NGƯỜI PHẢI LỚN LÊN, TÔI PHẢI NHỎ LẠI – CHỨNG NHÂN KITÔ GIÁO TRONG MỘT THẾ GIỚI MUỐN ĐƯỢC NHÌN THẤY – Lm. Anmai, CSsR
Làm một chứng nhân có nghĩa là gì? Có lẽ trong đời sống Kitô hữu, chúng ta đã nghe hai chữ “làm chứng” quá nhiều đến độ đôi khi không còn cảm nhận được sức nặng của nó. Người ta nói làm chứng cho Tin Mừng, làm chứng cho Đức Kitô, làm chứng cho đức tin, làm chứng giữa đời, làm chứng trên mạng xã hội, làm chứng bằng lời nói, làm chứng bằng đời sống. Nhưng nếu chỉ hiểu làm chứng là kể cho người khác điều mình biết về Chúa, đăng một câu Lời Chúa, chia sẻ một suy niệm, nói vài điều đạo đức, bảo vệ một chân lý hay xuất hiện công khai với căn tính Kitô hữu, thì có lẽ chúng ta mới chỉ chạm đến lớp ngoài cùng của chứng tá. Chứng nhân theo nghĩa sâu xa của Tin Mừng không chỉ là một người “nói về” Đức Kitô, nhưng là một con người để chính Đức Kitô được nhìn thấy qua đời mình. Không chỉ là người chuyển tải một thông điệp, nhưng là người để thông điệp ấy đi xuyên qua thân xác, thời giờ, lựa chọn, tương quan, mất mát, hy sinh, nước mắt, danh dự, tương lai và cả mạng sống của mình. Chính vì thế, từ “chứng nhân” trong truyền thống Hy Lạp của Tân Ước gắn với từ martys, là từ về sau mang nghĩa “tử đạo”. Điều đó không phải ngẫu nhiên. Bởi chứng tá Kitô giáo, khi được sống đến tận cùng, luôn mang một hình dáng của sự tự hiến. Người chứng nhân đích thực không chỉ nói: “Tôi tin Đức Kitô”, nhưng bằng chính đời sống mình, họ nói: “Đức Kitô quý hơn tôi; chân lý của Người quý hơn sự an toàn của tôi; tình yêu của Người quý hơn mạng sống tôi; Nước của Người lớn hơn cái tôi của tôi.” Và vì thế, các vị tử đạo trở thành những chứng nhân có sức ảnh hưởng sâu xa nhất trong lịch sử Kitô giáo không phải vì các ngài có chiến lược truyền thông tốt, không phải vì các ngài sở hữu một đám đông người theo dõi, không phải vì các ngài biết cách xây dựng hình ảnh, không phải vì tên tuổi các ngài được lặp đi lặp lại trên các phương tiện truyền thông, nhưng bởi vì nơi các ngài, lời nói và đời sống đã trở thành một. Các ngài không còn khoảng cách giữa điều mình tin và điều mình sống. Các ngài không rao giảng một Đức Kitô mà mình không dám chịu đau khổ vì Người. Các ngài không mời gọi người khác vác thập giá trong khi mình tìm mọi cách tránh thập giá. Các ngài không nói về sự sống đời đời như một lý thuyết, nhưng đã bước vào cái chết với một niềm tin rằng bên kia cái chết chính là Đấng các ngài yêu mến. Chính sự nhất quán ấy làm cho chứng tá của các ngài không thể bị xóa bỏ.
