Phụng vụ Thánh Lễ – Lời nguyện – Chia sẻ Lời Chúa Lễ Đức Mẹ Sầu Bi (Video và bản văn) – Lm. Anmai, CSsR
Tìm hiểu Tin Mừng theo Thánh Mátthêu LỜI NGỎ — TIN MỪNG LÀ TIN VUI GÌ, VÌ SAO VIẾT DÀI – Lm. Anmai, CSsR
TIN CÔNG GIÁO THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM NGÀY 15 THÁNG 9 NĂM 2026 – Lm. Anmai, CSsR tổng hợp
Lễ Đức Mẹ sầu bi ĐỨNG BÊN THẬP GIÁ VỚI MẸ MARIA – Lm. Anmai, CSsR
Lễ Đức Mẹ sầu bi – ĐỨC MARIA ĐỨNG DƯỚI CHÂN THẬP GIÁ – Lm. Anmai, CSsR
ĐỨC CHA ĐAMINH MARIA ĐINH ĐỨC TRỤ VỊ GIÁM MỤC GIẢ LÀM NGƯỜI ĂN XIN ĐỂ ĐI THĂM GIÁO DÂN Lm. Anmai, CSsR
LỜI NGUYỆN CÙNG ĐỨC MẸ SẦU BI
Lạy Chúa Giêsu chịu đóng đinh, trong giờ phút linh thiêng này, chúng con cùng với Đức Maria đứng dưới chân thập giá Chúa. Chúng con chiêm ngắm Mẹ đang đau đớn nhìn Người Con yêu dấu hấp hối, nhưng vẫn đứng vững trong đức tin, trung thành trong tình yêu và bền lòng trong hy vọng. Xin Chúa tha thứ cho những lần gặp thử thách chúng con đã than trách, buông xuôi, nghi ngờ tình thương Chúa hoặc chạy trốn thập giá của mình. Xin dạy chúng con hiểu rằng đức tin không làm cho con người hết đau, nhưng ban sức mạnh để chúng con đau mà không tuyệt vọng, khóc mà không oán hận, bị tổn thương mà không trở nên cay độc, và bước đi trong bóng tối mà vẫn tin rằng Chúa đang âm thầm đồng hành.
Lạy Đức Maria, Mẹ Sầu Bi, xin đứng bên chúng con trong những giờ phút bệnh tật, cô đơn, mất mát và khủng hoảng. Xin Mẹ an ủi những người cha người mẹ đang đau khổ vì con cái, những gia đình đang rạn nứt, những bệnh nhân đang chống chọi với đau đớn, những người già bị bỏ quên và những tâm hồn đang đứng bên bờ tuyệt vọng. Khi chúng con không thể thay đổi hoàn cảnh của người mình yêu, xin dạy chúng con biết ở lại, lắng nghe, cảm thông và yêu thương họ đến cùng. Xin đừng để chúng con trở thành những lưỡi gươm làm tổn thương người khác bằng lời cay nghiệt, thái độ vô ơn, sự xét đoán, phản bội hay lạnh lùng. Xin mở mắt chúng con để nhận ra những thập giá đang hiện diện trong gia đình và cộng đoàn; mở tai chúng con để nghe được những tiếng khóc không thành lời; mở lòng chúng con để biết chia sẻ; và mở đôi tay chúng con để nâng đỡ những người đang ngã quỵ.
Lạy Mẹ Maria, xin giúp chúng con đón Mẹ vào nhà, vào tâm hồn và vào mọi chọn lựa của cuộc đời. Xin dạy chúng con biết thưa tiếng “xin vâng” khi chưa hiểu hết đường lối Thiên Chúa, biết trung thành khi lời cầu nguyện chưa được đáp lại và biết chờ đợi khi bình minh phục sinh chưa xuất hiện. Xin dẫn chúng con đến gần Chúa Giêsu, để nơi những thương tích của Người, chúng con được chữa lành; nơi sự cô đơn của Người, chúng con tìm được niềm an ủi; và nơi thập giá của Người, chúng con nhận ra một tình yêu mạnh hơn mọi đau khổ và chiến thắng cả sự chết. Xin cho chúng con luôn xác tín rằng không một giọt nước mắt nào được dâng lên trong tình yêu lại bị Thiên Chúa lãng quên, không một hy sinh âm thầm nào là vô ích và không một thập giá nào có thể nói lời cuối cùng. Lời cuối cùng luôn thuộc về Thiên Chúa, và lời ấy chính là tình yêu, sự sống và phục sinh. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
Dẫn vào Thánh Lễ
Từ lời “Xin Vâng” trước Thánh Ý Thiên Chúa qua biến cố truyền tin, Đức Maria hằng liên kết mật thiết với Chúa Giêsu Con Mẹ. Từ dinh Philatô cho đến Núi Sọ, từng bước Mẹ đã theo Con cho đến khi hoàn tất và mai táng. Vì thế, Hội Thánh đã xưng tụng Mẹ là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc loài người. Ôi Maria Mẹ ơi! Trần gian có bà mẹ nào phải đau thương hơn Mẹ, khi đứng dưới chân Thập Giá nghe những lời trăn trối cuối cùng của Con yêu, mà suốt đời đã làm mọi điều tốt lành, để giờ đây được trả ơn bằng cái chết đau thương nhục nhã như vậy chăng?
Mẹ đã chấp nhận tất cả để dâng hiến Con yêu cho Thiên Chúa!
Lời xin vâng năm xưa giờ đây Mẹ lại cùng Chúa Giêsu Con yêu dấu hiến tế trên bàn thờ. Bằng lòng sám hối ăn năn và đền tạ, chúng ta cùng với Mẹ sốt sáng hiệp dâng thánh lễ hôm nay, để công trình cứu độ được tiếp tục thực hiện.
Ca nhập lễ
Ông Simon nói với Đức Maria rằng: Đây trẻ này được đặt lên khiến cho nhiều người trong Israel phải hư mất hay được sống, và cũng là mục tiêu cho người ta chống đối; và một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, khi Ðức Kitô chịu treo trên thập giá, Chúa đã muốn cho Thánh Mẫu của Người đứng kề bên mà thông phần đau khổ. Xin cho Hội Thánh Chúa biết noi gương Thánh mẫu mà kết hiệp với Ðức Kitô chịu khổ hình, để mai ngày được phục sinh vinh hiển cùng với Ðức Kitô là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời.
Bài Ðọc I: Dt 5, 7-9
“Người đã học vâng phục và đã trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời”.
Trích thư gửi tín hữu Do-thái.
Anh em thân mến, khi còn sống ở đời này, Chúa Kitô đã lớn tiếng và rơi lệ dâng lời cầu xin khẩn nguyện lên Ðấng có thể cứu mình khỏi chết, và vì lòng thành tín, Người đã được nhậm lời. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã học vâng phục do những đau khổ Người chịu, và khi hoàn tất, Người đã trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời cho tất cả những kẻ tùng phục Người.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 30, 2-3a. 3bc-4. 5-6. 15-18. 19
Ðáp: Lạy Chúa, xin cứu sống con theo lượng từ bi của Chúa
Xướng: Lạy Chúa, con tìm đến nương nhờ Ngài, xin đừng để con muôn đời tủi hổ; vì đức công minh Ngài, xin cứu chữa con! Xin Chúa hãy lắng tai về bên tôi tớ Chúa.
Xướng: Xin Chúa mau lẹ để giải thoát con. Xin Chúa trở thành núi đá cho con trú ẩn. Bởi Chúa là Ðá tảng, là chiến luỹ của con; vì uy danh Ngài, Ngài sẽ dìu dắt và hướng dẫn con.
Xướng: Ngài dẫn con xa lưới dò chúng ngầm trương ra để hại con, vì Ngài là chỗ con nương náu. Con phó thác tâm hồn trong tay Chúa; lạy Chúa, lạy Thiên Chúa trung thành, xin cứu chữa con.
Xướng: Phần con, lạy Chúa, con tin cậy ở Ngài; con kêu lên: Ngài là Thiên Chúa của con! Vận mạng con ở trong tay Ngài, xin cứu gỡ con khỏi tay quân thù và những người bách hại.
Xướng: Lạy Chúa, vĩ đại thay lòng nhân hậu Chúa, lòng nhân hậu Ngài dành để cho những kẻ kính sợ Ngài, lòng nhân hậu Ngài ban cho những ai tìm nương tựa Ngài, ngay trước mặt con cái người ta.
Ca Tiếp Liên: Stabat Mater
(Ca Tiếp Liên này có thể đọc cả hay bỏ, hay chỉ đọc từ câu 11 trở đi)
1) Mẹ sầu bi tầm tã giọt châu, đang đứng bên cây Thập giá, nơi Con Người đã bị treo lên.
2) Một lưỡi gươm nhọn / đã đâm qua tâm hồn Bà đang rên siết, đang sầu khổ và đau đớn.
3) Ôi đau buồn sầu khổ biết bao / cho bà Mẹ đáng suy tôn / của một Người Con duy nhất!
4) Bà Mẹ hiền nhìn xem nỗi khổ hình của Người Con chí thánh, mà đau lòng thổn thức tâm can.
5) Ai là người không tuôn châu lệ / khi nhìn thấy Mẹ Chúa Kitô / trong cảnh cực hình như thế?
6) Ai có thể không buồn bã / nhìn xem Mẹ Chúa Kitô / đang đau khổ cùng với Con Người?
7) Mẹ nhìn thấy Chúa Giêsu / vì tội dân mình mà khổ cực, và bị vùi giập dưới làn roi.
8) Mẹ nhìn Con mình dịu hiền như thế / bị thống khổ lúc lâm chung, khi Người trút hơi thở cuối cùng.
9) Ôi lạy Mẹ là niềm yêu mến, xin cho con cảm thấy mãnh lực của đau thương, để cho con được khóc than cùng Mẹ.
10) Xin cho lòng con cháy lửa mến yêu, mến yêu Ðức Kitô là Thiên Chúa, để cho con có thể làm đẹp ý Người.
11) Ôi Thánh Mẫu, xin Mẹ làm ơn đóng vào lòng con cho thực mạnh / những vết thương của Ðấng bị treo thập giá.
12) Xin Mẹ cho con được chia phần thống khổ / của Con Mẹ đã thương vong, đã khứng chịu cực hình vì con như thế.
13) Xin cho con được cùng Mẹ thảo hiếu khóc than, cùng Ðấng bị đóng đinh tỏ niềm thông cảm, bao lâu con còn sinh sống ở đời.
14) Con ước ao được cùng với Mẹ / đứng bên cây Thập giá, và hợp nhất cùng Mẹ trong tiếng khóc than.
15) Ôi Ðức Trinh Nữ thời danh trong hàng trinh nữ, xin đừng tỏ ra cay đắng với con, xin cho con được cùng Mẹ chan hoà dòng lệ.
16) Xin cho con được mang sự chết của Ðức Kitô, được cùng Người thông phần đau khổ, và tôn thờ những thương tích của Người.
17) Xin cho con được mang thương tích của Người, cho con được say sưa cây thập giá / và máu đào Con Mẹ đã đổ ra.
18) Ôi, Ðức Trinh Nữ, xin đừng để cho con bị lửa hồng thiêu đốt, nhưng được Mẹ chở che trong ngày thẩm phán!
19) Lạy Chúa Kitô, khi phải lìa bỏ cõi đời này, nhờ Ðức Mẹ, xin Chúa cho con được tới lãnh ngành dương liễu khải hoàn.
20) Khi mà xác thịt con sẽ chết, xin cho linh hồn con / được Chúa tặng ban vinh quang của cõi thiên đường.
Alleluia
Alleluia, alleluia! – Ðức Trinh Nữ Maria là người có phúc, Bà xứng đáng lãnh nhận ngành lá tử đạo dưới chân Thập giá Chúa mà không phải chết. – Alleluia.
Phúc Âm: Ga 19, 25-27
“Bà mẹ hiền nhìn xem nỗi khổ hình của người con chí thánh mà đau lòng thổn thức tâm can”
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.
Khi ấy, đứng gần thập giá Chúa Giêsu có Mẹ Người, cùng với chị Mẹ Người là Maria vợ ông Clopas, và Maria Mađalêna. Khi thấy Mẹ và bên cạnh có môn đệ Người yêu, Chúa Giêsu thưa cùng Mẹ rằng: “Thưa Bà, này là Con Bà”. Rồi Người lại nói với môn đệ: “Này là Mẹ con”. Và từ giờ ấy, môn đệ đã lãnh nhận Bà về nhà mình.
Ðó là lời Chúa.
Hoặc đọc: Lc 2, 33-35
“Một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn Bà”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Luca.
Khi ấy, cha và mẹ Chúa Giêsu đều kinh ngạc về những điều đã nói về Người. Simêon chúc lành cho hai ông bà, và nói với Maria Mẹ Người rằng: “Ðây trẻ này được đặt lên, khiến cho nhiều người trong Israel phải sụp đổ hay được đứng dậy, và cũng để làm mục tiêu cho người ta chống đối. Về phần Bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn Bà, để tâm tư nhiều tâm hồn được biểu lộ”.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tín hữu
Chủ tế: Anh Chị em thân mến! Mẹ Maria đã hiệp thông mật thiết vào cuộc khổ nạn của Đức Kitô, nên Mẹ đã được đặc cách tham dự vào cuộc Phục Sinh vinh hiển của Chúa. Nhờ công nghiệp của Mẹ, chúng ta dâng lời nguyện xin.
1. “Đây trẻ này được đặt lên khiến cho nhiều người trong Israel phải sụp đồ hay được đứng dậy”. – Xin cho Hội Thánh luôn trung kiên bước theo Chúa Kitô dù gặp phải gian nan và bị bách hại, vì chính Người cũng đã từng bị bách hại và bị giết chết.
2. “Người đã học vâng phục và đã trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời“. – Xin cho mọi Kitô hữu học gương Chúa Giêsu Kitô mà sông và làm việc, hầu đem lại ơn cứu độ cho bản thân và mọi người.
3. “Đức Trinh nữ Maria là người có phúc, bà xứng đáng lãnh nhận ngành lá tử đạo”. – Xin cho những bà mẹ đang gặp đau khổ trăm chiều, được Chúa nâng đỡ và xin cho họ biết nhìn mẫu gương tuyệt vời là Đức Maria, để họ kiên vững trong niềm tin, cậy, mến.
4. “Đứng gần Thập Giá Đức Giêsu có Mẹ Người”. – Xin cho những trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, được Đức Maria thúc giục nhiều người yêu thương đùm bọc, để các em có điều kiện sống xứng đáng với phẩm giá con người.
Chủ tế: Lạy Chúa, Chúa đã đón nhận nhữns đau khổ của Đức Maria và cho Ngài được vinh phúc trên trời. Xin Chúa cũng thương nhận những ước nguyện của chúng con, để chúng con cảm thấy được nâng đỡ ủi an trên con đường tiên về quê hương vĩnh cửu. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô…
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Thiên Chúa nhân từ, Chúa đã muốn cho Thánh Mẫu Chúa Cứu Thế nên hiền mẫu của chúng con khi Người đứng dưới chân thập giá. Xin Chúa nghe lời chúng con cầu khẩn và nhận lễ vật chúng con dâng tiến trong ngày lễ kính nhớ Thánh Mẫu để danh Chúa được rạng rỡ vinh quang. Chúng con cầu xin…
Lời tiền tụng Ðức Mẹ: “trong ngày lễ…”.
Ca hiệp lễ
Được thông phần đau khổ của Chúa Kitô, anh em hãy vui mừng, để khi vinh quang của Người được tỏ hiện, anh em được vui mừng hoan hỷ.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, chúng con vừa lãnh nhận bí tích cứu độ muôn đời khi kính nhớ Ðức Mẹ Sầu bi. Chúng con khiêm tốn nài xin Chúa giúp chúng con mang lấy vào thân cho đủ mức những gian nan thử thách Ðức Kitô còn phải chịu cho Hội Thánh được nhờ. Chúng con cầu xin…
ĐỨC MARIA – NGƯỜI MẸ ĐỨNG DƯỚI CHÂN THẬP GIÁ VÀ BẢY LƯỠI GƯƠM XUYÊN THÂU TÂM HỒN
“Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người” (Ga 19,25). Chỉ một câu Tin Mừng ngắn ngủi nhưng lại mở ra trước mắt chúng ta cả một vực sâu khôn dò của tình mẫu tử, của đức tin, của đau khổ và của tình yêu cứu độ. Phụng vụ Hội Thánh dành ngày 15 tháng Chín, ngay sau lễ Suy Tôn Thánh Giá, để kính nhớ Đức Trinh Nữ Maria Sầu Bi. Sự gần gũi giữa hai ngày lễ không phải là một sắp đặt tình cờ: ngày 14 tháng Chín, Hội Thánh chiêm ngắm Thánh Giá vinh quang của Đức Kitô; ngày 15 tháng Chín, Hội Thánh nhìn lên người Mẹ đã đứng bên Thánh Giá ấy. Không thể hiểu trọn nỗi đau của Đức Maria nếu tách Mẹ khỏi cuộc thương khó của Chúa Giêsu; cũng không thể suy niệm về cuộc thương khó của Chúa mà quên người Mẹ đã cùng Con bước vào giờ hiến tế. Thánh Giá là nơi Đức Kitô trao ban tất cả; dưới chân Thánh Giá, Đức Maria cũng trao ban tất cả. Chúa Giêsu hiến dâng thân mình cho Chúa Cha để cứu chuộc nhân loại; Đức Maria dâng chính người Con duy nhất của mình, đồng thời đón nhận nhân loại tội lỗi làm con. Chúa chịu đóng đinh bằng đinh sắt vào thập giá; lòng Mẹ bị đóng đinh bằng lưỡi gươm vô hình của đau thương. Máu từ cạnh sườn Chúa chảy xuống để thanh tẩy thế giới; nước mắt của Mẹ âm thầm hòa vào hy lễ của Con như lời thưa “xin vâng” được kéo dài đến tận đồi Canvê. Vì thế, kính Đức Mẹ Sầu Bi không phải là dừng lại trong một thứ cảm xúc bi thương, càng không phải là chỉ thương hại một người mẹ bất hạnh; đó là chiêm ngắm một người nữ đã tin đến tận cùng, yêu đến tận cùng, trung thành đến tận cùng và cộng tác với chương trình cứu độ của Thiên Chúa bằng tất cả cuộc đời mình.
Tên gọi “Đức Mẹ Bảy Sự” hay “Đức Mẹ Bảy Niềm Đau” không có nghĩa là trong đời Mẹ chỉ có đúng bảy lần đau khổ. Trong ngôn ngữ Kinh Thánh, con số bảy thường diễn tả sự viên mãn, đầy đủ. Bảy sự đau đớn tượng trưng cho toàn thể cuộc tử đạo âm thầm mà Đức Maria đã trải qua trong lòng. Đó là một hành trình dài bắt đầu từ lời tiên báo của cụ già Simêon và đạt đến tột đỉnh khi thi hài Chúa Giêsu được mai táng trong mồ. Bảy nỗi đau ấy gồm: lời tiên báo của ông Simêon; cuộc trốn sang Ai Cập; ba ngày lạc mất Chúa Giêsu trong Đền Thờ; cuộc gặp gỡ giữa Mẹ và Con trên đường lên Canvê; Đức Maria đứng dưới chân Thánh Giá; Mẹ đón nhận thi hài Con được tháo xuống khỏi thập giá; và Mẹ tiễn Con vào huyệt đá. Mỗi nỗi đau là một nhát gươm, nhưng cũng là một bước tiến trong đức tin. Mỗi biến cố dường như lấy khỏi tay Mẹ một điều quý giá, nhưng đồng thời lại dẫn Mẹ đến chỗ thuộc trọn về Thiên Chúa hơn. Mỗi lần bị bóng tối bao phủ, Mẹ không quay lưng với Chúa, không đóng cửa lòng mình, không để nỗi cay đắng biến thành oán trách. Mẹ tiếp tục tin khi không còn nhìn thấy; tiếp tục yêu khi tình yêu bị đóng đinh; tiếp tục hy vọng khi mọi hy vọng nhân loại dường như đã bị chôn vào trong mồ đá.
Nỗi đau thứ nhất đến giữa một ngày đầy ánh sáng. Đức Maria và thánh Giuse đem Hài Nhi Giêsu lên Đền Thờ để tiến dâng cho Thiên Chúa. Giữa khung cảnh thánh thiện ấy, cụ già Simêon được Thánh Thần thúc đẩy đã ẵm lấy Hài Nhi và tuyên xưng Người là ánh sáng soi đường cho dân ngoại, là vinh quang của Israel. Nhưng ngay sau những lời chan chứa hy vọng lại là lời tiên báo khiến lòng người Mẹ chấn động: “Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2,35). Từ giờ phút đó, bóng thập giá đã phủ xuống chiếc nôi Bêlem. Mẹ hiểu rằng người Con mình đang ôm trong tay không thuộc riêng về mình. Con trẻ này được sinh ra cho muôn dân; Người sẽ trở nên dấu hiệu bị người đời chống báng; Người sẽ cứu độ nhân loại, nhưng con đường cứu độ ấy sẽ đi qua đau khổ. Những bà mẹ khác có thể mơ đến một tương lai bình an và rực rỡ cho con mình; Đức Maria phải mang trong tim lời tiên báo rằng Con Mẹ sẽ bị khước từ. Dẫu vậy, Mẹ không ôm Con chạy trốn khỏi sứ mạng, không xin Thiên Chúa thay đổi kế hoạch, cũng không rút lại tiếng “xin vâng” đã thưa trong ngày Truyền Tin. Đức tin chân chính không chỉ là đón nhận những điều làm ta vui lòng; đức tin còn là trao cho Thiên Chúa cả tương lai mà ta không thể hiểu và không thể kiểm soát. Có những lời của Chúa đi vào lòng ta như ánh sáng, nhưng cũng có những lời sắc bén như lưỡi gươm, cắt đứt những ảo tưởng và buộc ta phải chọn lựa giữa ý mình với ý Chúa. Đức Maria đã để cho Lời Chúa xuyên thấu tâm hồn, không phải để hủy diệt Mẹ, nhưng để làm cho trái tim Mẹ hoàn toàn tự do cho chương trình cứu độ.
Nỗi đau thứ hai xảy đến khi Hài Nhi còn quá bé bỏng. Vua Hêrôđê tìm giết Con Trẻ; thánh Giuse được báo mộng phải chỗi dậy ngay trong đêm, đưa Hài Nhi và Mẹ Người trốn sang Ai Cập. Gia đình Thánh Gia trở thành một gia đình tị nạn. Con Thiên Chúa vừa bước vào lịch sử loài người đã bị chính loài người xua đuổi; Đấng dựng nên trời đất lại không tìm được một nơi an toàn trên quê hương mình. Đức Maria phải bồng Con đi trong đêm tối, rời xa mái nhà, họ hàng, xóm làng và tất cả những gì quen thuộc. Mẹ không biết cuộc hành trình sẽ kéo dài bao lâu, không biết nơi đất khách sẽ đón nhận gia đình mình thế nào, không biết ngày nào mới có thể trở về. Nhưng giữa mọi bất trắc, Mẹ có một điều chắc chắn: Thiên Chúa vẫn hiện diện. Đau khổ không có nghĩa là Thiên Chúa vắng mặt; nhiều khi chính trong cuộc lưu đày, ta mới học nhận ra Ngài đang đồng hành cách sâu xa nhất. Đức Maria Sầu Bi hôm nay đứng bên cạnh hàng triệu bà mẹ phải bồng con chạy trốn chiến tranh, bạo lực, đói nghèo và bách hại; Mẹ ở bên những người di dân lênh đênh trên biển, những gia đình rời quê tìm kế sinh nhai, những người không còn nhà để trở về. Mẹ không giải thích cho họ vì sao đau khổ xảy đến, nhưng Mẹ có thể nói với họ rằng Mẹ đã từng đi qua đêm tối ấy; Mẹ hiểu thế nào là bước đi trong sợ hãi, ôm lấy sự sống mong manh và chỉ biết phó thác ngày mai cho Thiên Chúa.
Nỗi đau thứ ba là ba ngày lạc mất Chúa Giêsu tại Giêrusalem. Với bất cứ người mẹ nào, mất con là một nỗi kinh hoàng; với Đức Maria, người biết Con mình là quà tặng đặc biệt của Thiên Chúa, nỗi lo ấy càng khôn tả. Mẹ và thánh Giuse quay lại tìm kiếm giữa bà con, người quen, dọc các nẻo đường và cuối cùng trong Đền Thờ. Ba ngày tìm kiếm ấy như báo trước ba ngày Chúa nằm trong mồ. Khi gặp lại Con, Mẹ thốt lên: “Con ơi, sao Con lại xử với cha mẹ như vậy? Con thấy không, cha Con và mẹ đây đã phải cực lòng tìm Con!” Nhưng câu trả lời của Chúa Giêsu lại đưa Mẹ sâu hơn vào mầu nhiệm: “Cha mẹ không biết là Con có bổn phận ở nhà của Cha Con sao?” (Lc 2,48-49). Đức Maria chưa hiểu hết, nhưng Mẹ ghi nhớ tất cả trong lòng. Đây là một đặc điểm lớn lao trong hành trình đức tin của Mẹ: khi không hiểu, Mẹ không loại bỏ; khi câu trả lời của Chúa vượt quá suy nghĩ của mình, Mẹ không phản kháng; Mẹ cất giữ, suy niệm và kiên nhẫn chờ ánh sáng. Con người ngày nay thường muốn có câu trả lời ngay lập tức. Ta muốn biết tại sao mình đau, tại sao lời cầu nguyện chưa được nhận lời, tại sao người tốt lại gặp tai họa, tại sao Thiên Chúa dường như im lặng. Nhưng có những câu trả lời chỉ có thể hiểu sau một hành trình dài; có những mầu nhiệm không được giải bằng lý luận mà phải được mang trong lòng bằng tình yêu. Đức Maria dạy chúng ta đừng vội đánh mất đức tin chỉ vì chưa hiểu đường lối của Chúa.
Nỗi đau thứ tư là cuộc gặp gỡ giữa Mẹ và Con trên đường lên Canvê. Các sách Tin Mừng không thuật lại chi tiết cuộc gặp ấy, nhưng truyền thống đạo đức của Hội Thánh đã chiêm ngắm Mẹ hiện diện trên con đường thương khó. Có lẽ không lời nào có thể diễn tả ánh mắt của Đức Maria khi nhìn thấy khuôn mặt Chúa Giêsu đầy máu, bụi đường và nước bọt; cũng không ai đo được nỗi đau của Chúa khi nhìn thấy Mẹ mình giữa đám đông. Mẹ đã từng lau khuôn mặt Con khi còn thơ bé; giờ đây Mẹ không thể đưa tay ngăn những đòn roi. Mẹ từng dìu Con đi những bước đầu tiên tại Nazareth; giờ đây Mẹ nhìn Con ngã xuống dưới sức nặng của thập giá. Mẹ có thể đã muốn gánh thay Con, nhưng điều Mẹ được mời gọi không phải là thay đổi con đường cứu độ, mà là bước theo Con trên con đường ấy. Tình yêu sâu xa đôi khi không thể cất khỏi người mình yêu chén đắng, nhưng có thể ở lại để người ấy không phải uống chén đắng trong cô độc. Nhiều khi chúng ta bất lực trước đau khổ của người thân: một người mắc bệnh nan y, một người con lạc đường, một người bạn rơi vào khủng hoảng, một gia đình đứng bên bờ tan vỡ. Ta không thể giải quyết mọi sự, nhưng vẫn có thể hiện diện. Một ánh mắt không kết án, một bàn tay nắm lấy, một lời cầu nguyện trung thành, một sự đồng hành không bỏ cuộc có thể trở nên sức mạnh lớn lao. Đức Maria không kéo Chúa Giêsu ra khỏi con đường Canvê, nhưng sự hiện diện của Mẹ nói với Con rằng: “Mẹ ở đây; dù người đời ruồng bỏ Con, Mẹ vẫn ở đây; dù Mẹ không thể chịu thay Con, Mẹ sẽ đi với Con đến cùng.”
Nỗi đau thứ năm là cao điểm của toàn bộ hành trình: Đức Maria đứng dưới chân Thánh Giá. Tin Mừng không nói Mẹ ngất xỉu hay gào khóc tuyệt vọng, nhưng dùng một động từ trang trọng: Mẹ “đứng”. Tư thế đứng không làm giảm nỗi đau; trái lại, nó cho thấy một đức tin đã được tôi luyện đến mức phi thường. Mẹ đứng đó không phải vì Mẹ không đau, nhưng vì tình yêu giữ Mẹ khỏi gục ngã. Mẹ đứng như người nữ trung tín; đứng như người môn đệ hoàn hảo; đứng như hình ảnh của Hội Thánh đang kết hợp với hy lễ của Đức Kitô; đứng để nghe từng lời cuối cùng của Con; đứng để nhận lấy sứ mạng làm Mẹ nhân loại. Khi Chúa Giêsu nói với Mẹ: “Thưa Bà, đây là con của Bà,” và nói với người môn đệ: “Đây là mẹ của anh,” Chúa không chỉ lo liệu một chỗ nương tựa cho Mẹ sau khi Người qua đời. Trong giờ phút cứu độ, Chúa trao người môn đệ cho Mẹ và trao Mẹ cho người môn đệ. Gioan đại diện cho tất cả chúng ta. Như vậy, dưới chân Thánh Giá, chức làm mẹ thiêng liêng của Đức Maria được mở rộng đến toàn thể nhân loại. Nhưng hãy nhìn xem những người con mà Mẹ đón nhận là ai: đó không phải là những người vô tội, nhưng là nhân loại mà tội lỗi đã góp phần đóng đinh Con Mẹ. Đức Maria phải nhận làm con những kẻ vì họ mà Con Mẹ chịu chết. Đây là mức độ tha thứ vượt quá sức con người. Từ giây phút ấy, không một tội nhân nào thành tâm trở về lại có thể nói mình không có Mẹ; không một người đau khổ nào phải nghĩ rằng mình khóc một mình; không một ai đứng trước thập giá cuộc đời lại không thể tìm thấy nơi Đức Maria một trái tim biết cảm thông.
Tại Canvê, Mẹ nghe Chúa Giêsu cầu xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ đóng đinh Người; Mẹ nghe tiếng Con kêu lên trong cô đơn; Mẹ chứng kiến Người trao Thần Khí, gục đầu và tắt thở. Trái tim từng rộn lên khi nghe tiếng khóc chào đời của Con tại Bêlem giờ đây tan vỡ khi nhìn Con trút hơi thở cuối cùng. Bêlem và Canvê tưởng như đối nghịch nhưng thực ra thuộc về cùng một mầu nhiệm trao ban. Tại Bêlem, Mẹ trao Con cho thế giới trong máng cỏ; tại Canvê, Mẹ trao Con cho thế giới trên thập giá. Tại Bêlem, thân thể Chúa được quấn trong khăn và đặt trong máng cỏ; tại Canvê, thân thể ấy lại được quấn trong khăn và đặt vào mồ. Tại Bêlem, các thiên thần loan báo niềm vui; tại Canvê, bóng tối bao phủ mặt đất. Nhưng cả hai nơi đều nói về một Thiên Chúa yêu con người đến mức tự hiến mình. Vì thế, nỗi đau của Đức Maria không bao giờ tách khỏi tình yêu; nước mắt của Mẹ không phải nước mắt của thất vọng, nhưng là nước mắt của một tình yêu chấp nhận trả giá đến cùng.
Nỗi đau thứ sáu đến khi thi hài Chúa Giêsu được tháo xuống khỏi thập giá và đặt vào lòng Mẹ. Đôi tay từng bồng Hài Nhi thơ bé nay đón lấy thân thể đầy thương tích. Mẹ nhìn từng vết đinh, từng vết roi, cạnh sườn bị đâm thâu và khuôn mặt đã biến dạng vì bạo lực. Có lẽ ký ức của cả một đời cùng trở về: tiếng thiên thần trong ngày Truyền Tin, chuyến đi Bêlem, đêm Con chào đời, những năm âm thầm tại Nazareth, tiếng cười của Con trong căn nhà nhỏ, những ngày Con rao giảng, làm phép lạ và chữa lành biết bao người. Đôi tay từng chạm vào mắt người mù để họ được thấy, từng nâng người tội lỗi đứng dậy, từng bẻ bánh cho đám đông được ăn no, giờ đây lạnh giá trong tay Mẹ. Nhưng Đức Maria không hỏi: “Tại sao Con đã làm ơn cho bao người mà họ lại đối xử với Con như thế?” Mẹ cũng không nguyền rủa nhân loại. Mẹ ôm vào lòng cả thân thể tan nát của Con và mầu nhiệm cứu độ đang được hoàn tất. Hình ảnh Pietà – Đức Mẹ ôm xác Chúa – đã trở thành một trong những hình ảnh cảm động nhất của đức tin Kitô giáo, bởi nơi đó mọi bà mẹ mất con đều có thể nhận ra chính mình, mọi con người bị bạo lực nghiền nát đều được đón nhận, và mọi thân xác đau khổ đều được nhìn bằng phẩm giá thánh thiêng. Mẹ nhắc chúng ta rằng một con người dù thương tích, yếu đuối, bệnh tật hay đã chết vẫn đáng được kính trọng, yêu thương và chăm sóc; không một thân phận nào được phép bị coi là đồ vật để sử dụng rồi vứt bỏ.
