyện bỏ vì điện thoại có việc cần xem. Không cái nào tự nó trông như một cuộc bỏ đạo. Nhưng hàng ngàn cái nhỏ cộng lại có thể tạo thành một đời sống không còn chỗ cho Chúa.
Bởi vậy, linh đạo giáo dân trong xã hội tục hóa trước hết phải là linh đạo tỉnh thức. Tỉnh thức không có nghĩa nghi ngờ mọi thứ. Nó có nghĩa biết hỏi: logic nào đang dẫn tôi? Tôi đang làm điều này vì yêu, vì bổn phận, vì sự thật, hay chỉ vì sợ mất? Điều gì đang giữ vai trò tuyệt đối trong đời tôi? Tôi có còn khả năng nói không với một lợi ích vì lương tâm không? Tôi có còn để Lời Chúa sửa kế hoạch không? Tôi có còn cầu nguyện khi không có khủng hoảng không? Tôi có còn giữ Chúa Nhật như dấu chỉ rằng đời mình không thuộc hoàn toàn về lao động và tiêu dùng không? Tôi có biết nghỉ như một thụ tạo, hay chỉ biết ngừng làm khi thân xác không chịu nổi nữa?
Thánh Thể có một vai trò đặc biệt trong cuộc kháng cự thầm lặng ấy. Xã hội tục hóa nói giá trị đến từ sản xuất; Thánh Thể nói trước khi làm gì, con đã được yêu. Xã hội nói thời gian là tiền; Chúa Nhật nói thời gian là quà. Xã hội nói ai mạnh thì thắng; Thánh Thể cho ta một Đức Kitô tự hiến. Xã hội nói tích lũy; Thánh Thể nói bẻ ra và trao ban. Xã hội nói đời sống của con là dự án của con; Thánh Thể nói đời con được nhận và được dâng. Một người giáo dân trung thành với Thánh Thể không phải để trốn đời nhưng để nhận lại tiêu chuẩn mà đi vào đời.
Cầu nguyện hằng ngày cũng vậy. Người ta thường nghĩ vài phút cầu nguyện là quá ít trước một xã hội khổng lồ. Thực ra một phút cầu nguyện thật có thể là một hành vi chống tục hóa rất mạnh, bởi trong phút ấy con người thú nhận: tôi không tự đủ. Tôi không phải chủ tuyệt đối của hôm nay. Tôi cần được ban sự sống. Tôi cần ánh sáng. Tôi cần tha thứ. Tôi cần một Đấng mà tôi không điều khiển được. Một lời nguyện tắt giữa ca làm có thể giữ một người khỏi trở thành cỗ máy. Một lần xét mình trước khi ngủ có thể phá ảo tưởng rằng chỉ hiệu suất trong ngày mới đáng kể. Một lời tạ ơn trước bữa ăn nhắc rằng bánh không chỉ là sản phẩm mua bằng tiền mà cuối cùng vẫn là quà từ đất, mưa, lao động và lòng thương xót của Thiên Chúa.
Gia đình Kitô giáo cũng là một nơi kháng cự tục hóa không bằng khẩu hiệu nhưng bằng nhịp sống. Một gia đình có Chúa không phải gia đình nói đạo suốt ngày. Đó là gia đình trong đó tiền không phải chủ, thành tích không phải thần, con cái không phải dự án danh dự của cha mẹ, người già không phải gánh nặng vô ích, người bệnh không bị loại vì không còn năng suất, tha thứ không bị coi là yếu, một bữa cơm có thể quan trọng hơn một cuộc họp, Chúa Nhật có thể không bị bán hoàn toàn cho mua sắm và giải trí. Những lựa chọn ấy rất nhỏ. Nhưng chính bằng những lựa chọn nhỏ ấy, một gia đình nói với thế giới rằng có một trật tự khác của giá trị.
Cũng cần nhận ra rằng tục hóa không chỉ diễn ra ngoài Hội Thánh. Nó có thể đi vào chính đời sống đạo. Một giáo xứ có thể rất nhiều hoạt động nhưng vận hành hoàn toàn theo logic doanh nghiệp: số người, số tiền, số view, số chương trình, số thành tích. Một hội đoàn có thể nói nhiều về Chúa nhưng tranh quyền như một tổ chức đời. Một người phục vụ mục vụ có thể cầu nguyện trước buổi họp nhưng bên trong chỉ quan tâm vị trí. Một linh mục có thể làm rất nhiều việc “cho Chúa” nhưng sống như thể mọi sự tùy mình, không còn cầu nguyện thật, không còn nghỉ, không còn tin rằng Chúa vẫn làm việc khi mình không làm. Đây là tục hóa nội bộ: ngôn ngữ đạo còn nguyên, nhưng logic vận hành đã hoàn toàn trần thế theo nghĩa khép kín với ân sủng.
Vì vậy, không thể chống tục hóa chỉ bằng việc làm cho xã hội có nhiều biểu tượng tôn giáo hơn. Biểu tượng cần, quyền tự do tôn giáo cần, tiếng nói công cộng của đức tin cần. Nhưng nếu treo thánh giá nhiều mà người tín hữu sống không khác gì logic ích kỷ xung quanh, tục hóa đã thắng ở tầng sâu. Nếu tên trường là Công giáo mà cạnh tranh thành tích bất nhân, tục hóa đã vào. Nếu bệnh viện mang tên thánh nhưng người nghèo bị đối xử như phiền toái, tục hóa đã vào. Nếu doanh nghiệp người Công giáo gian dối như ai, tục hóa đã vào. Nếu gia đình đọc kinh nhưng con cái chỉ nghe cha mẹ nói về tiền và điểm, tục hóa đã vào. Cuộc chiến thực sự không chỉ là giữ biểu tượng, mà là giữ cho Thiên Chúa thật sự có quyền định hình cách ta sống.
Tuy nhiên, cũng phải công bằng với thế giới tục hóa. Trong nhiều xã hội không còn ngôn ngữ tôn giáo mạnh, vẫn có những người sống lòng nhân ái, hy sinh, công chính, bảo vệ người yếu, trung thực nghề nghiệp, chăm sóc thiên nhiên, dấn thân cho hòa bình. Người Kitô hữu không được khinh họ. Thần học về ân sủng rộng hơn biên giới hữu hình mà ta nhìn thấy. Có những khát vọng nhân bản mà Hội Thánh có thể đối thoại sâu sắc: phẩm giá con người, tự do lương tâm, quyền của người yếu, trách nhiệm sinh thái, chống tham nhũng, minh bạch, khoa học chân thật. Không cần gán nhãn Kitô giáo cho mọi điều tốt. Nhưng người tín hữu có thể nhận ra trong đó những mảnh đất nơi Tin Mừng có thể gặp con người.
Đối thoại với tục hóa vì thế không có nghĩa thỏa hiệp mọi giá. Nó có nghĩa phân định. Khi thế giới đòi tự do khỏi sự can thiệp tùy tiện của quyền lực tôn giáo, Hội Thánh có thể học. Khi thế giới đòi tôn trọng phương pháp khoa học, Hội Thánh không cần sợ. Khi thế giới bảo vệ tự do lương tâm, đó là một giá trị có thể được đón nhận. Nhưng khi tự do biến thành phủ nhận mọi chân lý; khi khoa học biến thành duy khoa học; khi nhà nước trung lập biến thành nhà nước thù địch với tôn giáo; khi tự trị biến thành tự đủ; khi quyền cá nhân xóa nghĩa vụ với người khác; khi tiến bộ kỹ thuật không còn câu hỏi “điều này có nên làm không?” mà chỉ hỏi “có làm được không?”, lúc ấy người Kitô hữu phải biết nói không.
Giáo dân là những người đứng đúng tại các giao điểm ấy. Linh mục có thể giảng nguyên tắc luân lý, nhưng chính bác sĩ giáo dân đứng trước một quyết định lâm sàng phức tạp. Thần học gia có thể viết về đạo đức kinh tế, nhưng chính doanh nhân giáo dân phải quyết có ký một hợp đồng mờ ám không. Hội Thánh có thể dạy về công ích, nhưng chính viên chức giáo dân phải chọn có làm ngơ trước tham nhũng không. Giáo hội có thể dạy phẩm giá con người, nhưng chính người quản lý phải quyết định cách đối xử một nhân viên yếu kém. Giáo lý có thể nói về sự thật, nhưng chính nhà báo giáo dân phải chọn có giật tít sai để tăng lượt đọc không. Vì vậy, linh đạo giáo dân trong xã hội tục hóa không thể chỉ cung cấp khẩu hiệu. Nó phải đào tạo lương tâm đủ sâu để quyết định trong những vùng xám.
Có những tình huống không có một câu trả lời Kinh Thánh trực tiếp. Không có câu nào nói rõ nên chọn phần mềm nào, mức lương bao nhiêu là hợp lý, chính sách thuế nào tối ưu, công nghệ AI nào được triển khai trong doanh nghiệp, một thành phố nên xây bao nhiêu đường hay bệnh viện. Giáo dân phải sử dụng lý trí, dữ liệu, chuyên môn, tham vấn và sự khôn ngoan thực tế. Nhưng họ làm thế trước mặt Chúa. Đây là khác biệt. Người có đức tin không phải lúc nào cũng có nhiều dữ liệu hơn người khác. Nhưng họ biết mình sẽ phải trả lời về cách sử dụng dữ liệu ấy. Họ biết người yếu không chỉ là biến số. Họ biết có những điều không được làm dù có lợi. Họ biết thất bại đạo đức nghiêm trọng hơn thất bại kinh tế. Họ biết thành công không cứu linh hồn.
Trong một xã hội tục hóa, chứng tá mạnh nhất nhiều khi không phải là tranh luận. Đó là một người sống khác đủ để người khác đặt câu hỏi. Một bác sĩ không bỏ bệnh nhân nghèo. Một doanh nhân không đưa phong bì dù mất hợp đồng. Một người trẻ từ chối một mối quan hệ hạ phẩm giá người khác. Một công chức trả lại tiền không phải của mình. Một người quản lý nhận lỗi thay vì đổ xuống cấp dưới. Một gia đình sinh con và nuôi con trong tình yêu giữa một văn hóa chỉ tính chi phí. Một người chăm cha mẹ già khi xã hội coi đó là gánh nặng. Một người nghỉ Chúa Nhật không vì lười nhưng vì biết mình không phải nô lệ của sản xuất. Những hành vi ấy không cần treo bảng “Công giáo”. Nhưng chúng làm lộ ra một nguồn khác.
Điều giáo dân phải tránh là thái độ bao vây. Khi coi tục hóa là kẻ thù hoàn toàn, người tín hữu dễ co cụm vào cộng đồng của mình, chỉ đọc điều mình đã đồng ý, chỉ nói với người cùng quan điểm, nhìn người ngoài như nguy cơ. Linh đạo như thế càng ngày càng thiếu tính truyền giáo. Đức Giêsu không thiết lập một khu vực vô trùng. Người ăn với người tội lỗi, nói chuyện với phụ nữ Samari, bước vào nhà người thu thuế, chữa người ngoại, đối thoại với người nghi ngờ. Người không bị thế gian nuốt vì Người thuộc trọn về Chúa Cha. Chính vì căn tính đủ vững mà Người có thể ở rất gần.
Đó là chìa khóa cho giáo dân hôm nay: không phải dựng khoảng cách trước hết, nhưng đào sâu sự thuộc về. Nếu thuộc về Đức Kitô mỏng, người ta phải giữ mình bằng hàng rào. Nếu thuộc về Đức Kitô sâu, người ta có thể đi rất xa mà không mất mình. Một sinh viên có thể học trong môi trường hoàn toàn thế tục mà vẫn giữ đức tin. Một nhà nghiên cứu có thể làm việc với đồng nghiệp không tin Chúa mà không mặc cảm. Một nghệ sĩ có thể sống giữa một thế giới nhiều quan niệm khác mà vẫn sáng tạo từ một nhân sinh quan Kitô giáo sâu. Một chính trị gia có thể đối thoại với người bất đồng mà không bán lương tâm. Một người trẻ có thể dùng mạng xã hội rất nhiều mà vẫn không để thuật toán quyết định giá trị bản thân. Điều giữ họ không phải là tránh mọi tiếp xúc, mà là có một trung tâm không bị di chuyển.
Trung tâm ấy cần được nuôi bằng những điều rất cổ điển: Lời Chúa, bí tích, cầu nguyện, cộng đoàn, giáo huấn Hội Thánh, tình bạn đức tin, xét mình. Trong xã hội tục hóa, những thực hành ấy càng không thể coi là phụ. Không phải vì thế giới quá xấu, nhưng vì lực kéo của thế giới rất mạnh. Mỗi môi trường đều huấn luyện ta. Quảng cáo huấn luyện ta muốn. Mạng xã hội huấn luyện ta so sánh. Thị trường lao động huấn luyện ta cạnh tranh. Thuật toán huấn luyện ta phản ứng nhanh. Văn hóa tiêu dùng huấn luyện ta thay thứ cũ bằng thứ mới. Nếu không có một trường ngược lại, ta sẽ bị đào tạo mà không biết. Cầu nguyện dạy chậm. Lời Chúa dạy nghe. Thánh Thể dạy nhận và trao. Xưng tội dạy gọi tội là tội. Ngày Chúa Nhật dạy nghỉ. Cộng đoàn dạy rằng người khác không phải khán giả hay đối thủ.
Tục hóa cũng đặt ra một câu hỏi khó cho việc truyền giáo: làm sao nói về Thiên Chúa với người không còn thấy mình cần Thiên Chúa? Ngày xưa, nhiều người ít nhất chia sẻ một trực giác rằng đời có chiều siêu việt. Hôm nay, có người có thể sống nhiều năm mà không hề đặt câu hỏi ấy. Họ không thù Chúa. Chúa đơn giản không nằm trong bản đồ của họ. Với họ, truyền giáo không thể chỉ bắt đầu bằng câu trả lời cho những câu họ không hỏi. Giáo dân, nhờ sống chung môi trường, có khả năng nhận ra những câu hỏi ẩn dưới đời sống hiện đại: tại sao thành công vẫn trống? tại sao kết nối nhiều mà cô đơn? tại sao có tự do mà không biết chọn gì? tại sao có đủ mà vẫn sợ thiếu? tại sao đời càng được kiểm soát mà càng lo? tại sao yêu khó bền? tại sao tha thứ khó thế? tại sao cái chết vẫn là bức tường không vượt được? Những câu hỏi ấy có thể là cửa mở cho Tin Mừng.
Người giáo dân truyền giáo giữa tục hóa không nhất thiết phải bắt đầu bằng một bài giáo lý. Có khi phải bắt đầu bằng tình bạn, uy tín, sự hiện diện, khả năng lắng nghe, một đời sống có sự bình an mà người khác không hiểu nguồn ở đâu. Khi đồng nghiệp hỏi: “Sao chuyện này mà anh không gian?” — đó là một khe cửa. Khi người ta hỏi: “Sao chị vẫn chăm mẹ như vậy?” — đó là một khe cửa. Khi người ta thấy một gia đình trải qua khủng hoảng mà không tan — đó là một khe cửa. Khi người ta gặp một người có quyền mà không kiêu — đó là một khe cửa. Truyền giáo trong xã hội tục hóa thường đi qua sự đáng tin trước khi đi qua lý luận.
Nhưng rồi cũng sẽ có lúc phải nói. Kitô giáo không chỉ là sống tốt. Một người tín hữu phải có khả năng nói vì sao mình hy vọng. Không cần ngôn ngữ kỹ thuật. Chỉ cần có thể nói đơn sơ: tôi tin đời mình là quà; tôi tin mình được tha; tôi tin Đức Kitô đã chết và sống lại; tôi tin cái chết không phải tiếng cuối; tôi tin người này có phẩm giá vì họ thuộc về Thiên Chúa; tôi tha thứ vì tôi đã được tha. Nếu người giáo dân chỉ sống tử tế mà không bao giờ có khả năng nối sự tử tế ấy với Đức Kitô, thế giới có thể ngưỡng mộ họ mà không bao giờ nghe Tin Mừng.
Tục hóa không tự động là thù. Nhưng cũng không tự động là trung lập. Nó là một môi trường phải phân định. Có trong đó những thành quả của lý trí, tự do, khoa học và sự trưởng thành của các thực tại trần thế mà người Kitô hữu có thể vui mừng. Có trong đó những ý thức hệ muốn khép thế giới vào chính nó mà người Kitô hữu phải chống lại. Có trong đó một bầu khí sống không cần Thiên Chúa mà người tín hữu phải nhận ra trước hết nơi chính mình. Không phải mọi thành tựu hiện đại là phản đạo. Không phải mọi giá trị cổ truyền đều tự động là Kitô giáo. Không phải cái gì xã hội mới nói cũng sai. Không phải cái gì được gắn nhãn tôn giáo cũng đúng. Phân định khó hơn kết án toàn bộ, nhưng đó chính là việc của người trưởng thành.
Linh đạo giáo dân không gọi người tín hữu đứng ngoài thế giới để phán xét nó. Cũng không gọi họ tan vào thế giới để khỏi khác người. Nó gọi họ ở bên trong mà không thuộc về những gì chống lại Nước Chúa. Họ học ngôn ngữ thời đại nhưng không để thời đại viết lại Tin Mừng. Họ dùng kỹ thuật nhưng không thờ kỹ thuật. Họ tôn trọng khoa học nhưng không biến khoa học thành siêu hình học. Họ tham gia thị trường nhưng không bán lương tâm. Họ bảo vệ tự do nhưng không tách tự do khỏi chân lý. Họ tôn trọng nhà nước thế tục nhưng không chấp nhận một nhà nước coi niềm tin tôn giáo là công dân hạng hai. Họ yêu thế giới như tạo thành của Thiên Chúa và cùng lúc biết thế giới này vẫn cần cứu chuộc.
Có lẽ một trong những hình ảnh đẹp nhất cho linh đạo ấy là men trong bột. Men không đứng ngoài bột. Men cũng không biến thành bột. Nó đi vào, ở giữa, âm thầm tác động từ bên trong. Muối cũng vậy. Muối không được giữ trong lọ để khỏi nhiễm bẩn. Muối được bỏ vào thức ăn. Ánh sáng không được che trong nơi an toàn. Ánh sáng phải đặt lên giá. Những hình ảnh Tin Mừng ấy không hợp với một Kitô giáo sợ tục hóa đến mức rút lui. Nhưng chúng cũng không hợp với một Kitô giáo hòa tan đến mức không còn vị.
Điều giáo dân cần xin không phải là một thế giới không tục hóa, nhưng là ơn sống trung tín trong thế giới mình đang có. Xin cho họ có trí khôn để phân biệt tự trị chính đáng với tự đủ kiêu căng. Xin cho họ đủ chuyên môn để không làm nhục đức tin bằng sự cẩu thả. Xin cho họ đủ nội tâm để không bị dòng đời định nghĩa. Xin cho họ đủ can đảm để nói không khi điều sai đã thành bình thường. Xin cho họ đủ khiêm nhường để học từ những điều tốt nơi người không cùng đức tin. Xin cho họ đủ tình yêu để không biến người khác thành kẻ thù ý thức hệ. Và trên hết, xin cho họ ở lại trong Đức Kitô sâu đến mức có thể ở giữa một thế giới sống như không có Chúa mà chính họ vẫn sống mọi sự trước mặt Chúa.
Đó là điểm phân biệt sau cùng. Người Kitô hữu không nhất thiết làm mọi việc khác người. Họ có thể dùng cùng máy móc, cùng phương pháp, cùng khoa học, cùng hệ thống pháp luật, cùng công cụ quản trị, cùng nền tảng kỹ thuật số. Nhưng họ sống trước một Cái Nhìn. Họ biết có Đấng thấy điều kín đáo. Họ biết đời không dừng ở lợi nhuận. Họ biết người bên cạnh là anh chị em trước khi là khách hàng, đối thủ hay dữ liệu. Họ biết sự thật đáng giữ ngay khi làm mình thiệt. Họ biết tha thứ có ý nghĩa dù không được đáp lại. Họ biết hy sinh không mất. Họ biết cái chết không phải cuối cùng. Chính cái “sống trước mặt Thiên Chúa” ấy là đường biên sâu nhất giữa một đời sống bị tục hóa nuốt trọn và một đời sống giáo dân thực sự thánh thiện giữa trần thế.
Tục hóa vì thế không phải một tiếng còi báo động để giáo dân chạy về phía nhà thờ và đóng cửa. Nó là một trong những hoàn cảnh lịch sử mà Chúa đặt giáo dân vào để sống sứ mạng của mình. Họ không được sai đến một thế giới lý tưởng. Họ được sai đến thành phố này, nền kinh tế này, văn hóa số này, trường học này, công ty này, gia đình này, hệ thống chính trị này. Chính ở đó họ học phân định đâu là tự trị phải tôn trọng, đâu là ngẫu tượng phải từ chối, đâu là vết thương phải chữa, đâu là hạt giống Tin Mừng phải vun trồng. Và chính ở đó, bằng một đời sống có Chúa nhưng không phô Chúa như khẩu hiệu, họ làm chứng rằng thế giới trưởng thành không cần phải là thế giới vô thần; khoa học phát triển không cần phải giết mầu nhiệm; tự do lớn lên không cần phải cắt đứt khỏi chân lý; và con người có thể bước rất sâu vào trần thế mà vẫn thuộc trọn về Thiên Chúa.
CHƯƠNG 32. ĐA NGUYÊN: LÀM CHỨNG MÀ KHÔNG CHIẾM LĨNH
Người giáo dân hôm nay sống trong một thế giới mà rất hiếm khi mọi người chung quanh cùng tin một điều, cùng nghĩ một cách, cùng nhìn con người, gia đình, xã hội, đạo đức và tương lai bằng một hệ quy chiếu. Trong cùng một công ty có thể có người Công giáo, Phật giáo, Tin Lành, người theo một truyền thống tôn giáo khác, người không thực hành tôn giáo nào, người tự nhận bất khả tri, người không tin có Thiên Chúa, người tìm kiếm mà chưa biết mình tìm gì. Trong cùng một gia đình mở rộng có thể có người rất đạo, người nguội lạnh, người đã bỏ thực hành đức tin, người kết hôn với người khác tôn giáo, người con được giáo dục trong môi trường hoàn toàn khác cha mẹ. Trong cùng một lớp học, một bệnh viện, một hội đồng nghề nghiệp, một khu phố, một diễn đàn mạng, người ta có thể bất đồng về gần như mọi vấn đề lớn của đời sống. Đó không còn là ngoại lệ. Đó là điều kiện bình thường của đời sống giáo dân trong thế giới hiện đại. Vì thế, linh đạo giáo dân không thể chỉ dạy người tín hữu cách sống khi tất cả chung quanh đều nghĩ giống mình. Nếu chỉ biết giữ đạo trong một môi trường đồng nhất, người ta sẽ lúng túng ngay khi bước ra đời thật. Câu hỏi lớn không còn chỉ là: tôi giữ đức tin thế nào? Nhưng còn là: tôi sống đức tin thế nào giữa những người không chia sẻ đức tin của tôi mà vẫn tôn trọng họ, cộng tác với họ, yêu thương họ và không đánh mất điều mình tin? Tôi làm chứng cho Đức Kitô thế nào mà không biến người khác thành đối tượng phải bị khuất phục? Tôi trung thành thế nào mà không khép kín? Tôi đối thoại thế nào mà không pha loãng Tin Mừng? Tôi bênh vực điều thiện thế nào mà không dùng cái thiện như một cây gậy đạo đức để đánh người khác? Đó là những câu hỏi không phải của ngoại giao xã hội nhưng của chính đời sống thiêng liêng.
Kitô giáo không sinh ra từ một chương trình chiếm lĩnh xã hội bằng sức mạnh. Đức Giêsu không lập đạo bằng quân đội. Người không ép ai theo mình. Người gọi: “Hãy theo tôi”, nhưng cũng để người thanh niên giàu có buồn rầu bỏ đi. Người loan báo Nước Thiên Chúa với uy quyền, nhưng không cưỡng bách lương tâm. Người nói sự thật đến tận cùng, nhưng sự thật ấy mang hình thập giá chứ không mang hình thanh kiếm. Khi bị từ chối tại một làng Samaria và các môn đệ muốn gọi lửa từ trời xuống thiêu hủy người ta, Đức Giêsu đã quở trách họ. Khi Phêrô rút gươm trong vườn Cây Dầu, Người truyền tra gươm vào vỏ. Trên thập giá, trước những người đang giết mình, Người không nguyền rủa mà cầu xin: “Lạy Cha, xin tha cho họ.” Nếu Đức Kitô là mẫu mực của sứ mạng, thì sứ mạng Kitô giáo không bao giờ được hiểu trước hết như việc bắt người khác thua mình. Người Kitô hữu có thể tranh luận, có thể phản biện, có thể bảo vệ chân lý, có thể chống bất công, có thể tham gia luật pháp và đời sống chính trị; nhưng họ không được mang trong lòng cái khoái cảm được thống trị người khác nhân danh Thiên Chúa. Một Kitô hữu muốn người khác bị cưỡng ép để trở thành “đúng” theo mình đã quên rằng chính Thiên Chúa tôn trọng tự do của con người đến mức chấp nhận bị con người từ chối.
Điều này không có nghĩa Công giáo chấp nhận chủ nghĩa tương đối, như thể mọi niềm tin đều giống nhau, mọi quan niệm đạo đức đều ngang nhau và chân lý chỉ là sở thích cá nhân. Đối thoại không có nghĩa là nói: anh đúng theo kiểu anh, tôi đúng theo kiểu tôi, không có gì để tìm nữa. Nếu không có chân lý thì cũng chẳng còn gì để đối thoại. Người ta chỉ trao đổi sở thích. Đối thoại đích thực giả thiết rằng sự thật đáng được tìm, con người có khả năng nhận ra ít nhiều sự thật, và không ai sở hữu sự thật theo kiểu sở hữu một đồ vật để dùng đánh người khác. Người Kitô hữu tin rằng chân lý trọn vẹn được tỏ lộ nơi Đức Giêsu Kitô. Nhưng chính vì tin Đức Kitô là Chân Lý, họ phải học cách mang chân lý theo cung cách của Đức Kitô. Chân lý Kitô giáo không chỉ nằm trong nội dung câu nói mà còn trong cách người tín hữu nói câu ấy. Nói đúng một giáo lý bằng kiêu ngạo có thể làm chứng sai về Đấng mà giáo lý ấy nói tới. Bảo vệ Tin Mừng bằng khinh miệt có thể khiến người khác nhìn thấy sự khinh miệt mà không nhìn thấy Tin Mừng. Có người thắng một cuộc tranh luận nhưng làm thua một con người. Có người chứng minh được đối phương sai nhưng khiến đối phương kết luận rằng đạo Công giáo là nơi người ta thích làm cho người khác nhục. Đó không phải thành công truyền giáo.
Thánh Phêrô đưa ra một nguyên tắc rất đẹp: hãy luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em, nhưng phải trả lời với sự hiền hòa và kính trọng. Hai vế ấy phải đứng chung. “Sẵn sàng trả lời” nghĩa là người Kitô hữu không mù mờ về đức tin mình, không xấu hổ về Đức Kitô, không im lặng chỉ vì sợ bị cho là lạc hậu. Nhưng “hiền hòa và kính trọng” nghĩa là cách làm chứng cũng thuộc về nội dung của chứng tá. Không được viện câu “tôi nói sự thật” để hợp thức hóa thô bạo. Không được nhân danh “bảo vệ đức tin” để chế nhạo người khác. Không được lấy lòng nhiệt thành thay cho nhân đức khôn ngoan. Không được biến mạng xã hội thành võ đài nơi danh Chúa trở thành khẩu hiệu của phe mình. Nếu lời ta về Đức Kitô làm ta ngày càng cay độc, điều đầu tiên cần xét lại không phải Đức Kitô mà là cách ta đang sử dụng danh Người.
Đa nguyên vì thế là một trường khổ chế. Trong một xã hội đồng nhất, người ta có thể giữ căn tính nhờ môi trường. Trong một xã hội đa nguyên, người ta phải giữ căn tính từ bên trong. Khi mọi người chung quanh đều đi lễ, một người đi lễ chưa chắc đã cho thấy đức tin sâu. Nhưng khi nhiều người không đi mà mình vẫn đi, không phải vì bị ép, không vì sợ tiếng xấu, nhưng vì yêu mến Thánh Thể, đức tin trở nên một chọn lựa cá vị. Khi cả môi trường nói rằng trung thực là ngây thơ, mà người Kitô hữu vẫn trung thực, lúc ấy đức tin có thịt. Khi người khác chế giễu sự khiết tịnh, lòng chung thủy, việc tha thứ, việc giữ ngày Chúa Nhật, mà người tín hữu không nổi nóng cũng không buông bỏ, căn tính Kitô giáo trở nên trưởng thành. Đa nguyên có thể làm đức tin yếu đi nếu người ta không có rễ. Nhưng đa nguyên cũng có thể thanh luyện đức tin khỏi thói quen xã hội. Nó buộc người tín hữu phải biết tại sao mình tin, tại sao mình sống khác, tại sao mình vẫn yêu những người không đồng ý với mình.
Một người giáo dân trưởng thành không sợ người khác suy nghĩ. Đức tin không cần được bảo vệ bằng việc ngăn mọi câu hỏi. Trái lại, nhiều người chỉ thật sự trưởng thành khi đã đi qua những câu hỏi khó. Người tín hữu không nên hoảng hốt khi con mình hỏi tại sao phải tin Thiên Chúa, tại sao Hội Thánh dạy điều này, tại sao bạn bè con không tin mà vẫn sống tử tế, tại sao tôn giáo khác cũng có người tốt, tại sao có những Kitô hữu sống xấu. Những câu hỏi ấy không phải lúc nào cũng là dấu hiệu phản loạn. Nhiều khi chúng là cửa đi vào một đức tin trưởng thành. Cha mẹ không biết thì có thể nói: cha mẹ chưa biết, cùng tìm hiểu. Linh mục không biết thì có thể nói: tôi cần đọc thêm. Giáo lý viên không biết thì đừng bịa. Khi một cộng đoàn coi mọi câu hỏi là đe dọa, người trẻ sẽ học rằng đức tin chỉ sống được trong phòng kín. Nhưng nếu đức tin là chân thật, nó không sợ ánh sáng. Kitô giáo đã đi qua bao thế kỷ tranh luận triết học, thần học, khoa học, văn hóa. Điều làm đức tin mất uy tín không phải là có câu hỏi, nhưng là người tín hữu giả vờ mình có câu trả lời cho mọi thứ.
Đa nguyên cũng buộc người Công giáo phân biệt giữa làm chứng và chiếm lĩnh. Làm chứng nói: tôi tin điều này, tôi sống điều này, tôi muốn giải thích tại sao, tôi mời anh nhìn xem điều tôi đã gặp nơi Đức Kitô. Chiếm lĩnh nói: tôi phải làm cho không gian chung vận hành như thể chỉ có tôi tồn tại. Làm chứng muốn chân lý được nhận ra trong tự do. Chiếm lĩnh muốn sự đồng thuận được tạo ra bằng sức ép. Làm chứng tôn trọng lương tâm. Chiếm lĩnh chỉ quan tâm kết quả bên ngoài. Một xã hội có thể đầy biểu tượng Kitô giáo mà rất ít người sống Tin Mừng. Một cơ quan có thể treo thánh giá nhưng bên trong tham nhũng. Một gia đình có thể bắt mọi đứa trẻ đọc kinh nhưng người lớn đối xử với nhau bằng bạo lực. Một trường học có thể mang tên Công giáo nhưng coi thường người nghèo. Một quốc gia có thể có truyền thống Kitô giáo mà luật mạnh hiếp yếu. Bởi vậy, không được nhầm sự hiện diện văn hóa của Kitô giáo với sự hiện diện thật của Nước Thiên Chúa.
Tuy nhiên, từ bỏ chiếm lĩnh không đồng nghĩa với rút khỏi đời sống công cộng. Có một kiểu hiểu sai về xã hội đa nguyên: tôn giáo phải biến thành chuyện hoàn toàn riêng tư. Anh muốn tin gì thì tin trong nhà, nhưng ra ngoài thì đừng để đức tin ảnh hưởng đến quyết định của anh. Cách hiểu ấy cũng không công bằng. Người giáo dân không có hai con người: một con người Công giáo trong nhà thờ và một con người “trung lập tuyệt đối” ngoài xã hội. Đức tin định hình lương tâm, cách nhìn phẩm giá con người, tiền bạc, quyền lực, lao động, gia đình, người nghèo, môi trường, hòa bình, sự sống. Đòi người tín hữu bỏ mọi xác tín tôn giáo trước khi bước vào đời sống công cộng thực chất là đòi họ để lương tâm ở nhà. Người giáo dân có quyền và có bổn phận đem những xác tín đạo đức đã được đức tin soi sáng vào đời sống xã hội, miễn là họ không dùng bạo lực hay cưỡng bách lương tâm người khác. Họ tham gia bằng lập luận, bằng lá phiếu, bằng nghề nghiệp, bằng hoạt động xã hội, bằng sáng kiến kinh tế, bằng phục vụ công ích, bằng cách sống. Họ không xin một đặc quyền để khỏi phải thuyết phục ai. Họ chấp nhận bước vào không gian chung, trình bày điều mình tin bằng ngôn ngữ người khác có thể hiểu, lắng nghe phản biện và cùng tìm điều thiện chung.
Đây là một kỹ năng rất cần trong linh đạo giáo dân: chuyển từ ngôn ngữ nội bộ sang ngôn ngữ của công ích mà không phản bội căn tính. Trong nhà thờ, ta có thể nói rằng con người có phẩm giá vì được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa. Trong một hội đồng xã hội có nhiều người không tin Thiên Chúa, ta vẫn có thể bảo vệ cùng phẩm giá ấy bằng ngôn ngữ quyền con người, sự bất khả xâm phạm của nhân vị, bình đẳng pháp lý và công bằng. Điều đó không phải che giấu đức tin. Đó là tìm điểm gặp của lý trí chung. Người giáo dân giỏi không phải chỉ biết trích giáo huấn Hội Thánh cho người đã đồng ý. Họ phải biết suy nghĩ bằng giáo huấn ấy để có thể nói với xã hội rộng hơn. Nếu chỉ nói được bằng khẩu hiệu nội bộ, ta chưa thật sự đi vào trần thế.
Đối thoại liên tôn cũng nằm ở đây. Người Công giáo không cần giả vờ mọi tôn giáo đều giống nhau để sống hòa bình. Chúng khác nhau thật. Khác trong cách hiểu Thiên Chúa, mạc khải, cứu độ, con người, lịch sử, cầu nguyện. Đối thoại nghiêm túc không che các khác biệt ấy. Nhưng chính vì khác thật nên đối thoại mới có ý nghĩa. Nếu mọi người đều giống nhau, chẳng cần đối thoại. Người tín hữu có thể nói rõ: tôi tin Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu Độ. Đồng thời họ có thể ngồi uống trà với người Phật tử, làm việc thiện với người Tin Lành, bảo vệ người Hồi giáo bị kỳ thị, cộng tác với người không tôn giáo trong việc giúp người nghèo. Không có gì trong việc ấy làm họ bớt Công giáo. Trái lại, nếu căn tính Công giáo chỉ tồn tại bằng cách tránh người khác, thì căn tính ấy còn rất mong manh.
Đức Giêsu trong Tin Mừng thường xuyên bước qua những biên giới xã hội và tôn giáo. Người nói chuyện với phụ nữ Samaria. Người khen đức tin của viên đại đội trưởng ngoại giáo. Người đặt một người Samaria vào trung tâm dụ ngôn về lòng thương xót. Người không sợ bị ô uế vì gặp người khác. Đó là một bài học sâu cho giáo dân sống trong xã hội đa dạng. Căn tính mạnh không cần dựng tường mọi nơi. Người biết mình thuộc về ai có thể bước sang phía người khác mà không mất mình. Trái lại, người luôn sợ gặp khác biệt thường là người chưa chắc về căn tính của mình. Giáo dân cần được đào tạo để có một đức tin đủ chắc mà không giòn. Giòn là cứng nhưng dễ vỡ. Chắc là có rễ nên có thể uốn trước gió mà không bật gốc.
Cái khó nhất của đa nguyên không phải gặp người khác tôn giáo ở ngoài xã hội. Cái khó nhất nhiều khi là gặp người khác quan điểm ngay trong gia đình. Một người mẹ đạo đức có con không còn đi lễ. Một người chồng sốt sắng có vợ thờ ơ. Một gia đình có con kết hôn với người khác đạo. Một người trẻ học đại học rồi đặt lại nhiều câu hỏi. Trong những tình huống ấy, cám dỗ đầu tiên là kiểm soát. Cha mẹ càng sợ mất đức tin của con càng dễ nói nhiều, ép nhiều, kiểm tra nhiều. Nhưng có lúc lời nói không còn đi vào được nữa. Điều còn có thể nói chính là đời sống. Một người con đã bỏ nhà thờ vẫn nhìn cách cha mẹ đối xử với nhau, cách cha mẹ nói về người khác, cách cha mẹ chịu đau, cách cha mẹ dùng tiền. Nếu đời sống ấy có Tin Mừng, một cánh cửa vẫn còn mở. Nếu cha mẹ đọc kinh rất nhiều nhưng cay độc, đạo đức trở thành lý do để người con đi xa hơn.
Làm chứng vì vậy trước hết là trở thành dấu chỉ đáng tin. Người ta có thể bác bỏ lập luận của ta, nhưng khó bác bỏ một đời sống tử tế nhất quán. Không có nghĩa đời sống tốt tự nó thay thế việc rao giảng Đức Kitô. Có lúc cần nói tên Người. Có lúc phải giải thích điều mình tin. Nhưng lời nói chỉ có trọng lượng khi đời sống không phản chứng. Một bác sĩ Công giáo chăm người nghèo tận tâm đang làm chứng. Một doanh nhân trả lương công bằng đang làm chứng. Một giáo viên không làm nhục học sinh đang làm chứng. Một công chức từ chối phong bì đang làm chứng. Một người mẹ chăm cha mẹ già đang làm chứng. Một người trẻ không hùa vào bắt nạt người yếu đang làm chứng. Một người chủ tôn trọng lao động khác tôn giáo đang làm chứng. Có thể chưa ai hỏi họ về Đức Kitô. Nhưng chính đời sống ấy làm nảy sinh câu hỏi: tại sao anh sống như vậy? Lúc ấy lời giải thích về niềm hy vọng mới đi vào đất đã được cày.
Trong xã hội đa nguyên, việc tôn trọng tự do tôn giáo của người khác cũng là một phần chứng tá Công giáo. Ta không thể đòi tự do cho mình mà không muốn tự do cho người khác. Không thể xin quyền xây nhà thờ mà lại vui khi người khác bị ngăn cản nơi thờ phượng hợp pháp. Không thể phàn nàn khi Kitô hữu bị chế nhạo rồi quay sang chế nhạo niềm tin của người khác. Công lý không phải đặc quyền của phe ta. Nếu phẩm giá lương tâm là thật, nó phải đúng cả khi lương tâm người kia không đi đến kết luận giống ta. Tôn trọng lương tâm không có nghĩa mọi quyết định của lương tâm đều đúng khách quan. Nó có nghĩa con người không được cưỡng bách đi ngược lương tâm của mình và cũng không được cản trở cách bất công khi sống theo lương tâm trong giới hạn của công ích và quyền của người khác.
Điều này đòi người giáo dân một đức khiêm nhường trí thức. Người Công giáo tin Hội Thánh nhận được kho tàng đức tin, nhưng từng cá nhân Công giáo không vì thế mà biết hết mọi sự. Có những vấn đề kinh tế mà một người ngoài Công giáo hiểu hơn ta. Có những câu chuyện lịch sử mà ta chỉ biết một phía. Có những kinh nghiệm đau khổ của người khác ta chưa từng sống. Có những vấn đề khoa học cần chuyên môn. Có những tranh luận chính trị mà cả hai phía đều có những dữ kiện đáng nghe. Tin vào mạc khải không làm ta miễn khỏi việc học. Trung thành với giáo lý không cho phép ta nói điều vô căn cứ. Người tín hữu khiêm nhường có thể nói rất chắc về điều Hội Thánh thật sự dạy và rất dè dặt về điều mình chưa biết. Đó là dấu trưởng thành.
Đa nguyên còn thử lòng bác ái của ta khi người khác không chỉ khác mà còn chống. Yêu người đồng ý với mình thì dễ. Giữ sự hiền hòa với người chế nhạo đức tin mới khó. Mạng xã hội làm điều này đặc biệt khốc liệt. Một câu xúc phạm có thể làm ta tức giận và vài phút sau ta đáp trả bằng một câu còn độc hơn, rồi gọi đó là “bảo vệ đạo”. Nhưng khi cách bảo vệ Đức Kitô giống hoàn toàn cách người đời công kích nhau, đâu còn chứng tá? Người giáo dân phải tập một kỷ luật mới: không trả lời ngay khi đang nóng, không chia sẻ bài chỉ vì nó đánh trúng phe mình, kiểm tra sự thật trước khi phát tán, phân biệt con người với quan điểm, không cắt một câu ra khỏi bối cảnh để làm người khác xấu đi, không vui khi đối thủ bị nhục. Có những cuộc tranh luận tốt nhất ta nên rời khỏi. Không phải vì không có lý, nhưng vì linh hồn đang bắt đầu hỏng.
Đa nguyên không xóa sứ mạng truyền giáo. Trái lại, nó làm sứ mạng trở về đúng bản chất. Truyền giáo không phải dự án biến mọi người thành giống ta. Truyền giáo là đưa người ta đến gặp Đức Kitô. Không phải để ta thắng thêm một người, nhưng để một người nhận ra mình được Thiên Chúa yêu. Không phải tích lũy số người thuộc phe, nhưng sinh môn đệ. Chúa không cần ta tô đẹp Tin Mừng bằng thủ thuật. Tin Mừng có sức của nó. Phần ta là nói thật, sống thật, yêu thật và để Thánh Thần hành động nơi tự do người khác.
Điều đó cũng giải thoát người truyền giáo khỏi nóng ruột. Ta không làm ai hoán cải. Ta có thể làm chứng, giải thích, mời, cầu nguyện, đồng hành. Hoán cải là công việc của ân sủng và tự do. Có người nghe một lần đã mở lòng. Có người cần hai mươi năm. Có người đến cuối đời. Có người ta không bao giờ thấy kết quả. Nếu ta nghĩ trách nhiệm của mình là phải làm cho người kia đổi ngay, ta sẽ sớm dùng áp lực. Nếu biết kết quả thuộc về Thiên Chúa, ta có thể kiên nhẫn. Người giáo dân sống cạnh một người không tin trong ba mươi năm có thể trở thành bài giảng dài nhất người ấy từng nghe.
Có một nghệ thuật rất tinh tế: biết khi nào nói và khi nào im. Không phải mọi cuộc gặp đều phải biến thành bài giáo lý. Không phải mỗi đồng nghiệp khác đạo đều cần được ta thuyết giảng trong giờ ăn trưa. Sự thiếu tế nhị có thể làm sứ mạng thành khó chịu. Đức Giêsu có lúc nói. Có lúc hỏi. Có lúc ăn cùng. Có lúc chữa lành. Có lúc im lặng. Giáo dân cần học đọc tình huống. Khi người khác đang đau vì mất người thân, có khi điều cần nhất chưa phải một bài giải thích về ý Chúa mà là ngồi bên. Khi người đồng nghiệp kể mình bị tổn thương bởi một người Công giáo, đừng lập tức bảo vệ Hội Thánh. Hãy nghe. Khi người trẻ hỏi thật, hãy trả lời thật. Khi họ chỉ muốn khiêu khích, có thể không cần vào trận. Khôn ngoan cũng là một nhân đức truyền giáo.
Đồng thời, đừng biến sự tế nhị thành hèn nhát. Có người viện cớ “tôn trọng” để không bao giờ nói mình là Kitô hữu, không bao giờ làm dấu thánh giá, không bao giờ nói về đức tin, không bao giờ bảo vệ điều thiện. Đó không phải đối thoại; đó là tự xóa mình. Một cuộc đối thoại thật cần có người thật ở hai phía. Nếu tôi giấu mọi điều mình tin để người khác dễ chịu, người khác chưa bao giờ gặp tôi. Cũng thế, nếu tôi chỉ nói mà không nghe, tôi chưa bao giờ gặp họ. Đối thoại Kitô giáo cần cả căn tính và khuôn mặt. Tôi đứng trước anh như một người Công giáo thật, và tôi cho phép anh đứng trước tôi như chính anh.
Người giáo dân sống đúng điều này sẽ trở thành người xây cầu. Không phải chiếc cầu xóa hai bờ, nhưng chiếc cầu cho hai bờ gặp nhau. Trong công ty, họ có thể là người không để khác biệt tôn giáo trở thành lý do chia nhóm. Trong khu phố, họ có thể tham gia những việc chung vì người nghèo, môi trường, trẻ em. Trong bệnh viện, họ tôn trọng bệnh nhân khác niềm tin. Trong trường học, họ dạy con mình không chế nhạo bạn khác đạo. Trong gia đình, họ biết giữ căn tính Công giáo mà không làm cho người thân cảm thấy bị khinh. Những việc ấy rất đời thường nhưng lại là linh đạo.
Một giáo xứ cũng phải học sống đa nguyên. Nếu mọi hoạt động chỉ dành cho người “đã ở bên trong”, giáo xứ sẽ thành câu lạc bộ. Có những dịp cần mở cửa: hoạt động bác ái, bảo vệ môi trường, chăm người già, lớp kỹ năng cha mẹ, hỗ trợ người nghèo, văn hóa, âm nhạc. Không phải để dụ người ta vào đạo bằng cửa sau, nhưng vì bác ái là bác ái. Khi một người ngoài Công giáo được giúp, họ không mắc nợ ta một sự cải đạo. Tình yêu vô vị lợi là một trong những hình thức làm chứng mạnh nhất. Nếu ta chỉ tử tế khi có cơ hội thêm một người vào danh sách, tình yêu đã biến thành chiến thuật.
Đa nguyên cũng giúp Hội Thánh học. Điều này phải nói cẩn thận nhưng cần nói. Hội Thánh có kho tàng mạc khải, nhưng người tín hữu có thể học nhiều điều từ kinh nghiệm của người khác: lòng hiếu khách, cách chăm người nghèo, sự tôn trọng tạo thành, kỷ luật nội tâm, những kinh nghiệm về hòa giải, những trực giác về văn hóa. Học không có nghĩa vay mượn mọi thứ. Phân định vẫn cần. Nhưng người nghĩ mình chẳng bao giờ có gì để học từ người ngoài đã quên rằng Thánh Thần có thể làm việc ngoài những ranh giới ta nhìn thấy.
Trong đời sống chính trị, nguyên tắc “làm chứng mà không chiếm lĩnh” càng quan trọng. Người Công giáo không được tôn thờ bất cứ đảng phái nào. Không phe chính trị nào là Nước Thiên Chúa. Có những chính sách phù hợp hơn với giáo huấn xã hội của Hội Thánh ở mặt này và kém hơn ở mặt khác. Người giáo dân phải phân định, tham gia và chịu trách nhiệm. Nhưng khi đồng hóa Đức Kitô với một phe, người ta làm Tin Mừng nhỏ lại. Một đảng có thể dùng biểu tượng Kitô giáo mà thực hành điều trái Tin Mừng. Một chính trị gia có thể nói rất nhiều về đạo mà đời sống bất công. Cũng có người không dùng ngôn ngữ tôn giáo nhưng bảo vệ một số giá trị phù hợp với phẩm giá con người. Người giáo dân phải nhìn việc chứ không chỉ nhìn nhãn.
Không chiếm lĩnh cũng nghĩa là chấp nhận rằng trong xã hội tự do, có lúc luật pháp không phản ánh đầy đủ điều Hội Thánh dạy. Người Công giáo vẫn làm việc để bảo vệ sự thiện, thuyết phục xã hội, nâng cao lương tâm. Nhưng họ phải học nghệ thuật sống như men trong bột, không chỉ mơ về một xã hội nơi quyền lực nhà nước làm hộ công việc truyền giáo. Nước Thiên Chúa không đến bằng nghị định. Luật tốt quan trọng, nhưng luật không thay trái tim. Có thể cấm một hành vi mà chưa làm con người yêu điều thiện. Sứ mạng giáo dân sâu hơn chuyện thắng một cuộc bỏ phiếu. Nó nhằm xây một nền văn hóa nơi điều thiện trở nên đáng yêu.
Đó là lý do giáo dục lương tâm quan trọng hơn chỉ huấn luyện khẩu hiệu. Một người trẻ Công giáo sẽ phải đưa ra hàng trăm quyết định ở những nơi cha xứ không có mặt: trường học, phòng khám, phòng họp, phòng khách sạn, mạng xã hội, cuộc tình, hợp đồng. Nếu họ chỉ biết “cha bảo vậy”, đức tin rất dễ vỡ. Cần giúp họ hiểu tại sao. Tại sao con người có phẩm giá. Tại sao tự do cần sự thật. Tại sao tình dục gắn với toàn bộ con người. Tại sao tiền bạc phải phục vụ con người. Tại sao người nghèo có một đòi hỏi trên lương tâm ta. Tại sao tha thứ không phải yếu. Tại sao không mọi điều hợp pháp đều tốt. Khi lương tâm được hình thành, người giáo dân mới có thể sống giữa đa nguyên mà không cần một cảnh sát tôn giáo đi theo.
Một dấu chỉ của căn tính trưởng thành là người ta không cần hạ thấp người khác để chắc mình đúng. Người Công giáo không cần nói tôn giáo khác là ngu để yêu Đức Kitô. Không cần gọi người vô thần là vô đạo đức để bảo vệ đức tin. Không cần chế giễu người có lối sống khác để giữ giáo huấn. Ta có thể nói một hành vi là sai mà vẫn nhìn người thực hiện nó như một người mang phẩm giá bất khả xâm phạm. Thực ra, chính khả năng phân biệt người và hành vi là dấu của đức ái trưởng thành. Đức Giêsu nói với người phụ nữ bị bắt quả tang ngoại tình: “Tôi không kết án chị. Hãy đi và từ nay đừng phạm tội nữa.” Cả lòng thương xót lẫn lời gọi hoán cải đều có mặt. Nếu chỉ còn kết án, ta mất lòng thương xót. Nếu chỉ còn chấp nhận, ta mất lời gọi nên thánh.
Đa nguyên còn đặt một câu hỏi rất thật: làm sao nói về chân lý trong một thời đại mà câu “đó là sự thật của anh” được dùng rất nhiều? Người giáo dân cần tránh hai phản ứng. Một là giận dữ: càng thấy xã hội tương đối càng hét to hơn. Hai là buông: thôi, ai nghĩ gì thì nghĩ. Con đường khác là kiên nhẫn cho thấy chân lý có khuôn mặt của điều tốt đẹp. Khi nói về hôn nhân, hãy cho người ta thấy vẻ đẹp của trung tín. Khi nói về sự sống, hãy chăm người mẹ khó khăn. Khi nói về người nghèo, hãy sống đơn giản. Khi nói về tha thứ, hãy tự tha thứ. Khi nói về cầu nguyện, hãy là người có bình an. Một chân lý được nhập thể dễ nghe hơn một chân lý chỉ được ném ra.
Thánh Phaolô tại Areopagus là một mẫu rất đẹp. Ngài không bắt đầu bằng việc chửi người Athêna thờ sai. Ngài quan sát thành phố, đọc văn hóa của họ, nhắc đến bàn thờ “kính thần vô danh”, trích cả thi sĩ của họ rồi từ đó loan báo Thiên Chúa và Đức Kitô phục sinh. Ngài không hòa tan Tin Mừng vào văn hóa Hy Lạp. Đến điểm phục sinh, có người chế giễu. Nhưng ngài đã gặp họ từ nơi họ đang đứng. Đó là hình ảnh cho người giáo dân hôm nay. Muốn nói với một thế giới khác mình, trước tiên phải biết thế giới ấy đang nghĩ gì, sợ gì, mơ gì. Không thể trả lời câu hỏi người ta không hỏi. Không thể rao giảng cho một thế hệ bằng cách chỉ phàn nàn rằng nó không giống thế hệ mình.