Thánh Phaolô đã nói một lời nghe qua tưởng như chỉ liên quan đến luân lý thân xác, nhưng thật ra mở ra một chân trời rất sâu về căn tính Kitô hữu: “Anh em không biết rằng thân xác anh em là đền thờ của Chúa Thánh Thần, Đấng ở trong anh em, Đấng mà anh em đã lãnh nhận từ Thiên Chúa sao? Anh em không còn thuộc về mình” (1 Cr 6,19). “Anh em không còn thuộc về mình” là một câu có sức lật ngược toàn bộ cách sống của con người hiện đại. Thời đại hôm nay không ngừng nói với chúng ta rằng: đời tôi là của tôi, thân xác tôi là của tôi, thời gian tôi là của tôi, tài năng tôi là của tôi, danh tiếng tôi là của tôi, trang mạng tôi là của tôi, tiếng nói tôi là của tôi, quyền lựa chọn là của tôi, tôi thích gì thì tôi làm, tôi muốn xuất hiện thế nào thì tôi xuất hiện, tôi muốn người khác nhìn mình thế nào thì tôi sẽ xây dựng hình ảnh như thế. Nhưng Tin Mừng nói với người môn đệ Đức Kitô một điều gần như hoàn toàn ngược lại: “Con không còn thuộc về con.” Không có nghĩa là con người mất tự do, nhưng chính là tự do được đưa về ý nghĩa cao nhất: tôi không còn làm nô lệ cho cái tôi nữa, bởi tôi thuộc về Đấng đã yêu tôi và hiến mạng vì tôi. Tôi không còn phải dùng đời mình để chứng minh rằng mình quan trọng. Tôi không còn phải liên tục tìm cách được chú ý. Tôi không còn phải biến tất cả những gì mình làm thành một sân khấu để bản thân đứng ở trung tâm. Tôi không còn phải coi mọi tài năng mình có như phương tiện để xây dựng thương hiệu cá nhân. Tôi đã thuộc về Chúa. Và khi một người thực sự ý thức mình thuộc về Chúa, người ấy bắt đầu có khả năng cho đi chính mình mà không quá sợ mất mình. Các vị tử đạo đã sống điều ấy ở mức độ cao nhất. Thân xác các ngài, vốn có thể được dùng để bảo vệ sự sống mình bằng bất cứ giá nào, lại trở thành một lễ vật. Miệng lưỡi các ngài, vốn có thể thốt ra một lời chối Chúa để được sống, lại chọn tuyên xưng. Đôi chân các ngài, vốn có thể chạy trốn, lại đứng vững. Hai bàn tay các ngài, vốn có thể ký vào một văn bản phản bội niềm tin, lại từ chối. Và chính thân xác bị tra tấn ấy trở thành một ngôn ngữ. Có những lúc chứng nhân không cần nói thêm lời nào, bởi những vết thương đã lên tiếng. Có những lúc chân lý không còn được chứng minh bằng lý luận, nhưng bằng một con người dám trả giá vì chân lý. Có những lúc tình yêu Thiên Chúa không được trình bày bằng những khái niệm cao siêu, nhưng được nhìn thấy nơi một người chấp nhận mất tất cả mà không thù ghét kẻ làm hại mình.
Tử đạo là đỉnh cao của chứng tá, nhưng Tin Mừng không dành việc tự hiến chỉ cho một số ít người chết vì đạo. Có một thứ “tử đạo hằng ngày” mà mọi Kitô hữu đều được mời gọi bước vào. Có thể chúng ta sẽ không bao giờ đứng trước một tòa án buộc phải chọn giữa Đức Kitô và mạng sống. Có thể chúng ta không bị bắt, không bị giam, không bị đe dọa vì đức tin. Nhưng mỗi ngày đều có những khoảnh khắc rất nhỏ trong đó chúng ta phải chọn giữa cái tôi và Tin Mừng. Khi bị xúc phạm, tôi chọn trả đũa hay tha thứ? Khi bị hiểu lầm, tôi chọn làm mọi cách để chứng minh mình đúng hay có thể bình an chấp nhận không phải ai cũng hiểu mình? Khi có cơ hội phô bày thành công, tôi chọn thu hút ánh nhìn về mình hay biết âm thầm tạ ơn Chúa? Khi một người khác được khen ngợi, tôi có vui thật hay lòng mình âm thầm khó chịu vì họ được chú ý hơn? Khi được trao quyền, tôi dùng quyền để phục vụ hay để kiểm soát? Khi viết một bài trên mạng xã hội, tôi muốn người đọc gặp được Chúa hay muốn họ nhớ tên tôi? Khi chia sẻ một câu chuyện đẹp, tôi có thực sự muốn điều tốt lan tỏa hay sâu xa tôi đang tìm thêm một bằng chứng rằng mình là người tốt? Khi một bài đăng ít lượt xem, tôi có bình an vì ít nhất nó đã giúp được một người, hay tôi cảm thấy thất bại vì không được nhiều người biết đến? Những câu hỏi ấy rất nhỏ, nhưng chính ở đó đời sống chứng nhân được hình thành. Không phải ai cũng chết một lần vì Chúa, nhưng mọi môn đệ đều phải học “chết” rất nhiều lần cho cái tôi của mình. Chết đi một chút trong nhu cầu được công nhận. Chết đi một chút trong ham muốn được thắng. Chết đi một chút trong sự tự ái. Chết đi một chút trong thói quen muốn mọi người phải nghĩ tốt về mình. Chết đi một chút trong nhu cầu phải có tiếng nói cuối cùng. Chết đi một chút trong cám dỗ dùng Tin Mừng như phương tiện để tự tôn mình lên. Những cái chết ấy không có máu, không có tiếng vỗ tay, không có tượng đài, không có ngày lễ kính, nhưng đôi khi chính chúng mới là con đường âm thầm đưa người Kitô hữu vào sự tự do nội tâm.