Nỗi đau thứ bảy là khi Mẹ tiễn Con vào huyệt đá. Tảng đá được lăn lại, khép kín ngôi mộ và dường như khép lại mọi hy vọng. Người Con mà thiên thần từng gọi là “Con Đấng Tối Cao” giờ nằm bất động trong bóng tối. Những lời hứa của Thiên Chúa xem ra đã thất bại; vương quốc mà Chúa Giêsu loan báo dường như kết thúc trong nhục nhã; các môn đệ tản mác, kẻ phản bội, người chối Thầy, số còn lại trốn chạy vì sợ hãi. Nhưng giữa ngày Thứ Bảy thinh lặng ấy, ngọn lửa đức tin vẫn còn cháy trong trái tim Đức Maria. Mẹ chưa nhìn thấy Chúa sống lại, nhưng Mẹ vẫn tin. Niềm hy vọng của Mẹ không đặt trên những gì mắt thấy, nhưng đặt trên sự trung tín của Thiên Chúa. Đức tin của Mẹ trong ngày mộ đóng kín trở thành bài học đặc biệt cho chúng ta trong những thời điểm tưởng như mọi cánh cửa đã khép lại. Có những ngôi mộ trong cuộc sống không làm bằng đá: ngôi mộ của một tương quan đổ vỡ, của một dự định thất bại, của căn bệnh không thể chữa, của tuổi già cô quạnh, của những lời cầu xin kéo dài mà chưa có câu trả lời. Ta tưởng mọi sự đã chấm hết, nhưng Thiên Chúa vẫn đang làm việc trong thinh lặng. Tảng đá của ngày Thứ Sáu không thể ngăn bình minh Phục Sinh. Đức Maria dạy ta chờ đợi Thiên Chúa ngay cả khi không còn thấy một dấu hiệu nào để hy vọng.
Bảy nỗi đau của Mẹ cũng soi sáng bảy dạng đau khổ con người thường gặp: đau vì lời tiên báo bất hạnh; đau vì bị đe dọa và phải lìa bỏ quê hương; đau vì đánh mất người mình yêu; đau vì bất lực nhìn người thân chịu nạn; đau vì chứng kiến cái chết; đau vì ôm lấy những hậu quả khủng khiếp của bạo lực; và đau vì phải bước vào sự thinh lặng của chia ly. Không có nỗi đau chân chính nào hoàn toàn xa lạ với trái tim Đức Maria. Bởi vậy, người tín hữu tìm đến Mẹ không phải để trốn tránh thực tại, nhưng để học cách đi xuyên qua thực tại bằng đức tin. Mẹ không hứa rằng ai lần chuỗi Bảy Sự Đau Đớn sẽ không còn bệnh tật, mất mát hay thử thách; Mẹ chỉ cho ta thấy rằng đau khổ có thể được sống mà không làm mất tình yêu, nước mắt có thể rơi mà không dập tắt hy vọng, trái tim có thể bị đâm thâu mà vẫn không trở nên cay độc. Điều đáng sợ nhất không phải là đau khổ, nhưng là để đau khổ biến ta thành một con người khép kín, oán hận và vô cảm. Đức Maria đã đau rất nhiều, nhưng mỗi vết thương lại làm cho trái tim Mẹ rộng hơn. Mẹ không co lại để chỉ bảo vệ mình; Mẹ mở ra để trở nên Mẹ của tất cả chúng ta.
Kính nhớ Đức Mẹ Sầu Bi cũng giúp ta thanh luyện cách hiểu về lòng đạo đức. Có khi chúng ta cầu nguyện chỉ để xin Chúa lấy khỏi mình mọi thập giá, trong khi Tin Mừng trước hết dạy ta xin ơn trung thành khi phải mang thập giá. Có khi ta cho rằng được Chúa yêu nghĩa là cuộc sống phải thuận lợi; nhưng Đức Maria là người đầy ân sủng, được Thiên Chúa yêu thương cách đặc biệt, mà cuộc đời Mẹ lại gắn liền với rất nhiều thử thách. Ân sủng không miễn trừ Mẹ khỏi đau khổ; ân sủng giúp Mẹ sống đau khổ trong hiệp thông với Thiên Chúa. Thiên Chúa không luôn ngăn lưỡi gươm khỏi đâm vào trái tim Mẹ, nhưng Ngài làm cho trái tim bị đâm thâu ấy trở thành nguồn an ủi cho muôn thế hệ. Như thế, dấu chỉ Thiên Chúa hiện diện không phải lúc nào cũng là mọi chuyện diễn ra theo ý ta, mà là giữa mọi sự, ta vẫn có sức để yêu, để tin, để tha thứ và để bước tiếp.
Tuy nhiên, việc tôn kính Đức Mẹ Sầu Bi sẽ thiếu trọn vẹn nếu chỉ dừng ở những lời kinh đạo đức mà không dẫn ta đến sự cảm thông với những người đang đau khổ. Không thể lau nước mắt cho tượng Đức Mẹ mà lại thờ ơ trước nước mắt của người sống bên cạnh. Không thể hát bài Stabat Mater – “Mẹ sầu bi đứng bên Thánh Giá” – mà lại quay lưng với một người mẹ đang khóc vì con mình bệnh tật, nghiện ngập, tù tội hay lìa đời. Không thể suy ngắm Chúa Giêsu bị bạo hành trước mặt Mẹ mà lại làm ngơ trước những trẻ em bị đánh đập, những thai nhi bị loại bỏ, những người già bị bỏ rơi, những phụ nữ bị xúc phạm, những người nghèo bị chà đạp và những nạn nhân của chiến tranh. Lòng sùng kính đích thực phải biến trái tim chúng ta thành một trái tim biết đứng lại. Đức Maria đã “đứng gần thập giá”; người môn đệ của Mẹ cũng phải biết đứng gần thập giá của tha nhân. Có những người không cần ta giảng giải dài dòng; họ chỉ cần biết rằng ta không bỏ họ. Có những nỗi đau không thể chữa bằng lời nói; chúng cần một sự hiện diện tôn trọng, một đôi tai biết lắng nghe và một bàn tay không ngại chạm vào thương tích.
Trong gia đình, bài học của Đức Mẹ Sầu Bi càng trở nên cần thiết. Biết bao bà mẹ âm thầm khóc vì con cái xa Chúa, vì hôn nhân của con đổ vỡ, vì con vướng vào tệ nạn hoặc vì những hiểu lầm không thể nói thành lời. Biết bao người cha giấu nỗi đau sau vẻ ngoài cứng rắn, lặng lẽ gánh trách nhiệm mà không được ai hiểu. Biết bao người con chứng kiến cha mẹ già yếu mà bất lực trước quy luật của thời gian. Đức Maria không trao cho chúng ta một công thức giải quyết mọi bi kịch, nhưng Mẹ dạy ta đừng rời bỏ vị trí của tình yêu. Khi không thể thay đổi người khác, ta vẫn có thể cầu nguyện cho họ; khi không thể cất thập giá khỏi vai họ, ta có thể cùng họ mang lấy; khi chưa thể hòa giải, ta vẫn có thể giữ cánh cửa lòng mình khỏi khép kín; khi bị tổn thương, ta có thể xin ơn đừng đáp lại bằng một vết thương khác. Đứng dưới chân thập giá là lựa chọn không chạy trốn, nhưng cũng không nuôi dưỡng hận thù; là chấp nhận đau mà không đồng lõa với sự dữ; là giữ lòng thương xót ngay giữa nơi lòng thương xót bị khước từ.
Đức Maria còn dạy chúng ta nghệ thuật thinh lặng trước mầu nhiệm. Thinh lặng của Mẹ không phải là cam chịu thụ động, nhưng là không gian để Lời Chúa được tiếp tục vang lên. Mẹ không dùng những lời cay nghiệt để chống lại bóng tối, bởi Mẹ biết sự dữ không thể bị chiến thắng bằng một sự dữ khác. Mẹ không tranh giành phần đúng về mình, không lên án Phêrô, không kết tội các môn đệ bỏ chạy, không nguyền rủa đám đông vừa tung hô Chúa rồi lại gào lên đòi đóng đinh. Mẹ để cho sự phán xét thuộc về Thiên Chúa và giữ trái tim mình ở trong tình yêu. Đây không phải là thái độ yếu đuối; trái lại, cần một sức mạnh thiêng liêng phi thường mới có thể không để bạo lực của kẻ khác tạo ra bạo lực trong chính lòng mình. Người mạnh không nhất thiết là người đáp trả được mọi lời xúc phạm, nhưng là người đủ tự do để không cho lời xúc phạm điều khiển mình. Đức Maria là người nữ mạnh mẽ vì Mẹ không để đau khổ cướp mất căn tính người nữ tỳ của Chúa.
Sau cùng, lễ Đức Mẹ Sầu Bi không kết thúc trong bóng tối của mồ đá. Người Mẹ đứng dưới Thánh Giá cũng là người Mẹ của Đấng Phục Sinh. Bảy lưỡi gươm không hủy diệt được trái tim Mẹ; ngôi mộ không chôn vùi được niềm hy vọng của Mẹ; ngày Thứ Sáu đau thương không có tiếng nói cuối cùng. Đức Kitô đã sống lại, và trong ánh sáng Phục Sinh, mọi giọt nước mắt trung thành đều mang một giá trị mới. Điều này không có nghĩa những vết thương chưa từng xảy ra hay ký ức đau buồn bị xóa sạch. Chúa Phục Sinh vẫn mang các dấu đinh; nhưng các dấu đinh không còn là bằng chứng chiến thắng của bạo lực, mà trở thành dấu chỉ chiến thắng của tình yêu. Cũng vậy, trong Thiên Chúa, các vết thương của chúng ta có thể được biến đổi thành nơi lòng thương xót đi qua. Người đã từng đau có thể hiểu người đau; người đã được nâng đỡ có thể nâng đỡ kẻ khác; người từng đi trong đêm tối có thể cầm đèn cho người đang mất phương hướng. Đức Maria trở thành Mẹ an ủi không phải vì Mẹ đứng bên ngoài đau khổ, nhưng vì Mẹ đã đi vào tận đáy đau khổ mà vẫn không buông tay Thiên Chúa.
Mừng kính Đức Mẹ Bảy Sự, chúng ta hãy xin Mẹ dạy mình biết đứng vững trong những giờ phút khó khăn; biết tin khi chưa hiểu, biết hy vọng khi chưa thấy, biết yêu khi bị tổn thương, biết tha thứ khi lòng còn đau, biết ở lại khi người khác bỏ đi, biết thinh lặng khi lời nói chỉ làm vết thương sâu thêm, và biết trao mọi sự vào tay Thiên Chúa khi sức riêng đã cạn. Xin Mẹ đứng bên giường những bệnh nhân đang đau đớn; bên những người hấp hối và những gia đình sắp phải chia lìa; bên những người mẹ mất con, những người vợ mất chồng, những người con mất cha mẹ; bên những ai đang bị bỏ rơi, phản bội, hiểu lầm; bên những người phải rời quê hương vì chiến tranh và nghèo đói; bên những tâm hồn đang âm thầm chiến đấu với tuyệt vọng. Xin Mẹ cũng đứng bên mỗi người chúng ta trong giờ sau hết, để khi mọi điểm tựa trần thế rời khỏi tay mình, chúng ta vẫn nhìn thấy Thánh Giá của Con Mẹ và tin rằng đằng sau Thánh Giá là Phục Sinh, đằng sau đêm tối là bình minh, đằng sau cuộc chia ly là lời hứa gặp lại trong nhà Cha.
Lạy Đức Maria Sầu Bi, Mẹ không xin cho mình khỏi đau, nhưng đã xin vâng để tình yêu của Thiên Chúa được hoàn tất; Mẹ không rời Canvê, dù mỗi nhịp tim của Con là một lưỡi gươm đâm vào lòng Mẹ; Mẹ không để nước mắt làm mờ đức tin, cũng không để tang tóc dập tắt hy vọng. Xin nhận lấy những giọt nước mắt chúng con chưa biết gọi tên, những thương tích chúng con còn che giấu, những mất mát chúng con chưa thể chấp nhận và những thập giá chúng con đang muốn trốn chạy. Xin dẫn chúng con đến gần Chúa Giêsu chịu đóng đinh, để trong các thương tích của Người, chúng con tìm được sự chữa lành; trong sự vâng phục của Người, chúng con học được lòng tín thác; trong lời tha thứ của Người, chúng con tìm được sức mạnh để buông bỏ hận thù; và trong sự Phục Sinh của Người, chúng con nhận ra rằng đau khổ, tội lỗi và sự chết không bao giờ có tiếng nói cuối cùng. Lạy Mẹ đứng dưới chân Thánh Giá, xin dạy chúng con biết đứng bên thập giá của anh chị em mình. Lạy Mẹ mang trái tim bị đâm thâu, xin làm cho trái tim chai đá của chúng con biết rung động. Lạy Mẹ của Đấng Cứu Chuộc, xin giữ chúng con trung thành với Chúa giữa mọi gian nan, để một ngày kia, sau hành trình nước mắt, chúng con được cùng Mẹ chiêm ngắm dung nhan rạng ngời của Đức Kitô Phục Sinh và ca tụng lòng thương xót của Thiên Chúa đến muôn đời. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
MẸ ĐỨNG BÊN THẬP GIÁ – NỖI ĐAU ĐƯỢC BIẾN THÀNH TÌNH YÊU VÀ HY VỌNG
“Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2,35). Lời tiên báo của cụ già Simêon năm xưa trong Đền Thờ Giêrusalem không chỉ là một lời nói về tương lai, nhưng còn là chiếc chìa khóa giúp chúng ta bước vào mầu nhiệm cuộc đời Đức Maria. Khi Mẹ bồng Hài Nhi Giêsu trên tay và dâng Người cho Thiên Chúa, có lẽ Mẹ chưa thể thấy hết con đường dài đang mở ra phía trước; nhưng bằng đức tin, Mẹ đã đón nhận cả ánh sáng lẫn bóng tối, cả niềm vui lẫn nước mắt, cả Bêlem lẫn Canvê, cả tiếng thiên thần hát trong đêm Giáng Sinh lẫn tiếng đám đông gào thét trong ngày Thương Khó. Cuộc đời Mẹ không phải là một cuộc đời không có đau khổ; trái lại, đó là một cuộc đời đã đi xuyên qua những vực sâu của đau khổ mà vẫn không đánh mất niềm tin vào Thiên Chúa. Mẹ không được miễn trừ khỏi thử thách chỉ vì Mẹ đầy ân sủng. Mẹ không được gìn giữ khỏi nước mắt chỉ vì Mẹ là Mẹ Đấng Cứu Thế. Mẹ không được ban cho một con đường trải đầy hoa hồng chỉ vì Mẹ đã thưa lời “Xin vâng”. Chính lời “Xin vâng” ấy đã đưa Mẹ vào trung tâm của mầu nhiệm cứu độ, mà trung tâm của mầu nhiệm cứu độ lại là thập giá. Vì thế, khi kính nhớ Đức Mẹ Sầu Bi, Hội Thánh không đưa chúng ta đến với một người phụ nữ yếu đuối bị nỗi buồn đánh gục, nhưng đến với một người Mẹ có đức tin mạnh mẽ, một người nữ đứng vững giữa lúc mọi sự dường như sụp đổ, một trái tim bị đâm thâu mà vẫn tiếp tục yêu thương, một tâm hồn chìm trong đêm tối mà vẫn âm thầm tin rằng Thiên Chúa không bao giờ thất tín. Đức Maria được gọi là Đức Mẹ Sầu Bi, Đức Mẹ Thương Khó, Đức Mẹ Đau Khổ, Đức Mẹ Nước Mắt, Đức Mẹ Sầu Thương hay Đức Mẹ Đứng Bên Thập Giá; những tước hiệu ấy không diễn tả nhiều người mẹ khác nhau, nhưng chỉ diễn tả những chiều sâu khác nhau trong tình yêu của cùng một người Mẹ. Đó là người Mẹ đã cưu mang Con Thiên Chúa trong lòng, đã nuôi dưỡng Người bằng dòng sữa của mình, đã dõi theo từng bước chân Người trên những con đường xứ Galilê, đã lắng nghe lời Người rao giảng, đã thấy những bàn tay Người chữa lành bệnh nhân và lau khô nước mắt cho bao người, rồi cuối cùng cũng chính Mẹ phải nhìn những bàn tay ấy bị đóng đinh vào thập giá. Mẹ đã từng ẵm Con trong vòng tay tại Bêlem, và giờ đây Mẹ lại đón lấy thân xác bất động của Con dưới chân Canvê. Khoảng cách từ máng cỏ đến thập giá chính là hành trình của một tình yêu tự hiến đến cùng; và Đức Maria đã đi trọn hành trình ấy với Chúa Giêsu bằng sự trung tín không lay chuyển. Bài suy niệm của Đức Hồng y Orani João Tempesta trên trang Hội đồng Giám mục Brasil nhấn mạnh hình ảnh Mẹ kiên vững đồng hành với những bước cuối cùng của Chúa Giêsu, đặc biệt là cuộc gặp gỡ đau đớn giữa Mẹ và Con trên đường lên Núi Sọ; từ đó mời gọi các tín hữu hướng lòng đến những bà mẹ đang chịu đau khổ vì mất con, vì bạo lực, bệnh tật, tai nạn hay biết bao thảm kịch của cuộc đời.
Tin Mừng theo thánh Gioan kể lại một cảnh tượng rất ngắn nhưng chứa đựng cả một đại dương đau thương và ân sủng: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người” (Ga 19,25). Thánh Gioan không nói rằng Mẹ gục ngã, không nói rằng Mẹ bỏ chạy, cũng không nói rằng Mẹ oán trách Thiên Chúa hay nguyền rủa những người đang hành hạ Con mình. Tin Mừng chỉ dùng một động từ giản dị nhưng phi thường: Mẹ “đứng”. Mẹ đứng đó, không phải vì Mẹ không đau, nhưng vì tình yêu giúp Mẹ đứng vững giữa đau thương. Mẹ đứng đó, không phải vì Mẹ hiểu hết những gì đang xảy ra, nhưng vì Mẹ tin vào Đấng mà Mẹ đã trao phó cả đời mình. Mẹ đứng đó, không phải vì Mẹ có thể giải thoát Con khỏi thập giá, nhưng vì Mẹ không muốn để Con cô đơn trong giờ phút cuối cùng. Có những lúc yêu thương không còn có thể làm được điều gì khác ngoài việc ở lại. Có những nỗi đau chúng ta không thể xóa bỏ, có những căn bệnh chúng ta không thể chữa lành, có những người thân chúng ta không thể giữ lại, có những biến cố chúng ta không thể đảo ngược; nhưng chúng ta vẫn có thể đứng bên nhau, nắm lấy tay nhau, khóc với nhau, cầu nguyện cho nhau và không bỏ rơi nhau. Sự hiện diện ấy đôi khi không thay đổi được biến cố, nhưng lại có thể biến đổi cách con người đi qua biến cố. Đức Maria đã không tháo được những chiếc đinh khỏi tay chân Chúa Giêsu, nhưng sự hiện diện của Mẹ nói với Người rằng: “Con không cô độc. Khi mọi người lìa bỏ Con, Mẹ vẫn ở đây. Khi người ta chế nhạo Con, Mẹ vẫn tin Con. Khi khuôn mặt Con không còn hình tượng người ta nữa, Mẹ vẫn nhận ra Con là người Con yêu dấu của Mẹ và là Con Thiên Chúa.” Chính vì vậy, đứng dưới chân thập giá không phải là thái độ bất lực tiêu cực, mà là một hành vi yêu thương lớn lao. Mẹ không thể ngăn thập giá, nhưng Mẹ có thể biến nơi hành quyết thành nơi của lòng trung thành. Mẹ không thể làm cho quân lính ngừng tay, nhưng Mẹ có thể dùng tình yêu để bao phủ sự tàn nhẫn của họ. Mẹ không thể ngăn dòng máu Con đổ xuống, nhưng Mẹ có thể kết hợp nỗi đau của mình với hy lễ của Con để dòng máu ấy trở thành nguồn ơn cứu độ cho nhân loại. Đó cũng là lời mời gọi dành cho mỗi người chúng ta: giữa một thế giới có quá nhiều người bị bỏ rơi trong đau khổ, người Kitô hữu phải học nơi Mẹ nghệ thuật đứng lại. Đứng bên giường bệnh của một người già đang hấp hối; đứng bên một gia đình vừa mất người thân; đứng bên một đứa trẻ bị tổn thương; đứng bên một người trẻ đang tuyệt vọng; đứng bên một người mẹ âm thầm khóc vì đứa con sa vào nghiện ngập; đứng bên người nghèo đang bị đẩy ra ngoài lề; đứng bên người bị hiểu lầm, kết án hay xúc phạm; đứng bên những nạn nhân của chiến tranh, bạo lực và bất công. Nhiều khi chúng ta vội vàng nói những lời an ủi dễ dãi, trong khi người đau khổ không cần một bài giải thích dài về nguyên nhân của đau khổ, nhưng cần một người đủ yêu thương để ở lại. Đức Maria không giảng một bài nào dưới chân thập giá. Sự hiện diện của Mẹ đã là một bài giảng; nước mắt của Mẹ đã là một lời cầu nguyện; sự thinh lặng của Mẹ đã là một lời tuyên xưng đức tin; việc Mẹ đứng vững đã là một chứng tá rằng tình yêu mạnh hơn sự chết và lòng trung thành mạnh hơn mọi thử thách.
Trong truyền thống đạo đức, Hội Thánh chiêm ngắm bảy sự thương khó của Đức Maria: lời tiên báo của cụ già Simêon; cuộc trốn sang Ai Cập; ba ngày lạc mất Chúa Giêsu trong Đền Thờ; cuộc gặp gỡ giữa Mẹ và Con trên đường lên Núi Sọ; Mẹ đứng dưới chân thập giá; Mẹ đón nhận xác Con từ trên thập giá xuống; và Mẹ chứng kiến việc mai táng Con trong mồ. Bảy sự thương khó không phải là một bảng liệt kê những bất hạnh, nhưng là bảy cánh cửa dẫn chúng ta vào chiều sâu của đức tin. Với lời tiên báo của Simêon, Mẹ dạy chúng ta rằng đức tin không phải là một bảo đảm để cuộc đời luôn bình an theo cách con người mong muốn. Tin Chúa không có nghĩa là từ nay sẽ không còn nước mắt, bệnh tật, thất bại hay mất mát. Đức tin đích thực là vẫn tiếp tục bước đi với Chúa ngay cả khi lưỡi gươm bắt đầu chạm vào tâm hồn. Trong cuộc trốn sang Ai Cập, Mẹ trở thành người mẹ tị nạn, phải ôm Con rời bỏ quê hương giữa đêm tối để tránh bàn tay sát hại của Hêrôđê. Mẹ hiểu nỗi đau của những gia đình phải chạy trốn chiến tranh, bách hại và nghèo đói; Mẹ hiểu những người xa quê, những người phải bắt đầu lại từ hai bàn tay trắng, những người sống trong lo sợ vì không biết ngày mai sẽ ra sao. Khi lạc mất Con trong Đền Thờ, Mẹ hiểu nỗi đau của những cha mẹ thấy con mình dần xa gia đình, xa đức tin, xa điều thiện; Mẹ hiểu tâm trạng của những người đi tìm Chúa giữa khô khan và tăm tối nhưng dường như không gặp được Người. Trên đường Núi Sọ, Mẹ gặp Chúa Giêsu đang mang thập giá. Có lẽ Mẹ không thể đến gần, không thể ôm lấy Người, không thể nói một lời nào; chỉ có ánh mắt của Mẹ gặp ánh mắt của Con. Nhưng trong ánh mắt ấy có tất cả tình yêu, tất cả ký ức, tất cả nỗi đau và tất cả sự hiến dâng. Mẹ nhìn thấy khuôn mặt từng áp vào lòng mình nay đầy máu và bụi đường; Mẹ nhìn thấy đôi mắt từng chan chứa lòng thương xót nay mệt mỏi vì đòn vọt; Mẹ nhìn thấy đôi vai từng cúi xuống nâng những người đau yếu nay oằn dưới cây thập giá. Ánh mắt giữa Mẹ và Con không xóa đi cuộc khổ nạn, nhưng trao sức mạnh để cả hai tiếp tục đi đến cùng. Chúa Giêsu nhìn Mẹ và biết rằng tình yêu của Mẹ đang ở bên Người; Mẹ nhìn Con và hiểu rằng giờ hiến tế đã đến, giờ mà Con Chiên của Thiên Chúa tự nguyện trao ban mạng sống để xóa tội trần gian. Dưới chân thập giá, lưỡi gươm Simêon tiên báo thực sự đâm thâu tâm hồn Mẹ. Khi đón xác Con vào lòng, Mẹ trở thành hình ảnh của mọi bà mẹ ôm lấy đứa con đã chết; và khi tảng đá lấp cửa mồ, Mẹ bước vào ngày thứ Bảy thinh lặng, ngày mà dường như Thiên Chúa vắng mặt và mọi lời hứa đã bị chôn vùi. Nhưng chính trong ngày thinh lặng ấy, Mẹ vẫn tin. Mẹ không biết Thiên Chúa sẽ thực hiện lời hứa bằng cách nào, nhưng Mẹ biết Thiên Chúa trung thành. Đức tin của Mẹ không dựa trên những gì mắt thấy, nhưng dựa trên chính Thiên Chúa. Đó là lý do nỗi sầu của Mẹ không trở thành tuyệt vọng. Mẹ đau thật, khóc thật, mất mát thật; nhưng dưới đáy nỗi đau ấy vẫn còn một ngọn lửa không tắt: Thiên Chúa sẽ có tiếng nói cuối cùng.
Đức Mẹ Sầu Bi giúp chúng ta phân biệt sự vâng phục đức tin với thái độ cam chịu thụ động. Mẹ đón nhận ý Chúa không có nghĩa là Mẹ vô cảm trước đau khổ hoặc cho rằng mọi sự dữ đều do Thiên Chúa trực tiếp gây nên. Chính con người đã kết án Chúa Giêsu bất công; chính lòng ghen ghét, sự hèn nhát, tính toán chính trị, thói bạo lực và tội lỗi đã đóng đinh Người. Thiên Chúa không vui thích trước sự dữ; Người không phải là tác giả của bạo lực, bệnh tật hay cái chết. Nhưng trong mầu nhiệm thập giá, Thiên Chúa đã đi vào chính vực sâu do tội lỗi con người tạo ra để cứu chuộc và biến đổi nó. Vì thế, khi nói Đức Maria đón nhận ý Chúa, chúng ta không được hiểu rằng Mẹ tán thành bất công hay dửng dưng trước sự tàn ác. Mẹ đón nhận chương trình cứu độ của Thiên Chúa giữa một lịch sử bị thương tổn bởi tội lỗi; Mẹ tin rằng ngay cả khi sự dữ tung hoành, quyền năng yêu thương của Thiên Chúa vẫn có thể làm nảy sinh ơn cứu độ. Đây là một chân lý rất quan trọng cho đời sống chúng ta. Khi một tai họa xảy đến, đừng vội nói với người đang đau khổ rằng: “Đó là ý Chúa.” Câu nói ấy có thể trở thành một lưỡi gươm khác đâm thêm vào trái tim họ. Không phải mọi điều xảy ra đều là điều Thiên Chúa muốn theo cùng một nghĩa. Có những điều Thiên Chúa mong muốn vì chúng tốt đẹp; có những điều Người cho phép xảy ra trong sự tôn trọng tự do con người và trật tự của thế giới; có những điều hoàn toàn trái với thánh ý Người, như tội ác, bạo lực, bóc lột và sự hủy hoại phẩm giá con người. Tuy nhiên, không một biến cố nào nằm ngoài khả năng cứu độ của Thiên Chúa. Người có thể bước vào đống đổ nát và làm nảy sinh một khởi đầu; Người có thể bước vào vết thương và biến nó thành nơi lòng thương xót tuôn trào; Người có thể bước vào ngôi mộ và mở nó ra thành cửa ngõ dẫn tới sự sống. Mẹ Maria tin vào quyền năng ấy. Vì vậy, Mẹ không nguyền rủa, không trả thù, không để đau khổ biến trái tim mình thành cay đắng. Mẹ cho phép ân sủng đi qua vết thương của Mẹ. Có người bị tổn thương rồi dùng chính tổn thương ấy để làm đau người khác; có người bị phản bội rồi không còn dám tin ai; có người bị xúc phạm rồi sống cả đời với lòng căm giận; có người vì đã khóc quá nhiều nên trở nên lạnh lùng trước nước mắt của tha nhân. Nhưng nơi Đức Maria, đau khổ không đóng kín trái tim mà mở rộng trái tim. Trái tim Mẹ càng bị đâm thâu, Mẹ càng có khả năng ôm lấy nhiều người hơn. Khi Chúa Giêsu nói: “Thưa Bà, đây là con của Bà”, Mẹ nhận người môn đệ yêu dấu làm con; và nơi người môn đệ ấy, Mẹ nhận lấy tất cả chúng ta, kể cả những người yếu đuối, tội lỗi và bất toàn. Trên Núi Sọ, Mẹ đã mất Người Con duy nhất theo xác thịt, nhưng lại nhận được vô số người con trong ân sủng. Nỗi đau của Mẹ trở thành cánh cửa của tình mẫu tử phổ quát. Vì thế, Hội Thánh gọi Mẹ là Mẹ Hội Thánh: Mẹ không chỉ đứng bên thập giá của Chúa Giêsu năm xưa, nhưng còn đứng bên mọi thập giá của các chi thể trong Nhiệm Thể Người hôm nay.
Đặc biệt, Đức Mẹ Sầu Bi ở rất gần những bà mẹ đang đau khổ vì con cái. Không có ngôn ngữ nào diễn tả hết nỗi đau của một người mẹ phải chôn cất con mình, bởi theo trật tự tự nhiên, con cái tiễn đưa cha mẹ, chứ cha mẹ không phải tiễn đưa con. Thế nhưng trong cuộc đời vẫn có những người mẹ phải đứng trước quan tài của đứa con còn quá trẻ; có người mẹ mất con vì tai nạn bất ngờ; có người nhìn con kiệt quệ vì bệnh tật; có người đau đớn vì con bị cuốn vào ma túy, cờ bạc, tội phạm hay những mối quan hệ nguy hiểm; có người khóc thầm vì con bỏ nhà ra đi; có người chịu sự vô tâm, phản nghịch hoặc xúc phạm của chính đứa con mình từng mang nặng đẻ đau; có người không biết con mình đang ở đâu; có người mỗi ngày nhìn về một cánh cửa nhưng người con sẽ chẳng bao giờ trở lại. Cũng có những bà mẹ mất con khi con chưa kịp chào đời, ôm một nỗi buồn khó chia sẻ vì chung quanh không phải ai cũng hiểu đó là một mất mát thực sự. Có những người mẹ mang trong lòng vết thương vì không thể bảo vệ con khỏi bạo lực, lạm dụng hay bất công. Có những bà mẹ tiễn con đi làm ăn xa, đi biển, đi lính, đi lao động nơi đất khách rồi sống trong thao thức, không biết hôm nay con có bình an không. Khi tất cả những người mẹ ấy nhìn lên Đức Mẹ Sầu Bi, họ gặp được một người không đứng bên ngoài để đưa ra lời khuyên, nhưng là một người Mẹ đã đi qua chính vực sâu của họ. Mẹ hiểu nước mắt không thành lời; Mẹ hiểu cảm giác bất lực khi thấy con đau mà không thể đau thay; Mẹ hiểu sự trống vắng của căn nhà sau một cuộc chia lìa; Mẹ hiểu nỗi ám ảnh của những câu hỏi “Tại sao?”, “Giá như…”, “Nếu ngày ấy…”. Nhưng Mẹ cũng nhẹ nhàng cầm tay họ và dẫn họ đến với Chúa Giêsu chịu đóng đinh, để họ biết rằng Con Thiên Chúa đã mang lấy tất cả đau khổ của nhân loại. Đức tin không bắt một người mẹ ngừng khóc ngay lập tức; đức tin cũng không xóa ký ức về đứa con đã mất. Đức tin cho phép người mẹ khóc trong vòng tay Thiên Chúa, biến nước mắt thành lời cầu nguyện, biến ký ức thành tình yêu, biến nỗi mất mát thành sự kết hiệp sâu xa hơn với Đức Kitô. Có những vết thương trên trần gian này sẽ không bao giờ hoàn toàn khép lại, nhưng chúng có thể được thánh hóa. Có những câu hỏi sẽ không nhận được câu trả lời đầy đủ trong đời này, nhưng chúng ta có thể đặt câu hỏi ấy vào tay Đấng đã chết và sống lại. Có những người thân không còn hiện diện trước mắt, nhưng trong sự hiệp thông của các thánh, tình yêu không bị tiêu diệt. Mẹ Maria không hứa rằng người đau khổ sẽ quên, nhưng Mẹ giúp họ nhớ trong niềm hy vọng; Mẹ không hứa rằng đêm tối sẽ rất ngắn, nhưng Mẹ ở lại với họ cho đến khi ánh bình minh phục sinh xuất hiện.