Một Giáo hội biết sống trong đa nguyên cũng không hoảng sợ khi không còn là trung tâm văn hóa. Có thời Hội Thánh có ảnh hưởng xã hội lớn. Có nơi hôm nay ảnh hưởng giảm. Phản ứng dễ là hoài niệm: ước gì trở lại thời mọi người đều nghe Giáo hội. Nhưng thời quyền lực lớn không tự động là thời Tin Mừng sống mạnh. Có khi mất đặc quyền lại giúp Hội Thánh trở về với sức mạnh ban đầu: sự thánh thiện, bác ái, chứng tá, sự thật. Kitô giáo thời đầu không có truyền hình, trường công, luật ưu đãi, quyền lực chính trị. Họ có những cộng đoàn nhỏ, Thánh Thể, lời chứng, các vị tử đạo và cách sống khiến người khác phải hỏi. Không cần lý tưởng hóa thời ấy, nhưng cần nhớ rằng sức sống của Hội Thánh không đồng nghĩa với mức độ kiểm soát xã hội.
Giáo dân đặc biệt quan trọng trong bối cảnh ấy vì họ sống ở những nơi Hội Thánh có cơ cấu không thể hiện diện thường xuyên. Một linh mục có thể giảng Chúa Nhật, nhưng sáng thứ Hai người giáo dân mới là người ngồi trong phòng họp. Linh mục có thể nói về công lý, nhưng giáo dân ký hợp đồng. Linh mục có thể dạy tôn trọng con người, nhưng giáo dân tuyển dụng và sa thải. Linh mục nói về lương tâm, nhưng giáo dân là bác sĩ đứng trước ca khó. Linh mục nói về hòa bình, nhưng giáo dân làm chính sách. Linh mục nói về sự thật, nhưng giáo dân là nhà báo. Chính trong những không gian đa nguyên ấy, Hội Thánh có mặt nhờ người đã được Rửa tội.
Vì vậy, đào tạo giáo dân cho xã hội đa nguyên không thể chỉ là dạy họ nhiều kinh hơn. Họ cần Kinh Thánh, giáo lý, bí tích, cầu nguyện. Nhưng họ cũng cần học lắng nghe, lý luận, lịch sử, khoa học xã hội, đạo đức nghề nghiệp, cách tranh luận không hạ nhục, cách nhận diện tin giả, cách phân biệt giáo huấn chính thức với ý kiến riêng của một người Công giáo nổi tiếng. Một người có lòng đạo mà không có năng lực đọc thế giới có thể gây hại dù ý tốt. Ngược lại, một người rất giỏi nghề nhưng không có đời thiêng dễ hòa tan. Linh đạo giáo dân phải nối hai phía.
Trong xã hội đa nguyên, có lúc người tín hữu phải chấp nhận bị hiểu lầm. Nếu luôn cố làm vừa lòng mọi người, sớm muộn ta sẽ phản bội một điều quan trọng. Đức Giêsu được nhiều người yêu nhưng cũng bị chống. Đối thoại không bảo đảm mọi khác biệt biến mất. Có những điểm không thể thỏa hiệp. Có những lúc người Kitô hữu phải nói “không”. Có những chính sách, thực hành, cách kinh doanh, yêu cầu nghề nghiệp mà lương tâm không cho phép. Khi ấy, phải chống lại với bình an, chấp nhận giá phải trả, không biến mình thành nạn nhân giận dữ. Chứng tá đôi khi là chịu thiệt mà không căm ghét.
Một xã hội đa nguyên là nơi người ta phải học chung sống với việc người khác có quyền sai theo đánh giá của mình. Đây là điều khó. Ta có thể nghĩ người kia sai sâu sắc nhưng vẫn công nhận người ấy có quyền phát biểu trong giới hạn luật pháp. Người kia cũng có quyền nghĩ ta sai. Tự do chỉ thật khi áp dụng cho người mình không thích. Nếu chỉ muốn tự do cho người nói giống mình, ta không yêu tự do; ta yêu quyền lực của phe mình.
Nhưng Kitô hữu không dừng ở sự khoan dung. Khoan dung nghĩa là tôi chịu đựng sự hiện diện của anh. Đức ái đi xa hơn: tôi muốn điều tốt cho anh. Tôi bảo vệ anh khi anh bị bất công, kể cả khi anh không thuộc nhóm tôi. Một người Công giáo đứng lên bảo vệ quyền hợp pháp của một cộng đồng tôn giáo khác bị đàn áp đang làm chứng rất mạnh về chính đức tin Công giáo. Một người Công giáo bảo vệ phẩm giá người không tin khi họ bị miệt thị đang cho thấy Thiên Chúa mà mình tin không phải Thiên Chúa bộ lạc.
Sau cùng, bí quyết của việc vừa chắc căn tính vừa mở với người khác nằm ở chỗ thuộc về Đức Kitô. Người không biết mình thuộc về ai sẽ hoặc hòa tan để được chấp nhận, hoặc dựng tường để tự bảo vệ. Người ở lại trong Đức Kitô có thể bước ra. Càng sâu trong cầu nguyện, càng ít cần hét để chứng minh mình. Càng chắc mình được Thiên Chúa yêu, càng ít cần hạ người khác để thấy mình có giá trị. Càng sống Thánh Thể, càng nhận ra người trước mặt không chỉ là “người khác phe” mà là một con người Đức Kitô đã chết cho. Đây là nền thiêng liêng của đối thoại.
Bởi vậy, đa nguyên không chỉ là một hoàn cảnh phải chịu. Nó có thể trở thành một trường học của Tin Mừng. Nó dạy người giáo dân phân biệt đức tin với đặc quyền, chứng tá với quyền lực, xác tín với kiêu căng, đối thoại với thỏa hiệp, bác ái với nhu nhược. Nó bắt họ trở về câu hỏi căn bản: tôi muốn người khác nhận ra Đức Kitô hay chỉ muốn họ công nhận tôi đúng? Hai điều không luôn giống nhau.
Người giáo dân được sai vào một xã hội nơi có nhiều tiếng nói. Họ không cần hét lớn nhất. Họ cần nói thật nhất. Họ không cần chiếm hết không gian. Họ cần hiện diện có trọng lượng. Họ không cần làm cho mọi người giống mình. Họ cần để người khác thấy nơi đời mình một con đường đáng hỏi. Họ không giấu thập giá, cũng không dùng thập giá làm vũ khí. Họ mang thập giá như dấu của một Thiên Chúa yêu đến cùng.
Và có lẽ đây là hình ảnh đẹp nhất của linh đạo giáo dân giữa một thế giới đa nguyên: một người biết mình tin ai, không xấu hổ về niềm tin ấy, không khinh người khác vì họ chưa tin, không sợ lắng nghe, không ngại nói sự thật, không tìm đặc quyền, không bỏ đời sống công cộng, không biến đối thủ thành kẻ thù, không lấy im lặng làm hèn nhát cũng không lấy ồn ào làm can đảm; một người đủ chắc để mở cửa, đủ khiêm nhường để học, đủ tự do để làm chứng, đủ yêu thương để chờ đợi. Người ấy có thể không chiếm lĩnh xã hội. Nhưng qua người ấy, Tin Mừng đã có mặt trong xã hội.
Đó mới là sứ mạng giáo dân: không dựng một thế giới nơi mọi người bị buộc phải nói ngôn ngữ Kitô giáo, nhưng sống sao để giữa rất nhiều ngôn ngữ, người ta vẫn có thể nhận ra âm sắc của Tin Mừng; không tạo một xã hội nơi Hội Thánh kiểm soát mọi căn phòng, nhưng hiện diện trong từng căn phòng bằng những con người đã được Đức Kitô biến đổi; không chiến thắng người khác bằng quyền lực, nhưng làm chứng cho một Đấng đã chiến thắng bằng thập giá. Trong thế giới đa nguyên, đây không phải con đường dễ. Nhưng chính vì khó, nó là một trong những hình thức trưởng thành nhất của linh đạo giáo dân: vừa thuộc trọn về Đức Kitô, vừa có thể nhìn thẳng vào khuôn mặt của người khác mà không sợ hãi.
CHƯƠNG 33. TOÀN CẦU HÓA: LIÊN ĐỚI HAY BỊ HÒA TAN
Toàn cầu hóa không còn là một khái niệm nằm trong sách kinh tế hay những cuộc họp quốc tế. Nó đã đi vào căn bếp, chiếc điện thoại, bàn làm việc, cách người ta mua một đôi giày, cách một gia đình nhận tiền từ người thân ở nước ngoài, cách một người trẻ học nghề trên mạng, cách một công ty thuê nhân sự ở ba châu lục, cách một người mẹ Việt Nam gọi video cho đứa con đang làm việc tại Nhật, cách một giáo xứ quyên góp trong vài giờ cho nạn nhân động đất ở một đất nước mà trước đó hầu như chẳng ai biết tên. Người giáo dân hôm nay sống trong một thế giới mà khoảng cách địa lý không còn đồng nghĩa với khoảng cách thực tế. Một món hàng trên tay có thể chứa nguyên liệu từ một nước, được lắp ráp ở nước khác, thiết kế ở nước thứ ba, quảng cáo bởi một nền tảng có trụ sở ở nước thứ tư và được giao đến cửa nhà bởi một người lao động di cư đang sống rất xa quê mình. Một tin tức xảy ra ở bên kia địa cầu có thể làm giá xăng trước nhà tăng lên, làm đơn hàng của một xưởng may bị hủy, làm cổ phiếu của một công ty lao dốc, làm một gia đình phải hoãn kế hoạch cho con đi học. Toàn cầu hóa như thế không ở ngoài đời sống thiêng liêng. Nó chính là một trong những nơi đời sống thiêng liêng phải được sống. Nếu linh đạo giáo dân chỉ nói đến kinh nguyện, Thánh lễ và việc đạo đức mà không chạm đến những mạng lưới toàn cầu đang định hình cách người ta kiếm tiền, tiêu tiền, di chuyển, giao tiếp, tiêu thụ và hình thành căn tính, thì linh đạo ấy đã bỏ trống một vùng rất lớn của đời sống thật.
Điều đầu tiên cần nói là toàn cầu hóa tự nó không phải cứu độ, cũng không phải tai họa. Nó là một tiến trình của lịch sử con người, chứa trong mình những khả thể lớn lao và những nguy cơ rất thật. Nó có thể mở rộng chân trời liên đới chưa từng có. Một người giáo dân ở một làng nhỏ có thể biết nỗi khổ của người tị nạn ở một biên giới xa xôi, có thể đóng góp cho một bệnh viện ở châu Phi, có thể học hỏi kinh nghiệm mục vụ của một cộng đoàn ở Mỹ Latinh, có thể cầu nguyện cùng một nhóm tín hữu ở châu Âu, có thể hiểu rằng Hội Thánh thật sự là công giáo, nghĩa là phổ quát, không bị nhốt trong biên giới địa phương của mình. Nhưng cũng chính toàn cầu hóa có thể làm con người trở thành kẻ tiêu thụ không ký ức, một người biết rất nhiều thương hiệu nhưng không biết tên người hàng xóm, thuộc vài câu tiếng nước ngoài nhưng không còn muốn nói ngôn ngữ của cha mẹ, ăn những món giống nhau ở mọi thành phố nhưng không còn nhớ hương vị của bữa cơm gia đình, chạy theo những chuẩn sống toàn cầu đến mức khinh những gì nhỏ bé, chậm chạp và địa phương. Có người đi rất xa mà lòng ngày càng hẹp. Có người kết nối với cả thế giới mà mất liên hệ với chính nhà mình. Có người nói nhiều về “công dân toàn cầu” nhưng không còn biết mình thuộc về ai, được nuôi bởi ký ức nào, có bổn phận với cộng đoàn cụ thể nào. Đây là nghịch lý lớn của thời đại: thế giới rộng ra nhưng căn tính có thể mỏng đi; kết nối dày lên nhưng thuộc về có thể yếu đi.
Linh đạo giáo dân phải đi vào chính nghịch lý đó. Người Kitô hữu không được phép chọn một trong hai cực dễ dãi: hoặc khép kín trước thế giới với nỗi sợ bị ô nhiễm, hoặc hòa tan vào thế giới với ảo tưởng rằng mọi khác biệt đều là chướng ngại phải xóa. Đức tin Kitô giáo dạy một logic khác: hiệp thông không phải đồng nhất, phổ quát không phải xóa địa phương, mở ra với mọi người không có nghĩa là không còn thuộc về một nơi nào. Mầu nhiệm Hội Thánh đã chứa sẵn điều này. Hội Thánh là một nhưng gồm nhiều dân tộc, nhiều ngôn ngữ, nhiều truyền thống, nhiều nghi lễ, nhiều nền văn hóa. Lễ Ngũ Tuần không phải phép lạ khiến mọi người nói cùng một thứ tiếng. Trái lại, mỗi người nghe Tin Mừng trong tiếng nói của mình. Đó là một hình ảnh rất mạnh cho linh đạo giữa toàn cầu hóa. Thánh Thần không cứu thế giới bằng cách xóa các ngôn ngữ. Người làm cho khác biệt trở thành nơi thông truyền cùng một Tin Mừng. Kitô giáo không cần một thế giới không còn bản sắc. Kitô giáo cần một thế giới trong đó bản sắc được thanh luyện khỏi kiêu ngạo và được mở ra cho hiệp thông.
Người giáo dân vì sống giữa các mạng lưới kinh tế và xã hội nên có một trách nhiệm đặc biệt trong việc làm cho toàn cầu hóa mang khuôn mặt con người hơn. Một trong những nơi đầu tiên của trách nhiệm ấy là tiêu dùng. Người Kitô hữu thường nghĩ việc mua hàng là chuyện hoàn toàn riêng tư: tôi có tiền, tôi thích, tôi mua. Nhưng trong một nền kinh tế liên kết toàn cầu, mỗi lựa chọn tiêu dùng đều nằm trong một chuỗi quan hệ dài mà mắt ta không nhìn thấy. Một chiếc áo rất rẻ có thể rẻ vì người may nó nhận đồng lương quá thấp. Một món đồ điện tử đẹp có thể chứa khoáng sản được khai thác trong những điều kiện lao động nguy hiểm. Một sản phẩm dùng một lần có thể để lại rác trong đất và biển lâu hơn đời người mua nó. Một thực phẩm được quảng cáo hấp dẫn có thể đến từ một chuỗi sản xuất làm người nông dân ở đầu nguồn gần như không có quyền thương lượng. Không phải lúc nào người tiêu dùng cũng biết hết, và cũng không thể bắt một gia đình bình thường trở thành chuyên gia điều tra chuỗi cung ứng trước mỗi lần đi chợ. Linh đạo không tạo thêm một gánh nặng lương tâm bất khả thi. Nhưng linh đạo dạy một thói quen quan trọng: đừng nghĩ đồng tiền mình chi ra là hành vi không có hậu quả đạo đức. Tiền đi đâu thì một phần trách nhiệm của ta đi theo đó.
Vì vậy, tiết độ trong tiêu dùng là một nhân đức rất hiện đại dù nguồn gốc của nó rất cổ. Tiết độ không chỉ là ăn ít hay uống ít. Trong xã hội tiêu thụ, tiết độ là khả năng nói “đủ” khi thị trường liên tục nói “chưa đủ”. Quảng cáo sống bằng việc tạo ra cảm giác thiếu: điện thoại này đã cũ, quần áo này lỗi thời, xe này chưa sang, nhà này chưa đẹp, kỳ nghỉ này chưa đáng kể, con mình chưa học trường đủ danh tiếng. Nếu không có đời sống nội tâm, người giáo dân rất dễ bị thị trường viết hộ định nghĩa hạnh phúc. Người ta bắt đầu mua không vì nhu cầu mà vì căn tính. Tôi mua để chứng minh tôi là ai. Tôi tiêu để không thua người khác. Tôi nợ để giữ hình ảnh. Tôi thay đồ vật còn tốt vì sợ bị xem là lạc hậu. Khi ấy toàn cầu hóa không còn chỉ đưa hàng hóa đến gần. Nó đã đi vào lòng người và dạy lòng người thèm khát theo lịch của nó.
Một linh đạo lành mạnh không lên án tiện nghi, không thần thánh hóa nghèo thiếu và cũng không coi sở hữu là xấu. Kitô giáo không buộc gia đình phải sống khắc khổ như một tu viện. Một người cha muốn mua chiếc xe an toàn hơn cho con không có gì sai. Một người mẹ mua máy giặt tốt để bớt lao lực không phải là người kém thiêng liêng. Một người trẻ thích công nghệ mới cũng không vì thế mà xa Chúa. Câu hỏi nằm sâu hơn: tôi sở hữu hay tôi bị sở hữu? Tôi dùng sự vật hay tôi cần sự vật để xác nhận giá trị của mình? Tôi mua vì điều ấy thực sự phục vụ đời sống, hay vì không chịu được cảm giác người khác có mà mình không có? Tôi có khả năng trì hoãn một ham muốn không? Tôi có còn biết vui với điều bình thường không? Một xã hội toàn cầu hóa thường làm người ta biết giá của rất nhiều thứ mà quên giá trị của những thứ không bán được: thời gian với cha mẹ, một bữa cơm không điện thoại, một buổi chiều chơi với con, một người bạn trung tín, sự yên tĩnh của lương tâm, danh dự trong nghề nghiệp.
Liên đới toàn cầu còn đòi người giáo dân học nhìn thấy người lao động ở cuối những chuỗi kinh tế vô hình. Mỗi sản phẩm đều có câu chuyện của bàn tay. Nhưng thị trường thường làm bàn tay ấy biến mất. Ta thấy món hàng, không thấy người làm. Ta thấy giá, không thấy đời sống. Ta muốn giao nhanh hơn nhưng không nghĩ đến người giao hàng phải chạy thế nào. Ta muốn hàng rẻ hơn nhưng không nghĩ ai đang bị ép giá. Ta muốn công ty tăng lợi nhuận nhưng không hỏi lợi nhuận ấy có được xây trên việc cắt những điều kiện tối thiểu của người yếu thế hay không. Trong logic Tin Mừng, một nền kinh tế không được đánh giá chỉ bởi số lượng hàng hóa nó tạo ra, nhưng còn bởi cách nó đối xử với con người. Người lao động không phải một chi phí phải tối ưu bằng mọi giá. Họ là người. Họ có gia đình, thân xác, giới hạn, phẩm giá, ngày nghỉ, nỗi lo, tương lai.
Điều này chạm trực tiếp đến giáo dân làm chủ doanh nghiệp, quản lý, nhân sự, đầu tư, thương mại, logistics, sản xuất. Họ không cần bước ra khỏi nghề để sống đạo. Chính trong những quyết định rất “kỹ thuật” ấy, linh đạo trở thành cụ thể. Một quản lý có thể phải cắt giảm nhân sự để công ty sống còn. Đức tin không cung cấp một công thức ma thuật khiến không ai đau. Nhưng đức tin buộc người quản lý không biến người bị cắt thành một dòng trong bảng Excel. Cách thông báo, thời gian chuẩn bị, khoản hỗ trợ, lời nói, sự công bằng trong tiêu chí, sự trung thực về lý do — tất cả đều có chất đạo đức. Một chủ doanh nghiệp có thể phải cạnh tranh quyết liệt. Nhưng cạnh tranh không có nghĩa là được phép gian lận, phá đối thủ bằng tin giả, bóc lột nhà cung cấp nhỏ, nợ lương hay đẩy mọi rủi ro xuống người yếu nhất. Một nhà đầu tư có thể muốn lợi nhuận. Nhưng lợi nhuận không thể trở thành ngẫu tượng đến mức mọi hậu quả khác đều bị coi là chuyện bên lề. Linh đạo giáo dân giữa toàn cầu hóa không đứng ngoài kinh tế để phê phán kinh tế. Nó đi vào bên trong kinh tế và hỏi: tiền này phục vụ sự sống hay nuốt sự sống?
Toàn cầu hóa cũng là toàn cầu hóa lao động. Hàng triệu người rời quê để tìm việc. Có người đi từ làng lên thành phố, có người vượt biên giới, có người xa gia đình nhiều năm. Trong những dòng di chuyển ấy có hy vọng nhưng cũng có thương tích. Kiều hối giúp gia đình xây nhà, cho con đi học, trả nợ, chữa bệnh. Nhưng đằng sau số tiền gửi về có thể là những ca làm dài, sự cô độc, sự kỳ thị, những bữa cơm ăn một mình, những cuộc hôn nhân xa cách, trẻ lớn lên thiếu cha hoặc mẹ, cha mẹ già qua đời khi con chưa kịp về. Linh đạo giáo dân phải có chỗ cho những người sống đời di dân này. Không thể chỉ nói với họ: hãy hy sinh. Họ cần một Hội Thánh nhìn thấy cái giá họ đang trả. Một cộng đoàn Kitô hữu ở nơi tiếp nhận người di cư phải tự hỏi mình có thật sự là nhà cho người xa quê hay chỉ là nhà cho người quen. Người đến từ nơi khác có thể phát âm khác, ăn khác, hát khác, có phong tục khác. Nếu chỉ chấp nhận họ khi họ trở nên giống ta, đó chưa phải hiệp thông.
Đón người ở xa là một thử thách rất cụ thể của linh đạo trong thế giới toàn cầu. Thật dễ xúc động trước hình ảnh người tị nạn trên màn hình. Khó hơn nhiều khi một gia đình nhập cư thuê nhà cạnh mình, con họ học cùng lớp với con mình, họ nói ngôn ngữ mình không hiểu, họ mang tập tục khiến mình không quen. Liên đới chỉ trở thành nhân đức khi nó đi từ cảm xúc đến tương quan. Kitô giáo không đòi người ta ngây thơ về những vấn đề thật của di dân: luật pháp, an ninh, khả năng tiếp nhận, hội nhập, việc làm, xung đột văn hóa. Nhưng người Kitô hữu không được phép nói về người di dân như nói về một khối vô danh. Mỗi con số là những con người. Tin Mừng liên tục phá thói quen chia nhân loại thành “người của mình” và “người không phải của mình” theo kiểu làm nhóm thứ hai mất nhân tính. Người Samari nhân hậu không hỏi người nằm bên đường thuộc dân nào trước khi cúi xuống.
Toàn cầu hóa thông tin còn mạnh hơn toàn cầu hóa hàng hóa. Một người có thể thức dậy ở Việt Nam và trong mười phút đầu ngày đã xem chiến tranh ở nơi khác, tranh cãi chính trị ở một nước xa, đời tư của một ngôi sao, một video hài, giá vàng, một vụ án, quảng cáo mỹ phẩm và lời cầu nguyện. Tâm hồn không được tạo dựng để hấp thụ hàng nghìn mảnh thế giới mỗi ngày mà không có kỷ luật. Một nguy cơ của toàn cầu hóa là tâm trí trở thành nơi quá nhiều thế giới đi qua nhưng chẳng thế giới nào được yêu đủ sâu. Ta biết khổ đau khắp nơi nên cuối cùng tê liệt trước khổ đau ngay cạnh mình. Ta phẫn nộ mỗi ngày về những vấn đề toàn cầu nhưng không còn kiên nhẫn với người trong gia đình. Ta có ý kiến về mọi quốc gia nhưng không biết người hàng xóm đang bệnh. Đây là một kiểu hòa tan khác: không phải mất văn hóa mà mất chiều sâu.
Linh đạo đòi phục hồi khả năng chú ý. Chú ý là một hình thức của yêu. Người biết quá nhiều mà không chú ý thật cho ai có thể trở thành rất nghèo về tương quan. Toàn cầu hóa cho ta quyền biết xa, nhưng không miễn bổn phận yêu gần. Người giáo dân phải học giữ một thứ tự của đức ái. Tôi có thể đau với nạn nhân chiến tranh ở xa và đồng thời phải chăm người già trong nhà. Tôi có thể quan tâm khí hậu toàn cầu và vẫn phải dọn rác trước cửa mình. Tôi có thể chia sẻ một chiến dịch nhân đạo quốc tế nhưng không được vì thế mà khinh những việc bác ái nhỏ không ai chụp hình. Tầm nhìn phổ quát chỉ lành mạnh khi không làm ta thoát ly bổn phận cụ thể.
Một nguy cơ khác là sự đồng dạng văn hóa. Các thành phố bắt đầu có cùng chuỗi cửa hàng, cùng nhạc nền, cùng cách ăn mặc, cùng ngôn ngữ quảng cáo, cùng những biểu tượng thành công. Điều này có những thuận tiện thật. Nhưng khi mọi nơi dần giống nhau, con người có thể đánh mất cảm thức rằng mình được sinh ra trong một câu chuyện cụ thể. Đức tin cũng có nguy cơ bị toàn cầu hóa theo kiểu bề mặt: cùng một bài hát đang thịnh hành, cùng một mẫu trang trí, cùng một kiểu nói đạo đức trên mạng, cùng những nhân vật nổi tiếng, trong khi truyền thống cầu nguyện, thánh ca, lòng đạo đức bình dân và ký ức các thế hệ của địa phương bị coi là lỗi thời. Hội Thánh Công giáo không phải một thương hiệu toàn cầu cần đồng bộ nhận diện. Tính công giáo sâu hơn đồng bộ. Nó là khả năng để đức tin duy nhất bén rễ thật trong nhiều nền văn hóa mà không bị nền văn hóa nào chiếm trọn.
Vì vậy, giữ ngôn ngữ và văn hóa đức tin địa phương là một bổn phận thiêng liêng. Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện truyền thông. Ngôn ngữ giữ ký ức. Một lời kinh bà ngoại đọc có thể mang một chiều sâu không thể dịch nguyên vẹn sang ngôn ngữ thời thượng. Một bài thánh ca cổ có thể giữ trong nó kinh nghiệm đức tin của nhiều thế hệ. Một tập tục kính nhớ tổ tiên, khi được thanh luyện và sống đúng trong đức tin, có thể diễn tả điều mà một mẫu phụng vụ vay mượn từ nơi khác không thể thay thế. Một người trẻ học ngoại ngữ là điều tốt. Nhưng nếu học nhiều thứ tiếng mà xấu hổ tiếng mẹ đẻ, có điều gì đó đã gãy trong căn tính. Một gia đình hội nhập vào xã hội mới là điều cần thiết. Nhưng nếu muốn con thành công đến mức cố tình cắt con khỏi ký ức của ông bà, cái giá có thể rất lớn. Hội nhập không phải tự xóa mình.
Ở đây cần phân biệt rất kỹ giữa giữ căn tính và đóng kín. Có những người nhân danh bảo vệ truyền thống để chống mọi cái mới, xem người ngoài như đe dọa, biến văn hóa thành pháo đài. Đó không phải tinh thần Công giáo. Văn hóa nào cũng cần được Tin Mừng thanh luyện. Không phải cái gì “của cha ông” cũng tự động tốt. Có tập tục chứa mê tín, bất công giới tính, bạo lực, kỳ thị, sĩ diện, trọng hình thức. Bảo tồn không có nghĩa là phong thánh mọi điều cũ. Ngược lại, có những người nhân danh hiện đại hóa để chế giễu mọi truyền thống, coi chỉ những gì toàn cầu, mới và phổ biến mới đáng giá. Cả hai đều nghèo. Người Kitô hữu phải có khả năng yêu truyền thống mà không thờ truyền thống, mở với cái mới mà không quỳ trước cái mới.
Toàn cầu hóa còn đặt ra câu hỏi về lòng yêu nước. Người Công giáo thuộc về một quê hương trần thế nhưng đồng thời thuộc về một Hội Thánh vượt mọi biên giới và một Nước không đồng nhất với bất cứ quốc gia nào. Đây không phải mâu thuẫn. Yêu quê hương là một hình thức biết ơn cụ thể: biết ơn đất đai, ngôn ngữ, tổ tiên, người đã xây những điều mình đang hưởng. Nhưng yêu nước Kitô giáo không thể biến thành coi dân mình có giá trị hơn dân khác. Người Kitô hữu không được biến quốc gia thành ngẫu tượng. Khi lợi ích dân tộc được dùng để biện minh cho bất công với dân khác, lương tâm Kitô hữu phải còn tự do để nói không. Một người càng yêu quê mình đúng cách càng có thể hiểu tại sao người khác cũng yêu quê của họ. Tình yêu chân thật không cần khinh người khác để chứng minh mình.
Trong nền kinh tế toàn cầu, khoảng cách giàu nghèo cũng có hình thức mới. Người giàu và người nghèo có thể sống rất gần nhau về địa lý nhưng ở hai thế giới hoàn toàn khác nhau. Một người có thể làm việc từ xa cho công ty quốc tế, thu nhập bằng ngoại tệ, sử dụng dịch vụ toàn cầu; người hàng xóm có thể sống bằng lao động thời vụ, không bảo hiểm, không kỹ năng số. Toàn cầu hóa tạo cơ hội nhưng phân phối cơ hội rất không đều. Người có ngoại ngữ, kỹ năng số, vốn và mạng lưới có thể tiến rất nhanh. Người không có những thứ đó có thể bị bỏ lại. Linh đạo giáo dân vì thế không thể chỉ khen những người “biết thích nghi”. Câu hỏi Kitô giáo luôn là: còn ai bị bỏ lại ngoài cổng?
Các gia đình khá giả có thể sống liên đới bằng những quyết định rất cụ thể: cách trả lương người giúp việc, cách đối xử với người giao hàng, cách thuê thợ, cách trả công giáo viên, cách thương lượng với người bán nhỏ. Công bằng không bắt đầu từ các diễn đàn quốc tế. Nó bắt đầu ở số tiền mình trả cho một con người đang làm việc cho mình. Có người rất rộng rãi khi làm từ thiện nhưng lại keo kiệt khi trả công. Đó là một mâu thuẫn thiêng liêng. Bác ái không thay thế công bằng. Không thể trả người lao động thấp hơn mức xứng đáng rồi thỉnh thoảng cho họ một món quà và gọi đó là yêu thương. Người giáo dân được mời gọi làm cho cấu trúc gần mình công bằng trước khi mơ thay đổi cấu trúc xa.
Toàn cầu hóa cũng làm thay đổi gia đình. Hôn nhân xuyên văn hóa tăng lên. Con cái sinh ở một nước, lớn ở nước khác, nói nhiều ngôn ngữ, mang nhiều tầng căn tính. Đây có thể là một kho báu lớn. Những gia đình ấy có cơ hội sống tính công giáo ngay trong nhà: học tôn trọng hai truyền thống, hai cách cảm nhận, hai loại thức ăn, hai câu chuyện lịch sử. Nhưng cũng có căng thẳng thật. Người ta có thể hiểu sai nhau vì điều tưởng là cá tính thực ra là văn hóa. Cách tôn trọng cha mẹ, cách dùng tiền, cách nuôi con, cách biểu lộ cảm xúc, cách giữ đạo có thể rất khác. Linh đạo gia đình trong toàn cầu hóa phải học kiên nhẫn dịch không chỉ ngôn ngữ mà cả thế giới sống của người kia. Yêu một người thuộc nền văn hóa khác không chỉ là thích nét lạ của họ. Là chấp nhận có những lúc mình phải học lại cách hiểu điều mình tưởng là hiển nhiên.
Người trẻ chịu ảnh hưởng toàn cầu hóa sâu nhất. Một thiếu niên có thể nghe cùng âm nhạc, mặc cùng phong cách, theo cùng người nổi tiếng với hàng triệu bạn trẻ ở các nước khác. Điều này tạo cảm giác thuộc về một thế hệ toàn cầu. Nhưng nó cũng tạo áp lực rất lớn: tiêu chuẩn đẹp toàn cầu, tiêu chuẩn thành công toàn cầu, tốc độ thành đạt toàn cầu. Người trẻ ở một thị trấn nhỏ có thể so mình với người giàu nhất, đẹp nhất, nổi tiếng nhất thế giới mỗi ngày. Trước đây, con người thường so mình với làng xóm. Bây giờ, người ta so đời thật của mình với phần được chọn lọc đẹp nhất của cả thế giới. Đây là một gánh nặng tâm lý và thiêng liêng mới. Linh đạo phải dạy người trẻ rằng căn tính không đến từ khả năng cạnh tranh với thế giới. Họ không cần trở thành một phiên bản có thể được thị trường quốc tế công nhận để có giá trị. Họ được gọi tên trước khi có hồ sơ nghề nghiệp, số người theo dõi hay hộ chiếu đẹp.
Một linh đạo vững trong toàn cầu hóa vì vậy cần phục hồi ba từ: thuộc về, giới hạn và trao ban. Thuộc về giúp con người không bị hòa tan. Tôi thuộc về Chúa, thuộc về một thân thể Hội Thánh, thuộc về một gia đình, một lịch sử, một nơi chốn. Không phải những thuộc về ấy đều hoàn hảo. Nhưng con người không thể sống như một tài khoản trôi nổi. Giới hạn giúp ta không bị toàn cầu hóa biến thành tham vọng vô hạn. Tôi không thể biết mọi tin, giúp mọi nơi, mua mọi thứ, trải nghiệm mọi nền văn hóa, thành công trong mọi lĩnh vực. Chấp nhận giới hạn là điều kiện để yêu sâu một điều gì đó. Trao ban giúp toàn cầu hóa không chỉ là nhận thêm hàng hóa và cơ hội. Người giáo dân phải hỏi: tôi đóng góp gì cho mạng lưới rộng này? Kiến thức, nghề nghiệp, tài nguyên, tiếng nói của tôi có làm thế giới nhân bản hơn chút nào không?
Toàn cầu hóa còn có chiều kích sinh thái rất rõ. Khí hậu, biển, không khí, rừng và chuỗi sản xuất không biết biên giới hành chính. Một nước tiêu thụ có thể đẩy ô nhiễm sang nước sản xuất. Một cộng đồng hưởng lợi có thể khiến cộng đồng khác gánh rác. Tính liên đới ở đây trở nên gần như hữu hình. Người giáo dân không thể nói: việc môi trường ở đâu đó không liên quan đến tôi. Cách sống của hàng triệu cá nhân kết thành một áp lực hệ thống. Dĩ nhiên không nên đổ toàn bộ trách nhiệm khí hậu lên từng gia đình trong khi các cấu trúc công nghiệp lớn có vai trò khổng lồ. Nhưng cũng sai nếu vì trách nhiệm cấu trúc lớn mà cá nhân cho rằng cách mình sống không có ý nghĩa. Linh đạo sinh thái không phải vài khẩu hiệu xanh. Nó là học sống như người nhận thế giới trong ân huệ chứ không như chủ tuyệt đối có quyền tiêu dùng vô hạn.
Trong đời sống Hội Thánh, toàn cầu hóa cũng mở một kho tàng. Giáo dân hôm nay có thể đọc giáo huấn của Đức Giáo hoàng ngay ngày được công bố, nghe bài giảng từ các châu lục, học thần học trực tuyến, tiếp xúc với các linh đạo khác nhau, biết các thánh ít quen thuộc trong truyền thống địa phương. Đây là một ân huệ lớn. Nhưng cũng có nguy cơ “du lịch thiêng liêng”: hôm nay mê linh đạo này, mai chạy theo vị giảng thuyết khác, mốt đổi sang phong trào mới, cuối cùng có rất nhiều nội dung nhưng ít cắm rễ trong một cộng đoàn cụ thể. Người giáo dân có thể biết hàng chục nhà giảng thuyết trên mạng mà không biết tên cha xứ của người nghèo trong giáo xứ mình. Có thể nghe Thánh lễ ở năm quốc gia nhưng không muốn đi bộ mười phút đến nhà thờ. Có thể thích những cộng đoàn lý tưởng trên màn hình vì họ không làm phiền mình như cộng đoàn thật. Nhưng Hội Thánh không phải playlist tinh thần. Người Kitô hữu được tháp vào một thân thể có những người mình không chọn.
Một nguyên tắc tốt là: cái toàn cầu phải nuôi cái địa phương, không thay cái địa phương. Học một sáng kiến bác ái từ nơi khác để phục vụ người nghèo ở đây là tốt. Học một phương pháp giáo lý quốc tế rồi điều chỉnh theo trẻ em địa phương là tốt. Kết nối với Hội Thánh hoàn vũ để cảm nhận mình không cô độc là tốt. Nhưng nếu tất cả điều ấy làm mình ngày càng xa cộng đoàn cụ thể, nó đã đi lệch. Tính công giáo luôn có thân xác địa phương. Mỗi Thánh lễ được cử hành tại một bàn thờ cụ thể, bởi một cộng đoàn cụ thể, nhưng là Thánh lễ của toàn Hội Thánh. Đó là mô hình tuyệt vời cho toàn cầu hóa Kitô giáo: hoàn vũ không xóa địa phương; hoàn vũ hiện diện trong địa phương.
Người giáo dân trong thời đại này cũng cần học một kiểu khôn ngoan đối với thông tin quốc tế. Không phải mọi câu chuyện toàn cầu đều được kể trung lập. Tin tức, nền tảng, quảng cáo, thuật toán, chính phủ, tập đoàn, phong trào đều có cách đóng khung sự kiện. Một người xem rất nhiều tin chưa chắc hiểu thế giới hơn. Có khi chỉ được kéo vào các cuộc phẫn nộ do thuật toán chọn. Linh đạo ngôn sứ cần sự tỉnh táo: kiểm chứng, chậm kết luận, tránh chia sẻ điều chưa chắc, không biến khổ đau của dân tộc khác thành chất liệu để thắng tranh luận trong nước mình. Tính phổ quát Kitô giáo đòi nhìn người ở bên kia đường biên hay bên kia tranh chấp trước hết như con người, không như quân cờ trong câu chuyện mình muốn kể.
Toàn cầu hóa có thể làm nảy sinh một loại bất lực đạo đức: vấn đề quá lớn nên tôi chẳng làm gì được. Chuỗi cung ứng quá phức tạp, chiến tranh quá xa, khí hậu quá rộng, kinh tế quá mạnh. Linh đạo trả lời bằng logic hạt cải. Tôi không cứu cả thế giới. Đó không phải nhiệm vụ của tôi. Nhưng tôi phải trung tín với phần thế giới đi ngang qua tay mình. Tôi có thể trả công công bằng cho một người. Tôi có thể không mua một thứ chỉ vì bị kích thích. Tôi có thể học tên người lao động thường phục vụ mình. Tôi có thể dạy con biết món đồ không tự nhiên xuất hiện trong cửa hàng. Tôi có thể chọn không chế nhạo giọng nói của người nhập cư. Tôi có thể giữ tiếng mẹ đẻ trong gia đình. Tôi có thể cầu nguyện cho một dân tộc xa xôi mà không biến họ thành khẩu hiệu. Tôi có thể dùng nghề nghiệp để làm một mắt xích tử tế hơn. Nước Thiên Chúa không đến bằng việc một cá nhân làm tất cả, nhưng bằng rất nhiều sự trung tín nhỏ được kết nối bởi ân sủng.
Cần đặc biệt tránh một kiểu đạo đức xa xỉ trong vấn đề tiêu dùng. Dễ nói người khác phải mua sản phẩm công bằng, hữu cơ, bền vững khi mình có khả năng trả giá cao. Một gia đình nghèo nhiều khi buộc phải chọn thứ rẻ nhất. Không nên đặt trên vai người nghèo trách nhiệm đạo đức mà hệ thống giàu tạo ra. Linh đạo luôn cần lòng thương xót và óc thực tế. Ai có nhiều lựa chọn thì trách nhiệm lựa chọn lớn hơn. Ai có quyền quyết định trong doanh nghiệp thì trách nhiệm lớn hơn người chỉ mua một món hàng vì đó là thứ duy nhất vừa túi tiền. Công bằng Kitô giáo không phải đạo đức đồng đều máy móc. Nó nhìn đến khả năng, quyền lực và hoàn cảnh.
Giữ căn tính giữa toàn cầu hóa cũng đòi các gia đình kể chuyện. Một thế hệ mất ký ức rất dễ bị thị trường cho một căn tính mới. Cha mẹ cần kể cho con biết mình từ đâu, ông bà sống thế nào, đức tin được giữ qua những biến cố nào, tại sao gia đình có những tập tục ấy, tại sao có những ngày lễ ấy, tại sao phải viếng mộ, tại sao nhớ người đã khuất, tại sao một số món ăn gắn với một mùa, tại sao nhà có ảnh thánh cũ. Không phải để con sống trong quá khứ, mà để nó bước vào tương lai với rễ. Cây có rễ không vì thế mà không vươn xa. Chính có rễ nên nó mới đứng được khi gió mạnh.
Cộng đoàn giáo xứ cũng phải học sống điều này. Một giáo xứ ở thành phố có thể gồm người từ nhiều vùng, nhiều nghề, nhiều trình độ, thậm chí nhiều quốc tịch. Nếu giáo xứ chỉ phản ánh văn hóa của một nhóm mạnh nhất, những người khác sẽ luôn là khách. Tính công giáo phải được tập trong những điều nhỏ: cách chào đón, cách dùng ngôn ngữ, giờ lễ, việc để những nhóm khác nhau có tiếng nói, sự tôn trọng các truyền thống đạo đức lành mạnh. Nhưng đồng thời giáo xứ không nên biến thành hội chợ văn hóa trong đó mọi nhóm chỉ ở cạnh nhau. Mục tiêu là hiệp thông thật: chia sẻ bàn tiệc, trách nhiệm và nỗi đau.
Một người giáo dân trưởng thành không sợ thế giới rộng. Đức tin không yếu đến mức phải được bảo vệ bằng việc đóng mọi cửa. Nhưng người ấy cũng không ngây thơ nghĩ rằng mở cửa nào cũng tốt. Có những luồng văn hóa làm giàu, có những luồng làm nghèo. Có những giá trị toàn cầu rất gần Tin Mừng: ý thức phẩm giá con người, chống buôn người, hợp tác nhân đạo, khoa học chia sẻ, đối thoại giữa dân tộc. Có những xu hướng toàn cầu nuôi chủ nghĩa cá nhân, tiêu thụ vô hạn, tình dục hóa con người, coi gia đình như lựa chọn tùy biến, coi người già và người yếu như gánh nặng. Phân định là khả năng không nuốt cả gói. Ta không phải chọn giữa “truyền thống” và “hiện đại” như hai khối. Ta đem cả hai đến dưới ánh sáng Tin Mừng.
Cuối cùng, câu hỏi của toàn cầu hóa đối với người giáo dân không phải đơn giản là: anh có hội nhập không? Câu hỏi sâu hơn là: khi thế giới đi qua đời anh, nó trở nên nhân bản hơn hay lạnh hơn? Khi tiền đi qua tay anh, nó tạo thêm công bằng hay thêm bóc lột? Khi thông tin đi qua miệng anh, nó tạo sự thật hay thêm hỗn loạn? Khi một người xa lạ đi qua cửa nhà anh, họ gặp sợ hãi hay lòng hiếu khách? Khi con anh lớn lên giữa văn hóa toàn cầu, nó được mở rộng chân trời hay bị cắt khỏi rễ? Khi anh dùng hàng hóa từ khắp thế giới, anh có còn nhớ phía sau đó là đất, nước, bàn tay và đời người? Khi anh nói mình là người Công giáo, chữ “công giáo” ấy có thật sự làm tim anh rộng hơn biên giới nhóm mình không?
Toàn cầu hóa có thể làm thế giới thành một khu chợ khổng lồ nơi mọi thứ đều được trao đổi nhưng chẳng ai thực sự thuộc về ai. Nó cũng có thể trở thành một cơ hội lịch sử để nhân loại nhận ra sự lệ thuộc lẫn nhau mà vốn dĩ đã luôn tồn tại. Tin Mừng không bảo người giáo dân chạy khỏi mạng lưới ấy. Tin Mừng sai họ vào trong. Đi vào nhưng không hòa tan. Mở ra nhưng không mất rễ. Tiếp nhận nhưng không tiêu thụ vô thức. Thành công nhưng không quên người bị bỏ lại. Yêu quê mình nhưng không khinh quê người. Dùng cái toàn cầu để làm phong phú cái địa phương, và đem cái đẹp của địa phương góp vào cái toàn cầu. Đó là một linh đạo rất đời, nhưng cũng rất sâu: sống trong một thế giới ngày càng nối liền mà làm chứng rằng liên kết kỹ thuật chỉ trở thành hiệp thông khi có tình yêu, thị trường chỉ phục vụ con người khi có công bằng, và khác biệt chỉ trở thành phong phú khi con người biết mình cùng có một Cha.
Người giáo dân không có nhiệm vụ ngăn thế giới trở thành toàn cầu. Điều ấy đã xảy ra và sẽ còn đi xa hơn. Nhiệm vụ của họ là góp phần để thế giới toàn cầu không trở thành thế giới vô hồn. Giữa những chuỗi cung ứng, họ nhớ đến bàn tay. Giữa những dòng vốn, họ nhớ đến người nghèo. Giữa những luồng dữ liệu, họ nhớ đến sự thật. Giữa những cuộc di cư, họ nhớ đến khuôn mặt. Giữa những tiêu chuẩn toàn cầu, họ giữ ký ức. Giữa những khác biệt văn hóa, họ tìm hiệp thông. Giữa sự cám dỗ sống như khách du lịch của mọi nền văn hóa, họ học sống như người có nhà mà cửa nhà luôn mở. Có lẽ đó là hình ảnh đẹp nhất cho linh đạo giáo dân trong toàn cầu hóa: một căn nhà có nền móng sâu, cửa sổ rộng, bàn ăn có chỗ cho khách, người trong nhà biết mình là ai và vì thế không sợ người khác bước vào.
CHƯƠNG 34. NGƯỜI TRẺ GIÁO DÂN VÀ KHỦNG HOẢNG Ý NGHĨA
Có một nhận xét rất dễ được nói trong các cuộc họp mục vụ về giới trẻ: người trẻ hôm nay xa Hội Thánh, người trẻ lười đi lễ, người trẻ mê điện thoại, người trẻ sống thực dụng, người trẻ không còn tha thiết với đời sống đức tin như thế hệ trước. Những nhận xét ấy có thể chạm đến một phần sự thật, nhưng nếu dừng ở đó thì rất dễ trở thành một cách đổ lỗi. Bởi vì nhiều người trẻ hôm nay không hẳn chống Hội Thánh. Họ không đứng trước nhà thờ với một bản tuyên ngôn vô thần trong tay. Họ cũng không nhất thiết có một lập trường thần học rõ ràng để phủ nhận Thiên Chúa. Nhiều người đơn giản chỉ không thấy những gì Hội Thánh đang nói có liên quan trực tiếp đến cuộc đời họ. Họ nghe nhiều lời đúng nhưng không biết những lời ấy đi vào đâu trong tuần lễ đầy áp lực của mình. Họ nghe nói về ơn gọi nên thánh nhưng sáng mai vẫn phải nộp hồ sơ xin việc. Họ nghe nói về tín thác nhưng cuối tháng vẫn phải trả tiền nhà. Họ nghe nói về đức khiết tịnh nhưng đang phải chiến đấu với một nền văn hóa tình dục tràn qua màn hình từng giờ. Họ nghe nói về gia đình Kitô giáo nhưng chính gia đình họ có thể đã đổ vỡ từ lâu. Họ nghe nói về niềm vui Tin Mừng nhưng đang thức đến hai giờ sáng vì lo âu, vì cô đơn, vì sợ tương lai, vì không biết đời mình rồi sẽ đi đâu. Vấn đề vì thế không chỉ là: người trẻ có đến với Hội Thánh hay không. Một câu hỏi đau hơn cần được đặt ra: Hội Thánh có thật sự bước vào được những vùng sâu nhất trong đời sống người trẻ hay chưa? Linh đạo giáo dân dành cho người trẻ phải bắt đầu từ câu hỏi ấy. Nếu linh đạo chỉ dạy họ làm thêm một số việc đạo đức bên ngoài một đời sống đang bị phân mảnh, linh đạo ấy chưa đủ sâu. Nếu mục vụ giới trẻ chỉ cố kéo thêm người vào các sinh hoạt, tăng số thành viên trong nhóm, làm chương trình náo nhiệt hơn, chụp hình đẹp hơn, hát hay hơn, nhưng không giúp người trẻ trả lời câu hỏi “Tôi sống để làm gì?”, thì có thể chúng ta đang giải quyết phần nổi trong khi khủng hoảng thật nằm rất sâu phía dưới.
Khủng hoảng lớn của nhiều người trẻ hôm nay không chỉ là khủng hoảng đạo đức. Nó là khủng hoảng ý nghĩa. Một người có thể biết điều gì đúng mà vẫn không thấy tại sao mình phải sống. Một người có thể học giáo lý khá tốt mà vẫn thức dậy mỗi sáng với cảm giác cuộc đời vô vị. Một người có thể có bằng cấp, công việc, người yêu, điện thoại tốt, tài khoản mạng xã hội đông người theo dõi mà vẫn âm thầm hỏi: “Rồi tất cả để làm gì?” Đây là câu hỏi nghiêm trọng hơn nhiều so với việc người ấy có thuộc đủ kinh hay không. Trong xã hội truyền thống, ý nghĩa đời người thường được trao sẵn bởi gia đình, làng xóm, tôn giáo, nghề nghiệp, trách nhiệm cộng đồng. Một người biết mình là con của ai, thuộc về nơi nào, sẽ nối nghề nào, cưới ai, sống với cộng đồng nào, thờ phượng Thiên Chúa theo truyền thống nào. Những khuôn ấy có nhiều giới hạn, nhưng chúng cũng tạo một cấu trúc ý nghĩa tương đối ổn định. Người trẻ hôm nay lớn lên trong một thế giới khác. Họ được nói rằng mình có thể trở thành bất cứ ai, có thể chọn gần như bất cứ điều gì, có thể xây dựng “phiên bản tốt nhất của chính mình”, có thể thay nghề, thay nơi ở, thay nhóm bạn, thay hình ảnh bản thân, thậm chí có thể trình bày nhiều phiên bản khác nhau của chính mình trên những nền tảng khác nhau. Tự do tăng lên, nhưng cùng với tự do ấy là một gánh nặng rất lớn: nếu tôi có thể trở thành bất cứ ai, vậy tôi phải trở thành ai? Nếu mọi con đường đều mở, con đường nào đáng đi? Nếu thành công được đo bằng tiền bạc, trải nghiệm, lượt thích, mức độ nổi bật và khả năng tự thể hiện, bao nhiêu là đủ? Không có câu trả lời cuối cùng, người trẻ dễ chạy rất nhanh mà không biết mình đang chạy về đâu.
Ở đây Tin Mừng có một điều cực kỳ quan trọng để nói, nhưng phải được nói đúng cách. Tin Mừng không bắt đầu bằng việc đưa cho người trẻ một danh sách nhiệm vụ. Tin Mừng bắt đầu bằng một ánh mắt. Đức Giêsu nhìn con người trước khi Người sai họ làm bất cứ điều gì. Khi gọi các môn đệ, Người không trao cho họ trước tiên một bản kế hoạch đời sống chi tiết. Người nói: “Hãy theo Thầy.” Trung tâm của ơn gọi Kitô hữu không phải là một dự án tự hoàn thiện bản thân nhưng là một tương quan. Người trẻ không cứu đời mình bằng cách thiết kế một phiên bản hoàn hảo hơn của chính mình. Họ tìm được đời mình khi bước vào tương quan với Đức Kitô, để từ tương quan ấy họ hiểu mình là ai và mình được sai đi để làm gì. Đây là điểm mà linh đạo giáo dân phải nói rất mạnh với người trẻ. Giá trị của anh không bắt đầu từ CV. Giá trị của chị không bắt đầu từ sắc đẹp. Giá trị của anh không bắt đầu từ mức lương. Giá trị của chị không bắt đầu từ việc đã có người yêu hay chưa. Giá trị của anh không tăng vì được nhiều người biết đến, cũng không giảm vì chưa đạt được điều người khác đã đạt ở tuổi của anh. Trước khi là sinh viên, kỹ sư, bác sĩ, công nhân, nghệ sĩ, lập trình viên, người thất nghiệp, người đang yêu, người vừa chia tay hay người đang dò đường, anh chị là người đã được Thiên Chúa gọi vào sự sống, được Đức Kitô cứu chuộc và được mời vào hiệp thông với Người. Nếu nền ấy không được dựng lại, người trẻ sẽ buộc phải lấy một nền khác để đặt phẩm giá mình lên đó, và những nền khác thường rất mong manh.