Đời sống Kitô hữu vì thế không phải là một dự án tự hoàn thiện để cuối cùng chúng ta trở thành phiên bản thật nổi bật của chính mình. Đời sống Kitô hữu là một tiến trình để Đức Kitô chiếm lấy đời ta ngày một nhiều hơn. Chúng ta được mời gọi dâng linh hồn và thân xác, trí tuệ và cảm xúc, sức khỏe và bệnh tật, khả năng và giới hạn, thành công và thất bại, tuổi trẻ và tuổi già, tiếng nói và cả sự thinh lặng của mình, để trở thành một không gian cho tình yêu Thiên Chúa đi qua. Người Kitô hữu không phải là chủ nhân tuyệt đối của các ân huệ mình có. Một người có khả năng giảng dạy thì tiếng nói ấy là để Chúa dùng. Một người viết hay thì ngòi bút ấy là để Chúa dùng. Một người có ảnh hưởng trên mạng xã hội thì tầm ảnh hưởng ấy là để Chúa dùng. Một người có tiền bạc thì của cải ấy là để Chúa dùng. Một người có thời gian thì thời gian ấy là để Chúa dùng. Một người đang đau bệnh thì cả đau đớn ấy cũng có thể trở thành một nơi để Chúa dùng. Một người già yếu, không còn làm được những việc lớn, vẫn có thể trở thành chứng nhân bằng sự nhẫn nại, lòng tín thác, lời cầu nguyện và cách đón nhận giới hạn. Không ai quá nhỏ để làm chứng cho Chúa, bởi chứng tá không tùy thuộc vào độ lớn của sân khấu, nhưng tùy thuộc vào mức độ chúng ta để Chúa sống trong mình.
Có lẽ trong thời đại mạng xã hội, điều này càng cần được suy nghĩ cách nghiêm túc. Chưa bao giờ con người có nhiều phương tiện để xuất hiện trước mắt người khác như hôm nay. Một người bình thường chỉ cần một chiếc điện thoại là có thể nói với hàng trăm, hàng ngàn, thậm chí hàng triệu người. Hình ảnh, suy nghĩ, quan điểm, cảm xúc, hoạt động, bữa ăn, chuyến đi, thành công, thất bại, việc đạo đức, việc bác ái, tất cả đều có thể được đưa lên trước công chúng chỉ trong vài giây. Điều đó tự nó không xấu. Các phương tiện ấy có thể phục vụ Tin Mừng, kết nối con người, nâng đỡ người đau khổ, lan tỏa điều thiện, dạy giáo lý, chia sẻ Lời Chúa, đem niềm hy vọng đến những nơi một nhà truyền giáo không thể trực tiếp đến. Nhưng cũng chính ở đây xuất hiện một cám dỗ rất tinh vi: chúng ta có thể bắt đầu từ việc muốn loan báo Chúa, rồi dần dần không nhận ra mình đang loan báo chính mình. Chúng ta có thể bắt đầu bằng thiện chí phục vụ, rồi một ngày thấy mình lệ thuộc vào những con số. Chúng ta có thể nói về Đức Kitô rất nhiều, nhưng lại âm thầm mong đợi ánh nhìn của người khác hướng về mình. Chúng ta có thể sử dụng những từ ngữ rất thiêng liêng, nhưng trong lòng lại tổn thương nặng nề nếu không được công nhận. Chúng ta có thể muốn “ảnh hưởng” người khác, nhưng quên tự hỏi ảnh hưởng ấy đang dẫn họ về đâu. Dẫn về Đức Kitô hay dẫn về người tạo nội dung? Dẫn vào đời sống cầu nguyện hay vào sự ngưỡng mộ cá nhân? Dẫn vào Giáo hội hay vào một vòng người hâm mộ? Dẫn đến hoán cải hay chỉ làm người nghe bị cuốn hút bởi một phong cách trình bày?
Chính trong bối cảnh ấy, lời của Gioan Tẩy Giả vang lên như một bản xét mình khắc nghiệt mà đẹp đẽ: “Người phải lớn lên; tôi phải nhỏ lại” (Ga 3,30). Gioan là một con người có ảnh hưởng rất lớn. Người ta từ Giêrusalem và khắp miền Giuđê kéo đến với ông. Ông có môn đệ. Ông có tiếng nói mạnh mẽ. Ông dám đối diện với những người có quyền. Ông có uy tín tinh thần đủ lớn để người ta tự hỏi ông có phải là Đấng Mêsia không. Nếu Gioan sống trong thời đại hôm nay, chúng ta có thể nói ông có một cộng đồng người theo dõi đông đảo. Nhưng điều làm cho Gioan trở thành chứng nhân không phải là việc ông thu hút được nhiều người, mà là ông sẵn sàng để họ rời bỏ mình mà đi theo Đức Kitô. Đây là điều rất khó. Thu hút người khác đã khó; vui khi họ không còn cần đến mình lại càng khó hơn. Xây dựng một cộng đoàn đã khó; chấp nhận rằng cộng đoàn ấy không thuộc về mình lại khó hơn. Dạy một người biết Chúa đã khó; không biến người ấy thành người lệ thuộc vào mình lại khó hơn. Một nhà truyền giáo chân chính không tìm kiếm môn đệ cho mình. Một linh mục chân chính không muốn giáo dân gắn bó với mình hơn là với Chúa. Một người làm truyền thông Công giáo chân chính không muốn cộng đồng của mình trở thành một nhóm sùng mộ cá nhân. Một người cha người mẹ chân chính cũng không muốn con cái mãi lệ thuộc vào mình, nhưng muốn chúng lớn lên trong tự do và trách nhiệm. Gioan vui khi các môn đệ của ông đi theo Đức Giêsu, bởi ông hiểu rõ căn tính của mình: ông chỉ là tiếng kêu, không phải Lời; ông chỉ là người bạn của chàng rể, không phải chàng rể; ông chỉ là người chỉ đường, không phải đích đến.