Đức Maria cũng dạy chúng ta biết cách mang thập giá của chính mình. Nhiều khi đau khổ trở nên nặng hơn vì chúng ta chống lại thực tại, nuôi dưỡng oán giận hoặc tự cô lập mình. Có người liên tục hỏi tại sao Thiên Chúa lại để điều ấy xảy ra mà không bao giờ dám nói với Người nỗi lòng thật của mình. Có người tỏ ra mạnh mẽ bên ngoài nhưng bên trong đang tan vỡ. Có người nghĩ rằng khóc là yếu đuối, nên dồn nén tất cả cho đến khi tâm hồn trở nên mệt mỏi và cay đắng. Nhìn lên Đức Mẹ Sầu Bi, chúng ta hiểu rằng nước mắt không đối nghịch với đức tin. Chúa Giêsu đã khóc trước mồ Ladarô; Đức Maria đã đau đớn dưới chân thập giá; người Kitô hữu cũng có quyền khóc. Nhưng chúng ta không khóc như những người không có hy vọng. Nước mắt của người tin không rơi vào khoảng không vô nghĩa; từng giọt nước mắt được Thiên Chúa đón nhận, từng tiếng thở dài được Chúa Thánh Thần biến thành lời cầu nguyện. Điều quan trọng không phải là chúng ta có đau khổ hay không, nhưng là chúng ta đau khổ với ai và đau khổ thế nào. Nếu đau khổ một mình, chúng ta dễ bị nhấn chìm; nếu đau khổ với Đức Kitô và trong vòng tay Mẹ Maria, thập giá có thể trở thành con đường trưởng thành trong tình yêu. Mang thập giá không có nghĩa là đi tìm đau khổ, dung dưỡng sự áp bức hay từ chối mọi sự trợ giúp. Người đang bệnh cần tìm cách chữa trị; người bị bạo hành cần được bảo vệ; người bị bất công cần lên tiếng; người trầm cảm cần được nâng đỡ cả về thiêng liêng lẫn chuyên môn. Đức tin không loại bỏ trách nhiệm chăm sóc sự sống. Nhưng khi đã làm tất cả những gì có thể mà thập giá vẫn còn đó, chúng ta được mời gọi đặt nó bên cạnh thập giá Chúa Giêsu. Một giọt nước hòa vào chén thánh tưởng như rất nhỏ bé, nhưng khi được kết hợp với rượu sẽ trở thành Máu Thánh Đức Kitô; cũng vậy, một hy sinh âm thầm, một cơn đau được dâng hiến, một đêm thức bên người bệnh, một sự chịu đựng vì yêu thương, khi được kết hợp với hy lễ Chúa Kitô, sẽ mang một giá trị mà mắt thường không thể đo lường. Đức Maria đã làm như thế: Mẹ không thay thế hy lễ của Con, nhưng kết hợp trọn vẹn với hy lễ ấy bằng đức tin và tình yêu.
Dưới chân thập giá, chúng ta còn nhận ra rằng Mẹ Maria không chỉ là người được an ủi, nhưng còn là người an ủi. Chúa Giêsu đang hấp hối vẫn trao Mẹ cho người môn đệ, như trao cho Hội Thánh một mái nhà của lòng thương xót: “Đây là Mẹ của anh.” Và Tin Mừng nói rằng từ giờ ấy, người môn đệ rước Mẹ về nhà mình. Rước Mẹ về nhà không chỉ là đặt một tượng Đức Mẹ ở nơi trang trọng, đọc vài kinh quen thuộc hay tổ chức những cuộc rước long trọng, dù tất cả những việc đạo đức ấy đều quý giá khi được thực hiện với lòng chân thành. Rước Mẹ về nhà còn là để cung cách của Mẹ đi vào gia đình mình: biết lắng nghe thay vì kết án, biết ở lại thay vì bỏ đi, biết cầu nguyện thay vì tuyệt vọng, biết tha thứ thay vì nuôi hận, biết đem nỗi đau của mình đến với Chúa thay vì trút nó lên người khác. Một gia đình rước Mẹ về nhà phải là một gia đình trong đó người đau yếu không bị coi là gánh nặng, người già không bị bỏ quên, trẻ em được bảo vệ, người lầm lỗi được sửa dạy trong yêu thương, vợ chồng biết nâng đỡ nhau và mọi người dành chỗ cho Chúa. Một giáo xứ rước Mẹ về nhà phải là một cộng đoàn có khả năng nhận ra những giọt nước mắt bị che giấu phía sau nụ cười, biết đến với người đang chịu tang, chăm sóc bệnh nhân, bảo vệ người dễ bị tổn thương và mở cửa cho những ai cảm thấy mình không còn chỗ nào để đi. Một Hội Thánh rước Mẹ về nhà phải là một Hội Thánh đứng bên những thập giá của thời đại, chứ không chỉ nói về thập giá từ nơi an toàn; một Hội Thánh biết chạm vào vết thương của người nghèo, của di dân, người bệnh, người bị bỏ rơi, các nạn nhân bạo lực, những trẻ thơ bị xâm hại và những người bị tước mất tiếng nói. Lòng sùng kính Đức Mẹ Sầu Bi sẽ chưa trọn vẹn nếu chúng ta cảm động trước nước mắt của Mẹ nhưng lại dửng dưng trước nước mắt của người đang sống bên cạnh mình. Không thể quỳ lâu trước tượng Mẹ đau thương rồi bước qua một người đau khổ như thể không nhìn thấy họ. Không thể đọc kinh kính bảy sự thương khó của Mẹ mà vẫn dùng lời nói làm tổn thương người trong gia đình. Không thể hát những bài ca thống thiết về Mẹ đứng bên thập giá mà chúng ta lại bỏ rơi người thân trong chính giờ phút họ cần mình nhất. Tôn kính Mẹ là học nơi Mẹ cách đứng gần thập giá của tha nhân; yêu Mẹ là để trái tim mình trở nên mềm mại trước mọi nỗi đau của con người.
Tuy nhiên, sứ điệp của Đức Mẹ Sầu Bi không dừng lại ở nước mắt. Nếu chỉ nhìn Mẹ dưới chân thập giá mà quên buổi sáng Phục Sinh, chúng ta mới chỉ nhìn thấy một nửa mầu nhiệm. Thập giá và phục sinh không thể tách rời nhau. Lưỡi gươm đã đâm thâu tâm hồn Mẹ, nhưng lưỡi gươm ấy không thể giết chết niềm hy vọng. Tảng đá đã đóng kín cửa mồ, nhưng không thể cầm giữ Đấng là Sự Sống. Sự dữ có giờ của nó, nhưng Thiên Chúa có vĩnh cửu. Bóng tối có thể phủ kín bầu trời chiều thứ Sáu, nhưng không thể ngăn ánh sáng của sáng Chúa nhật. Mẹ Maria đứng dưới chân thập giá vì Mẹ tin rằng lời Thiên Chúa mạnh hơn những gì mắt Mẹ đang thấy. Khi chứng kiến Con mình tắt thở, Mẹ không thể thấy trước hình thức của cuộc phục sinh, nhưng Mẹ biết Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi người công chính. Đây là niềm hy vọng dành cho tất cả chúng ta. Những gì hôm nay dường như là kết thúc có thể chỉ là một chặng đường trong chương trình lớn lao hơn của Thiên Chúa. Một thất bại có thể trở thành trường học của khiêm nhường; một vết thương có thể mở ra khả năng cảm thông; một cuộc chia lìa có thể dạy chúng ta trân trọng tình yêu; một thời gian khô khan có thể thanh luyện đức tin; một cánh cửa đóng lại có thể dẫn chúng ta đến một con đường mới. Điều đó không có nghĩa là mọi đau khổ tự nó đều tốt, nhưng có nghĩa là ân sủng của Thiên Chúa lớn hơn mọi đau khổ. Không có đêm tối nào sâu đến mức Chúa không thể bước vào; không có tội lỗi nào nặng đến mức lòng thương xót Chúa không thể tha thứ cho người thật lòng trở về; không có cuộc đời nào tan vỡ đến mức bàn tay Chúa không thể chạm đến; không có ngôi mộ nào được quyền nói lời cuối cùng trước mặt Đấng Phục Sinh.
Ngày lễ Đức Mẹ Sầu Bi được cử hành ngay sau lễ Suy Tôn Thánh Giá như một sự sắp đặt rất ý nghĩa của phụng vụ. Sau khi chiêm ngắm thập giá vinh quang của Đức Kitô, Hội Thánh mời chúng ta nhìn đến người Mẹ đứng bên thập giá ấy. Không thể hiểu nỗi đau của Mẹ nếu tách khỏi thập giá Con; cũng không thể hiểu sự vững vàng của Mẹ nếu tách khỏi niềm tin vào phục sinh. Mẹ không cứu độ chúng ta thay cho Đức Kitô; chỉ Đức Kitô là Đấng Cứu Độ duy nhất. Nhưng Mẹ cộng tác cách đặc biệt vào chương trình cứu độ bằng lời xin vâng, bằng sự hiến dâng, bằng việc đồng hành và bằng lòng trung tín đến cùng. Mẹ dẫn chúng ta đến với Chúa Giêsu, dạy chúng ta ở lại với Người trong giờ thử thách và khích lệ chúng ta tin tưởng khi mọi sự xem ra vô vọng. Nhìn lên Mẹ, chúng ta hãy tự hỏi: Khi đau khổ đến, tôi thường chạy về đâu? Tôi có để nỗi đau làm mình khép kín và cay đắng không? Tôi có biết đem những câu hỏi của mình đến trước mặt Chúa không? Tôi có đang bỏ rơi ai đó dưới chân thập giá của họ không? Trong gia đình tôi, có người nào đang âm thầm đau khổ mà chưa bao giờ được tôi thật sự lắng nghe không? Có người mẹ nào đang cần một lời thăm hỏi, một bàn tay nâng đỡ hay một sự trợ giúp cụ thể không? Tôi có đủ kiên nhẫn để ở lại với người đang đau mà không vội phán xét, không đưa ra những lời khuyên dễ dàng và không áp đặt thời hạn cho quá trình chữa lành của họ không? Tôi có tin rằng Chúa vẫn hiện diện khi tôi không cảm thấy Người không? Những câu hỏi ấy giúp lòng sùng kính Đức Mẹ đi từ cảm xúc đến hoán cải, từ lời kinh đến hành động, từ việc ngắm nhìn tượng ảnh đến việc nhận ra khuôn mặt đau khổ của Mẹ nơi những người đang sống quanh ta.
Lạy Đức Maria, Mẹ Sầu Bi, dưới chân thập giá, Mẹ đã nhận chúng con làm con của Mẹ; xin đừng để chúng con chạy trốn khi gặp đau khổ, cũng đừng để đau khổ biến chúng con thành những con người cay đắng và khép kín. Xin dạy chúng con biết đứng vững bằng đức tin, biết khóc mà không tuyệt vọng, biết chịu đau mà không ngừng yêu thương, biết thinh lặng mà không đánh mất hy vọng. Xin Mẹ ở bên những bà mẹ đang khóc vì con mình, những gia đình đang chịu tang, những bệnh nhân đang đau đớn, những người cô đơn, những người bị bỏ rơi, những người đang sống trong sợ hãi và những ai tưởng rằng cuộc đời mình không còn lối thoát. Xin Mẹ đem họ đến gần thập giá Chúa Giêsu, để trong cạnh sườn bị đâm thâu của Người, họ tìm thấy nguồn suối của lòng thương xót và bình an. Xin dạy chúng con biết rước Mẹ vào ngôi nhà tâm hồn mình, để cùng với Mẹ, chúng con biết ghi nhớ và suy niệm Lời Chúa; cùng với Mẹ, chúng con biết thưa xin vâng giữa những điều chưa hiểu; cùng với Mẹ, chúng con biết bước theo Chúa trên đường thập giá; cùng với Mẹ, chúng con chờ đợi bình minh Phục Sinh. Xin cho mỗi cộng đoàn Kitô hữu trở thành một mái nhà có chỗ cho người đau khổ, một vòng tay cho người bị bỏ rơi, một tiếng nói cho người không thể tự bảo vệ mình và một dấu chỉ cho thấy Thiên Chúa vẫn đang hiện diện giữa thế giới đầy thương tích. Lạy Mẹ, khi chúng con đứng trước thập giá mà không biết phải cầu nguyện thế nào, xin Mẹ cầu nguyện với chúng con; khi chúng con mệt mỏi muốn bỏ cuộc, xin Mẹ nhắc chúng con rằng tình yêu phải trung thành đến cùng; khi chúng con sợ hãi trước cái chết, xin Mẹ giúp chúng con nhớ rằng ngôi mộ không phải là điểm cuối; khi nước mắt làm mắt chúng con không còn nhìn thấy đường đi, xin Mẹ nắm lấy tay chúng con và dẫn chúng con đến với Con của Mẹ. Bởi vì nơi Chúa Giêsu chịu đóng đinh và phục sinh, mọi nước mắt sẽ được lau khô, mọi vết thương được chữa lành, mọi cuộc chia lìa trong Chúa sẽ gặp ngày đoàn tụ, và sự chết sẽ không còn quyền thống trị. Đức Mẹ Sầu Bi, Mẹ của những người đau khổ, Mẹ của lòng trung thành, Mẹ của niềm hy vọng, xin cầu cho chúng con. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
ĐỨNG BÊN THẬP GIÁ VỚI MẸ MARIA
“Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người… Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: ‘Thưa Bà, đây là con của Bà.’ Rồi Người nói với môn đệ: ‘Đây là mẹ của anh.’ Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình” (Ga 19,25-27).
Phụng vụ lễ Đức Mẹ Sầu Bi ngày 15 tháng 9 đưa chúng ta đến một trong những khung cảnh đau thương nhất nhưng cũng thánh thiêng nhất của lịch sử cứu độ: dưới chân thập giá, nơi Đức Giêsu đang hấp hối giữa trời và đất, có Đức Maria, Mẹ Người, đứng đó. Phụng vụ không nói rằng Mẹ ngã quỵ, chạy trốn hay tuyệt vọng; Tin Mừng chỉ dùng một động từ hết sức ngắn gọn nhưng chứa đựng cả một đại dương đức tin: Mẹ “đứng”. Mẹ đứng bên thập giá. Mẹ đứng trong đau đớn. Mẹ đứng giữa bóng tối. Mẹ đứng khi những hy vọng tưởng như đã sụp đổ. Mẹ đứng khi Người Con mà Mẹ đã cưu mang, sinh hạ, nuôi dưỡng và yêu thương đang bị treo trần trụi trên cây gỗ ô nhục. Mẹ đứng khi những lời thiên thần Gabriel năm xưa dường như bị phủ định bởi tiếng nhục mạ của đám đông; Mẹ đứng khi ngai vàng của Đấng thuộc dòng dõi Đavít lại là một cây thập giá, triều thiên của Người là vòng gai, vương trượng của Người là những cây đinh, thần dân của Người chỉ còn vài phụ nữ trung tín và một người môn đệ trẻ. Mẹ đứng không phải vì Mẹ không đau, nhưng vì tình yêu giúp Mẹ đứng vững; không phải vì Mẹ hiểu hết mọi điều, nhưng vì Mẹ tín thác trọn vẹn; không phải vì Mẹ đã nhìn thấy ánh sáng Phục Sinh, nhưng vì ngay giữa đêm tối khủng khiếp nhất Mẹ vẫn tin rằng Thiên Chúa không bao giờ thất tín. Lễ Đức Mẹ Sầu Bi không mời chúng ta chỉ dừng lại ở việc thương cảm một người mẹ mất con. Nếu chỉ nhìn bằng đôi mắt tự nhiên, đồi Canvê là thất bại, thập giá là ô nhục, cái chết của Đức Giêsu là dấu chấm hết và nỗi đau của Đức Maria chỉ là một bi kịch. Nhưng dưới ánh sáng đức tin, Mẹ đứng bên thập giá không chỉ như một người mẹ đang đau khổ vì Con mình; Mẹ còn đứng đó như người nữ của lời hứa, như người môn đệ trung tín nhất, như hình ảnh của Hội Thánh, như Evà mới đang hiệp thông với Ađam mới trong giờ khai sinh một nhân loại mới. Chính nơi tưởng như sự sống đã bị tiêu diệt, sự sống mới lại đang được sinh ra; chính nơi tưởng như tình yêu đã bị đóng đinh, tình yêu lại đạt đến mức viên mãn; chính nơi tưởng như Mẹ mất Con, Mẹ lại được trao ban vô số người con. Nỗi đau của Mẹ vì thế không phải là một nỗi đau vô nghĩa, khép kín hay tuyệt vọng, nhưng là nỗi đau được hiệp nhất với hy lễ cứu độ của Đức Kitô, nỗi đau mở lòng đón nhận nhân loại, nỗi đau sinh ra tình mẫu tử thiêng liêng đối với Hội Thánh và với từng người chúng ta.
Bài đọc trích thư gửi tín hữu Do Thái cho chúng ta chiêm ngắm chiều sâu của mầu nhiệm ấy: “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết… Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (Dt 5,7-9). Những lời này làm cho chúng ta bàng hoàng, bởi Đức Giêsu không bước qua đau khổ như một con người vô cảm, không coi cái chết như một màn kịch đã được sắp đặt, cũng không dùng quyền năng Thiên Chúa để miễn trừ mình khỏi thân phận con người. Người đã thật sự run sợ, thật sự kêu van, thật sự rơi lệ, thật sự cảm nếm nỗi cô đơn, thật sự chịu sự dữ nghiền nát thân xác và làm tan nát trái tim. Đức Maria cũng vậy. Mẹ không phải là pho tượng bằng đá không biết đau; Mẹ là một người mẹ có trái tim bằng thịt, một trái tim dịu dàng, nhạy cảm và yêu thương hơn bất cứ trái tim người mẹ nào. Vì thế, nỗi đau của Mẹ cũng sâu hơn mọi nỗi đau. Mỗi nhát búa đóng vào tay chân Đức Giêsu dường như cũng đóng vào lòng Mẹ; mỗi lời chế nhạo nhắm vào Con cũng xuyên thấu tâm hồn Mẹ; mỗi giọt máu chảy xuống từ thân thể Con như mang theo một phần sự sống của Mẹ. Người Con ấy đã nhận lấy thân xác từ cung lòng Mẹ. Đôi tay bị đinh xuyên thủng kia đã từng là đôi tay bé nhỏ nắm lấy ngón tay Mẹ. Khuôn mặt đầy máu và bụi bẩn kia là khuôn mặt Mẹ từng âu yếm ngắm nhìn trong máng cỏ Bêlem. Đôi mắt đang dần khép lại kia đã từng nhìn Mẹ bằng ánh mắt trong veo của một trẻ thơ. Đôi môi khô khát kia đã từng gọi Mẹ bằng tiếng gọi yêu thương. Thân thể bị thương tích kia đã từng được Mẹ quấn tã, bồng ẵm và chở che. Không có nỗi đau nào của Đức Giêsu mà Mẹ không cảm nhận; không có sự nhục nhã nào của Con mà Mẹ không mang trong lòng. Lời tiên báo của cụ già Simêon năm xưa nay được hoàn tất: “Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2,35). Lưỡi gươm ấy không giết chết thân xác Mẹ, nhưng xuyên qua tâm hồn Mẹ từng ngày; nó bắt đầu từ tiếng khóc của các hài nhi Bêlem, từ cuộc trốn chạy sang Ai Cập, từ những ngày lưu lạc nơi đất khách, từ ba ngày lạc mất Con trong Đền Thờ, từ những lần người ta chống đối, hiểu lầm và tìm giết Đức Giêsu, để rồi đâm thâu sâu nhất khi Mẹ đứng dưới chân thập giá. Tuy nhiên, chính tại đây vẻ đẹp của đức tin nơi Mẹ tỏa sáng nhất: Mẹ đau nhưng không oán trách, Mẹ khóc nhưng không tuyệt vọng, Mẹ bị đâm thâu nhưng không để trái tim mình hóa thành cay đắng, Mẹ không hiểu hết nhưng không ngừng tin, Mẹ mất mọi sự mà vẫn còn Thiên Chúa. Mẹ dạy chúng ta rằng đức tin không phải là không bao giờ đau khổ; đức tin là vẫn trung thành khi đau khổ. Đức tin không phải là luôn nhìn thấy con đường phía trước; đức tin là vẫn nắm lấy tay Chúa khi con đường chìm trong bóng tối. Đức tin không phải là nhận được mọi điều ta cầu xin; đức tin là vẫn nói “xin vâng” khi chương trình của Thiên Chúa hoàn toàn khác với mong đợi của ta. Đức tin không cất thập giá khỏi đời ta, nhưng ban cho ta sức mạnh để đứng bên thập giá, mang lấy thập giá và biến thập giá thành nơi gặp gỡ Thiên Chúa.
Tin Mừng không ghi lại một lời nào của Đức Maria trên đồi Canvê. Mẹ thinh lặng. Nhưng sự thinh lặng ấy không trống rỗng; đó là sự thinh lặng đầy ắp tình yêu, lời cầu nguyện và hiến dâng. Có những nỗi đau lớn đến mức ngôn ngữ của con người trở nên bất lực. Khi một người mẹ mất con, khi một gia đình chứng kiến người thân hấp hối, khi một người bị phản bội, khi một bệnh nhân nhận bản án nghiệt ngã, khi người ta đứng trước sự tan vỡ của hôn nhân, sự thất bại của con cái, sự ra đi của người thân hay sự sụp đổ của một ước mơ đã xây dựng suốt đời, lời nói đôi khi chẳng còn đủ sức diễn tả. Trong những giờ phút đó, chúng ta thường hỏi: “Lạy Chúa, tại sao?” Chúng ta muốn có một lời giải thích rõ ràng, nhưng bầu trời dường như im lặng. Đức Maria cũng không nhận được một bản giải thích nào dưới chân thập giá. Mẹ chỉ có người Con đang hấp hối và ký ức về lời Thiên Chúa đã hứa. Mẹ không được đưa ra khỏi thử thách; Mẹ được mời đi xuyên qua thử thách. Thiên Chúa không cất lưỡi gươm khỏi tâm hồn Mẹ; Người giúp Mẹ biến vết thương thành cửa ngõ của ân sủng. Đây là một bài học vô cùng quý giá cho chúng ta: không phải lúc nào Thiên Chúa cũng cho chúng ta biết nguyên nhân của đau khổ, nhưng Người luôn có thể ban cho đau khổ một ý nghĩa; không phải lúc nào Người cũng thay đổi hoàn cảnh, nhưng Người có thể biến đổi trái tim chúng ta; không phải lúc nào Người cũng giải thoát chúng ta khỏi nước mắt, nhưng Người không để một giọt nước mắt nào rơi xuống vô ích khi nó được hiệp cùng nước mắt của Đức Kitô và Đức Maria. Người đời thường hỏi đau khổ đến từ đâu, còn đức tin mời gọi chúng ta tiến thêm một bước: trong đau khổ này, tôi có thể yêu thế nào, tín thác thế nào, trung thành thế nào, và kết hợp với Đức Kitô ra sao? Đau khổ tự nó không phải là điều tốt và người Kitô hữu không tôn thờ đau khổ. Chúng ta được quyền tránh đau khổ khi có thể, chữa trị bệnh tật, bảo vệ người yếu thế, chống lại bất công và lau khô nước mắt cho nhau. Nhưng khi có những thập giá không thể tránh khỏi, ta không để chúng trở thành ngõ cụt. Với Đức Kitô, đau khổ có thể trở thành lễ vật; với Đức Maria, nước mắt có thể trở thành lời cầu nguyện; trong tình yêu, vết thương có thể trở thành nơi ta biết cảm thông với những vết thương của người khác. Người chưa từng đau có thể dễ dàng nói những lời khuyên đẹp đẽ; người đã đi qua đau khổ với Chúa thường biết ngồi lặng lẽ bên người đau khổ, không xét đoán, không giảng giải vội vàng, không ép họ phải mạnh mẽ, nhưng trao cho họ một sự hiện diện dịu dàng. Đức Maria đã không thể tháo những cây đinh khỏi tay Con, nhưng Mẹ đã không bỏ Con một mình. Có lúc chúng ta cũng không thể chữa lành bệnh tật của người thân, không thể giải quyết khủng hoảng của một gia đình, không thể làm người đã chết sống lại, không thể xóa sạch quá khứ đau buồn của một người; nhưng chúng ta vẫn có thể ở lại. Sự hiện diện trung thành có khi là món quà lớn nhất ta có thể trao. Đứng bên thập giá của người khác là không chạy trốn khi họ không còn gì hấp dẫn, không bỏ đi khi họ trở thành gánh nặng, không chỉ xuất hiện vào những ngày vui rồi biến mất trong lúc khốn khó. Đức Mẹ Sầu Bi dạy chúng ta một thứ tình yêu biết ở lại.
Giữa giờ phút hấp hối, Đức Giêsu nhìn thấy Mẹ và người môn đệ mình yêu mến. Người nói với Mẹ: “Thưa Bà, đây là con của Bà”, rồi nói với môn đệ: “Đây là mẹ của anh.” Trong cơn đau khủng khiếp, Đức Giêsu vẫn nhìn thấy nỗi đau và sự cô đơn của người khác. Người không khép mình trong đau khổ riêng. Thập giá không làm tình yêu của Người cạn kiệt; trái lại, trên thập giá tình yêu ấy tuôn trào đến cùng. Người trao Mẹ cho người môn đệ và trao người môn đệ cho Mẹ. Đây không chỉ là một sự sắp xếp để Đức Maria có người chăm sóc sau khi Người qua đời. Nếu chỉ như thế, Đức Giêsu có thể nhờ những người bà con của mình. Nhưng việc Người gọi Mẹ là “Bà”, gọi người môn đệ là “con” và long trọng trao phó họ cho nhau cho thấy một mầu nhiệm lớn hơn: dưới chân thập giá, một gia đình mới được sinh ra. Đức Maria trở thành Mẹ của những người thuộc về Đức Kitô; người môn đệ được yêu mến đại diện cho tất cả các môn đệ, cho Hội Thánh và cho từng người chúng ta. Từ giờ phút đó, không ai thực sự thuộc về Đức Giêsu mà lại có thể coi Đức Maria là người xa lạ. Chính Đức Giêsu đã trao Mẹ Người cho chúng ta. Lời “Đây là mẹ của anh” là một lời trối, một ân huệ và cũng là một trách nhiệm. Người môn đệ không chỉ biết Mẹ hay thỉnh thoảng đến thăm Mẹ, nhưng “rước Mẹ về nhà mình”. Rước Mẹ về nhà là dành cho Mẹ một chỗ trong đời sống đức tin, trong gia đình, trong niềm vui, trong nỗi buồn, trong công việc và trong những cuộc chiến đấu thầm kín của ta. Rước Mẹ về nhà là học với Mẹ cách lắng nghe Lời Chúa, ghi nhớ và suy niệm trong lòng; học nói lời xin vâng khi Chúa mời gọi; học lên đường phục vụ như Mẹ đã đến với bà Êlisabét; học chỉ cho người khác đến với Đức Giêsu như tại tiệc cưới Cana; học đứng vững dưới chân thập giá; học cầu nguyện cùng Hội Thánh để chờ đợi Chúa Thánh Thần. Lòng sùng kính Đức Mẹ chân chính không bao giờ giữ chúng ta lại nơi Mẹ nhưng luôn dẫn chúng ta đến với Đức Kitô. Mẹ không chiếm chỗ của Chúa; Mẹ dạy ta dành trọn cuộc đời cho Chúa. Mẹ không tìm vinh quang cho mình; Mẹ chỉ nói: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Ai thực sự yêu mến Đức Maria sẽ càng yêu mến Lời Chúa, Thánh Thể, Hội Thánh, người nghèo và đời sống thánh thiện. Nếu ta đọc nhiều kinh kính Đức Mẹ nhưng vẫn nuôi lòng hận thù, nói xấu, chia rẽ, sống bất công hay vô cảm trước người đau khổ, thì ta chưa thật sự rước Mẹ vào nhà. Rước Mẹ là để cho cung cách của Mẹ thấm vào cách sống của mình: khiêm nhường hơn, dịu dàng hơn, biết lắng nghe hơn, trung tín hơn và quảng đại phục vụ hơn.
Đức Maria đứng dưới chân thập giá cũng là hình ảnh của Hội Thánh đứng bên những thập giá của nhân loại. Hội Thánh không được phép chỉ đứng trong những nơi an toàn, sạch sẽ và danh giá; Hội Thánh phải có mặt ở nơi con người bị đóng đinh: bên giường bệnh, trong những khu nhà nghèo, giữa các gia đình tan vỡ, bên những người bị bỏ rơi, nơi các nạn nhân của chiến tranh, bạo lực, buôn người và lạm dụng, bên những người già cô độc, những trẻ em không được bảo vệ, những người trẻ mất phương hướng, những người di dân không quê hương, những người mang bệnh tâm thần mà ít ai thấu hiểu. Nếu Hội Thánh là Mẹ, Hội Thánh phải biết đau với nỗi đau của con cái mình. Một cộng đoàn không còn biết khóc trước bất hạnh của con người có nguy cơ trở thành một cơ cấu lạnh lùng. Một người Kitô hữu thờ ơ trước nước mắt của tha nhân chưa hiểu ý nghĩa của việc đứng dưới chân thập giá. Nỗi đau của Đức Maria thanh luyện lòng đạo của chúng ta khỏi thứ cảm xúc chóng qua để dẫn đến lòng thương xót cụ thể. Không đủ để ngắm tượng Mẹ Sầu Bi với bảy lưỡi gươm rồi xúc động trong chốc lát; chúng ta phải nhận ra hình ảnh Mẹ nơi người mẹ đang khóc vì đứa con nghiện ngập, nơi người vợ chịu bạo hành, nơi người cha bất lực trước bệnh tật của con, nơi người bà âm thầm cầu nguyện cho gia đình đang chia rẽ, nơi người mẹ phải tiễn con ra chiến trường, nơi những bậc cha mẹ mang nỗi đau vì con rời xa đức tin. Mỗi giọt nước mắt ấy là lời mời gọi chúng ta đến gần. Có thể chúng ta không giải quyết được tất cả, nhưng có thể lắng nghe, thăm hỏi, bảo vệ, chia sẻ một phần gánh nặng và cầu nguyện. Chúng ta đừng nói quá nhanh với người đau khổ rằng “đó là ý Chúa”, như thể Thiên Chúa vui thích trước nỗi đau của họ. Hãy giúp họ nhìn thấy rằng ngay trong nỗi đau ấy, Thiên Chúa vẫn hiện diện, cùng khóc với họ, nâng đỡ họ và mở ra một con đường mà hôm nay họ chưa thể nhìn thấy. Trên đồi Canvê, Thiên Chúa không đứng ngoài đau khổ để giải thích đau khổ; Người đi vào đau khổ, mang lấy đau khổ và biến nó từ bên trong. Đó là câu trả lời sâu xa nhất của Kitô giáo trước mầu nhiệm sự dữ: không phải một lý thuyết, nhưng là một Đấng chịu đóng đinh; không phải một công thức, nhưng là một tình yêu đi đến tận cùng; không phải một vị thần xa cách, nhưng là Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta ngay cả trong vực sâu của mất mát.
Đức Mẹ Sầu Bi còn giúp chúng ta nhìn lại cách mình đối diện với những vết thương riêng. Có người mang một vết thương từ thời thơ ấu, có người bị ám ảnh bởi một thất bại, có người không thể quên một lời xúc phạm, có người đang âm thầm chịu đựng một căn bệnh, có người luôn tỏ ra vui vẻ nhưng đêm về lại khóc một mình. Ta thường cố che giấu vết thương vì sợ người khác coi thường; có lúc ta biến vết thương thành lý do để khép kín, cay nghiệt hay làm tổn thương người khác. Mẹ Maria dạy ta đem vết thương đến dưới chân thập giá. Mẹ không phủ nhận lưỡi gươm, nhưng không để nó tách Mẹ khỏi Thiên Chúa. Vết thương được giấu trong bóng tối thường mưng mủ; vết thương được đặt trước ánh sáng của Đức Kitô có thể bắt đầu được chữa lành. Chữa lành không có nghĩa là quên sạch quá khứ hay không còn cảm thấy đau, nhưng là quá khứ không còn quyền điều khiển hiện tại; là chúng ta có thể nhớ lại mà không còn bị hận thù nuốt chửng; là ta không tiếp tục truyền vết thương của mình cho người vô tội; là ta dần có khả năng tha thứ, dù hành trình ấy lâu dài và đòi nhiều ân sủng. Mẹ không trả thù những người đóng đinh Con mình. Mẹ không dùng đau khổ để nuôi hận thù. Trái tim Mẹ bị đâm thâu nhưng vẫn rộng mở. Đây chính là chiến thắng thầm lặng của Mẹ: sự dữ có thể làm Mẹ đau nhưng không thể biến Mẹ thành người xấu; bạo lực có thể lấy đi Người Con khỏi vòng tay Mẹ nhưng không thể lấy đi tình yêu khỏi trái tim Mẹ. Chúng ta cũng chỉ thực sự chiến thắng sự dữ khi không để nó biến ta thành điều ta căm ghét. Nếu bị xúc phạm mà ta trở thành kẻ chuyên xúc phạm, nếu bị phản bội mà ta không còn tin ai, nếu bị đối xử tàn nhẫn rồi ta tàn nhẫn với người khác, thì sự dữ đã tiếp tục sinh sôi qua ta. Còn nếu trong ân sủng Chúa, ta vẫn chọn yêu thương, vẫn không đóng cửa lòng, vẫn bảo vệ sự thiện, thì ngay giữa thương tích một sự phục sinh đã bắt đầu.