Một trong những nguyên nhân sâu của khủng hoảng ý nghĩa là người trẻ bị buộc phải biến mình thành một dự án liên tục. Phải học thêm. Phải giỏi hơn. Phải đẹp hơn. Phải có kỹ năng mới. Phải xây dựng thương hiệu cá nhân. Phải có thành tựu trước tuổi ba mươi. Phải đi đây đi đó. Phải có trải nghiệm. Phải không bị tụt lại. Phải chứng minh rằng mình đang tiến lên. Ngay cả nghỉ ngơi cũng có thể trở thành một phần của dự án tối ưu hóa bản thân: ngủ để làm việc tốt hơn, tập thể dục để có hình thể tốt hơn, thiền để hiệu suất cao hơn. Trong một thế giới như thế, con người rất dễ đánh mất khả năng chỉ đơn giản là hiện hữu trước mặt Thiên Chúa. Linh đạo Kitô giáo nói một điều gần như phản văn hóa: con không cần phải chứng minh quyền được hiện hữu. Con đã được yêu trước khi làm được gì. Ân sủng đi trước thành tích. Ơn gọi đi trước CV. Thiên Chúa gọi tên con trước khi thị trường lao động xếp hạng con. Người biết con trước khi thuật toán biết sở thích của con. Điều này không làm người trẻ lười đi. Trái lại, chính người biết mình không phải kiếm tình yêu bằng thành tích mới có thể lao động tự do hơn. Người ấy có thể cố gắng hết sức mà không biến thất bại thành bản án về giá trị con người mình.
Vì thế, linh đạo giáo dân cho người trẻ không thể tránh câu chuyện nghề nghiệp. Nhiều bài nói chuyện đạo đức với người trẻ rất hay cho đến khi bước ra khỏi nhà thờ. Sáng thứ Hai người trẻ trở lại giảng đường, bệnh viện, văn phòng, công trường, studio, quán cà phê, nhà máy, phòng thí nghiệm, lớp học, doanh nghiệp khởi nghiệp, và ở đó họ phải quyết định hàng trăm điều mà buổi sinh hoạt đạo hôm trước không hề chạm tới. Có nên nhận một công việc lương cao nhưng làm mình kiệt sức không? Có nên ở lại ngành học cha mẹ chọn dù bản thân không còn thấy ý nghĩa? Có được thay nghề không? Làm sao phân biệt kiên trì với cố chấp? Có được mong giàu không? Nếu công ty yêu cầu nói sai sự thật thì làm sao? Nếu đồng nghiệp gian mà mình ngay thì có sống nổi không? Làm nghệ thuật có phải là nghề thật không? Làm nội dung trên mạng có thể là một ơn gọi không? Đi làm xa gia đình có sai không? Thất nghiệp có làm mình thành người thất bại không? Linh đạo giáo dân phải có ngôn ngữ cho những câu hỏi ấy. Nếu không, chúng ta đang vô tình nói với người trẻ rằng Thiên Chúa chỉ có thẩm quyền trong nhà thờ, còn những quyết định thật sự định hình đời họ thì tự họ xoay xở.
Nghề nghiệp, theo cái nhìn Kitô giáo, không phải chỉ là nơi kiếm tiền, dù kiếm sống là một điều hoàn toàn chính đáng và cần thiết. Nghề cũng là một nơi thi hành ơn gọi làm người, tham dự vào công trình tạo dựng, phục vụ người khác, phát triển tài năng, xây dựng xã hội và thực hành các nhân đức. Nhưng không phải mọi nghề đều tự động trở thành ơn gọi chỉ vì mình đang làm nó. Một công việc chỉ thật sự được sống như ơn gọi khi con người đặt nó dưới ánh sáng của sự thật, công bằng, bác ái và ý muốn Thiên Chúa. Có những công việc phải bỏ vì chúng làm hại người khác. Có những môi trường phải chống lại từ bên trong. Có những nghề rất bình thường nhưng có thể trở thành đường nên thánh. Một y tá trực đêm, một thợ sửa xe làm đúng phần việc không gian khách, một giáo viên không bớt xén kiến thức, một nhà thiết kế không lấy cắp ý tưởng, một người làm truyền thông không bịa tin để câu tương tác, một kế toán không sửa số, một lập trình viên không xây thứ mình biết sẽ gây hại, một công nhân làm đúng trách nhiệm dù không ai ca ngợi — tất cả đều có thể sống chức tư tế của người đã chịu phép Rửa ngay giữa công việc. Người trẻ cần nghe điều ấy. Họ cần biết rằng nên thánh không nhất thiết đòi họ rời nghề để làm thêm việc nhà thờ. Nên thánh có thể bắt đầu bằng việc làm nghề của mình dưới ánh mắt Thiên Chúa.
Một khủng hoảng khác là tình yêu. Người trẻ không chỉ hỏi: “Tôi sẽ làm nghề gì?” Họ còn hỏi: “Ai sẽ yêu tôi?”, “Tôi có tìm được người để sống cả đời không?”, “Tôi có đáng được yêu không?”, “Nếu đã từng đổ vỡ thì còn có thể bắt đầu lại không?”, “Tình yêu có thật sự bền không?” Những câu hỏi ấy không thể được trả lời bằng vài khẩu hiệu luân lý. Hội Thánh có một cái nhìn rất đẹp về tình yêu, thân xác, tính dục, hôn nhân, nhưng đôi khi người trẻ chỉ nghe phần cấm mà chưa nghe phần đẹp. Họ nghe “không được” trước khi hiểu “vì sao đáng sống như thế”. Linh đạo giáo dân phải trả lại toàn bộ vẻ đẹp ấy. Thân xác không phải một vật sở hữu để đem trao đổi lấy tình cảm. Thân xác là chính con người trong chiều kích hữu hình, có phẩm giá và được gọi vào hiệp thông. Tính dục không phải kẻ thù của đời sống thiêng liêng. Nó là một năng lực sâu của con người, cần được hội nhập vào tình yêu có trách nhiệm. Khiết tịnh không phải ghét thân xác. Khiết tịnh là học cách yêu một con người như con người, không biến người ấy thành phương tiện cho nhu cầu của mình.
Người trẻ sống giữa một nền văn hóa mà thân xác bị thương mại hóa rất mạnh. Hình ảnh được chỉnh sửa, cơ thể được đánh giá, ham muốn được kích thích, sự hấp dẫn được biến thành vốn xã hội, và tình dục có thể bị tách khỏi cam kết, sinh sản, trung tín và trách nhiệm. Trong bối cảnh ấy, nói về khiết tịnh mà chỉ nói bằng giọng cấm đoán sẽ không đủ. Phải cho thấy rằng khiết tịnh là một hình thức tự do. Người khiết tịnh không phải người không có ham muốn nhưng là người không để ham muốn làm chủ mình. Người ấy có thể nhìn người khác mà không chiếm hữu. Có thể yêu mà không thao túng. Có thể chờ mà không chết. Có thể chịu cô đơn mà không bán mình để lấy một chút cảm giác được cần đến. Có thể đi qua một cuộc chia tay mà không kết luận rằng mình vô giá trị. Có thể yêu sâu nhưng vẫn giữ sự thật. Đây không phải đạo đức dành cho vài người đặc biệt. Đây là cuộc chiến thiêng liêng rất thực của người trẻ giáo dân.
Đồng thời, Hội Thánh phải có lòng thương đối với những người trẻ đã vấp ngã. Có những người bước vào đời sống tình cảm với các vết thương từ gia đình. Có người chưa bao giờ được thấy một cuộc hôn nhân lành mạnh. Có người đã bị phản bội. Có người đã bị sử dụng. Có người đã tự sử dụng người khác rồi đau đớn nhận ra. Có người mang mặc cảm vì quá khứ. Có người biết giáo huấn nhưng đã sống khác. Linh đạo không được biến các vết thương ấy thành lý do để đẩy họ ra xa. Đức Kitô không hạ thấp sự thật, nhưng Người cũng không nghiền nát cây lau bị giập. Mục vụ giới trẻ phải biết nói cả hai ngôn ngữ: “Điều này là sai” và “Anh chị vẫn có một con đường trở về.” Nếu chỉ nói câu thứ hai, ta biến lòng thương xót thành dễ dãi. Nếu chỉ nói câu thứ nhất, ta biến sự thật thành đá ném. Tin Mừng luôn giữ cả sự thật và lòng thương xót trong cùng một khuôn mặt Đức Kitô.
Một vùng khác mà linh đạo giáo dân phải bước vào là thân xác và hình ảnh bản thân. Rất nhiều người trẻ sống dưới ánh nhìn liên tục của người khác. Không phải lúc nào họ cũng thật sự bị nhìn, nhưng điện thoại tạo cho họ cảm giác luôn có một cử tọa tưởng tượng. Ăn gì, mặc gì, đi đâu, trông thế nào, thành công đến đâu, có người yêu chưa, đã mua được gì, đã đi nước nào, vóc dáng ra sao. Tất cả có thể được so sánh. So sánh ngày trước diễn ra với vài chục người quanh mình. So sánh hôm nay diễn ra với hàng nghìn người được thuật toán lựa chọn chính xác để làm mình chú ý. Và người ta thường so cuộc sống hậu trường của mình với sân khấu đã chỉnh sửa của người khác. Không lạ khi nhiều người thấy mình luôn thiếu. Thiếu đẹp. Thiếu giỏi. Thiếu vui. Thiếu bạn. Thiếu tiền. Thiếu trải nghiệm. Thiếu tiến bộ. Thiếu “phiên bản tốt nhất”.
Đức tin Kitô giáo trả lại thân xác cho một ánh nhìn khác. “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp.” Thân xác là thụ tạo. Đức Kitô đã mang lấy thân xác. Người sống lại trong thân xác được biến đổi. Thân xác vì thế không phải một dự án thẩm mỹ vô tận cũng không phải một vật thể để người khác đánh giá. Nó thuộc về lịch sử cứu độ. Điều đó có hệ quả rất thực. Người trẻ có thể chăm sóc thân xác mà không thờ thân xác. Có thể tập luyện mà không căm ghét chính mình. Có thể ăn uống có kỷ luật mà không biến vóc dáng thành thần tượng. Có thể ăn mặc đẹp mà không sống bằng sự thèm muốn được nhìn. Có thể già đi mà không thấy mình mất giá. Có thể có khuyết điểm mà vẫn biết mình đáng yêu. Đây là những điều tưởng như không “cao siêu”, nhưng lại là một phần rất thật của linh đạo giáo dân hôm nay.
Rồi đến mạng xã hội. Nếu linh đạo giáo dân không nói về mạng, nó đang bỏ trống một trong những nơi người trẻ sống nhiều giờ nhất. Mạng không phải một thế giới giả hoàn toàn. Trên mạng có bạn thật, công việc thật, tri thức thật, sáng tạo thật, việc thiện thật, sứ vụ thật. Nhưng mạng cũng có cám dỗ thật. Người trẻ có thể trở thành một con người khác trên mạng, không phải vì cố ý gian, nhưng vì dần dần học cách nhìn chính mình qua phản ứng của người khác. Một bài đăng nhiều tương tác làm tâm trạng lên. Một bài ít người xem làm lòng xuống. Một người không trả lời tin nhắn tạo cảm giác bị từ chối. Một bình luận ác có thể ám nhiều ngày. Một cuộc tranh cãi có thể làm mất bình an. Một đêm lướt vô thức có thể cướp mất giấc ngủ, cầu nguyện và khả năng tập trung. Điều đáng lo không chỉ là nội dung xấu. Điều đáng lo là mạng có thể định hình cấu trúc nội tâm: con người mất dần khả năng ở một mình, không chịu được im lặng, cần kích thích liên tục, khó đọc dài, khó cầu nguyện, khó lắng nghe một người nói chậm, khó ở lại với một cảm xúc đau mà không lập tức trốn vào màn hình.
Linh đạo người trẻ vì thế cần một dạng khổ chế mới. Khổ chế không chỉ là ăn chay. Có thể cần ăn chay màn hình. Không phải vì điện thoại xấu, nhưng vì tự do quý. Có những giờ không điện thoại. Có những bữa ăn không màn hình. Có những cuộc gặp không đặt điện thoại trên bàn như người thứ ba. Có những sáng không mở mạng ngay sau khi thức dậy. Có những tối không để thuật toán là tiếng nói cuối cùng trước giấc ngủ. Có những ngày Chúa Nhật cần lấy lại nhịp chậm. Không phải mọi người phải làm giống nhau, nhưng người trẻ phải được dạy đặt câu hỏi: “Tôi đang sử dụng công nghệ hay công nghệ đang sử dụng tôi?” Đây là câu hỏi linh đạo. Nếu một ứng dụng làm tôi mất khả năng cầu nguyện, mất bình an, dễ ghen, dễ dục vọng, dễ giận, dễ phán xét, dễ lãng phí thời gian, thì vấn đề không còn thuần kỹ thuật. Nó đã bước vào vùng tự do và nhân đức.
Khủng hoảng ý nghĩa cũng gắn sâu với nỗi lo tương lai. Người trẻ đang bước vào một thế giới mà rất nhiều điều không chắc chắn. Nghề thay đổi nhanh. Công nghệ thay đổi nhanh. Trí tuệ nhân tạo có thể làm một số công việc biến mất và tạo ra những công việc chưa ai hình dung rõ. Giá nhà, chi phí sống, cạnh tranh nghề nghiệp, những biến động kinh tế, chiến tranh, dịch bệnh, khí hậu, di dân và vô số tin tức tiêu cực khiến tương lai không còn mang dáng vẻ chắc chắn. Với nhiều người, ba mươi tuổi không còn đồng nghĩa với đã ổn định nghề, có nhà, lập gia đình và biết rõ đường đi như trong hình dung của thế hệ trước. Họ sống lâu hơn trong vùng chuyển tiếp. Học xong chưa chắc có việc. Có việc chưa chắc giữ được lâu. Có chuyên môn chưa chắc chuyên môn ấy còn giá trị sau mười năm. Trong hoàn cảnh ấy, lời kêu gọi “hãy tín thác” nếu được nói hời hợt sẽ trở thành khẩu hiệu. Tín thác Kitô giáo không có nghĩa là giả vờ tương lai chắc chắn. Tín thác là tin rằng giữa tương lai không chắc chắn, Thiên Chúa vẫn trung tín.
Phân biệt này rất quan trọng. Đức tin không hứa rằng kế hoạch nghề nghiệp của tôi sẽ thành. Không hứa rằng người tôi yêu sẽ ở lại. Không hứa rằng tôi sẽ luôn có công việc tốt. Không hứa rằng bệnh tật sẽ tránh tôi. Không hứa rằng mọi nỗ lực sẽ được thưởng như tôi mong. Đức tin hứa điều sâu hơn: không điều gì có thể tách tôi khỏi tình yêu Thiên Chúa trong Đức Kitô. Chính nền ấy cho phép người trẻ lập kế hoạch mà không thờ kế hoạch. Cố gắng mà không biến kết quả thành Thiên Chúa. Yêu mà không biến người yêu thành cứu tinh. Làm việc mà không biến nghề thành căn tính cuối cùng. Thất bại mà không tuyệt vọng. Thành công mà không kiêu ngạo. Đó là tự do rất lớn.
Một trong những điều mục vụ người trẻ thường thiếu là nghệ thuật phân định. Người trẻ được cho quá nhiều lựa chọn nhưng rất ít dụng cụ nội tâm để lựa chọn. Họ biết tìm thông tin nhưng chưa chắc biết phân định. Họ có thể xem hàng trăm video “nên học ngành gì”, “có nên nghỉ việc không”, “dấu hiệu người ấy yêu bạn”, “năm kỹ năng phải học trước tuổi ba mươi”, nhưng nhiều thông tin hơn không tự động tạo ra khôn ngoan hơn. Phân định Kitô giáo không phải bói ý Chúa. Không phải chờ một dấu lạ. Không phải lấy một câu Kinh Thánh ngẫu nhiên làm câu trả lời máy móc. Phân định là đem đời mình ra trước Thiên Chúa, dùng lý trí, lương tâm được đào tạo, Lời Chúa, giáo huấn Hội Thánh, hoàn cảnh thực tế, lời khuyên khôn ngoan, ơn ban và giới hạn bản thân, rồi học nhận ra hướng nào dẫn tới sự thật, tự do và bác ái hơn.
Người trẻ cần được dạy rằng không phải mọi điều mình “thích” đều là ơn gọi, nhưng ơn gọi cũng không luôn là điều mình ghét. Thiên Chúa không chơi trò giấu ý muốn của Người để thử ta. Ý Chúa thường được nhận ra dần trong sự giao nhau giữa những ơn Người đã ban, nhu cầu thật của người khác, trách nhiệm cụ thể, sự bình an sâu và những cánh cửa thực tế đang mở. Có lúc phải thử. Có lúc phải sai. Có lúc phải đổi đường. Một người đổi ngành không nhất thiết là thiếu kiên trì. Một người ở lại nghề khó không nhất thiết là thánh. Phân định cần sự thật, không phải công thức. Vì thế người đồng hành với giới trẻ phải học hỏi cuộc sống thực của họ. Một linh mục, tu sĩ hay giáo lý viên không biết gì về thị trường lao động, áp lực đại học, nghề sáng tạo, nền kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, mạng xã hội, chuyện thuê nhà, khủng hoảng tình cảm, nhưng vẫn nói rất chắc người trẻ “phải làm gì”, dễ làm hại hơn giúp. Khi không biết, phải hỏi. Khi không hiểu, phải nghe. Khi thiếu chuyên môn, phải biết giới thiệu người thích hợp.
Một sai lầm nữa là tưởng rằng người trẻ có khủng hoảng ý nghĩa vì họ thiếu hoạt động. Thế là chúng ta cho họ thêm hoạt động. Họp. Hội trại. Văn nghệ. Truyền thông. Sinh hoạt. Công tác. Các hoạt động ấy có thể rất tốt. Nhưng một người có thể bận kín lịch giáo xứ mà vẫn không biết mình là ai. Thậm chí hoạt động tôn giáo có thể trở thành một cách chạy trốn khoảng trống nội tâm. Người trẻ được khen vì năng nổ, rồi dần dần xây căn tính quanh việc mình hữu ích cho cộng đoàn. Đến lúc không còn được giao việc, họ hụt. Đến lúc chuyển xứ, họ mất chỗ. Đến lúc lập gia đình không còn tham gia nhiều được, họ cảm thấy mình “nguội”. Đây là một dạng lệch linh đạo. Hội Thánh không phải nơi chỉ yêu người trẻ khi họ làm được việc. Họ là chi thể thân mình Đức Kitô trước khi là thành viên ban nào.
Cũng cần nói thẳng: nhiều người trẻ rời nhóm không phải vì mất đức tin nhưng vì mệt với đời sống nội bộ. Họ thấy nói về hiệp thông nhưng có phe. Nói phục vụ nhưng có tranh chức. Nói khiêm nhường nhưng có người thích được gọi tên. Nói bác ái nhưng có nói xấu. Nói người trẻ là tương lai Hội Thánh nhưng khi họ góp ý thì không ai nghe. Những kinh nghiệm ấy không chứng minh Hội Thánh sai, nhưng chúng có thể làm người trẻ không phân biệt được giữa Đức Kitô và những yếu đuối của người đại diện cho Người. Linh đạo trưởng thành phải giúp họ làm hai việc cùng lúc: yêu Hội Thánh thật, và không thần tượng hóa con người trong Hội Thánh. Hội Thánh thánh thiện vì Đức Kitô và Thánh Thần; Hội Thánh đồng thời mang những thành viên tội lỗi. Ai không học phân biệt hai điều ấy có thể hoặc vỡ mộng hoàn toàn, hoặc sống trong sự ngây thơ nguy hiểm.
Người trẻ cũng cần được trao trách nhiệm thật. Không phải trao việc vặt để họ cảm thấy được tham gia, mà là tin vào khả năng của họ trong những vùng họ thật sự có năng lực. Một người trẻ làm truyền thông chuyên nghiệp có thể hiểu những điều một ban mục vụ truyền thông lớn tuổi không hiểu. Một người trẻ học tâm lý có thể góp ánh sáng cho mục vụ. Một sinh viên kiến trúc có thể có cái nhìn về không gian nhà thờ. Một người làm công nghệ có thể giúp Hội Thánh hiểu đạo đức AI. Một giáo viên trẻ có thể nói cho cộng đoàn biết trẻ em hôm nay đang thay đổi ra sao. Một công nhân trẻ có thể cho Hội Thánh nghe những khó khăn của đời lao động mà người chỉ sống trong cơ cấu tôn giáo không biết. Lắng nghe giáo dân trẻ không phải một cử chỉ lịch sự. Nó thuộc bản chất hiệp hành của Hội Thánh. Họ không phải chuyên viên trong mọi chuyện, nhưng họ có kinh nghiệm của những môi trường mà Hội Thánh cần đi vào.
Đồng thời, không được tâng bốc tuổi trẻ. Người trẻ cũng cần được sửa. Họ có thể hấp tấp, tuyệt đối hóa cảm xúc, thiếu kinh nghiệm, dễ bị xu hướng lôi, nhầm tự do với không ràng buộc, nhầm chân thật với nói bất cứ điều gì mình nghĩ. Một mục vụ chỉ chiều người trẻ để giữ họ lại sẽ không sinh môn đệ. Đức Giêsu yêu người thanh niên giàu có nhưng vẫn nói lời khó. Người thanh niên bỏ đi, và Tin Mừng không kể Đức Giêsu chạy theo hạ tiêu chuẩn. Tôn trọng người trẻ nghĩa là tin họ có khả năng nghe sự thật. Nhưng sự thật phải được nói trong tương quan, bằng một người sẵn sàng ở lại khi họ chưa hiểu.
Khủng hoảng ý nghĩa còn bộc lộ trong câu hỏi về thành công. Người trẻ được dạy rất sớm rằng phải “thành công”, nhưng hiếm khi được hỏi thành công là gì. Nếu thành công là hơn người, cuộc đua không có điểm dừng. Nếu thành công là được nhìn thấy, luôn có người nổi hơn. Nếu là tiền, bao nhiêu mới đủ? Nếu là ảnh hưởng, bao nhiêu người theo dõi mới đủ? Tin Mừng đặt lại toàn bộ tiêu chuẩn ấy bằng một câu hỏi khác: đời con có sinh hoa trái tình yêu không? Thành công Kitô giáo không đồng nghĩa với thất bại xã hội. Một Kitô hữu có thể rất giỏi, rất giàu, rất nổi tiếng và dùng tất cả điều ấy tốt. Nhưng thành công không còn là cứu độ. Có người sự nghiệp rất nhỏ mà đời rất lớn trước mặt Thiên Chúa. Có người không nổi tiếng nhưng trung tín nuôi cha mẹ già. Có người từ chối một cơ hội vì nó đòi mình làm điều sai. Có người chấp nhận lương thấp hơn để giữ được gia đình. Có người sau nhiều năm mới tìm được nghề hợp. Có người cả đời mang một công việc bình thường nhưng đem lại sự tử tế cho hàng ngàn cuộc gặp nhỏ. Nước Thiên Chúa có một sổ kế toán khác.
Người trẻ giáo dân cần một linh đạo đủ thực để dạy họ sống với tiền. Tiền là một phần rất lớn của tuổi trưởng thành. Lương bao nhiêu? Tiết kiệm thế nào? Có nên vay? Có nên đầu tư? Có phải giúp gia đình không? Khi nào được mua thứ mình thích? Có phải nghèo mới thánh không? Hội Thánh không nên ngại những câu ấy. Tin Mừng nói rất nhiều về tiền bởi tiền rất gần trái tim. Người trẻ cần học rằng tiền là công cụ, không phải căn tính. Kiếm tiền lương thiện là điều tốt. Muốn có cuộc sống ổn định là chính đáng. Làm giàu không tự nó là tội. Nhưng của cải tạo một ảo tưởng rất mạnh rằng mình tự đủ. Bởi vậy linh đạo về tiền phải dạy ba điều: công bằng trong cách kiếm, khôn ngoan trong cách dùng và tự do trong cách cho. Một người trẻ biết dâng một phần thu nhập, biết không sống vượt khả năng, biết tránh tiêu dùng chỉ để chứng minh mình, đang tập một thứ tự do thiêng liêng rất sâu.
Người trẻ cũng cần được dạy giá trị của giới hạn. Văn hóa hiện đại nói: “Bạn có thể làm tất cả.” Thân phận con người nói: không. Không ai làm được tất cả. Không ai giữ mọi cơ hội. Chọn một đường là bỏ những đường khác. Cưới một người là từ bỏ những người có thể khác. Theo một nghề là chấp nhận những cơ hội không đi. Sống ở một nơi là không ở những nơi khác. Giới hạn không phải luôn là kẻ thù. Chính giới hạn làm cho tình yêu có hình dạng. Một lời “có” chỉ thật khi nó đồng thời là rất nhiều lời “không”. Người trẻ sợ cam kết thường không phải vì họ không muốn yêu, nhưng vì họ sợ lựa chọn này làm mất các khả năng khác. Linh đạo phải dạy họ rằng một cuộc đời có ý nghĩa không được tạo ra bằng cách giữ mọi cánh cửa mở. Nó được tạo ra bằng cách bước qua một cánh cửa đúng và trung tín đi trong đó.
Ở đây đời sống cầu nguyện trở nên thiết yếu. Không phải như một nhiệm vụ thêm vào lịch bận, nhưng như nơi người trẻ lấy lại trung tâm. Một người không có khoảng thinh lặng nào rất khó biết điều gì đang xảy ra trong lòng mình. Nếu mỗi khoảng trống đều được lấp bằng âm thanh, video, tin nhắn, âm nhạc, công việc, thì những câu hỏi sâu không có cơ hội được nghe. Cầu nguyện đặt người trẻ trước Đấng không đòi họ biểu diễn. Trước Thiên Chúa, không cần tạo thương hiệu cá nhân. Không cần chỉnh ảnh. Không cần tỏ ra ổn. Có thể nói: “Con không biết.” Có thể nói: “Con sợ.” Có thể nói: “Con giận.” Có thể nói: “Con đang ham điều này mà con biết không tốt.” Có thể im. Đó là sự thật cứu người.
Người trẻ không nhất thiết cần những chương trình cầu nguyện quá phức tạp. Họ cần nhịp đều. Mười phút Lời Chúa mỗi sáng có thể đổi đời hơn một cuộc tĩnh tâm rất mạnh rồi không còn gì. Một Thánh lễ Chúa Nhật sống thật có thể làm trụ cho cả tuần. Xét mình năm phút trước ngủ có thể giúp họ thấy các khuôn lặp trong lòng. Kinh Mân Côi trên đường đi. Một lời nguyện tắt trước khi mở máy làm việc. Một phút im trước quyết định khó. Bí tích Hòa giải định kỳ. Một ngày tĩnh tâm thỉnh thoảng. Linh đạo giáo dân không phải thu nhỏ đan viện, nhưng cũng không phải không có kỷ luật. Tình yêu không có nhịp sẽ nguội.
Đời sống bí tích đặc biệt quan trọng bởi người trẻ sống trong một thế giới rất “ảo”, còn bí tích đưa họ về với thực tại có thân xác. Nước thật trên đầu trong Rửa tội. Dầu thật. Bánh và rượu thật trở thành Mình và Máu Đức Kitô. Lời tha tội được nghe bằng tai. Một cộng đoàn thật cùng đứng. Bí tích nói: Thiên Chúa không cứu con bằng ý tưởng. Người chạm vào lịch sử và thân xác. Thánh Thể đặc biệt chữa khủng hoảng ý nghĩa vì tại đó người trẻ nhận một căn tính không phải tự tạo: “Mình Thánh Chúa Kitô.” “Amen.” Con thuộc về một thân mình lớn hơn bản thân. Con được nuôi bằng một quà tặng con không sản xuất. Và rồi con được sai đi. Thánh lễ không kết thúc khi bước ra cửa. Nó mở ra sứ mạng trong thứ Hai.
Một linh đạo người trẻ lành mạnh cũng cần tình bạn. Nhiều người trẻ rất kết nối nhưng rất cô đơn. Họ có hàng trăm người biết nhưng ít người có thể gọi lúc ba giờ sáng. Họ có nhóm chat nhưng không có người thật sự biết lòng mình. Tình bạn Kitô giáo không chỉ là nhóm cùng sở thích. Nó là nơi người ta giúp nhau sống sự thật. Một người bạn có thể hỏi: “Dạo này mày cầu nguyện không?” “Mối quan hệ đó đang làm mày thành người tốt hơn hay xấu hơn?” “Mày đang kiệt sức phải không?” “Mày nói chuyện đó với ai chưa?” Những câu như thế là mục vụ. Các nhóm trẻ không cần lúc nào cũng tổ chức chương trình lớn. Đôi khi thành công lớn nhất là tạo được vài tình bạn đủ thật để người ta không phải chiến đấu một mình.
Người trẻ cũng cần người lớn trưởng thành. Một trong những nghịch lý của xã hội hiện đại là người trẻ được nhắm đến liên tục bởi quảng cáo, nội dung, thương hiệu, chính trị, nhưng lại có thể thiếu những người trưởng thành thật sự đồng hành. Họ cần những người không muốn sử dụng họ. Một linh mục không chỉ tìm người trẻ khi cần nhân sự. Một đôi vợ chồng có thể mở nhà cho vài bạn trẻ ăn cơm. Một doanh nhân có thể hướng dẫn một người mới vào nghề. Một bác sĩ lớn tuổi có thể dạy một sinh viên y không chỉ kỹ thuật mà cả lương tâm nghề nghiệp. Một giáo viên có thể giúp học trò nhận ra ơn của mình. Đây là truyền thống theo nghĩa đẹp nhất: một thế hệ trao cho thế hệ sau không phải chỉ công thức, nhưng một cách sống.
Và người trẻ phải được cho phép đặt câu hỏi. Có những môi trường đạo khiến họ hiểu rằng hỏi là thiếu đức tin. Thế là họ im trong nhà thờ và hỏi trên mạng. Vấn đề là trên mạng ai cũng có thể trả lời. Một người trẻ hỏi về sự hiện hữu của Thiên Chúa, vấn đề sự dữ, giới tính, khoa học, lịch sử Hội Thánh, lạm dụng trong Giáo hội, các tôn giáo khác, đạo đức sinh học, AI, không nhất thiết vì họ muốn chống. Có thể họ đang nghiêm túc tìm sự thật. Đừng sợ câu hỏi. Đức tin không phải kính mỏng vỡ khi bị hỏi. Nhưng người trả lời phải có khiêm nhường. Có điều ta biết. Có điều Hội Thánh đã nói rõ. Có điều còn cần phân định. Có điều ta không biết. “Cha không biết, để cha tìm hiểu” đôi khi là một câu mục vụ tốt hơn một câu trả lời bịa.
Khủng hoảng ý nghĩa cũng có thể dẫn tới những trạng thái tuyệt vọng sâu. Ở đây linh đạo phải biết giới hạn của mình. Không phải mọi buồn bã đều chỉ là “thiếu cầu nguyện”. Không phải mọi lo âu đều giải quyết bằng “tin Chúa hơn”. Một người có thể cần linh hướng, nhưng cũng có thể cần chuyên viên tâm lý, bác sĩ, hoặc một mạng lưới hỗ trợ chuyên môn. Đức tin và việc tìm trợ giúp thích hợp không chống nhau. Ân sủng không hủy tự nhiên. Một mục vụ người trẻ trưởng thành biết khi nào nghe, khi nào cầu nguyện, khi nào giới thiệu chuyên môn và khi nào phải hành động để bảo vệ an toàn. Điều đó không làm Hội Thánh bớt thiêng. Nó làm Hội Thánh biết tôn trọng con người toàn diện.
Đặc biệt, người trẻ cần một thần học về thất bại. Nền văn hóa thành tích giấu thất bại. Mạng xã hội trình bày kết quả, ít trình bày các năm tháng lạc đường. Vì thế khi một người trượt đại học, thất nghiệp, bị đuổi việc, chia tay, thi rớt, dự án thất bại, họ dễ thấy như đời mình đã lệch khỏi câu chuyện đúng. Tin Mừng cho thấy Thiên Chúa viết cả trên những đường cong. Phêrô chối Thầy rồi trở thành người được trao nhiệm vụ củng cố anh em. Gioan Marcô từng bỏ cuộc rồi trở thành cộng sự hữu ích. Các môn đệ trên đường Emmaus đang đi khỏi Giêrusalem trong thất vọng thì chính trên con đường bỏ đi ấy Đức Kitô gặp họ. Điều này không có nghĩa mọi thất bại đều tốt. Có thất bại do sai lầm cần sửa. Có thất bại do tội cần hoán cải. Nhưng thất bại không có quyền nói câu cuối cùng. Người trẻ phải học rằng một chương xấu không quyết định toàn bộ cuốn sách.
Họ cũng cần học chờ. Chờ việc. Chờ người. Chờ câu trả lời. Chờ mình trưởng thành. Chờ một vết thương lành. Văn hóa tức thời làm chờ trở nên cực khó. Nhắn tin muốn trả lời ngay. Đặt hàng muốn giao nhanh. Video chậm vài giây thì bỏ. Nhưng những điều lớn của đời không chạy theo tốc độ ấy. Tình yêu cần năm tháng. Nhân cách cần năm tháng. Tay nghề cần năm tháng. Đức tin cần năm tháng. Một linh đạo không dạy chờ sẽ tạo những Kitô hữu chỉ chịu được Thiên Chúa khi Người trả lời nhanh. Mùa Vọng của đời người có thể dài. Đêm Thứ Bảy Tuần Thánh có thể rất im. Chính trong chờ đợi, đức tin học không bám vào cảm giác.
Người trẻ giáo dân cũng cần được nói rõ về sứ mạng. Không phải mọi người đều phải đi truyền giáo xa, làm nhân viên mục vụ hay trở thành người có mặt trong mọi chương trình giáo xứ. Đại đa số người trẻ được sai vào chính những nơi họ đang sống. Giảng đường là đất sứ mạng. Xưởng là đất sứ mạng. Phòng khám là đất sứ mạng. Studio là đất sứ mạng. Công ty công nghệ là đất sứ mạng. Một bàn làm việc trong cơ quan nhà nước là đất sứ mạng. Quán cà phê là đất sứ mạng. Mạng xã hội là đất sứ mạng. Gia đình là đất sứ mạng. Một Kitô hữu không cần giảng đạo mọi phút để làm chứng. Có lúc chứng tá là không nói xấu. Có lúc là không gian. Có lúc là xin lỗi. Có lúc là làm tốt hơn vì mình có trách nhiệm. Có lúc là nói về Đức Kitô khi người khác thật sự hỏi. Có lúc là bảo vệ người yếu trong một cuộc họp. Có lúc là không tham gia đám đông chế giễu ai đó. Có lúc là cho một đồng nghiệp vay tiền. Có lúc là nghỉ đúng giới hạn để không biến việc làm thành thần.
Chính ở đây phải tránh một kiểu “giáo xứ hóa” người trẻ. Có khi chúng ta chỉ xem một người trẻ là đạo đức khi họ xuất hiện nhiều trong nhà thờ. Người phụ trách ca đoàn được thấy. Người đọc sách được thấy. Người làm truyền thông giáo xứ được thấy. Còn một bác sĩ trẻ trực Chúa Nhật, một công nhân ca đêm, một người mẹ trẻ ở nhà chăm con, một kỹ sư đi công tác xa, có thể ít được thấy và vì thế vô tình bị xem như “không nhiệt thành”. Linh đạo giáo dân sửa cách nhìn đó. Ơn gọi của họ không được đo bằng thời lượng có mặt trong cơ sở Hội Thánh. Điều quan trọng là họ đang sống thuộc về Đức Kitô như thế nào trong phần đời được trao.
Điều đó không có nghĩa sinh hoạt Hội Thánh không cần. Người trẻ cần phụng vụ, cộng đoàn, giáo lý, phục vụ, sứ mạng. Nhưng mọi hoạt động phải sai họ trở về đời chứ không kéo họ ra khỏi đời. Sau một buổi sinh hoạt tốt, người sinh viên phải học tử tế hơn. Người đang yêu phải yêu trong sạch hơn. Người đi làm phải trung thực hơn. Người có cha mẹ phải biết hiếu thảo hơn. Người dùng mạng phải tự do hơn. Nếu hoạt động đạo làm người ta rất nhiệt trong nhóm nhưng rất tệ với gia đình, có vấn đề. Nếu người trẻ hát thờ phượng rất cảm động nhưng gian lận trong thi cử, linh đạo chưa chạm đất. Nếu họ nói về yêu thương nhưng bắt nạt người yếu trên mạng, đức tin chưa nhập thể.
Khủng hoảng ý nghĩa của người trẻ vì thế không thể được giải bằng cách cho họ một “ý nghĩa” quá nhỏ. “Sống để kiếm việc tốt.” Quá nhỏ. “Sống để cưới người tốt.” Rất đẹp nhưng vẫn chưa đủ. “Sống để thành công.” Quá nhỏ. “Sống để giúp người khác.” Cao quý nhưng vẫn cần nền sâu hơn. Kitô giáo nói: con được dựng nên để biết, yêu và thuộc về Thiên Chúa; để trong Đức Kitô trở nên con cái trong Người Con; để nhận lấy đời mình như quà tặng và biến nó thành quà tặng; để yêu Thiên Chúa và người thân cận bằng toàn bộ con người; để tham dự vào việc Thiên Chúa đổi mới thế giới; và cuối cùng để được hiệp thông đời đời với Người. Đó là một ý nghĩa đủ lớn để chứa cả nghề, tình yêu, đau khổ, thất bại, thành công và cái chết.
Khi người trẻ biết đời mình có cùng đích, những điều nhỏ không còn nhỏ. Một ca làm không chỉ là ca làm. Một bài học không chỉ là điểm. Một cuộc hẹn không chỉ là cảm xúc. Một lời từ chối gian lận không chỉ là mất cơ hội. Một tối ở nhà với cha mẹ già không chỉ là “mất cuộc vui”. Tất cả có thể đi vào một lịch sử dâng hiến. Linh đạo giáo dân chính là nghệ thuật đưa những điều bình thường ấy vào trong tương quan với Đức Kitô. Không phải phủ lớp đạo lên đời. Nhưng để chính đời trở thành nơi gặp Chúa.
Người trẻ không cần trở thành bản sao của ban hành giáo. Họ không cần nói cùng một giọng với những người lớn tuổi mới được xem là trưởng thành đức tin. Họ có ngôn ngữ, nhịp sống, nghề nghiệp, văn hóa và những câu hỏi riêng. Điều Hội Thánh cần không phải là làm họ giống thế hệ trước, nhưng giúp họ giống Đức Kitô trong thế hệ của họ. Một người trẻ nên thánh trong phòng lab có thể trông rất khác một người nên thánh trong ruộng đồng năm mươi năm trước. Một nghệ sĩ Kitô hữu có những trận chiến khác một nông dân Kitô hữu. Một lập trình viên có những trách nhiệm đạo đức chưa từng được đặt ra cho tổ tiên. Sự thánh thiện không sao chép hình thức; nó mang một khuôn mặt mới trong mỗi thời đại, nhưng cùng một Thánh Thần.
Đó là lý do Hội Thánh cần tin rằng người trẻ không chỉ là “tương lai”. Họ là hiện tại. Cách nói người trẻ là tương lai đôi khi vô tình giữ họ trong phòng chờ. Họ đã được Rửa tội hôm nay. Họ có Thánh Thần hôm nay. Họ có khả năng thánh hóa những môi trường mà thế hệ trước thậm chí không bước vào được. Họ cũng có trách nhiệm hôm nay. Không cần đợi đến bốn mươi tuổi mới bắt đầu nên thánh. Không cần đợi ổn định mới sống Tin Mừng. Thời sinh viên có thể thánh. Thời tìm việc có thể thánh. Thời độc thân có thể thánh. Thời yêu có thể thánh. Thời chưa biết mình sẽ đi đâu cũng có thể thánh, nếu giữa vùng chưa biết ấy người trẻ học bước với Đức Kitô.
Có lẽ điều quan trọng nhất Hội Thánh có thể trao cho người trẻ trong khủng hoảng ý nghĩa không phải là một câu trả lời cho mọi chi tiết tương lai, nhưng là một Đấng để đi cùng. Các môn đệ Emmaus không được Đức Giêsu đưa ngay một bản kế hoạch mới. Người đi bên họ. Người hỏi. Người nghe. Người giải thích Kinh Thánh. Người bẻ bánh. Rồi mắt họ mở ra và chính họ quay lại Giêrusalem. Đó cũng là mẫu cho mục vụ người trẻ. Đi cùng trước khi điều khiển. Nghe trước khi kết luận. Đưa Lời Chúa vào câu chuyện thật. Đưa họ về Thánh Thể. Và tin rằng khi gặp Đức Kitô, họ có thể tự đứng lên để đi con đường mình phải đi.
Người trẻ hôm nay không thiếu tiếng nói. Họ thiếu những tiếng nói đáng tin. Không thiếu thông tin. Họ thiếu khôn ngoan. Không thiếu kết nối. Họ thiếu hiệp thông. Không thiếu lựa chọn. Họ thiếu phân định. Không thiếu hình ảnh. Họ thiếu khuôn mặt thật. Không thiếu giải trí. Họ thiếu niềm vui sâu. Không thiếu hoạt động. Họ thiếu cùng đích. Linh đạo giáo dân phải bước vào chính khoảng thiếu ấy, không bằng hoài niệm một thế hệ đã qua, không bằng than rằng “ngày xưa khác”, cũng không bằng chạy theo mọi xu hướng để tỏ ra hiện đại. Hội Thánh không cần trẻ hóa bằng cách giả làm người trẻ. Hội Thánh cần trẻ lại bằng Tin Mừng, bởi Tin Mừng luôn mới đối với người thật sự gặp Đức Kitô.
Và có thể khi đó, một người trẻ đứng giữa giảng đường đông người sẽ biết mình không vô danh trước Thiên Chúa. Một bác sĩ thực tập kiệt sức trong đêm sẽ biết ca trực ấy có thể là nơi yêu Đức Kitô trong người đau. Một người làm studio sẽ biết cái đẹp mình tạo có thể phục vụ sự thật thay vì chỉ câu sự chú ý. Một công nhân trẻ sẽ biết bàn tay chai của mình có phẩm giá trước Thiên Chúa. Một người thất nghiệp sẽ biết mình chưa mất phẩm giá vì mất việc. Một người vừa chia tay sẽ biết đời mình chưa kết thúc vì một người đã đi. Một người chưa biết tương lai sẽ có thể nói: “Con chưa biết đường dài, nhưng con biết Đấng con đang theo.” Và có lẽ đó là bước đầu tiên ra khỏi khủng hoảng ý nghĩa: không phải biết hết điều gì sẽ xảy ra, nhưng biết đời mình thuộc về Ai.
Linh đạo giáo dân cho người trẻ cuối cùng không nhằm tạo một thế hệ Công giáo bận rộn hơn, dễ quản hơn, nói đúng khẩu hiệu hơn hay xuất hiện nhiều hơn trong ảnh sinh hoạt. Nó nhằm hình thành những người tự do trong Đức Kitô, có khả năng đứng trước thế giới mà không thờ thế giới, sử dụng công nghệ mà không bị công nghệ sở hữu, yêu mà không chiếm hữu, làm việc mà không bán lương tâm, thành công mà không kiêu, thất bại mà không tuyệt vọng, sống giữa bất định mà vẫn hy vọng, và đi vào những vùng đời thường với xác tín rằng không có nơi nào thật sự thuộc về con người mà Đức Kitô không muốn bước vào. Khi ấy Hội Thánh không còn chỉ “đụng” đến đời người trẻ bằng các chương trình. Hội Thánh hiện diện trong đời họ bằng chính những người trẻ đã trở thành Hội Thánh ở giữa đời.
CHƯƠNG 35. NGƯỜI GIÁO DÂN VIỆT NAM: BỐI CẢNH VÀ ÂN HUỆ
Muốn nói nghiêm túc về linh đạo giáo dân tại Việt Nam, không thể chỉ dịch các công thức thần học từ Âu châu rồi đặt nguyên vẹn vào một giáo xứ Việt Nam, cũng không thể chỉ nhắc lại những nguyên tắc phổ quát về phép Rửa, về tính chất trần thế, về chức tư tế, ngôn sứ và vương giả của người tín hữu mà không hỏi: người giáo dân Việt Nam thực sự đang sống ở đâu, họ lớn lên trong kiểu gia đình nào, họ đã tiếp nhận đức tin qua những con đường nào, họ đang chịu những áp lực kinh tế và văn hóa nào, đời sống đạo của họ được hình thành bởi những ký ức lịch sử nào, điều gì đang nâng đỡ họ, điều gì đang làm họ kiệt sức, điều gì trong truyền thống cần được bảo tồn, và điều gì phải được thanh luyện nếu Hội Thánh tại Việt Nam muốn bước vào một giai đoạn trưởng thành hơn của ơn gọi giáo dân. Linh đạo không bao giờ mọc trong chân không. Ân sủng không phá hủy lịch sử, văn hóa, tâm lý cộng đồng và những điều kiện xã hội của một dân tộc, nhưng đi vào đó, thanh luyện đó, chữa lành đó, nâng cao đó và làm cho những gì tốt đẹp nhất trong đó có thể trở thành chất liệu của Tin Mừng. Vì thế, người giáo dân Việt Nam không cần trở thành một bản sao của giáo dân Pháp, Ý, Mỹ, Hàn Quốc hay Philippines để trưởng thành. Họ cần trở thành người Kitô hữu Việt Nam trọn vẹn hơn: mang ký ức của cha ông, mang lòng biết ơn đối với những thế hệ đã truyền đức tin, mang khả năng chịu đựng, hy sinh, liên đới gia đình và lòng đạo bình dân rất sâu của dân tộc mình, nhưng đồng thời cũng dám để Tin Mừng chất vấn những thói quen tập thể, những kiểu đạo đức đã trở thành hình thức, những cơ chế giáo xứ quá lệ thuộc vào tổ chức, những khoảng cách giữa đức tin và nghề nghiệp, giữa nhà thờ và xã hội, giữa kinh nguyện và lương tâm công dân, giữa lòng sùng kính và trách nhiệm đối với công ích. Không thể yêu Hội Thánh Việt Nam mà chỉ ca tụng. Cũng không thể giúp Hội Thánh Việt Nam trưởng thành bằng cách chỉ phê phán. Cần nhìn thấy ân huệ thật để tạ ơn, nhìn thấy giới hạn thật để hoán cải, và nhìn thấy những dấu chỉ của thời đại để phân định con đường phía trước.
Một trong những ân huệ lớn nhất của Công giáo Việt Nam là khả năng tạo thành cộng đoàn. Ở nhiều nơi, một người Công giáo không chỉ “đi lễ” theo nghĩa cá nhân rồi trở về nhà. Họ thuộc về một giáo họ, một giáo xứ, một hội đoàn, một ca đoàn, một nhóm gia đình, một ban phục vụ, một lớp giáo lý, một cộng đoàn cầu nguyện, một mạng lưới thân tộc hoặc ít nhất một không gian quen thuộc nơi họ được gọi tên. Từ những giáo xứ thành thị đông hàng chục ngàn người đến những giáo họ miền quê nhỏ bé, cấu trúc cộng đoàn này đã giúp đức tin sống sót qua nhiều thời kỳ thiếu linh mục, thiếu phương tiện, chiến tranh, di cư, biến động xã hội và những năm tháng khó khăn về kinh tế. Người giáo dân Việt Nam biết tự tổ chức. Họ biết dựng nhà nguyện, góp công xây nhà thờ, chia nhau việc tang, việc cưới, thăm người đau, chuẩn bị lễ bổn mạng, dạy giáo lý, tập hát, trang trí, nấu ăn, đón khách, quyên góp cho người nghèo, sửa mái nhà cho một gia đình túng thiếu, đưa người bệnh đi bệnh viện, gom tiền cho một em sinh viên nghèo, và làm hàng trăm việc nhỏ không bao giờ xuất hiện trong các văn kiện thần học. Những điều ấy không nhỏ. Đó là một thứ vốn liếng hiệp thông mà nhiều xã hội hiện đại đang đánh mất. Trong một thời đại mà con người ngày càng cô độc, gia đình thu nhỏ, hàng xóm không biết nhau, người già sống một mình, người trẻ có hàng ngàn bạn trên mạng nhưng không biết gọi ai khi gặp nạn, khả năng tạo cộng đoàn của Công giáo Việt Nam là một tài sản mục vụ rất lớn. Không nên khinh thường nó dưới danh nghĩa hiện đại hóa. Hội Thánh tương lai không thể được xây chỉ bằng cá nhân có học vấn cao nhưng không biết thuộc về ai.
Cùng với tinh thần cộng đoàn ấy là sức sống đặc biệt của các đoàn thể. Thiếu Nhi Thánh Thể, Legio Mariae, Gia đình Phạt tạ Thánh Tâm, các hội các bà mẹ, hội gia trưởng, hội Mân Côi, các nhóm lòng thương xót, các hội đồng hương Công giáo, các nhóm giới trẻ, ca đoàn, hội bác ái, các nhóm cầu nguyện và rất nhiều hình thức khác đã tạo cho hàng triệu giáo dân một cơ cấu để sống đạo ngoài Thánh lễ Chúa Nhật. Nhiều người đã học được tinh thần trách nhiệm nhờ một hội đoàn. Họ học đứng trước cộng đoàn, tổ chức công việc, cầu nguyện chung, phục vụ người bệnh, đi thăm gia đình, dạy trẻ em, cộng tác với linh mục, giữ lịch sinh hoạt và hy sinh thời gian riêng cho một công việc chung. Một bà mẹ bình thường có thể chưa bao giờ học thần học, nhưng ba mươi năm đi thăm bệnh trong hội đoàn đã dạy bà một thứ thần học của lòng thương xót mà không lớp học nào thay thế được. Một người đàn ông ít nói có thể nhờ việc phụ trách công việc giáo họ mà học được sự trung tín, trách nhiệm và khả năng đặt lợi ích chung lên trên sở thích cá nhân. Một em thiếu nhi có thể nhờ những năm sinh hoạt mà biết cầu nguyện, kỷ luật, phục vụ và ý thức mình thuộc về Hội Thánh. Không được phá bỏ những điều ấy chỉ vì một số hình thức hội đoàn đã cũ. Vấn đề không phải là có hội đoàn hay không. Vấn đề là hội đoàn đang phục vụ ơn gọi Kitô hữu hay đã trở thành mục tiêu tự thân.