“Người phải lớn lên; tôi phải nhỏ lại.” Đó không phải là sự tự ti. Kitô giáo không dạy con người khinh ghét mình. Gioan không phủ nhận giá trị của mình. Ông biết mình được Thiên Chúa sai đến. Ông biết sứ mạng của mình rất quan trọng. Ông biết mình là tiếng kêu trong hoang địa. Nhưng ông cũng biết giới hạn của sứ mạng ấy. Ông không biến điều Thiên Chúa trao thành tài sản riêng. Ông không nhầm ơn gọi với quyền sở hữu. Đây là sự khiêm nhường đích thực: không nói mình chẳng là gì, nhưng biết rất rõ mình là ai trước mặt Thiên Chúa. Một người khiêm nhường không phủ nhận ân huệ của mình; họ chỉ không chiếm lấy vinh quang từ ân huệ ấy. Họ có thể giảng rất hay mà không nghĩ mình là nguồn của chân lý. Họ có thể được nhiều người yêu mến mà vẫn biết trái tim con người cuối cùng phải thuộc về Chúa. Họ có thể làm được nhiều việc lớn mà không tưởng rằng Nước Thiên Chúa sẽ sụp đổ nếu thiếu họ. Họ có thể rút lui khi đến lúc phải rút lui. Họ có thể để người khác tiếp nối. Họ có thể vui khi thế hệ sau làm tốt hơn mình. Họ có thể chấp nhận bị quên tên miễn là Đức Kitô tiếp tục được yêu mến.
Có một nghịch lý rất đẹp trong đời sống chứng nhân: càng muốn trở thành trung tâm, chúng ta càng làm cho Đức Kitô trở nên mờ nhạt; nhưng càng chấp nhận nhỏ lại, ánh sáng của Đức Kitô càng có chỗ để chiếu qua. Cũng giống như một ô cửa sổ. Không ai đứng trước một ô cửa kính trong suốt rồi trầm trồ về tấm kính; người ta nhìn qua kính để thấy ánh sáng và phong cảnh bên ngoài. Chứng nhân Kitô giáo cũng thế. Một chứng nhân tốt là người mà qua họ, người khác nhìn thấy điều lớn hơn họ. Nếu sau khi nghe chúng ta giảng, người ta chỉ nói: “Người này thật tài”, thì có lẽ chứng tá chưa hoàn tất. Nếu sau khi đọc một bài viết đạo đức, người ta chỉ nhớ tác giả viết quá hay mà không được đánh động để trở về với Chúa, thì bài viết vẫn còn thiếu điều gì đó. Nếu sau khi thấy một việc bác ái, người ta chỉ ngưỡng mộ người cho mà quên mất phẩm giá của người nhận, thì việc thiện có nguy cơ trở thành sân khấu. Chứng nhân không phải là người làm mình biến mất theo nghĩa tiêu cực, nhưng là người làm cho sự hiện diện của mình trở nên trong suốt để người khác có thể gặp Đức Kitô.
Điều này đòi hỏi một cuộc thanh luyện liên lỉ về ý hướng. Không ai trong chúng ta hoàn toàn tinh tuyền trong động cơ. Có lúc chúng ta thật sự muốn phục vụ Chúa, nhưng cũng muốn được khen. Có lúc chúng ta muốn giúp người, nhưng cũng muốn được nhìn nhận. Có lúc chúng ta muốn nói sự thật, nhưng cũng muốn thắng người khác. Có lúc chúng ta muốn bảo vệ Giáo hội, nhưng lại trộn vào đó một phần giận dữ cá nhân. Có lúc chúng ta chia sẻ một kinh nghiệm thiêng liêng thật, nhưng sâu thẳm vẫn có một phần mong người khác thấy mình thánh thiện. Nhận ra những pha trộn ấy không phải để tuyệt vọng, nhưng để khiêm tốn. Chứng nhân không phải người không còn cái tôi, nhưng là người biết mang cái tôi ấy đến trước mặt Chúa để được thanh luyện mỗi ngày. Trước khi đăng một điều gì, có thể hỏi: điều này giúp ai? Trước khi tranh luận, hỏi: tôi muốn bảo vệ sự thật hay bảo vệ tự ái? Trước khi kể một việc tốt mình đã làm, hỏi: việc kể ấy có thực sự cần cho người nghe hay chỉ cần cho hình ảnh của tôi? Trước khi nói về lỗi của ai đó, hỏi: lời này có cứu được người ấy không, hay chỉ làm tôi thấy mình cao hơn họ? Trước khi phản ứng với một lời công kích, hỏi: Đức Kitô có thực sự cần tôi bảo vệ Người bằng cách này không?