Chuỗi ca tiếp liên Stabat Mater mà phụng vụ đề nghị trong ngày lễ diễn tả khát vọng rất đẹp: được đứng bên thập giá cùng Mẹ, được chia sẻ nước mắt của Mẹ, được khắc ghi thương tích của Đức Kitô vào lòng và được kết hợp với cuộc khổ nạn của Người. Đây không phải là khát vọng tìm kiếm đau khổ, nhưng là xin cho trái tim thoát khỏi sự chai đá. Một trong những bi kịch lớn của thời đại chúng ta là con người nhìn thấy quá nhiều đau khổ đến mức không còn biết đau. Mỗi ngày chúng ta xem hình ảnh chiến tranh, tai nạn, đói nghèo và bạo lực; rồi chỉ vài giây sau lại lướt sang một nội dung giải trí khác. Trái tim dễ trở nên tê liệt. Ta có thể biết rất nhiều tin tức nhưng không thật sự chạm đến nỗi đau của bất cứ ai. Đứng cùng Mẹ dưới chân thập giá là xin cho mình được trả lại một trái tim biết rung động, biết khóc với người khóc, biết đau trước tội lỗi, biết xót xa khi một con người bị chà đạp. Nước mắt không phải lúc nào cũng là dấu hiệu của yếu đuối. Có những giọt nước mắt là bằng chứng trái tim vẫn còn sống. Đức Giêsu đã khóc trước mộ Ladarô; Người đã khóc thương Giêrusalem; Người đã lớn tiếng kêu van trong cuộc khổ nạn. Đức Maria cũng khóc dưới chân thập giá. Người Kitô hữu không phải là người không bao giờ khóc, nhưng là người không khóc trong cô độc và không khóc như kẻ không có hy vọng. Nước mắt của ta hòa với nước mắt của Chúa và của Mẹ có thể trở thành một lời cầu nguyện mà miệng lưỡi không diễn tả nổi.
Điều cuối cùng mà lễ Đức Mẹ Sầu Bi muốn khắc ghi trong chúng ta là đau khổ không có tiếng nói cuối cùng. Phụng vụ xin cho Hội Thánh, khi được cùng Đức Maria thông phần cuộc khổ nạn của Đức Kitô, cũng được đạt tới vinh quang Phục Sinh. Thập giá không phải điểm kết thúc; sau chiều thứ Sáu là bình minh Chúa nhật. Đức Maria đứng dưới chân thập giá cũng chính là người sẽ vui mừng trong chiến thắng của Con. Mẹ đã không được miễn trừ khỏi đau khổ, nhưng đau khổ không thể cướp mất lời hứa của Thiên Chúa. Đây là niềm hy vọng cho mọi người đang đi qua đêm tối. Có thể hôm nay ta chỉ nhìn thấy thập giá, nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị bình minh. Có thể hôm nay hạt giống đang bị chôn vùi trong lòng đất, nhưng chính nơi ấy một mầm sống đang âm thầm hình thành. Có thể hôm nay ta chưa hiểu vì sao Chúa để điều ấy xảy ra, nhưng ngày kia ta sẽ nhận ra không một hành vi yêu thương, không một hy sinh âm thầm và không một giọt nước mắt nào được dâng lên trong đức tin lại bị quên lãng. Đức Maria không hứa rằng những ai chạy đến với Mẹ sẽ không bao giờ gặp thập giá; Mẹ hứa đồng hành để ta không phải vác thập giá một mình. Mẹ không luôn thay đổi con đường, nhưng Mẹ nắm tay ta trên con đường ấy. Mẹ không cất khỏi đời ta mọi lưỡi gươm, nhưng giúp trái tim ta không bị lưỡi gươm của đau khổ biến thành đá. Khi đời ta rơi vào những giờ phút Canvê, hãy nghe lại lời Đức Giêsu: “Đây là mẹ của anh.” Hãy rước Mẹ vào nhà, vào nỗi sợ hãi, vào bệnh tật, vào cô đơn, vào những bế tắc và cả những vết thương ta chưa từng kể với ai. Hãy để Mẹ đứng bên ta, dạy ta nhìn lên Đấng chịu đóng đinh và nói trong thinh lặng: “Lạy Chúa, con chưa hiểu, nhưng con vẫn tin; con đang đau, nhưng con không rời bỏ Chúa; con không còn sức, nhưng con xin đặt đời con trong tay Chúa.” Đồng thời, ta cũng hãy nghe Đức Giêsu trao những người đau khổ chung quanh cho mình: “Đây là mẹ của con, đây là anh chị em của con, đây là người con phải yêu thương.” Đừng để họ đứng dưới chân thập giá một mình. Hãy trở nên người môn đệ biết đón nhận, người bạn biết ở lại, người thân biết lắng nghe, người Kitô hữu biết mang lấy một phần gánh nặng của tha nhân. Khi ấy, việc kính nhớ Đức Mẹ Sầu Bi không chỉ còn là một ngày lễ trên lịch phụng vụ, nhưng trở thành một cung cách sống: sống trung thành trong thử thách, dịu dàng trước đau khổ, kiên vững trong đêm tối, mở lòng với tha nhân và không bao giờ đánh mất hy vọng Phục Sinh.
Lạy Đức Maria, Mẹ Sầu Bi, Mẹ đã đứng dưới chân thập giá khi mọi sự chung quanh dường như sụp đổ, xin dạy chúng con biết đứng vững trong những giờ thử thách. Khi đau khổ làm chúng con hoang mang, xin giúp chúng con vẫn tín thác; khi lời cầu nguyện dường như không được đáp lời, xin giúp chúng con vẫn kiên trì; khi bóng tối che khuất mọi lối đi, xin nhắc chúng con rằng Thiên Chúa vẫn trung thành. Xin Mẹ đứng bên những người đang hấp hối, những người đang chịu bệnh tật, những gia đình đang tan vỡ, những người mẹ đang khóc vì con, những người bị bỏ rơi và tất cả những ai đang mang một lưỡi gươm trong lòng. Xin dạy chúng con đừng chạy trốn thập giá của anh chị em mình, nhưng biết hiện diện, lắng nghe, cảm thông và nâng đỡ. Xin khắc vào trái tim chúng con những thương tích của Đức Kitô để chúng con biết ghét tội lỗi nhưng yêu thương người tội lỗi, biết chống lại sự dữ mà không trở nên cay độc, biết chịu tổn thương mà không khép kín lòng mình. Lạy Mẹ, trong giờ đau khổ, xin cho chúng con nghe được lời Đức Giêsu: “Đây là mẹ của con”; trong giờ phải phục vụ người khác, xin cho chúng con cũng nghe được lời Người: “Đây là con của mẹ.” Xin Mẹ dẫn chúng con đi qua thập giá đến Phục Sinh, đi qua nước mắt đến niềm vui, đi qua đêm tối đến ánh sáng và đi qua cái chết đến sự sống đời đời. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
ĐỨC MARIA SẦU BI – NGƯỜI MẸ ĐỨNG DƯỚI CHÂN THẬP GIÁ VÀ DẠY CHÚNG TA BIẾT ĐAU KHỔ TRONG NIỀM HY VỌNG
Hằng năm, vào ngày 15 tháng 9, ngay sau lễ Suy Tôn Thánh Giá, Hội Thánh long trọng cử hành lễ nhớ Đức Trinh Nữ Maria Sầu Bi. Việc sắp xếp hai ngày lễ liền nhau không phải là một sự tình cờ của lịch phụng vụ, nhưng chứa đựng một ý nghĩa thần học và thiêng liêng rất sâu xa: ngày 14 tháng 9, Hội Thánh hướng mắt lên Thánh Giá của Đức Kitô, nơi Con Thiên Chúa hiến dâng mạng sống để cứu chuộc nhân loại; ngày 15 tháng 9, Hội Thánh lại mời gọi chúng ta nhìn xuống chân Thánh Giá, nơi có một người Mẹ đang đứng lặng, đau đớn nhưng không tuyệt vọng, tan nát cõi lòng nhưng không bỏ đi, nước mắt chan hòa nhưng đức tin vẫn bền vững. Thánh Giá của Chúa Giêsu và nỗi đau của Đức Maria không phải là hai mầu nhiệm tách biệt, nhưng gặp nhau trong cùng một mầu nhiệm tình yêu tự hiến. Đức Giêsu cứu độ nhân loại bằng cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Người; còn Đức Maria, trong tư cách là Mẹ của Đấng Cứu Thế và người môn đệ hoàn hảo nhất, đã liên kết toàn bộ tâm hồn mình với hy lễ của Con. Mẹ không thay thế Đức Kitô, không thêm điều gì vào sự viên mãn của công trình cứu chuộc do một mình Người thực hiện, nhưng Mẹ đã đón nhận, cộng tác và bước vào mầu nhiệm ấy bằng sự vâng phục của đức tin, bằng tình mẫu tử và bằng nỗi đau không thể diễn tả thành lời. Bởi thế, kính nhớ Đức Mẹ Sầu Bi không có nghĩa là chỉ dừng lại trước những giọt nước mắt của một người mẹ mất con, nhưng là chiêm ngắm một đức tin đã đi qua lưỡi gươm, một tình yêu đã được thanh luyện trong đau khổ, một niềm hy vọng vẫn cháy sáng giữa giờ phút tưởng như mọi hy vọng đều bị chôn vùi.
Tin Mừng theo thánh Gioan đưa chúng ta đến tận đồi Canvê: “Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Clôpát, cùng với bà Maria Mácđala. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: ‘Thưa Bà, đây là con của Bà.’ Rồi Người nói với môn đệ: ‘Đây là mẹ của anh.’ Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình” (Ga 19,25-27). Thánh Gioan không viết rằng Đức Maria quỵ ngã, chạy trốn hay gào thét trong tuyệt vọng; ngài viết một động từ ngắn nhưng có sức nặng vô cùng: Mẹ “đứng”. Mẹ đứng gần Thánh Giá. Mẹ đứng đó bằng đôi chân của một người phụ nữ đã kiệt sức vì đau đớn, nhưng còn hơn thế nữa, Mẹ đứng bằng đức tin, bằng sự trung thành, bằng lời “xin vâng” năm xưa tại Nazareth. Ngày truyền tin, Mẹ đã thưa: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Trên đồi Canvê, Mẹ không lập lại lời ấy bằng môi miệng, nhưng bằng toàn bộ con người đang bị lưỡi gươm đau khổ xuyên thấu. Lời “xin vâng” tại Nazareth đã đưa Ngôi Lời vào cung lòng Mẹ; lời “xin vâng” thầm lặng tại Canvê đưa Mẹ vào tận trái tim của hy lễ cứu độ. Khi còn là một thiếu nữ, Mẹ xin vâng trước một tương lai chưa biết; dưới chân Thánh Giá, Mẹ xin vâng trước một thực tại đau đớn đang xảy ra ngay trước mắt. Khi truyền tin, Mẹ đón Con Thiên Chúa vào lòng; tại Canvê, Mẹ trao chính Người Con ấy cho nhân loại. Khi sinh Chúa tại Bêlem, Mẹ bọc Con trong khăn và đặt nằm trong máng cỏ; chiều Thứ Sáu Thánh, Mẹ sẽ lại đón thân xác Con được tháo xuống khỏi Thánh Giá, nhưng thân xác ấy đã lạnh giá, đầy thương tích và không còn hơi thở. Có nỗi đau nào của một người mẹ lớn hơn nỗi đau ấy? Có sự thinh lặng nào nặng nề hơn sự thinh lặng giữa người Mẹ và người Con hấp hối? Thế nhưng chính ở nơi tận cùng của đau khổ, tình yêu của Mẹ lại đạt tới sự trưởng thành viên mãn: Mẹ không giữ Con lại cho riêng mình, nhưng cùng với Người hiến dâng tất cả cho Thiên Chúa và cho phần rỗi nhân loại.
Tước hiệu “Đức Mẹ Sầu Bi” được khơi nguồn từ chính những trình thuật Tin Mừng nói về cuộc đời Đức Maria và sự liên kết của Mẹ với cuộc khổ nạn của Đức Kitô. Lòng sùng kính này dần phát triển trong đời sống Hội Thánh, đặc biệt gắn với việc suy ngắm bảy sự thương khó của Đức Mẹ. Dòng Tôi Tớ Đức Mẹ, thường được gọi là Dòng Servite, đã góp phần đặc biệt trong việc phổ biến lòng sùng kính Đức Maria Sầu Bi. Việc cử hành sau đó được đưa vào lịch phụng vụ Rôma và được ấn định vào ngày 15 tháng 9, sát sau lễ Suy Tôn Thánh Giá, để giúp các tín hữu chiêm ngắm sự hiện diện của Mẹ trong cuộc thương khó của Con. Vatican News nhắc đến sự phát triển phụng vụ ấy và mối liên hệ chặt chẽ giữa ngày kính Đức Mẹ Sầu Bi với mầu nhiệm Thánh Giá. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn những mốc lịch sử là tiếng gọi thiêng liêng vang lên từ ngày lễ: Hội Thánh muốn các tín hữu không chỉ biết về nỗi đau của Mẹ, nhưng còn bước vào trường học của Mẹ, học cách sống đau khổ trong đức tin và biến những vết thương của mình thành nơi gặp gỡ Thiên Chúa.
Truyền thống đạo đức Công giáo suy ngắm bảy nỗi đau của Đức Maria. Nỗi đau thứ nhất là lời tiên báo của cụ già Simêon trong Đền Thờ. Khi Đức Maria và thánh Giuse đem Hài Nhi Giêsu lên Giêrusalem để tiến dâng cho Thiên Chúa, cụ Simêon đã nói với Mẹ: “Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Israel ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng; còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2,34-35). Ngày dâng Con trong Đền Thờ lẽ ra phải là một ngày tràn đầy niềm vui, nhưng giữa niềm vui ấy đã xuất hiện bóng dáng của lưỡi gươm. Mẹ chưa biết tất cả những gì sẽ xảy đến, nhưng Mẹ hiểu rằng Con mình sẽ bị chống đối và chính trái tim Mẹ cũng sẽ chịu thương tích. Đức tin không giúp Mẹ biết trước mọi chi tiết để tránh khỏi lo âu; đức tin giúp Mẹ tin rằng Thiên Chúa vẫn trung tín ngay cả khi con đường phía trước bị che phủ bởi bóng tối. Đó cũng là kinh nghiệm của chúng ta. Có những ngày đang vui bỗng nghe một tin dữ, đang khỏe mạnh bỗng nhận kết quả bệnh tật, đang bình an bỗng gia đình xảy ra biến cố, đang hy vọng bỗng đối diện với một tương lai bấp bênh. Chúng ta không nhìn thấy toàn bộ con đường, nhưng Đức Maria dạy rằng đức tin không phải là nắm chắc mọi câu trả lời; đức tin là nắm chặt tay Chúa ngay khi không có câu trả lời nào.
Nỗi đau thứ hai là cuộc trốn sang Ai Cập. Vừa mới hạ sinh Con, Mẹ đã phải cùng thánh Giuse đưa Hài Nhi chạy trốn trong đêm tối vì vua Hêrôđê tìm giết Người. Gia đình Thánh Gia trở thành một gia đình tị nạn, rời bỏ quê hương, đi vào một vùng đất xa lạ, mang theo rất ít hành trang nhưng chất chứa biết bao lo sợ. Mẹ hiểu nỗi khổ của những bà mẹ phải ôm con chạy khỏi bom đạn, chiến tranh, bách hại, nghèo đói và bạo lực. Mẹ hiểu giọt nước mắt của người phải bỏ làng quê, mái nhà, mồ mả tổ tiên và bước vào một tương lai không biết ngày mai sẽ ra sao. Vì thế, Đức Mẹ Sầu Bi không phải là một hình ảnh xa cách được đặt trên bàn thờ để chúng ta chỉ ngắm nhìn; Mẹ là người đồng hành với mọi kẻ lưu vong, mọi người di dân, mọi gia đình mất nhà cửa, mọi người phải sống nơi đất khách quê người. Khi chúng ta cầu nguyện trước ảnh Mẹ Sầu Bi, chúng ta không thể đóng cửa lòng mình trước những con người đang đau khổ ngoài kia. Ai thật lòng yêu mến Mẹ cũng phải biết nhận ra khuôn mặt Chúa Giêsu đang run rẩy trong những trẻ em vô tội và nhận ra nỗi lo của Mẹ trong những bà mẹ đang ôm con giữa chiến tranh.
Nỗi đau thứ ba là ba ngày lạc mất Chúa Giêsu trong Đền Thờ. Đó không phải là việc Mẹ đánh mất một món đồ, nhưng là mất dấu người Con quý giá nhất. Mẹ và thánh Giuse đã “đau khổ tìm con”. Ba ngày ấy là ba ngày của trống vắng, tự vấn và mong ngóng; đồng thời cũng báo trước ba ngày Con nằm trong mồ. Có những lúc trong đời, chúng ta tưởng mình đã mất Chúa. Ta cầu nguyện mà không cảm thấy Người trả lời, tham dự Thánh lễ mà tâm hồn vẫn khô khan, đối diện với thử thách mà tưởng như Thiên Chúa vắng mặt. Có người vì một biến cố đau thương mà hỏi: “Chúa ở đâu?” Có người vì tội lỗi của mình mà nghĩ rằng không còn đường trở về. Có người vẫn giữ các việc đạo đức bên ngoài nhưng bên trong lại lạnh lẽo, trống rỗng. Đức Maria dạy chúng ta một điều vô cùng quan trọng: khi không thấy Chúa, hãy tiếp tục tìm kiếm Người. Mẹ không ngồi lại trong tuyệt vọng; Mẹ trở về Giêrusalem, trở lại Đền Thờ và cuối cùng gặp Con. Muốn tìm lại Chúa, chúng ta cũng cần trở về: trở về với cầu nguyện, với Lời Chúa, với Bí tích Hòa Giải, với Thánh Thể, với cộng đoàn và với sự thật của lương tâm. Đôi khi Chúa không mất; chính chúng ta đã rời khỏi nơi Người đang chờ đợi.
Nỗi đau thứ tư là gặp Chúa Giêsu trên đường lên núi Sọ. Tin Mừng không thuật lại chi tiết cuộc gặp này, nhưng truyền thống Kitô giáo vẫn chiêm ngắm người Mẹ bước vào con đường Thánh Giá của Con. Giữa đám đông la ó, giữa tiếng roi, tiếng nguyền rủa và tiếng chân quân lính, ánh mắt của Mẹ gặp ánh mắt Chúa Giêsu. Không cần một lời nói, hai trái tim hiểu nhau. Mẹ không thể cất cây thập giá khỏi vai Con; Mẹ cũng không thể ngăn quân lính đánh đập Người. Điều Mẹ có thể làm là hiện diện. Có những đau khổ của người khác mà ta không thể giải quyết. Ta không thể chữa mọi căn bệnh, trả hết mọi món nợ, hàn gắn ngay mọi gia đình hay làm người đã chết sống lại. Nhưng ta có thể ở bên cạnh. Sự hiện diện chân thành đôi khi quý giá hơn hàng ngàn lời giải thích. Một bàn tay nắm lấy bàn tay người bệnh, một khoảng lặng bên người đang khóc, một cuộc viếng thăm người cô độc, một lời cầu nguyện âm thầm bên người hấp hối có thể trở thành hình ảnh của Đức Maria trên đường Thánh Giá. Thế giới hôm nay có rất nhiều phương tiện liên lạc nhưng lại thiếu sự hiện diện; người ta gửi cho nhau vô số tin nhắn nhưng không có thời gian ngồi cạnh nhau khi đau khổ. Mẹ Sầu Bi dạy chúng ta đừng sợ bước vào nỗi đau của người khác. Dù không thể làm cho họ hết đau, tình yêu của ta có thể giúp họ biết rằng họ không đau một mình.
Nỗi đau thứ năm là đứng dưới chân Thánh Giá nhìn Con chịu đóng đinh và tắt thở. Đây là đỉnh cao của bảy sự thương khó. Mẹ nhìn những bàn tay từng ôm lấy Mẹ nay bị đóng đinh; đôi chân từng bước đi khắp miền Galilê để rao giảng Tin Mừng nay bị ghim chặt; đôi môi từng nói lời tha thứ nay khô cháy vì khát; đôi mắt từng nhìn người tội lỗi bằng lòng thương xót nay dần khép lại. Mẹ nghe Con cầu xin Chúa Cha tha thứ cho những kẻ đóng đinh Người; Mẹ nghe lời hứa dành cho người trộm lành; Mẹ nghe tiếng kêu “Ta khát”; và cuối cùng Mẹ nghe Con nói: “Thế là đã hoàn tất.” Mỗi lời từ Thánh Giá đều đi xuyên qua trái tim Mẹ. Nhưng trong chính giờ phút ấy, Chúa Giêsu đã trao Mẹ cho người môn đệ và trao người môn đệ cho Mẹ. Nỗi đau không làm trái tim Mẹ co lại; trái lại, nhờ ân sủng, trái tim Mẹ được mở rộng để đón nhận một đoàn con đông đảo. Mẹ mất người Con duy nhất theo huyết nhục, nhưng lại nhận lãnh cả nhân loại làm con trong trật tự ân sủng. Bởi thế, lời “Đây là mẹ của anh” không chỉ dành riêng cho thánh Gioan, nhưng vang đến mọi môn đệ của Đức Kitô. Chúa Giêsu trao Mẹ cho chúng ta ngay khi Người trao ban chính mạng sống mình. Đức Maria là quà tặng cuối cùng của Chúa Cứu Thế từ trên Thánh Giá. Người môn đệ “rước bà về nhà mình”; còn chúng ta có thật sự rước Mẹ vào căn nhà cuộc đời, vào gia đình, vào niềm vui, nỗi buồn, lựa chọn và những cuộc chiến đấu nội tâm của mình hay chưa?
Nỗi đau thứ sáu là đón nhận thi hài Chúa Giêsu được tháo xuống khỏi Thánh Giá. Nghệ thuật Kitô giáo đã diễn tả khoảnh khắc này qua hình ảnh Pietà: Đức Maria ôm thân xác Con vào lòng. Ngày xưa tại Bêlem, Mẹ từng ôm một Hài Nhi bé nhỏ đang ngủ bình an; giờ đây tại Canvê, Mẹ ôm một thân xác đầy thương tích và đã chết. Nhưng vòng tay của Mẹ vẫn là vòng tay yêu thương. Mẹ không ghê sợ các thương tích, không quay mặt trước máu và đau đớn. Điều ấy đem lại niềm an ủi lớn lao cho những ai đang mang trong mình thương tích thể xác hay tâm hồn. Có người thấy mình quá tội lỗi, quá tan vỡ, quá nhơ nhớp, quá thất bại nên sợ đến gần Mẹ. Nhưng Mẹ đã từng ôm thân xác đầy thương tích của Chúa Giêsu; Mẹ cũng sẽ không từ chối những đứa con đang tan nát. Mẹ không dung túng tội lỗi, nhưng Mẹ đón tội nhân để đưa họ về với lòng thương xót của Con. Hãy đặt vào vòng tay Mẹ những vết thương mà ta không dám cho ai biết, những ký ức vẫn âm thầm làm ta đau, những lỗi lầm khiến ta xấu hổ, những mối quan hệ đã đổ vỡ và cả những thất bại khiến ta không còn tin vào chính mình. Mẹ sẽ không xét xử ta; Mẹ sẽ cùng ta đứng trước Thánh Giá và chỉ cho ta thấy rằng máu của Con Mẹ mạnh hơn mọi tội lỗi.
Nỗi đau thứ bảy là mai táng Chúa Giêsu trong mồ. Tảng đá được lăn lại, ngăn cách Mẹ với thân xác Con. Mọi lời hứa dường như đã bị niêm phong trong ngôi mộ. Các môn đệ tản mác, hy vọng của họ sụp đổ, tương lai trở nên mù mịt. Thế nhưng trong ngày Thứ Bảy thinh lặng ấy, đức tin của Mẹ vẫn tồn tại. Mẹ chưa thấy mồ trống, chưa nghe thiên thần loan báo, chưa gặp Đấng Phục Sinh, nhưng Mẹ vẫn tin Thiên Chúa không thất tín. Vì thế, Đức Maria là người Mẹ của niềm hy vọng giữa những ngôi mộ. Có những “ngôi mộ” trong cuộc đời chúng ta: ngôi mộ của một người thân đã qua đời, của một cuộc hôn nhân đổ vỡ, của một ơn gọi bị khủng hoảng, của một dự định thất bại, của sức khỏe đã mất, của danh dự bị tổn thương, của những năm tháng không thể lấy lại. Trước những tảng đá ấy, ta dễ nghĩ tất cả đã chấm hết. Nhưng Mẹ Sầu Bi nhắc chúng ta rằng ngôi mộ của Đức Kitô không phải là dấu chấm hết. Thiên Chúa có thể làm nảy sinh sự sống ngay trong nơi con người chỉ nhìn thấy chết chóc. Ngày Thứ Bảy có thể rất dài, nhưng bình minh Phục Sinh chắc chắn sẽ đến.
Khi suy ngắm bảy nỗi đau của Đức Maria, chúng ta nhận thấy Mẹ không được miễn trừ khỏi những thử thách của kiếp người. Được đầy ân sủng không có nghĩa là được bảo vệ khỏi mọi nước mắt; vô nhiễm nguyên tội không có nghĩa là không phải mang thập giá; được Thiên Chúa yêu thương không có nghĩa là cuộc đời sẽ luôn bằng phẳng. Trái lại, vì yêu nhiều nên Mẹ cũng đau nhiều. Nhưng khác với nhiều người trong chúng ta, Mẹ không để đau khổ biến thành cay đắng, không để mất mát biến thành oán trách, không để bóng tối biến thành tuyệt vọng. Mẹ mang đau khổ vào trong tương quan với Thiên Chúa. Đây là điểm phân biệt giữa một nỗi đau chỉ làm con người tan vỡ và một nỗi đau có thể trở thành lễ vật. Đau khổ tự nó không cứu độ; đau khổ cũng không phải là điều tốt để chúng ta tìm kiếm. Điều cứu độ chúng ta là tình yêu của Đức Kitô, và khi đau khổ được kết hợp với tình yêu ấy, nó có thể trở thành con đường của trưởng thành, hiệp thông và hiến dâng. Đức Maria không tôn thờ đau khổ; Mẹ yêu mến Thiên Chúa giữa đau khổ. Mẹ không tìm Thánh Giá; nhưng khi Thánh Giá xuất hiện trên con đường vâng phục, Mẹ không chạy trốn.
Ngày lễ Đức Mẹ Sầu Bi cũng mời gọi chúng ta nhìn lại thái độ của mình trước đau khổ. Nhiều khi vừa gặp thử thách, ta đã vội nghĩ Thiên Chúa bỏ rơi mình. Khi lời cầu xin chưa được nhận lời như mong muốn, ta giận Chúa; khi bệnh tật kéo dài, ta mất lòng trông cậy; khi bị hiểu lầm, ta muốn trả đũa; khi mất mát, ta khép cửa trái tim và từ chối mọi sự an ủi. Đức Maria không đưa cho chúng ta một lời giải thích dễ dàng về mầu nhiệm đau khổ. Mẹ không nói rằng mọi nỗi đau rồi sẽ lập tức biến mất. Mẹ chỉ âm thầm đứng bên chúng ta như Mẹ đã đứng bên Con. Sự hiện diện của Mẹ nói với ta rằng: con có thể khóc nhưng đừng tuyệt vọng; con có thể yếu đuối nhưng đừng buông tay Chúa; con có thể không hiểu nhưng vẫn có thể tín thác; con có thể mang thương tích nhưng đừng để thương tích biến mình thành người làm tổn thương kẻ khác. Có những người vì từng bị phản bội nên trở nên nghi ngờ mọi người; vì từng bị xúc phạm nên dùng lời nói xúc phạm người khác; vì từng không được yêu thương nên không còn biết yêu thương. Mẹ Sầu Bi dạy ta một con đường khác: hãy để nỗi đau làm trái tim mình sâu hơn, dịu dàng hơn và biết cảm thông hơn.
Nhìn lên Đức Mẹ Sầu Bi, những người mẹ đang đau khổ có thể nhận ra một người hiểu mình. Mẹ hiểu nỗi đau của người mẹ có con bệnh tật, nghiện ngập, lầm đường, xa nhà hay chối bỏ đức tin; Mẹ hiểu người mẹ phải nhìn con chịu bất công mà không thể bảo vệ; Mẹ hiểu người mẹ tiễn con ra đi mãi mãi; Mẹ hiểu cả những giọt nước mắt không thể kể cùng ai. Những người cha cũng có thể đến với Mẹ và học nơi sự thinh lặng kiên trung của Mẹ; những người trẻ có thể trao cho Mẹ những đổ vỡ, bế tắc và cô đơn; những người bệnh có thể nương tựa vào Mẹ trong đêm dài đau đớn; những người già có thể đặt sự cô quạnh và nỗi sợ cái chết trong tay Mẹ. Không ai đến với Mẹ mà nỗi đau của họ bị coi là nhỏ bé hay vô nghĩa. Mẹ không lấy mất mọi thập giá, nhưng Mẹ giúp chúng ta mang thập giá cùng với Chúa Giêsu. Mẹ không luôn thay đổi hoàn cảnh, nhưng Mẹ xin Chúa thay đổi trái tim chúng ta trong hoàn cảnh ấy.
Thế giới hôm nay rất cần học nơi Đức Maria khả năng đứng dưới chân thập giá của người khác. Chung quanh chúng ta có biết bao tiếng khóc bị che giấu: người nghèo không đủ cơm ăn, người bệnh không có tiền chữa trị, người già bị bỏ quên, thai nhi không được chào đời, trẻ em bị bạo hành, người lao động bị bóc lột, người di dân bị xua đuổi, nạn nhân chiến tranh mất gia đình và quê hương, những người trầm cảm sống giữa đám đông nhưng cảm thấy hoàn toàn cô độc. Chúng ta có thể dễ dàng lướt qua những hình ảnh ấy trên màn hình rồi tiếp tục cuộc sống như không có gì xảy ra. Nhưng ai đứng với Đức Maria dưới chân Thánh Giá không thể sống dửng dưng. Lòng sùng kính chân thật phải dẫn đến lòng thương xót cụ thể. Lần chuỗi Bảy Sự Thương Khó của Đức Mẹ mà không biết lau nước mắt cho người bên cạnh thì việc đạo đức ấy vẫn chưa sinh hoa trái. Đeo ảnh Mẹ Sầu Bi mà vẫn dùng lời nói làm đau người khác thì ta chưa hiểu trái tim Mẹ. Quỳ trước tượng Pietà nhưng lại bỏ mặc cha mẹ già yếu, khinh thường người nghèo hay không chịu tha thứ cho anh chị em thì ta vẫn đứng rất xa Canvê.
Đặc biệt, nơi Thánh lễ, chúng ta được mời gọi bước vào chính hy tế mà Đức Maria đã tham dự dưới chân Thánh Giá. Mỗi Thánh lễ không phải là sự lặp lại cuộc tử nạn, nhưng là sự hiện tại hóa hy tế duy nhất của Đức Kitô. Khi linh mục nâng Mình và Máu Thánh Chúa, chúng ta được đưa vào mầu nhiệm Canvê. Đức Maria hiện diện trong đời sống cầu nguyện của Hội Thánh như người Mẹ dẫn các tín hữu đến với Con mình. Chúng ta hãy đặt trên bàn thờ những hy sinh âm thầm, những bệnh tật, mệt mỏi, hiểu lầm, thất bại, nước mắt và những điều không thể thay đổi. Không một đau khổ nào được kết hợp với Đức Kitô lại trở nên vô ích. Có thể hoàn cảnh bên ngoài chưa đổi khác, nhưng ân sủng sẽ làm cho trái tim ta không bị nghiền nát bởi tuyệt vọng. Trong Thánh Thể, Đấng chịu đóng đinh và phục sinh trở thành lương thực nuôi dưỡng chúng ta; cũng chính Người ban sức mạnh để chúng ta đứng vững như Mẹ.