Ở đây bắt đầu một nguy cơ rất thật của linh đạo giáo dân Việt Nam: người ta dễ đồng nhất một giáo dân “sống đạo mạnh” với một giáo dân “hoạt động nhiều trong nhà thờ”. Một người tham gia năm hội đoàn, có mặt trong hầu hết các cuộc lễ, đi họp đều, đóng góp rộng rãi, được cha xứ tin cậy, có thể được xem như mẫu người giáo dân nhiệt thành. Trong khi đó, một kỹ sư làm việc tử tế, không gian lận hồ sơ, không nhận tiền bất chính, dám bảo vệ một nhân viên yếu thế, nuôi dạy con cái có đức tin nhưng vì công việc không tham gia được nhiều sinh hoạt giáo xứ, có thể lại bị xem là “không tích cực”. Một bác sĩ giữ lương tâm nghề nghiệp, không coi bệnh nhân nghèo như gánh nặng, từ chối những thực hành trái với phẩm giá con người, có thể chẳng có chức vụ gì trong giáo xứ. Một giáo viên không gian lận điểm số, không nhận tiền để đối xử thiên vị với học sinh, kiên nhẫn với trẻ yếu, đang thi hành một sứ mạng giáo dân rất sâu. Một chủ doanh nghiệp trả lương đúng, không quỵt bảo hiểm, không bóc lột công nhân và từ chối quảng cáo gian dối đang sống đức công chính của Tin Mừng giữa trần thế. Nhưng vì linh đạo giáo dân của chúng ta quá lâu bị đo bằng những gì xảy ra “trong sân nhà thờ”, những kiểu thánh thiện ấy nhiều khi không được nhìn thấy, không được gọi tên, không được giảng dạy, không được nâng đỡ. Đây không chỉ là vấn đề mục vụ. Đây là vấn đề thần học. Nếu tính chất trần thế thuộc về căn tính riêng của người giáo dân, thì nghề nghiệp, kinh tế, giáo dục, văn hóa, công nghệ, gia đình, môi trường, truyền thông và công ích không thể bị coi là phần ngoại vi của đời sống thiêng liêng. Chính ở đó phần lớn đời người giáo dân đang diễn ra. Chính ở đó họ phải nên thánh. Chính ở đó Hội Thánh cần họ nhất.
Lòng đạo bình dân là một ân huệ khác rất sâu của người Công giáo Việt Nam. Những tháng hoa Đức Mẹ, những cuộc rước, những ngày kính thánh quan thầy, những hang đá Giáng Sinh, giờ kinh gia đình, kinh Mân Côi, kinh cầu, việc viếng nghĩa trang, những chuyến hành hương, lòng kính các thánh tử đạo, lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, lòng thương xót Chúa và nhiều thực hành khác đã giữ đức tin trong những gia đình mà đôi khi sách thần học không bao giờ bước vào. Một bà ngoại không đọc được một trang giáo lý dài có thể truyền cho cháu một cảm thức rất sâu về Thiên Chúa bằng việc quỳ xuống mỗi tối. Một người cha ít lời có thể dạy con về đức tin bằng cách chở con đi lễ dù mưa. Một người mẹ có thể không biết giải thích tín điều hiệp thông các thánh, nhưng việc bà luôn nhớ cầu cho ông bà tổ tiên đã làm đứa trẻ cảm được rằng đức tin nối người sống với người đã chết trong một mầu nhiệm lớn hơn gia đình hữu hình. Lòng đạo bình dân đi qua thân xác, ký ức, nhịp mùa, âm thanh, mùi hương, ảnh tượng, những chuyến đi, những cử chỉ lặp lại và những câu kinh thuộc lòng. Nó tạo nên một môi trường biểu tượng mà đức tin có thể thấm vào con người trước cả khi người ấy có khả năng diễn đạt thần học. Vì thế, những ai nhân danh trí thức hóa đức tin mà coi thường lòng đạo bình dân thường không hiểu cách đức tin thực sự được truyền qua các thế hệ.
Nhưng ân huệ nào cũng có thể bị méo nếu không được thanh luyện. Lòng đạo bình dân có thể trở thành duy cảm, mê tín hoặc chạy theo điều lạ nếu tách khỏi Lời Chúa, phụng vụ, giáo lý và đời sống luân lý. Một người có thể hành hương nhiều mà vẫn không tha thứ cho anh em. Có thể lần nhiều chuỗi mà vẫn nói xấu không ngừng. Có thể tổ chức lễ bổn mạng rất lớn nhưng trả công bất công cho người lao động. Có thể dựng tượng đẹp nhưng đối xử tệ với cha mẹ già. Có thể đóng góp nhiều cho nhà thờ mà khai gian trong kinh doanh. Khi ấy vấn đề không nằm ở chuỗi Mân Côi, tượng thánh hay cuộc rước. Vấn đề nằm ở sự đứt gãy giữa lòng đạo và hoán cải. Lòng đạo bình dân chân chính phải dẫn con người đến Đức Kitô, đến các bí tích, đến đức ái và đến một lương tâm ngay thẳng. Nếu không, nó có thể trở thành một vùng an toàn tâm lý nơi người ta cảm thấy mình đạo đức mà không phải thay đổi cách sống. Vì thế, mục vụ không nên loại bỏ lòng đạo bình dân nhưng phải đào sâu nó. Hãy dạy người giáo dân thấy rằng kinh Mân Côi không đưa họ trốn khỏi đời mà đưa họ cùng Đức Maria nhìn các mầu nhiệm Đức Kitô để trở lại đời với một trái tim mới; lòng kính các thánh tử đạo không phải để tự hào về quá khứ nhưng để hỏi mình đang trung thành với sự thật đến đâu hôm nay; lễ Thánh Tâm không chỉ là một việc đạo đức nhưng là trường học của một trái tim biết thương người cụ thể; lòng kính Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp không chỉ là xin ơn khi nguy khốn nhưng còn là học nơi Mẹ cách mang lấy nỗi khốn khó của người khác.
Gia đình cũng là một trong những thành trì lớn nhất của đức tin Công giáo Việt Nam. Trong nhiều thế hệ, cha mẹ và ông bà chính là những giáo lý viên đầu tiên và bền bỉ nhất. Một đứa trẻ có thể học giáo lý vài giờ mỗi tuần, nhưng nó sống hàng nghìn giờ mỗi năm trong gia đình. Nó học cách nghĩ về Thiên Chúa từ giọng nói của cha mẹ khi cầu nguyện, từ cách cha mẹ nói về linh mục, người nghèo, người khác tôn giáo, người đã làm mình tổn thương, từ cách họ dùng tiền, từ cách họ cư xử khi giận, từ cách họ đối diện bệnh tật và cái chết. Đức tin Việt Nam đã đi qua nhiều thế hệ bằng những con đường rất bình thường ấy. Có những gia đình đã giữ đạo giữa chiến tranh, di cư, nghèo đói, phân tán và những hoàn cảnh rất thiếu thốn. Có những người mẹ đã một mình giữ kinh tối khi chồng không còn thực hành đức tin. Có những ông bà đã giữ đứa cháu trong Hội Thánh khi cha mẹ bận làm ăn. Có những gia đình di cư mang theo ảnh thánh và chuỗi hạt như một phần căn tính. Đó là sức mạnh thật.
Nhưng gia đình Việt Nam cũng đang biến đổi cực nhanh. Đô thị hóa, di dân lao động, nhà ở chật hẹp, thời gian làm việc kéo dài, kinh tế thị trường, văn hóa tiêu dùng, điện thoại thông minh, mạng xã hội, học thêm, áp lực thành tích và khoảng cách thế hệ đang thay đổi cấu trúc truyền đức tin. Nhiều gia đình không còn ăn cùng nhau. Có nhà không còn một thời điểm chung nào trong ngày. Cha mẹ đi làm sớm, về muộn; con học thêm, dùng thiết bị riêng; ông bà ở quê hoặc ở một căn phòng khác; mỗi người có một màn hình. Kinh tối gia đình, nếu còn, đôi khi trở thành một cuộc chiến vì mọi người đều mệt. Nhiều cha mẹ muốn con giữ đạo nhưng bản thân không biết nói với con về đức tin ngoài câu “phải đi lễ”. Họ biết yêu cầu nhưng không biết đối thoại. Họ có thể truyền luật nhưng khó truyền ý nghĩa. Người trẻ bắt đầu đặt câu hỏi về thân xác, tình yêu, xu hướng văn hóa, khoa học, nghề nghiệp, trí tuệ nhân tạo, công bằng xã hội, tính xác thực của tôn giáo, nhưng gia đình đôi khi chỉ trả lời bằng mệnh lệnh hoặc sợ hãi. Nếu không giúp gia đình chuyển từ mô hình “giữ nếp” sang mô hình “truyền đức tin có ý thức”, một kho tàng rất lớn có thể bị đứt chỉ trong một hoặc hai thế hệ.
Điểm này đặc biệt rõ nơi người trẻ đô thị. Mô hình hội đoàn Công giáo được hình thành rất tốt trong những cộng đồng ổn định: làng xóm quen nhau, giáo xứ gần nhà, gia đình nhiều thế hệ, lịch sống tương đối giống nhau, mọi người có một không gian địa lý chung. Nhưng một người trẻ ở Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Bình Dương, Đồng Nai hoặc một khu công nghiệp có thể sống một thực tại hoàn toàn khác. Họ thuê trọ, đổi việc, di chuyển hàng chục cây số mỗi ngày, làm ca, học tối, có bạn bè đa tôn giáo hoặc không tôn giáo, thuộc nhiều cộng đồng trực tuyến hơn cộng đồng địa phương, và có thể không thấy mình phù hợp với cấu trúc hội đoàn của giáo xứ. Điều ấy không tự động có nghĩa họ bỏ đạo. Đôi khi họ chỉ không tìm thấy nơi trong mô hình hiện có. Nếu Hội Thánh chỉ hỏi: “Tại sao giới trẻ không tham gia hội đoàn?” mà không hỏi: “Cuộc đời của người trẻ hôm nay thực sự được tổ chức thế nào?”, chúng ta sẽ giải sai bài toán. Người trẻ không nhất thiết chống cộng đoàn. Họ cần cộng đoàn. Nhưng hình thức cộng đoàn phải chạm được vào lịch làm việc, ngôn ngữ, những vấn đề và nhịp sống của họ. Một linh đạo giáo dân cho người trẻ Việt Nam hôm nay phải nói được đến hợp đồng lao động, khủng hoảng nghề nghiệp, thất nghiệp, tiền thuê nhà, tình yêu, hôn nhân muộn, độc thân, áp lực ngoại hình, sức mạnh của thuật toán, nghiện điện thoại, văn hóa thần tượng, trí tuệ nhân tạo, sự cô đơn và nỗi sợ tương lai. Nếu chỉ nói với họ bằng ngôn ngữ của một làng Công giáo cách đây năm mươi năm, không phải Tin Mừng đã cũ; chúng ta đang dùng chiếc bình cũ không còn giữ được rượu cho một thế hệ mới.
Một thách thức khác của người giáo dân Việt Nam là khoảng cách giữa đức tin trong không gian tôn giáo và đức tin trong không gian công. Nhiều người Công giáo rất rõ căn tính khi ở trong nhà thờ. Họ biết làm dấu, biết đọc kinh, biết những điều cần tránh trong ngày lễ, biết cách tham dự nghi thức. Nhưng khi bước vào công sở, thương trường, trường học, bệnh viện, cơ quan, mạng xã hội hoặc những quyết định liên quan đến tiền bạc và quyền lợi, căn tính Kitô hữu đôi khi trở nên mờ. Không phải vì họ cố ý chối Chúa. Nhiều khi vì họ chưa bao giờ được đào tạo để nối đức tin với những quyết định ấy. Giáo lý thường dạy rất nhiều về các kinh, bí tích, điều răn theo hình thức căn bản, nhưng ít đào tạo người tín hữu suy nghĩ luân lý trước những vấn đề phức tạp của nghề nghiệp và xã hội. Một kế toán Công giáo cần biết lương tâm Kitô hữu nói gì khi được yêu cầu sửa sổ sách. Một kiến trúc sư cần biết nghĩ thế nào về an toàn của người sử dụng khi chủ đầu tư muốn cắt vật liệu. Một viên chức cần phân định thế nào khi quà cáp đã trở thành một văn hóa ngầm. Một bác sĩ cần được đào tạo để suy nghĩ về phẩm giá con người trong các tình huống sinh học và y khoa phức tạp. Một giáo viên cần hiểu công bằng, chân lý và phẩm giá học sinh không chỉ như đạo đức nghề nghiệp nhưng như cách mình sống Tin Mừng. Một người làm truyền thông phải hiểu việc chia sẻ thông tin sai, giật tít, xúc phạm danh dự và thao túng cảm xúc cũng là vấn đề luân lý. Một lập trình viên hoặc người làm trí tuệ nhân tạo phải được mời gọi suy nghĩ về con người mà hệ thống của mình phục vụ. Nếu người giáo dân chỉ được dạy sống đức tin trong các việc đạo đức riêng tư, chúng ta đã trao cho họ một hành trang chỉ đủ đi từ nhà đến nhà thờ, trong khi ơn gọi của họ đòi họ đi xa hơn rất nhiều.
Vì thế, cần một cuộc đào tạo lương tâm xã hội và nghề nghiệp nghiêm túc trong Hội Thánh Việt Nam. Học thuyết xã hội Công giáo không nên là môn dành cho chủng sinh hoặc một số người nghiên cứu. Nó phải trở thành thức ăn của giáo dân trưởng thành. Phẩm giá con người, công ích, liên đới, bổ trợ, quyền lợi của người lao động, trách nhiệm của chủ doanh nghiệp, chăm sóc thụ tạo, sử dụng của cải, trách nhiệm chính trị, hòa bình, quyền và bổn phận công dân, gia đình, di dân, người nghèo, người yếu thế, công nghệ và truyền thông phải được đưa vào đào tạo giáo dân bằng ngôn ngữ gần đời. Không cần biến giáo xứ thành trường đại học. Nhưng cần làm cho người tín hữu có khả năng hỏi một câu căn bản trước mọi quyết định lớn: điều này có phù hợp với phẩm giá con người và Tin Mừng không? Một người giáo dân trưởng thành không phải người luôn biết câu trả lời ngay. Đó là người đã có một lương tâm được đào tạo đủ để biết mình phải hỏi những gì, phải tìm sự thật ở đâu, phải cầu nguyện thế nào và khi nào cần xin tư vấn.
Chính trị là một lãnh vực đặc biệt cần được phân biệt rõ. Trong nhiều bối cảnh, chỉ cần nghe chữ “chính trị” là người Công giáo muốn tránh hoặc lập tức liên tưởng đến tranh giành quyền lực, đảng phái và xung đột. Nhưng truyền thống xã hội Công giáo hiểu chính trị theo nghĩa cao hơn: sự chăm sóc cho công ích của cộng đồng. Người giáo dân không thể rút khỏi công ích. Họ sống trong xã hội, đóng thuế, sử dụng hạ tầng, giáo dục con cái, làm việc trong các cơ cấu, chịu hậu quả của luật pháp, kinh tế, môi trường và những quyết định tập thể. Họ có trách nhiệm quan tâm đến những gì làm cho xã hội công bằng hơn, nhân bản hơn, trong sạch hơn và biết bảo vệ người yếu hơn. Điều ấy không có nghĩa biến nhà thờ thành nơi vận động phe phái, cũng không có nghĩa linh mục dùng tòa giảng để điều khiển lựa chọn chính trị cụ thể của giáo dân. Càng không có nghĩa lấy Đức Kitô làm biểu tượng cho một chương trình quyền lực. Nhưng cũng không thể nhân danh “đạo chỉ là chuyện thiêng liêng” để người giáo dân bỏ mặc công ích. Đạo đức của người Kitô hữu không dừng ở việc không làm điều xấu cho cá nhân. Nó còn đòi xây dựng những cơ cấu công bằng và phản đối những điều làm tổn thương phẩm giá con người trong khả năng và trách nhiệm của mình.
Môi trường số là một “không gian công” mới mà người giáo dân Việt Nam đang bước vào với tốc độ rất nhanh, nhiều khi nhanh hơn khả năng đào tạo của Hội Thánh. Một người có thể không bao giờ phát biểu trước một hội trường nhưng mỗi ngày đăng nội dung cho vài nghìn người xem. Một bà mẹ có thể không nghĩ mình là người làm truyền thông nhưng mỗi lần chia sẻ một tin chưa kiểm chứng, bà đang tham gia vào hệ sinh thái thông tin. Một người trẻ có thể không thuộc hội đoàn nào nhưng dành ba giờ mỗi ngày trong những cộng đồng số nơi suy nghĩ, cảm xúc, hình ảnh thân xác, quan niệm về tình yêu, tiền bạc, thành công và căn tính được nhào nặn. Vì thế, linh đạo giáo dân Việt Nam hôm nay phải bao gồm linh đạo kỹ thuật số. Người Công giáo cần học sự thật trước khi chia sẻ, bác ái trước khi bình luận, tiết độ trước khi lướt, khiêm nhường trước khi phán xét, bảo vệ phẩm giá người khác trước khi biến lỗi lầm của họ thành nội dung. Cần dạy rằng nói xấu trên mạng vẫn là nói xấu; dựng chuyện trong một nhóm kín vẫn là dựng chuyện; hạ nhục người khác bằng ảnh chế vẫn là làm tổn thương phẩm giá; tung tin không kiểm chứng không trở thành vô tội chỉ vì “người khác gửi cho con”; và việc tìm kiếm lượt xem bằng cách kích động giận dữ có thể là một hình thức khai thác cảm xúc con người. Đồng thời, cũng không nên coi môi trường số chỉ như vùng nguy hiểm. Đó là nơi người giáo dân có thể làm chứng cho sự thật, sự tử tế, kiến thức, vẻ đẹp, nghệ thuật, giáo dục và lòng thương xót. Vấn đề không phải rời mạng, nhưng sống trên mạng như một môn đệ.
Một ân huệ rất lớn khác của Công giáo Việt Nam là ký ức tử đạo. Hội Thánh Việt Nam không được xây trên một đức tin tiện nghi. Máu các thánh tử đạo đã thấm vào ký ức tập thể của nhiều cộng đoàn. Tên các ngài được đặt cho giáo xứ, giáo họ, gia đình, con cái. Các câu chuyện về lòng trung tín được kể qua nhiều thế hệ. Điều ấy tạo nên một ý thức rất mạnh rằng đức tin có giá. Có những thế hệ đã đi bộ xa để dự lễ, đã âm thầm giữ đạo trong hoàn cảnh khó khăn, đã bảo vệ đời sống cộng đoàn khi thiếu thốn, đã chấp nhận thiệt thòi vì lòng trung thành với Hội Thánh. Không nên lãng mạn hóa đau khổ, cũng không nên dùng quá khứ để kết án thế hệ hôm nay là yếu đuối. Nhưng ký ức ấy phải đặt một câu hỏi rất mạnh cho người giáo dân trong thời bình: nếu cha ông đã có thể chịu mất mát lớn để giữ đức tin, chúng ta có thể chịu một phần nhỏ thiệt thòi để giữ lương tâm không? Tử đạo hôm nay phần lớn sẽ không mang hình thức đổ máu. Nó có thể là từ chối một khoản tiền bất chính dù mình đang cần tiền; không ký một giấy tờ sai dù người khác bảo “ai cũng làm”; không phá thai chỉ vì áp lực gia đình; không bóc lột công nhân dù lợi nhuận sẽ giảm; không vu khống một đối thủ để thắng trong cạnh tranh; không bán thông tin cá nhân của khách hàng; không dùng một người nghèo như đạo cụ truyền thông; không hạ thấp phẩm giá người khác để bảo vệ danh dự của mình. Trung thành trong những lựa chọn ấy là một thứ tử đạo trắng của đời thường.
Đây cũng là lý do phải cảnh giác với nguy cơ “thời bình tiêu hóa đức tin”. Khi bị thử thách trực tiếp, người ta biết mình phải chọn. Khi sống trong tiện nghi tương đối, sự xói mòn diễn ra âm thầm hơn. Không ai bắt một người bỏ đạo, nhưng công việc có thể lấy hết Chúa Nhật. Không ai cấm cầu nguyện, nhưng màn hình có thể ăn hết thinh lặng. Không ai cấm truyền đức tin, nhưng cha mẹ có thể dành mọi năng lượng cho điểm số và nghề nghiệp của con đến mức đời sống tâm linh chỉ còn là phụ kiện. Không ai bắt người ta tham nhũng, nhưng một hệ thống lợi ích có thể làm điều sai trở thành “chuyện bình thường”. Không ai cấm sự thật, nhưng nhu cầu giữ quan hệ có thể khiến người ta quen im lặng trước bất công. Không ai cấm đức ái, nhưng nền văn hóa cạnh tranh có thể làm người ta coi người khác như đối thủ. Tử đạo hữu hình đôi khi làm đức tin sáng rõ. Sự tiện nghi có thể làm nó mờ dần mà chủ thể không nhận ra. Bởi vậy, thời bình không nhất thiết là thời dễ sống đức tin hơn. Nó chỉ đặt ra loại thử thách khác.
Một biểu hiện của sự xói mòn ấy là người Công giáo có thể rất chăm “giữ lễ” nhưng không ý thức “giữ sứ mạng”. Giữ lễ là điều tốt và cần. Chúa Nhật, bí tích, kinh nguyện và các thực hành đạo đức là nguồn sống. Nhưng nguồn phải chảy. Thánh lễ kết thúc bằng việc sai đi. Người giáo dân rời nhà thờ không phải vì đời đạo tạm dừng cho đến Chúa Nhật sau. Họ được sai trở lại đúng những nơi mà linh mục không thể thay họ hiện diện: bàn làm việc, lớp học, phòng mổ, nhà máy, công ty, cửa hàng, phòng họp, ruộng đồng, cơ quan, phòng thu, trường quay, phòng thí nghiệm, công trường, mạng xã hội, gia đình. Một giáo xứ có thể rất đông người dự lễ nhưng nếu người Công giáo trong khu vực vẫn nổi tiếng gian lận như người khác, trả lương bất công như người khác, nói xấu như người khác, phá môi trường như người khác, thì số người dự lễ chưa đủ để chứng minh Tin Mừng đã thấm vào xã hội. Mục tiêu của linh đạo giáo dân không phải làm cho nhà thờ luôn đầy người bận rộn. Mục tiêu là để thế giới có những người đã được Thánh Thể biến đổi rồi trở lại giữa đời như men.
Điều này đòi các linh mục và cơ cấu mục vụ tại Việt Nam phải thay đổi một phần cách nhìn về giáo dân. Nếu mọi hoạt động mục vụ đều nhằm kéo giáo dân ra khỏi thế giới để tham gia thêm việc nhà thờ, chúng ta có thể vô tình làm yếu chính sứ mạng trần thế của họ. Một người cha đã làm việc mười giờ, còn con nhỏ ở nhà, không nên bị làm cho cảm thấy tội lỗi vì không dự đủ ba buổi họp hội đoàn trong tuần. Một người mẹ chăm cha mẹ già không kém “tích cực” hơn người đứng trong ban tổ chức lễ. Một người trẻ đang học chuyên môn nghiêm túc để trở thành một bác sĩ tốt đang chuẩn bị cho sứ mạng của mình, dù không phải tối nào cũng có mặt ở nhà xứ. Người mục tử cần giúp giáo dân phân định điều gì Chúa đang đòi ở bậc sống của họ, chứ không chỉ tìm người để lấp các vị trí của cơ cấu giáo xứ. Giáo xứ cần giáo dân phục vụ. Nhưng Hội Thánh còn cần họ nhiều hơn ở nơi chỉ họ có thể đi vào.
Ngược lại, giáo dân cũng không được dùng “ơn gọi giữa đời” như một lý do để cắt mình khỏi Hội Thánh hữu hình. Một thứ linh đạo nghề nghiệp không Thánh Thể, không Lời Chúa, không cầu nguyện, không cộng đoàn, không vâng phục đức tin của Hội Thánh sẽ dần trở thành nhân bản chủ nghĩa có màu Công giáo. Người giáo dân không tự sai mình. Họ được Đức Kitô sai đi từ trong Hội Thánh. Chính vì thế, cần giữ một nhịp hai chiều: đi vào nhà thờ để được Lời Chúa và Thánh Thể hình thành, rồi đi ra thế giới để sống những gì đã nhận; trở về cộng đoàn để phân định và chữa lành, rồi lại được sai đi. Nếu chỉ ở trong, đức tin thành co cụm. Nếu chỉ ở ngoài, đức tin mất nguồn.
Một đặc điểm văn hóa Việt Nam nữa cần được nhìn vừa với lòng biết ơn vừa với khả năng phê bình là tính trọng cộng đồng, trọng người lớn tuổi và trọng thẩm quyền. Những yếu tố này có thể giúp giữ hiệp nhất, truyền thống và lòng kính trọng. Nhưng nếu không được Tin Mừng thanh luyện, chúng cũng có thể làm người giáo dân ngại đặt câu hỏi, ngại góp ý, ngại nhận trách nhiệm, hoặc đồng nhất vâng phục với im lặng tuyệt đối. Một giáo dân trưởng thành không phải giáo dân chống linh mục. Nhưng cũng không phải giáo dân không có tiếng nói. Hiệp hành đòi khả năng lắng nghe hai chiều. Linh mục không biết mọi lĩnh vực của đời sống. Người giáo dân có chuyên môn, có kinh nghiệm gia đình, lao động, kinh doanh, giáo dục, y tế, pháp luật, truyền thông và công nghệ mà mục tử cần lắng nghe. Khi giáo dân nói sự thật với lòng kính trọng, đó có thể là một phục vụ cho Hội Thánh. Khi mục tử lắng nghe mà không sợ mất quyền, đó không phải yếu đuối mà là thực hành quyền bính theo Tin Mừng. Văn hóa “cha nói, con nghe” có những giá trị trong một số hoàn cảnh, nhưng nếu trở thành mô hình duy nhất, người giáo dân sẽ mãi ở tuổi thiếu niên thiêng liêng.
Đào tạo giáo dân Việt Nam trong giai đoạn tới vì thế phải chuyển từ đào tạo người tham gia sang đào tạo người môn đệ trưởng thành. Cần Thánh Kinh, thần học căn bản, giáo lý, phụng vụ, học thuyết xã hội, luân lý nghề nghiệp, kỹ năng phân định, giáo dục truyền thông, đời sống cầu nguyện và khả năng đối thoại với văn hóa. Nhưng quan trọng hơn nội dung là mục tiêu: người giáo dân phải học tự đứng trước mặt Chúa bằng một lương tâm được đào tạo. Không thể có một linh mục đứng cạnh từng giáo dân khi họ ký hợp đồng, chọn nghề, quyết định đầu tư, gặp một khủng hoảng hôn nhân, đối diện cám dỗ tiền bạc hoặc phải quyết định điều gì đúng trong môi trường nghề nghiệp. Họ cần đủ trưởng thành để cầu nguyện, suy xét, tìm hiểu giáo huấn, hỏi người có khả năng và chịu trách nhiệm trước Chúa về lựa chọn của mình. Đó là sự trưởng thành mà phép Rửa hướng tới.
Đặc biệt cần quan tâm đến những người giáo dân ít được nhìn thấy trong mô hình mục vụ truyền thống: công nhân làm ca, người di dân, lao động tự do, người bán hàng nhỏ, tài xế, người làm dịch vụ, người chăm sóc gia đình toàn thời gian, người độc thân lâu dài, người ly thân nhưng vẫn cố giữ đức tin, người trẻ thuê trọ, người đi làm ở xa quê, những người có trình độ chuyên môn cao nhưng ít tham gia cơ cấu giáo xứ, và những người vì hoàn cảnh công việc không thể theo lịch sinh hoạt quen thuộc. Hội Thánh không được chỉ chăm tốt cho những người có lịch sống phù hợp với lịch nhà xứ. Người giáo dân di dân có thể mất cộng đoàn, mất giờ lễ quen, mất mạng lưới gia đình và rất dễ trôi khỏi Hội Thánh mà không ai nhận ra. Cần những mô hình mục vụ linh hoạt, những nhóm nhỏ, những giờ gặp thích hợp, những hình thức đồng hành không quá nặng cơ cấu. Không phải mọi người cần gia nhập một hội. Nhưng mọi người cần biết mình thuộc về Thân Thể Đức Kitô.
Người nghèo cũng phải đứng ở trung tâm của linh đạo giáo dân Việt Nam. Lòng bác ái truyền thống rất mạnh: cứu trợ, phát quà, giúp bệnh nhân, hỗ trợ học phí, thăm người nghèo. Đó là điều đáng quý. Nhưng bác ái cần đi xa hơn việc cho. Người giáo dân còn phải học hỏi tại sao người ta nghèo, cơ cấu nào tạo ra bất công, người lao động đang chịu điều kiện gì, trẻ em nghèo có cơ hội giáo dục ra sao, người di dân sống thế nào, môi trường bị hủy hoại ảnh hưởng ai trước. Bác ái cá nhân và công bằng xã hội không chống nhau. Cho một gia đình gạo là bác ái. Trả lương công bằng cho người làm trong doanh nghiệp của mình cũng là bác ái được tổ chức bằng công lý. Giúp một công nhân viện phí là tốt. Bảo đảm an toàn lao động để họ không bị tai nạn còn tốt hơn. Người giáo dân có khả năng đi vào những cơ cấu này sâu hơn nhiều so với giáo sĩ. Vì thế, học thuyết xã hội không phải phụ chương của linh đạo giáo dân. Nó là một phần rất cụ thể của đức ái giữa đời.
Chăm sóc thụ tạo cũng cần được đưa vào đời sống đức tin Việt Nam một cách thực tế. Một giáo xứ có thể tổ chức lễ rất sốt sắng nhưng sử dụng tài nguyên vô trách nhiệm. Một gia đình có thể đọc kinh đều nhưng coi việc xả rác, lãng phí thức ăn, dùng nhựa vô độ hay phá hoại môi trường là chuyện không liên quan đến đạo. Trong khi chính người nghèo thường chịu hậu quả đầu tiên của ô nhiễm, biến đổi khí hậu, nguồn nước suy giảm và thiên tai. Linh đạo giáo dân phải mở rộng lương tâm từ bàn thờ đến đất, nước, không khí và những thế hệ chưa sinh ra. Không phải biến sinh thái thành một tôn giáo mới, nhưng nhận ra tạo thành thuộc về Thiên Chúa và con người chỉ là người quản lý.
Trong lĩnh vực văn hóa, người giáo dân Việt Nam còn một sứ mạng rất lớn chưa được khai mở hết. Hội Thánh cần nhà văn, nhạc sĩ, đạo diễn, kiến trúc sư, họa sĩ, nhà nghiên cứu, giáo viên, nhà báo, người làm nội dung, người làm công nghệ, doanh nhân và trí thức không chỉ để “làm việc cho Giáo hội”, mà để hiện diện như Kitô hữu trong chính lãnh vực của họ. Một nghệ sĩ Công giáo không nhất thiết phải chỉ vẽ ảnh thánh. Người ấy có thể phục vụ sự thật và vẻ đẹp qua những tác phẩm thực sự nhân bản. Một nhà khoa học Công giáo không cần biến bài nghiên cứu thành bài giảng. Người ấy làm chứng qua sự trung thực trí thức, khiêm nhường trước dữ kiện và tôn trọng phẩm giá con người. Một nhà báo Công giáo phục vụ Tin Mừng khi từ chối bóp méo sự thật, kể cả khi bài viết không nhắc chữ “Chúa”. Một kiến trúc sư Công giáo có thể làm chứng bằng việc thiết kế không gian tôn trọng con người nghèo và người khuyết tật. Một người làm công nghệ có thể phục vụ công ích bằng cách từ chối những thiết kế cố tình gây nghiện hoặc bóc lột dữ liệu. Đó chính là tính chất trần thế được sống đến nơi đến chốn.
Cuối cùng, điều người giáo dân Việt Nam cần không phải là mặc cảm rằng mình chưa đủ giống linh mục hoặc tu sĩ, nhưng là một ý thức rất sâu rằng phép Rửa đã đặt họ vào trung tâm sứ mạng của Hội Thánh. Họ không đứng ở bậc hai của đời Kitô hữu. Họ không phải lực lượng hậu cần cho giáo sĩ. Họ không phải khán giả của phụng vụ rồi nhân viên của giáo xứ. Họ là những người đã được xức dầu, được nuôi bằng Thánh Thể, được sai đi vào trong lòng thế giới. Hội Thánh Việt Nam có thể rất mạnh về nhà thờ, lễ hội, hội đoàn và lòng đạo bình dân. Hãy giữ những điều ấy. Đừng phá kho tàng đã được trả bằng nước mắt của nhiều thế hệ. Nhưng hãy để kho tàng ấy mở ra sứ mạng. Hãy để chuỗi hạt bước vào công sở. Hãy để Thánh lễ bước vào hợp đồng. Hãy để lòng kính các thánh tử đạo bước vào những quyết định đòi trung thực. Hãy để kinh gia đình bước vào cách cha mẹ dùng tiền và nói với con. Hãy để lòng kính Đức Mẹ bước vào cách người ta bảo vệ phụ nữ và người yếu thế. Hãy để Thánh Tâm Chúa bước vào cách chủ doanh nghiệp đối xử với công nhân. Hãy để Lời Chúa bước vào thuật toán, phòng họp, trường học, bệnh viện, phòng thí nghiệm và mạng xã hội.
Người giáo dân Việt Nam đã chứng minh trong lịch sử rằng họ có thể giữ đức tin khi đức tin phải trả giá. Câu hỏi của thời đại này là liệu họ có thể sống sứ mạng khi không ai cấm đạo, khi nhà thờ sáng đèn, khi lễ hội đông vui, khi kinh tế mở ra nhiều cơ hội, khi công nghệ cho nhiều tiện nghi và khi chính sự bình thường trở thành thử thách. Có những thời người Kitô hữu phải chết để không chối Chúa. Có những thời khó khăn theo một cách khác: phải sống mỗi ngày sao cho không quên Chúa. Đức tin không còn bị giật khỏi tay bằng bạo lực; nó có thể bị bào mòn bằng bận rộn, tham vọng, tiện nghi, sợ thiệt, chủ nghĩa tiêu dùng và một đời sống bị phân mảnh. Vì thế, ký ức các thánh tử đạo Việt Nam không chỉ gọi chúng ta can đảm trước bách hại. Ký ức ấy còn gọi chúng ta trung tín giữa bình thường. Giữ lễ là cần. Nhưng giữ lễ để được sai đi. Giữ đạo là cần. Nhưng giữ đạo để đạo thấm vào đời. Hội Thánh Việt Nam sẽ không trưởng thành nếu giáo dân chỉ ngày càng đông trong các ban ngành. Hội Thánh trưởng thành khi trong xã hội ngày càng có nhiều người cha, người mẹ, người lao động, trí thức, doanh nhân, nghệ sĩ, người trẻ và người làm nghề có thể nói bằng cả cuộc sống của họ: tôi thuộc về Đức Kitô, và vì thuộc về Người, tôi sẽ làm cho phần thế giới được trao vào tay tôi trở nên chân thật hơn, công bằng hơn, nhân bản hơn, đẹp hơn và gần Nước Thiên Chúa hơn.
PHẦN VII
TRUNG THÀNH CĂN TÍNH, MỞ CHÂN TRỜI MỚI
CHƯƠNG 36. NHỮNG LỆCH LẠC CẦN TRÁNH
Một nền linh đạo càng quan trọng thì càng dễ bị làm lệch. Lệch không nhất thiết bắt đầu bằng một điều hoàn toàn sai. Phần lớn lệch lạc bắt đầu từ một điều đúng bị phóng đại, một phân biệt đúng bị xóa mất, một việc tốt bị đặt sai chỗ, một kinh nghiệm riêng bị biến thành tiêu chuẩn chung, hoặc một phản ứng chính đáng trước sai lầm cũ lại sinh ra một sai lầm mới ở phía đối diện. Linh đạo giáo dân cũng vậy. Sau nhiều thế kỷ trong đó người giáo dân thường được nói tới bằng ngôn ngữ thiếu hụt, Công đồng Vaticanô II và Huấn quyền hậu Công đồng đã phục hồi mạnh mẽ phẩm giá, ơn gọi và sứ mạng riêng của họ. Nhưng chính trong tiến trình phục hồi ấy, nếu không giữ được những quân bình nền tảng của Giáo hội học, Kitô học và bí tích học, người ta rất dễ chuyển từ một cực đoan sang một cực đoan khác: từ coi nhẹ giáo dân sang tuyệt đối hóa giáo dân, từ giáo sĩ trị sang chống giáo sĩ, từ nhốt giáo dân ngoài cung thánh sang kéo tất cả giáo dân vào cung thánh, từ đạo đức xa đời sang hoạt động xã hội không còn chiều sâu cầu nguyện, từ im tiếng trước công ích sang chính trị hóa Tin Mừng, từ thụ động sang tranh quyền, từ coi mạng là nguy hiểm sang coi mạng là Hội Thánh đủ rồi. Vì thế, một chương về linh đạo giáo dân sẽ thiếu trung thực nếu chỉ nói những điều đẹp mà không nói đến những lệch lạc. Điều cần tránh đầu tiên là định nghĩa giáo dân bằng phủ định. Câu “giáo dân là người không phải linh mục, không phải tu sĩ” có thể có ích trong một số phân loại pháp lý, nhưng nếu trở thành định nghĩa căn tính thì nó làm hỏng ngay từ đầu. Một người không thể sống hạnh phúc với một ơn gọi được định nghĩa bằng những gì mình không có. Không ai có thể nên thánh lâu dài bằng tâm thức: tôi là người không được truyền chức; tôi là người không khấn dòng; tôi là phần còn lại sau khi đã lấy giáo sĩ và tu sĩ ra khỏi Hội Thánh. Giáo dân trước hết là người đã được Rửa tội, được tháp nhập vào Đức Kitô, được làm thành viên của Dân Thiên Chúa, được tham dự vào chức tư tế, ngôn sứ và vương giả của Đức Kitô theo cách thức riêng, được gọi nên thánh và được sai đi. Tính chất trần thế của giáo dân không phải một phần thưởng an ủi dành cho người không có chức thánh. Đó là một cách thức sống sứ mạng Kitô hữu có phẩm giá tích cực. Khi không sửa được định nghĩa phủ định này, người giáo dân hoặc mặc cảm, hoặc phản ứng bằng một kiểu kiêu ngạo bù trừ. Mặc cảm nói: “Con chỉ là giáo dân.” Kiêu ngạo bù trừ nói: “Chúng tôi mới là người sống thật ngoài đời; linh mục tu sĩ không biết gì.” Hai câu nghe trái nhau nhưng sinh từ cùng một vết thương: người ta chưa biết căn tính của mình trong Đức Kitô. Người giáo dân trưởng thành không cần hạ mình giả tạo để nhường phẩm giá cho người có chức thánh, cũng không cần hạ thấp người có chức thánh để tự nâng mình lên. Họ biết mình đứng ở đâu trong thân mình Hội Thánh, và vì biết mình đứng ở đâu nên không cần giành chỗ của ai.
Lệch lạc thứ hai là tu sĩ hóa đời giáo dân hoặc giáo sĩ hóa giáo dân. Tu sĩ hóa giáo dân xảy ra khi một kiểu sống thiêng liêng vốn thích hợp với đời thánh hiến được lấy làm thước đo gần như duy nhất cho mọi người. Người mẹ có con nhỏ bị đánh giá vì không giữ được một giờ thinh lặng dài mỗi ngày; người công nhân làm ca bị coi là thiếu đời thiêng vì không dự đủ những sinh hoạt đạo đức được tổ chức theo lịch của người rảnh; người cha phải vật lộn với tiền học, tiền nhà, cha mẹ già, áp lực công việc lại được khuyên như thể những bổn phận ấy chỉ là tiếng ồn cần vượt qua để đến với “đời thiêng thật”. Không. Đối với giáo dân, chính những bổn phận ấy, nếu được sống trong ân sủng, công bằng, tình yêu và sự hiện diện của Chúa, là vật liệu của nên thánh. Điều này không có nghĩa giáo dân khỏi cầu nguyện, khỏi hãm mình, khỏi kỷ luật thiêng liêng. Nó có nghĩa hình thức cầu nguyện và khổ chế phải được nhập thể trong bậc sống thật. Một người mẹ thức ba lần trong đêm vì con bệnh không cần cảm thấy tội lỗi vì sáng hôm sau không giữ nổi một giờ suy niệm như người ở nhà tập. Nhưng người mẹ ấy vẫn cần Lời Chúa, vẫn cần cầu nguyện, vẫn cần Thánh Thể, vẫn cần những khoảng lặng có thật theo khả năng của mình. Ngược lại, giáo sĩ hóa giáo dân xảy ra khi người ta cho rằng giáo dân trưởng thành là giáo dân càng giống linh mục càng tốt: càng đứng gần bàn thờ, càng xuất hiện trong các nghi thức, càng giữ nhiều chức danh trong giáo xứ, càng nói nhiều về điều hành nội bộ Hội Thánh thì càng được xem là tích cực. Đó là một sự nhầm lẫn nguy hiểm. Giáo dân có thể được mời gọi và được thiết lập vào những thừa tác vụ thích hợp, có thể phục vụ phụng vụ, giáo lý, bác ái, quản trị, tư vấn, truyền giáo, và những việc ấy rất quý. Nhưng thừa tác vụ trong Hội Thánh không xóa tính chất trần thế của họ. Một giáo dân đọc sách thánh rất tốt nhưng gian dối trong hợp đồng thì chưa trưởng thành. Một người làm nhiều hội đoàn nhưng đối xử tệ với nhân viên thì đời thiêng đang có lỗ thủng. Một người xuất hiện quanh cung thánh mỗi ngày nhưng bỏ mặc trách nhiệm làm cha, làm mẹ, làm công dân, làm người nghề nghiệp thì không thể lấy hoạt động giáo xứ bù cho một ơn gọi bị bỏ quên.
Từ đó sinh ra lệch lạc thứ ba: kéo hết giáo dân vào cung thánh, bỏ trống chợ. Có những nơi khi nói đến “phát huy vai trò giáo dân”, người ta nghĩ ngay đến phân công thêm người đọc sách, thêm thừa tác viên, thêm ban ngành, thêm chức danh, thêm ghế trong các cuộc họp. Những điều ấy có thể cần và có thể tốt, nhưng nếu đó là toàn bộ tầm nhìn thì chúng ta vẫn chưa hiểu Công đồng. Giáo dân không được phục hồi phẩm giá để tất cả trở thành nhân sự nội bộ của giáo xứ. Họ được sai vào gia đình, trường học, bệnh viện, công ty, nhà máy, ruộng đồng, phòng thí nghiệm, tòa soạn, nghệ thuật, mạng xã hội, chính trị, kinh tế, luật pháp, văn hóa. Có một kiểu giáo xứ rất đông người phục vụ nhưng vùng đất chung quanh không thay đổi gì: doanh nghiệp của giáo dân vẫn bóc lột; trường học vẫn gian dối; hàng hóa vẫn quảng cáo sai; mạng xã hội vẫn đầy nhục mạ; người lao động vẫn bị đối xử như công cụ; gia đình vẫn vỡ mà cộng đoàn không biết; người nghèo vẫn đứng ngoài cổng. Khi ấy giáo xứ có thể bận rộn mà vẫn chưa truyền giáo. Cung thánh nuôi chợ, nhưng chợ là nơi phép thử xảy ra. Bàn thờ sai người tín hữu ra đi. Nếu Thánh lễ chỉ kéo họ trở lại bàn thờ mà không biến họ thành men trong thế giới, chúng ta đã hiểu thiếu Thánh lễ. Người giáo dân không phải người rời đời để vào cung thánh, nhưng là người được nuôi từ bàn thờ để trở lại đời với một cách sống mới.
Lệch lạc thứ tư là tách hoạt động khỏi ở lại trong Đức Kitô. Đây là một cám dỗ rất hiện đại. Người ta thấy bao nhu cầu, bao việc cần làm, bao bất công cần sửa, bao chương trình cần tổ chức, bao người cần phục vụ, và thế là người tín hữu lao vào hoạt động không ngừng. Ban đầu rất sốt sắng. Sau một thời gian, họ mệt. Rồi bực. Rồi khó chịu với người không làm như mình. Rồi bắt đầu đo người khác bằng hiệu suất. Rồi cầu nguyện trở thành thứ xa xỉ. Bí tích thành thủ tục. Thinh lặng thành thời gian chết. Lời Chúa thành câu mở đầu cho cuộc họp. Cuối cùng người ta vẫn làm việc của Chúa nhưng không còn ở với Chúa. Đây là một tai nạn thiêng liêng nghiêm trọng. Đức Giêsu không nói: “Không có Thầy, anh em sẽ làm ít hơn.” Người nói: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.” Chữ “gì” ấy phải được hiểu ở tầng sâu: có thể làm rất nhiều mà không sinh hoa trái của Nước Chúa. Có thể xây nhà, tổ chức chương trình, phát quà, viết bài, họp hội đồng, lên mạng truyền thông, nhưng bên trong đang lớn lên kiêu căng, cay đắng, cạnh tranh, kiểm soát và nhu cầu được công nhận. Linh đạo giáo dân không phải linh đạo hoạt động thuần. Người giáo dân cần “ở lại”: ở lại trong Lời, trong Thánh Thể, trong cầu nguyện, trong lương tâm được soi sáng, trong tình bạn đức tin, trong những lúc để Chúa nói trước khi mình nói. Cầu nguyện không làm họ ít dấn thân hơn; cầu nguyện thanh luyện động cơ dấn thân. Thánh Thể không kéo họ khỏi đời; Thánh Thể ngăn họ biến công việc thành ngẫu tượng. Xét mình không làm giảm hiệu suất; xét mình cứu họ khỏi việc nhân danh Chúa để nuôi cái tôi.
Lệch lạc thứ năm là đạo đức gia đình khép, không có người nghèo. Gia đình Kitô giáo là một nơi thánh. Bữa cơm, lời xin lỗi, chăm sóc con cái, chung thủy vợ chồng, hiếu thảo với cha mẹ, kinh tối, những hy sinh âm thầm, việc giáo dục đức tin: tất cả là chất liệu của linh đạo. Nhưng gia đình Kitô giáo không được trở thành pháo đài đạo đức đóng kín. Có những gia đình rất giữ nề nếp, rất lo cho con mình, rất bảo vệ tài sản và danh dự của mình, nhưng hoàn toàn không có chỗ cho người nghèo, người cô đơn, người bị bỏ rơi, người họ hàng khó tính, người hàng xóm túng quẫn, người giúp việc đang bị tổn thương, đứa trẻ không thuộc gia đình mình. Khi ấy đời đạo dễ biến thành một dự án bảo toàn sự yên ổn của một nhóm máu mủ. Tin Mừng không cho phép gia đình Kitô hữu tự thánh hóa mình bằng cách tránh mọi phiền toái từ ngoài cửa. Gia đình tại gia phải có cửa. Có thể không phải gia đình nào cũng nhận người lạ vào ở. Nhưng mọi gia đình Kitô hữu đều phải có một hình thức mở ra: chia sẻ tiền bạc, thời giờ, bữa ăn, sự lắng nghe, sự đón tiếp, sự quan tâm đến người nghèo, tham gia việc bác ái, dạy con nhìn ra nỗi đau bên ngoài. Một đứa trẻ lớn lên trong nhà đọc kinh mỗi ngày nhưng chưa bao giờ thấy cha mẹ thương người yếu thế có thể học được nghi thức đạo nhưng chưa học được trái tim Tin Mừng. Gia đình là trường đức ái, mà đức ái nếu chỉ chạy theo huyết thống thì chưa đạt chiều rộng của Đức Kitô.
Lệch lạc thứ sáu là chính trị hóa đức tin hoặc vô chính trị hóa đức tin. Đây là hai cực đoan cùng làm hỏng sứ mạng giáo dân. Chính trị hóa đức tin là dùng Tin Mừng, nhà thờ, biểu tượng tôn giáo, uy tín giáo sĩ hoặc tâm lý đạo đức để phục vụ một phe, một đảng, một ứng viên, một chương trình quyền lực như thể chương trình ấy đồng nhất với Nước Thiên Chúa. Khi ấy đức tin bị thu nhỏ. Tin Mừng rộng hơn mọi đảng phái. Hội Thánh có những nguyên tắc luân lý và xã hội phải nói rất rõ, nhưng Hội Thánh không phải chi nhánh thiêng liêng của một lực lượng chính trị. Một giáo dân Công giáo có thể tham gia chính trị, thậm chí được mời gọi tham gia sâu, nhưng họ phải vào đó như người có lương tâm được đào tạo, biết phân định, biết bảo vệ phẩm giá con người, công ích, liên đới, bổ trợ, hòa bình, công bằng, người nghèo, sự sống, gia đình, tự do chân chính. Họ không được biến đức tin thành nhãn hiệu vận động. Ngược lại, vô chính trị hóa đức tin là nói: “Đạo chỉ là chuyện cầu nguyện; chính trị là chuyện đời, đừng đụng.” Nếu chính trị được hiểu theo nghĩa rộng là việc tổ chức đời sống chung và chăm sóc công ích, thì giáo dân không có quyền trốn khỏi đó. Thuế, lao động, luật pháp, giáo dục, môi trường, phân phối tài nguyên, tham nhũng, quyền của người yếu, phẩm giá người lao động, hòa bình, tự do tôn giáo, bảo vệ sự sống — tất cả đều có chiều kích luân lý. Im lặng hoàn toàn trước những thực tại ấy không phải trung lập. Đôi khi đó là bỏ mặc thế giới cho người khác sắp xếp. Quân bình Kitô giáo là không biến bàn thờ thành bục tranh cử nhưng cũng không biến bàn thờ thành nơi gây mê lương tâm công dân.
Lệch lạc thứ bảy là đo linh đạo bằng chức vụ hội đoàn. Đây là một cám dỗ thường gặp trong cộng đoàn. Một người có chức danh thì dễ được nhìn thấy. Người âm thầm thì dễ bị quên. Thế là dần dần người ta đồng hóa “giáo dân nhiệt thành” với “người có tên trong ban này ban kia”. Nhưng Nước Chúa không có sơ đồ tổ chức như một công ty. Có người giữ nhiều chức mà đời sống gia đình đang rối, có người không giữ chức gì nhưng sống Tin Mừng rất sâu. Một bà mẹ chăm người chồng bệnh mười năm có thể đang sống một linh đạo thập giá sâu hơn người đứng đầu nhiều hội đoàn. Một người thợ trung thực không nhận tiền gian lận có thể đang làm chứng cho Tin Mừng mạnh hơn một bài diễn văn. Một thanh niên âm thầm chăm cha mẹ già, giữ sạch đời sống mạng, sống ngay thẳng trong tình yêu và học hành, có thể chưa ai mời vào ban ngành nhưng không vì thế mà kém trưởng thành thiêng liêng. Chức vụ là phương tiện phục vụ, không phải thước đo sự thánh thiện. Thậm chí nếu không tỉnh thức, chức vụ tôn giáo có thể trở thành chất gây nghiện cho cái tôi: người ta cần được gọi tên, cần được hỏi ý, cần được ngồi ghế quen, cần được nhìn nhận là “người của cha”, “người của giáo xứ”, “người lâu năm”. Khi mất chức thì mất vui, mất cầu nguyện, mất luôn cảm giác thuộc về Hội Thánh. Điều đó cho thấy căn tính đã bị buộc vào vai trò. Linh đạo trưởng thành giúp người ta có thể phục vụ khi được giao, và cũng có thể lùi lại bình an khi người khác làm. Có chức mà không chiếm hữu chức; không có chức mà không tự ái. Đó là tự do.