Chúa Giêsu là mẫu mực tuyệt đối của mọi chứng nhân bởi chính Người là Đấng không sống cho mình. Toàn bộ đời Người là một cuộc tự hiến. Người không đến để được phục vụ nhưng để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người. Người không chỉ nói rằng Thiên Chúa yêu nhân loại; chính thân xác Người trở thành câu nói ấy. Những bàn tay chạm vào người phong hủi, đôi chân đi đến những làng nghèo, ánh mắt nhìn người phụ nữ bị kết án, nước mắt trước mộ Ladarô, sự mệt mỏi bên bờ giếng, tấm bánh được bẻ ra, thân thể bị đóng đinh, cạnh sườn bị đâm thâu — tất cả là ngôn ngữ của tình yêu Thiên Chúa. Đức Giêsu không truyền thông bằng lời nói בלבד. Cả sự hiện hữu của Người là một thông điệp. Và đỉnh cao của thông điệp ấy là Thập Giá. Trên Thập Giá, Chúa không còn gì để “trình bày” về mình. Người bị tước áo, bị chế nhạo, bị hiểu lầm, bị coi là thất bại. Không có vẻ hào nhoáng, không có thành công theo tiêu chuẩn thế gian, không có đám đông tung hô như ngày vào Giêrusalem. Nhưng chính ở nơi tưởng như thất bại hoàn toàn ấy, tình yêu được nói cách trọn vẹn nhất. Người chứng nhân Kitô giáo vì thế phải luôn trở về với Thập Giá nếu muốn biết mình đang làm chứng cho điều gì. Nếu việc loan báo Tin Mừng của chúng ta không có chỗ cho hy sinh, có lẽ chúng ta đang loan báo một thứ Kitô giáo quá dễ dàng. Nếu việc phục vụ chỉ còn ý nghĩa khi được ghi nhận, đó chưa phải là phục vụ theo Tin Mừng. Nếu chúng ta chỉ ở lại khi được yêu mến, chúng ta chưa học được sự trung tín. Nếu chúng ta chỉ nói khi có người nghe, chỉ làm khi có người thấy, chỉ cho khi có người biết, thì chúng ta vẫn còn phải học rất nhiều về tình yêu của Đấng “thấy nơi kín đáo”.
Một trong những dấu chỉ cho thấy người chứng nhân đang trưởng thành là họ ngày càng tự do trước lời khen và tiếng chê. Không phải họ trở nên vô cảm. Ai cũng có trái tim. Một lời khen có thể làm vui; một lời hiểu lầm có thể làm đau. Nhưng người thuộc về Chúa không còn để căn tính của mình bị quyết định hoàn toàn bởi cái nhìn của người khác. Hôm nay người ta tung hô, ngày mai người ta chỉ trích. Hôm nay bài viết được chia sẻ hàng ngàn lần, ngày mai không ai quan tâm. Hôm nay một linh mục được giáo dân quý mến, ngày mai có thể bị hiểu lầm. Hôm nay một người được gọi là tốt, ngày mai có thể bị đồn là xấu. Nếu căn tính của chúng ta nằm trong dư luận, đời sống sẽ luôn chao đảo. Chứng nhân cần cắm rễ sâu hơn: tôi là người thuộc về Đức Kitô. Người biết tôi. Người biết ý hướng mà người khác không biết. Người thấy những yếu đuối mà người khác không thấy. Người cũng thấy những hy sinh chẳng ai hay. Và vào cuối đời, điều quan trọng không phải là bao nhiêu người biết tên tôi, nhưng Chúa có nhận ra nơi tôi hình ảnh của Con Người hay không.