Kính mừng Đức Maria Sầu Bi không phải là tôn vinh nỗi buồn, nhưng là tuyên xưng chiến thắng của một tình yêu không bị đau khổ khuất phục. Những giọt nước mắt của Mẹ không rơi vào khoảng không; chúng hòa vào hy lễ của Con và trở thành lời chuyển cầu cho đoàn con nhân loại. Trái tim bị lưỡi gươm đâm thâu của Mẹ vẫn là trái tim mở rộng để cưu mang những ai đang khổ đau. Dưới chân Thánh Giá, Mẹ không chỉ là Mater Dolorosa, Người Mẹ Sầu Bi, mà còn là Mater Spei, Mẹ của niềm hy vọng; không chỉ là người Mẹ khóc thương Con, mà còn là người nữ kiên vững chờ đợi ngày Con sống lại. Vì thế, người Kitô hữu có thể buồn nhưng không tuyệt vọng, có thể khóc nhưng vẫn tin, có thể bị thương nhưng vẫn yêu, có thể đi qua Thứ Sáu Thánh mà không quên bình minh Phục Sinh.
Lạy Đức Maria Sầu Bi, xin dạy chúng con biết đứng dưới chân Thánh Giá, không chạy trốn trước đau khổ của chính mình và cũng không quay mặt trước đau khổ của tha nhân. Khi lưỡi gươm thử thách đâm thâu lòng chúng con, xin giữ chúng con khỏi cay đắng và tuyệt vọng. Khi chúng con không hiểu đường lối của Thiên Chúa, xin dạy chúng con biết thưa lời xin vâng. Khi chúng con tưởng đã mất Chúa, xin dẫn chúng con trở về tìm Người. Khi gặp những người đang vác thập giá, xin cho chúng con biết dừng lại, hiện diện, lắng nghe và chia sẻ. Khi đứng trước những nấm mồ của cuộc đời, xin giúp chúng con vẫn tin rằng sự chết không có tiếng nói cuối cùng. Xin Mẹ đón lấy những gia đình đang chia rẽ, những người bệnh đang đau đớn, những người cô độc đang âm thầm khóc, những người tội lỗi đang muốn quay về, những người hấp hối đang lo sợ và những linh hồn đã lìa cõi thế. Xin đặt tất cả chúng con trong trái tim từ mẫu của Mẹ và dẫn chúng con đến với trái tim bị đâm thâu của Chúa Giêsu. Xin cho chúng con hiểu rằng không có đêm tối nào dài hơn lòng thương xót của Thiên Chúa, không có vết thương nào sâu hơn tình yêu cứu độ của Đức Kitô, và không có ngôi mộ nào có thể ngăn được ánh sáng Phục Sinh. Lạy Mẹ Sầu Bi, Mẹ đã đứng vững bên Thánh Giá của Con, xin cũng đứng bên thập giá của từng người chúng con, để nhờ có Mẹ đồng hành, chúng con biết đau khổ mà không mất đức tin, biết khóc mà không đánh mất niềm hy vọng, biết hiến dâng mà không tính toán, biết yêu thương cho đến cùng và một ngày kia được cùng Mẹ vui hưởng sự sống đời đời bên Chúa Giêsu Kitô, Con Mẹ. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
MẸ ĐỨNG DƯỚI CHÂN THẬP GIÁ
“Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.” (Ga 19,27)
Hôm nay, cùng với toàn thể Hội Thánh, chúng ta kính nhớ Đức Maria dưới tước hiệu Đức Mẹ Sầu Bi. Ngày lễ này được cử hành ngay sau lễ Suy Tôn Thánh Giá, như thể phụng vụ muốn dẫn chúng ta đi vào một cuộc chiêm ngắm trọn vẹn: hôm qua, chúng ta ngước nhìn lên Thập Giá để nhận ra chiến thắng của Đức Kitô; hôm nay, chúng ta nhìn xuống chân Thập Giá để gặp một người Mẹ đang đứng đó. Trên Thập Giá là Người Con hiến dâng mạng sống để cứu chuộc nhân loại; dưới chân Thập Giá là người Mẹ âm thầm kết hợp với lễ hiến dâng của Con mình. Trên Thập Giá, Đức Giêsu mang lấy mọi tội lỗi, đau khổ và sự chết của thế gian; dưới chân Thập Giá, Đức Maria mang trong trái tim mình nỗi đau của người Mẹ đang chứng kiến Con yêu dấu bị khước từ, bị hành hạ và bị giết chết. Tuy nhiên, lễ Đức Mẹ Sầu Bi không đưa chúng ta đến với một người phụ nữ bị đau khổ nghiền nát, không còn sức đứng dậy, nhưng đưa chúng ta đến với một người Mẹ mạnh mẽ trong đau thương, trung tín trong thử thách, vững vàng trong đức tin và hoàn toàn kết hợp với Con trong hy lễ cứu độ. Tin Mừng không nói rằng Đức Maria ngã quỵ dưới chân Thập Giá; thánh Gioan viết một cách rất trang trọng và đầy ý nghĩa: “Đứng gần Thập Giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người.” Mẹ đứng đó. Chỉ một động từ “đứng” thôi cũng đủ diễn tả tất cả phẩm giá, lòng can đảm, sự trung tín và niềm hy vọng của Mẹ. Đứng không có nghĩa là Mẹ không đau. Đứng không có nghĩa là trái tim Mẹ không tan nát. Đứng không có nghĩa là Mẹ hiểu được mọi điều đang xảy ra theo lý trí tự nhiên. Mẹ đứng bởi vì Mẹ tin. Mẹ đứng bởi vì Mẹ yêu. Mẹ đứng bởi vì từ ngày thưa tiếng “xin vâng” tại Nazareth, Mẹ đã trao trọn cuộc đời mình cho chương trình nhiệm mầu của Thiên Chúa. Mẹ đứng bởi vì dù mọi dấu chỉ bên ngoài dường như đang nói rằng tất cả đã kết thúc, Mẹ vẫn tin rằng Thiên Chúa không bao giờ thất tín với lời Người đã hứa.
Để hiểu nỗi đau của Đức Maria dưới chân Thập Giá, chúng ta phải trở về với toàn bộ hành trình của Mẹ. Khi sứ thần Gabriel đến truyền tin, Mẹ đã nghe những lời thật lớn lao về người Con sẽ được sinh ra: “Người sẽ nên cao cả và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đavít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.” Những lời ấy đã được Mẹ ghi nhớ trong lòng. Nhưng bây giờ, ngai vàng của Con Mẹ lại là một cây Thập Giá; vương miện của Người là vòng gai; vương trượng của Người là cây sậy dùng để chế giễu; áo bào của Người đã bị quân lính lột lấy; thần dân của Người phần đông đứng bên ngoài la ó; còn tấm bảng trên đầu Người ghi: “Giêsu Nazareth, Vua dân Do Thái.” Khi sứ thần nói rằng triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận, liệu Mẹ có thể hình dung rằng triều đại ấy sẽ được khai mở bằng cái chết nhục nhã như thế này không? Khi Mẹ bồng Con thơ trong hang đá Bêlem, Mẹ đã nhìn gương mặt nhỏ bé của Con trong niềm vui và kính sợ; giờ đây cũng gương mặt ấy đã bị đánh đập, bị khạc nhổ, bị gai nhọn đâm vào, bê bết máu và không còn hình tượng người ta nữa. Đôi tay bé nhỏ ngày nào từng nắm lấy ngón tay Mẹ nay bị những chiếc đinh xuyên thấu. Đôi chân ngày nào chập chững bước đi dưới ánh mắt trìu mến của Mẹ nay bị đóng chặt vào gỗ. Đôi môi đã từng gọi tiếng “Mẹ”, từng giảng dạy lời ban sự sống, từng an ủi những tâm hồn đau khổ, nay khô cháy vì cơn khát. Trái tim đã từng thổn thức trước đám đông bơ vơ như đàn chiên không người chăn dắt, đã từng rung động trước nỗi đau của người góa phụ thành Nain, của chị em Mácta và Maria, nay sắp bị lưỡi đòng đâm thâu. Có nỗi đau nào của người mẹ lớn hơn nỗi đau phải đứng nhìn con mình chết mà không thể làm gì để cứu con? Có sự bất lực nào khủng khiếp hơn việc nghe từng nhịp thở đứt quãng của con, thấy từng giọt máu rơi xuống mà không thể đưa tay lau sạch, không thể ôm con vào lòng, không thể nói với những kẻ hành hình rằng: “Xin hãy đánh tôi, hãy đóng đinh tôi, nhưng xin tha cho con tôi”?
Thế nhưng Đức Maria không để cho đau khổ biến thành oán hận. Mẹ không nguyền rủa những người đóng đinh Con mình. Mẹ không kêu gào báo thù. Mẹ không chất vấn Thiên Chúa bằng sự phản loạn. Mẹ không bỏ đi vì thất vọng. Mẹ không khép trái tim lại để chỉ giữ riêng nỗi đau cho mình. Mẹ đứng đó, kết hợp với lời cầu nguyện của Con: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.” Trong trái tim Mẹ, tiếng “xin vâng” tại Nazareth đang được lặp lại ở đỉnh Canvê với một giá đắt không thể đo lường. Ngày truyền tin, Mẹ thưa xin vâng để Ngôi Lời nhận lấy thân xác trong lòng mình; trên đồi Canvê, Mẹ lại thưa xin vâng để chính thân xác mà Mẹ đã cưu mang được hiến tế vì sự sống của thế gian. Ngày dâng Con trong Đền Thờ, cụ già Simêon đã nói với Mẹ: “Một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà.” Lời tiên báo ấy không chỉ ứng nghiệm trong một giây phút, nhưng xuyên suốt cuộc đời Mẹ: khi không tìm được chỗ trọ tại Bêlem; khi phải sinh Con trong cảnh nghèo khó; khi nghe tin Hêrôđê tìm giết Hài Nhi; khi phải bồng Con trốn sang Ai Cập giữa đêm tối; khi lạc mất Con ba ngày; khi thấy những người đồng hương Nazareth khước từ Con; khi nghe người ta vu khống Con dùng quyền của quỷ vương; khi biết giới lãnh đạo tìm cách giết Con; khi chứng kiến Con bị bắt, bị đánh đập, bị kết án và bị dẫn ra khỏi thành như một tên tội phạm. Nhưng lưỡi gươm sắc bén nhất vẫn là giờ phút Mẹ đứng dưới chân Thập Giá và nhìn thấy Con trút hơi thở cuối cùng.
Thánh Gioan kể rằng bên Thập Giá Đức Giêsu có thân mẫu Người, người chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Clôpát, bà Maria Mácđala và người môn đệ được Đức Giêsu thương mến. Trong cách nhìn biểu tượng của Tin Mừng thứ tư, sự hiện diện của bốn người dưới chân Thập Giá không chỉ là một chi tiết lịch sử. Con số bốn gợi đến bốn phương trời, đến toàn thể thế giới và toàn thể nhân loại. Cũng như áo ngoài của Đức Giêsu được quân lính chia làm bốn phần, gia sản phát xuất từ Thập Giá sẽ được trao đến tận cùng trái đất. Dưới chân Thập Giá, cộng đoàn mới đang được quy tụ: Đức Maria là Mẹ của Đức Giêsu; bà Maria vợ ông Clôpát đại diện cho những người thân thuộc đã đón nhận Tin Mừng; Maria Mácđala đại diện cho những con người đã được giải thoát khỏi quyền lực sự dữ và được tình yêu Chúa biến đổi; người môn đệ Chúa yêu đại diện cho các môn đệ trung tín. Trong bốn người ấy, chúng ta có thể nhận ra khuôn mặt của Hội Thánh đang được sinh ra từ cạnh sườn bị đâm thâu của Đức Kitô. Đó không phải là một Hội Thánh đứng xa Thập Giá, nhưng là Hội Thánh đứng gần Thập Giá. Không phải là một Hội Thánh chỉ tìm kiếm vinh quang mà tránh né hy sinh, nhưng là Hội Thánh kết hợp với hy lễ của Đấng Cứu Thế. Không phải là một Hội Thánh bỏ chạy khi gặp gian nan, nhưng là Hội Thánh đứng vững giữa thử thách. Không phải là một Hội Thánh đáp lại bạo lực bằng bạo lực, nhưng là Hội Thánh đón nhận dòng máu và nước chảy ra từ cạnh sườn Đức Kitô để đem ơn tha thứ và sự sống mới đến cho thế giới.
Trong giờ phút đau thương nhất, Đức Giêsu nhìn thấy Mẹ và người môn đệ Người yêu đang đứng bên cạnh. Người nói với Mẹ: “Thưa Bà, đây là con của Bà”, rồi nói với người môn đệ: “Đây là Mẹ của anh.” Đây không đơn thuần là việc một người con sắp chết gửi gắm mẹ mình cho một người bạn chăm sóc. Nếu chỉ là một sự thu xếp gia đình, thánh sử không cần phải trình bày biến cố ấy với sự trang trọng và chiều sâu thần học như vậy. Trên Thập Giá, nơi Đức Giêsu hoàn tất công trình Chúa Cha trao phó, Người đang thiết lập một tương quan mới. Đức Maria nhận người môn đệ làm con, còn người môn đệ đón nhận Đức Maria làm Mẹ. Đức Giêsu không gọi Đức Maria là “Mẹ”, nhưng gọi là “Bà” hay “Người Nữ”. Cách gọi ấy không phải là xa cách hay thiếu kính trọng, nhưng mở ra một chân trời lớn lao hơn. Đức Maria là Người Nữ đã được loan báo từ thuở ban đầu, người sẽ liên kết với miêu duệ của mình trong cuộc chiến chống con rắn. Mẹ là Người Nữ của tiệc cưới Cana, nơi Đức Giêsu thực hiện dấu lạ đầu tiên và các môn đệ tin vào Người. Mẹ là Eva mới đứng bên cạnh Ađam mới. Nếu từ sự bất tuân của Eva xưa, tội lỗi và sự chết đi vào thế gian, thì từ sự vâng phục của Đức Maria, Đấng Cứu Thế đã đến với nhân loại. Giờ đây, bên cây Thập Giá là cây sự sống mới, Đức Maria được trao ban làm Mẹ của nhân loại đã được cứu chuộc. Ở Nazareth, Mẹ trở thành Mẹ của Đức Giêsu theo xác thịt; ở Canvê, Mẹ trở thành Mẹ của những người sống nhờ ân sủng của Đức Giêsu. Nỗi đau của Mẹ dưới chân Thập Giá vì thế mang dáng dấp của cơn đau sinh nở: giữa máu, nước mắt và cái chết, một nhân loại mới đang được sinh ra; một gia đình mới đang được thiết lập; Hội Thánh đang đón nhận Mẹ của mình.
Người môn đệ được Đức Giêsu thương mến không chỉ là thánh Gioan của hai ngàn năm trước; người môn đệ ấy còn là mỗi người chúng ta. Tin Mừng không gọi tên người môn đệ, như muốn để mỗi người có thể đặt tên mình vào chỗ ấy. Đức Giêsu nhìn xuống và nói với mỗi Kitô hữu: “Đây là Mẹ của con.” Người không trao cho chúng ta một ý tưởng trừu tượng về tình mẫu tử, nhưng trao chính Mẹ của Người. Người đã không giữ lại điều gì cho riêng mình. Người trao thân xác cho nhân loại, trao máu mình để rửa sạch tội lỗi, trao Thánh Thần khi gục đầu tắt thở, trao trái tim khi lưỡi đòng mở cạnh sườn, và trao cả Mẹ mình cho các môn đệ. Món quà cuối cùng của Đức Giêsu trước khi hoàn tất hy lễ chính là người Mẹ đã đồng hành với Người từ máng cỏ đến Thập Giá. Bởi đó, lòng yêu mến Đức Maria chân chính không đưa chúng ta ra xa Đức Kitô, nhưng giúp chúng ta đón nhận trọn vẹn món quà của Đức Kitô. Khi kính yêu Mẹ, chúng ta không thay thế vị trí duy nhất của Chúa Giêsu; chúng ta vâng lời chính Chúa Giêsu khi Người nói: “Đây là Mẹ của con.” Người môn đệ đón nhận Mẹ không phải vì cảm xúc riêng tư, nhưng vì lời của Đấng chịu đóng đinh. Người nào yêu Chúa Giêsu sẽ trân trọng điều Chúa Giêsu trao ban; người nào đứng dưới chân Thập Giá sẽ nghe được lời trối thiêng liêng ấy; người nào nhận mình là môn đệ được Chúa yêu sẽ không thể từ chối người Mẹ mà Chúa đã trao.
Tin Mừng nói: “Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.” “Giờ đó” trong Tin Mừng Gioan là giờ của Đức Giêsu, giờ Người được tôn vinh qua cuộc thương khó, giờ tình yêu được bày tỏ đến cùng, giờ Con Chiên Thiên Chúa xóa tội trần gian, giờ giao ước mới được đóng ấn bằng máu. Chính từ giờ cứu độ ấy, người môn đệ rước Mẹ vào trong tất cả những gì thuộc về mình. Không chỉ là đưa Mẹ về một ngôi nhà vật chất, nhưng là dành cho Mẹ một chỗ trong đời sống, trong tâm hồn, trong đức tin, trong lời cầu nguyện, trong hành trình môn đệ. Rước Mẹ về nhà mình là để Mẹ dạy chúng ta biết lắng nghe Lời Chúa và suy đi nghĩ lại trong lòng; là để Mẹ dạy chúng ta thưa “xin vâng” khi đường lối của Thiên Chúa vượt quá sự hiểu biết của ta; là để Mẹ dẫn ta đến với Đức Giêsu và nói: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”; là để Mẹ đồng hành với chúng ta trong những đêm tối mà ta không hiểu vì sao Chúa im lặng; là để Mẹ giúp chúng ta đứng vững dưới những thập giá tưởng chừng vượt quá sức mình; là để Mẹ dạy chúng ta hy vọng ngay khi những dấu chỉ bên ngoài dường như chỉ còn thất bại và sự chết. Nhiều gia đình có ảnh tượng Đức Mẹ ở nơi trang trọng, nhưng điều quan trọng hơn là có dành chỗ cho tinh thần của Mẹ trong đời sống hay không. Nhà có ảnh Mẹ mà đầy cãi vã, chia rẽ, ích kỷ và hận thù thì chưa thực sự rước Mẹ vào nhà. Môi đọc kinh Mân Côi mà lòng vẫn khước từ tha thứ thì chưa thực sự học nơi Mẹ. Đeo ảnh Đức Mẹ mà sống bất công, gian dối, vô cảm trước người nghèo thì lòng sùng kính ấy vẫn chưa sinh hoa trái. Rước Mẹ vào nhà là rước sự khiêm nhường, vâng phục, trong sạch, dịu dàng, can đảm và trung tín của Mẹ vào đời mình.
Lễ Đức Mẹ Sầu Bi cũng mời gọi chúng ta thay đổi cách nhìn về đau khổ. Kitô giáo không tôn thờ đau khổ và cũng không cho rằng tự bản chất đau khổ là điều tốt. Đau khổ làm con người tổn thương; bệnh tật khiến thân xác suy kiệt; phản bội làm trái tim tan vỡ; chiến tranh cướp đi mạng sống của những người vô tội; nghèo đói làm nhục phẩm giá con người; cái chết gây nên những cuộc chia lìa đầy nước mắt. Đức Giêsu đã khóc trước mộ Ladarô; Người chạnh lòng trước nỗi đau của đám đông; Người chữa lành người bệnh và giải thoát những người bị ma quỷ áp bức. Tuy nhiên, nơi Thập Giá Đức Kitô, đau khổ không còn là ngõ cụt tuyệt đối. Khi được kết hợp với tình yêu và hy lễ của Chúa Giêsu, đau khổ có thể trở thành nơi của sự hiến dâng, thanh luyện, liên đới và sinh hoa trái cứu độ. Đức Maria không yêu đau khổ vì đau khổ, nhưng Mẹ yêu Thiên Chúa và yêu Con mình đến mức không bỏ đi khi con đường tình yêu phải đi xuyên qua đau khổ. Mẹ không chủ động tìm kiếm Thập Giá, nhưng khi Thập Giá xuất hiện trên con đường trung tín, Mẹ không tháo chạy. Mẹ đứng dưới chân Thập Giá không phải vì Mẹ không còn nơi nào để đi, nhưng vì tình yêu khiến Mẹ chọn ở lại. Chính sự hiện diện của Mẹ cho chúng ta thấy một chân lý rất đẹp: trước đau khổ của người khác, nhiều khi chúng ta không thể giải thích, không thể chữa lành, không thể thay đổi hoàn cảnh, nhưng chúng ta vẫn có thể ở lại. Có những lúc một lời giải thích thần học không làm vơi nỗi đau bằng một sự hiện diện âm thầm. Có những lúc người đau khổ không cần nghe những lời khuyên dài dòng, nhưng cần một bàn tay nắm lấy tay họ, một người ngồi bên cạnh họ và một trái tim sẵn sàng khóc cùng họ. Đức Maria dưới chân Thập Giá là mẫu gương tuyệt vời của sự hiện diện ấy: Mẹ không kéo Con xuống khỏi Thập Giá, nhưng Mẹ không để Con chết trong cô độc.
Có biết bao người mẹ đang sống mầu nhiệm Đức Mẹ Sầu Bi giữa cuộc đời hôm nay. Đó là người mẹ thức trắng bên giường bệnh của con, đếm từng nhịp thở yếu ớt mà lòng quặn đau. Đó là người mẹ có người con lầm đường lạc lối, nghiện ngập, phạm pháp hoặc bỏ nhà ra đi, nhưng vẫn ngày đêm cầu nguyện và chờ đợi. Đó là người mẹ chứng kiến con mình bị bệnh nan y, tai nạn, thất nghiệp, đổ vỡ hôn nhân hay rơi vào trầm cảm mà không biết phải làm gì hơn ngoài việc đồng hành. Đó là người mẹ mất con vì chiến tranh, bạo lực, thiên tai, dịch bệnh hoặc một tai nạn bất ngờ. Đó là người mẹ có con rời bỏ đức tin, không còn đến nhà thờ, thậm chí chống đối những gì mẹ trân quý nhất. Đó là người mẹ nghèo lặng lẽ hy sinh tuổi xuân, sức khỏe và những ước mơ riêng để con cái có cơ hội bước vào đời. Trong nước mắt của những người mẹ ấy, chúng ta thấy thấp thoáng nước mắt Đức Maria. Hội Thánh không thể hứa rằng tất cả những thập giá ấy sẽ lập tức biến mất, nhưng Hội Thánh có thể nói với họ: “Mẹ Maria đang đứng bên bạn. Mẹ hiểu nỗi đau của bạn. Mẹ đã đi qua con đường ấy. Hãy nắm lấy tay Mẹ để cùng Mẹ đứng dưới chân Thập Giá và chờ đợi ánh sáng phục sinh.”
Không chỉ những người mẹ, nhưng tất cả chúng ta đều có lúc bước vào một Canvê riêng. Có người đau vì bệnh tật kéo dài, mỗi ngày thức dậy là một ngày chiến đấu với thân xác suy yếu. Có người đau vì một lời vu khống đã lấy đi danh dự mà họ mất cả đời xây dựng. Có người đau vì bị người mình yêu thương nhất phản bội. Có người đau vì gia đình tan vỡ, con cái bất hòa, anh chị em tranh chấp. Có người đau vì đã cầu nguyện rất lâu nhưng dường như Thiên Chúa không đáp lời. Có người đau vì những sai lầm trong quá khứ cứ trở về ám ảnh, khiến họ không thể tha thứ cho chính mình. Có người âm thầm mang một nỗi buồn mà chẳng ai biết, vẫn mỉm cười bên ngoài nhưng bên trong đã kiệt sức. Trong những giờ phút ấy, cám dỗ lớn nhất là nghĩ rằng Thiên Chúa đã bỏ rơi mình, rằng cuộc đời không còn ý nghĩa, rằng mình chỉ có một mình. Đức Mẹ Sầu Bi đến gần và nhắc chúng ta rằng cảm giác bị bỏ rơi không đồng nghĩa với việc thực sự bị Thiên Chúa bỏ rơi. Trên đồi Canvê, tất cả dường như đều nói lên thất bại: Đấng công chính bị kết án, các môn đệ chạy trốn, sự dữ có vẻ chiến thắng, ngôi mộ đang chờ đón. Nhưng chính nơi đen tối nhất ấy, Thiên Chúa đang thực hiện công trình cứu độ lớn lao nhất. Những gì con người tưởng là dấu chấm hết lại trở thành khởi đầu của một giao ước mới. Nấm mồ tưởng sẽ giam giữ Đấng Cứu Thế lại trở thành nơi loan báo Người đã sống lại. Bởi đó, khi đứng trước những điều không thể hiểu, chúng ta hãy học nơi Mẹ: không vội kết luận về tình yêu của Thiên Chúa chỉ dựa trên nỗi đau hiện tại; không bỏ cuộc chỉ vì chưa nhìn thấy ngày mai; không rời bỏ Chúa chỉ vì không hiểu đường lối của Người.
Điều đáng suy nghĩ là dưới chân Thập Giá không có những người từng hứa hẹn mạnh mẽ nhất. Phêrô đã nói rằng dù mọi người bỏ Thầy, ông cũng không bỏ; thế nhưng ông đã chối Thầy ba lần. Các môn đệ khác từng tranh luận xem ai là người lớn nhất, từng tuyên bố sẵn sàng uống chén của Thầy, nhưng giờ phút nguy hiểm lại chạy trốn. Những người còn đứng bên Thập Giá phần lớn là các phụ nữ và người môn đệ được Chúa yêu. Đức Maria không nói những lời lớn lao, không đưa ra những lời hứa ồn ào, nhưng Mẹ hiện diện. Đức tin đích thực không được chứng minh chủ yếu bằng những điều ta nói trong lúc thuận lợi, nhưng bằng việc ta còn đứng với Chúa trong giờ thử thách hay không. Rất dễ tin khi lời cầu nguyện được đáp lại; rất dễ tạ ơn khi gia đình bình an; rất dễ nói Chúa tốt lành khi mọi kế hoạch thành công. Nhưng đức tin trưởng thành được thanh luyện khi ta vẫn cầu nguyện giữa bệnh tật, vẫn trung tín giữa hiểu lầm, vẫn yêu thương khi không được đáp lại, vẫn phục vụ khi không được công nhận, vẫn tin Chúa hiện diện giữa đêm tối. Đức Maria là người môn đệ đứng vững vì đức tin của Mẹ không xây trên những cảm xúc nhất thời mà trên sự trung thành của Thiên Chúa.
Mẹ đứng dưới chân Thập Giá còn cho chúng ta thấy rằng đau khổ không được phép khép kín con người trong chính mình. Dù trái tim bị lưỡi gươm đâm thâu, Mẹ vẫn mở lòng đón nhận người môn đệ làm con. Đức Giêsu không chờ đến khi nỗi đau qua đi mới trao cho Mẹ một sứ mạng mới. Chính giữa nỗi đau, Người nói: “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Điều ấy có nghĩa là ngay khi Mẹ đang mất Người Con duy nhất theo huyết nhục, Mẹ lại được mời gọi mở rộng trái tim để đón nhận muôn người làm con. Đau khổ có thể làm con người trở nên cay đắng, nhưng nơi Mẹ, đau khổ làm tình yêu trở nên rộng lớn hơn. Thay vì khép kín vì vết thương, Mẹ trở thành Mẹ của những người bị thương. Thay vì chỉ ôm lấy nỗi mất mát của riêng mình, Mẹ ôm lấy toàn thể nhân loại được Con mình cứu chuộc. Đây là bài học vô cùng quan trọng cho chúng ta. Những vết thương của quá khứ không nhất thiết biến ta thành người khô cứng; nếu được đặt trong ân sủng, chính những vết thương ấy có thể làm ta biết cảm thông. Người từng trải qua bệnh tật có thể biết cách an ủi bệnh nhân; người từng mất mát có thể hiểu nước mắt của người đang chịu tang; người từng được tha thứ có thể trở nên quảng đại với lỗi lầm của người khác; người từng đi qua bóng tối có thể cầm đèn cho người đang lạc đường. Trong bàn tay Thiên Chúa, đau khổ không bị lãng phí. Từ cạnh sườn bị thương của Đức Kitô tuôn ra máu và nước; từ trái tim bị đâm thâu của Đức Maria phát sinh tình mẫu tử dành cho Hội Thánh.
Tuy vậy, đứng dưới chân Thập Giá không có nghĩa là cam chịu trước mọi hình thức bất công, bạo lực và lạm dụng. Có những đau khổ phát sinh từ bệnh tật và giới hạn của thân phận con người; nhưng cũng có những đau khổ do tội lỗi, ích kỷ, áp bức và sự vô trách nhiệm gây ra. Noi gương Đức Mẹ Sầu Bi không có nghĩa là khuyên người bị bạo hành tiếp tục im lặng để chịu đựng, không có nghĩa là bảo người nghèo chấp nhận bất công, không có nghĩa là làm ngơ trước tiếng khóc của nạn nhân. Đức Maria đứng dưới chân Thập Giá là Mẹ của Đấng bị kết án bất công; vì thế, Mẹ đứng về phía những người bị chà đạp phẩm giá. Hội Thánh đứng với Mẹ phải biết đứng bên người đau khổ, bảo vệ sự sống, lên tiếng cho người không có tiếng nói, chữa lành những vết thương và chống lại những cơ chế tạo ra thập giá cho người vô tội. Chúng ta không thể kính Đức Mẹ Sầu Bi trong nhà thờ mà lại vô cảm trước những bà mẹ khóc vì con đói, những gia đình không có chỗ ở, những trẻ em bị bạo hành, những người già bị bỏ rơi, những bệnh nhân không được chăm sóc, những người lao động bị bóc lột và những nạn nhân của chiến tranh. Mỗi giọt nước mắt của nhân loại đều phải chạm đến trái tim người môn đệ Chúa. Nếu chúng ta rước Mẹ về nhà mình, chúng ta cũng phải rước vào lòng mình những người con đang đau khổ của Mẹ.
Lễ Đức Mẹ Sầu Bi không phải là lễ của sự tuyệt vọng, càng không phải là việc tôn vinh một người Mẹ bị nỗi đau đánh bại. Đức Maria đau đớn nhưng không bị hủy diệt; Mẹ khóc nhưng không tuyệt vọng; Mẹ bị lưỡi gươm đâm thâu nhưng trái tim Mẹ không đóng lại; Mẹ đứng dưới bóng Thập Giá nhưng vẫn hướng về ánh sáng của lời hứa. Mẹ mạnh mẽ không phải bằng sức riêng, nhưng nhờ ân sủng. Sự mạnh mẽ của Mẹ không phải là không rơi nước mắt, nhưng là vẫn yêu giữa nước mắt. Can đảm không có nghĩa là không biết sợ; can đảm là dù sợ vẫn bước đi trong sự tín thác. Đức tin không có nghĩa là hiểu hết mọi sự; đức tin là phó thác ngay cả khi chưa hiểu. Hy vọng không có nghĩa là phủ nhận thực tại đau đớn; hy vọng là tin rằng đau đớn không có tiếng nói cuối cùng. Mẹ Maria không biết sáng Phục Sinh sẽ diễn ra thế nào, nhưng Mẹ biết Thiên Chúa là Đấng trung tín. Mẹ không có trong tay bằng chứng hữu hình nào ngoài thân xác bất động của Con được tháo xuống khỏi Thập Giá, nhưng Mẹ vẫn giữ trong lòng lời hứa của Thiên Chúa. Nỗi đau của Mẹ vì thế được bao phủ bởi một niềm hy vọng âm thầm mà kiên cường.
Có lẽ trong đời sống thiêng liêng, chúng ta thường muốn Chúa cất Thập Giá trước khi học được cách đứng dưới Thập Giá. Chúng ta muốn đau khổ biến mất ngay lập tức, bệnh tật được chữa lành tức khắc, khó khăn được giải quyết theo ý mình, kẻ làm ta tổn thương phải thay đổi và mọi lời cầu nguyện phải có câu trả lời rõ ràng. Nhưng có những Thập Giá Chúa không cất khỏi đời ta ngay; Người ban cho ta sức để mang nó. Có những cơn bão Chúa không lập tức truyền cho biển lặng; Người bước đến và ở với ta giữa sóng gió. Có những chén đắng không được đưa khỏi môi ta; Người ban cho ta ân sủng để uống trong sự tín thác. Khi ấy, Đức Maria không đến để giải thích mọi bí nhiệm, nhưng để đứng cạnh chúng ta. Mẹ nói bằng sự hiện diện rằng: “Con không đơn độc. Mẹ đã từng đứng nơi đây. Hãy nhìn lên Con của Mẹ. Đừng để nỗi đau tách con khỏi Người. Hãy biến nước mắt thành lời cầu nguyện, biến vết thương thành sự hiến dâng, biến cô đơn thành sự hiệp thông và biến thập giá thành con đường dẫn đến sự sống.”