Lệch lạc thứ tám là dùng ngôn ngữ hiệp hành để chiếm quyền hoặc để khỏi trách nhiệm. Hiệp hành là một ân huệ lớn cho Hội Thánh khi được hiểu đúng: cùng bước, cùng lắng nghe Lời và Thánh Thần, cùng nghe nhau, cùng phân định, cùng tham dự vào sứ mạng. Nhưng một từ càng đẹp càng dễ bị dùng như khẩu hiệu. Có người lấy “hiệp hành” làm lý do để xóa mọi khác biệt thừa tác vụ: ai cũng như ai, mọi ý kiến ngang nhau, người mục tử chỉ còn là người điều phối, chân lý trở thành kết quả biểu quyết. Đó không phải hiệp hành Công giáo. Hội Thánh không phải nghị viện tôn giáo. Chúa Thánh Thần không được triệu tập bằng đa số phiếu. Việc lắng nghe Dân Chúa rất nghiêm túc, nhưng phân định vẫn diễn ra trong đức tin tông truyền, trong Lời Chúa, Huấn quyền, bí tích và những trách nhiệm khác nhau do chính cấu trúc Hội Thánh đòi hỏi. Ở cực ngược lại, có người dùng hiệp hành để tránh trách nhiệm: “Cứ lắng nghe thêm”, “cứ phân định thêm”, “cứ lập nhóm thêm”, nhưng chẳng ai quyết định, chẳng ai làm, chẳng ai chịu trách nhiệm. Hiệp hành không phải nghệ thuật kéo dài tiến trình để khỏi trả giá cho lựa chọn. Lắng nghe phải dẫn tới phân định; phân định phải dẫn tới quyết định thích hợp; quyết định phải dẫn tới hành động; hành động phải được kiểm chứng bằng hoa trái. Giáo dân hiệp hành không phải giáo dân tranh quyền, nhưng cũng không phải giáo dân được mời đến để hợp thức hóa điều đã quyết trước. Mục tử hiệp hành không mất quyền mục tử; họ thực thi quyền ấy theo cung cách của Đức Kitô: biết nghe, biết giải thích, biết phân định, biết chịu trách nhiệm. Giáo dân hiệp hành không biến thành nghị sĩ; họ trở thành người đồng trách nhiệm theo đúng ơn gọi và thẩm quyền của mình.
Lệch lạc thứ chín là linh đạo mạng không có bí tích và không có mặt người. Thế giới số đã trở thành một phần thật của đời sống con người. Nơi đó có tình bạn, giáo dục, công việc, tranh luận, thương mại, loan báo Tin Mừng, tìm kiếm ý nghĩa, cả những vết thương và tội lỗi. Vì vậy không thể nói linh đạo giáo dân mà bỏ qua mạng. Nhưng cũng chính vì mạng là thật nên phải nói rõ giới hạn của nó. Một buổi cầu nguyện trực tuyến có thể giúp người ở xa; một bài giảng trên mạng có thể đánh thức lương tâm; một nhóm học Kinh Thánh có thể nối những người không thể gặp nhau; một tin nhắn có thể cứu một người trong đêm tuyệt vọng. Nhưng màn hình không ban bí tích. Livestream Thánh lễ không phải sự hiện diện bí tích của người tham dự như khi họ thực sự quy tụ trong Thánh lễ. Cuộc trò chuyện trực tuyến không thay hoàn toàn cho việc ngồi cạnh một người đang khóc. Thả biểu tượng trái tim không thay cho nấu một bữa ăn. Bình luận “xin cầu nguyện” không thay cho việc đến viếng khi mình có thể đến. Linh đạo mạng thiếu thân xác sẽ dần tạo ra một Kitô giáo tưởng tượng: rất nhiều nội dung, rất ít hiệp thông; rất nhiều bình luận, rất ít lắng nghe; rất nhiều hình ảnh đạo đức, rất ít hy sinh; rất nhiều “bạn”, rất ít người biết mình đang đau. Người giáo dân trưởng thành dùng mạng như công cụ và môi trường sứ mạng nhưng không để mạng nuốt mất bí tích, thân xác, gia đình, cộng đoàn và người nghèo không có sóng. Mạng phải dẫn về bàn thờ, về bàn ăn, về bệnh viện, về nhà người già, về lớp học, về xưởng làm, về cuộc gặp có khuôn mặt.
Lệch lạc thứ mười, và có lẽ là một trong những lệch lạc sâu nhất, là mặc cảm “chỉ là giáo dân” hoặc kiêu “chúng tôi mới thực tế”. Hai thái độ này giống hai mặt của một đồng tiền. Mặc cảm phát sinh khi người giáo dân nghĩ rằng người có chức thánh gần Chúa hơn, tu sĩ thánh hơn theo bản chất, đời mình chỉ là phiên bản thấp của Kitô giáo. Từ đó họ hoặc thụ động, hoặc cố chạy vào các vai trò gần giáo sĩ để cảm thấy mình có giá trị. Kiêu ngạo ngược phát sinh khi người giáo dân, sau khi nhận ra phẩm giá của mình, lại bắt đầu khinh những người sống đời linh mục hoặc thánh hiến: “Các cha đâu biết nuôi con”, “tu sĩ đâu biết kiếm tiền”, “chúng tôi mới biết cuộc đời thật”. Câu ấy có thể chứa một lời nhắc cần thiết: mục tử phải biết lắng nghe kinh nghiệm giáo dân. Nhưng khi biến thành thái độ khinh thường, nó phá hiệp thông. Không một bậc sống nào sở hữu toàn bộ kinh nghiệm Kitô giáo. Linh mục cần giáo dân để nghe tiếng Chúa trong thế giới mà giáo dân sống. Giáo dân cần linh mục để được phục vụ bằng Lời, bí tích và sự hiệp nhất mục tử. Tu sĩ nhắc Hội Thánh rằng thế giới này không phải cùng đích. Gia đình nhắc Hội Thánh rằng tình yêu phải thành thịt, thành cơm áo, thành kiên nhẫn mỗi ngày. Người độc thân giữa đời nhắc rằng hoa trái của đời người không chỉ đo bằng con cái sinh học. Người nghèo nhắc tất cả rằng Nước Trời không mua bằng địa vị. Người bệnh nhắc rằng giá trị con người không hết khi năng suất hết. Hội Thánh là thân thể vì không ai đủ một mình.
Cũng cần thấy rằng các lệch lạc trên không tồn tại tách biệt. Chúng liên kết và nuôi nhau. Khi định nghĩa giáo dân bằng phủ định, người ta dễ giáo sĩ hóa giáo dân. Khi giáo sĩ hóa giáo dân, người ta kéo họ hết vào cung thánh. Khi kéo hết vào cung thánh, người ta bỏ trống sứ mạng trần thế. Khi sứ mạng trần thế bị bỏ trống, người giáo dân hoặc thu mình vào đạo đức riêng, hoặc phản ứng bằng hoạt động xã hội thiếu chiều sâu. Khi hoạt động thiếu ở lại trong Đức Kitô, người ta dễ chính trị hóa đức tin, tranh quyền dưới danh nghĩa hiệp hành, đo giá trị bằng chức vụ, hoặc tìm căn tính qua sự hiện diện trên mạng. Vì vậy không thể sửa từng triệu chứng mà không trở về nền: Rửa tội, Đức Kitô, Dân Thiên Chúa, Thánh Thể, ơn gọi nên thánh, tính chất trần thế, hiệp thông và sứ mạng. Nền đúng thì các phần mới vào đúng chỗ.
Một linh đạo giáo dân lành mạnh luôn giữ được những cặp chân lý tưởng như căng nhau nhưng thực ra cần nhau: ở giữa đời nhưng thuộc về Chúa; có tính trần thế nhưng không thế tục hóa; có tự do và trách nhiệm nhưng không chống phẩm trật; tham gia Hội Thánh nhưng không bỏ sứ mạng ngoài đời; cầu nguyện thật nhưng không trốn việc; hoạt động thật nhưng không cạn nguồn; yêu gia đình nhưng không đóng cửa trước người nghèo; dấn thân công ích nhưng không biến Tin Mừng thành đảng phái; dùng mạng nhưng không mất thân xác; có tiếng nói nhưng vẫn biết lắng nghe; có phẩm giá ngang nhau trong Rửa tội nhưng không xóa những khác biệt về ơn gọi và thừa tác vụ. Trưởng thành Kitô giáo không nằm ở việc chọn một phía của những căng thẳng ấy. Nó nằm ở khả năng mang cả hai trong Đức Kitô.
Có thể dùng chương này như một bản xét mình. Khi một giáo xứ nói “phát huy giáo dân”, hãy hỏi: chúng ta đang giúp họ nên thánh trong nghề và gia đình, hay chỉ đang tuyển thêm người làm việc nhà thờ? Khi một giáo dân nói “tôi phục vụ Hội Thánh”, hãy hỏi: sự phục vụ ấy có làm tôi công bằng hơn với người lao động, trung tín hơn với gia đình, trong sạch hơn trên mạng, tử tế hơn với người yếu không? Khi nói “hiệp hành”, hãy hỏi: chúng ta có thật sự nghe nhau và nghe Thánh Thần, hay chỉ đang tranh quyền bằng ngôn ngữ mới? Khi nói “đời sống thiêng liêng”, hãy hỏi: có Thánh Thể, Lời Chúa, cầu nguyện, hoán cải và người nghèo không? Khi nói “sứ mạng trên mạng”, hãy hỏi: có dẫn tới gặp gỡ thật, bí tích thật, trách nhiệm thật không? Khi nói “gia đình Công giáo”, hãy hỏi: có ai ngoài huyết thống của chúng ta được hưởng lòng thương xót của ngôi nhà này không? Khi nói “dấn thân xã hội”, hãy hỏi: tôi đang để Tin Mừng xét xử lựa chọn chính trị của mình, hay đang bắt Tin Mừng phục vụ lựa chọn chính trị đã có? Khi nói “tôi chỉ là giáo dân”, hãy dừng lại và hỏi: ai đã dạy tôi chữ “chỉ”? Rửa tội có bao giờ là “chỉ” không? Thân mình Đức Kitô có thành viên hạng hai không? Ơn gọi nên thánh có cấp nhẹ không?
Ngược lại, khi trong lòng xuất hiện câu “chúng tôi giáo dân mới biết đời”, cũng phải xét mình. Đức Kitô không dựng Hội Thánh bằng cuộc cạnh tranh giữa các bậc sống. Người rửa chân cho các môn đệ. Đó là tiêu chuẩn. Ai dùng căn tính của mình để đứng cao hơn người khác, dù là giáo sĩ hay giáo dân, đã rời khỏi hình dạng của Thầy. Một linh mục coi giáo dân như trẻ con thiêng liêng phải hoán cải. Một giáo dân coi linh mục như nhân viên bí tích cũng phải hoán cải. Một tu sĩ coi gia đình là bậc thấp phải hoán cải. Một người có gia đình coi đời thánh hiến là chạy trốn thực tế cũng phải hoán cải. Sự khác biệt trong Hội Thánh không được trao để so giá trị, nhưng để phục vụ lẫn nhau.
Sau cùng, mọi lệch lạc linh đạo đều có một dấu hiệu chung: Đức Kitô bị đẩy khỏi trung tâm. Khi Đức Kitô ra ngoài, người ta bắt đầu lấy chức vụ làm trung tâm, bậc sống làm trung tâm, chính trị làm trung tâm, hội đoàn làm trung tâm, mạng xã hội làm trung tâm, “tiếng nói của tôi” làm trung tâm, hoặc chính đời thường làm trung tâm như thể đời thường tự nó cứu được con người. Nhưng linh đạo giáo dân chỉ đứng vững khi Đức Kitô là trung tâm. Đức Kitô của Nazareth đã sống đời thường. Đức Kitô của Thập giá đã hiến mình. Đức Kitô Phục Sinh sai môn đệ đi. Đức Kitô Thánh Thể nuôi họ. Đức Kitô hiện diện trong người nghèo đợi họ. Đức Kitô là Đầu của thân thể trong đó các thừa tác vụ khác nhau cùng phục vụ một sự sống. Người giáo dân không cần trở thành ai khác để thuộc về Người. Nhưng họ phải để Người biến đổi chính nơi họ đang là: người vợ, người chồng, người mẹ, người cha, người con, người độc thân, người lao động, doanh nhân, giáo viên, bác sĩ, kỹ sư, nông dân, nghệ sĩ, chính trị gia, sinh viên, người thất nghiệp, người bệnh, người già, người dùng mạng, người công dân. Đó là chỗ phải tránh lệch. Đó cũng là chỗ phải nên thánh.
Một linh đạo đúng không làm người giáo dân chạy khỏi đời, cũng không để họ tan vào đời. Không làm họ thành linh mục thiếu chức, cũng không làm họ chống linh mục. Không biến họ thành tu sĩ tại gia, cũng không cho họ lấy bận rộn làm cớ khỏi cầu nguyện. Không bắt họ im tiếng, cũng không dạy họ tranh quyền. Không biến gia đình thành pháo đài, cũng không làm gia đình mất căn tính. Không xua họ khỏi chính trị, cũng không biến nhà thờ thành trụ sở chính trị. Không bắt họ bỏ mạng, cũng không cho mạng thay Hội Thánh. Không đo họ bằng số chức vụ, nhưng bằng mức Đức Kitô đang có hình dạng trong đời họ. Khi những quân bình này được giữ, người giáo dân sẽ không còn phải sống trong câu hỏi “tôi có quan trọng trong Hội Thánh không?” Câu hỏi ấy đã được trả lời từ giếng Rửa tội. Câu hỏi trưởng thành hơn là: Đức Kitô muốn yêu thế giới qua đời tôi ở chỗ nào, và hôm nay tôi có để Người làm điều ấy không?
Đó là câu hỏi cứu linh đạo giáo dân khỏi mọi lệch lạc. Và cũng là câu hỏi đưa người giáo dân trở về đúng chỗ của mình: không ở bên lề Hội Thánh, không chen vào chỗ của người khác, nhưng đứng trong Đức Kitô, giữa Dân Người, giữa lòng thế giới, với hai chân thật sự đặt trên đất và trái tim thật sự thuộc về trời.
CHƯƠNG 37. ĐÀO TẠO LINH ĐẠO GIÁO DÂN
Nói đến đào tạo linh đạo giáo dân, điều đầu tiên phải dẹp sang một bên là quan niệm cho rằng đào tạo chỉ là tổ chức vài khóa học, mời vài diễn giả, phát vài tập tài liệu, chụp một tấm hình lưu niệm rồi cuối khóa trao một tờ chứng nhận. Cách làm ấy có thể cần, đôi khi rất hữu ích, nhưng nếu đồng hóa nó với đào tạo thì chúng ta đã hiểu quá nghèo về một công việc có liên quan trực tiếp đến sự trưởng thành của con người Kitô hữu. Một khóa cuối tuần có thể đánh thức. Một buổi tĩnh tâm có thể lay động. Một lớp thần học có thể mở trí. Một chương trình mục vụ có thể cung cấp kỹ năng. Nhưng không một biến cố đơn lẻ nào đủ sức hình thành một con người biết sống toàn bộ đời mình trước mặt Thiên Chúa, biết đem Tin Mừng vào gia đình, nghề nghiệp, tiền bạc, văn hóa, chính trị, các mối tương quan, môi trường kỹ thuật số, những chọn lựa lương tâm và cả những thất bại không ai nhìn thấy. Đào tạo linh đạo giáo dân vì thế phải được hiểu là một hành trình dài, liên tục, có khởi điểm, có tiến trình, có những chặng trưởng thành, có lúc phải học lại từ đầu, có lúc phải thanh luyện những điều đã học sai, có lúc phải bỏ một kiểu đạo đức từng tưởng là tốt nhưng thực ra làm người tín hữu chạy khỏi đời thay vì thánh hóa đời. Nếu Hội Thánh nói rằng giáo dân được gọi nên thánh giữa trần thế, thì Hội Thánh cũng phải tạo điều kiện để họ học cách nên thánh giữa trần thế. Không thể chỉ nói với một người cha rằng anh hãy nên thánh trong gia đình rồi không bao giờ giúp anh hiểu thế nào là yêu thương vợ con theo Tin Mừng, thế nào là sử dụng quyền làm cha mà không độc đoán, thế nào là giáo dục đức tin mà không biến nhà thành lớp giáo lý khô cứng, thế nào là sống trung tín khi tình cảm nguội lạnh, thế nào là cầu nguyện khi con khóc, công việc đè nặng và tiền nhà đến hạn. Không thể chỉ nói với một người mẹ rằng chị hãy thánh hóa việc nội trợ rồi không bao giờ giúp chị nhận ra phẩm giá của lao động không lương, sự mệt mỏi của chăm sóc, những giới hạn cần được tôn trọng, sự cần thiết của cộng đoàn nâng đỡ và quyền được nghỉ ngơi. Không thể chỉ nói với một người trẻ rằng hãy làm chứng cho Chúa tại trường học rồi không giúp họ phân định tình yêu, nghề nghiệp, tham vọng, thành công, áp lực đồng trang lứa, mạng xã hội, thân xác, tiền bạc và tương lai. Không thể bảo một doanh nhân Công giáo hãy sống đức tin giữa thương trường mà toàn bộ chương trình đào tạo của giáo xứ chỉ xoay quanh cách đọc sách thánh trong phụng vụ, cách tổ chức kiệu và cách điều hành hội đoàn. Nếu điều người ta được dạy trong nhà thờ không đủ sức đi theo họ ra khỏi cổng nhà thờ, thì không lạ gì khi đời sống đạo bị chia đôi: một con người ở cung thánh và một con người khác trong công ty. Chính khoảng cách ấy cho thấy vấn đề đào tạo không phải là chuyện phụ thuộc của mục vụ giáo dân. Nó là một trong những điều quyết định giáo dân có thật sự trở thành chủ thể của sứ mạng hay chỉ là người tham dự sinh hoạt tôn giáo.
Đào tạo linh đạo giáo dân phải bắt đầu từ một nền tảng rất căn bản: làm cho người tín hữu hiểu mình là ai trước khi nói họ phải làm gì. Một trong những thất bại lâu dài của việc đào tạo là quá vội giao việc trước khi trao căn tính. Người ta cần người đọc sách, thế là huấn luyện đọc. Cần người dạy giáo lý, thế là mở lớp sư phạm. Cần người điều hành giới trẻ, thế là dạy hoạt náo. Cần thành viên hội đồng mục vụ, thế là dạy nội quy. Tất cả đều cần. Nhưng nếu người ấy chưa hiểu phép Rửa đã làm gì nơi mình, chưa hiểu mình được tháp nhập vào Đức Kitô, thuộc về Dân Thiên Chúa, được dự phần vào chức tư tế, ngôn sứ và vương giả của Người, chưa hiểu tính chất trần thế của ơn gọi mình, thì việc đào tạo dễ tạo ra những người làm việc cho giáo xứ hơn là những môn đệ trưởng thành. Khi ấy người giáo dân có thể biết rất rõ phải đứng đâu khi rước, cúi thế nào khi đọc sách, họp vào thứ mấy, đóng quỹ bao nhiêu, nhưng lại không biết phải xử sự thế nào khi sếp yêu cầu sửa số liệu, khi con mình bỏ lễ, khi cuộc hôn nhân rạn nứt, khi phải lựa chọn giữa lợi nhuận và lương công nhân, khi gặp một thông tin giả đang lan truyền trên mạng, khi phải quyết định có im lặng trước một bất công hay không. Đào tạo Kitô giáo đúng nghĩa phải đi từ căn tính tới sứ mạng, từ bí tích tới đời sống, từ bàn thờ tới đường phố, từ phụng vụ tới lương tâm, từ cầu nguyện tới quyết định. Khởi điểm của nó không phải là “Hội Thánh đang cần anh chị làm gì?” nhưng là “Thiên Chúa đã làm gì nơi anh chị, và từ ân sủng ấy anh chị được sai đi đâu?” Khi một người hiểu mình thuộc về Đức Kitô, người ấy bắt đầu nhìn toàn bộ cuộc đời bằng một ánh sáng khác. Nghề không còn là phần đời nằm ngoài ơn gọi. Hôn nhân không còn là chuyện riêng không liên hệ đến linh đạo. Tiền bạc không còn là vùng đạo đức ngại đụng tới. Chính trị không còn là chuyện bẩn phải tránh. Nghệ thuật không còn là sở thích bên lề. Việc nuôi con, chăm cha mẹ già, trả thuế, ký hợp đồng, nghỉ ngơi, sử dụng điện thoại, chọn trường, mua nhà, chuyển việc, bỏ một mối quan hệ bất chính hay đứng về phía một người bị đối xử bất công đều trở thành nơi con người trả lời Thiên Chúa.
Vì thế, giai đoạn đầu tiên của đào tạo linh đạo giáo dân phải là một cuộc khai tâm sống động. Hai chữ “khai tâm” dễ bị thu nhỏ thành chương trình dành cho người chuẩn bị lãnh nhận các bí tích. Nhưng về mặt thiêng liêng, người đã được rửa tội từ nhỏ vẫn có thể cần được khai tâm lại trong ý nghĩa sâu xa nhất: khám phá điều mình đã lãnh nhận mà chưa từng thực sự sống. Có biết bao người Công giáo đi lễ hàng chục năm nhưng chưa bao giờ được giúp nối phép Rửa với căn tính thường ngày của họ. Có người vẫn nghĩ Rửa tội chỉ là nghi thức để trở thành người có đạo, Thêm sức là lễ dành cho tuổi thiếu niên, còn Thánh Thể là bổn phận Chúa Nhật. Một nền đào tạo giáo dân nghiêm túc phải đưa họ trở lại các bí tích Khai tâm như trở lại nguồn. Phép Rửa nói với họ rằng đời mình đã được đặt trong cái chết và sự sống lại của Đức Kitô. Thêm sức nói rằng Thánh Thần được ban không phải chỉ để họ giữ đạo nhưng để làm chứng. Thánh Thể nói rằng họ được quy tụ để rồi được sai đi. Người đi lễ không kết thúc sứ mạng khi linh mục nói “Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an”; chính lúc ấy phần việc riêng của giáo dân bắt đầu: đi bình an vào một thế giới không bình an, mang điều vừa cử hành vào nơi làm việc, khu phố, bữa ăn gia đình, lớp học và các quan hệ xã hội. Nếu việc đào tạo làm sống lại ý nghĩa này, người giáo dân sẽ không còn coi nhà thờ là nơi duy nhất họ làm việc cho Chúa. Họ sẽ hiểu rằng bàn thờ gửi họ trở lại bàn ăn gia đình, bàn làm việc, bàn họp, bàn ký hợp đồng, bàn học và cả bàn bệnh viện. Thánh Thể không giữ họ ở lại quanh cung thánh; Thánh Thể làm họ trở thành thân mình Đức Kitô được bẻ ra giữa đời.
Cùng với khai tâm là đào tạo về Lời Chúa. Không thể có một linh đạo Kitô giáo trưởng thành nếu người tín hữu sống bằng những câu đạo đức truyền miệng nhiều hơn bằng Kinh Thánh. Nhưng việc đào tạo về Lời Chúa cho giáo dân cũng cần được đặt đúng kích thước đời sống của họ. Không phải ai cũng có điều kiện học chú giải chuyên sâu. Không phải ai cũng có thể dành một giờ mỗi sáng cho Lectio divina. Điều đó không hạ chuẩn Lời Chúa. Trái lại, nó đòi Hội Thánh tìm cách giúp Lời thật sự đi vào lịch sống của người bình thường. Người giáo dân cần được dạy cách đọc một đoạn ngắn nhưng đọc cho thật, biết đặt mình dưới Lời thay vì dùng Lời để xác nhận ý mình, biết phân biệt bản văn với cảm xúc tức thời, biết hỏi: hôm nay Chúa đang soi điều gì trong cách tôi nói với vợ, cách tôi đối xử với nhân viên, cách tôi sử dụng tiền, cách tôi chịu một bất công, cách tôi phản ứng trên mạng? Họ cần biết rằng Kinh Thánh không chỉ cung cấp câu an ủi. Lời Chúa còn cắt, sửa, chất vấn và mở đường. Một người chỉ tìm trong Kinh Thánh những câu làm mình dễ chịu chưa chắc đã để Lời Chúa đào tạo. Lời phải được phép đụng tới những vùng họ muốn giấu: tham vọng, ghen tị, ham tiền, dục vọng, nóng giận, thiên kiến, sự lười biếng, thói quen nói xấu, nhu cầu được công nhận, nỗi sợ thua thiệt. Đào tạo Lời Chúa không dừng ở biết các sách Kinh Thánh hay thuộc câu trích. Nó phải hình thành một trí tưởng tượng Kitô giáo, để người tín hữu dần học nhìn thực tại theo cách Tin Mừng nhìn: người yếu không phải gánh nặng, kẻ thù vẫn là người cần được yêu, người nghèo không phải phương tiện cho lòng tốt của mình, quyền lực là để phục vụ, của cải là trách nhiệm, sự thật đáng giá hơn lợi thế, tha thứ không phải yếu đuối, thập giá không phải thất bại cuối cùng, và không một thành công trần thế nào đủ sức trở thành Thiên Chúa.
Một chiều kích khác rất thường bị thiếu trong đào tạo giáo dân là học thuyết xã hội của Hội Thánh. Nếu giáo dân được sai vào các thực tại trần thế mà không được trang bị những nguyên tắc để phân định các thực tại ấy, thì lời mời gọi của Hội Thánh sẽ trở thành mơ hồ. Một người có thể rất sốt sắng trong kinh nguyện nhưng hoàn toàn lúng túng trước câu hỏi về lương công bằng, môi trường, tham nhũng, người di dân, trách nhiệm doanh nghiệp, quyền người lao động, công nghệ, dữ liệu, sở hữu, thị trường, chiến tranh, hòa bình, công ích và vai trò của nhà nước. Học thuyết xã hội không phải phần phụ dành cho vài người thích chính trị. Nó là một phần quan trọng của việc hình thành lương tâm giáo dân, bởi chính giáo dân là những người thường xuyên sống ở nơi các quyết định kinh tế, xã hội và chính trị được thực hiện. Họ cần học phẩm giá con người không phải khẩu hiệu; phẩm giá ấy có hậu quả cho mức lương, môi trường làm việc, cách quảng cáo, cách xử lý dữ liệu cá nhân, cách đối xử với người khuyết tật, người già, người chưa sinh ra, người nghèo và người bất đồng với mình. Họ cần học công ích không phải tổng các lợi ích cá nhân. Họ cần học liên đới không phải cảm xúc thương người nhất thời. Họ cần học bổ trợ để biết khi nào cấp trên không nên chiếm việc của cấp dưới và khi nào cộng đồng lớn phải nâng người nhỏ yếu. Họ cần học đích điểm phổ quát của của cải để hiểu quyền sở hữu là thật nhưng không tuyệt đối. Họ cần hiểu lao động có phẩm giá vì người lao động có phẩm giá, chứ không chỉ vì lao động tạo ra lợi nhuận. Khi những điều ấy không được dạy, giáo dân dễ rơi vào hai thái cực: hoặc đạo đức cá nhân rất kỹ nhưng mặc kệ cơ cấu bất công, hoặc lao vào hoạt động xã hội nhưng dần mất gốc cầu nguyện và hiệp thông Hội Thánh. Đào tạo phải giữ cả hai: hoán cải con người và biến đổi thực tại.
Linh đạo hôn nhân phải có vị trí trung tâm trong đào tạo giáo dân, không phải một chuyên đề dành riêng cho vài đôi chuẩn bị cưới. Một tỷ lệ rất lớn giáo dân trưởng thành sống ơn gọi trong hôn nhân và gia đình. Thế nhưng nhiều nơi, sau vài buổi giáo lý hôn nhân trước lễ cưới, đôi vợ chồng gần như tự bơi trong hàng chục năm tiếp theo. Họ được chúc sống thánh thiện nhưng ít được đồng hành để học sự thánh thiện ấy trông như thế nào sau năm năm, mười năm, hai mươi năm chung sống. Tình yêu ban đầu thay đổi. Cơ thể thay đổi. Tính khí bộc lộ. Con cái xuất hiện. Cha mẹ hai bên già đi. Tiền bạc căng thẳng. Tính dục bước qua nhiều mùa. Có phản bội nhỏ, đôi khi phản bội lớn. Có những vết thương tưởng đã quên nhưng cứ trở lại trong lúc cãi nhau. Có sự im lặng kéo dài giữa hai người vẫn ngủ chung giường. Có đứa con khiến cha mẹ bất đồng sâu sắc. Có bệnh tật, thất nghiệp, mất mát, vô sinh, con khuyết tật, con bỏ đạo, con sống khác kỳ vọng. Đào tạo linh đạo hôn nhân phải bước vào những nơi ấy. Nó phải dạy rằng bí tích Hôn phối không chỉ ban ơn cho ngày cưới nhưng trở thành nguồn cho cả một đời trung tín. Nó phải giúp đôi vợ chồng học cầu nguyện với nhau mà không làm giả sự thân mật, học xin lỗi mà không biện minh, học lắng nghe mà không chuẩn bị phản công, học tha thứ mà không phủ nhận sự thật, học đặt ranh giới khi cần, học tìm giúp đỡ khi vết thương vượt quá khả năng tự chữa của hai người. Nó phải dạy rằng tính dục hôn nhân không phải đề tài cấm nói trong Hội Thánh nhưng là một phần của ơn gọi hiến thân, cần sự trưởng thành, tôn trọng, trung tín và tiết độ. Nó phải giúp cha mẹ hiểu giáo dục đức tin không phải chỉ đưa con đi học giáo lý nhưng là tạo một căn nhà trong đó đứa trẻ nhìn thấy đức tin vận hành bằng cách cha mẹ nói thật, xin lỗi, chia sẻ của cải, tiếp người yếu, tôn trọng nhau và cầu nguyện khi không biết phải làm gì. Một linh đạo giáo dân không đi sâu vào hôn nhân sẽ chỉ đứng ngoài cửa ngôi nhà nơi phần lớn cuộc chiến nên thánh thật sự đang diễn ra.
Cũng vậy, linh đạo lao động phải trở thành nội dung căn bản của đào tạo, không phải một bài suy niệm vào lễ Thánh Giuse Thợ rồi thôi. Người giáo dân dành phần rất lớn đời thức của mình cho công việc. Nếu chỗ ấy không được đào tạo, thì phần lớn đời họ không được soi sáng. Họ cần được giúp hiểu nghề nghiệp không chỉ là phương tiện kiếm sống nhưng là nơi phục vụ, cộng tác với công trình tạo dựng, phát triển tài năng, xây dựng xã hội và thực thi đức ái. Đồng thời họ phải biết không thần thánh hóa lao động. Công việc có thể trở thành ngẫu tượng. Thành tích có thể nuốt gia đình. Tham vọng có thể giết lương tâm. Một người có thể dùng câu “tôi đang lo cho gia đình” để biện minh cho việc không bao giờ hiện diện với gia đình. Một người có thể làm việc cho một tổ chức Công giáo mà vẫn nghiện quyền lực, kiệt sức, đối xử tệ với nhân viên và đánh mất đời cầu nguyện. Đào tạo phải giúp người giáo dân phân định những căng thẳng rất thật ấy. Một bác sĩ Công giáo cần được hình thành không chỉ để cầu nguyện trước khi khám bệnh nhưng để hiểu đạo đức nghề nghiệp, phẩm giá bệnh nhân, sự thật trong thông tin, quyền của người yếu và giới hạn của kỹ thuật. Một giáo viên cần được đào tạo để hiểu việc tôn trọng học sinh, sự thật của tri thức, công bằng trong đánh giá và trách nhiệm không biến lớp học thành nơi truyền bá bản ngã. Một doanh nhân cần được dạy suy nghĩ về lương, điều kiện lao động, hợp đồng, thuế, môi trường, quảng cáo, tham nhũng, lợi nhuận và trách nhiệm với cộng đồng. Một người làm truyền thông phải học sự thật, trách nhiệm với danh dự người khác, nghệ thuật không biến xúc phạm thành nội dung, không biến giận dữ thành lượt xem. Một kỹ sư công nghệ cần được đào tạo để đặt câu hỏi đạo đức trước thiết kế, dữ liệu, thuật toán và tác động lên con người. Nếu người Công giáo có mặt ở mọi nghề nhưng các nghề ấy không bao giờ bước vào chương trình đào tạo của Hội Thánh, chúng ta đang nói với họ rằng phần lớn đời họ chẳng có gì đáng để thần học quan tâm. Đó là một thông điệp nguy hiểm.
Đào tạo linh đạo giáo dân cũng phải đào tạo khả năng phân định. Giữa đời, tín hữu không sống bằng một cuốn sách trong đó mọi câu hỏi đều có sẵn một dòng trả lời. Có những điều Giáo huấn xác định rõ; ở đó lương tâm không có quyền bịa một chân lý khác. Nhưng cũng có vô số chọn lựa cụ thể cần sự khôn ngoan: có nên đổi việc không, có nên nhận vị trí này không, phải đối xử thế nào với một người thân độc hại, nên chọn trường nào cho con, lúc nào phải nói sự thật công khai, lúc nào im lặng là khôn ngoan, khi nào cần nghỉ một công việc đang phá sức khỏe gia đình, nên cho đi bao nhiêu, nên tham gia chính trị ở mức nào, có nên di cư, có nên đầu tư, có nên kiện, có nên ký một hợp đồng không hoàn hảo nhưng không bất chính, phải xử lý thế nào khi hai điều tốt xung đột. Những câu hỏi ấy không thể được trả lời bằng cảm giác “tôi thấy bình an” đơn giản. Người giáo dân cần học phân định với lương tâm được đào tạo, Lời Chúa, giáo huấn của Hội Thánh, dữ kiện khách quan, lời khuyên của người khôn ngoan, cầu nguyện, tự do nội tâm và sự chú ý tới hoa trái. Họ phải được dạy nhận diện những động lực bên trong: tôi đang chọn vì bác ái hay vì sợ bị ghét? Vì trách nhiệm hay vì tham vọng? Vì lương tâm hay vì muốn giữ hình ảnh? Vì tự do hay vì nghiện cảm giác an toàn? Phân định là một nghệ thuật thiêng liêng nhưng cũng rất nhân bản. Nó đòi hiểu chính mình. Đào tạo vì thế cần có chỗ cho việc trưởng thành tâm lý, hiểu cảm xúc, biết giới hạn, nhận diện vết thương, học giao tiếp và học chịu trách nhiệm về chọn lựa. Thần học ân sủng không chống lại nhân bản. Ân sủng chữa lành và nâng nhân bản. Một người không biết gọi tên cơn giận của mình rất dễ gọi cơn giận ấy là “nhiệt thành cho sự thật”. Một người không nhận ra nhu cầu kiểm soát có thể gọi nó là “trách nhiệm mục vụ”. Một người sợ bị bỏ rơi có thể biến sự lệ thuộc thành “trung thành”. Đào tạo tốt làm cho người tín hữu vừa sâu trong Chúa vừa thật với chính mình.
Một phần không thể thiếu nữa là đào tạo cho những thừa tác vụ và trách nhiệm cụ thể trong Hội Thánh. Nói giáo dân không phải “phó linh mục” không có nghĩa phủ nhận những thừa tác vụ giáo dân thực sự được Hội Thánh giao. Giáo lý viên, người đọc sách, người phục vụ bàn thờ theo quy định, thừa tác viên ngoại thường cho rước lễ nơi được phép, thành viên hội đồng mục vụ, người phục vụ Caritas, người đồng hành giới trẻ, người tham gia mục vụ gia đình, người làm truyền thông Công giáo, người điều phối các nhóm cầu nguyện, những người lãnh nhận các thừa tác vụ được thiết lập theo kỷ luật hiện hành của Hội Thánh, tất cả đều cần được đào tạo nghiêm túc. Nhưng sự đào tạo ấy phải giữ đúng trật tự: thừa tác vụ phát sinh từ đời môn đệ và phục vụ đời môn đệ, không trở thành căn tính thay thế cho căn tính Rửa tội. Một giáo lý viên không nên nghĩ mình quan trọng vì có lớp. Một thành viên hội đồng mục vụ không nên định nghĩa đời mình bằng ghế họp. Người đọc sách không nên coi bục đọc là thước đo phẩm giá. Người phục vụ phụng vụ phải được đào tạo để hiểu phụng vụ, nhưng cũng cần nhớ rằng phụng vụ sai mình ra khỏi cung thánh. Khi thừa tác vụ được tách khỏi linh đạo, nó biến thành chức năng. Khi chức năng được kéo dài, nó dễ thành quyền lợi. Khi quyền lợi bị đụng tới, phục vụ biến thành tranh chấp. Chính vì thế đào tạo cho thừa tác vụ phải bao gồm khiêm nhường, tinh thần hiệp thông, khả năng làm việc chung, tôn trọng ranh giới chức vụ, biết rút lui đúng lúc và hiểu rằng Hội Thánh không sụp đổ nếu một ngày mình không còn giữ vị trí ấy.
Ai chịu trách nhiệm cho công việc đào tạo lớn lao này? Câu trả lời không thể chỉ là cha xứ, cũng không thể đẩy hết cho ban giáo lý. Trước hết là chính người giáo dân. Không ai có thể đào tạo một người không muốn trưởng thành. Phẩm giá Rửa tội đi cùng trách nhiệm Rửa tội. Người tín hữu trưởng thành không thể suốt đời chờ người khác đút từng thìa kiến thức. Họ cần học tự đọc, tự cầu nguyện, tự tìm hiểu giáo huấn, tự đặt câu hỏi, tự tìm người đồng hành, tự chịu trách nhiệm về đời sống thiêng liêng của mình. Nhưng trách nhiệm cá nhân ấy không miễn cho cộng đoàn Hội Thánh. Giáo xứ là nơi gần nhất và phải tạo một môi trường đào tạo thường xuyên, không chỉ bằng lớp học nhưng bằng chính cách giáo xứ sống. Một giáo xứ có thể giảng rất hay về phẩm giá giáo dân nhưng nếu mọi quyết định đều được làm kín và giáo dân chỉ được gọi tới khi cần người thực hiện, chính cơ cấu ấy đang đào tạo sự thụ động. Một giáo xứ nói về hiệp thông nhưng các hội đoàn cạnh tranh, nói xấu nhau, giữ người cho nhóm mình, thì bài học thực tế mạnh hơn mọi giáo trình. Một giáo xứ nói về người nghèo nhưng ngân sách gần như chỉ dành cho trang trí và lễ hội thì chính ngân sách đang đào tạo một thần học khác. Đào tạo không chỉ diễn ra trong lớp. Cách lãnh đạo cũng đào tạo. Cách sử dụng tiền cũng đào tạo. Cách linh mục lắng nghe giáo dân cũng đào tạo. Cách giáo dân đối xử với linh mục cũng đào tạo. Cách cộng đoàn giải quyết xung đột là một bài học Giáo hội học sống động.
Giáo phận có trách nhiệm nhìn xa hơn khả năng của từng giáo xứ. Không thể trông chờ mỗi cha xứ tự nghĩ toàn bộ chương trình đào tạo giáo dân. Một giáo phận nghiêm túc phải có tầm nhìn dài hạn: những nền tảng thần học nào mọi giáo dân trưởng thành nên biết; những chương trình nào cho hôn nhân, nghề nghiệp, người trẻ, người cao tuổi, người làm kinh tế, người hoạt động xã hội; ai sẽ đào tạo người đào tạo; tài liệu nào đáng tin; làm sao tránh biến đào tạo thành tuyên truyền nội bộ; làm sao để người ở giáo xứ nghèo cũng được tiếp cận; làm sao kết hợp học trực tiếp và trực tuyến mà không thay thế tương quan người thật bằng màn hình. Giáo phận cũng cần đầu tư cho những giáo dân có khả năng học sâu thần học, Kinh Thánh, học thuyết xã hội, giáo luật, đạo đức sinh học, truyền thông, khoa học và các ngành liên quan. Đầu tư cho giáo dân học không phải là tạo đối thủ cho hàng giáo sĩ. Một Hội Thánh sợ giáo dân có học là một Hội Thánh không hiểu hiệp thông. Giáo dân có nền tảng thần học vững có thể phục vụ Hội Thánh tốt hơn và cũng giúp mục tử nhìn những thực tại mà chủng viện không thể cung cấp hết. Nhưng sự đào tạo ấy cũng phải đi cùng đời sống thiêng liêng và hiệp thông. Kiến thức thần học không tự động tạo nên sự thánh thiện. Một người có thể trích dẫn Công đồng rất giỏi mà không biết yêu một người cụ thể. Có thể nói lưu loát về hiệp hành nhưng không chịu lắng nghe. Có thể học đạo đức xã hội mà đối xử tệ với người trong nhà. Vì thế mọi chương trình đào tạo trí thức cần được cắm vào cầu nguyện, bí tích, phục vụ và đời sống cộng đoàn.
Các đoàn thể, phong trào và hiệp hội giáo dân cũng có trách nhiệm rất lớn. Chúng có lợi thế mà giáo xứ đôi khi không có: sự gần gũi, tính chuyên biệt, tình bạn và khả năng đồng hành lâu dài. Một phong trào có thể giúp một doanh nhân gặp những doanh nhân khác đang vật lộn với câu hỏi đạo đức giống mình. Một hội gia đình có thể tạo nơi cho các đôi vợ chồng nói thật những khó khăn không tiện nói giữa một lớp đông. Một nhóm sinh viên có thể giúp người trẻ nối đức tin với ngành học và lựa chọn nghề nghiệp. Tuy nhiên các đoàn thể phải cẩn thận không biến linh đạo riêng thành toàn bộ Kitô giáo. Đoàn sủng là quà cho Hội Thánh, không phải tiêu chuẩn duy nhất để đo Hội Thánh. Người được đào tạo trong một phong trào phải ngày càng yêu Hội Thánh rộng hơn, chứ không ngày càng nghĩ rằng chỉ nhóm mình mới sống đạo đúng. Nếu một người tham gia nhiều năm mà mất khả năng cầu nguyện với người ngoài nhóm, coi thường giáo xứ, lệ thuộc tuyệt đối vào lãnh đạo hoặc đồng hóa ý kiến của phong trào với giáo huấn Hội Thánh, thì đào tạo đã bị méo. Đoàn thể trưởng thành đào tạo con người để tự do hơn trong Đức Kitô, không phải lệ thuộc hơn vào tổ chức.
Trường Công giáo cũng phải nhận trách nhiệm đào tạo giáo dân theo nghĩa rộng. Một trường mang tên Công giáo không hoàn thành sứ mạng chỉ bằng giờ giáo lý và vài biểu tượng tôn giáo trong khuôn viên. Nếu học sinh học giỏi nhưng hấp thụ một quan niệm thành công hoàn toàn cạnh tranh, tiêu thụ và cá nhân chủ nghĩa, thì môi trường ấy chưa thực sự đào tạo Kitô giáo. Nếu sinh viên học kinh tế trong trường Công giáo mà chưa từng được thách thức về mục đích của doanh nghiệp, phẩm giá người lao động, giới hạn của lợi nhuận và trách nhiệm xã hội, thì chữ Công giáo vẫn còn đứng ngoài chuyên môn. Nếu sinh viên công nghệ không bao giờ được hỏi công nghệ phục vụ ai, dữ liệu thuộc về ai, thuật toán có thể bất công thế nào và con người bị giảm thành gì khi mọi hành vi đều trở thành dữ liệu, thì đào tạo đức tin chưa bước vào nghề. Nếu trường y Công giáo dạy đạo đức chỉ như một môn phải thi mà không hình thành cái nhìn về bệnh nhân như một con người có phẩm giá bất khả xâm phạm, thì điều cốt yếu vẫn thiếu. Giáo dục Công giáo phải có khả năng nối đức tin với tri thức, phụng vụ với phòng thí nghiệm, Tin Mừng với kinh tế, nhân học Kitô giáo với tâm lý học, đạo đức với kỹ thuật. Chỉ như thế người trẻ mới hiểu rằng Kitô giáo không phải lớp phủ tôn giáo lên một đời sống vốn vận hành hoàn toàn theo logic khác.
Một nơi thường bị quên khi nói về đào tạo giáo dân lại chính là chủng viện. Nếu linh mục tương lai không được đào tạo để hiểu giáo dân, toàn bộ nỗ lực đào tạo giáo dân sau này sẽ bị giới hạn. Chủng sinh cần học thần học về giáo dân không phải như một bài trong giáo hội học rồi thi xong. Họ cần tiếp xúc thật với gia đình, lao động, người nghèo, doanh nhân, giới trí thức, thanh niên, người đơn thân, người thất nghiệp, người di dân, người làm ca đêm, người sống trong những hoàn cảnh hôn nhân phức tạp. Họ cần học lắng nghe những người có chuyên môn mà mình không có. Một linh mục tương lai phải biết rằng sau khi chịu chức, ông không trở thành chuyên gia về kinh tế, tâm lý, giáo dục, y khoa, công nghệ, pháp luật và đời sống hôn nhân chỉ vì được đặt tay. Chức thánh ban một thừa tác vụ, không ban toàn bộ chuyên môn của thế giới. Khi linh mục không được đào tạo điều này, rất dễ xảy ra hai thái cực: hoặc kiểm soát mọi chuyện, nói thay giáo dân cả ở những lĩnh vực họ hiểu hơn mình; hoặc hoàn toàn rút khỏi việc đào tạo giáo dân và chỉ lo phụng vụ. Con đường đúng là mục tử biết Lời, bí tích, giáo huấn và nghệ thuật phân định; đồng thời biết lắng nghe kinh nghiệm và chuyên môn của Dân Chúa. Chủng viện phải dạy người mục tử tương lai không sợ một giáo dân giỏi hơn mình trong lĩnh vực của họ. Đó không phải đe dọa. Đó là thân mình Đức Kitô hoạt động với nhiều chi thể. Một bác sĩ biết y khoa hơn linh mục là chuyện bình thường. Một người mẹ hiểu đứa con mình hơn cha xứ là chuyện bình thường. Một kỹ sư biết công nghệ hơn giám mục là chuyện bình thường. Vai trò của mục tử không phải thắng họ về chuyên môn nhưng giúp mọi chuyên môn quy hướng về chân lý, phẩm giá con người và ơn gọi nên thánh.
Phương pháp đào tạo cũng cần thay đổi. Không thể chỉ dùng mô hình giảng viên nói, giáo dân ghi, cuối buổi ai về nhà nấy. Có những điều phải được dạy rõ ràng, có hệ thống. Không nên vì yêu đối thoại mà sợ giáo huấn. Nhưng đào tạo người trưởng thành đòi nhiều hơn truyền đạt nội dung. Người lớn mang theo kinh nghiệm sống, thành công, thất bại, thành kiến, vết thương và những câu hỏi cụ thể. Họ cần được mời đưa đời sống ấy vào ánh sáng đức tin. Một buổi về lao động phải cho họ cơ hội đặt vấn đề thật về công ty. Một buổi về hôn nhân phải cho thấy hôn nhân không chỉ là lý tưởng trên giấy. Một chương trình học thuyết xã hội phải đưa ra tình huống thực tế. Một lớp phân định phải giúp người ta tập phân định, không chỉ định nghĩa phân định. Một khóa về cầu nguyện phải để người ta cầu nguyện. Một chương trình về Lời Chúa phải để họ đọc Lời. Một khóa về bác ái phải dẫn tới gặp người nghèo chứ không kết thúc ở PowerPoint. Đào tạo Kitô giáo không chỉ thêm thông tin vào đầu; nó hình thành thói quen, lương tâm, khả năng nhìn, cách chọn và cách sống. Người học phải được thực tập, được đồng hành, được sửa, được thất bại và làm lại. Chính vì thế việc đồng hành sau khóa học quan trọng không kém bản thân khóa học. Nhiều chương trình thất bại không phải vì nội dung xấu nhưng vì không có bước kế tiếp. Ba ngày rất sốt sắng, rồi trở về đời cũ không một cộng đoàn, không người đồng hành, không nhịp thực hành, và sáu tháng sau hầu như mọi điều tan. Hành trình cần nhịp dài: học, thực hành, phản tỉnh, cầu nguyện, trao đổi, sửa sai, học tiếp.
Cũng phải nói đến sự khác biệt trong đào tạo. Không có một chương trình duy nhất phù hợp mọi giáo dân. Người trẻ khác người già. Người độc thân khác người đã lập gia đình. Người làm nông khác nhân viên văn phòng. Người lao động phổ thông khác giảng viên đại học. Người mới trở lại khác người đã sống đạo bốn mươi năm. Một giáo dân có bằng tiến sĩ vẫn có thể rất sơ khai trong cầu nguyện. Một bà bán hàng không học cao có thể có sự khôn ngoan thiêng liêng sâu hơn nhiều người đọc sách thần học. Đào tạo phải tôn trọng con người cụ thể. Bình đẳng phẩm giá không có nghĩa đồng nhất phương pháp. Có người cần giáo lý căn bản. Có người cần thần học nâng cao. Có người cần chữa lại những hình ảnh sai về Thiên Chúa. Có người cần học cách giữ Chúa Nhật. Có người cần học đạo đức nghề nghiệp. Có người cần được giúp thoát một lối đạo đức ám ảnh tội lỗi. Có người cần thức tỉnh khỏi sự dễ dãi. Một chương trình chỉ thành công nếu người học biết rất nhiều sau khóa chưa chắc đã thành công; quan trọng hơn là họ có trở nên tự do hơn để yêu Chúa và yêu người hay không.
Đào tạo cũng phải có chiều kích cộng đoàn. Không ai trưởng thành Kitô hữu một mình. Thời đại số dễ tạo ảo tưởng rằng chỉ cần nghe đủ podcast, xem đủ bài giảng, theo đủ kênh Công giáo là đã được đào tạo. Nội dung số là một ân huệ lớn nếu dùng đúng, nhưng nó không thể thay hoàn toàn cộng đoàn. Người tín hữu cần những người biết tên mình, biết câu chuyện mình, có thể hỏi mình những câu khó và có quyền nói với mình rằng mình đang tự lừa mình. Thuật toán thường đưa cho ta thêm những gì ta đã thích. Cộng đoàn thật có thể đặt trước ta một người ta không chọn. Mạng có thể cho ta nghe một linh mục rất hợp ý ở bên kia thế giới. Giáo xứ buộc ta học kiên nhẫn với cha xứ có giới hạn và người hàng xóm khó chịu. Chính chỗ ấy cũng là đào tạo. Không phải mọi khó chịu đều thánh hóa, nhưng đời sống Kitô giáo không thể được cá nhân hóa thành một dòng nội dung được lựa chọn hoàn hảo. Đào tạo phải giữ những nhóm nhỏ lành mạnh, tình bạn đức tin, việc đồng hành, những cuộc gặp mặt thật, những bữa ăn, những công việc phục vụ chung. Ta học Kitô giáo không chỉ bằng tai mà bằng cách sống cạnh những người khác.
Cần đặc biệt đào tạo giáo dân biết cầu nguyện trong chính nhịp đời mình. Nếu chương trình linh đạo đặt một chuẩn đời cầu nguyện thực tế chỉ khả thi cho đan sĩ rồi kín đáo khiến người mẹ ba con, tài xế ca đêm hay công nhân nghĩ mình luôn thất bại, đó không phải đào tạo tốt. Nhưng nếu hạ cầu nguyện xuống thành “cứ làm việc tốt là cầu nguyện rồi” thì cũng sai. Người giáo dân cần một kỷ luật thiêng liêng vừa sức nhưng thật. Một đoạn Lời Chúa mỗi ngày. Một khoảng thinh lặng dù ngắn. Thánh lễ Chúa Nhật được sống như nguồn. Xét mình trước khi ngủ. Kinh gia đình ở mức có thể. Lời nguyện tắt giữa công việc. Chuỗi Mân Côi trên đường đi. Một buổi tĩnh tâm định kỳ. Bí tích Hòa giải. Việc giữ Chúa Nhật không chỉ bằng dự lễ mà bằng nghỉ, gia đình, niềm vui và lòng biết ơn. Đào tạo phải giúp họ xây một “luật sống” thích hợp với bậc sống. Không phải luật cứng làm họ tội lỗi vì không hoàn thành, nhưng một cấu trúc nâng đỡ để đời thiêng liêng không bị ăn hết bởi việc khẩn cấp. Người không đặt chỗ cho Chúa trong lịch sẽ sớm thấy mọi thứ khác chiếm hết lịch. Thuộc về Chúa phải có những hành vi cụ thể biểu lộ sự thuộc về ấy.