Đây cũng là điều rất cần cho những người đang có ảnh hưởng trong Giáo hội. “Ảnh hưởng” tự nó không phải điều xấu. Một linh mục có nhiều người nghe có thể làm rất nhiều điều tốt. Một giáo dân có lượng người theo dõi lớn có thể gieo những hạt giống tuyệt đẹp. Một người trẻ có khả năng sáng tạo nội dung có thể giúp Tin Mừng chạm đến những người không bao giờ bước chân vào nhà thờ. Nhưng ảnh hưởng luôn là một trách nhiệm thiêng liêng. Càng có nhiều người nghe, càng phải khiêm tốn. Càng được tin tưởng, càng phải cẩn trọng. Càng có sức định hướng dư luận, càng cần cầu nguyện nhiều hơn trước khi nói. Bởi một lời nói của người ít ảnh hưởng có thể chỉ làm tổn thương một người, nhưng một lời thiếu khôn ngoan của người có ảnh hưởng có thể gây tổn thương hàng ngàn người. Một thông tin sai có thể lan rất xa. Một cách diễn đạt cay nghiệt có thể tạo ra cả một văn hóa cay nghiệt trong cộng đồng. Một lối ứng xử hiếu thắng có thể dạy người theo dõi rằng bảo vệ đức tin đồng nghĩa với công kích. Ngược lại, một thái độ hiền hòa có thể làm dịu hàng ngàn trái tim. Một lời xin lỗi công khai có thể dạy cả cộng đồng về khiêm nhường. Một lần thừa nhận “tôi đã sai” đôi khi có sức làm chứng mạnh hơn mười bài giảng về sự thật.
Người chứng nhân không xây môn đệ cho mình. Câu ấy phải được lặp lại nhiều lần, đặc biệt trong thời đại thương hiệu cá nhân. Chúng ta rất dễ biến cộng đoàn thành “khán giả của mình”, biến người theo dõi thành “người của mình”, biến những người được mình giúp thành bằng chứng cho giá trị của mình. Nhưng Chúa Giêsu không trao cho Giáo hội sứ mạng xây dựng những vương quốc cá nhân. Người sai chúng ta đi làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Người. Đó là một khác biệt rất lớn. Người làm việc tông đồ phải tự hỏi: nếu ngày mai tôi biến mất, những người này có tiếp tục theo Chúa không? Nếu họ chỉ đứng vững khi có tôi, có lẽ tôi chưa giúp họ trưởng thành. Nếu họ cầu nguyện chỉ vì thích cách tôi nói, nhưng không biết tự mình gặp Chúa trong thinh lặng, tôi cần xem lại cách đồng hành. Nếu họ yêu Giáo hội chỉ khi tôi còn phục vụ ở đó, có lẽ tôi đã vô tình đặt mình vào vị trí quá lớn. Người mục tử đích thực dẫn chiên đến với vị Mục Tử duy nhất. Người thầy đích thực cuối cùng phải làm cho học trò có khả năng bước đi mà không cần nắm tay mình mãi. Cha mẹ cũng thế. Người hướng dẫn thiêng liêng cũng thế. Người truyền giáo cũng thế.
Có lẽ vẻ đẹp lớn nhất của Gioan Tẩy Giả là ông biết lúc nào phải lùi lại. Thế giới dạy chúng ta cách tiến lên, ít ai dạy cách lùi xuống. Người ta dạy cách xây dựng ảnh hưởng, ít ai dạy cách trao lại ảnh hưởng. Người ta dạy cách giữ vị trí, ít ai dạy cách nhường chỗ. Người ta dạy cách tạo dấu ấn để được nhớ, ít ai dạy cách chấp nhận bị quên. Nhưng Nước Thiên Chúa có một logic khác. Môsê đưa dân đến gần Đất Hứa nhưng không bước vào. Đavít chuẩn bị cho Đền Thờ nhưng Salômôn xây. Gioan chuẩn bị đường rồi rời sân khấu. Phaolô trồng, Apôlô tưới, Thiên Chúa làm cho lớn lên. Không ai sở hữu công trình của Chúa. Chúng ta chỉ được mời cộng tác một đoạn đường. Có ngày Chúa gọi mình bước vào một công việc; rồi cũng có ngày Chúa gọi mình trao công việc ấy cho người khác. Khả năng rút lui trong bình an là dấu chỉ của một người thật sự tin rằng công trình là của Chúa chứ không phải của mình.
Người chứng nhân còn là người biết tương tác với người khác theo cách của Đức Giêsu. Chúa không nhìn con người như những con số. Người dừng lại trước một Bartimê đang kêu la, dù đám đông muốn ông im. Người dành thời gian cho một người phụ nữ Samari giữa trưa. Người bước vào nhà Giakêu, dù người khác khinh chê ông. Người để một phụ nữ tội lỗi đến gần. Người hỏi người mù: “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Chúa biết lắng nghe. Người không luôn bắt đầu bằng việc giảng. Nhiều khi Người bắt đầu bằng câu hỏi. “Anh em tìm gì?” “Ai chạm vào tôi?” “Con đường các ông đang đi là chuyện gì vậy?” “Chị có tin điều đó không?” Người chứng nhân Kitô giáo hôm nay cũng cần học nghệ thuật ấy. Không phải cứ có một người trước mặt là lập tức biến họ thành đối tượng để thuyết giảng. Không phải cứ gặp một ý kiến trái chiều là phải thắng. Không phải cứ thấy một người sống khác mình là lập tức dán nhãn. Nhiều người không cần chúng ta đưa ngay một câu trả lời; họ cần một người đủ kiên nhẫn nghe câu hỏi thật nằm phía sau câu hỏi. Nhiều thái độ chống đối tôn giáo che giấu những vết thương. Nhiều lời cay nghiệt che giấu sự cô đơn. Nhiều sự thờ ơ với Chúa bắt nguồn từ những kinh nghiệm tiêu cực với người của Chúa. Nếu chúng ta chỉ nghe chữ mà không nghe nỗi đau phía sau chữ, chúng ta sẽ bỏ lỡ con người.