Đứng dưới chân Thập Giá với Mẹ, chúng ta cũng được mời gọi xét lại cách mình đồng hành với người đang đau khổ. Có khi chúng ta quá nhanh chóng đưa ra những lời giải thích đơn giản: “Chúa gửi đau khổ để thử thách”, “phải vui lên”, “đừng buồn nữa”, “mọi chuyện rồi sẽ qua.” Những lời ấy có thể phát xuất từ thiện ý nhưng đôi khi lại khiến người đau khổ cảm thấy mình không được thấu hiểu. Đức Maria không giảng giải cho Đức Giêsu về ý nghĩa Thập Giá; Mẹ chỉ đứng đó. Sự hiện diện của Mẹ nói rằng nỗi đau của Con là thật, tình yêu của Mẹ cũng là thật, và cả hai được đặt trong tay Chúa Cha. Có lúc điều tốt nhất ta có thể làm cho một người đau khổ là lắng nghe họ mà không xét đoán, để họ khóc mà không hối thúc, cầu nguyện với họ mà không áp đặt, giúp đỡ bằng những việc cụ thể và kiên trì ở lại. Khi cả thế gian của một người sụp đổ, họ cần một ai đó không bỏ đi. Đó là linh đạo của Đức Mẹ Sầu Bi: linh đạo của sự hiện diện, lòng trắc ẩn và trung tín.
Còn một điều rất sâu xa trong trình thuật Thương Khó: Đức Maria đứng gần Thập Giá. Mẹ không đứng xa để chỉ quan sát. Tình yêu luôn kéo người ta lại gần. Tội lỗi khiến chúng ta giữ khoảng cách với nỗi đau của người khác vì sợ bị phiền hà, sợ mất thời gian, sợ phải chia sẻ trách nhiệm. Chúng ta có thể đọc tin về chiến tranh rồi nhanh chóng lướt qua; gặp một người nghèo rồi tránh ánh mắt; biết một gia đình đang khủng hoảng nhưng tự nhủ đó không phải chuyện của mình; nghe tiếng khóc của một người nhưng vì bận rộn mà không dừng lại. Đức Maria dạy ta bước lại gần. Gần để thấy rõ vết thương; gần để nghe được tiếng kêu; gần để cho nỗi đau của người khác chạm đến trái tim; gần để nhận ra rằng dưới chân Thập Giá, chúng ta thuộc về cùng một gia đình. Cộng đoàn Kitô hữu chỉ thực sự là cộng đoàn của Đức Kitô khi biết ở gần những người đang bị đóng đinh bởi bệnh tật, nghèo đói, cô đơn, tội lỗi, hiểu lầm và bất công.
Hôm nay, mỗi người có thể tự hỏi: Tôi đang đứng ở đâu trong cuộc thương khó của Chúa? Tôi đứng với đám đông chế giễu, với những người lãnh đạm, với các môn đệ chạy trốn, hay với Đức Maria dưới chân Thập Giá? Khi gặp đau khổ, tôi có quay lưng với Chúa hay bám chặt lấy Người? Khi người thân gặp thử thách, tôi kiên trì ở lại hay tìm cách tránh né? Tôi đã thực sự rước Đức Maria vào đời mình chưa? Tôi có dành cho Mẹ một chỗ không chỉ trên bàn thờ, nhưng trong cách sống, cách yêu thương và cách đối diện với thử thách không? Tôi có tin rằng mình là người môn đệ được Đức Giêsu yêu, được Người trao cho một người Mẹ không? Và tôi có sẵn sàng để Mẹ dạy mình trở thành một người biết đứng vững, biết ở lại và biết mở rộng trái tim giữa đau thương hay không?
Nếu hôm nay chúng ta hoặc một người nào đó đang phải đi qua một Canvê, hãy dâng người ấy cho Đức Mẹ Sầu Bi. Hãy gọi tên họ trong lời cầu nguyện. Hãy xin Mẹ đến đứng bên giường bệnh, trong căn nhà đầy bất hòa, bên người mẹ đang khóc, cạnh người trẻ mất phương hướng, gần người đang đối diện với cái chết, với người bị bỏ rơi và với người không còn đủ sức cầu nguyện. Có khi người đau khổ không thể nói với Chúa điều gì; Đức Maria sẽ cầu nguyện cùng họ. Có khi họ không còn nước mắt; Mẹ sẽ khóc với họ. Có khi họ không thể đứng vững; Mẹ sẽ nâng đỡ họ. Có khi đức tin của họ chỉ còn như ngọn đèn sắp tắt; Mẹ sẽ che ngọn lửa nhỏ ấy khỏi cơn gió tuyệt vọng. Nhưng chúng ta cũng đừng chỉ cầu nguyện bằng lời. Hãy trở thành sự hiện diện của Mẹ đối với một người đang đau khổ: một cuộc điện thoại, một lần thăm viếng, một bữa ăn được sẻ chia, một sự giúp đỡ kín đáo, một lời xin lỗi chân thành, một quyết định tha thứ, một giờ cầu nguyện bên người bệnh, một cử chỉ quan tâm tưởng nhỏ bé nhưng có thể giữ một người khỏi rơi xuống vực thẳm cô đơn.
Lạy Đức Maria, Mẹ Sầu Bi, Mẹ đã đứng dưới chân Thập Giá và không bỏ Con Mẹ trong giờ phút đau thương nhất. Xin đứng bên chúng con khi thập giá nặng trĩu trên vai, khi nước mắt làm đôi mắt chúng con không còn nhận ra đường đi, khi lời cầu nguyện dường như chỉ gặp thinh lặng, khi những người thân yêu không còn ở bên, khi sức lực cạn kiệt và niềm hy vọng trở nên mong manh. Xin dạy chúng con biết đau mà không oán hận, khóc mà không tuyệt vọng, bị tổn thương mà không đóng cửa trái tim, bị thử thách mà không lìa xa Thiên Chúa. Xin dạy chúng con biết đứng vững bằng đức tin, biết ở lại bằng tình yêu và biết chờ đợi bằng niềm hy vọng. Xin cho chúng con biết rước Mẹ về nhà mình, để nhà chúng con có sự dịu dàng của Mẹ, gia đình chúng con có sự hiệp nhất của Mẹ, lời cầu nguyện chúng con có lòng tín thác của Mẹ và đời sống chúng con có tiếng “xin vâng” của Mẹ. Xin giúp chúng con nhận ra Đức Giêsu đang chịu đau khổ nơi những người nghèo, người bệnh, người cô đơn và bị bỏ rơi, để chúng con không đứng nhìn từ xa nhưng biết bước đến gần, biết cúi xuống, biết lắng nghe và biết ở lại. Lạy Mẹ, khi lưỡi gươm đau khổ đâm thâu tâm hồn chúng con, xin đừng để vết thương ấy trở thành nguồn cay đắng, nhưng nhờ ân sủng của Chúa, xin biến nó thành cánh cửa của lòng cảm thông. Khi phải đứng dưới chân Thập Giá, xin cho chúng con luôn nhớ rằng bên kia chiều thứ Sáu Tuần Thánh là bình minh Phục Sinh; bên kia nấm mồ là sự sống; bên kia nước mắt là niềm vui; và trong Đức Kitô, đau khổ, tội lỗi cùng sự chết không bao giờ có tiếng nói cuối cùng.
Mẹ Sầu Bi không chỉ dạy chúng ta cách khóc, nhưng còn dạy chúng ta cách hy vọng. Mẹ không chỉ chỉ cho chúng ta con đường đi lên Canvê, nhưng còn đồng hành với Hội Thánh hướng đến ngày Phục Sinh. Mẹ không bị đau khổ đánh bại; Mẹ đứng vững trong đau khổ và cùng với Đức Kitô chiến thắng sự dữ. Vì thế, hôm nay chúng ta hãy đến gần Mẹ, trao cho Mẹ mọi vết thương của mình và nghe lại lời Đức Giêsu từ Thập Giá: “Đây là Mẹ của con.” Rồi như người môn đệ được Chúa yêu, chúng ta hãy rước Mẹ về nhà, rước Mẹ vào cuộc đời, rước Mẹ vào từng niềm vui và nước mắt. Có Mẹ đồng hành, chúng ta sẽ học biết đứng vững giữa bão tố; có Mẹ nâng đỡ, chúng ta sẽ không tuyệt vọng trong gian truân; có Mẹ dẫn đường, chúng ta sẽ luôn đến được với Đức Giêsu, Đấng đã biến Thập Giá thành cây sự sống và biến cái chết thành cửa ngõ dẫn vào vinh quang đời đời. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
ĐỨC MARIA DƯỚI CHÂN THẬP GIÁ – NỖI ĐAU ĐƯỢC TÌNH YÊU BIẾN THÀNH ƠN CỨU ĐỘ
“Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người” (Ga 19,25). Chỉ một câu Tin Mừng rất ngắn, nhưng lại mở ra trước mắt chúng ta cả một đại dương đau thương và tình yêu. Thánh Gioan không nói Đức Maria ngã quỵ, không nói Mẹ gào khóc, không mô tả những lời than van tuyệt vọng; ngài chỉ nói: Mẹ đứng đó. Mẹ đứng dưới chân thập giá. Mẹ đứng gần Con. Mẹ đứng giữa bóng tối dày đặc của sự dữ, giữa tiếng chế nhạo của đám đông, giữa sự tàn bạo của những kẻ hành hình, giữa nỗi thất vọng của các môn đệ đã bỏ trốn, giữa cảnh Con mình bị treo trần trụi trên cây gỗ như một kẻ bị Thiên Chúa nguyền rủa. Mẹ đứng đó, không phải vì Mẹ không đau, nhưng vì tình yêu của Mẹ lớn hơn nỗi đau; không phải vì Mẹ hiểu hết mọi sự đang xảy ra, nhưng vì đức tin của Mẹ mạnh hơn những gì mắt Mẹ đang nhìn thấy; không phải vì Mẹ không muốn cứu Con khỏi cái chết, nhưng vì Mẹ đã đặt đời mình trong tay Thiên Chúa từ ngày thưa lời “Xin Vâng”, và giờ đây Mẹ tiếp tục thưa tiếng xin vâng ấy trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất. Khi mừng lễ Đức Mẹ Sầu Bi, Hội Thánh không chỉ mời chúng ta nhìn vào những giọt nước mắt của một người mẹ mất con, mà còn dẫn chúng ta bước vào mầu nhiệm của một trái tim đã để cho Lời Chúa xuyên thấu, một trái tim biết đau nỗi đau của Con Thiên Chúa, biết đau nỗi đau của nhân loại, và biết biến đau khổ thành sự hiệp thông, thành lời chuyển cầu, thành hiến lễ yêu thương. Theo truyền thống phụng vụ được trình bày trong bài suy niệm của Dòng Linh mục Thánh Tâm, lòng sùng kính Đức Mẹ Sầu Bi đã được phát triển từ đầu thiên niên kỷ thứ hai, tập trung vào sự đồng cảm của Đức Maria với Đức Kitô dưới chân thập giá; lễ kính dần gắn với hình ảnh bảy lưỡi gươm và được Đức Piô X ấn định vào ngày 15 tháng 9. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất không nằm ở lịch sử của ngày lễ, mà ở lời mời gọi chúng ta học nơi Mẹ một lòng trắc ẩn chân thật, một sự hiện diện trung thành và một đức vâng phục không rút lui trước đau khổ.
Lời tiên báo của cụ già Simêon năm xưa giờ đây đang ứng nghiệm: “Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Ítraen phải vấp ngã hay được chỗi dậy. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng; còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà. Như vậy, những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người sẽ lộ ra” (Lc 2,34-35). Khi nghe những lời ấy trong Đền Thờ, có lẽ Đức Maria chưa thể hình dung lưỡi gươm ấy sẽ sắc bén đến mức nào. Hôm ấy, Hài Nhi Giêsu vẫn bình an trong vòng tay Mẹ. Mẹ đang sống niềm vui thanh sạch của một người mẹ đem con đầu lòng dâng cho Thiên Chúa. Nhưng ẩn trong lời chúc phúc của cụ già Simêon đã có bóng dáng của thập giá. Con trẻ mà Mẹ đang ôm vào lòng sẽ trở thành dấu hiệu bị người đời chống đối; Đấng đến để quy tụ sẽ bị loại trừ; Đấng ban sự sống sẽ bị giết chết; Đấng chữa lành những trái tim tan vỡ sẽ chịu để trái tim mình bị lưỡi đòng đâm thâu. Và bởi cuộc đời Mẹ gắn bó trọn vẹn với cuộc đời của Con, mọi thương tích nơi thân xác Đức Giêsu cũng trở thành vết thương trong tâm hồn Mẹ. Chiếc đinh đóng vào tay Con không xuyên qua bàn tay Mẹ, nhưng xuyên qua trái tim Mẹ. Mão gai không đặt trên đầu Mẹ, nhưng từng chiếc gai như đâm vào tâm trí Mẹ. Ngọn roi không quất trên lưng Mẹ, nhưng từng tiếng roi là một nhát cắt trong lòng Mẹ. Lưỡi đòng mở cạnh sườn Đức Giêsu cũng mở rộng trái tim Mẹ, để từ đó Mẹ đón nhận tất cả những người con mà Đức Giêsu trao phó. Nỗi đau của Mẹ không phải là một ý tưởng đạo đức được người đời tô đẹp về sau, nhưng là nỗi đau thật của một người mẹ nhìn người con vô tội của mình bị kết án, hành hạ và giết chết. Đó cũng là nỗi đau của người môn đệ trung thành nhất khi thấy Thầy mình bị chối bỏ; là nỗi đau của người nữ tỳ đã dâng trọn cuộc đời cho chương trình của Thiên Chúa nhưng nay phải bước vào một đêm tối không còn bất cứ dấu hiệu hữu hình nào của chiến thắng; là nỗi đau của người tin khi mọi lời hứa xem ra bị phủ định bởi tảng đá của ngôi mộ.
Truyền thống Hội Thánh thường chiêm ngắm bảy nỗi đau của Đức Maria: lời tiên báo của cụ già Simêon; cuộc trốn sang Ai Cập; việc lạc mất Chúa Giêsu trong Đền Thờ; cuộc gặp gỡ giữa Mẹ và Con trên đường lên Núi Sọ; cái chết của Đức Giêsu trên thập giá; việc tháo xác Con xuống đặt trong lòng Mẹ; và việc mai táng Đức Giêsu trong mồ. Bảy nỗi đau không nhằm giới hạn đau khổ của Mẹ vào bảy biến cố, nhưng tượng trưng cho sự viên mãn của một cuộc đời luôn kết hợp với mầu nhiệm của Con. Ngay từ khởi đầu, hành trình làm Mẹ Đấng Cứu Thế của Đức Maria đã không phải là một con đường trải hoa. Mẹ vừa sinh Con đã phải nghe lời đe dọa của vua Hêrôđê và vội vã bồng Con trốn sang Ai Cập trong đêm tối. Mẹ trở thành người tị nạn, rời bỏ quê hương, sống nơi đất khách, mang trong lòng nỗi lo âu của một người mẹ không biết ngày mai sẽ ra sao. Khi Chúa Giêsu lên mười hai tuổi, Mẹ lại trải qua ba ngày tìm Con trong nước mắt. Mẹ không hiểu trọn vẹn câu trả lời của Con, nhưng Mẹ ghi nhớ mọi sự và suy đi nghĩ lại trong lòng. Rồi đến những năm Đức Giêsu rời Nadarét lên đường rao giảng, Mẹ nghe người ta nói về những phép lạ của Con, nhưng đồng thời cũng nghe tin các thủ lãnh đang tìm cách loại trừ Người. Ngày Con bị bắt, có lẽ Mẹ đã cảm nhận rằng giờ phút lưỡi gươm của Simêon đang đến. Mẹ bước theo Con trên con đường thập giá, nhìn khuôn mặt vốn thân quen từ thuở ấu thơ nay bê bết máu, nhìn đôi vai đã từng lao động trong xưởng mộc giờ bị cây gỗ nặng nề nghiền xuống, nhìn đôi chân từng đi khắp các làng mạc để tìm kiếm người đau khổ giờ loạng choạng giữa tiếng chửi rủa. Mẹ không thể cất thập giá khỏi vai Con; Mẹ không thể ngăn những người lính; Mẹ không thể làm cho đám đông im tiếng; Mẹ chỉ có thể đến gần, nhìn Con, và trao cho Con sự hiện diện của một tình yêu không bỏ cuộc. Có những lúc yêu thương không còn khả năng thay đổi hoàn cảnh, không thể cất đi bệnh tật, không thể ngăn cái chết, không thể trả lại những gì đã mất, nhưng tình yêu vẫn có thể làm một việc vô cùng lớn lao: ở lại. Đức Maria đã ở lại.
Chúng ta thường nghĩ rằng yêu thương là phải làm được điều gì đó cho người mình yêu. Điều ấy đúng, nhưng chưa đủ. Trong nhiều hoàn cảnh, việc lớn nhất chúng ta có thể làm là hiện diện, lắng nghe và cùng chịu đau với người đang đau. Thế giới hôm nay có rất nhiều phương tiện để liên lạc nhưng lại thiếu những con người thật sự hiện diện bên nhau. Người ta có thể gửi hàng trăm lời chia buồn nhưng không đủ kiên nhẫn ngồi lại bên một người vừa mất người thân. Người ta có thể nói rất nhiều về lòng thương xót nhưng lại tránh né tiếng khóc của người nghèo. Người ta có thể tranh luận về nguyên nhân của một căn bệnh nhưng không nắm lấy bàn tay người bệnh. Người ta có thể đưa ra hàng loạt lời khuyên cho một gia đình đang đổ vỡ nhưng không chịu dành thời gian lắng nghe họ. Có những lời an ủi được nói quá vội vàng nên càng làm người đau khổ thêm cô độc: “Đừng buồn nữa”, “mọi chuyện rồi sẽ qua”, “Chúa đã định như vậy”, “phải mạnh mẽ lên”. Đức Maria không đứng dưới chân thập giá để giảng giải cho Đức Giêsu về ý nghĩa của đau khổ. Mẹ không bảo Con đừng đau. Mẹ không dùng những lời đạo đức để che lấp sự khủng khiếp của cái chết. Mẹ đứng đó, mang lấy tiếng kêu của Con trong trái tim mình, và sự hiện diện của Mẹ trở thành một lời an ủi không cần phát thành tiếng. Trắc ẩn đích thực không phải là đứng ở bên ngoài nhìn vào nỗi đau của người khác rồi thương hại; trắc ẩn là bước vào nỗi đau ấy, mang lấy một phần gánh nặng của họ, để họ không phải chịu đựng một mình. Chính vì thế, Đức Maria được gọi là Mẹ Sầu Bi, không phải vì Mẹ yêu thích đau khổ, nhưng vì Mẹ không trốn chạy khỏi những người đau khổ.
Bài đọc trích thư gửi tín hữu Hípri giúp chúng ta chiêm ngắm Đức Giêsu trong những ngày sống kiếp phàm nhân: Người đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết; dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho những ai tùng phục Người (x. Hr 5,7-9). Những lời ấy không có nghĩa là trước đó Đức Giêsu bất toàn về luân lý hay chưa biết vâng phục. Người là Con Một hoàn toàn yêu mến Chúa Cha. Nhưng trong thân phận con người, sự vâng phục của Người đã được sống đến tận cùng qua kinh nghiệm đau khổ và cái chết. Người không cứu chúng ta bằng cách đứng ngoài thân phận con người, nhưng bằng cách đi vào tận đáy vực thẳm của thân phận ấy. Người đã khóc, đã run sợ, đã cầu xin cho chén đắng qua khỏi; Người đã cảm nhận nỗi cô đơn đến mức thốt lên: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Người không giả vờ đau và cũng không dùng quyền năng thần linh để tránh né đau khổ. Người mang vào chính bản thân mọi nỗi thống khổ của nhân loại và biến chúng thành lời hiến dâng cho Chúa Cha. Đức Maria, người Mẹ và người môn đệ đầu tiên, cũng bước đi trên con đường ấy. Tiếng “Xin Vâng” tại Nadarét không chỉ là lời chấp nhận một niềm vui nhiệm mầu, mà còn là sự đồng ý bước vào mọi hệ quả của mầu nhiệm Nhập Thể. Mẹ không chỉ thưa xin vâng khi thiên thần hiện đến, nhưng còn phải lặp lại lời ấy khi không tìm được chỗ trong quán trọ, khi sinh Con trong hang đá, khi phải chạy trốn Hêrôđê, khi không hiểu lời Con trong Đền Thờ, khi bị ngăn cách bởi đám đông, khi nghe người ta vu khống Con, khi gặp Con trên đường thập giá và nhất là khi đứng dưới chân Con đang hấp hối. Lời xin vâng đẹp nhất không phải lúc nào cũng được nói trong ánh sáng; nhiều khi lời xin vâng cao cả nhất được thốt lên trong thinh lặng của đêm tối, khi con người chẳng còn cảm thấy gì ngoài đau đớn nhưng vẫn chọn ở lại với Thiên Chúa.
Bởi thế, chiêm ngắm Đức Mẹ Sầu Bi không có nghĩa là tôn vinh đau khổ như thể đau khổ tự nó là điều tốt. Kitô giáo không tìm kiếm đau đớn, không cổ võ thái độ cam chịu bất công, không buộc người bị tổn thương phải im lặng trước bạo lực, cũng không gọi bệnh tật, chiến tranh, nghèo đói và áp bức là những điều đáng được duy trì. Đức Giêsu đã chữa lành người bệnh, cho người đói được ăn, bênh vực người bị khinh miệt, tha thứ cho tội nhân và khóc trước mộ Ladarô. Thiên Chúa không vui khi thấy con cái Người đau khổ. Nhưng vì đau khổ đã đi vào thế giới do tội lỗi và sự hữu hạn của phận người, Con Thiên Chúa không đứng xa để nhìn; Người bước vào đau khổ, mang lấy nó và mở từ trong lòng nó một con đường dẫn đến sự sống. Thập giá không trở thành thánh vì bạo lực của những kẻ đóng đinh, nhưng vì tình yêu của Đấng chịu đóng đinh. Đau khổ của Đức Maria không có giá trị cứu độ vì nước mắt tự nó tạo ra công nghiệp, nhưng vì Mẹ đã kết hợp đau khổ ấy với tình yêu và hiến lễ của Đức Kitô. Mẹ không nguyền rủa những kẻ đóng đinh Con mình. Mẹ không để đau khổ biến trái tim thành cay đắng. Mẹ không giữ lấy Con cho riêng mình. Ngay trong giờ phút mất Con, Mẹ lại nhận lấy nhân loại làm con: “Thưa Bà, đây là con của Bà” (Ga 19,26). Nỗi đau tưởng như có thể khép kín trái tim Mẹ lại trở thành cánh cửa mở rộng trái tim Mẹ cho toàn thể Hội Thánh. Đây chính là phép lạ của ân sủng: đau khổ có thể làm con người co cụm, nghi ngờ và oán hận, nhưng khi được kết hợp với Đức Kitô, nó cũng có thể làm trái tim chúng ta sâu hơn, dịu dàng hơn, biết cảm thông hơn và có khả năng đón nhận nhiều người hơn.
Đứng dưới chân thập giá, Đức Maria cũng chứng kiến sự trần trụi của lòng người. Cụ già Simêon từng nói rằng nhờ Hài Nhi này, những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người sẽ lộ ra. Quả thật, trước thập giá, lòng người được bộc lộ: nơi Giuđa là lòng tham và sự phản bội; nơi các thủ lãnh là ganh tị và cố chấp; nơi Philatô là sự hèn nhát của người biết điều đúng nhưng không dám thực hiện; nơi đám đông là tâm lý dễ bị kích động; nơi các môn đệ là nỗi sợ khiến họ bỏ chạy; nơi người trộm lành là lòng thống hối; nơi viên đại đội trưởng là sự thức tỉnh của đức tin; nơi Gioan là lòng trung thành; và nơi Đức Maria là tình yêu đứng vững đến cùng. Thập giá vẫn tiếp tục làm lộ ra những gì ẩn giấu trong trái tim chúng ta. Khi gặp đau khổ, chúng ta sẽ nhận ra đức tin của mình đặt ở đâu. Khi bị hiểu lầm, chúng ta sẽ thấy mình có thật sự hiền lành hay chỉ hiền lành khi được người khác tôn trọng. Khi mất mát, chúng ta sẽ nhận ra mình có thực sự tín thác vào Chúa hay chỉ tin Chúa khi mọi việc diễn ra theo ý mình. Khi phải chăm sóc một người bệnh lâu ngày, chúng ta mới biết tình yêu của mình sâu đến đâu. Khi bị xúc phạm, chúng ta mới biết lòng tha thứ của mình có thật hay chỉ là những lời đạo đức ngoài môi miệng. Đức Maria dạy chúng ta rằng đức tin không chỉ được chứng minh bằng những lời tuyên xưng trong ngày bình an, mà còn bằng sự trung thành trong những ngày không hiểu được đường lối của Chúa.
Dưới chân thập giá, Mẹ không hiểu theo nghĩa Mẹ có thể giải thích hết mọi sự, nhưng Mẹ vẫn tin. Đây là một sự khác biệt rất quan trọng. Nhiều người nghĩ rằng chỉ khi hiểu rõ kế hoạch của Thiên Chúa thì mới có thể tín thác. Nhưng trong đời sống đức tin, nhiều khi chúng ta phải tín thác trước khi hiểu, và có những điều mãi đến đời sau chúng ta mới hiểu trọn vẹn. Đức Maria đã tin rằng Thiên Chúa trung tín, ngay khi lời hứa về ngai vàng Đavít dường như kết thúc trên một cây thập giá. Mẹ đã tin rằng Con mình là Đấng Thánh, ngay khi Người bị đối xử như một tên tội phạm. Mẹ đã tin rằng Thiên Chúa đang hành động, ngay khi tất cả những gì Mẹ nhìn thấy chỉ là thất bại. Mẹ đã tin giữa ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, khi ánh sáng Phục Sinh chưa xuất hiện. Đó là đức tin trưởng thành: không đòi Thiên Chúa phải giải thích ngay mọi chuyện, không biến lời cầu nguyện thành một bản hợp đồng buộc Chúa làm theo ý mình, không rời bỏ Chúa chỉ vì Người thinh lặng. Đức tin ấy không loại trừ nước mắt. Mẹ khóc, nhưng Mẹ vẫn tin; Mẹ đau, nhưng Mẹ không tuyệt vọng; Mẹ mất Con, nhưng Mẹ không đánh mất Thiên Chúa. Có lẽ trong cuộc đời chúng ta cũng có những lúc Chúa dường như im lặng, những lời cầu xin không được đáp lại theo điều ta mong muốn, bệnh tật kéo dài, gia đình rạn nứt, công việc thất bại, người thân ra đi, tuổi già đến cùng với cô đơn, hay những hy sinh âm thầm chẳng được ai nhìn nhận. Những lúc ấy, Đức Maria không ban cho chúng ta một lời giải thích dễ dàng, nhưng Mẹ đứng bên chúng ta và nói bằng chính sự hiện diện của Mẹ: Con có thể khóc mà vẫn tin; con có thể không hiểu mà vẫn ở lại; con có thể bị thương mà không cần trở nên cay độc; con có thể đi qua Thứ Sáu Tuần Thánh vì Thiên Chúa đang chuẩn bị bình minh Phục Sinh.
Mẹ Sầu Bi đặc biệt gần gũi với những bà mẹ đang đau khổ vì con cái. Có người mẹ khóc vì con mình bệnh nặng; có người nhìn con sa vào nghiện ngập mà bất lực; có người đau đớn vì con bỏ nhà ra đi; có người phải thăm con trong trại giam; có người thấy con từ bỏ đức tin; có người âm thầm chịu đựng vì con cái bất hòa; có người mất con khi con còn quá trẻ; có người dù con vẫn sống nhưng khoảng cách trong tâm hồn đã khiến mẹ có cảm tưởng như mất con. Đức Maria hiểu mọi giọt nước mắt ấy. Mẹ không hứa rằng mọi hoàn cảnh sẽ lập tức thay đổi, nhưng Mẹ dạy các bà mẹ đừng để tuyệt vọng chiếm lấy trái tim, đừng ngừng cầu nguyện, đừng khóa kín cánh cửa yêu thương và cũng đừng tự kết án mình vì những điều vượt quá khả năng. Có những đứa con chỉ có thể được người mẹ ôm lại bằng lời cầu nguyện. Có những hành trình trở về kéo dài nhiều năm. Có những hạt giống phải nằm rất lâu trong lòng đất mới nảy mầm. Hãy đặt những người con ấy vào trái tim Mẹ Maria, vì trái tim từng bị lưỡi gươm xuyên thấu ấy có đủ chỗ cho mọi người con lạc đường, mọi người con bị thương và mọi người con đang đứng bên bờ vực thẳm.
Mẹ Sầu Bi cũng ở gần những người đang chịu tang. Trước cái chết, ngôn ngữ của con người trở nên nghèo nàn. Không lời nào có thể lấp đầy chiếc ghế trống trong gia đình, không câu nói nào có thể xóa ngay nỗi nhớ, không lý luận nào khiến trái tim thôi quặn đau. Đức Maria từng ôm thân xác lạnh giá của Con trong lòng. Đôi tay Mẹ đã từng bồng Hài Nhi Bêlem, giờ đây cũng chính đôi tay ấy đón lấy thân xác đầy thương tích được tháo xuống từ thập giá. Chúng ta có thể hình dung Mẹ nhìn lại đôi tay đã từng nắm tay Mẹ, đôi chân từng bước trong căn nhà Nadarét, khuôn mặt từng mỉm cười với Mẹ, tất cả giờ đây bất động. Không ai có thể nói với một người mẹ như thế rằng nỗi đau ấy không lớn. Nhưng Đức Maria vẫn trao thân xác Con cho ngôi mộ, chấp nhận buông ra điều quý giá nhất đời mình và chờ đợi Thiên Chúa. Nơi Mẹ, những người chịu tang tìm thấy một người đồng hành không nói những lời rỗng tuếch. Mẹ ngồi bên họ trong thinh lặng, đón lấy nước mắt của họ và nhắc họ rằng ngôi mộ không phải là lời cuối cùng. Người Kitô hữu không phủ nhận sự đau đớn của chia ly, nhưng chúng ta đau buồn trong hy vọng. Sự chết vẫn là một vết thương, nhưng từ khi Đức Kitô sống lại, nó không còn là vực thẳm không lối thoát; nó trở thành ngưỡng cửa đưa người tín hữu vào sự sống viên mãn.
Mẹ Sầu Bi còn đứng bên tất cả những nạn nhân của chiến tranh, bạo lực, thiên tai, nghèo đói và bất công. Mỗi người mẹ ôm xác con giữa đống đổ nát đều gợi lại hình ảnh Đức Maria ôm xác Đức Giêsu. Mỗi đứa trẻ mất cha mẹ, mỗi người phải rời quê hương, mỗi bệnh nhân không có tiền chữa trị, mỗi người già bị bỏ quên, mỗi thai nhi không được chào đời, mỗi người yếu thế bị bóc lột, mỗi nạn nhân bị xâm phạm phẩm giá đều có một chỗ trong trái tim Mẹ. Vì thế, lòng sùng kính Mẹ Sầu Bi không thể dừng lại ở việc đọc kinh và xúc động trước một pho tượng. Nếu chúng ta quỳ trước hình ảnh trái tim Mẹ bị bảy lưỡi gươm đâm thâu nhưng lại thờ ơ với trái tim đang tan vỡ của người sống cạnh mình, lòng đạo đức của chúng ta chưa chạm đến Tin Mừng. Nếu chúng ta lau nước mắt cho tượng Mẹ nhưng không lau nước mắt cho người nghèo, chúng ta chưa hiểu nỗi đau của Mẹ. Nếu chúng ta hát bài “Mẹ đứng đó” nhưng lại bỏ đi khi một người anh chị em cần mình ở lại, chúng ta chưa thực sự đứng với Mẹ dưới chân thập giá. Tôn kính Mẹ Sầu Bi là xin Mẹ ban cho chúng ta một trái tim biết đau trước nỗi đau của người khác; biết dừng lại thay vì bước qua; biết lắng nghe thay vì phán xét; biết chia sẻ thay vì chỉ khuyên bảo; biết hành động để giảm bớt đau khổ thay vì dễ dàng gán mọi sự cho ý Chúa.
Tuy nhiên, lòng trắc ẩn Kitô giáo không chỉ là một cảm xúc. Đức Maria không đơn thuần xúc động trước đau khổ của Con; Mẹ hiệp thông với Con trong sự vâng phục đối với Chúa Cha. Nếu lòng thương cảm chỉ dừng ở cảm xúc, nó sẽ nhanh chóng qua đi. Hôm nay ta xúc động trước một câu chuyện, ngày mai ta quên. Ta có thể rơi nước mắt khi xem hình ảnh một em bé nghèo nhưng không thay đổi cách tiêu dùng ích kỷ của mình. Ta có thể buồn khi nghe một gia đình gặp nạn nhưng không dám hy sinh thời giờ hay tiền bạc để giúp họ. Ta có thể nói thương người bệnh nhưng lại ngại đến thăm vì sợ bất tiện. Lòng trắc ẩn của Đức Maria là lòng trắc ẩn có sức nặng của sự hiện diện và hiến dâng. Mẹ bước theo Con đến tận Núi Sọ. Mẹ đứng cho đến khi Con trút hơi thở. Mẹ đón lấy xác Con. Mẹ đi đến ngôi mộ. Mẹ không bỏ cuộc giữa đường. Chúng ta cần học nơi Mẹ một lòng thương xót bền bỉ như thế: yêu không chỉ lúc thuận tiện, chăm sóc không chỉ khi còn cảm xúc, tha thứ không chỉ khi người kia dễ thương, phục vụ không chỉ khi được biết ơn, cầu nguyện không chỉ khi thấy kết quả.