Một vấn đề nữa là đào tạo người giáo dân sống trong những giai đoạn khủng hoảng. Không thể chỉ đào tạo cho lúc mọi sự bình thường. Đời sống có những mùa mất việc, ly thân, bệnh nặng, tang chế, khủng hoảng đức tin, khủng hoảng tuổi trung niên, con cái nổi loạn, phá sản, di cư, về hưu, cô đơn. Nếu linh đạo chỉ được dạy như một chương trình hoạt động tích cực, người tín hữu sẽ không biết phải làm gì khi không còn sức hoạt động. Họ cần được đào tạo để hiểu sự bất lực cũng có thể trở thành nơi gặp Chúa, rằng giá trị của họ không mất khi không còn năng suất, rằng cầu nguyện trong khô khan vẫn là cầu nguyện, rằng một người bệnh nằm trên giường vẫn thuộc về sứ mạng Hội Thánh, rằng người thất nghiệp không mất phẩm giá, rằng người già không trở thành phần dư. Một nền đào tạo chỉ tôn vinh người trẻ, khỏe, năng động, đóng góp được và có mặt trong mọi chương trình vô tình dạy rằng giá trị Kitô hữu nằm ở khả năng phục vụ tổ chức. Tin Mừng nói khác. Phẩm giá đến trước chức năng.
Đào tạo linh đạo giáo dân cũng phải chuẩn bị họ sống với sự phức tạp của thế giới hôm nay mà không sợ hãi cũng không ngây thơ. Họ cần hiểu thế giới số, trí tuệ nhân tạo, truyền thông, sự thao túng chú ý, kinh tế nền tảng, văn hóa hình ảnh, áp lực thành công, cô đơn đô thị, biến đổi cấu trúc gia đình, di dân và sự tăng tốc của đời sống. Không phải để Hội Thánh chạy theo mọi xu hướng, nhưng để giáo dân biết mang đức tin vào những nơi họ đang sống thật. Nếu họ được đào tạo chỉ để trả lời những câu hỏi của năm mươi năm trước, không lạ gì người trẻ thấy đức tin không đụng đời mình. Nhưng cập nhật không có nghĩa thay Tin Mừng bằng thời thượng. Đào tạo trưởng thành giúp phân biệt cái mới nào là cơ hội, cái mới nào mang nguy cơ, cái cũ nào cần giữ, cái cũ nào chỉ là thói quen. Giáo dân phải đủ vững để không hoảng sợ trước khoa học, không thờ lạy công nghệ, không coi văn hóa như kẻ thù, cũng không hấp thụ mọi giá trị của thời đại mà không xét hỏi.
Cần có cả việc đào tạo khả năng đối thoại. Người giáo dân gặp mỗi ngày những người không cùng đức tin, không cùng đạo đức, không cùng quan điểm. Họ phải học làm chứng mà không gây chiến, nói sự thật mà không làm nhục, bảo vệ xác tín mà không khinh người. Một người chỉ biết nói với những ai đồng ý với mình chưa được đào tạo đủ cho sứ mạng. Trường học, công sở, mạng xã hội, khu phố đều là những nơi đòi khả năng lắng nghe, đặt câu hỏi, trình bày lý do của niềm hy vọng và chấp nhận rằng không phải cuộc đối thoại nào cũng kết thúc bằng việc người kia đồng ý. Chứng tá Kitô giáo không cần chiến thắng mọi tranh luận. Có khi chiến thắng lớn nhất là người kia dù không đồng ý vẫn nhận ra rằng người Kitô hữu đã đối xử với họ bằng sự thật và phẩm giá. Đào tạo về truyền giáo phải thoát khỏi lối nghĩ chỉ đếm người tham dự hay số người trở lại. Truyền giáo trước hết là để Đức Kitô trở nên khả tín qua đời sống của người thuộc về Người.
Cuối cùng, phải có cách đánh giá việc đào tạo khác với việc đếm số khóa và số chứng chỉ. Một giáo phận có thể báo cáo hàng nghìn người đã học nhưng câu hỏi thật là: họ có cầu nguyện sâu hơn không? Hôn nhân có được nâng đỡ tốt hơn không? Người kinh doanh có trở nên công bằng hơn không? Hội đồng mục vụ có biết lắng nghe hơn không? Người trẻ có thấy đức tin chạm tới đời họ không? Người nghèo có được đặt gần trung tâm hơn không? Giáo dân có bớt mặc cảm “chỉ là giáo dân” không? Linh mục có bớt kiểm soát những việc không thuộc thừa tác vụ mình không? Các đoàn thể có bớt cạnh tranh không? Người tín hữu có biết phân định tốt hơn trong những chọn lựa cụ thể không? Họ có biết nối Thánh lễ với tuần sống không? Có biết nhận lỗi không? Có trung tín hơn trong điều nhỏ không? Có dùng mạng bớt bạo lực không? Có thấy nghề nghiệp là nơi nên thánh không? Có trưởng thành hơn trong tự do không? Những hoa trái ấy khó đưa vào bảng Excel, nhưng chúng mới là dấu hiệu đào tạo chạm tới đời.
Không đào tạo, câu “giáo dân được gọi nên thánh giữa đời” rất dễ trở thành một lời chúc đẹp. Người ta nói rồi để họ tự xoay xở. Không đào tạo, ta có thể mời giáo dân đảm nhận trách nhiệm nhưng không trao cho họ nền tảng để thực hiện. Không đào tạo, ta dễ trách họ thụ động sau khi đã dành nhiều năm dạy họ chỉ biết nghe. Không đào tạo, ta nói họ phải có lương tâm trưởng thành nhưng không cho họ công cụ hình thành lương tâm. Không đào tạo, ta kêu họ bước vào kinh tế, chính trị, khoa học, văn hóa nhưng không trao cho họ một ngôn ngữ thần học để phân định các thực tại ấy. Không đào tạo, ta khuyên họ cầu nguyện nhưng không giúp họ xây một đời cầu nguyện vừa sức. Không đào tạo, ta nói hôn nhân là đường nên thánh nhưng chỉ dành vài buổi trước ngày cưới. Không đào tạo, ta nói nghề nghiệp là sứ mạng nhưng gần như không bao giờ nói về nghề trong chương trình mục vụ. Không đào tạo, ta nói hiệp hành nhưng giáo dân không biết phân định, linh mục không biết lắng nghe, cộng đoàn không biết đối thoại. Lúc ấy những khẩu hiệu thần học rất đúng có thể tồn tại bên cạnh một thực tế mục vụ hoàn toàn khác.
Đào tạo linh đạo giáo dân vì vậy không phải tạo ra một lớp giáo dân “chuyên nghiệp” biết nhiều thuật ngữ hơn người khác. Mục tiêu là hình thành những con người ngày càng thuộc về Đức Kitô hơn và vì thuộc về Người nên sống đời thường của mình khác đi. Họ vẫn là người mẹ ấy, người cha ấy, kỹ sư ấy, công nhân ấy, người bán hàng ấy, bác sĩ ấy, giáo viên ấy, sinh viên ấy, người về hưu ấy. Nhưng ánh sáng bên trong thay đổi. Họ biết tại sao mình làm. Họ biết mình thuộc về ai. Họ biết điều gì không thể bán dù cái giá rất cao. Họ biết lúc nào phải nói và lúc nào phải im. Họ biết thất bại không xóa ơn gọi. Họ biết thành công không chứng minh mình được Chúa yêu hơn. Họ biết đồng tiền phải đi qua lương tâm. Họ biết quyền lực phải đi qua phục vụ. Họ biết thân xác phải đi qua đức khiết tịnh. Họ biết tự do phải đi qua sự thật. Họ biết đời gia đình không nằm ngoài đời thiêng liêng. Họ biết Thánh lễ Chúa Nhật không phải một giờ tách khỏi tuần sống nhưng là nguồn làm biến đổi tuần sống. Họ biết Lời Chúa không chỉ để đọc trong nhà thờ nhưng để soi một hợp đồng, một lời nói, một quyết định, một lần tha thứ. Họ biết người nghèo không phải dự án bác ái nhưng là anh chị em. Họ biết Hội Thánh không chỉ là nơi mình đến nhận dịch vụ thiêng liêng nhưng là thân mình mình thuộc về và có trách nhiệm xây dựng. Đó mới là đích của đào tạo.
Và khi một giáo xứ, một giáo phận, một đoàn thể, một trường Công giáo, một chủng viện thật sự đặt công việc này vào trung tâm, người ta sẽ dần thấy một khuôn mặt Hội Thánh khác. Không phải một Hội Thánh trong đó giáo dân chỉ đông ở hàng ghế và ít trong trách nhiệm. Không phải một Hội Thánh trong đó người năng động nhất là người có nhiều chức nhất. Không phải một Hội Thánh kéo mọi người giỏi ra khỏi nghề để họ dành hết thời gian cho cơ cấu giáo xứ. Nhưng là một Hội Thánh biết đào tạo rồi sai đi. Một người được đào tạo tốt có thể phục vụ ban ngành, nhưng cũng có thể không giữ một chức nào mà vẫn là một cột trụ của Nước Chúa trong bệnh viện, doanh nghiệp, tòa án, xưởng máy, gia đình, phòng nghiên cứu, trường học, nghệ thuật và những nơi Hội Thánh hữu hình khó bước tới. Có những giáo dân không bao giờ cầm micro trong nhà thờ nhưng lời nói của họ trong phòng họp bảo vệ được một người yếu. Có người không bao giờ đứng trong hội đồng mục vụ nhưng cách họ trả lương cho công nhân là một bài giảng. Có người không điều hành hội đoàn nào nhưng đã giữ được một gia đình khỏi tan bằng hàng năm trung tín âm thầm. Có người không có bằng thần học nhưng đã học đủ để nhận ra mình phải từ chối một khoản lợi bất chính. Có người không nổi bật trong cộng đoàn nhưng ngày nào cũng chăm một người cha già với một đức ái không ai chụp hình. Nếu đào tạo giúp sinh ra những người như thế, Hội Thánh đang làm đúng việc của mình.
Đào tạo linh đạo giáo dân cuối cùng là đào tạo sự tự do của con cái Thiên Chúa: tự do để ở lại giữa đời mà không thuộc về tinh thần thế gian; tự do để yêu Hội Thánh mà không ấu trĩ; tự do để tôn trọng mục tử mà không từ bỏ trách nhiệm lương tâm; tự do để có chuyên môn mà không kiêu ngạo; tự do để có của cải mà không làm nô lệ cho của cải; tự do để có quyền lực mà không cần thống trị; tự do để thất bại mà không tuyệt vọng; tự do để thành công mà không tự phong thần; tự do để cầu nguyện mà không trốn đời; tự do để hoạt động mà không đánh mất Chúa; tự do để sống một đời rất bình thường mà không nghĩ ơn gọi của mình là bình thường theo nghĩa tầm thường. Chính những con người như thế làm cho lời Công đồng về ơn gọi giáo dân trở thành thịt. Khi ấy, “nên thánh giữa đời” không còn là câu được in trên băng-rôn. Nó trở thành một nền văn hóa Hội Thánh, nơi mỗi người được giúp khám phá rằng bàn làm việc của mình, gia đình mình, nghề mình, khu phố mình, những tương quan mình đang gánh, những chọn lựa mình phải đưa ra và cả những vết thương mình đang mang đều có thể trở thành nơi Đức Kitô được nhận biết, yêu mến và phục vụ.
CHƯƠNG 38. GIÁO XỨ, ĐOÀN THỂ, PHONG TRÀO, ƠN ĐỘC THÂN GIỮA ĐỜI
Nếu linh đạo giáo dân thực sự là con đường nên thánh của người Kitô hữu giữa những thực tại trần thế, thì con đường ấy không thể được sống như một hành trình hoàn toàn cá nhân, càng không thể bị thu hẹp vào vài việc đạo đức riêng tư được thực hiện kín đáo trong căn phòng của mỗi người. Người giáo dân được sinh ra trong Hội Thánh, được nuôi bằng đức tin của Hội Thánh, được thánh hóa bằng các bí tích của Hội Thánh, được sai đi từ Hội Thánh và cuối cùng cũng trở về trong lòng Hội Thánh. Vì thế, nói đến linh đạo giáo dân mà không nói đến giáo xứ, đoàn thể, phong trào, các hình thức hiệp hội và những bậc sống khác nhau của giáo dân thì linh đạo ấy sẽ rất dễ biến thành một thứ đạo đức cá nhân chủ nghĩa: tôi cầu nguyện thế nào, tôi giữ đạo ra sao, tôi nên thánh bằng cách nào. Kitô giáo không có chữ “tôi” bị xóa đi, nhưng chữ “tôi” ấy luôn được đặt trong chữ “chúng ta”. Tôi tin, nhưng tôi tin trong đức tin của Hội Thánh. Tôi được rửa tội, nhưng tôi được rửa tội để trở nên chi thể của một Thân Thể. Tôi có ơn gọi riêng, nhưng ơn gọi riêng ấy không bao giờ là một ốc đảo tách khỏi sự hiệp thông. Chính ở điểm này, giáo xứ, đoàn thể và phong trào mang một giá trị rất lớn nếu chúng được hiểu đúng: chúng không thay thế Hội Thánh, không sở hữu người tín hữu, không biến người giáo dân thành thành viên của một “thế giới đạo” riêng, nhưng trở thành những môi trường giúp người giáo dân học sống sự hiệp thông và được trang bị để trở về phục vụ đời. Giáo xứ trước hết phải được nhìn như một mái nhà thiêng liêng phổ quát nhất của cộng đoàn địa phương. Người ta sinh ra trong một gia đình cụ thể, sống trong một khu xóm cụ thể, đi làm tại một nơi cụ thể; cũng vậy, đức tin thường được nuôi dưỡng trong một cộng đoàn cụ thể, với một bàn thờ, một giếng rửa tội, một tòa giải tội, những khuôn mặt quen, những người già, người trẻ, người nghèo, người khó tính, người đạo đức, người nguội lạnh, người đến sớm, người đến trễ. Giáo xứ không phải một ý niệm. Giáo xứ là những con người thật mà ta không được chọn hết theo sở thích của mình. Chính điều này làm giáo xứ trở thành trường linh đạo lớn. Người ta có thể chọn một nhóm hợp tính. Có thể rời một đoàn thể khi không còn thấy vui. Có thể theo một phong trào vì gặp được những người cùng tuổi, cùng nghề, cùng lối cầu nguyện. Nhưng giáo xứ có một điều rất khác: nó buộc người ta học cách thuộc về một cộng đoàn rộng hơn sở thích của mình. Một giáo xứ lành mạnh có đứa trẻ khóc trong lễ, người già nghe kém, người nghèo ăn mặc không đẹp, người trí thức nói năng sắc sảo, người ít học vụng về, người thánh thiện và cả người làm ta mất kiên nhẫn. Nếu giáo xứ chỉ còn những người “hợp gu”, nó đã mất một phần tính Công giáo của mình. Công giáo nghĩa là phổ quát, mà phổ quát không phải chỉ là có mặt ở nhiều quốc gia; phổ quát trước hết là đủ rộng để người khác với tôi vẫn có chỗ ở trong cùng một nhà. Vì thế, linh đạo giáo dân trưởng thành không chỉ hỏi: “Giáo xứ cho tôi được gì?”, nhưng còn hỏi: “Tôi đang góp phần làm giáo xứ này thành nhà cho ai?” Có người trách giáo xứ không thân thiện nhưng chính mình không bao giờ chào người mới. Có người than giới trẻ không tham gia nhưng mỗi khi chúng xuất hiện lại nhìn chúng bằng ánh mắt nghi ngờ. Có người nói người nghèo ít đến nhà thờ nhưng chưa bao giờ tự hỏi người nghèo bước vào đây có cảm thấy mình được tôn trọng hay không. Có người muốn giáo xứ rất trang nghiêm nhưng quên rằng sự trang nghiêm của Hội Thánh không bao giờ được xây trên việc làm cho người yếu cảm thấy mình là khách lạ. Giáo xứ là nhà chung khi người có học không khinh người ít học, người khá giả không vô tình áp đảo người nghèo, người phục vụ lâu năm không biến công việc thành lãnh địa, linh mục không vận hành cộng đoàn như tài sản riêng, và giáo dân cũng không coi cha xứ như nhân viên tôn giáo phải cung cấp mọi dịch vụ theo nhu cầu của mình. Cả mục tử lẫn giáo dân đều phải học lại hai chữ “thuộc về”: thuộc về Đức Kitô và thuộc về nhau trong Đức Kitô.
Giáo xứ vì thế không chỉ là nơi cử hành phụng vụ, dù phụng vụ là trung tâm đời sống giáo xứ. Giáo xứ cũng không chỉ là nơi tổ chức lớp giáo lý, đám cưới, đám tang, hội chợ, quyên góp và các sinh hoạt thường niên. Nếu chỉ có những thứ ấy, một giáo xứ có thể rất bận mà chưa chắc rất sống. Nhịp tim của giáo xứ nằm ở việc nó giúp người tín hữu nhận ra họ là môn đệ được sai đi. Sau Thánh lễ, người giáo dân không được sai từ nhà thờ sang phòng họp để tiếp tục họp mãi. Họ được sai trở về gia đình, công sở, chợ, trường học, bệnh viện, xưởng máy, phòng nghiên cứu, tòa án, doanh nghiệp, khu phố, môi trường kỹ thuật số. Một giáo xứ trưởng thành phải biết vui khi giáo dân của mình ít xuất hiện trong các ban ngành nhưng đang sống Phúc Âm rất đẹp nơi nghề nghiệp, thay vì chỉ khen những người có mặt suốt ngày quanh nhà xứ. Điều này không có nghĩa coi nhẹ việc phục vụ trong giáo xứ. Trái lại, giáo xứ rất cần giáo lý viên, ca đoàn, người đọc sách, hội đồng mục vụ, người phục vụ người nghèo, giới trẻ, người thăm bệnh và vô số công việc khác. Nhưng mọi thừa tác vụ giáo dân trong nội bộ cộng đoàn chỉ đúng khi chúng không che khuất sứ mạng chính yếu giữa đời. Một bác sĩ Công giáo chữa bệnh với lương tâm ngay thẳng có thể đang thi hành một sứ mạng giáo dân sâu xa hơn việc anh có thêm một chức danh nào đó trong xứ. Một người mẹ nuôi một đứa con khuyết tật suốt hai mươi năm có thể đang sống một đời hiến dâng mạnh mẽ dù chẳng ai mời lên sân khấu nhận bằng ân nhân. Một nhân viên kế toán từ chối sửa sổ sách gian dối có thể đang làm chứng cho Đức Kitô cách trực tiếp hơn nhiều diễn văn về đạo đức. Một thầy giáo không nhận tiền để sửa điểm có thể đang thi hành chức ngôn sứ của phép Rửa cách rất rõ. Giáo xứ phải biết nhìn thấy những thánh giá và những việc thánh âm thầm như thế, nếu không giáo xứ sẽ dễ tạo ra một thang giá trị sai: ai xuất hiện nhiều trong nhà thờ thì được xem là “nhiệt thành”, còn ai trung tín với Chúa trong đời thường thì bị coi là “ít sinh hoạt”. Đây là một trong những điều cần được sửa trong linh đạo mục vụ. Người giáo dân không trưởng thành để trở thành người ở lại mãi trong sân nhà thờ. Họ trưởng thành để được sai khỏi sân nhà thờ mà vẫn mang trong mình đời sống của bàn thờ.
Từ giáo xứ, ta đi tới các đoàn thể. Đoàn thể có một vai trò rất đẹp trong đời sống Hội Thánh khi nó là trường huấn luyện. Con người cần nhóm nhỏ hơn cộng đoàn lớn. Trong một giáo xứ vài nghìn người, rất khó để từng người được biết tên, được lắng nghe, được nâng đỡ sát sao. Đoàn thể có thể trở thành nơi một người học cầu nguyện, học phục vụ, học kỷ luật, học làm việc chung, học bác ái, học chịu sửa, học ra khỏi chính mình. Nhiều người đã giữ được đức tin nhờ một hội đoàn. Nhiều người trẻ tìm lại Hội Thánh nhờ một nhóm nhỏ. Nhiều gia đình vượt được khủng hoảng nhờ những người cùng cầu nguyện với mình. Nhiều người nghèo được chăm sóc vì có những đoàn thể âm thầm đi từng ngõ. Nhiều linh mục và tu sĩ cũng đã nhận ra ơn gọi từ những môi trường giáo dân như vậy. Ta không nên coi nhẹ ân huệ ấy. Vấn đề chỉ bắt đầu khi trường huấn luyện biến thành thế giới đóng. Một đoàn thể được lập ra để đưa người ta đến gần Đức Kitô hơn nhưng có thể vô tình trở thành nơi người ta chỉ gần nhau hơn. Một nhóm được tạo ra để phục vụ Hội Thánh nhưng có thể dần tạo cảm giác “chúng tôi mới là nhóm thật sự nhiệt thành”. Một đoàn thể khởi đầu bằng nhiệt huyết truyền giáo nhưng dần dành phần lớn năng lượng để duy trì sinh hoạt nội bộ, tổ chức lễ kỷ niệm, bầu ban điều hành, giữ truyền thống riêng, tranh chỗ, tranh tiếng, tranh người. Khi đó phương tiện đã thành cùng đích. Người ta nói nhiều về hội mình hơn về Đức Kitô, trung thành với lịch họp hơn trung thành với Tin Mừng, bảo vệ danh dự tổ chức hơn bảo vệ phẩm giá người anh em. Một hội đoàn có linh đạo thật phải luôn có khả năng tự hỏi: nếu ngày mai hội mình không còn nữa, những thành viên này có vẫn là Kitô hữu trưởng thành không? Họ có còn đi lễ, còn cầu nguyện, còn phục vụ người nghèo, còn trung thực nơi công việc, còn gắn với giáo xứ hay đức tin của họ cũng tan theo danh xưng đoàn thể? Nếu câu trả lời đáng lo, nghĩa là đoàn thể ấy đã vô tình tạo lệ thuộc thay vì đào tạo trưởng thành.
Đoàn thể tốt không sở hữu người. Nó trao người lại cho Hội Thánh và cho đời. Nó không dạy thành viên nghĩ rằng “ngoài nhóm mình ra chẳng nơi nào ra gì”. Nó cũng không dùng lòng trung thành như một công cụ kiểm soát tâm lý. Mọi đặc sủng chân thật trong Hội Thánh đều có tính hướng ngoại. Ơn nào đến từ Thánh Thần cũng nhằm ích chung. Một người càng đi sâu vào linh đạo riêng thì càng phải trở nên Công giáo hơn, chứ không hẹp hơn. Người sùng kính Đức Mẹ thật không khinh người có hình thức đạo đức khác. Người thuộc một phong trào canh tân thật không chế nhạo người cầu nguyện âm thầm. Người thuộc hội bác ái thật không nghĩ rằng mọi Kitô hữu khác đều vô cảm. Người thuộc hội gia trưởng, hiền mẫu, giới trẻ hay một cộng đoàn chuyên biệt thật không được biến căn tính thứ hai ấy thành căn tính chính. Căn tính chính vẫn là: tôi thuộc về Đức Kitô trong Hội Thánh. Tất cả những cái tên còn lại chỉ là phương thế. Đặt đúng trật tự này giải phóng các hội đoàn khỏi rất nhiều xung đột vô ích. Người ta sẽ bớt tranh thành tích, bớt so số thành viên, bớt ganh vì nhóm khác được cha xứ quan tâm, bớt coi ngày bổn mạng như dịp chứng minh sức mạnh. Nếu một đoàn thể càng lớn mà cái tôi tập thể càng lớn, thì quy mô không chứng minh được sức sống thiêng liêng. Có những nhóm rất nhỏ nhưng làm men. Có những tổ chức rất đông nhưng nặng như một hệ thống hành chính. Phúc Âm không dạy đo hoa trái bằng số ghế kín. Hoa trái của Thánh Thần được nhận ra bằng đức ái, niềm vui, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, trung tín, hiền hòa và tự chủ; những hoa trái ấy phải xuất hiện trong cách thành viên cư xử ở nhà, ở chỗ làm và với người không thuộc nhóm mình.
Các phong trào tông đồ giáo dân lại mở ra một thực tại phong phú khác. Trong lịch sử Hội Thánh, Thánh Thần không ngừng khơi dậy những hình thức mới để đáp lại những hoàn cảnh mới. Có thời đại cần những hiệp hội bác ái. Có thời đại cần những phong trào gia đình. Có nơi cần những cộng đoàn giúp đào sâu Lời Chúa. Có nơi cần huấn luyện người trẻ. Có nơi cần truyền giáo trong giới nghề nghiệp. Có những đặc sủng nảy sinh rất khiêm tốn từ một nhóm nhỏ rồi lan rộng qua nhiều quốc gia. Đừng nghi ngờ mọi cái mới chỉ vì nó mới. Nhưng cũng đừng thần thánh hóa mọi cái mới chỉ vì nó gây hứng khởi. Thánh Thần là Thần Khí của tự do nhưng cũng là Thần Khí của hiệp thông. Một phong trào thật sự thuộc Hội Thánh phải biết sống trong Hội Thánh địa phương, kính trọng mục tử hợp pháp, cộng tác với giáo xứ, không tuyển người như cạnh tranh thị trường, không biến đặc sủng riêng thành thước đo toàn thể Hội Thánh. Người có đặc sủng chữa lành phải nhớ Hội Thánh lớn hơn kinh nghiệm chữa lành. Người có đặc sủng cầu nguyện phải nhớ Hội Thánh lớn hơn cách cầu nguyện của mình. Người có đặc sủng huấn luyện lãnh đạo phải nhớ Hội Thánh không phải một học viện quản trị. Người có đặc sủng truyền giáo đường phố phải nhớ có những ơn gọi truyền giáo qua nghiên cứu khoa học, nuôi con, chăm bệnh nhân, làm chính sách, kiến tạo văn hóa. Tính Công giáo chính là khả năng chứa được nhiều đặc sủng mà không bắt mọi người phải giống mình.
Sự hiệp thông với Hội Thánh địa phương vì thế không phải thủ tục hành chính. Nó là tiêu chuẩn thần học. Đức Kitô không có một Thân Thể toàn cầu trừu tượng không có giáo phận cụ thể, giám mục cụ thể, giáo xứ cụ thể và những con người cụ thể. Một phong trào có thể hoạt động quốc tế, có vị sáng lập được nhiều người kính trọng, có chương trình đào tạo rất mạnh, nhưng nếu thành viên của nó sống như thể giáo xứ và giáo phận chỉ là phụ, thì đã có vấn đề. Ngược lại, mục tử địa phương cũng không được vì sợ mất kiểm soát mà bóp nghẹt những đặc sủng lành mạnh. Khôn ngoan mục vụ nằm ở phân định: cái gì đến từ Chúa thì đón nhận, cái gì cần sửa thì sửa, cái gì gây chia rẽ thì phải chữa, cái gì có hoa trái thì tạo không gian để lớn. Không phải mọi sáng kiến đều phải do cha xứ nghĩ ra mới là của Hội Thánh. Nhưng cũng không phải điều gì được một nhóm tự nhận là “Thánh Thần soi sáng” thì đương nhiên vượt khỏi mọi phân định. Thánh Thần không chống lại chính Hội Thánh mà Người làm cho sống. Đặc sủng và cơ chế không phải kẻ thù. Đặc sủng làm cơ chế khỏi chai. Cơ chế giúp đặc sủng khỏi biến thành tùy hứng. Một phong trào trưởng thành biết cảm ơn khi được sửa. Một mục tử trưởng thành biết vui khi giáo dân có những sáng kiến mình không kiểm soát từng chi tiết. Cả hai đều nghèo trước Thánh Thần.
Cũng cần nói tới một bệnh thường gặp trong đời đoàn thể: lấy số việc làm làm thước đo đời thiêng. Người ta dễ khen một người vì “rất xông xáo”, rồi mặc nhiên kết luận người ấy rất đạo đức. Nhưng năng động không đồng nghĩa thánh thiện. Có người phục vụ rất nhiều vì yêu Chúa. Có người phục vụ rất nhiều vì không chịu nổi khi mình không quan trọng. Có người thích đứng phía sau. Có người chỉ sống được khi tên mình xuất hiện trên chương trình. Có người làm hết việc của người khác vì tưởng đó là hy sinh, nhưng thật ra không biết tin tưởng và trao trách nhiệm. Có người luôn nhận thêm việc vì sợ trở về căn nhà đang có những vấn đề chưa dám đối diện. Một linh đạo đoàn thể trưởng thành phải biết giúp người ta phân định cả động lực của việc phục vụ. Chúa không cần ta làm mọi việc. Chúa muốn ta làm việc Người trao. Một người có thể từ chối một trách nhiệm giáo xứ để chăm người mẹ già và điều ấy không phải thiếu quảng đại. Một người có thể rời một nhiệm kỳ lãnh đạo để chữa lành gia đình và điều ấy không phải bỏ cuộc. Một người mẹ trẻ không thể tham dự mọi buổi họp như trước vì đang chăm con nhỏ; Hội Thánh phải đủ khôn để không làm chị ấy mặc cảm. Một người làm ca đêm không thể có mặt trong lịch sinh hoạt được xây cho người làm giờ hành chính; cộng đoàn phải đủ linh hoạt để hiểu. Khi cơ cấu tôn giáo không nhìn thấy thực tế đời giáo dân, người giáo dân bị đẩy vào thế phải chọn giữa trách nhiệm thật và kỳ vọng đạo đức giả tạo. Linh đạo không thể được xây trên mặc cảm đó.
Từ đây cần bước vào một vấn đề ít được nói nhưng ngày càng cần được nói rõ: ơn độc thân giữa đời. Trong nhiều cộng đoàn Công giáo, người trưởng thành thường được xếp rất nhanh vào vài ô quen thuộc: hoặc kết hôn, hoặc đi tu, hoặc “chưa có gia đình”. Chính chữ “chưa” ấy đôi khi mang một sức nặng rất lớn. Một người ba mươi lăm tuổi chưa kết hôn thì bị hỏi bao giờ lấy vợ. Một phụ nữ bốn mươi tuổi sống độc thân thì nhiều người nhìn như thể cuộc đời chị đang chờ một chương quan trọng chưa đến. Một người không cảm thấy được gọi vào đời sống thánh hiến nhưng cũng không được gọi vào hôn nhân thường bị xã hội và cả cộng đoàn Công giáo xem như người đang ở phòng chờ. Cách nhìn ấy quá nghèo. Không phải mọi đời độc thân đều là một ơn gọi được nhận biết và chọn lựa rõ ràng từ đầu; có người độc thân vì hoàn cảnh, vì phải chăm cha mẹ, vì một mối tình tan vỡ, vì chưa gặp người thích hợp, vì những trách nhiệm khác. Nhưng cũng có những người thật sự nhận ra rằng mình được mời gọi sống thuộc trọn về Chúa trong chính bậc sống giáo dân, không khấn dòng, không gia nhập một tu hội, không lãnh chức thánh, không kết hôn. Một đời như vậy cần được Hội Thánh nhìn nhận về mặt linh đạo. Không nhất thiết phải lập tức tạo thêm một nhãn pháp lý. Điều cần trước hết là trả lại cho những con người ấy phẩm giá ơn gọi. Họ không phải “người không được ai lấy”. Họ không phải “người đi tu không tới”. Họ không phải một phần còn dư trong cơ cấu các bậc sống. Nếu họ tự do hiến đời mình cho Chúa, sống khiết tịnh, lao động, phục vụ, xây dựng tương quan, có trách nhiệm với gia đình ruột thịt và xã hội, thì đời họ có thể là một hình thức hoa trái rất đẹp của phép Rửa.
Ơn độc thân giữa đời có một sự nghèo riêng mà người sống hôn nhân nhiều khi không thấy. Người kết hôn có một giao ước hữu hình, một người bạn đời gọi tên mình mỗi ngày, một gia đình được xã hội dễ nhận diện. Tu sĩ có cộng đoàn, luật dòng, áo dòng hoặc ít là một cơ cấu thuộc về được nhìn nhận. Người độc thân giữa đời có thể không có những dấu chỉ đó. Buổi tối họ trở về một căn nhà không có ai chờ. Khi bệnh, không phải lúc nào cũng có một người đương nhiên có trách nhiệm ở bên. Khi già, câu hỏi ai sẽ chăm trở thành thực tế. Những ngày lễ gia đình có thể rất đẹp nhưng cũng có thể làm họ cảm thấy mình ở bên lề. Trong giáo xứ, nhiều chương trình được thiết kế cho thiếu nhi, giới trẻ, gia đình hoặc người cao tuổi; người độc thân trung niên dễ trở thành một nhóm vô hình. Nếu Hội Thánh chỉ ca ngợi gia đình mà không có ngôn ngữ thần học cho những người này, họ sẽ nghe như thể mình không có một ơn gọi trọn vẹn. Đó là điều phải sửa. Ca ngợi hôn nhân không đòi ta hạ thấp độc thân. Ca ngợi đời thánh hiến cũng không đòi coi người giáo dân độc thân là người chưa chọn. Trong Nước Thiên Chúa, hoa trái của đời người không chỉ đo bằng việc có con sinh học hay không. Có những người không có con ruột nhưng trở thành cha mẹ thiêng liêng của rất nhiều người. Có cô giáo độc thân đã nâng đỡ nhiều thế hệ học sinh. Có bác sĩ không lập gia đình đã dành đời cho bệnh nhân. Có người anh, người chị ở vậy để chăm cha mẹ già, nuôi các cháu học hành, giữ cả một gia đình khỏi tan. Có người sống độc thân vì cảm nhận một sự tự do để phục vụ nơi người khác khó đi tới. Nếu tất cả được sống trong tình yêu và trong Chúa, đó không phải đời thiếu. Đó là đời được sinh hoa trái theo một cách khác.
Tuy nhiên, cũng không nên lãng mạn hóa độc thân. Nói đây “có thể là ơn gọi” không có nghĩa mọi người độc thân đều phải tự ép mình gọi hoàn cảnh hiện tại là ơn gọi. Có người đang thật sự khao khát hôn nhân và vẫn chưa gặp được người phù hợp. Đừng bắt họ giả vờ mình không buồn. Có người vừa qua một cuộc chia tay và còn đau. Đừng dùng một câu đạo đức như “Chúa muốn bạn độc thân” để khóa lại tiến trình chữa lành của họ. Có người vì sợ dấn thân nên dùng ngôn ngữ ơn gọi để hợp thức hóa việc trốn tránh thân mật. Có người nói “tôi dành cho Chúa” nhưng thực tế không có đời cầu nguyện, không phục vụ ai và chỉ bảo vệ sự tiện nghi cá nhân. Cũng như hôn nhân không tự động thánh chỉ vì đã làm phép cưới, độc thân cũng không tự động thành hiến dâng chỉ vì không kết hôn. Ơn gọi cần được phân định bằng tự do, sự thật, thời gian, hoa trái và khả năng trao ban. Câu hỏi không phải chỉ là: “Tôi có lập gia đình hay không?” Câu hỏi sâu hơn là: “Đời tôi được trao cho ai và cho điều gì?” Người sống một mình nhưng đời hoàn toàn quay quanh mình thì chưa chắc đã sống một linh đạo độc thân. Người có gia đình mà chỉ sống cho gia đình mình, không còn thấy ai khác, cũng chưa chắc đã sống hôn nhân theo Tin Mừng. Mỗi bậc sống đều phải được mở ra khỏi chính nó nhờ đức ái.
Người góa cũng cần được đặt rõ trong bức tranh linh đạo giáo dân. Góa bụa không phải đơn giản là trở về tình trạng độc thân. Một người góa mang trong mình lịch sử của một giao ước đã sống. Người chồng đã chết nhưng tình yêu không bị xóa khỏi ký ức. Người vợ đã qua đời nhưng những năm tháng chung sống vẫn là một phần căn tính. Có người góa khi còn trẻ, phải vừa đau buồn vừa nuôi con. Có người góa khi tuổi đã cao, sau năm mươi năm ngủ cạnh một người, bỗng thức dậy trong căn phòng im lặng. Linh đạo người góa có chiều sâu riêng: học tiếp tục sống mà không phản bội tình yêu đã có; học giữ ký ức mà không biến ký ức thành mồ chôn tương lai; học nhận ra rằng mình vẫn còn được Chúa gọi làm điều gì đó. Hội Thánh từ rất sớm đã dành sự quan tâm đặc biệt cho các bà góa, không chỉ vì hoàn cảnh kinh tế nhưng vì họ đại diện một sự mong manh và một khả năng hiến dâng đặc biệt. Hôm nay giáo xứ cũng phải nhìn thấy họ. Đừng chỉ thăm vài tuần sau đám tang rồi để họ tự đi qua những năm dài còn lại. Có những nỗi buồn đến rất muộn, khi mọi người tưởng người góa đã “ổn”. Có những dịp kỷ niệm không ai nhớ ngoài họ. Có những quyết định tài chính và gia đình họ phải tự làm lần đầu. Một cộng đoàn biết đồng hành với người góa là cộng đoàn hiểu rằng bác ái không kết thúc sau nghi thức an táng.
Linh đạo giáo dân cũng phải đủ rộng để có chỗ cho những người ly thân đang đau khổ mà vẫn muốn sống trung tín với Hội Thánh. Đây là vùng mà lời nói mục vụ rất dễ gây thêm thương tích. Có những người bước vào hôn nhân với thiện chí rồi sau nhiều năm rơi vào một hoàn cảnh đổ vỡ mà họ không mong muốn. Có người bị bỏ. Có người buộc phải ly thân vì bạo lực, nghiện ngập hoặc nguy hiểm nghiêm trọng cho con cái. Có người vẫn không bước vào một kết hợp mới vì muốn trung tín với giao ước bí tích. Đừng nhìn những người ấy như một “trường hợp rắc rối”. Họ là chi thể đang đau của Hội Thánh. Một người phải sống một mình sau nhiều năm hôn nhân mang một thập giá rất khác người chưa từng kết hôn. Họ phải xây lại cuộc sống, nuôi con trong những hoàn cảnh phức tạp, chịu những lời hỏi han, đôi khi chịu mặc cảm ngay trong nhà thờ. Nếu họ đang cố gắng trung tín với Chúa, cộng đoàn cần nâng đỡ chứ không được để họ cảm thấy mình là công dân hạng hai. Trung tín trong hoàn cảnh ấy có thể là một hình thức anh hùng âm thầm. Không có huy chương. Không có ngày kỷ niệm vui. Nhiều khi chỉ có những đêm dài, những quyết định khó và một sự bám lấy bí tích từng ngày. Hội Thánh nói về hôn nhân bất khả phân ly thì càng phải ở gần những người đang mang giá của sự bất khả phân ly ấy. Nếu chỉ bảo vệ giáo lý mà không ôm lấy người đang trả giá để sống giáo lý, ta mới nói được một nửa sự thật.
Điều này cho thấy một nguyên tắc rất quan trọng: linh đạo giáo dân phải đủ rộng cho nhiều hoàn cảnh sống mà không xóa các khác biệt. Rộng không có nghĩa mọi bậc sống như nhau. Hôn nhân có ân sủng và nghĩa vụ riêng. Độc thân có sự tự do và thập giá riêng. Góa bụa có ký ức giao ước riêng. Người ly thân có sự đau đớn và những bổn phận riêng. Người chưa kết hôn nhưng đang phân định có một trạng thái khác người đã nhận ra ơn gọi độc thân lâu dài. Không nên gom mọi người không có vợ chồng vào một từ “độc thân” rồi nghĩ thế là đủ. Mục vụ tốt là gọi đúng thực tại. Người ta được chữa lành khi đời mình được nhìn thấy như nó là, không bị ép vào một khuôn tiện cho tổ chức. Các chương trình giáo xứ cũng cần phản ánh điều ấy. Nếu tất cả hoạt động người lớn đều mặc nhiên lấy mô hình gia đình hạt nhân làm chuẩn, nhiều người sẽ đứng bên ngoài. Nếu mọi bài giảng về trưởng thành đều kết thúc bằng lời kêu gọi “xây dựng gia đình tốt”, những người không ở trong hôn nhân sẽ nghe rằng phần đời của mình ít quan trọng hơn. Ta vẫn phải giảng mạnh về gia đình, vì gia đình đang chịu những cuộc khủng hoảng lớn. Nhưng Hội Thánh là gia đình rộng hơn mọi gia đình tự nhiên. Chính điều đó làm cho người không có gia đình riêng vẫn có một mái nhà.
Một giáo xứ thực sự là nhà chung khi không ai phải chứng minh giá trị của mình bằng tình trạng hôn nhân, tiền bạc, tuổi tác, chức vụ hay mức độ hoạt động. Đứa trẻ thuộc về. Người già thuộc về. Người khuyết tật thuộc về. Người độc thân thuộc về. Gia đình đông con thuộc về. Gia đình hiếm muộn thuộc về. Người góa thuộc về. Người ly thân thuộc về. Người đang tìm lại đức tin sau nhiều năm xa thuộc về. Người có nhiều bằng cấp và người không đọc thạo cũng thuộc về. “Thuộc về” không có nghĩa mọi cách sống đều được chuẩn nhận như nhau về mặt luân lý; nhưng nó có nghĩa phẩm giá làm con Chúa không bị thu hồi vì một hoàn cảnh phức tạp. Hội Thánh phải giữ hai điều cùng lúc: sự thật và lòng thương xót. Sự thật mà không có lòng thương xót biến cộng đoàn thành tòa án. Lòng thương xót mà không có sự thật biến cộng đoàn thành nơi không còn khả năng dẫn người ta tới hoán cải. Đức Kitô không chọn một trong hai. Người đầy ân sủng và sự thật. Linh đạo giáo dân cũng phải học sự căng thẳng thánh thiện đó.
Trong các đoàn thể và phong trào, một vấn đề khác cũng cần được tỉnh thức: đừng tạo ra giai cấp thiêng liêng. Nhóm nào cũng dễ hình thành một tầng lớp “người ở trong” và “người ở ngoài”. Người đã dự khóa này thì hiểu. Người chưa dự thì bị xem như chưa biết. Người có chức trách được mời họp riêng rồi dần tạo ra một ngôn ngữ mà người khác không hiểu. Các danh xưng càng nhiều thì nguy cơ ấy càng lớn. Chúa Giêsu đã cảnh báo rất mạnh về nhu cầu được gọi bằng những tước hiệu và được ngồi chỗ nhất. Hội Thánh cần cơ cấu, đoàn thể cần người phụ trách, phong trào cần đào tạo cấp bậc trong nghĩa chức năng; nhưng linh đạo phải luôn làm tan cái men địa vị len vào. Người lãnh đạo trong một hội đoàn Công giáo không được trở thành một kiểu quan chức thu nhỏ. Chức vụ càng cao, khả năng rửa chân càng phải lớn. Người trưởng thành nhất không phải người nói nhiều nhất mà là người làm cho người khác lớn lên. Một trưởng nhóm tốt không tạo ra mười người phụ thuộc vào mình. Họ tạo ra mười người có thể tự đứng trước Chúa, tự phân định và phục vụ. Một người phụ trách tốt biết đến lúc phải rút lui. Có những người giữ chức quá lâu đến mức không còn phân biệt được sứ mạng với chính mình. Khi người ta nói “không có tôi thì nhóm này không chạy được”, có thể đó không phải lời khen cho người ấy mà là dấu hiệu việc đào tạo đã thất bại. Trong Thân Thể Đức Kitô không ai là không thể thay thế, trừ chính Đức Kitô.
Đặc biệt đối với người giáo dân độc thân, đoàn thể có thể vừa là ân huệ vừa là cám dỗ. Nó là ân huệ vì cung cấp những mối tương quan, tình bạn đức tin, cơ hội phục vụ và một nhịp sống cộng đoàn. Nhưng nó cũng có thể trở thành nơi thay thế mọi tương quan khác. Có người sống gần như toàn bộ đời cảm xúc trong nhóm đạo, không còn phát triển tình bạn lành mạnh với người ngoài, không quan tâm đến họ hàng, không có đời sống xã hội rộng. Một linh đạo độc thân trưởng thành không phải là co vào không gian nhà thờ. Người ấy vẫn cần bạn bè, công việc, văn hóa, nghỉ ngơi, những mối tương quan chân thật với nhiều thế hệ. Chúa không kêu gọi người độc thân sống nghèo nàn về tình cảm. Khiết tịnh không đồng nghĩa với cô lập. Trái lại, một đời khiết tịnh đẹp thường mở ra khả năng yêu nhiều người mà không chiếm hữu. Người độc thân có thể trở thành một người chú, người cô, người bạn, người đỡ đầu, người đồng nghiệp có sức nâng đỡ đặc biệt. Họ có thể góp phần kết nối những người khác. Có những gia đình cần một người độc thân như thế: một người có thể đến khi mọi người khác bận, một người lắng nghe trẻ nhỏ mà không phải cha mẹ chúng, một người chăm ông bà, một người giữ các mối dây họ hàng. Tính sinh hoa trái ở đây rất thật, dù không xuất hiện trên giấy khai sinh.
Đồng thời, cộng đoàn cũng phải tôn trọng tự do và ranh giới của người độc thân. Đừng mặc nhiên nghĩ họ “rảnh hơn” nên có thể nhận mọi việc. Đây là một bất công khá phổ biến: người có gia đình được thông cảm vì bận vợ con, còn người độc thân bị coi như luôn sẵn sàng phục vụ. Họ cũng có nghề nghiệp, sức khỏe, trách nhiệm gia đình, nhu cầu nghỉ ngơi và đời sống riêng. Độc thân không có nghĩa tài sản và thời gian trở thành của công. Tôn trọng một ơn gọi là tôn trọng giới hạn của nó. Cũng đừng ép người độc thân phải giải thích tại sao họ chưa kết hôn. Có những câu hỏi tưởng thân tình nhưng lặp đi lặp lại thành vết cắt. “Bao giờ lấy chồng?”, “Sao khó tính vậy?”, “Có vấn đề gì không?”, “Hay đi tu đi?” Những câu ấy có thể được nói bằng tiếng cười nhưng người nghe phải mang chúng về nhà. Một cộng đoàn có văn hóa Tin Mừng biết giữ miệng trước những phần đời không thuộc quyền tò mò của mình.
Điều tương tự áp dụng với những người hiếm muộn, người góa và người ly thân. Đừng biến bữa ăn giáo xứ thành nơi người ta phải né những câu hỏi vô duyên. Bác ái bắt đầu từ sự tế nhị. Có những người không cần ta giải thích thần học ngay; họ cần ta không làm họ đau thêm. Linh đạo giáo dân vì thế rất cụ thể. Nó không chỉ nằm trong những chương cao về bí tích và sứ mạng. Nó nằm ở cách một bà trong hội hiền mẫu không hỏi một phụ nữ mới cưới năm nay “có tin vui chưa”. Nó nằm ở việc một trưởng nhóm nhớ mời người góa tới bữa cơm dù trước đây bà luôn đi với chồng. Nó nằm ở việc một giáo xứ không để người ly thân phải ngồi một mình trong mọi biến cố. Nó nằm ở việc một cha xứ khi giảng về gia đình biết rằng trước mặt mình có người đang rất đau vì gia đình. Cùng một chân lý có thể được nói bằng cách chữa lành hoặc bằng cách làm tổn thương. Người mục tử và người giáo dân trưởng thành phải học sự khôn ngoan đó.
Giáo xứ, đoàn thể và phong trào cuối cùng phải quy về cùng một điều: làm cho người ta thuộc về Đức Kitô sâu hơn và được sai đi yêu thế giới hơn. Nếu giáo xứ làm người ta khép lại, có gì đó sai. Nếu đoàn thể khiến người ta kiêu hơn, có gì đó sai. Nếu phong trào tạo chia rẽ với Hội Thánh địa phương, có gì đó sai. Nếu một linh đạo khiến người độc thân khinh hôn nhân hoặc người có gia đình coi độc thân là bất toàn, có gì đó sai. Thánh Thần không tạo ra những ơn gọi để chúng cạnh tranh. Hôn nhân nói với Hội Thánh rằng tình yêu giao ước có thể mang hình hài cụ thể, trung tín và sinh hoa trái. Đời thánh hiến nói rằng Thiên Chúa là cùng đích tuyệt đối và Nước Trời đáng để trao tất cả. Linh mục thừa tác làm hiện diện Đức Kitô Mục Tử trong Lời, bí tích và việc quy tụ Dân. Người giáo dân độc thân giữa đời có thể nói bằng chính đời mình rằng một con người không được định nghĩa chỉ bởi việc có đôi hay không, rằng phẩm giá và khả năng sinh hoa trái bắt nguồn từ phép Rửa và tình yêu. Người góa nói rằng tình yêu mạnh hơn sự chết và giao ước đã sống vẫn để lại một hình dáng trong tâm hồn. Người ly thân sống trung tín nói rằng lời hứa không phải thứ chỉ có giá trị khi mọi chuyện thuận lợi. Mỗi bậc sống, mỗi hoàn cảnh, khi được đặt trong Đức Kitô, có thể soi sáng một khía cạnh Tin Mừng cho các bậc khác.
Vì thế, điều Hội Thánh cần không phải là làm cho mọi giáo dân giống nhau, nhưng là giúp mỗi người sống trọn ơn gọi thật của mình trong hiệp thông. Một giáo xứ trưởng thành không sản xuất một mẫu giáo dân duy nhất. Nó không đòi mọi người phải vào hội. Không đòi mọi người phải lên cung thánh. Không đòi mọi người có cùng linh đạo. Không đòi người trẻ phải giống người già hay người độc thân phải sống lịch của gia đình. Nó giúp mỗi người nhận ra: tôi đã được rửa tội; tôi thuộc về Đức Kitô; tôi có một vị trí trong Dân Chúa; tôi có những ân huệ cần trao; tôi có những giới hạn cần đón nhận; và cuộc đời cụ thể này, chứ không phải một cuộc đời tưởng tượng, chính là nơi Chúa gọi tôi nên thánh. Có người nên thánh trong tiếng trẻ khóc ban đêm. Có người nên thánh trong căn phòng im lặng của đời độc thân. Có người nên thánh bên giường người phối ngẫu hấp hối. Có người nên thánh khi vẫn đeo nhẫn cưới dù người bạn đời đã rời đi. Có người nên thánh bằng việc hướng dẫn một nhóm giới trẻ. Có người nên thánh bằng việc âm thầm rời chức vụ để người khác lớn lên. Có người nên thánh trong một phong trào rộng khắp. Có người không thuộc đoàn thể nào mà ngày ngày vẫn sống Thánh Thể trong xưởng máy. Ân sủng không nghèo đến mức chỉ biết một con đường.
Và có lẽ tiêu chuẩn đẹp nhất để xét một giáo xứ hay một đoàn thể có linh đạo lành mạnh hay không nằm ở điều này: người bước vào đó có được giúp để sống đời mình tốt hơn trước mặt Chúa không? Người chồng có yêu vợ hơn không? Người vợ có biết tha thứ và nói thật hơn không? Người độc thân có bớt cô lập và biết trao ban hơn không? Người làm chủ có đối xử công bằng với nhân viên hơn không? Người trẻ có biết giữ thân xác, thời gian và lời nói trên mạng hơn không? Người già có bớt cay đắng không? Người góa có cảm thấy đời mình vẫn có sứ mạng không? Người ly thân có biết mình vẫn thuộc về Hội Thánh không? Người hoạt động tông đồ có bớt nhu cầu được công nhận không? Nếu câu trả lời dần dần là có, thì giáo xứ đang thành nhà, đoàn thể đang thành trường, phong trào đang thành ân huệ và các bậc sống đang bổ túc cho nhau. Nếu người ta càng sinh hoạt càng bè phái, càng giữ đạo càng xét đoán, càng có chức càng khó gần, càng cầu nguyện càng xa đời, thì phải có can đảm nhìn lại.