Trở thành chứng nhân vì thế không phải là một vai diễn tôn giáo. Một người có thể có đầy đủ hình thức của người đạo đức mà vẫn chưa chắc làm chứng cho Chúa. Có thể nói những lời rất đúng nhưng theo một cách khiến người nghe không cảm nhận được tình yêu. Có thể bảo vệ giáo lý mà làm tổn thương phẩm giá người đang lầm lạc. Có thể rất hăng say vì việc Chúa nhưng thiếu lòng thương xót. Có thể truyền bá hàng trăm câu Kinh Thánh nhưng trong gia đình lại lạnh lùng. Có thể nói về hiệp thông trên mạng nhưng ngoài đời không nói chuyện với người bên cạnh. Có thể giảng về tha thứ trong khi giữ một mối hận nhiều năm. Chứng nhân không được đo bằng lượng nội dung Kitô giáo mình sản xuất, mà bằng mức độ Đức Kitô thấm vào cách mình sống. Cuối cùng, người ta có thể quên rất nhiều điều chúng ta nói, nhưng họ khó quên cách chúng ta đối xử với họ. Có khi một người trở về với Chúa không phải vì một bài thần học xuất sắc, nhưng vì gặp một Kitô hữu tử tế đúng lúc họ tuyệt vọng. Có người nhớ Giáo hội suốt đời chỉ vì ngày họ nghèo khổ, một người đã không nhìn họ bằng ánh mắt khinh miệt. Có người bắt đầu tin rằng Thiên Chúa có thể nhân hậu vì từng được một người của Chúa tha thứ.
Và như thế, chứng tá Kitô giáo cuối cùng luôn quy về tình yêu. Không phải một tình yêu cảm tính, nhưng tình yêu biết mất mình. Các vị tử đạo đã mất mạng sống. Các bậc cha mẹ mất giấc ngủ vì con. Một người chăm sóc bệnh nhân mất thời gian và sức lực. Một linh mục trung tín mất nhiều tự do riêng để hiện diện với cộng đoàn. Một tu sĩ hiến cả đời cho một lời khấn. Một người tha thứ mất quyền trả đũa. Một người giữ sự thật mất cơ hội có lợi cho mình. Một người chọn im lặng mất cơ hội thắng một cuộc tranh cãi. Một người không phô bày việc thiện mất một chút vinh quang thế gian. Mọi tình yêu thật đều tiêu hao một điều gì đó. Nếu một thứ “tình yêu” không bao giờ làm ta mất gì, có lẽ nó chưa đi đủ sâu. Đức Kitô yêu chúng ta đến mức bị tiêu hao hoàn toàn trên Thập Giá. Đời sống Kitô hữu cũng được mời gọi trở thành một cuộc tiêu hao như thế, không phải tiêu hao vô nghĩa, không phải tự hủy, nhưng tiêu hao vì được trao ban. Một ngọn nến chỉ thực sự hoàn thành ý nghĩa của nó khi chấp nhận nhỏ dần để ánh sáng lớn lên. Có lẽ đó là một hình ảnh đẹp cho câu của Gioan: “Người phải lớn lên; tôi phải nhỏ lại.”
Đến cuối cùng, câu hỏi không phải là chúng ta đã tạo được bao nhiêu ảnh hưởng, nhưng ảnh hưởng ấy dẫn người ta về đâu. Không phải bao nhiêu người theo dõi chúng ta, nhưng bao nhiêu người nhờ gặp chúng ta mà biết theo Chúa hơn. Không phải tên chúng ta được nhắc đến bao nhiêu, nhưng danh Đức Kitô có được yêu mến hơn không. Không phải chúng ta xây được một hình ảnh đẹp đến đâu, nhưng đời thật của chúng ta có dần trở nên giống Tin Mừng không. Không phải chúng ta nói bao nhiêu về việc hy sinh, nhưng chúng ta đã thật sự cho đi điều gì. Không phải chúng ta thắng bao nhiêu cuộc tranh luận, nhưng chúng ta có cứu được một tương quan nào không. Không phải chúng ta chứng minh mình đúng đến mức nào, nhưng người khác có nhờ ta mà nhìn thấy Đức Kitô là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống hay không.