Tại thập giá, Đức Giêsu nói với Mẹ: “Thưa Bà, đây là con của Bà”; rồi Người nói với người môn đệ: “Đây là mẹ của anh” (Ga 19,26-27). Đây không chỉ là một sự thu xếp gia đình trước khi chết. Trong giờ cứu độ, Đức Giêsu trao Mẹ Người cho người môn đệ, và qua người môn đệ được yêu mến, Người trao Mẹ cho toàn thể Hội Thánh. Cũng trong giờ ấy, Người trao chúng ta cho Mẹ. Đức Maria trở thành Mẹ của một gia đình mới được sinh ra từ cạnh sườn bị đâm thâu của Đức Kitô. Điều lạ lùng là Mẹ đón nhận chúng ta đúng vào lúc Mẹ đau đớn nhất. Mẹ không nói: trái tim tôi đã đủ đau, tôi không thể nhận thêm ai. Trái lại, trái tim bị xuyên thấu của Mẹ trở thành trái tim rộng mở. Từ đó, không một người đau khổ nào phải sợ mình không được Mẹ đón nhận. Không một tội nhân nào phải nghĩ rằng Mẹ khước từ mình. Nhưng nếu chúng ta đón nhận Đức Maria làm Mẹ, chúng ta cũng phải đón nhận nhau làm anh chị em. Không thể gọi Mẹ Maria là Mẹ mà lại ghét bỏ những người con khác của Mẹ. Không thể đứng với Mẹ dưới chân thập giá mà tiếp tục đóng đinh người khác bằng lời nói độc ác, thái độ khinh miệt, sự vu khống hay lòng thù hận. Dưới chân thập giá không có chỗ cho sự kiêu căng. Tại đó, mọi người đều là kẻ cần được cứu, đều sống nhờ dòng máu của Đấng chịu đóng đinh, đều được trao cho cùng một người Mẹ.
Lễ Đức Mẹ Sầu Bi được cử hành ngay sau lễ Suy Tôn Thánh Giá. Sự sắp xếp ấy mang một ý nghĩa sâu xa. Hội Thánh vừa mời chúng ta chiêm ngắm thập giá Đức Kitô như cây mang lại sự sống, liền mời chúng ta nhìn lên Đức Maria đứng bên cây thập giá ấy. Không thể hiểu nỗi đau của Mẹ nếu tách khỏi thập giá của Con, và cũng không thể hiểu thập giá chỉ như một thất bại. Mẹ Sầu Bi không phải là hình ảnh của một người phụ nữ bị đau khổ đánh bại, nhưng là hình ảnh của người nữ đã đứng vững nhờ đức tin. Nước mắt Mẹ không phải là dấu chấm hết, vì Mẹ đang đứng bên Đấng sẽ phục sinh. Ngày Thứ Bảy thinh lặng, khi xác Đức Giêsu nằm trong mồ, có lẽ chỉ nơi trái tim Mẹ ngọn lửa hy vọng vẫn âm thầm cháy. Các môn đệ thất vọng, cánh cửa phòng đóng kín, những ước mơ dường như tan biến; nhưng Mẹ giữ lại mọi lời của Con trong lòng. Đức tin của Mẹ trở thành chiếc cầu nối giữa thập giá và Phục Sinh, giữa lời hứa và sự hoàn tất, giữa nước mắt và niềm vui.
Hôm nay, mỗi người chúng ta có thể đem đến cho Mẹ một lưỡi gươm đang đâm trong lòng mình. Đó có thể là một căn bệnh chưa biết ngày khỏi, một mối quan hệ đã rạn nứt, một lỗi lầm trong quá khứ vẫn ám ảnh, một lời xúc phạm không thể quên, một nỗi cô đơn không ai hiểu, một người thân đã ra đi, một đứa con khiến ta lo lắng, một ơn gọi đang gặp khủng hoảng, một lời cầu nguyện tưởng như không được Chúa nghe, hoặc một tương lai đầy bất định. Chúng ta không cần giấu nước mắt trước Mẹ. Đức tin không đòi ta phải giả vờ rằng mình không đau. Hãy khóc nếu lòng cần khóc, nhưng hãy khóc trong vòng tay Mẹ; hãy đặt nỗi đau dưới chân thập giá; hãy để máu và nước từ cạnh sườn Đức Kitô chạm đến những vết thương sâu kín. Đừng để đau khổ làm ta xa Chúa; hãy để nó trở thành nơi ta gặp Chúa sâu xa hơn. Đừng để vết thương biến thành vũ khí làm tổn thương người khác; hãy để Chúa biến nó thành cánh cửa của lòng cảm thông. Đừng để những gì đã mất khiến ta quên những gì vẫn còn; hãy nhìn lên Mẹ, Đấng mất Con nhưng nhận được cả Hội Thánh, đi qua đêm tối nhưng bước vào niềm vui Phục Sinh, chịu lưỡi gươm đâm thâu nhưng vẫn giữ trái tim mở rộng.
Lạy Đức Maria, Mẹ Sầu Bi, xin dạy chúng con biết đứng dưới chân thập giá. Khi gặp đau khổ, xin đừng để chúng con chạy trốn Thiên Chúa. Khi không hiểu đường lối của Người, xin dạy chúng con vẫn tin. Khi người khác đau khổ, xin giải thoát chúng con khỏi những lời an ủi hời hợt và ban cho chúng con lòng can đảm để ở lại. Khi bị tổn thương, xin đừng để trái tim chúng con hóa thành cay đắng. Khi phải buông tay trước một mất mát, xin giúp chúng con nhớ rằng Thiên Chúa vẫn đang giữ lấy điều chúng con không còn có thể giữ. Khi đêm tối phủ kín cuộc đời, xin cho chúng con kiên nhẫn chờ bình minh Phục Sinh. Xin Mẹ đứng bên giường những người hấp hối, nâng đỡ những gia đình đang chịu tang, an ủi những bà mẹ khóc vì con, chữa lành những tâm hồn tan vỡ, bảo vệ những người vô tội, đồng hành với người di dân và tị nạn, lau nước mắt cho những nạn nhân của chiến tranh, bạo lực và bất công. Xin làm cho Hội Thánh trở thành một người mẹ biết đứng bên những thập giá của nhân loại, không thờ ơ, không phán xét, không bỏ rơi bất cứ ai.
Lạy Mẹ, một lưỡi gươm đã đâm thâu tâm hồn Mẹ, nhưng không thể giết chết tình yêu trong Mẹ. Xin cho chúng con hiểu rằng chiến thắng lớn nhất không phải là sống mà không hề bị thương, nhưng là dù mang thương tích vẫn không ngừng yêu thương; không phải là chưa từng khóc, nhưng là qua nước mắt vẫn nhìn thấy ánh sáng; không phải là luôn hiểu được kế hoạch của Chúa, nhưng là giữa những điều không thể hiểu vẫn trung thành thưa lên: “Này con đây, xin Chúa cứ thực hiện nơi con điều Người muốn.” Xin Mẹ dẫn chúng con đến gần thập giá Đức Giêsu, vì dưới bóng thập giá, chúng con nhận ra mình được yêu đến tận cùng; dưới chân thập giá, mọi tội lỗi có thể được tha thứ, mọi vết thương có thể được chữa lành, mọi cuộc đời có thể bắt đầu lại; và sau thập giá, ngôi mộ trống đang chờ đợi như lời công bố rằng đau khổ không có tiếng nói cuối cùng, sự dữ không có quyền lực cuối cùng và cái chết không phải là điểm kết thúc cuối cùng. Tiếng nói cuối cùng thuộc về tình yêu. Quyền lực cuối cùng thuộc về Thiên Chúa. Và điểm đến cuối cùng của những ai trung thành với Người là sự sống đời đời.
Lạy Đức Mẹ Sầu Bi, xin cầu cho chúng con là những kẻ đang khóc lóc trong thung lũng đầy nước mắt này. Xin cầu cho chúng con khi đau khổ làm đức tin lung lay, khi cô đơn làm hy vọng tàn lụi, khi thất vọng khiến chúng con muốn bỏ cuộc. Xin cho chúng con biết nép mình bên Mẹ, cùng Mẹ nhìn lên Đấng chịu đóng đinh và cùng Mẹ đợi chờ ngày Người sống lại. Xin làm cho mỗi giọt nước mắt của chúng con, khi được kết hợp với nước mắt Mẹ và Máu Thánh Đức Kitô, trở thành lời cầu nguyện cho thế giới. Xin cho những đau khổ chúng con phải mang không trở nên vô ích, nhưng được biến đổi thành lòng thương xót, sự trưởng thành, sức mạnh phục vụ và tình yêu hiến dâng. Và xin cho chúng con, sau khi đã cùng Mẹ trung thành đứng dưới chân thập giá trong cuộc đời này, một ngày kia cũng được cùng Mẹ chiêm ngắm dung nhan vinh hiển của Đức Giêsu Kitô, Con Mẹ, Đấng hằng sống và hiển trị đến muôn thuở muôn đời. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
ĐỨC MẸ SẦU BI – KHI TÌNH YÊU ĐI QUA ĐAU KHỔ MÀ VẪN KHÔNG NGỪNG HY VỌNG
Trong đời sống đức tin của Hội Thánh, có những ngày lễ đưa tâm hồn chúng ta đến với niềm vui rạng rỡ, nhưng cũng có những ngày lễ mời gọi chúng ta dừng lại trước mầu nhiệm đau khổ, không phải để chìm trong buồn phiền, càng không phải để tôn vinh nước mắt như thể đau khổ tự nó là một điều đáng tìm kiếm, nhưng để nhận ra rằng giữa những thử thách tưởng chừng có thể nghiền nát con người, tình yêu vẫn có thể trung thành, đức tin vẫn có thể đứng vững và niềm hy vọng vẫn có thể âm thầm cháy sáng. Lễ Đức Mẹ Sầu Bi là một ngày như thế. Sau khi Hội Thánh cử hành lễ Suy Tôn Thánh Giá, chúng ta được mời gọi hướng nhìn về Đức Maria, người Mẹ đã đứng dưới chân thập giá, người Mẹ không bỏ đi khi Con mình bị loại trừ, người Mẹ không chạy trốn khi mọi sự dường như đã sụp đổ, người Mẹ đã cùng Chúa Giêsu bước vào tận chiều sâu của đau khổ nhân loại. Khi chiêm ngắm Đức Mẹ Sầu Bi, chúng ta không chỉ nhìn thấy một người mẹ khóc thương cái chết của con mình, nhưng còn nhìn thấy một người môn đệ đã theo Chúa đến cùng, một người nữ đã tin ngay cả khi không còn thấy gì để bám víu, một trái tim bị lưỡi gươm xuyên thấu nhưng vẫn không đóng lại trước Thiên Chúa và con người. Nơi Mẹ, đau khổ không biến thành cay đắng, mất mát không biến thành tuyệt vọng, sự im lặng của Thiên Chúa không biến thành lý do để phản bội. Mẹ đau, nhưng Mẹ vẫn tin; Mẹ khóc, nhưng Mẹ không buông tay; Mẹ không hiểu hết mọi điều đang xảy ra, nhưng Mẹ vẫn để cho lời “xin vâng” thuở Truyền Tin tiếp tục vang lên trong giờ phút tăm tối nhất của cuộc đời mình.
Tin Mừng cho chúng ta thấy con đường của Đức Maria không phải là một con đường được miễn trừ khỏi thử thách. Ngay từ khi thưa với sứ thần: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”, Mẹ đã trao trọn cuộc đời mình cho một chương trình lớn hơn những dự tính riêng. Tiếng “xin vâng” ấy không phải là lời đáp của một người đã được biết trước mọi chi tiết và được bảo đảm rằng mọi sự sẽ diễn ra êm đẹp. Đó là tiếng xin vâng trong đức tin, nghĩa là chấp nhận bước đi với Thiên Chúa ngay cả khi con đường còn được che phủ bởi mầu nhiệm. Mẹ đón nhận Con Thiên Chúa vào lòng, nhưng đồng thời cũng đón nhận tất cả những hệ quả của việc thuộc trọn về Người. Mẹ mang trong mình Đấng Cứu Thế, nhưng không vì thế mà được miễn khỏi cảnh nghèo khó, hiểu lầm, lưu lạc, lo âu và mất mát. Ngày Đức Giêsu chào đời, Mẹ không có một căn phòng xứng đáng để sinh con; máng cỏ lạnh lẽo trở thành chiếc nôi đầu tiên của Đấng Cứu Độ. Khi các mục đồng đến thờ lạy và các nhà đạo sĩ dâng lễ vật, niềm vui chưa kịp trọn vẹn thì bóng tối của bạo quyền đã phủ xuống. Hêrôđê tìm giết Hài Nhi; Thánh Gia phải vội vã trốn sang Ai Cập. Mẹ trở thành một người tị nạn, ôm con chạy trong đêm tối, rời bỏ quê hương, sống nơi đất khách, không biết ngày mai sẽ ra sao. Ngay từ những năm tháng đầu đời của Chúa Giêsu, Mẹ đã hiểu rằng tình yêu đối với Thiên Chúa không phải là con đường không có nước mắt, nhưng là con đường trong đó người tín hữu học đặt bàn tay mình trong tay Chúa giữa những bất an không thể kiểm soát.
Nỗi đau đầu tiên thường được nhắc đến trong bảy sự thương khó của Đức Maria là lời tiên báo của ông Simêôn. Trong Đền Thờ Giêrusalem, khi Mẹ và thánh Giuse dâng Hài Nhi cho Thiên Chúa, ông Simêôn đã nói về Đức Giêsu như dấu hiệu bị người đời chống báng, đồng thời nói với Mẹ: “Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà.” Lời ấy chắc chắn đã ở lại trong trái tim Mẹ suốt nhiều năm. Một người mẹ nào lại không đau khi nghe rằng con mình sẽ trở thành dấu hiệu bị chống đối? Một người mẹ nào lại không thổn thức khi biết phía trước đời con có bóng dáng của hy sinh và thập giá? Nhưng Đức Maria không để nỗi lo sợ chiếm lấy tương lai. Mẹ không vì lời tiên báo đau thương mà giữ Đức Giêsu lại cho riêng mình. Mẹ tiếp tục nuôi dưỡng Người, chăm sóc Người và chuẩn bị Người đi vào sứ mạng Chúa Cha trao phó. Đây là một trong những nét đẹp sâu xa nhất của tình mẫu tử nơi Đức Maria: Mẹ yêu Con không phải bằng một tình yêu chiếm hữu, nhưng bằng tình yêu hiến dâng; không giữ Con để bảo vệ sự bình an của riêng mình, nhưng để Con hoàn toàn thuộc về Chúa Cha và trở thành Đấng Cứu Độ trần gian. Tình yêu chân thật không biến người mình yêu thành tài sản của mình. Tình yêu chân thật biết chăm sóc nhưng cũng biết trao đi, biết ở gần nhưng không cản trở sứ mạng, biết đau đớn nhưng không vì sợ đau mà ngăn người mình yêu sống trọn ơn gọi.
Nỗi đau tiếp theo là cuộc trốn chạy sang Ai Cập. Chúng ta thường chiêm ngắm bức tranh Thánh Gia trên đường lưu lạc với một vẻ bình yên nào đó, nhưng thực tế phía sau hành trình ấy là nỗi kinh hoàng của một gia đình bị đe dọa. Đức Maria phải rời khỏi nơi quen thuộc, đi vào một vùng đất xa lạ, mang theo một trẻ thơ còn quá bé nhỏ. Mẹ không biết sẽ trú ở đâu, lấy gì sinh sống, gặp những ai và bao giờ có thể trở về. Mẹ đã nếm trải nỗi đau của biết bao người mẹ hôm nay đang bồng con rời khỏi quê hương vì chiến tranh, bạo lực, đói nghèo hoặc bách hại; nỗi đau của những gia đình phải bỏ lại mái nhà, ruộng vườn, ký ức và mồ mả tổ tiên để đi tìm một nơi an toàn; nỗi đau của người di dân sống giữa một nền văn hóa xa lạ, không biết ngôn ngữ, không có chỗ đứng và luôn mang trong mình cảm giác bấp bênh. Vì thế, Đức Mẹ Sầu Bi không xa lạ với những giọt nước mắt của con người. Mẹ hiểu nước mắt của người tị nạn, người mất nhà, người bị đuổi khỏi quê hương, người mẹ không đủ khả năng bảo vệ con mình khỏi bạo lực của thế giới. Mẹ không giải thích đau khổ bằng những lời dễ dãi; Mẹ hiện diện trong đau khổ và chỉ cho chúng ta biết phải làm gì khi con đường phía trước bị che khuất: hãy tiếp tục tín thác, tiếp tục bảo vệ sự sống, tiếp tục bước đi và tin rằng Thiên Chúa vẫn hiện diện ngay cả giữa một đêm dài tưởng như không có lối ra.
Nỗi đau thứ ba là việc lạc mất Chúa Giêsu trong Đền Thờ. Ba ngày không tìm thấy Con là ba ngày tâm hồn Mẹ chìm trong lo âu. Mẹ và thánh Giuse đã đi khắp nơi, hỏi han từng người, quay lại từng chặng đường, cho đến khi tìm thấy Đức Giêsu giữa các bậc thầy trong Đền Thờ. Lời Người nói: “Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao?” đã mở ra cho Mẹ một chân trời sâu xa hơn về căn tính và sứ mạng của Con. Tin Mừng không nói rằng Mẹ hiểu ngay mọi sự; trái lại, Mẹ ghi nhớ những điều ấy trong lòng. Đây là thái độ của đức tin trưởng thành: không phải lúc nào cũng hiểu, nhưng không vì chưa hiểu mà phủ nhận; không phải lúc nào cũng có câu trả lời, nhưng vẫn giữ Lời Chúa trong lòng để cầu nguyện, suy đi nghĩ lại và chờ đợi ánh sáng. Có những lúc chính chúng ta cũng cảm thấy như đã lạc mất Chúa. Ta cầu nguyện nhưng không cảm nhận được sự hiện diện của Người; ta đi lễ nhưng tâm hồn khô khan; ta kêu xin nhưng dường như chẳng nhận được câu trả lời; ta nhìn vào những tai họa xảy ra trong gia đình và tự hỏi Thiên Chúa đang ở đâu. Đức Maria dạy ta đừng ngừng tìm kiếm. Mẹ không tìm thấy Con ngay lập tức, nhưng Mẹ không bỏ cuộc. Mẹ quay về Giêrusalem, trở lại Đền Thờ, trở về nơi thuộc về Thiên Chúa. Khi cảm thấy lạc mất Chúa, chúng ta cũng cần trở về với cầu nguyện, với Lời Chúa, với Thánh Thể, với bí tích Hòa Giải, với cộng đoàn đức tin và với sự thinh lặng của tâm hồn. Có thể Chúa không mất; chính chúng ta đã đi xa khỏi nơi Người muốn gặp chúng ta.
Rồi đến nỗi đau của cuộc gặp gỡ trên đường lên Núi Sọ. Người Con mà Mẹ từng bồng ẵm trong vòng tay nay bị đánh đòn, đội mão gai, vác thập giá giữa những tiếng chế giễu và kết án. Mẹ nhìn thấy gương mặt của Con đầy máu và bụi đường; Mẹ nghe tiếng đám đông từng tung hô nay gào thét đòi đóng đinh Người; Mẹ chứng kiến sự bất công của quyền lực, sự hèn nhát của con người, sự phản bội của bạn hữu và sự cô độc của Con mình. Không lời nào có thể diễn tả đầy đủ cuộc gặp gỡ ấy. Có những đau khổ quá sâu đến nỗi ngôn ngữ trở nên bất lực. Mẹ không thể cất thập giá khỏi vai Con, nhưng Mẹ có thể trao cho Con ánh mắt yêu thương. Mẹ không thể ngăn những người lính hành hạ Người, nhưng Mẹ có thể cho Người biết rằng trong thế giới quay lưng ấy vẫn còn một trái tim không bao giờ bỏ Người. Đôi khi, chúng ta cũng đứng trước đau khổ của người thân mà không biết phải làm gì. Ta không chữa được căn bệnh của họ, không xóa được ký ức làm họ đau, không giải quyết được hoàn cảnh bế tắc, không thay đổi được một biến cố đã xảy ra. Trong những lúc ấy, cám dỗ lớn nhất là bỏ đi vì cảm thấy mình vô dụng. Đức Maria cho thấy sự hiện diện tự nó đã có thể là một món quà. Có những nỗi đau không cần những lời khuyên dài dòng; người đau khổ chỉ cần biết họ không bị bỏ lại một mình. Một ánh mắt cảm thông, một bàn tay nắm lấy, một sự im lặng biết lắng nghe, một lời cầu nguyện chân thành có thể trở thành sức mạnh giúp người khác vác tiếp thập giá của họ.
Đỉnh cao của đau khổ là khi Đức Maria đứng dưới chân thập giá. Tin Mừng không nói Mẹ ngã quỵ trong tuyệt vọng, nhưng nói Mẹ đứng đó. Động từ “đứng” diễn tả một sức mạnh thiêng liêng phi thường. Mẹ không đứng vì không đau; Mẹ đứng giữa chính nỗi đau có thể làm tan vỡ trái tim một người mẹ. Mẹ đứng không phải bằng sức riêng, nhưng bằng đức tin đã được tôi luyện qua cả một đời xin vâng. Trên Núi Sọ, mọi lời hứa dường như bị phủ nhận: Đấng được sứ thần gọi là Con Đấng Tối Cao giờ đây bị treo giữa trời và đất như một tội nhân; ngai vàng Đavít trở thành cây thập giá; vương miện trở thành vòng gai; đoàn dân reo mừng trở thành đám đông chế nhạo; các môn đệ đã bỏ trốn; phép lạ dường như không còn; trời đất chìm trong tăm tối. Nếu chỉ nhìn bằng mắt phàm, tất cả đã kết thúc trong thất bại. Nhưng Đức Maria vẫn ở đó. Mẹ không đòi Chúa giải thích, không nguyền rủa những kẻ giết Con mình, không tuyên bố rằng lời xin vâng năm xưa là một sai lầm. Mẹ để cho sự trung tín của mình trở thành câu trả lời cuối cùng trước sự im lặng của Thiên Chúa.
Chính dưới chân thập giá, Đức Maria đón nhận một sứ mạng mới. Chúa Giêsu nói với Mẹ: “Thưa Bà, đây là con của Bà”, rồi nói với người môn đệ: “Đây là mẹ của anh.” Trong giờ mất đi người Con duy nhất, Mẹ lại được trao một người con khác; trong giờ trái tim bị đâm thâu, trái tim ấy lại được mở rộng để ôm lấy Hội Thánh và toàn thể nhân loại. Đây là một nghịch lý kỳ diệu của tình yêu Kitô giáo: đau khổ không nhất thiết làm trái tim co lại; nếu được kết hợp với Chúa Kitô, đau khổ có thể mở rộng trái tim để nó biết cảm thông với nhiều người hơn. Có người sau khi chịu tổn thương trở nên cay nghiệt, khép kín và nghi ngờ tất cả; nhưng cũng có người từ chính vết thương của mình trở nên dịu dàng, biết lắng nghe và có khả năng nâng đỡ người khác. Đức Maria thuộc về con đường thứ hai. Mẹ không để lưỡi gươm đau khổ biến mình thành người mẹ chỉ biết ôm giữ nỗi đau riêng. Mẹ đón nhận người môn đệ, đón nhận Hội Thánh, đón nhận cả chúng ta là những kẻ yếu đuối, tội lỗi, nhiều lần làm Con Mẹ đau lòng. Dưới chân thập giá, Mẹ trở thành Mẹ của lòng thương xót bởi vì Mẹ đã học từ Con mình cách yêu thương cả những người không xứng đáng được yêu.
Mẹ cũng chứng kiến lúc người ta hạ xác Đức Giêsu khỏi thập giá. Đôi tay từng bồng Hài Nhi ở Bêlem giờ đây đón lấy thân xác đầy thương tích của Người. Mẹ nhìn từng vết đinh, từng vết roi, cạnh sườn bị đâm thâu, gương mặt không còn hình tượng người ta. Chúng ta có thể tưởng tượng Mẹ nhớ lại đôi bàn tay bé nhỏ ngày xưa từng nắm lấy ngón tay mình, đôi chân từng bước những bước đầu tiên trong căn nhà Nazareth, đôi mắt từng nhìn Mẹ bằng tình yêu của một người con. Giờ đây tất cả chìm trong sự im lặng của cái chết. Đây là nỗi đau của biết bao người mẹ đã ôm xác con mình vì chiến tranh, tai nạn, bệnh tật, bạo lực hoặc những lựa chọn lầm lạc. Đây là nỗi đau của những người phải tiễn biệt người thân khi chưa kịp nói lời cuối, của người vợ mất chồng, người chồng mất vợ, người con mất cha mẹ, người ở lại nhìn một chỗ trống không gì có thể lấp đầy. Đức Maria không đứng bên ngoài những nỗi đau ấy. Mẹ đã đi qua con đường mất mát và vì thế Mẹ có thể ở gần những người đang than khóc. Chạy đến với Đức Mẹ Sầu Bi không có nghĩa là chúng ta sẽ lập tức quên nỗi đau, nhưng là được ở bên một người Mẹ hiểu rằng có những vết thương cần rất nhiều thời gian, rất nhiều cầu nguyện và rất nhiều ân sủng mới có thể được chữa lành.
Nỗi đau thứ bảy là việc táng xác Chúa Giêsu. Tảng đá được lăn vào cửa mộ như một dấu chấm hết lạnh lùng. Đức Maria trở về khi không còn Con bên cạnh, không còn tiếng nói quen thuộc, không còn hy vọng nào có thể thấy bằng mắt. Ngày thứ Bảy Thánh là ngày của sự im lặng hoàn toàn. Nhưng trong chính sự im lặng ấy, Mẹ vẫn giữ lòng tin. Đức tin của Mẹ giờ đây không được nâng đỡ bởi dấu lạ hữu hình; Mẹ chỉ còn lời Chúa và tất cả những gì Mẹ đã ghi nhớ trong lòng. Mẹ đứng giữa ngày Thứ Sáu của thập giá và bình minh Phục Sinh, giữa cái chết đã xảy ra và sự sống chưa xuất hiện. Đó cũng là vị trí của rất nhiều người chúng ta. Có những giai đoạn cuộc đời giống như ngày Thứ Bảy Thánh kéo dài: điều cũ đã mất nhưng điều mới chưa đến; cánh cửa phía sau đã đóng nhưng cánh cửa phía trước chưa mở; lời cầu nguyện đã dâng lên nhưng câu trả lời còn vắng bóng. Trong khoảng thời gian ấy, chúng ta dễ nghĩ rằng Thiên Chúa đã quên mình. Đức Maria dạy ta rằng sự im lặng của Thiên Chúa không phải là sự vắng mặt của Người, và ngôi mộ không phải là lời cuối cùng. Khi chúng ta không còn thấy đường, đức tin không đòi ta phải giả vờ rằng mình không đau; đức tin chỉ mời ta đừng rời bỏ Thiên Chúa.
Bảy sự thương khó của Đức Maria không phải là bảy câu chuyện tách biệt, nhưng là bảy nhát gươm dần dần làm cho trái tim Mẹ nên giống trái tim Chúa Giêsu. Lời tiên báo của Simêôn, cuộc trốn sang Ai Cập, ba ngày lạc mất Con, cuộc gặp gỡ trên đường thập giá, việc đứng dưới chân thập giá, đón xác Con vào lòng và tiễn Con vào mộ đá tạo thành một con đường hiệp thông sâu xa. Mẹ không chịu đau khổ thay cho Đức Kitô và cũng không thêm điều gì vào giá trị cứu độ duy nhất của hy tế thập giá; nhưng Mẹ hiệp thông cách đặc biệt với sự tự hiến của Con. Trong tư cách là Mẹ và là môn đệ, Mẹ dâng hiến sự đau khổ của mình bằng tình yêu, đức tin và sự vâng phục. Giá trị thiêng liêng của đau khổ không nằm ở mức độ đau đớn, nhưng nằm ở tình yêu được đặt vào trong đau khổ ấy. Hai người có thể trải qua cùng một thử thách, nhưng một người để nó dẫn đến oán hận, còn người kia biến nó thành lời cầu nguyện, lòng cảm thông và sự hiến dâng. Đức Maria cho chúng ta thấy đau khổ có thể trở thành một nơi gặp gỡ Thiên Chúa nếu con người không khép lòng mình lại.
Điều này không có nghĩa Kitô hữu phải đi tìm đau khổ hay cam chịu mọi bất công như thể đó là ý Chúa. Thiên Chúa không vui thích khi con cái Người bị hành hạ. Đức Maria đã bảo vệ Hài Nhi bằng cách trốn khỏi Hêrôđê; điều đó nhắc chúng ta phải tránh sự dữ khi có thể, bảo vệ sự sống, chữa trị bệnh tật, chống lại bạo lực và lên tiếng trước bất công. Chúng ta không được dùng gương Đức Mẹ để bắt người bị tổn thương tiếp tục im lặng trước sự lạm dụng; cũng không được nói với một người đang đau rằng họ thiếu đức tin chỉ vì họ khóc hoặc cảm thấy kiệt sức. Chính Chúa Giêsu đã khóc trước mồ Lazarô, đã buồn sầu trong vườn Cây Dầu và đã thốt lên trên thập giá. Đức Maria cũng đau thật, khóc thật và chịu mất mát thật. Đức tin không làm con người mất cảm xúc; đức tin thanh luyện cảm xúc để nước mắt không trở thành tuyệt vọng và nỗi đau không trở thành hận thù. Khi sự dữ không thể tránh khỏi, người Kitô hữu được mời gọi không trao cho nó quyền quyết định mình sẽ trở thành người như thế nào.
Có những đau khổ đến từ bệnh tật, tuổi già và giới hạn tự nhiên của kiếp người; có những đau khổ do tội lỗi của người khác gây ra; có những đau khổ do chính những lựa chọn sai lầm của chúng ta; có những đau khổ không thể tìm được lời giải thích thỏa đáng. Trước những nỗi đau ấy, người ta thường hỏi: “Tại sao Thiên Chúa để điều này xảy ra?” Câu hỏi đó chính đáng và đôi khi phải được thốt lên bằng nước mắt. Đức Maria không trao cho chúng ta một công thức đơn giản để giải quyết mầu nhiệm sự dữ. Mẹ đưa chúng ta đến với Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Kitô giáo không trả lời đau khổ bằng một lý thuyết lạnh lùng, nhưng bằng một Thiên Chúa đã mang lấy thân phận con người, đã bị phản bội, kết án, đánh đòn, đóng đinh và chết. Thiên Chúa không đứng xa để nhìn con người đau khổ; trong Đức Kitô, Người bước vào chính đau khổ ấy. Còn Đức Maria đứng cạnh Con mình như một lời khẳng định rằng tình yêu có thể hiện diện ngay tại nơi sự dữ tưởng đã chiến thắng.
Khi nhìn lên Đức Mẹ Sầu Bi, mỗi gia đình có thể nhận ra hình ảnh của chính mình. Biết bao người mẹ đang đau vì con cái rời xa đức tin, sống trong nghiện ngập, đổ vỡ hôn nhân hoặc bước vào những con đường sai lạc; biết bao người cha âm thầm chịu đựng vì không thể mang lại cho gia đình một cuộc sống ổn định; biết bao đôi vợ chồng sống dưới cùng một mái nhà nhưng trái tim đã cách xa; biết bao người con nhìn cha mẹ già yếu từng ngày mà bất lực; biết bao gia đình đang mang một căn bệnh hiểm nghèo, một món nợ lớn, một hiểu lầm kéo dài hoặc một vết thương không ai dám nhắc đến. Đức Mẹ không hứa rằng mọi khó khăn sẽ biến mất theo cách chúng ta mong muốn. Mẹ dạy gia đình đừng bỏ nhau trong hoạn nạn. Khi không còn nói được lời nào, hãy còn biết ngồi lại bên nhau; khi không thể giải quyết ngay vấn đề, hãy đừng làm cho nhau đau thêm; khi một người yếu đuối, những người còn lại hãy nâng đỡ; khi có lỗi lầm, hãy mở đường cho sự thật và tha thứ; khi bóng tối bao phủ, hãy cùng nhau cầu nguyện. Nhiều gia đình không tan vỡ vì thử thách quá lớn, nhưng vì trong thử thách mỗi người tự nhốt mình trong một thế giới riêng. Đức Maria đứng dưới chân thập giá nhắc chúng ta rằng tình yêu trước hết là ở lại.