Người giáo dân không cần một Hội Thánh biến thành câu lạc bộ cho những người có cùng kiểu sống. Họ cần một Hội Thánh đủ rộng để họ mang cả đời mình vào: tiếng cười gia đình, cô đơn của độc thân, ký ức của người góa, vết thương của người ly thân, mệt mỏi của người lao động, thao thức của người trẻ, trách nhiệm của người lãnh đạo, thất bại của người đang bắt đầu lại. Bàn thờ có chỗ cho tất cả những điều ấy, vì Đức Kitô đã mang cả nhân loại lên thập giá. Giáo xứ chỉ thật sự là nhà khi mọi người có thể mang đời thật của mình đến đó mà không phải đóng vai. Đoàn thể chỉ thật sự là trường khi người học rồi biết ra khỏi trường. Phong trào chỉ thật sự là đặc sủng khi nó phục vụ Thân Thể lớn hơn chính mình. Và ơn độc thân giữa đời chỉ được hiểu đúng khi Hội Thánh thôi nhìn người ấy như một hồ sơ chưa hoàn tất và bắt đầu nhìn họ như một người đã được Chúa gọi tên ngay trong hiện tại. Không phải “khi nào lập gia đình rồi mới ổn”. Không phải “nếu đi tu thì mới có ơn gọi”. Không phải “đợi hoàn cảnh khác rồi mới sống trọn”. Hôm nay là nơi ơn gọi xảy ra. Căn nhà hôm nay, công việc hôm nay, giáo xứ hôm nay, tình trạng sống hôm nay là mảnh đất hiện tại của ân sủng. Đức Kitô không đợi một người bước vào một bậc sống khác mới bắt đầu yêu họ hay sai họ đi. Người gọi họ ngay nơi họ đang đứng: “Hãy theo Thầy.” Và người giáo dân trưởng thành thưa lại không bằng một khẩu hiệu nhưng bằng cả đời: trong hôn nhân hoặc độc thân, trong niềm vui hoặc mất mát, trong đoàn thể hoặc ngoài mọi chức danh, trong giáo xứ và giữa phố chợ, con thuộc về Chúa; vì thuộc về Chúa, con thuộc về anh chị em; và vì thuộc về anh chị em, đời con phải trở thành một món quà.
CHƯƠNG 39. GIÁO SĨ PHẢI CHUYỂN CHỖ ĐỨNG THẾ NÀO
Có một cuộc hoán cải mà khi nói về linh đạo giáo dân, người ta thường yêu cầu nơi giáo dân rất nhiều nhưng lại ít khi đòi nơi hàng giáo sĩ: cuộc hoán cải về chỗ đứng. Chúng ta thường nói giáo dân phải ý thức phẩm giá Rửa tội, phải trưởng thành, phải dấn thân, phải tham gia sứ mạng, phải đem Tin Mừng vào gia đình, nghề nghiệp, kinh tế, văn hóa và xã hội. Tất cả đều đúng. Nhưng nếu cơ cấu mục vụ, não trạng giáo sĩ và cách vận hành giáo xứ vẫn đặt giáo dân ở vị trí người nhận lệnh, người phụ việc, người đứng vòng ngoài chờ cha xứ quyết định mọi chuyện, thì càng kêu gọi họ trưởng thành lại càng làm họ mệt. Không thể vừa đòi một người trưởng thành vừa không cho họ một khoảng không để trưởng thành. Không thể vừa giảng về phẩm giá Rửa tội vừa tổ chức cộng đoàn theo mô hình trong đó mọi sáng kiến đều phải đi qua một người, mọi quyết định đều tùy vào một người và mọi giá trị của giáo dân được đo bằng mức độ họ có mặt quanh nhà xứ. Vì thế, nếu muốn có một linh đạo giáo dân thực sự sau Công đồng Vaticanô II, hàng giáo sĩ cũng phải chuyển chỗ đứng. Chuyển chỗ đứng không có nghĩa là từ bỏ thừa tác vụ, giảm nhẹ căn tính linh mục, chia sẻ chức thánh theo kiểu dân chủ hay biến Hội Thánh thành một tổ chức không còn mục tử. Chuyển chỗ đứng cũng không có nghĩa linh mục đứng ngoài, khoanh tay, nói rằng “đó là việc của giáo dân” rồi rút khỏi trách nhiệm mục vụ. Chuyển chỗ đứng là trở về đúng chỗ của thừa tác vụ có chức thánh: ở giữa Dân Thiên Chúa như người phục vụ hiệp thông, như người cử hành các mầu nhiệm, như người công bố và giải thích Lời, như người phân định, đào tạo, chữa lành, quy tụ và sai đi. Có một khác biệt rất lớn giữa đứng ở trung tâm để mọi người quay quanh mình và đứng ở trung tâm để quy tụ mọi người quanh Đức Kitô. Linh mục có thể đứng trước cộng đoàn mà không biến mình thành trung tâm. Giám mục có thể mang quyền mục tử thật mà không biến giáo phận thành hệ thống chỉ có mệnh lệnh từ trên xuống. Tu sĩ có thể có một đặc sủng mạnh mà không nuốt các ơn gọi giáo dân vào trong đặc sủng của hội dòng mình. Chuyển chỗ đứng trước hết là chuyển từ tâm thức sở hữu sang tâm thức phục vụ. Giáo xứ không phải tài sản riêng của cha xứ. Hội đoàn không phải đội ngũ riêng của cha. Các giáo dân năng động không phải lực lượng để làm dày lịch sinh hoạt của nhà thờ. Những người có khả năng không phải “người của cha”. Các phong trào không phải nhánh hoạt động của một cộng đoàn dòng tu chỉ vì linh mục dòng ấy đang làm linh hướng. Tất cả thuộc về Đức Kitô và thuộc về Hội Thánh. Linh mục được đặt vào đó để giúp các ơn gọi lớn lên chứ không phải để quy chúng về mình.
Một trong những dấu hiệu rõ nhất cho thấy hàng giáo sĩ chưa chuyển chỗ đứng là khi sức mạnh của một giáo xứ được đo bằng số người quanh nhà xứ. Giáo xứ đông ban ngành, đông người phục vụ bàn thờ, đông người họp, đông người trực, đông người chạy chương trình thì được xem là mạnh. Giáo xứ có nhiều giáo dân giỏi ngoài xã hội nhưng họ không xuất hiện nhiều trong các sinh hoạt nhà thờ thì đôi khi bị xem là yếu. Cách đo ấy rất nguy hiểm, vì nó đánh tráo sứ mạng bằng sinh hoạt nội bộ. Một giáo xứ có thể đông nghịt người trong khuôn viên nhà thờ mà gần như không có ảnh hưởng Tin Mừng nào trong trường học, bệnh viện, doanh nghiệp, cơ quan, truyền thông, nghệ thuật, khu dân cư hay môi trường số. Ngược lại, một giáo xứ có thể không quá ồn ào về tổ chức nhưng đang có những người mẹ xây dựng gia đình trong đức tin, những doanh nhân trả lương công bằng, những công chức không nhận hối lộ, những bác sĩ giữ phẩm giá bệnh nhân, những giáo viên sống sự thật, những người trẻ làm nghề sáng tạo mà không bán lương tâm, những người làm truyền thông không gieo độc, những người lao động nghèo vẫn trung tín với Chúa giữa áp lực cơm áo. Giáo xứ nào mạnh hơn? Nếu dùng tiêu chuẩn của Tin Mừng và giáo huấn Công đồng, câu trả lời không nằm ở số ghế trong phòng họp ban ngành. Một giáo xứ thực sự mạnh là giáo xứ biết làm cho người giáo dân trưởng thành rồi sai họ đi. Nếu mọi người đều bị giữ lại quanh nhà xứ, giáo xứ có thể trông rất bận rộn nhưng Nước Thiên Chúa ngoài cổng nhà thờ lại không lớn thêm bao nhiêu.
Vì vậy, linh mục phục vụ linh đạo giáo dân trước hết không phải bằng cách tạo thêm việc cho họ trong nhà thờ, nhưng bằng cách làm thật tốt điều chỉ thừa tác vụ linh mục mới làm được. Điều này nghe tưởng hiển nhiên nhưng lại rất quan trọng. Giáo dân không cần linh mục cạnh tranh với họ trong nghề nghiệp, chính trị, kinh tế, quản trị hay chuyên môn. Họ cần linh mục là linh mục. Họ cần Thánh lễ được cử hành với đức tin, sự nghiêm túc và phẩm giá, chứ không phải một nghi thức làm vội vì lịch quá dày. Họ cần bí tích Hòa giải được mở ra như nơi gặp lòng thương xót, chứ không phải dịch vụ hiếm hoi khó tiếp cận. Họ cần người bệnh được xức dầu và thăm viếng. Họ cần hôn nhân được chuẩn bị nghiêm túc. Họ cần trẻ em và người lớn được khai tâm Kitô giáo đàng hoàng. Họ cần Lời Chúa được giảng như lương thực cho đời thật của họ. Khi linh mục làm tốt điều thuộc về thừa tác vụ của mình, giáo dân được củng cố để sống điều thuộc về ơn gọi của họ. Một linh mục cử hành Thánh Thể sâu sắc đang làm rất nhiều cho đời sống trần thế của giáo dân, bởi vì chính từ bàn thờ, họ được sai trở lại gia đình và công việc. Một linh mục giải tội với lòng thương xót đang góp phần chữa lành những cuộc hôn nhân, những lương tâm, những chọn lựa nghề nghiệp mà có thể cha không bao giờ thấy hết. Một linh mục giảng Lời rõ ràng đang đặt vào lòng người những tiêu chuẩn mà ngày mai họ sẽ dùng để ký hay không ký một hợp đồng, nói hay không nói một lời gian, giữ hay bỏ một mối quan hệ không lành mạnh. Thừa tác vụ linh mục không nhỏ đi khi linh mục ngừng chiếm việc của giáo dân; ngược lại, nó trở nên tinh tuyền hơn.
Nhưng “giảng Lời đụng đời” là một đòi hỏi rất lớn. Không thể phục vụ linh đạo giáo dân nếu bài giảng chỉ sống trong một thế giới tôn giáo khép kín, nơi mọi ví dụ đều xoay quanh nhà thờ, hội đoàn, kinh nguyện và các sinh hoạt nội bộ. Giáo dân bước vào Thánh lễ với cả một tuần trong người: căng thẳng tiền bạc, mệt mỏi hôn nhân, áp lực công việc, con cái nổi loạn, cha mẹ bệnh, bất công trong công sở, cám dỗ gian dối, tin tức chiến tranh, khủng hoảng xã hội, mạng xã hội, những nỗi sợ không gọi tên được. Nếu bài giảng không bao giờ chạm tới những thực tại ấy, người giáo dân sẽ dần hình thành một thứ đức tin chia đôi: Chúa thuộc về nhà thờ, còn đời thật do mình tự xoay xở. Một bài giảng tốt không nhất thiết phải có nhiều ví dụ thời sự, càng không phải biến tòa giảng thành nơi bình luận chính trị hay kinh tế. Nhưng bài giảng phải giúp người nghe thấy Lời Chúa có quyền trên đời sống thực. Khi Tin Mừng nói về tha thứ, người nghe phải nhận ra nó liên quan tới vợ chồng và đồng nghiệp. Khi Lời Chúa nói về công chính, người làm kinh doanh phải nghe thấy tiếng gọi xét lại cách trả lương. Khi nói về sự thật, người làm truyền thông phải nhận ra trách nhiệm của mình. Khi nói về người nghèo, người có quyền quyết định ngân sách phải thấy mình có liên hệ. Khi nói về dục vọng, người trẻ phải thấy đó không chỉ là một khái niệm luân lý cổ điển mà liên quan tới màn hình trong túi mình. Linh mục không cần biết mọi nghề để giảng đụng đời, nhưng phải chịu khó lắng nghe đời sống thật của người ta. Không lắng nghe thì rất dễ giảng một Tin Mừng đúng về giáo lý nhưng lơ lửng đối với người nghe.
Bởi đó, chuyển chỗ đứng còn có nghĩa là linh mục học lại nghệ thuật lắng nghe giáo dân như những người có tri thức về những vùng đời mà mình không sống. Một linh mục có thể học thần học nhiều năm, nhưng không vì thế mà biết rõ hơn một người mẹ về việc nuôi một đứa trẻ tự kỷ, không biết rõ hơn một bác sĩ về những căng thẳng đạo đức trong bệnh viện, không biết rõ hơn một công nhân về nỗi bất an của hợp đồng thời vụ, không biết rõ hơn một doanh nhân về áp lực phải cạnh tranh trong một thị trường thiếu công bằng, không biết rõ hơn một người trẻ về thứ bạo lực tinh vi của mạng xã hội. Hàng giáo sĩ có một ơn hiểu biết đặc biệt nhờ học hỏi, sứ vụ và kinh nghiệm mục tử, nhưng ơn ấy không miễn họ khỏi lắng nghe. Trái lại, người mục tử càng có trách nhiệm càng phải lắng nghe nhiều hơn. Khi linh mục hỏi giáo dân về đời sống của họ, cha không đánh mất quyền giảng dạy. Cha đang làm cho việc giảng dạy có chỗ đứng trong thực tại. Khi giám mục mời các chuyên gia giáo dân thực sự tham gia vào những lĩnh vực họ có chuyên môn, ngài không từ bỏ quyền mục tử. Ngài đang thực thi quyền ấy cách khôn ngoan. Khi một chủng viện mời các gia đình, giáo viên, bác sĩ, doanh nhân, người lao động, người trẻ và phụ nữ chia sẻ về đời họ cho các chủng sinh, chủng viện không làm loãng đào tạo linh mục. Nó cứu các linh mục tương lai khỏi nguy cơ bước ra khỏi chủng viện với một thứ hiểu biết về giáo dân chỉ lấy từ sách vở hoặc từ vài người năng sinh hoạt nhà thờ.
Đào tạo là một nhiệm vụ nữa của giáo sĩ trong việc nâng đỡ linh đạo giáo dân. Nhưng đào tạo ở đây không phải là tạo một lớp giáo dân biết nói giống linh mục. Một người giáo dân được đào tạo tốt không phải là người có thể dùng thật nhiều thuật ngữ thần học, biết tổ chức phụng vụ như giáo sĩ hoặc có dáng vẻ đạo đức như tu sĩ. Đào tạo giáo dân đúng nghĩa là giúp họ đọc Tin Mừng trong chính bậc sống và nghề nghiệp của mình, hiểu giáo huấn Hội Thánh, có lương tâm được huấn luyện, biết phân định, biết cầu nguyện, biết kết nối Thánh Thể với đời sống và biết hành động trong tự do của con cái Thiên Chúa. Linh mục phải chấp nhận rằng kết quả của việc đào tạo tốt đôi khi là giáo dân trở nên khó “quản” hơn theo nghĩa cũ. Họ sẽ hỏi nhiều hơn. Họ sẽ cần biết lý do, không chỉ nghe lệnh. Họ sẽ có sáng kiến. Họ sẽ nói điều không dễ nghe. Họ sẽ phân biệt điều gì thuộc giáo huấn Hội Thánh, điều gì chỉ là thói quen của giáo xứ. Họ sẽ có thể bất đồng về phương pháp mà vẫn trung thành trong đức tin. Một mục tử chỉ thấy an toàn khi giáo dân im lặng sẽ không thể đào tạo giáo dân trưởng thành. Đào tạo thật luôn mang theo một rủi ro của tự do. Đức Kitô cũng đào tạo các môn đệ như thế: Người không tạo ra những người máy ngoan ngoãn, nhưng những chứng nhân có thể được sai đi tới tận cùng trái đất.
Liên quan chặt chẽ với đào tạo là phân định đặc sủng. Đây là một trong những việc tế nhị nhất của thừa tác vụ mục tử. Không phải mọi sáng kiến của giáo dân đều đến từ Thánh Thần. Không phải mọi nhóm tự phát đều lành mạnh. Không phải mọi người có khả năng nói hay đều thích hợp để lãnh đạo. Không phải cứ nhiệt thành là đã trưởng thành. Vì thế, giáo sĩ không thể chỉ nói “hãy để giáo dân làm” rồi đứng ngoài. Mục tử phải phân định. Nhưng phân định khác với kiểm soát. Kiểm soát hỏi: làm sao để chuyện này nằm trong tay tôi? Phân định hỏi: Thánh Thần đang làm gì ở đây và làm sao Hội Thánh phục vụ điều đó? Kiểm soát sợ những gì mình không phát động. Phân định có thể vui khi thấy một điều tốt bắt đầu ngoài kế hoạch của mình. Kiểm soát thích những người dễ bảo. Phân định tìm những người có hoa trái. Kiểm soát giữ đặc sủng trong phạm vi thuận tiện. Phân định có thể chấp nhận rằng một ơn gọi đang lớn lên đến mức không còn cần sự giám sát sát sao như ban đầu. Vai trò của mục tử là thử các thần khí, bảo vệ sự hiệp thông, chỉnh sửa khi sai, can đảm dừng lại khi có nguy hiểm, nhưng cũng can đảm mở cửa khi thấy hoa trái của Thánh Thần.
Một trong những thử thách lớn nhất là biết trả người giáo dân về lại nơi họ được sai đi. Có những giáo dân rất quảng đại với giáo xứ đến mức đời gia đình bị kiệt quệ. Có người ở nhà thờ gần như mỗi tối nhưng con cái không còn nói chuyện với họ. Có người nhận hết ban này đến nhóm khác và tưởng đó là dấu hiệu mình thánh thiện hơn, trong khi công việc nghề nghiệp ngày càng bê trễ. Có người trở thành “nhân sự chủ chốt” của cha xứ đến mức không còn thời giờ cho người phối ngẫu. Nếu linh mục cứ khen họ là nhiệt thành mà không giúp họ phân định lại, linh mục đang vô tình cổ võ một thứ giáo sĩ hóa giáo dân. Một mục tử tốt đôi khi phải nói với một người rất quảng đại: anh hãy về với vợ con. Chị hãy bớt một ban. Anh không cần dự mọi cuộc họp. Chị không cần có mặt trong tất cả chương trình. Công việc của anh cũng là ơn gọi. Gia đình của chị cũng là bàn thờ. Người già trong nhà anh cũng là Đức Kitô đang chờ được phục vụ. Một người giáo dân trưởng thành không phải người có lịch giáo xứ dày nhất, nhưng người biết sống trọn vẹn tương quan với Chúa trong toàn bộ trách nhiệm đời mình.
Đây là điểm mà nhiều cơ cấu mục vụ phải xét mình. Chúng ta có thường xuyên yêu cầu người giáo dân dành những giờ tốt nhất của họ cho hoạt động nhà thờ, còn gia đình và xã hội nhận phần còn lại không? Chúng ta có tổ chức họp hành quá nhiều chỉ vì thói quen không? Có bao nhiêu cuộc họp thật sự cần thiết? Có bao nhiêu chương trình tồn tại chỉ vì năm nào cũng làm? Có bao nhiêu ban ngành được giữ lại để chứng minh giáo xứ hoạt động, trong khi người tham gia ngày càng mệt? Linh đạo giáo dân không thể lớn trong một hệ thống tiêu hao đời sống gia đình. Hội Thánh không cần ăn hết thời gian của người giáo dân để chứng minh họ thuộc về Hội Thánh. Hội Thánh phải nuôi họ để họ trở thành men trong bột. Men không có ý nghĩa nếu bị giữ nguyên trong gói. Muối không có ý nghĩa nếu được cất trong lọ. Ánh sáng không được đốt để soi cho chính cây đèn. Một giáo xứ hiểu đúng tính chất trần thế của giáo dân sẽ xem việc người giáo dân ít xuất hiện ở nhà xứ vì đang sống tốt sứ mạng trong gia đình và nghề nghiệp không phải là thất bại, mà có thể là hoa trái của chính mục vụ.
Đối với giám mục, yêu cầu chuyển chỗ đứng còn rộng hơn. Giám mục không chỉ cổ võ giáo dân bằng lời. Ngài phải tạo không gian cơ chế để sự tham gia của giáo dân là có thật. “Tham gia” không thể chỉ có nghĩa là được mời tới nghe kế hoạch đã quyết xong. Cũng không thể chỉ là được hỏi ý để làm đẹp thủ tục rồi cuối cùng mọi ý kiến đều biến mất mà không ai biết vì sao. Hiệp hành không phải trang trí. Hội đồng mục vụ giáo phận, hội đồng kinh tế, các ban chuyên môn, những tiến trình tham vấn và phân định phải có thực chất. Điều này không có nghĩa mọi quyết định trở thành biểu quyết đa số. Hội Thánh không vận hành như một quốc hội. Quyền mục tử của giám mục là thật và không thể bị hòa tan. Nhưng cũng chính vì quyền ấy là quyền phục vụ hiệp thông, nó phải biết sử dụng những cơ chế lắng nghe. Có những lĩnh vực mà giáo dân có năng lực chuyên môn vượt xa hàng giáo sĩ: kinh tế, tài chính, luật, tâm lý, giáo dục, bảo vệ trẻ em và người dễ bị tổn thương, truyền thông, dữ liệu, môi trường, kiến trúc, công nghệ, quản trị. Nếu giáo phận vẫn xử lý các lĩnh vực ấy gần như chỉ bằng giáo sĩ vì sợ mất quyền kiểm soát, đó không phải là bảo vệ căn tính Hội Thánh mà là lãng phí những ân huệ Chúa đã ban cho Dân Người. Một giám mục khôn ngoan không cần biết mọi thứ; ngài cần biết ai có thể giúp Hội Thánh biết điều mình chưa biết.
Sự tham gia thật của giáo dân cũng đòi minh bạch. Nói giáo dân cùng trách nhiệm mà tài chính không minh bạch là mâu thuẫn. Nói hiệp hành nhưng quyết định nhân sự, tài sản, dự án và chương trình bằng những quy trình không ai hiểu cũng làm hao mòn lòng tin. Tất nhiên có những điều vì bí mật tòa trong, nhân sự hoặc luật Hội Thánh mà không thể công khai. Nhưng bí mật cần thiết rất khác với văn hóa bí mật. Một cơ cấu Hội Thánh trưởng thành phải biết giải trình phù hợp. Giáo dân không phải khách hàng đòi biết mọi thứ, nhưng họ là những người đã chịu phép Rửa và đang gánh sứ mạng chung. Họ có quyền được đối xử như người trưởng thành trong hiệp thông. Chuyển chỗ đứng của giáo sĩ vì thế cũng là chuyển từ tâm thức “tôi không cần giải thích” sang tâm thức “tôi có trách nhiệm giúp Dân Chúa hiểu, trong mức có thể, vì sao một quyết định được đưa ra”.
Đối với tu sĩ, câu chuyện có một sắc thái riêng. Nhiều hội dòng đã đóng góp vô cùng lớn cho giáo dân bằng trường học, bệnh viện, các phong trào, hội đoàn, trung tâm linh đạo và các hình thức tông đồ. Nhưng chính vì đặc sủng dòng tu mạnh, có một nguy cơ tinh tế: biến người giáo dân thành phần kéo dài của dòng. Giáo dân tham gia một phong trào do một hội dòng đồng hành có thể được nuôi dưỡng bởi linh đạo của hội dòng ấy, nhưng họ không vì thế trở thành tu sĩ hạng ngoài. Họ cần được giúp để sống đặc sủng đó theo bậc sống giáo dân. Một người cha gia đình học nơi linh đạo Dòng Chúa Cứu Thế về lòng nhiệt thành truyền giáo, nhưng anh phải sống điều đó trong gia đình và nghề nghiệp của mình, chứ không phải bằng cách bắt chước lịch sống của cộng đoàn tu. Một người giáo dân được nuôi bởi linh đạo Phanxicô có thể học sự nghèo khó và huynh đệ, nhưng sự nghèo ấy phải nhập thể trong cách dùng tài sản, kinh doanh, tiêu thụ và sống gia đình. Một người sống linh đạo Biển Đức có thể học cầu nguyện và lao động, nhưng không cần biến căn hộ thành tu viện. Nếu dòng tu chỉ xem giáo dân là “cánh tay nối dài” của mình, đặc sủng sẽ bị thu nhỏ. Đặc sủng được ban cho Hội Thánh; giáo dân có thể đón nhận đặc sủng ấy theo cách phù hợp với tính chất trần thế của họ.
Tu sĩ đồng hành tốt là người không tạo ra sự lệ thuộc vào mình. Có những nhóm giáo dân sống tốt khi có một linh mục hay nữ tu mạnh, nhưng khi người ấy đổi nhiệm sở thì nhóm tan. Khi đó cần hỏi: nhóm đã được đào tạo hay chỉ được giữ bằng sức hút cá nhân? Đồng hành đúng phải làm cho cộng đoàn trưởng thành hơn theo thời gian, không lệ thuộc hơn. Vị linh hướng tốt giúp người khác nghe được Thánh Thần, chứ không khiến họ chỉ nghe mình. Người đồng hành tốt vui khi giáo dân tự đứng được, tự phân định được, biết tham khảo khi cần nhưng không đòi cha hay sơ quyết mọi chuyện. Nếu sau mười năm đồng hành mà một nhóm vẫn không thể tổ chức điều gì nếu không có linh mục hiện diện, đó là dấu hiệu cần xét lại. Mục tiêu không phải làm giáo dân độc lập khỏi Hội Thánh; mục tiêu là giúp họ trưởng thành trong Hội Thánh.
Một sự chuyển chỗ đứng khác liên quan đến ngôn ngữ quyền lực. Hàng giáo sĩ phải học sử dụng quyền bính theo hình thức của Đức Kitô. Quyền bính Kitô giáo không biến mất, nhưng bị thập giá cải dạng. Đức Giêsu rửa chân. Người nói ai muốn làm đầu phải phục vụ. Người không sợ gọi các môn đệ là bạn hữu. Tuy nhiên, Người vẫn dạy, vẫn sửa, vẫn sai đi, vẫn đòi vâng phục chân lý. Vì thế, lựa chọn không phải giữa độc đoán và buông lỏng. Có một quyền bính mục tử vừa rõ ràng vừa khiêm nhường. Linh mục có thể nói “không” mà không hạ nhục người khác. Giám mục có thể đưa ra quyết định khó mà vẫn giải thích, lắng nghe và chịu trách nhiệm. Người đứng đầu có thể sửa sai mà không xây dựng một bầu khí sợ hãi. Trong nhiều cộng đoàn, giáo dân không dám nói thật với giáo sĩ vì sợ bị mang tiếng chống cha, chống Hội Thánh, thiếu vâng phục. Một bầu khí như vậy rất nguy hiểm, vì nó làm mất những thông tin mà mục tử cần để phân định. Mục tử không thể lãnh đạo tốt một cộng đoàn chỉ nói những điều làm mình vui.
Chuyển chỗ đứng còn đòi giáo sĩ biết giới hạn của mình. Linh mục không cần phát biểu về mọi vấn đề. Không phải sự kiện xã hội nào cũng cần một ý kiến từ cha. Không phải tranh luận chính trị nào cũng cần tòa giảng. Không phải vấn đề khoa học nào giáo sĩ cũng có chuyên môn. Sự khiêm nhường trí thức là một nhân đức mục tử. Khi một linh mục nói vượt khỏi điều mình biết nhưng dùng uy tín chức thánh để làm cho lời ấy nặng hơn, người nghe rất khó phân biệt đâu là giáo huấn của Hội Thánh, đâu là ý kiến cá nhân. Điều này đặc biệt nguy hiểm trong thời đại mạng xã hội, nơi một câu nói có thể lan rất nhanh. Một linh mục trưởng thành biết nói: về điểm này, tôi chưa biết đủ. Hãy nghe các chuyên gia. Giáo huấn của Hội Thánh cho chúng ta những nguyên tắc này; còn cách áp dụng cụ thể cần người có chuyên môn. Câu nói ấy không làm linh mục nhỏ đi. Nó khiến thừa tác vụ đáng tin hơn.
Ngược lại, giáo sĩ cũng không được dùng tính chuyên môn của giáo dân như cái cớ để rút khỏi trách nhiệm nói lời ngôn sứ. Có người có thể hiểu “trả thế giới cho giáo dân” theo nghĩa linh mục không được nói gì về công lý, người nghèo, chiến tranh, tham nhũng, lao động, môi trường, sự sống, gia đình hay phẩm giá con người. Đó cũng là một sai lầm. Linh mục không làm thay giáo dân trong chính trị hay kinh tế, nhưng Lời Chúa có quyền soi sáng các thực tại ấy. Giám mục không trở thành nhà quản trị nhà nước, nhưng phải lên tiếng khi phẩm giá con người bị xúc phạm. Linh mục không quyết định thay doanh nhân về mô hình kinh doanh, nhưng có trách nhiệm giảng về sự công bằng, trung thực và người nghèo. Phân biệt các vai trò không có nghĩa phân chia thế giới thành những vùng mà Tin Mừng được hay không được nói tới. Tin Mừng thuộc về toàn bộ đời sống. Vấn đề là mỗi ơn gọi thực hiện trách nhiệm của mình đúng cách.
Một thách thức rất thực tế nữa là đào tạo linh mục tương lai để hiểu giáo dân. Nếu chủng sinh chỉ sống nhiều năm trong môi trường chủng viện, tiếp xúc chủ yếu với giáo sĩ và các giáo dân hoạt động nhà thờ, họ có thể hình thành một bức tranh rất hẹp về Dân Chúa. Cần cho họ gặp đời sống gia đình thật, người nghèo thật, doanh nghiệp thật, bệnh viện thật, trường học thật, người trẻ thật. Không phải để biến chủng sinh thành chuyên gia xã hội, nhưng để họ biết kính trọng thực tại mà sau này họ sẽ phục vụ. Một linh mục có kinh nghiệm đã từng ngồi nghe một cặp vợ chồng kể về áp lực nuôi con, từng vào một khu công nghiệp, từng nói chuyện với người làm ca đêm, từng gặp một người chủ doanh nghiệp đang phải chọn giữa lợi nhuận và giữ việc cho công nhân, sẽ giảng khác. Không phải vì cha có nhiều chuyện kể hơn, nhưng vì thần học của cha đã đi qua khuôn mặt người thật. Nếu chủng viện không đào tạo khả năng lắng nghe giáo dân, sau này linh mục rất dễ hoặc thần thánh hóa họ hoặc coi thường họ, chứ không thực sự hiểu họ.
Hàng giáo sĩ cũng cần được chữa lành khỏi nhu cầu được cần đến. Đây là điều rất tinh tế. Thừa tác vụ đem lại một cảm giác ý nghĩa lớn: người khác tìm mình, hỏi mình, cần mình, kính trọng mình. Điều ấy có thể trở thành một cám dỗ nếu mục tử bắt đầu vô thức xây hệ thống để mọi người luôn cần mình. Một cha xứ có thể thấy vui khi mọi chuyện đều phải hỏi cha. Một linh hướng có thể thấy quan trọng khi người khác không quyết gì nếu chưa hỏi mình. Một người lãnh đạo có thể không chịu trao quyền vì sợ người khác làm được mà không cần mình. Nhưng sứ mạng của người mục tử không phải làm cho mọi người lệ thuộc vào mình. Thánh Gioan Tẩy Giả đã nói: Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại. Một linh mục thành công theo Tin Mừng không phải là người khi rời giáo xứ mọi thứ sụp, mà là người đã góp phần làm cho cộng đoàn có thể tiếp tục sống trong Đức Kitô khi mình không còn ở đó. Điều ấy đòi một thứ nghèo rất sâu.
Chuyển chỗ đứng cũng là học lại niềm vui khi người khác được nhìn thấy. Có linh mục vô thức khó chịu khi một giáo dân được chú ý, được tín nhiệm hay có ảnh hưởng. Có người sợ những giáo dân học cao. Có người sợ phụ nữ có khả năng lãnh đạo. Có người sợ người trẻ có sáng kiến. Nỗi sợ này đôi khi được mặc áo “bảo vệ trật tự Hội Thánh”. Nhưng trật tự thật không bị đe dọa bởi đặc sủng. Thánh Phaolô không sợ Thân Thể có nhiều chi thể. Điều cần là phân định và hiệp thông. Khi một giáo dân giỏi hơn mình trong một lãnh vực, mục tử có thể vui vì Dân Chúa đang được giàu lên. Khi một phụ nữ có khả năng tổ chức xuất sắc, khi một người trẻ hiểu môi trường số, khi một người giáo dân có năng lực thần học, pháp lý hay tài chính, giáo sĩ không cần cạnh tranh. Chức thánh không phải một chứng chỉ nói rằng mình giỏi mọi thứ. Nó là một ơn để phục vụ hiệp thông và các mầu nhiệm cứu độ.
Trong thực hành, một giáo xứ muốn chuyển chỗ đứng có thể bắt đầu bằng những điều rất cụ thể: giảm các cuộc họp không cần thiết; phân biệt rõ việc nào thuộc giáo sĩ, việc nào nên trao cho giáo dân; thành lập hoặc làm sống lại hội đồng mục vụ theo đúng tinh thần tham vấn và phân định; công khai tài chính ở mức phù hợp; dành thời gian để nghe những người ít xuất hiện ở nhà thờ nhưng đang sống những trách nhiệm lớn ngoài xã hội; mời người có chuyên môn thật thay vì luôn chọn người gần cha nhất; đào tạo các trưởng nhóm biết tự chịu trách nhiệm; không tạo ra văn hóa xin phép cho mọi chi tiết; xây dựng các chương trình linh đạo hướng ra nghề nghiệp và gia đình; tổ chức lịch sinh hoạt tôn trọng đời sống hôn nhân và con cái; chủ động gửi giáo dân trở lại môi trường của họ với một ý thức sai đi. Sau Thánh lễ Chúa Nhật, có thể nói theo nghĩa rất thật: anh chị em không rời Hội Thánh khi bước ra cổng nhà thờ. Anh chị em mang Hội Thánh theo vào tuần mới. Nếu người giáo dân hiểu được điều ấy, họ sẽ không còn nghĩ chỉ khi cầm micro, đọc sách, dạy giáo lý hay phục vụ ban ngành mới là đang làm việc Hội Thánh.
Giám mục và linh mục cũng phải bảo vệ những người giáo dân dấn thân ngoài xã hội khi họ gặp khó khăn vì trung thành với lương tâm. Một người từ chối tham nhũng có thể mất cơ hội thăng tiến. Một bác sĩ giữ nguyên tắc đạo đức có thể bị cô lập. Một nhà báo bảo vệ sự thật có thể bị gây áp lực. Một người chủ doanh nghiệp trả lương tử tế có thể giảm lợi nhuận. Một người trẻ không đi theo văn hóa tình dục phổ biến có thể bị chế nhạo. Họ cần biết Hội Thánh đứng sau họ. Không phải đứng sau theo nghĩa can thiệp vào mọi tranh chấp, nhưng bằng lời cầu nguyện, đồng hành, giáo huấn và tình huynh đệ. Nếu giáo dân được sai vào thế gian rồi khi họ bị thương trong thế gian lại không tìm thấy nơi Hội Thánh một chỗ để được chữa lành, sứ mạng sẽ khó bền.
Một hàng giáo sĩ đã chuyển chỗ đứng sẽ tạo ra một diện mạo Hội Thánh rất khác. Không phải Hội Thánh ít linh mục hơn về ý nghĩa, nhưng linh mục trở nên rõ hơn. Không phải giáo dân làm linh mục nhiều hơn, nhưng giáo dân trở nên giáo dân hơn. Không phải tu sĩ mất ảnh hưởng, nhưng đặc sủng dòng tu trở nên sinh hoa trong nhiều bậc sống. Không phải quyền bính yếu đi, nhưng quyền bính đáng tin hơn. Không phải giáo xứ ít hoạt động, nhưng hoạt động gắn với sứ mạng hơn. Không phải mọi người đều có tiếng nói như nhau trong mọi chuyện, nhưng mỗi người được nghe theo phẩm giá và ơn gọi của mình. Khi đó, sự khác biệt giữa các bậc sống không còn là cái cớ cho khoảng cách, mà trở thành sự bổ túc.
Có thể nói ngắn gọn: linh mục không được chiếm chỗ giáo dân, nhưng phải đứng đủ gần để nuôi họ. Không được điều khiển từng bước, nhưng phải ở đó để phân định. Không được giữ họ quanh mình, nhưng phải sai họ đi. Không được làm thay những gì họ phải làm, nhưng cũng không được bỏ họ một mình. Không được biến họ thành nhân viên, cũng không được xem họ như khách hàng. Họ là anh chị em đã chịu phép Rửa, thành viên của cùng một Thân Thể, có một ơn gọi thật, một trách nhiệm thật và một sứ mạng thật. Giám mục không chỉ nói đến đồng trách nhiệm, nhưng phải làm cho đồng trách nhiệm có cấu trúc sống được. Tu sĩ không chỉ trao linh đạo cho giáo dân, nhưng phải để linh đạo ấy được nhập thể trong đời giáo dân mà không biến họ thành bản sao của đời tu.
Cuộc chuyển chỗ này đòi khiêm nhường, bởi vì nó đụng tới thói quen, quyền lực, sự an toàn và cả căn tính. Có người sẽ sợ rằng nếu trao thêm trách nhiệm cho giáo dân thì linh mục mất vai trò. Thực ra điều ngược lại mới đúng. Khi linh mục bỏ những vai trò không thuộc căn tính mình, thừa tác vụ linh mục hiện ra rõ hơn. Khi cha không còn phải quyết từng chi tiết hành chính, cha có thể cầu nguyện hơn, học Lời hơn, đồng hành hơn, giải tội hơn, thăm người bệnh hơn, giảng sâu hơn. Khi giám mục có những cộng sự giáo dân đủ năng lực và đáng tin, ngài có thể tập trung hơn vào trách nhiệm tông truyền, hiệp thông và phân định. Khi tu sĩ không cần chiếm giữ các phong trào, đặc sủng của dòng trở thành quà tặng tự do hơn cho toàn Hội Thánh.
Sau cùng, chuyển chỗ đứng không phải là một kỹ thuật quản trị. Nó là một cuộc hoán cải Kitô học. Đức Kitô là Đầu của Hội Thánh, chứ không phải chúng ta. Mọi thừa tác vụ chỉ đúng khi làm cho Người được nhìn thấy. Người mục tử tốt không xây một cộng đoàn quay quanh mình; người ấy giúp cộng đoàn quay quanh Đức Kitô. Giáo sĩ tốt không làm cho giáo dân nghĩ “không có cha, chúng tôi chẳng làm được gì”; cha giúp họ hiểu “không có Đức Kitô, chúng ta chẳng làm được gì”. Đó là khác biệt quyết định. Khi Đức Kitô thật sự ở trung tâm, linh mục không cần sợ giáo dân trưởng thành, giáo dân không cần tranh chức với linh mục, tu sĩ không cần bảo vệ đặc sủng như tài sản, giám mục không cần chứng minh quyền bằng khoảng cách. Mỗi người đứng đúng chỗ mình và nhờ thế toàn Thân Thể chuyển động.
Một ngày nào đó, có lẽ dấu hiệu đẹp nhất của một mục vụ giáo dân trưởng thành sẽ không phải là nhà xứ luôn đầy người, nhưng là sau Thánh lễ, sân nhà thờ dần trống. Người ta trở về nhà. Người mẹ về với con. Người cha về với gia đình. Bác sĩ trở lại bệnh viện. Giáo viên trở lại lớp. Người công nhân vào ca. Người doanh nhân vào cuộc họp. Người trẻ mở máy tính. Người làm chính trị bước vào không gian công. Người nghệ sĩ trở lại xưởng. Người nông dân ra đồng. Và tất cả mang trong mình Lời vừa nghe, Thánh Thể vừa lãnh nhận, một lương tâm đã được soi sáng và ý thức mình đang được sai đi. Linh mục đứng ở cửa nhà thờ nhìn họ đi, không buồn vì họ rời khỏi mình, nhưng vui vì Hội Thánh đang tỏa ra khắp thành phố, làng quê, gia đình, công sở và thế giới. Có lẽ đó chính là chỗ đứng đẹp nhất của người mục tử: không đứng chắn ở cửa để giữ người ta lại, nhưng đứng đó để chúc lành và sai họ đi.
CHƯƠNG 40. CHÂN TRỜI: MÔN ĐỆ THỪA SAI GIỮA ĐỜI
Đi đến cuối một hành trình suy tư về linh đạo giáo dân, điều cần tránh nhất là tưởng rằng sau bao nhiêu chương, sau bao nhiêu khái niệm về phẩm giá Rửa tội, tính chất trần thế, chức tư tế cộng đồng, chức ngôn sứ, chức vương giả, hiệp thông, sứ mạng, gia đình, lao động, chính trị, văn hóa, môi trường số, người nghèo, phân định, cầu nguyện, đào tạo và hiệp hành, cuối cùng ta phải tìm ra một “cấp độ cao hơn” dành cho những giáo dân ưu tú. Không. Chân trời của linh đạo giáo dân không phải là làm cho giáo dân “lên cấp”, càng không phải dẫn họ đến chỗ ngày càng giống linh mục, giống tu sĩ, giống một thứ chuyên viên tôn giáo bán thời gian. Chân trời chỉ đơn giản mà quyết liệt hơn nhiều: người giáo dân trở thành môn đệ thừa sai ngay tại nơi Thiên Chúa đã đặt họ đứng. Không cần đổi sân khấu mới bắt đầu sứ mạng. Không cần rời gia đình mới gặp cánh đồng truyền giáo. Không cần thôi nghề mới thuộc trọn về Đức Kitô. Không cần có chức vụ trong giáo xứ mới có quyền nói về sứ mạng. Ngôi nhà họ đang sống, khu phố họ đang ở, cửa hàng họ đang buôn bán, lớp học họ đang dạy, bệnh viện họ đang trực, nhà máy họ đang làm, cơ quan họ đang phục vụ, phòng họp nơi họ ký những quyết định khó, chiếc điện thoại nơi họ giao tiếp mỗi ngày, mạng xã hội nơi lời nói của họ có thể chữa lành hay gây độc, lá phiếu họ bỏ, đồng tiền họ kiếm và tiêu, người nghèo họ gặp, người già trong nhà họ chăm, đứa trẻ họ giáo dục, người hàng xóm họ chịu đựng, người đồng nghiệp họ có thể nâng lên hoặc đạp xuống — tất cả những nơi ấy đều có thể trở thành đất của sứ mạng, bởi vì tất cả đều nằm trong thế giới được Thiên Chúa tạo dựng, được Đức Kitô bước vào và đang được Thánh Thần âm thầm đổi mới. “Môn đệ thừa sai giữa đời” vì thế không phải một khẩu hiệu đẹp để kết sách. Nó là kết luận nội tại của toàn bộ thần học về giáo dân. Nếu giáo dân đã được tháp nhập vào Đức Kitô nhờ Rửa tội, nếu họ thật sự thuộc về Dân Thiên Chúa, nếu họ thật sự tham dự vào chức tư tế, ngôn sứ và vương giả của Đức Kitô theo cách thức riêng của mình, nếu tính chất trần thế thật sự là nét đặc thù trong ơn gọi của họ, thì họ không thể chỉ là người tiêu thụ mục vụ, người dự lễ, người nhận bí tích, người đóng góp, người nghe giảng, người chờ chỉ thị. Họ là những người được sai. Không phải được sai sau này, sau một khóa huấn luyện, sau khi nhận giấy chứng nhận, sau khi được cha xứ giao việc, nhưng đã được sai từ chính Bí tích Rửa tội và được củng cố trong Bí tích Thêm sức. Bí tích Thánh Thể mỗi Chúa Nhật không khép vòng đời Kitô hữu trong nhà thờ, nhưng mở cửa nhà thờ và đẩy người tín hữu trở lại thế giới. “Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an” không có nghĩa: bây giờ phần đạo đã xong, anh chị em trở về phần đời. Nó có nghĩa: anh chị em đã được nuôi bằng Mình và Máu Đức Kitô, bây giờ hãy mang sự sống ấy vào phần đời, vì không có hai thế giới, một của Thiên Chúa và một không thuộc về Người. Có một thế giới đang được cứu chuộc, và người giáo dân được sai vào trong thế giới ấy từ bên trong.
Môn đệ trước, thừa sai sau, nhưng hai từ không thể tách nhau. Nếu chỉ nói “môn đệ” mà không nói “thừa sai”, người ta dễ hình dung đời sống Kitô hữu như một quá trình tu dưỡng nội tâm khép kín: học thêm, cầu nguyện thêm, biết đạo thêm, tránh tội thêm, nhưng cuối cùng vẫn xoay quanh mình. Nếu chỉ nói “thừa sai” mà không nói “môn đệ”, người ta dễ biến Kitô hữu thành nhà hoạt động tôn giáo: tổ chức nhiều, nói nhiều, chạy chương trình nhiều, vận động nhiều, nhưng không còn ở lại trong Đức Kitô. Tin Mừng không cho phép hai cực ấy tách nhau. Người được Chúa gọi là người được gọi để ở với Người và để được Người sai đi. Ở với Người không phải để tránh thế giới; được sai đi không phải để rời Người. Đây là nhịp thở của linh đạo giáo dân: ở lại rồi đi ra, đi ra nhưng vẫn ở lại; cầu nguyện rồi làm việc, làm việc mà lòng còn thuộc về Chúa; vào trong đời nhưng không bị đời nuốt; yêu thế giới vì Thiên Chúa yêu thế giới, nhưng không thờ lạy những gì thế giới tôn làm thần. Giáo dân cần học nhịp thở ấy suốt đời, bởi nếu chỉ có “ở lại” mà không “đi”, đức tin có nguy cơ thành nơi trú ẩn; nếu chỉ có “đi” mà không “ở lại”, sứ mạng có nguy cơ thành kiệt sức. Có những người rất đạo đức nhưng đời sống không đụng đến ai. Có những người hoạt động không ngừng nhưng lâu ngày không còn biết mình đang làm vì Chúa hay vì nhu cầu được cần đến. Môn đệ thừa sai là người không chấp nhận lựa chọn một trong hai. Họ để Chúa làm mình thành môn đệ bằng Lời, bí tích, cầu nguyện, cộng đoàn và hoán cải; rồi chính việc thuộc về Chúa khiến họ không thể giữ Tin Mừng cho riêng mình.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với giáo dân, vì sứ mạng của họ thường không diễn ra trong những hoàn cảnh được gọi là “tôn giáo”. Một linh mục giảng trong nhà thờ, cử hành bí tích, thăm bệnh nhân với tư cách mục tử; một tu sĩ sống đoàn sủng đã được Hội Thánh nhìn nhận, hiện diện bằng chứng tá đời thánh hiến. Giáo dân phần lớn được sai vào những nơi không có bảng “mục vụ” treo bên ngoài. Một bà mẹ đang dạy con xin lỗi không nghĩ mình đang thi hành sứ mạng ngôn sứ. Một người chủ trả lương đúng hạn không nghĩ mình đang tham dự vào chức vương giả của Đức Kitô. Một công chức từ chối ký một hồ sơ gian dối không nghĩ mình đang làm chứng cho Nước Chúa. Một bác sĩ kiên nhẫn với người bệnh nghèo không nghĩ mình đang sống tinh thần Mátthêu 25. Một giáo viên không nâng điểm vì quan hệ không nghĩ mình đang loan báo Tin Mừng. Một người trẻ không chia sẻ tin giả vì biết sự thật có phẩm giá không nghĩ mình đang thực thi một bổn phận Kitô giáo. Một người chồng giữ lòng trung tín trong những tháng năm hôn nhân nguội lạnh không nghĩ mình đang rao giảng về giao ước. Một người con chăm cha mẹ già trong âm thầm không nghĩ mình đang làm thần học về lòng hiếu thảo. Nhưng chính những việc ấy là nơi Tin Mừng thành thịt. Sứ mạng giáo dân rất thường không có tiếng vỗ tay, không có bục giảng, không có áo riêng, không có danh xưng. Nó ẩn trong chất lượng luân lý và tình yêu của những việc rất bình thường. Chính vì thế mà người ta dễ đánh giá thấp nó. Và cũng chính vì thế Hội Thánh cần học lại cách nhìn để nhận ra rằng một giáo dân thánh thiện giữa đời không phải là Kitô hữu loại hai; có khi họ đang thực hiện một thứ truyền giáo mà không một bài giảng nào thay thế được.
Chân trời này cũng đòi phải giữ thật vững căn tính. Thế giới đổi rất nhanh. Cánh đồng truyền giáo thay đổi. Cách con người suy nghĩ, làm việc, yêu, mua bán, học hành, giải trí, tranh luận và xây dựng cộng đồng thay đổi. Có những nghề cách đây ba mươi năm chưa tồn tại. Có những hình thức giao tiếp cách đây hai mươi năm chưa phổ biến. Có những câu hỏi luân lý mà thế hệ trước hầu như không phải đối diện trong cùng mức độ: trí tuệ nhân tạo, dữ liệu cá nhân, sinh học, thuật toán, nền kinh tế nền tảng, đời sống ảo, lao động xuyên biên giới, khủng hoảng khí hậu, di dân quy mô lớn, cô đơn trong thành thị, khủng hoảng sức khỏe tinh thần, những thay đổi về cấu trúc gia đình, phân cực chính trị, sự tan vỡ niềm tin vào các định chế. Hội Thánh không thể sống như thể cánh đồng vẫn y nguyên. Một người truyền giáo nếu không biết người mình gặp đang sống trong thế giới nào thì dễ nói đúng điều nhưng không chạm đúng người. Cách loan báo phải học ngôn ngữ mới, cách hiện diện phải đi vào không gian mới, phương pháp giáo dục đức tin phải hiểu tâm lý và văn hóa mới, lương tâm Kitô hữu phải được đào tạo trước những câu hỏi mới. Nhưng tất cả sự thay đổi ấy không được dẫn đến việc đánh mất căn tính. Đổi phương pháp không có nghĩa đổi Tin Mừng. Đi vào thế giới số không có nghĩa trở thành sản phẩm của thuật toán. Hội nhập văn hóa không có nghĩa để văn hóa quyết định điều gì là chân lý. Đối thoại không có nghĩa xóa khác biệt. Hiệp hành không có nghĩa biến Hội Thánh thành nghị trường. Tôn trọng tự trị trần thế không có nghĩa sống như thể Thiên Chúa không có. Linh hoạt mục vụ không có nghĩa tương đối hóa Đức Kitô. Người giáo dân của ngày mai có thể làm những nghề hôm nay chưa có tên, dùng những công nghệ hôm nay ta chưa hình dung, sống trong những hình thức xã hội mới; nhưng phẩm giá Rửa tội của họ không thay đổi, mối liên hệ với Đức Kitô không thay đổi, lệnh yêu thương không thay đổi, đòi hỏi của sự thật và công lý không thay đổi, tiếng gọi nên thánh không thay đổi. Cánh đồng đổi, nhưng Đấng sai đi không đổi. Phương tiện đổi, nhưng nguồn sống không đổi. Hình thức chứng tá đổi, nhưng điều được làm chứng vẫn là Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh và phục sinh.
Bởi thế, nói đến “chân trời” không có nghĩa rời bỏ những nền tảng đã đi qua. Trái lại, càng đi xa càng phải trở lại nguồn. Một người đi đường dài càng cần biết mình từ đâu đến. Giáo dân càng bước vào các biên cương mới càng cần nhớ mình là ai. Họ không phải nhân viên của một cơ cấu tôn giáo. Họ không phải phiên bản nhẹ của linh mục. Họ không phải phiên bản không khấn của tu sĩ. Họ cũng không phải cá nhân tự do sống đạo theo cách riêng bất cần Hội Thánh. Họ là tín hữu được tái sinh trong Đức Kitô, thuộc về một thân thể, được nuôi bằng Lời và Thánh Thể, được Thánh Thần ban ơn, sống một ơn gọi có nét trần thế đặc thù và được sai để làm men trong chính những cơ cấu mà họ có khả năng đi vào từ bên trong. Tính chất trần thế vì thế không phải một hạn chế cần vượt qua. Nó là không gian thần học của sứ mạng. Người giáo dân không cần thoát khỏi tính trần thế để nên thánh; họ cần làm cho tính trần thế của mình được thấm bởi Đức Kitô. Họ không rời khỏi kinh tế, nhưng làm kinh tế không thờ tiền. Không rời khỏi chính trị, nhưng làm chính trị không thờ quyền. Không rời khỏi khoa học, nhưng làm khoa học không thờ kỹ thuật. Không rời khỏi văn hóa, nhưng làm văn hóa không thờ thị hiếu. Không rời khỏi mạng, nhưng sống trên mạng không đánh mất khuôn mặt. Không rời khỏi nghề, nhưng làm nghề không bán lương tâm. Không rời khỏi gia đình, nhưng sống gia đình không biến gia đình thành thần tượng khép kín. Không rời khỏi thế giới, nhưng ở trong thế giới như người thuộc về một Nước không đồng nhất với thế giới này.