Có lẽ người chứng nhân đẹp nhất là người mà khi họ rời khỏi một nơi, người ta không chỉ tiếc họ, nhưng muốn tìm Chúa hơn. Khi họ nói xong, người nghe không chỉ muốn nghe thêm họ, nhưng muốn mở Kinh Thánh. Khi họ làm một việc tốt, người nhận không thấy mình mắc nợ họ, nhưng cảm thấy mình vẫn còn giá trị. Khi họ bị hiểu lầm, họ không biến nỗi đau thành vũ khí. Khi họ thành công, họ biết tạ ơn. Khi họ thất bại, họ không mất căn tính. Khi họ được chú ý, họ không say ánh đèn. Khi bị quên lãng, họ không cay đắng. Khi còn sức, họ phục vụ. Khi yếu đi, họ cầu nguyện. Khi đến lúc phải trao lại, họ trao lại. Và khi đời mình sắp kết thúc, họ có thể nói như thánh Phaolô rằng mình đã chiến đấu trong cuộc chiến chính nghĩa, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin. Người như thế có thể không nổi tiếng, nhưng họ là một chứng nhân. Có thể không bao giờ được gọi là “người có ảnh hưởng”, nhưng đời họ ảnh hưởng sâu đến những người ở bên. Có thể họ không có hàng triệu người theo dõi, nhưng một đứa con nhìn thấy cha mẹ cầu nguyện trung thành, một bệnh nhân được một nữ tu chăm sóc dịu dàng, một người tuyệt vọng được ai đó nghe mình suốt một buổi tối, một tội nhân được đón nhận thay vì kết án — những chứng tá ấy có thể thay đổi cả một đời người.
Xin Chúa cho chúng ta đừng quá bận tâm trở thành những Kitô hữu được nhìn thấy, nhưng trở thành những Kitô hữu qua đó Chúa được nhìn thấy. Xin cho chúng ta đừng tìm những môn đệ cho mình, nhưng biết trao mọi người về cho Đức Kitô. Xin cho chúng ta đừng sợ nhỏ lại, bởi nhỏ lại trong Tin Mừng không phải là biến mất, nhưng là tìm được đúng chỗ của mình trước Thiên Chúa. Xin cho chúng ta có đủ tự do để không cần chiếm trung tâm, đủ khiêm nhường để nhận ra những gì mình có đều là ân huệ, đủ can đảm để trả giá cho chân lý, đủ dịu dàng để không biến chân lý thành vũ khí, đủ yêu thương để tiêu hao chính mình vì người khác, và đủ tín thác để tin rằng ngay cả khi tên tuổi mình bị quên đi, không một hành động yêu thương nào được thực hiện trong Đức Kitô là vô ích. Một ngày nào đó, tất cả những con số rồi sẽ biến mất. Lượt xem sẽ dừng lại. Trang mạng sẽ không còn. Danh tiếng cũng sẽ nhạt. Những lời người ta khen chê chúng ta rồi cũng chìm vào quá khứ. Nhưng điều sẽ còn lại là tình yêu đã được trao đi, chân lý đã được sống, những con người đã được nâng dậy, những vết thương đã được xoa dịu, những người đã được dẫn về với Chúa. Và có lẽ khi ấy, chúng ta mới hiểu trọn vẹn lời của Gioan Tẩy Giả: “Người phải lớn lên; tôi phải nhỏ lại.” Nhỏ lại cho đến khi đời mình không còn là tấm bảng chỉ về chính mình, nhưng trở thành một mũi tên âm thầm chỉ về Đức Kitô. Nhỏ lại cho đến khi người ta có thể quên chúng ta mà vẫn nhớ Chúa. Nhỏ lại cho đến khi những gì chúng ta làm không còn nhằm bảo vệ danh tiếng mình, nhưng chỉ mong danh Chúa được cả sáng. Nhỏ lại cho đến khi đời ta trở thành một lời chứng đơn sơ nhưng thật: tôi không thuộc về tôi nữa; tôi thuộc về Đấng đã yêu tôi và hiến mình vì tôi. Và chính lúc ấy, không cần phải cố gắng trở thành một “người có ảnh hưởng”, chúng ta lại có thể trở thành một chứng nhân có sức ảnh hưởng sâu xa nhất: một con người mà qua cuộc sống của họ, người khác tin rằng Thiên Chúa thực sự hiện hữu, tình yêu thực sự có thật, hy sinh không phải là vô nghĩa, và Đức Giêsu Kitô vẫn đang sống giữa thế gian này qua những con người dám để Người lớn lên trong mình.
Lm. Anmai, CSsR