Ở đây, hình ảnh men của Tin Mừng vẫn đặc biệt chính xác. Men không đứng trên bột. Men đi vào bột. Men không biến bột thành men, nhưng làm cho cả khối bột dậy lên. Người giáo dân không được sai vào thế giới để biến mọi sự thành nhà thờ. Họ được sai để những thực tại trần thế trở thành đúng với ý nghĩa mà Thiên Chúa đã đặt vào chúng. Một nền kinh tế tốt không phải là nền kinh tế treo nhiều biểu tượng đạo; nó là nền kinh tế phục vụ con người, không nghiền người yếu. Một nền chính trị tốt không phải là nền chính trị dùng lời đạo đức nhiều; nó là nền chính trị biết công ích, công bằng, sự thật, trách nhiệm. Một trường học tốt không phải vì có nhiều hoạt động tôn giáo nếu vẫn gian dối thành tích; nó tốt khi sự thật được tôn trọng, người yếu được nâng đỡ, nhân phẩm được bảo vệ. Một gia đình Kitô giáo không phải chỉ vì có ảnh tượng đẹp; nó Kitô giáo khi người ta biết tha thứ, chung thủy, chịu trách nhiệm, đón nhận sự sống, chăm người yếu và học cầu nguyện. Người giáo dân thánh hóa thế giới không phải bằng cách dán nhãn Công giáo lên mọi thứ, nhưng bằng cách đưa các thực tại về gần hơn với chân lý của chúng trong kế hoạch tạo dựng và cứu độ của Thiên Chúa. Đây là một sứ mạng tinh tế, khó hơn nhiều so với việc chỉ tạo ra những không gian tôn giáo riêng biệt. Nó đòi giáo dân phải hiểu nghề, hiểu xã hội, hiểu con người, có năng lực chuyên môn thật, có lương tâm được đào tạo, có đời cầu nguyện đủ sâu và có sự khiêm nhường để không sử dụng đức tin như cách thay thế cho sự thiếu hiểu biết.
Chân trời môn đệ thừa sai cũng đòi trả lại giá trị cho sự hiện diện. Một trong những ảo tưởng của thời đại truyền thông là nghĩ rằng ảnh hưởng phải được đo bằng số người nhìn thấy. Tin Mừng không vận hành như thế. Hạt cải rất nhỏ. Men rất ít. Muối không chiếm hết món ăn. Ánh sáng chỉ cần đặt đúng chỗ. Nhiều giáo dân sẽ không bao giờ có một “nền tảng” để nói với hàng nghìn người. Họ có năm người trong gia đình, mười người trong văn phòng, ba mươi học sinh trong lớp, vài bệnh nhân một ca trực, một nhóm khách hàng, một con đường, một làng nhỏ. Đó không phải cánh đồng quá bé. Thiên Chúa không đo sứ mạng bằng khả năng được nhìn thấy. Có những người làm thay đổi khí hậu luân lý của cả một nơi chỉ bằng việc họ hiện diện lâu năm như một người đáng tin. Ai cũng biết rằng trước mặt người ấy không nên nói xấu. Ai cũng biết người ấy không nhận tiền bẩn. Ai cũng biết khi có người đau, người ấy sẽ tới. Ai cũng biết lời hứa của người ấy có giá trị. Ai cũng biết người ấy không dùng bí mật người khác để leo lên. Đó là truyền giáo. Không ồn, nhưng thật. Có thể họ hiếm khi nói về đạo, nhưng khi đến lúc cần nói, lời họ có trọng lượng vì đời họ đã làm chứng trước.
Dĩ nhiên, chứng tá đời sống không loại bỏ lời nói. Có khi câu “tôi sống tốt là đủ” chỉ là một cách lịch sự để che sự sợ hãi. Tin Mừng được truyền bằng đời sống và bằng lời, tùy lúc, tùy người, tùy hoàn cảnh. Giáo dân cần học nói về đức tin bằng ngôn ngữ không lên lớp, không tranh thắng, không biến người nghe thành dự án. Có lúc chỉ là trả lời khi được hỏi tại sao mình chọn khác. Có lúc là nói một lời hy vọng với người đang tuyệt vọng. Có lúc là dám nói mình cầu nguyện. Có lúc là bảo vệ giáo huấn Hội Thánh trước một hiểu lầm. Có lúc là thừa nhận mình không biết và cần tìm hiểu. Có lúc là xin lỗi vì chính người Công giáo đã sống sai với Tin Mừng. Có lúc là mời một người đến nhà thờ. Có lúc là ngồi nghe rất lâu mà chưa nói gì. Loan báo không đồng nghĩa với nói không ngừng. Chúa Giêsu biết lúc giảng cho đám đông, lúc hỏi người mù muốn gì, lúc im trước Philatô, lúc ăn với người thu thuế, lúc khóc trước mộ Lazarô. Một giáo dân thừa sai cần sự phân định tương tự: khi nào nói, khi nào làm, khi nào chờ, khi nào chất vấn, khi nào xin lỗi, khi nào bước khỏi một tranh cãi vô ích.
Nhà là cánh đồng đầu tiên, nhưng không phải cánh đồng duy nhất. Có những Kitô hữu rất nhiệt thành ngoài xã hội mà gia đình chịu hậu quả. Họ cứu thế giới nhưng không nghe được người bạn đời. Họ tổ chức chương trình cho giới trẻ nhưng con mình không nói chuyện được với mình. Họ nói về bác ái nhưng không biết xin lỗi trong nhà. Sứ mạng bắt đầu từ những người gần nhất không phải vì gia đình là nơi duy nhất, nhưng vì ở đó không thể diễn. Ngoài xã hội ta có thể giữ hình ảnh. Trong nhà, người ta biết ta thật. Gia đình là nơi kiểm chứng rất mạnh xem Tin Mừng đã đi từ đầu xuống tim chưa. Nhưng ngược lại, không thể đóng đức tin trong gia đình. Một gia đình Kitô giáo chỉ lo con mình ngoan, nhà mình yên, kinh tế mình ổn mà không có người nghèo, không có trách nhiệm xã hội, không có khả năng mở cửa, sẽ dần biến đạo thành hình thức bảo vệ tổ ấm. Tin Mừng luôn mở cửa. Abraham được chúc phúc để trở thành phúc lành. Gia đình được ban bình an để mang bình an. Đức tin truyền từ cha mẹ sang con, nhưng cũng phải từ gia đình đi ra khu phố, giáo xứ, xã hội.
Chợ là cánh đồng. Chợ ở đây là toàn bộ đời kinh tế. Không thể nói về giáo dân thừa sai mà bỏ qua tiền. Tiền là một trong những nơi sự thật về đức tin lộ rõ nhất. Một người có thể nói rất hay về Chúa nhưng cách kiếm tiền nói điều khác. Một doanh nghiệp có thể làm lễ long trọng nhưng nếu bóc lột nhân viên thì bàn thờ và sổ lương đang nói hai Tin Mừng khác nhau. Người giáo dân được sai vào nền kinh tế không chỉ để làm giàu rồi làm từ thiện một phần. Họ được mời gọi đặt câu hỏi ngay trong cách doanh nghiệp được vận hành: giá trị nào đang được tạo ra, ai được hưởng, ai đang trả giá, nhân viên có được đối xử như người hay như biến số, khách hàng có bị đánh lừa, môi trường có bị xem là kho rác, lợi nhuận có trở thành thần tối cao hay không. Có những quyết định không bao giờ xuất hiện trong bản tin giáo xứ nhưng rất quan trọng trước mặt Chúa: chọn không hạ chất lượng để tăng lãi, không trốn nghĩa vụ, không nợ lương, không dùng quan hệ để triệt đối thủ, không bán sản phẩm biết là gây hại, không thao túng người tiêu dùng. Chính trong những chi tiết đó, chức vương giả của người tín hữu được thực thi: cai quản trước hết lòng tham của chính mình rồi góp phần làm các cơ cấu phục vụ con người.
Trường học là cánh đồng. Giáo dục hôm nay không chỉ truyền kiến thức. Nó định hình cách người trẻ hiểu mình, hiểu sự thật, hiểu thành công, hiểu người khác. Một giáo viên Công giáo không cần biến mọi tiết học thành tiết giáo lý. Họ cần dạy thật, chấm thật, tôn trọng trí tuệ học sinh, không nhục mạ người yếu, không đào tạo một thế hệ chỉ biết cạnh tranh. Một nhà nghiên cứu Công giáo không phải thêm câu Kinh Thánh vào công trình; họ phải yêu sự thật đủ để không bóp dữ liệu cho phù hợp lợi ích. Một người làm khoa học là môn đệ thừa sai khi họ từ chối sự gian dối, khi biết giới hạn của phương pháp mình, khi không biến khoa học thành ý thức hệ, nhưng cũng không dùng đức tin để phủ nhận khoa học. Những người giáo dân trong đại học, viện nghiên cứu, phòng thí nghiệm, công nghệ có một sứ mạng đặc biệt trong thế kỷ này, bởi nhiều câu hỏi về con người đang được định hình ở đó trước khi chúng trở thành luật, thị trường hay văn hóa phổ thông. Hội Thánh không thể chỉ phản ứng khi mọi sự đã thành khủng hoảng. Cần những giáo dân có mặt từ đầu, hiểu vấn đề từ bên trong, vừa giỏi chuyên môn vừa có nhân học Kitô giáo.
Bệnh viện là cánh đồng. Người bệnh làm lộ tính hữu hạn mà xã hội thường muốn quên. Ở bệnh viện, người ta gặp sợ hãi, đau, tiền, quyền lực chuyên môn, gia đình rạn, hy vọng và cái chết. Một bác sĩ, điều dưỡng, nhân viên y tế Công giáo là môn đệ thừa sai trước hết bằng việc nhìn bệnh nhân như người, không như ca bệnh. Họ không có quyền dùng đức tin thay thuốc, nhưng cũng không được để kỹ thuật làm họ quên linh hồn. Có khi sứ mạng là giải thích chậm hơn cho một người già. Có khi là không khinh một bệnh nhân nghèo. Có khi là bảo vệ sự sống khi sự sống yếu đến mức không tự bảo vệ mình. Có khi là đồng hành với gia đình khi chữa khỏi không còn là mục tiêu. Có khi là nhìn nhận giới hạn y khoa và không đóng vai thần. Đức Kitô đến không chỉ để chữa bệnh nhưng để ở với con người trong đau khổ; người Kitô hữu trong y tế cũng được mời gọi mang phẩm chất hiện diện ấy.
Chính quyền và đời công là cánh đồng. Nói giáo dân là môn đệ thừa sai giữa đời nhưng bảo họ tránh chính trị là một mâu thuẫn nếu chính trị được hiểu theo nghĩa rộng là chăm sóc công ích. Không phải ai cũng vào đảng, không phải ai cũng ứng cử, nhưng mọi người đều sống dưới luật, đóng thuế, bỏ phiếu, chịu hậu quả của chính sách và có trách nhiệm với xã hội. Người giáo dân làm việc trong chính quyền đối diện những thử thách rất cụ thể: quyền lực, phe nhóm, lợi ích, áp lực, thỏa hiệp. Họ không được biến đức tin thành khẩu hiệu vận động, nhưng cũng không thể để đức tin ở ngoài cửa phòng làm việc. Đức tin phải hình thành lương tâm họ về nhân phẩm, sự thật, công ích, liên đới, bổ trợ, người yếu, người chưa sinh, người già, người di dân, người nghèo, môi trường, hòa bình. Một lá phiếu có thể là hành vi lương tâm. Một chữ ký có thể là hành vi lương tâm. Một sự từ chối tham nhũng có thể mang giá của thập giá. Một quyết định bảo vệ người không có tiếng nói có thể là chứng tá Tin Mừng mạnh hơn nhiều bài phát biểu.
Làng, khu phố và cộng đồng địa phương là cánh đồng. Sứ mạng không chỉ đi xa. Có khi biên cương nằm ngay bên kia hàng rào. Người cô độc sống ba nhà phía dưới, gia đình mới chuyển đến, đứa trẻ không có ai kèm học, người già không người thăm, người nghiện bị cả xóm khinh, người khác tôn giáo mà ta chưa từng trò chuyện, đó là những “vùng ngoại biên” có địa chỉ rất gần. Một Hội Thánh quá mê các chương trình lớn có thể bỏ quên nghệ thuật làm hàng xóm. Kitô giáo sơ khai lớn lên không chỉ qua những nhà giảng thuyết nổi tiếng, nhưng qua những mạng lưới nhà cửa, bữa ăn, tình bạn, sự chăm sóc người bệnh, đón người lạ, nâng đỡ góa phụ, chia sẻ của cải, những người bình thường sống khác đủ để người chung quanh đặt câu hỏi. Cánh đồng hôm nay vẫn cần điều ấy.
Mạng là cánh đồng mới nhưng rất thật. Có người nói “đời thật” đối lập với “đời mạng”, nhưng với nhiều thế hệ, mạng là một phần của đời thật. Tình bạn hình thành ở đó, danh dự bị phá ở đó, quyết định mua sắm diễn ra ở đó, quan điểm chính trị được uốn ở đó, thân xác bị khai thác ở đó, trẻ em lớn lên ở đó, sự cô đơn được che hoặc tăng ở đó. Giáo dân môn đệ thừa sai không thể vào mạng với một lương tâm thấp hơn ngoài đời. Không thể nói lời mà nếu đứng trước mặt người khác ta không dám nói. Không thể phát tán điều chưa kiểm chứng chỉ vì hợp ý mình. Không thể nhân danh bảo vệ đức tin để dùng bạo lực lời. Không thể biến trang cá nhân thành một phiên tòa thường trực xét người khác. Không thể lấy lượt xem làm tiêu chuẩn cho chân lý. Truyền giáo trên mạng cũng không có nghĩa biến tài khoản thành bảng thông báo đạo đức liên tục. Có khi chứng tá mạnh nhất là cách ta tranh luận. Có khi là khả năng không lao vào một đám đông đang ném đá. Có khi là dám xóa một bài vì nhận ra mình sai. Có khi là tôn trọng riêng tư. Có khi là không sử dụng nỗi đau của người khác làm nội dung. Có khi là rời màn hình để đến gặp người thật. Một linh đạo giáo dân của tương lai nhất định phải có một linh đạo kỹ thuật số, nhưng linh đạo ấy phải giữ bí tích, thân xác, khuôn mặt, cộng đoàn thật và giới hạn. Nếu không, người ta sẽ tạo một kiểu Kitô hữu rất hoạt động trên mạng nhưng không ai có thể sống cùng ngoài đời.
Trong tất cả những cánh đồng ấy, ba chức vụ của Đức Kitô không biến mất nhưng mang hình thức riêng. Chức tư tế cộng đồng của giáo dân không chỉ được sống khi họ đọc sách thánh hay giúp lễ, nhưng khi họ dâng chính đời mình như lễ tế sống động: công việc trung thực, sự mệt mỏi, niềm vui, gia đình, bệnh, trách nhiệm, thất bại, hy sinh, tất cả được đưa vào hiệp lễ với hy tế Đức Kitô. Người giáo dân mang thế giới đến bàn thờ không phải bằng danh sách, nhưng bằng chính những gì họ đã sống sáu ngày. Chức ngôn sứ không chỉ là nói nhiều về giáo lý, nhưng làm chứng cho sự thật của Thiên Chúa bằng đời sống và lời thích hợp. Chức vương giả không có nghĩa giành quyền, nhưng tham dự vào vương quyền của Đức Kitô bằng việc chiến thắng tội trong mình, phục vụ người khác và làm cho các cơ cấu nhân bản hơn. Khi ba chiều ấy được sống đúng, người giáo dân không cần bắt chước thừa tác vụ có chức để thấy mình có vai trò. Họ có một cánh đồng mà nếu họ bỏ trống, không ai thay được.
Chính đây là một trong những lời mời gọi nghiêm trọng nhất dành cho hàng giáo sĩ: đừng hút hết giáo dân về phía bàn thờ rồi than rằng thế giới tục hóa. Nếu tất cả người nhiệt thành đều được đánh giá bằng số việc trong giáo xứ, ta đang vô tình dạy họ rằng nơi có giá trị nhất là bên trong cơ cấu Hội Thánh. Một bác sĩ dành ít giờ cho hội đoàn vì đang trực và chăm bệnh nhân có thể đang sống sứ mạng sâu hơn một người có mặt trong mọi cuộc họp nhưng làm nghề thiếu lương tâm. Một người mẹ không dự được nhiều hoạt động vì nuôi con nhỏ không phải Kitô hữu ít nhiệt thành. Một người làm chính sách có thể cần được giáo xứ nâng đỡ bằng cầu nguyện và đào tạo hơn là bị kéo vào thêm một ban. Một doanh nhân cần học học thuyết xã hội hơn là chỉ được hỏi đóng góp bao nhiêu. Một người trẻ làm công nghệ cần được giúp phân định luân lý nghề nghiệp, không chỉ được giao thiết kế poster giáo xứ. Mục vụ giáo dân trưởng thành phải biết sai đi. Sai đi nghĩa là tin rằng Chúa hoạt động ngoài những gì giáo sĩ kiểm soát. Sai đi nghĩa là trang bị rồi không giữ người lại để phục vụ nhu cầu nội bộ. Sai đi nghĩa là nghe họ trở về kể những câu hỏi từ thế giới, để chính Hội Thánh học cách đọc dấu chỉ thời đại.
Môn đệ thừa sai cũng không phải người thắng thế. Sứ mạng Kitô giáo không đồng nghĩa với việc chiếm lại mọi không gian, bắt xã hội nói ngôn ngữ của mình hoặc mơ một thời đại trong đó tất cả đều công khai mang nhãn Công giáo. Đức Kitô không sai môn đệ như đoàn quân chiếm lãnh thổ. Người sai họ như chiên giữa sói, như men trong bột, như muối, như ánh sáng, như hạt giống. Đó là những hình ảnh của sức mạnh nhưng là sức mạnh khác. Hạt giống phải chết. Men phải biến mất vào bột. Muối nếu đứng riêng chẳng ai ăn. Ánh sáng không la lên về chính mình; nó làm cho người ta nhìn thấy. Cám dỗ quyền lực luôn theo sát mọi sứ mạng. Giáo dân bước vào chính trị có thể dùng đức tin để tạo phe. Giáo dân bước vào truyền thông có thể dùng đạo để kiếm ảnh hưởng. Giáo dân có tiền có thể dùng việc tài trợ để mua tiếng nói trong Hội Thánh. Giáo dân hoạt động có thể nghĩ mình đại diện cho toàn thể. Vì thế, căn tính môn đệ luôn phải đi trước căn tính người ảnh hưởng. Trước khi thay đổi thế giới, người Kitô hữu phải để Đức Kitô thay đổi mình, và việc ấy không bao giờ hoàn tất.
Sứ mạng cũng phải đi qua thất bại. Có những môi trường người giáo dân sống trung thực mà không được thưởng. Có người mất cơ hội vì không đi đường tắt. Có người bị xem là ngây thơ vì tha thứ. Có người nuôi con trong đức tin rồi con vẫn bỏ nhà thờ. Có người làm việc cho công ích nhưng cơ cấu thay đổi rất chậm. Có người âm thầm phục vụ cả đời không thấy kết quả. Nếu linh đạo thừa sai dựa trên thành công nhìn thấy, người ta sẽ sớm hoặc kiêu ngạo hoặc tuyệt vọng. Đức Kitô đã sống sứ mạng đi qua thập giá. Hạt giống Nước Trời có nhịp của nó. Người gieo không sở hữu mùa gặt. Có khi người này gieo, người khác gặt. Có khi hoa trái xuất hiện sau khi người gieo đã chết. Một người giáo dân trung tín cần học sự tự do ấy: làm điều đúng vì nó đúng trước mặt Chúa, không vì chắc chắn sẽ thắng. Hy vọng Kitô giáo không phải dự báo lạc quan. Nó là niềm tin rằng Thiên Chúa đang làm việc sâu hơn những gì ta đo được.
Ở chiều ngược lại, thất bại không được dùng để thần thánh hóa sự bất tài. “Phó thác” không phải cái cớ để làm việc cẩu thả. Người giáo dân thừa sai phải giỏi nghề. Đây là một đòi hỏi thần học, không chỉ nghề nghiệp. Nếu sứ mạng của họ nằm trong các thực tại trần thế, thì sự thiếu năng lực làm tổn thương chứng tá. Bác sĩ Công giáo phải là bác sĩ tốt. Giáo viên Công giáo phải biết dạy. Kỹ sư Công giáo phải làm đúng kỹ thuật. Luật sư Công giáo phải hiểu luật. Người làm truyền thông Công giáo phải hiểu truyền thông. Một lòng đạo đức không thể thay thế chuyên môn. Ta không phục vụ Thiên Chúa bằng cách làm dở điều mình có bổn phận làm tốt. Thánh hóa nghề không phải thêm kinh trước khi làm một công việc cẩu thả. Thánh hóa nghề trước hết là làm nghề thật tốt, thật công chính, thật nhân bản, rồi dâng tất cả cho Chúa. Đây là nơi linh đạo gặp sự chuyên nghiệp. Hai điều không chống nhau. Cần mẫn, đúng giờ, học hỏi, cập nhật, chịu trách nhiệm, nhận lỗi, cải tiến, tất cả có thể trở thành chất liệu của sự thánh thiện.
Môn đệ thừa sai giữa đời cũng cần cộng đoàn. “Giữa đời” không có nghĩa một mình. Giáo dân rất dễ cô độc khi sống các đòi hỏi Tin Mừng trong môi trường nghề nghiệp. Một mình chống lại văn hóa gian dối lâu ngày rất mệt. Một người trẻ cố sống khiết tịnh giữa một môi trường coi mọi giới hạn là lạc hậu cần bạn đức tin. Một doanh nhân muốn giữ công bằng cần nơi để phân định những vấn đề phức tạp không thể giải bằng vài khẩu hiệu. Một người làm chính trị cần cộng đoàn không tâng bốc họ khi có quyền và không bỏ họ khi thất thế. Một bác sĩ đối diện câu hỏi sinh tử cần sự nâng đỡ thiêng liêng. Giáo xứ tương lai nếu muốn phục vụ sứ mạng giáo dân phải không chỉ tổ chức việc bên trong mà tạo những không gian để người giáo dân mang đời thật của họ vào phân định dưới ánh sáng Tin Mừng. Họ cần được hỏi: tuần này anh chị đang đối diện điều gì ở chỗ làm? Có quyết định nào đang làm lương tâm khó chịu? Gia đình đang ở đâu? Công nghệ đang làm gì với con cái? Đồng tiền đang gây áp lực thế nào? Có người nghèo nào đang trở thành vô hình trước mắt ta? Đó không phải “chuyện đời” bên ngoài linh đạo. Đó chính là nội dung của linh đạo giáo dân.
Cần một thế hệ linh mục hiểu điều ấy. Chủng viện không thể chỉ đào tạo linh mục biết chăm người giáo dân khi họ ở trong nhà thờ. Linh mục cần hiểu người giáo dân phần lớn thời gian sống ở ngoài nơi mình nhìn thấy. Người mục tử phải tò mò thánh thiện về đời của đoàn chiên: không để kiểm soát, nhưng để hiểu. Người giáo dân hôm nay đang đối diện những gì trong doanh nghiệp, trường học, mạng, gia đình, văn hóa? Họ đang bị ép thỏa hiệp ở đâu? Họ đang cần một nguyên tắc thần học nào để phân định? Họ đang có đoàn sủng nào mà Hội Thánh chưa nhận ra? Một linh mục chỉ biết đời giáo xứ rất dễ đưa ra lời khuyên không thực tế. Khiêm nhường hỏi người giáo dân không làm giảm chức linh mục. Trái lại, đó là cách mục tử lắng nghe kinh nghiệm của Dân Thiên Chúa. Giáo sĩ mang một tri thức và ân sủng riêng; giáo dân cũng mang một tri thức của thực tại mà chính việc sống trong đó cho họ. Hai phía cần nhau.
Chân trời môn đệ thừa sai cũng là chân trời của một Hội Thánh bớt tự quy chiếu. Nếu mọi chương trình đều nhằm giữ người trong cơ cấu, tăng số người tham dự nội bộ, làm cộng đoàn mình đông hơn mà không giúp người đã có trở thành chứng nhân giữa đời, Hội Thánh có thể rất bận nhưng chưa chắc đang truyền giáo. Một giáo xứ truyền giáo không chỉ hỏi có bao nhiêu người đến, mà còn hỏi những người rời Thánh lễ đi đâu và họ sống thế nào. Họ có trở thành người công chính hơn trong nghề không? Gia đình họ có biết tha thứ hơn không? Họ có biết nói thật hơn không? Họ có biết bênh người yếu hơn không? Họ có tham gia công ích không? Họ có sống mạng xã hội có trách nhiệm không? Họ có nhìn người nghèo như anh chị em không? Nếu sau nhiều năm mục vụ, người tín hữu vẫn chia đời thành “việc đạo” và “việc đời”, thì việc đào tạo chưa chạm đến căn tính.
Trong viễn tượng ấy, truyền giáo không còn là một ban trong giáo xứ. Nó là cách toàn thể Hội Thánh hiện hữu. Mỗi ơn gọi có cách tham dự riêng. Linh mục truyền giáo bằng Lời, bí tích, mục vụ, quy tụ và sai đi. Tu sĩ truyền giáo bằng đoàn sủng, đời tận hiến, phục vụ, chứng tá cánh chung. Giáo dân truyền giáo bằng sự hiện diện từ bên trong đời trần thế. Không ai thay ai. Không ai thấp hơn vì không làm điều của người khác. Sự trưởng thành của Hội Thánh không phải là xóa khác biệt mà là làm cho các khác biệt thành hiệp thông để cùng sứ mạng.
Khi trở về lịch sử Hội Thánh, ta cũng nhận ra rằng “linh đạo giáo dân” không phải một phát minh muộn. Có thể từ ngữ hiện đại, việc hệ thống hóa thần học rõ hơn sau Công đồng Vaticanô II, nhưng thực tại đã có ngay từ đầu. Nazareth đã có trước mọi trường phái tu đức. Ba mươi năm ẩn dật của Đức Giêsu không phải phần chờ đợi vô nghĩa trước ba năm “sứ vụ thật”. Con Thiên Chúa đã cứu độ bằng việc nhận lấy toàn bộ đời người. Người lớn lên trong một gia đình, lao động, dự lễ, đi đường, ăn uống, sống giữa làng xóm. Nazareth nói rằng đời thường có thể mang Thiên Chúa. Nazareth phá tan quan niệm chỉ những gì phi thường mới thánh. Nếu Ngôi Lời đã sống phần lớn đời trần thế trong sự bình thường, thì bình thường không thể là vùng bị loại khỏi ơn cứu độ.
Rồi đến nhà của Priscilla và Aquila. Hai cái tên ấy mở một cửa sổ rất đẹp vào Hội Thánh sơ khai. Họ là một đôi vợ chồng, có nghề, di chuyển vì biến động lịch sử, mở nhà, cộng tác với Phaolô, giúp Apollô hiểu đường lối Thiên Chúa chính xác hơn. Không thấy họ được mô tả như những người rời đời sống giáo dân để trở thành một thứ giáo sĩ thay thế. Chính nhà, nghề, quan hệ và khả năng đón tiếp của họ trở thành cơ sở sứ mạng. Hội Thánh đã đi qua những ngôi nhà như thế. Không phải mọi cộng đoàn sơ khai đều có một cơ sở lớn. Có những bàn ăn trở thành nơi hiệp thông. Có những căn nhà trở thành nhà thờ. Có những mạng lưới nghề nghiệp và thân hữu trở thành đường Tin Mừng đi. Sứ mạng đã được dệt vào đời sống.
Rồi biết bao tín hữu không tên. Lịch sử thường nhớ những giám mục, nhà thần học, tử đạo nổi tiếng, hoàng đế và công đồng. Nhưng một tôn giáo không thể đi từ một nhóm nhỏ ở Palestine đến khắp đế quốc chỉ bằng các nhân vật nổi tiếng. Phải có vô số người không được sử sách ghi tên: nô lệ, thương gia, bà mẹ, người lính, thợ thủ công, góa phụ, người trẻ, gia đình, người phục vụ, người đi đường, những tín hữu đã nói về Đức Kitô trong bếp, nơi chợ, trên tàu, trong quân ngũ, trong nhà. Họ đã thánh hóa đế quốc không trước hết bằng diễn từ lớn nhưng bằng những đời sống có một phẩm chất lạ: cách họ chăm người bệnh, cách họ không bỏ trẻ sơ sinh, cách họ gọi nhau là anh chị em vượt tầng lớp, cách họ chịu chết mà không nguyền rủa, cách họ đặt Chúa trên hoàng đế nhưng vẫn sống có trách nhiệm xã hội. Đó là linh đạo giáo dân trước khi có sách về linh đạo giáo dân.
Các thế kỷ sau cũng đầy những chứng nhân như thế, dù đôi khi thần học và mục vụ không gọi đúng tên. Những người cha người mẹ truyền đức tin qua thời bách hại. Những người thợ lập hội tương trợ. Những vua quan cố sống công chính. Những bác sĩ, học giả, nghệ sĩ, nhà giáo, người lao động, các thành viên huynh đoàn, những người làm việc bác ái. Lịch sử thánh thiện không bao giờ chỉ là lịch sử tu viện và hàng giáo sĩ. Nếu ta chỉ đọc lịch sử Hội Thánh qua những người có chức vụ, ta sẽ bỏ mất phần lớn Hội Thánh đã thực sự sống ở đâu.
Vì thế, “trường phái linh đạo giáo dân” nếu phải dùng từ ấy không phải một trường phái cạnh tranh với Biển Đức, Đa Minh, Phanxicô, Cát Minh, Inhã hay Chúa Cứu Thế. Các linh đạo ấy là kho tàng của toàn thể Hội Thánh và giáo dân có thể được nuôi dưỡng từ đó theo ơn gọi mình. Nhưng linh đạo giáo dân có một nét nền tảng rộng hơn một trường phái: đó là sự thánh thiện của người đã chịu phép Rửa được sống trong tính chất trần thế. Nó không có một tu phục chung, vì đồng phục của nó là quần áo đời thường. Nó không có một tu viện chung, vì đan viện của nó có thể là căn hộ, văn phòng, lớp học, xưởng, ruộng, bệnh viện. Nó không có một thời khóa biểu duy nhất, vì nhịp sống mỗi bậc khác nhau. Nó không có một nghề riêng, vì mọi nghề lương thiện đều có thể trở thành cánh đồng. Nhưng nó có một trung tâm: Đức Kitô. Có một nguồn: Rửa tội. Có một bàn tiệc: Thánh Thể. Có một Thần Khí. Có một Lời. Có một Hội Thánh. Có một luật: yêu mến Thiên Chúa và tha nhân. Có một cùng đích: sự thánh thiện và Nước Thiên Chúa.
Một linh đạo như thế đòi sự trưởng thành. Giáo dân môn đệ thừa sai không thể mãi chờ người khác quyết định mọi chuyện thiêng liêng thay mình. Họ cần một lương tâm được đào tạo, chứ không phải một lương tâm tự chế. Cần học giáo huấn Hội Thánh, nhưng không theo kiểu nhớ câu để thắng tranh luận. Cần biết Kinh Thánh để Lời uốn cách nhìn. Cần biết học thuyết xã hội để không ứng xử chính trị và kinh tế theo cảm tính. Cần biết cầu nguyện để không bị thế giới kéo thành mảnh vụn. Cần biết phân định vì phần lớn quyết định đời họ không có một điều luật nhỏ sẵn cho từng trường hợp. Cần biết xin lời khuyên nhưng cũng biết chịu trách nhiệm. Trưởng thành không có nghĩa độc lập khỏi Hội Thánh. Nó là thuộc về Hội Thánh đến mức có thể đứng bằng đôi chân của một người con trưởng thành.
Người môn đệ thừa sai còn cần một sự tự do sâu. Không phải tự do làm gì cũng được, nhưng tự do khỏi việc bị tất cả những gì quanh mình sở hữu. Tự do khỏi tiền dù có tiền. Tự do khỏi quyền dù đang giữ quyền. Tự do khỏi danh dù có ảnh hưởng. Tự do khỏi nỗi sợ bị loại trừ. Tự do khỏi việc phải thắng tranh luận. Tự do khỏi nhu cầu được khen là đạo đức. Tự do khỏi ý tưởng mình cứu thế giới. Sự tự do ấy đến từ việc biết mình thuộc về Đức Kitô. Ai biết mình thuộc về Người có thể bước vào rất sâu trong thế giới mà không cần để thế giới quyết định giá trị mình.
Điều này đặc biệt quan trọng trong thời đại người ta liên tục được định nghĩa bằng nghề, thu nhập, thành công, ngoại hình, quan điểm và sự hiện diện số. Một người mất việc thấy như mất chính mình. Một người bị công kích trên mạng thấy như cả căn tính sụp. Một người thất bại trong sự nghiệp nghĩ đời vô nghĩa. Một người không có chức vụ trong Hội Thánh thấy mình không quan trọng. Rửa tội nói một lời sâu hơn: trước khi anh thành công hay thất bại, trước khi ai biết tên anh hay không, anh đã được gọi tên trong Đức Kitô. Căn tính ấy làm nền cho sứ mạng. Ta không truyền giáo để chứng minh mình có giá trị. Ta truyền giáo vì đã được yêu.
Và vì đã được yêu, người môn đệ thừa sai có thể yêu thế giới mà không ảo tưởng về nó. Linh đạo giáo dân không bi quan đến mức coi trần thế toàn tội, nhưng cũng không lạc quan ngây thơ. Thế giới có vẻ đẹp thật vì là tạo thành. Nó cũng bị tội làm méo. Trong mỗi cơ cấu có khả năng phục vụ và khả năng trở thành ngẫu tượng. Thị trường có thể sáng tạo của cải và cũng có thể nuốt con người. Nhà nước có thể bảo vệ công ích và cũng có thể lạm quyền. Công nghệ có thể kết nối và cũng có thể thao túng. Gia đình có thể là nơi yêu thương và cũng có thể là nơi bạo lực. Tôn giáo có thể dẫn về Chúa và cũng có thể bị dùng để kiểm soát. Người giáo dân phải có đôi mắt Vượt Qua: nhìn sự thiện để hợp tác, nhìn sự dữ để chống, nhìn đau khổ mà không tuyệt vọng, nhìn mầm sống mới dù còn nhỏ.
Sứ mạng giữa đời không phải lúc nào cũng “làm thêm”. Nhiều giáo dân đã quá tải. Nói với họ hãy thêm mười hoạt động nữa không phải Tin Mừng. Nhiều khi sứ mạng là sống khác trong điều đang làm. Không thêm một cuộc họp, nhưng thay cách mình họp. Không thêm một chương trình, nhưng thay cách mình đối xử nhân viên. Không thêm một bài đăng đạo, nhưng thay cách mình nói trên mạng. Không thêm một giờ hoạt động, nhưng dành mười phút thật cho con. Không thêm nhiều kinh đến mức vỡ lịch, nhưng có một khoảng trung thành mỗi ngày để quay mặt về Chúa. Không phải lúc nào Thiên Chúa cũng gọi ta ra khỏi lịch đời; rất nhiều lần Người gọi ta đưa Tin Mừng vào lịch ấy.
Điều này giúp giải phóng người giáo dân khỏi mặc cảm. Một người không có nhiều thời gian cho hoạt động giáo xứ vì đang nuôi con nhỏ có thể đang sống một mùa sứ mạng rất thật. Một người chăm cha mẹ bệnh không phải đang “tạm nghỉ việc Chúa”. Một người học hành nghiêm túc để trở thành bác sĩ tốt không phải đang xa linh đạo. Một người làm việc để trả nợ gia đình không phải ở ngoài thánh ý. Vấn đề không phải việc ấy có vẻ “đạo” hay không; vấn đề là nó có được sống trong Đức Kitô, trong công chính và yêu thương hay không. Đồng thời, sự giải phóng này không phải giấy phép cho nguội lạnh. Không thể nói gia đình là sứ mạng để rồi bỏ Thánh lễ. Không thể nói làm việc là cầu nguyện để không cầu nguyện. Không thể nói nghề là ơn gọi để biện minh cho tham vọng. Mọi điều phải trở về tiêu chuẩn: tôi có đang thuộc về Đức Kitô sâu hơn không, có yêu người thật hơn không, có công chính hơn không, có tự do hơn với tội không?
Chân trời cũng là một Hội Thánh biết tin tưởng giáo dân. Tin tưởng không phải trao mọi quyền cho mọi người. Tin tưởng là nhìn nhận ân sủng Rửa tội là thật. Có khi ta nói nhiều về phẩm giá giáo dân nhưng cách tổ chức lại truyền một thông điệp ngược: chỉ những gì được giáo sĩ kiểm soát mới đáng tin. Một Hội Thánh truyền giáo phải học phân quyền đúng, giao trách nhiệm, lắng nghe chuyên môn, để đoàn sủng được nhận ra, sửa sai khi cần nhưng không bóp nghẹt sáng kiến. Giáo dân cũng phải trưởng thành để xứng với sự tin tưởng: không dùng “đồng trách nhiệm” làm cớ đòi quyền; không lấy chuyên môn trần thế để khinh thần học; không lấy kinh nghiệm để vượt giáo huấn; không lập phe. Hiệp thông luôn cần hoán cải từ cả hai phía.
Có lẽ một trong những hình ảnh đẹp nhất để kết thúc hành trình này là hình ảnh người Kitô hữu bước ra khỏi Thánh lễ sáng Chúa Nhật. Họ vừa nghe Lời. Họ vừa tuyên xưng đức tin. Họ vừa cầu nguyện cùng toàn thể Hội Thánh. Họ vừa nhận lấy Mình Đức Kitô. Rồi họ đi xuống bậc thềm nhà thờ. Trước mặt họ là tuần lễ. Một người về mở cửa hàng. Một người về nấu cơm. Một người vào bệnh viện trực. Một người học bài. Một người lái xe. Một người chuẩn bị cuộc họp. Một người chăm người bệnh. Một người đối diện một cuộc hôn nhân khó. Một người mang theo một quyết định lương tâm. Một người mở điện thoại và bước vào không gian số. Một người đi đến cơ quan nhà nước. Một người trở về ngôi làng nhỏ. Cùng một Thánh Thể được phân tán vào ngàn nẻo. Đó là Hội Thánh được sai đi. Nếu chỉ nhìn vào nhà thờ đã vắng sau lễ, ta tưởng cộng đoàn tan. Thật ra cộng đoàn đang được gieo vào thế giới.
Và có lẽ đây là điều cần nói cuối cùng với người giáo dân: đừng chờ một đời khác để nên thánh. Đừng chờ công việc bớt bận. Đừng chờ gia đình hết vấn đề. Đừng chờ có một phòng cầu nguyện đẹp. Đừng chờ biết đủ thần học. Đừng chờ giáo xứ giao một chức. Đừng chờ mình cảm thấy xứng đáng. Chúa gọi trong chính đời đang có. Người gọi từ Nazareth. Người gọi ngư phủ bên hồ. Người gọi Mátthêu tại bàn thu thuế. Người bước vào nhà Dakêu. Người ăn tại Cana. Người nói với người phụ nữ bên giếng trong một cuộc gặp rất đời thường. Người sai người được chữa lành trở về nhà kể điều Thiên Chúa đã làm. Tin Mừng luôn đi vào đời trước khi đời được sắp xếp hoàn hảo.
Đừng nghĩ rằng phải làm điều lớn mới là thừa sai. Có thể sứ mạng của anh hôm nay là giữ một lời hứa. Có thể là không ký một điều sai. Có thể là xin lỗi vợ. Có thể là nghe con. Có thể là trả công công bằng. Có thể là dừng một tin giả trước khi nó lan. Có thể là thăm một người già. Có thể là học nghiêm túc. Có thể là cầu nguyện năm phút giữa ngày. Có thể là từ chối một lợi nhuận bất chính. Có thể là đứng bên một người bị cả nhóm loại trừ. Có thể là nói về Chúa khi người khác thật sự muốn nghe. Có thể là im khi một lời nữa chỉ làm đau. Những việc nhỏ ấy không nhỏ khi được đặt vào tình yêu Đức Kitô.
Đừng nghĩ rằng sự bình thường là dấu hiệu anh chưa tìm thấy ơn gọi. Có thể sự bình thường chính là hình thức của ơn gọi. Nazareth đã dạy điều ấy. Phần lớn đời Đức Giêsu không được các sách Tin Mừng kể chi tiết. Nhưng chính sự im lặng ấy nói rất nhiều: Thiên Chúa không khinh những năm tháng không ai biết. Không có đời nào vô danh trước mặt Người. Không có công việc lương thiện nào quá thấp để được thánh hóa. Không có căn bếp nào quá nhỏ để có thể là nơi đức ái thành thịt. Không có văn phòng nào quá trần tục để lương tâm không thể làm chứng. Không có khu phố nào quá bình thường để không cần một người mang bình an.
Đừng nghĩ rằng thế giới đã quá tục hóa để Tin Mừng còn có chỗ. Có thể chính vì thế giới đang sống như thể Thiên Chúa không có mà những chứng nhân sống như thể Người thật sự có lại càng cần. Không phải chứng nhân nóng nảy, không phải người dùng Chúa như vũ khí, nhưng người có một phẩm chất sống khác: tự do hơn trước tiền, trung tín hơn trong tương quan, thật hơn trong lời, nhân hậu hơn với người yếu, can đảm hơn trước bất công, khiêm nhường hơn khi sai, vui hơn trong hy vọng. Một đời như thế làm người khác đặt câu hỏi.
Đừng nghĩ rằng Hội Thánh chỉ ở nơi có tháp chuông. Khi một giáo dân mang Đức Kitô vào nơi làm việc, Hội Thánh đang ở đó. Khi một gia đình cầu nguyện, tha thứ và đón người lạ, Hội Thánh đang ở đó. Khi một người trẻ sống sự thật trong môi trường số, Hội Thánh đang ở đó. Khi một người làm chính sách đặt người nghèo vào trung tâm quyết định, Hội Thánh đang ở đó. Khi một doanh nhân từ chối biến nhân viên thành công cụ, Hội Thánh đang ở đó. Không phải theo nghĩa mọi hành vi cá nhân tự động đại diện chính thức cho Hội Thánh, nhưng theo nghĩa thân thể Đức Kitô sống qua các chi thể của mình.
Và đừng nghĩ rằng mình đi một mình. Mọi môn đệ thừa sai đều đi trong một đoàn người rất lớn. Đi cùng Abraham đã rời quê mà không biết hết đường. Đi cùng Maria đã thưa fiat mà chưa hiểu hết điều sẽ đến. Đi cùng Giuse đã thánh hóa lao động và trách nhiệm bằng thinh lặng. Đi cùng Priscilla và Aquila đã mở nhà và nghề cho Tin Mừng. Đi cùng những người tử đạo vô danh. Đi cùng những cha mẹ đã truyền đức tin dưới bách hại. Đi cùng những người lao động đã giữ lương tâm. Đi cùng những người trí thức đã yêu sự thật. Đi cùng những tín hữu đã chăm người bệnh trong những đại dịch, cứu người trong chiến tranh, nuôi người nghèo trong khủng hoảng. Lịch sử Hội Thánh đầy những người không có tượng nhưng đã làm Tin Mừng có nơi ở.
Chân trời cuối cùng không phải một chiến lược mục vụ. Chân trời cuối cùng là Nước Thiên Chúa. Người giáo dân sống và làm việc trong những thực tại sẽ qua đi, nhưng bằng tình yêu họ có thể làm cho những thực tại ấy mang dấu của điều không qua đi. Một hợp đồng rồi sẽ hết hạn, nhưng sự công chính sống trong đó thuộc về Nước. Một bữa cơm sẽ qua, nhưng tình yêu chăm sóc trong đó thuộc về Nước. Một nhiệm kỳ sẽ kết thúc, nhưng công ích được phục vụ thuộc về Nước. Một đời nghề nghiệp sẽ chấm dứt, nhưng người đã được tôn trọng qua công việc ấy không mất trước mặt Chúa. Một bài đăng sẽ trôi khỏi màn hình, nhưng lời sự thật và bác ái có thể để lại điều gì đó trong một người. Đây là cách vĩnh cửu đi qua thời gian.
Vậy hành trình đi tìm linh đạo giáo dân kết thúc ở đâu? Không kết thúc trong một định nghĩa. Nó kết thúc ở một cánh cửa mở. Sau khi đã đọc, phải bước ra. Sau khi hiểu phẩm giá Rửa tội, phải sống như người đã được rửa. Sau khi hiểu tính chất trần thế, phải trở lại thế giới với đôi mắt mới. Sau khi hiểu ba chức vụ, phải dâng đời, nói thật và phục vụ. Sau khi hiểu hiệp thông, phải thôi sống đạo một mình. Sau khi hiểu sứ mạng, phải nhận nơi mình đang đứng như một cánh đồng. Sau khi hiểu nên thánh giữa đời, phải thôi mơ một hoàn cảnh khác mới bắt đầu.
Không cần phát minh một trường phái thiêng liêng mới để giáo dân có chỗ đứng. Trường đã mở từ Nazareth. Bài học đầu tiên là Nhập thể: Thiên Chúa vào đời. Bài học thứ hai là Vượt Qua: tình yêu đi qua thập giá. Bài học thứ ba là Phục Sinh: không thất bại nào có tiếng cuối. Bài học thứ tư là Hiện Xuống: Thánh Thần sai người ra nhiều ngôn ngữ và nhiều dân tộc. Bài học thứ năm là Hội Thánh sơ khai: nhà cửa, bàn ăn, nghề nghiệp, đường sá trở thành mạng lưới của Tin Mừng. Bài học cuối cùng chưa học xong: thế giới hôm nay đang chờ những người đã chịu phép Rửa sống thật điều họ là.
Không phải “giáo dân lên cấp”, nhưng giáo dân thức tỉnh. Không phải bỏ tính trần thế, nhưng nhận ra tính trần thế là nơi được sai vào. Không phải giành phần của người khác, nhưng sống trọn phần mình. Không phải chạy khỏi thế giới, cũng không bị thế giới nuốt. Không phải biến mọi sự thành nhà thờ, nhưng để mọi sự được ánh sáng Nước Chúa soi đến. Không phải hoạt động điên cuồng, nhưng ở lại trong Đức Kitô và từ đó sinh hoa trái. Không phải thành người nổi tiếng vì đạo, nhưng thành người đáng tin vì thuộc về Chúa.
Ngày mai, người giáo dân vẫn thức dậy như mọi ngày. Chuông báo thức vẫn reo. Trẻ vẫn phải đi học. Hóa đơn vẫn phải trả. Công việc vẫn có áp lực. Kẹt xe vẫn còn. Tin nhắn vẫn đến. Cuộc họp vẫn có người khó chịu. Người bệnh vẫn cần chăm. Xã hội vẫn lẫn lộn sáng và tối. Không có nhạc nền thiêng liêng chạy suốt ngày. Nhưng nếu người ấy thức dậy với ý thức rằng mình đã chịu phép Rửa, đã thuộc về Đức Kitô, đã được sai vào chính ngày hôm nay, thì cùng một ngày cũ có thể trở thành một cánh đồng mới. Đó là chân trời.
Người môn đệ thừa sai giữa đời không hỏi mãi: “Tôi có thể làm gì trong Hội Thánh?” Họ còn hỏi một câu rộng hơn: “Hội Thánh, qua tôi, được Chúa sai đến đâu hôm nay?” Có thể câu trả lời là căn nhà. Có thể là chợ. Có thể là trường. Có thể là bệnh viện. Có thể là mạng. Có thể là chính quyền. Có thể là làng. Có thể là một nơi chưa ai nghĩ là đất truyền giáo.
Và ở đó, không cần ồn ào, người môn đệ bắt đầu.
Bằng một đời thuộc về Đức Kitô.
Bằng một đời ở giữa trần thế.
Bằng một đời trở thành Tin Mừng có thể nhìn thấy.
KẾT LUẬN
Nên thánh không cần rời thế giới
Người giáo dân là ai trong lòng Hội Thánh? Là Kitô hữu được tháp vào Đức Kitô, được xây vào Dân, được tham dự ba chức vụ của Chúa theo cách thức mình, được sai vào giữa lòng thế giới. Không còn cần định nghĩa bằng “không phải”. Cần sống bằng “được gọi”.
Ba nền tảng giữ cho linh đạo khỏi lệch. Kitô học giữ khỏi đạo đức không Chúa Kitô. Giáo hội học giữ khỏi Kitô hữu đơn độc hoặc giáo dân lập hội thánh riêng. Sứ mạng trần thế giữ khỏi một đức tin chỉ còn trong nhà thờ.
Giữa thế giới tục hóa, đa nguyên, toàn cầu hóa, con đường thiêng liêng thực sự của giáo dân không phải rút lui, không phải hòa tan. Là ở lại trong Đức Kitô và ở lại trong đời. Cầu nguyện vừa sức đời thường. Phân định lương tâm. Nhân đức dài hạn. Bí tích như nguồn. Gia đình và lao động như bàn thờ. Người nghèo như chỗ Đức Kitô đợi. Mạng và chợ như cánh đồng.
Trung thành căn tính. Mở chân trời mới. Men ở trong bột. Hội Thánh chỉ đầy khi giáo dân không còn bị kể như phần còn lại — và khi chính họ không còn sống như phần còn lại.
Lm. Anmai, CSsR
PHỤ LỤC A. Những văn kiện nền
Lumen Gentium, đặc biệt chương II, IV, V.
Gaudium et Spes — Hội Thánh trong thế giới hôm nay.
Apostolicam Actuositatem — Tông đồ giáo dân.
Christifideles Laici — ơn gọi và sứ mạng giáo dân.
Familiaris Consortio, Amoris Laetitia — gia đình.
Laborem Exercens — lao động.
Gaudete et Exsultate — nên thánh hôm nay.
Evangelii Gaudium — môn đệ thừa sai.
Laudato Si’, Fratelli Tutti — ngôi nhà chung và tình huynh đệ.
PHỤ LỤC B. Câu hỏi phân định cho người giáo dân
Tôi đang định nghĩa mình bằng điều tôi không phải, hay bằng ơn Rửa tội?
Đời sống thiêng liêng của tôi có Lời, Thánh Thể, Hòa giải — hay chỉ có hội?
Nghề tôi đang làm có chỗ cho sự thật và người bé nhỏ không?
Gia đình tôi là nơi cầu nguyện vụng nhưng thật, hay chỉ là trạm nghỉ giữa các hoạt động đạo?
Tôi đang bị giáo xứ nuốt khỏi trần thế, hay bị trần thế nuốt khỏi Hội Thánh?
Trên mạng tôi là nhân chứng hay là tiếng ồn?
Người nghèo có tên trong tuần của tôi không?
Tôi có để mình được đào tạo, hay chỉ được dùng?
PHỤ LỤC C. Gợi ý mục vụ cho linh mục và giáo xứ
Giảng về ơn gọi giáo dân ít nhất thành một loạt, không chỉ lễ bổn mạng hội đoàn.
Hỏi giáo dân về nghề họ trước khi xếp họ vào ban.
Không đo “sốt sắng” chỉ bằng giờ có mặt tại nhà xứ.
Mở linh hướng với lịch đời thường, không chỉ lịch kinh.
Đào tạo học thuyết xã hội cho ban hành giáo và người trẻ.
Trả Chúa Nhật cho gia đình: đừng chất họp sau lễ như mặc định.
Nhìn người thất nghiệp, người di dân, người không vào hội như chủ thể linh đạo, không như đối tượng.
Lm. Anmai, CSsR