Mẹ cũng gần gũi với những người đang đau khổ âm thầm. Có những giọt nước mắt không ai nhìn thấy, những đêm mất ngủ không ai biết, những nụ cười được dùng để che giấu một tâm hồn đang kiệt quệ. Có người luôn tỏ ra mạnh mẽ vì sợ trở thành gánh nặng; có người phục vụ mọi người nhưng chẳng biết chia sẻ nỗi đau của mình với ai; có người bị một ký ức cũ đeo bám; có người mang mặc cảm tội lỗi và nghĩ rằng mình không còn xứng đáng được yêu; có người đang trải qua một cơn khủng hoảng đức tin nhưng vẫn cố gắng hiện diện trong cộng đoàn. Đức Mẹ Sầu Bi nhìn thấy tất cả. Mẹ không trách móc sự yếu đuối của chúng ta, nhưng đưa chúng ta đến gần Con Mẹ. Tuy nhiên, sự trợ giúp thiêng liêng không loại trừ những phương thế cụ thể. Khi nỗi buồn trở nên quá sức chịu đựng, chúng ta cần can đảm tìm đến người đáng tin cậy, linh mục, bác sĩ hoặc chuyên viên tâm lý. Xin trợ giúp không phải là dấu hiệu của đức tin yếu kém; đó có thể là một hành vi khiêm tốn và trách nhiệm. Thiên Chúa thường chữa lành chúng ta qua bàn tay, lời nói, kiến thức và sự đồng hành của người khác.
Chiêm ngắm Đức Mẹ Sầu Bi còn đặt chúng ta trước câu hỏi: tôi đang đứng ở đâu khi người khác đau khổ? Tôi có đứng bên họ như Đức Maria, hay tôi bỏ đi vì sợ bất tiện? Tôi có lắng nghe, hay vội vàng phán xét? Tôi có giúp họ mang thập giá, hay lại đặt thêm gánh nặng bằng những lời lạnh lùng? Có khi người đau khổ không cần chúng ta giảng giải về ý nghĩa của đau khổ; họ cần một bữa cơm, một khoản thuốc, một chuyến xe đến bệnh viện, một cuộc gọi hỏi thăm, một người chịu ngồi bên giường bệnh, một lời xin lỗi hoặc một cánh cửa được mở ra. Lòng sùng kính Đức Mẹ Sầu Bi sẽ trở nên vô nghĩa nếu chúng ta đọc kinh thật nhiều nhưng quay lưng trước tiếng khóc của con người. Không thể yêu mến người Mẹ đứng dưới chân thập giá mà lại tránh xa những thập giá đang hiện diện trong gia đình, giáo xứ và xã hội. Mỗi người đau khổ là một lời mời gọi chúng ta bước ra khỏi sự an toàn của mình để trở thành một dấu chỉ nhỏ bé của sự hiện diện Thiên Chúa.
Đức Maria cũng dạy chúng ta phải thanh luyện cách hiểu về sự mạnh mẽ. Thế gian thường cho rằng mạnh mẽ là không khóc, không bộc lộ vết thương và luôn kiểm soát được mọi sự. Nhưng Mẹ cho thấy sức mạnh đích thực là vẫn yêu khi trái tim đang đau, vẫn trung thành khi không được an ủi, vẫn dịu dàng khi có lý do để trở nên cay nghiệt, vẫn hy vọng khi chưa nhìn thấy bình minh. Đứng dưới chân thập giá không phải là thái độ thụ động; đó là một sự kháng cự thiêng liêng trước quyền lực của tuyệt vọng. Mẹ không thể ngăn Chúa Giêsu chết, nhưng Mẹ không để sự dữ lấy mất tình yêu của mình. Đây là chiến thắng sâu xa mà thế gian khó nhận ra. Sự dữ có thể gây thương tích cho thân xác và tâm hồn, nhưng nó chỉ thắng hoàn toàn khi biến người bị tổn thương thành kẻ tiếp tục gây tổn thương. Nơi Đức Maria, vòng xoáy ấy bị chặn lại: Mẹ đón nhận đau khổ nhưng không truyền đi hận thù; Mẹ bị lưỡi gươm đâm thâu nhưng không dùng lưỡi gươm để đáp trả; Mẹ mất Con nhưng lại mở lòng đón nhận những người con mới.
Vì thế, lễ Đức Mẹ Sầu Bi không dừng lại ở nước mắt của ngày Thứ Sáu, nhưng hướng về ánh sáng Phục Sinh. Chúng ta chỉ có thể hiểu sự đau khổ của Mẹ trong ánh sáng chiến thắng của Chúa Kitô. Nếu ngôi mộ là điểm kết thúc, tất cả chỉ còn là bi kịch; nhưng vì Đức Giêsu đã sống lại, lòng trung thành của Mẹ dưới chân thập giá trở thành lời chứng của hy vọng. Phục Sinh không xóa bỏ sự thật rằng Mẹ đã đau, nhưng cho thấy đau khổ không có tiếng nói cuối cùng. Những vết thương của Đức Kitô Phục Sinh vẫn còn đó, nhưng đã trở thành dấu chỉ của tình yêu chiến thắng. Điều ấy cũng đúng cho cuộc đời chúng ta: Thiên Chúa không luôn xóa sạch ký ức đau buồn, nhưng Người có thể biến vết thương thành nguồn cảm thông, biến thất bại thành sự trưởng thành, biến nước mắt thành lời cầu nguyện, biến một đoạn đời tưởng như vô nghĩa thành nơi ân sủng nảy mầm. Chữa lành không phải lúc nào cũng là quên đi; đôi khi chữa lành là có thể nhớ lại mà không còn bị quá khứ điều khiển, có thể kể về vết thương mà không còn muốn trả thù, có thể nhìn vào nơi đã ngã xuống và nhận ra Thiên Chúa đã nâng mình đứng dậy thế nào.
Hôm nay, chúng ta hãy đem đến dưới áo choàng của Đức Mẹ tất cả những đau khổ của mình: những căn bệnh chưa được chữa lành, những tương quan đang đổ vỡ, những người thân đã qua đời, những người con đang lạc đường, những lời cầu nguyện chưa được đáp lời, những nỗi sợ hãi về tương lai, những thất vọng về bản thân và cả những vết thương do Hội Thánh hoặc cộng đoàn gây ra. Chúng ta không cần che giấu trước Mẹ, vì Mẹ hiểu ngôn ngữ của nước mắt. Nhưng khi trao nỗi đau cho Mẹ, chúng ta cũng hãy xin Mẹ dẫn mình đến với Chúa Giêsu, bởi Mẹ không giữ chúng ta lại nơi bản thân Mẹ. Mẹ luôn nói: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Mẹ đưa chúng ta đến nguồn ơn cứu độ, đến Đấng đã mang lấy thương tích của nhân loại và biến thập giá thành cây sự sống. Hãy xin Mẹ giúp chúng ta không thần tượng hóa nỗi đau, không để mình bị định nghĩa bởi điều đã mất, không tự nhốt mình trong vai trò nạn nhân, nhưng từng ngày học đứng dậy, bước đi và yêu thương trở lại.
Lạy Đức Mẹ Sầu Bi, Mẹ đã nghe lời ông Simêôn tiên báo về lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn; xin ở bên những người đang sống trong nỗi lo sợ về tương lai. Mẹ đã ôm Hài Nhi trốn sang Ai Cập; xin che chở những người tị nạn, di dân và các gia đình phải rời bỏ quê hương. Mẹ đã ba ngày đau đớn tìm Con; xin đồng hành với những cha mẹ đang tìm kiếm những người con lạc đường. Mẹ đã gặp Chúa Giêsu trên đường thập giá; xin dạy chúng con nhận ra gương mặt Con Mẹ nơi những người bị khinh miệt, kết án và bỏ rơi. Mẹ đã đứng dưới chân thập giá; xin giúp chúng con biết ở lại bên người đau khổ. Mẹ đã đón thân xác Con vào lòng; xin an ủi những người đang khóc thương người thân đã mất. Mẹ đã tiễn Con vào mộ đá; xin nâng đỡ những ai đang sống trong sự im lặng và chờ đợi. Xin Mẹ dạy chúng con biết đau mà không tuyệt vọng, biết khóc mà không oán hận, biết đón nhận trợ giúp khi sức mình đã cạn, biết trao cho Chúa những điều mình không thể thay đổi, và can đảm thay đổi những điều thuộc trách nhiệm của mình.
Lạy Mẹ Maria, Mẹ không đứng dưới chân thập giá như một pho tượng không cảm xúc, nhưng như một người mẹ có trái tim bị xé nát và một người môn đệ có đức tin kiên cường. Xin giúp chúng con hiểu rằng thánh thiện không có nghĩa là không biết đau, nhưng là không để đau khổ tách mình khỏi Thiên Chúa; đức tin không có nghĩa là luôn nhìn thấy câu trả lời, nhưng là vẫn tín thác khi chưa thấy; hy vọng không có nghĩa là phủ nhận bóng tối, nhưng là tin rằng ánh sáng của Chúa mạnh hơn bóng tối. Xin Mẹ ở bên chúng con trong những giờ phút chúng con không còn biết cầu nguyện thế nào. Khi môi miệng không thốt được lời, xin Mẹ biến nước mắt chúng con thành lời nguyện. Khi lòng chúng con đầy giận dữ, xin Mẹ đưa chúng con đến với sự thật và chữa lành. Khi chúng con muốn bỏ cuộc, xin cho chúng con nhìn thấy Mẹ vẫn đứng dưới chân thập giá. Khi chúng con bị cám dỗ khép lòng trước người khác, xin nhắc rằng chính trong giờ đau nhất, Mẹ đã nhận chúng con làm con.
Cuối cùng, xin Mẹ giúp chúng con đừng chỉ xin được cất khỏi mọi thập giá, nhưng trước hết xin được ban sức mạnh để mang thập giá với Chúa Giêsu. Có những thập giá phải được tháo xuống vì đó là hậu quả của bất công và bạo lực; xin cho chúng con can đảm hành động. Có những thập giá phải được chia sẻ; xin cho chúng con khiêm tốn nhờ người khác giúp đỡ. Có những thập giá không thể tránh khỏi; xin cho chúng con biết kết hợp với hy tế của Đức Kitô. Và có những thập giá chính chúng con đã đặt lên vai người khác bằng sự ích kỷ, vô tâm, xét đoán và cứng lòng; xin cho chúng con biết thống hối, xin lỗi và sửa đổi. Nhờ lời chuyển cầu của Đức Mẹ Sầu Bi, xin cho mọi vết thương trong chúng con trở thành cửa ngõ để lòng thương xót Chúa bước vào, mọi giọt nước mắt trở thành hạt giống của lòng cảm thông, mọi mất mát trở thành lời mời gọi sống sâu sắc hơn, và mọi đêm tối cuối cùng dẫn chúng con đến bình minh Phục Sinh.
Đức Maria đã đau khổ rất nhiều, nhưng đau khổ không phải là căn tính cuối cùng của Mẹ. Mẹ là người được cứu chuộc, người đầy ân sủng, người đã tin, người đã yêu, người đã hy vọng và người đang chung hưởng vinh quang với Con mình. Vì thế, khi gọi Mẹ là Đức Mẹ Sầu Bi, Hội Thánh không đóng khung Mẹ trong nỗi buồn, nhưng tuyên xưng quyền năng của ân sủng đã làm cho một trái tim bị đâm thâu vẫn tiếp tục yêu thương. Đó cũng là niềm hy vọng dành cho mỗi người chúng ta: dù đã trải qua điều gì, chúng ta không bị buộc phải sống mãi như tù nhân của vết thương; trong Chúa Kitô, quá khứ có thể được cứu chuộc, hiện tại có thể được nâng đỡ và tương lai vẫn có thể mở ra. Con đường có thể đi qua Núi Sọ, nhưng không kết thúc ở Núi Sọ. Sau thập giá là ngôi mộ trống; sau nước mắt là lời loan báo Phục Sinh; sau đêm dài là bình minh của Thiên Chúa. Cùng với Đức Maria, chúng ta hãy học đứng vững, học tín thác và học chờ đợi, bởi tình yêu của Thiên Chúa mạnh hơn sự chết, lòng thương xót của Người lớn hơn tội lỗi, và không một giọt nước mắt nào của con người bị lãng quên trước mặt Người.
Lm. Anmai, CSsR
ĐỨNG BÊN THẬP GIÁ VỚI MẸ MARIA
“Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người” (Ga 19,25). Chỉ một câu Tin Mừng thật ngắn, nhưng lại mở ra trước mắt chúng ta cả một vực sâu của đau khổ, tình yêu, lòng trung thành và niềm hy vọng. Hôm nay, Hội Thánh mời gọi chúng ta hướng nhìn về những giờ phút cuối cùng trong cuộc đời trần thế của Chúa Giêsu, khi Người bị treo trên thập giá và muốn có Mẹ ở bên cạnh. Nếu chỉ nhìn bằng đôi mắt tự nhiên, đây là một cảnh tượng vô cùng tang thương: một người con bị kết án cách bất công, thân thể tan nát vì đòn roi, tay chân bị đóng đinh, hơi thở dần cạn kiệt; còn người mẹ đứng đó, bất lực chứng kiến đứa con mình đã cưu mang, sinh hạ, nuôi dưỡng và yêu thương đang hấp hối trong nhục nhã. Không có nỗi đau nào dễ diễn tả hơn mà cũng không có nỗi đau nào khó hiểu thấu hơn nỗi đau của một người mẹ phải nhìn con mình chết trước mắt. Tuy nhiên, ánh sáng đức tin giúp chúng ta nhận ra rằng đồi Canvê không chỉ là nơi của bóng tối, thất bại và sự chết; thập giá còn là nơi tình yêu đạt đến mức trọn vẹn, lòng trung thành được biểu lộ đến cùng và ơn cứu độ của Thiên Chúa được trao ban cho toàn thể nhân loại. Chính vì thế, phụng vụ có thể cất lên lời ca tưởng chừng như nghịch lý: “Lạy Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ thật diễm phúc; không phải chết mà Mẹ đã được lãnh nhận ngành thiên tuế tử đạo dưới chân thập giá Chúa.” Mẹ diễm phúc không phải vì Mẹ không biết đau, cũng không phải vì đau khổ tự nó là điều đáng ca tụng, nhưng vì giữa đau khổ khôn cùng, Mẹ vẫn tin, vẫn yêu, vẫn hiệp thông với Con và vẫn để cho thánh ý Thiên Chúa được hoàn tất trong cuộc đời mình. Mẹ không tìm kiếm thập giá, nhưng khi thập giá đến, Mẹ không chạy trốn. Mẹ không hiểu hết mọi điều đang xảy ra, nhưng Mẹ vẫn đứng đó. Mẹ không thể tháo những chiếc đinh khỏi tay chân Con, nhưng Mẹ có thể dùng tình yêu của mình để nói với Con rằng: “Con không cô độc; Mẹ ở đây với Con.” Và chính sự hiện diện ấy đã làm nên vẻ đẹp thầm lặng nhưng phi thường của Đức Maria dưới chân thập giá.
Muốn hiểu vì sao Đức Maria được gọi là diễm phúc giữa đau thương, chúng ta phải nhìn thập giá trong ánh sáng Phục Sinh. Nếu mọi sự kết thúc vào chiều Thứ Sáu Tuần Thánh, nếu tảng đá lấp cửa mồ là tiếng nói cuối cùng, nếu sự chết thực sự chiến thắng, thì nỗi đau của Mẹ chỉ còn là một bi kịch không lối thoát. Nhưng Đức Kitô đã sống lại. Người đã đi qua sự chết và biến ngôi mộ thành cửa ngõ dẫn vào sự sống. Bởi đó, cuộc tử đạo trong tâm hồn của Đức Maria không bị đóng kín trong tuyệt vọng, nhưng được mở ra trong niềm vui phục sinh. Nỗi đau của Mẹ rất thật, nước mắt của Mẹ rất thật, sự tan nát trong lòng Mẹ cũng rất thật; thế nhưng còn thật hơn nữa là lòng trung tín của Thiên Chúa, quyền năng của tình yêu và chiến thắng của Đức Kitô trên tội lỗi cùng sự chết. Mẹ không được miễn khỏi đau khổ, nhưng Mẹ được ban ơn để đi xuyên qua đau khổ. Mẹ không được đưa ra khỏi đêm tối ngay lập tức, nhưng trong đêm tối ấy, Mẹ vẫn nắm giữ một ngọn đèn là lời Thiên Chúa. Từ ngày truyền tin, Mẹ đã nghe thiên thần nói về người Con sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao, sẽ ngự trên ngai vua Đavít và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận. Giờ đây, ngai của Người lại là thập giá, vương miện của Người lại là vòng gai, triều thần quanh Người lại là những kẻ chế nhạo, còn tấm bảng ghi vương quyền lại được đặt trên đầu một tử tội. Tất cả dường như trái ngược với lời hứa. Nhưng Mẹ vẫn đứng đó, không đòi Thiên Chúa phải giải thích, không tuyên bố rằng lời hứa đã thất bại, không quay lưng vì cảm thấy mình bị lừa dối. Mẹ âm thầm tin rằng Thiên Chúa vẫn đang hành động, ngay cả khi mọi sự bên ngoài dường như chứng minh điều ngược lại. Đức tin đích thực không phải chỉ là tin khi mọi chuyện thuận lợi, nhưng là tiếp tục đặt đời mình trong tay Chúa khi ta không còn nhìn thấy con đường phía trước. Đức tin không loại bỏ nước mắt, nhưng không để nước mắt dập tắt hy vọng. Đức tin không ngăn trái tim bị đâm thâu, nhưng giúp trái tim bị thương vẫn tiếp tục yêu thương.
Đức Maria đã đón nhận lời tiên báo về lưỡi gươm từ những ngày Chúa Giêsu còn thơ bé. Khi Mẹ và thánh Giuse đem Hài Nhi lên Đền Thờ, cụ già Simêon đã nói với Mẹ: “Một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2,35). Lưỡi gươm ấy không chỉ xuất hiện một lần trên đồi Canvê, nhưng dường như đã đi cùng Mẹ qua suốt cuộc đời. Đó là nỗi đau khi vừa sinh Con đã không tìm được chỗ trong quán trọ; là sự nghèo khó của máng cỏ Bêlem; là cuộc chạy trốn vội vã sang Ai Cập vì Hêrôđê tìm giết Hài Nhi; là những tháng năm sống đời lưu vong nơi đất khách; là ba ngày lạc mất Con tại Giêrusalem; là những lúc người ta hiểu lầm, chống đối, kết án và tìm cách giết Chúa Giêsu; là khi Mẹ nghe dân làng Nadarét khước từ Người; là khi những nhà lãnh đạo tôn giáo gọi Con Mẹ là kẻ phạm thượng, bị quỷ ám; là khi một môn đệ phản bội Người bằng một nụ hôn, người khác chối Người ba lần, những người còn lại bỏ trốn. Sau cùng, lưỡi gươm ấy đạt tới tận cùng khi Mẹ gặp Con trên đường lên Núi Sọ và đứng dưới chân thập giá. Cuộc đời Mẹ cho chúng ta thấy rằng ơn gọi không phải là con đường tránh hết mọi đau khổ. Tiếng “xin vâng” không phải là chiếc chìa khóa mở ra một cuộc đời dễ dàng, nhưng là sự trao phó giúp con người thuộc trọn về Chúa trong cả niềm vui lẫn thử thách. Khi thưa “Này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói,” Mẹ không chỉ xin vâng với biến cố truyền tin đầy ánh sáng; Mẹ còn xin vâng với hang đá nghèo hèn, với cuộc lưu đày, với những ngày không hiểu, với đường thập giá, với Núi Sọ và với ngôi mộ im lìm. Một tiếng xin vâng chân thành không chỉ được nói một lần bằng môi miệng, nhưng phải được lặp lại mỗi ngày bằng cả cuộc sống.
Trên đường lên Canvê, Chúa Giêsu và Đức Maria gặp nhau. Tin Mừng không ghi lại cuộc đối thoại giữa hai Mẹ Con, có lẽ bởi vì không lời nào có thể diễn tả đầy đủ cuộc gặp gỡ ấy. Thánh Josemaría đã hình dung: Đức Maria nhìn Chúa Giêsu với một tình yêu vô biên, Chúa Giêsu cũng nhìn Mẹ mình; ánh mắt hai Mẹ Con gặp nhau, và mỗi trái tim đổ vào trái tim kia nỗi đau sâu thẳm của mình. Một ánh nhìn đôi khi nói được nhiều hơn cả nghìn lời. Trong ánh mắt của Chúa Giêsu có thể có lời cảm ơn dành cho Mẹ, có nỗi đau vì thấy Mẹ đau, có sự dịu dàng của một người Con và cũng có lời mời gọi Mẹ tiếp tục hiệp thông với hy lễ cứu độ. Trong ánh mắt của Đức Maria có thể có sự đau đớn của người mẹ, có sự bất lực của một con người, nhưng trên hết vẫn là tình yêu, lòng trung thành và một tiếng xin vâng không rút lại. Mẹ không thể mang thay cây thập giá mà quân lính đã đặt trên vai Con, nhưng Mẹ mang thập giá ấy trong tâm hồn. Mẹ không thể chặn roi đòn, nhưng từng vết thương trên thân thể Con đều vọng lại trong trái tim Mẹ. Mẹ không thể ngăn đám đông chế nhạo, nhưng sự hiện diện của Mẹ nói với Chúa Giêsu rằng giữa biển cả hận thù vẫn còn một trái tim hoàn toàn yêu mến Người. Các bà mẹ thường quên đau khổ của mình để xoa dịu đau khổ của con. Đức Maria cũng vậy. Mẹ không đứng đó để đòi Con phải an ủi mình; Mẹ mở rộng tâm hồn để ôm lấy nỗi đau của Con, muốn đem đến cho Con chút dịu dàng cuối cùng giữa bầu khí tàn nhẫn của Núi Sọ. Tình yêu chân thật là như thế: không chỉ hỏi người khác có thể làm gì cho mình, nhưng tự hỏi sự hiện diện của mình có thể nâng đỡ người đang đau khổ như thế nào.
Dưới chân thập giá, Mẹ không ngất đi, không bỏ chạy, không buông lời nguyền rủa những kẻ đã giết Con mình. Tin Mừng dùng một động từ rất mạnh: Mẹ “đứng”. Mẹ đứng gần thập giá. Đứng không có nghĩa là Mẹ không đau; đứng có nghĩa là Mẹ không để đau khổ đánh gục lòng tin. Đứng không có nghĩa là Mẹ hiểu hết; đứng có nghĩa là Mẹ vẫn ở lại khi không còn điều gì để bám víu ngoài Thiên Chúa. Đứng không có nghĩa là Mẹ chai đá; đứng có nghĩa là Mẹ đau mà không tuyệt vọng, khóc mà không oán hận, bị thương mà không ngừng yêu. Đây chính là sức mạnh Kitô giáo: không phải sức mạnh của kẻ không bao giờ bị tổn thương, nhưng là sức mạnh của người đã bị tổn thương mà vẫn không để sự dữ biến mình thành kẻ dữ. Mẹ không trả lời bạo lực bằng bạo lực, không đáp lại hận thù bằng hận thù, không lấy nguyền rủa đáp lại nguyền rủa. Mẹ im lặng kết hợp với lời cầu nguyện của Con: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Chính tại đây, chúng ta nhận ra lòng can đảm của Đức Mẹ. Can đảm không phải là không có nước mắt; đôi khi can đảm chính là vẫn đứng vững trong khi nước mắt tuôn rơi. Can đảm không phải là không cảm thấy tâm hồn tan nát; can đảm là vẫn trung thành khi tâm hồn đang tan nát. Can đảm không phải là thay đổi được mọi tình thế; có những lúc can đảm chỉ đơn giản là không bỏ người mình yêu một mình trong đau khổ.
Nước mắt của Đức Maria đã đi vào truyền thống cầu nguyện, nghệ thuật và lòng đạo đức của Hội Thánh. Nhưng nước mắt của Mẹ không phải là nước mắt của tuyệt vọng. Nước mắt ấy được ân sủng của Đức Kitô biến đổi. Trong Mẹ, mọi đau khổ, mọi ký ức, mọi nhịp đập của trái tim đều được kết hợp với mầu nhiệm cứu độ. Nước mắt Mẹ trở thành dấu chỉ của lòng trắc ẩn Thiên Chúa dành cho nhân loại. Khi nhìn Mẹ khóc, chúng ta hiểu rằng Thiên Chúa không dửng dưng trước nỗi đau của con người. Thiên Chúa không đứng từ xa để quan sát chúng ta vật lộn. Trong Đức Giêsu chịu đóng đinh, Thiên Chúa đã bước vào tận cùng nỗi đau của nhân loại; và trong nước mắt Đức Maria, chúng ta thấy trái tim người Mẹ được Thiên Chúa ban cho Hội Thánh đang cùng khóc với các con mình. Mẹ khóc cho Con vô tội bị kết án; Mẹ cũng khóc cho tội lỗi nhân loại đã đóng đinh Con. Mẹ khóc cho những trẻ thơ bị bạo hành, cho những người dân vô tội chết trong chiến tranh, cho những gia đình tan vỡ, cho những người bệnh tật bị bỏ rơi, cho những người già cô đơn, cho những người trẻ mất phương hướng, cho những người nghèo bị lãng quên, cho những người di dân không nhà, cho các nạn nhân của bất công, bóc lột và bạo lực. Mẹ khóc cho cả những kẻ gây nên đau khổ, bởi họ cũng đang tự hủy hoại phẩm giá và linh hồn mình. Nước mắt Mẹ không lên án để tiêu diệt, nhưng kêu gọi hoán cải để cứu sống. Đó là nước mắt của một tình yêu không bao che sự dữ nhưng cũng không từ bỏ con người.
Lễ Đức Mẹ Sầu Bi mời gọi chúng ta nhìn lại cách mình đối diện với đau khổ. Khi gặp thử thách, phản ứng tự nhiên của chúng ta thường là khép kín, than trách, so sánh, oán giận hoặc chạy trốn. Chúng ta có thể tự nhốt mình trong câu hỏi: “Tại sao chuyện này lại xảy ra với tôi? Tại sao Chúa để tôi đau như thế? Tại sao người khác bình an còn tôi phải mang thập giá?” Những câu hỏi ấy rất con người và không phải lúc nào cũng sai. Chính Chúa Giêsu trên thập giá cũng đã kêu lên: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Nhưng Đức Maria dạy chúng ta đừng dừng lại trong câu hỏi tại sao, mà hãy tiến tới câu hỏi: “Lạy Chúa, trong hoàn cảnh này, Chúa muốn con yêu như thế nào? Con có thể kết hợp nỗi đau này với thập giá Chúa ra sao? Con có thể dùng chính thương tích của mình để hiểu và nâng đỡ ai?” Khi được kết hợp với Đức Kitô, đau khổ không còn là một khối đá vô nghĩa đè nặng trên đời ta; nó có thể trở thành lễ vật của tình yêu, lời cầu nguyện cho người khác, con đường thanh luyện lòng mình và cơ hội để đến gần những người đang đau khổ. Kitô giáo không dạy rằng đau khổ tự nó là tốt, cũng không cổ võ chúng ta thụ động trước bất công hoặc từ chối những phương thế chữa trị chính đáng. Nhưng đức tin khẳng định rằng không một đau khổ nào phải hoàn toàn vô ích nếu được đặt trong tay Chúa. Tội lỗi có thể gây ra thương tích, sự dữ có thể làm ta bật khóc, nhưng Thiên Chúa có thể dùng chính những giọt nước mắt ấy để tưới lên những hạt giống của lòng nhân hậu, sự cảm thông và ơn cứu độ.
Lời nguyện hiệp lễ của ngày kính Đức Mẹ Sầu Bi xin cho chúng ta, khi tưởng nhớ việc Đức Trinh Nữ chịu đau khổ cùng Con, được biết mang nơi thân mình những gì còn thiếu trong cuộc thương khó của Đức Kitô vì lợi ích cho Hội Thánh. Điều “còn thiếu” không có nghĩa là hy lễ của Đức Kitô chưa đầy đủ. Trên thập giá, Chúa đã hoàn tất công trình cứu chuộc một lần dứt khoát. Không ai có thể thêm vào giá trị vô biên của máu Người. Điều còn thiếu chính là sự tham dự của chúng ta, là phần đời của từng Kitô hữu cần được liên kết với tình yêu cứu độ ấy. Đức Kitô muốn công trình của Người tiếp tục chạm đến thế giới qua thân thể mầu nhiệm là Hội Thánh, qua sự hy sinh của người cha, nước mắt của người mẹ, sự kiên nhẫn của người bệnh, lòng trung thành của người bị hiểu lầm, lời cầu nguyện của người già, sự quảng đại của người trẻ, sự âm thầm của người sống đời thánh hiến và sự tận tụy của những người phục vụ người nghèo. Đức Maria đã tham dự vào cuộc thương khó của Con theo cách độc nhất vô nhị: không phải bằng những chiếc đinh đóng vào thân thể, nhưng bằng lưỡi gươm đâm thâu tâm hồn. Mẹ dạy chúng ta rằng mỗi đau khổ được đón nhận trong tình yêu đều có thể trở thành một phần của lời cầu nguyện lớn lao mà Đức Kitô dâng lên Chúa Cha cho thế giới.
Trong cuộc đời chúng ta sẽ có những thập giá lớn và nhỏ. Có những thập giá đến từ bệnh tật, tuổi già, sự mất mát, thất bại, nghèo túng hoặc những biến cố ngoài ý muốn. Có những thập giá đến từ gia đình: vợ chồng không còn hiểu nhau, con cái xa rời đức tin, người thân nghiện ngập, anh em bất hòa, cha mẹ già yếu. Có những thập giá trong đời sống cộng đoàn: sự hiểu lầm, phê bình, vô ơn, ganh tị, chia rẽ hoặc cô đơn ngay giữa nhiều người. Có những thập giá không ai nhìn thấy: một ký ức đau buồn, một vết thương bị che giấu, một cuộc chiến nội tâm, một nỗi sợ dai dẳng, một tội lỗi đã được tha nhưng ta vẫn chưa thể tha thứ cho chính mình. Có những thập giá rất nhỏ nhưng lặp đi lặp lại mỗi ngày: một người khó tính, một công việc đơn điệu, một kế hoạch bị gián đoạn, một lời nói làm ta tổn thương, một đêm mất ngủ, một sự bất tiện không mong muốn. Nếu chúng ta ôm tất cả những điều ấy trong cay đắng, chúng sẽ làm trái tim ta cứng lại. Nhưng nếu biết đặt chúng dưới chân thập giá và bên cạnh Đức Maria, chúng có thể trở thành trường học dạy ta kiên nhẫn, khiêm nhường, hiền lành và cảm thông. Mẹ không hứa lấy khỏi ta mọi thập giá; Mẹ hứa đứng bên ta để không thập giá nào phải được vác trong cô độc.
Chính trên đồi Canvê, Chúa Giêsu đã trao Mẹ cho người môn đệ: “Đây là mẹ của anh”; rồi Người nói với Mẹ: “Thưa Bà, đây là con của Bà” (Ga 19,26-27). Những lời ấy không chỉ giải quyết việc chăm sóc Đức Maria sau khi Chúa qua đời. Trong giờ cứu độ, Chúa trao Mẹ Người cho toàn thể nhân loại được đại diện nơi người môn đệ yêu dấu. Từ giây phút đó, Đức Maria nhận lấy chúng ta làm con trong chính cơn đau sinh nở thiêng liêng dưới chân thập giá. Bởi thế, khi đau khổ, chúng ta không phải là những đứa trẻ mồ côi. Có một người Mẹ biết thế nào là mất mát, biết thế nào là bất lực, biết thế nào là sống trong bóng tối của ngày Thứ Sáu mà chưa nhìn thấy bình minh Chúa nhật Phục Sinh. Chúng ta có thể đến với Mẹ mà không cần che giấu nước mắt. Mẹ không đưa ra những lời giải thích dễ dãi. Mẹ không nói rằng đau khổ của chúng ta chẳng đáng kể. Mẹ chỉ đứng bên cạnh, như Mẹ đã đứng bên cạnh Chúa Giêsu. Sự hiện diện của Mẹ nhắc rằng ta vẫn được yêu, vẫn được nhớ đến và vẫn có một nơi để tựa đầu. Mẹ nâng đỡ chúng ta để ta không bỏ Chúa, không bỏ cộng đoàn, không bỏ người thân và cũng không bỏ chính mình trong giờ thử thách.
Tuy nhiên, kính nhớ Đức Mẹ Sầu Bi không chỉ mời chúng ta tìm sự an ủi cho nỗi đau của riêng mình; ngày lễ còn đòi hỏi chúng ta mở mắt trước nỗi đau của người khác. Không ai thực sự đứng với Đức Maria dưới chân thập giá mà lại có thể sống dửng dưng trước những thập giá đang hiện diện khắp nơi. Không ai chiêm ngắm người Mẹ ôm xác Con mà lại có thể vô cảm trước người mẹ mất con vì chiến tranh, bệnh tật, tai nạn, bạo lực hoặc đói nghèo. Không ai hát kinh “Mẹ đứng đó khi Con chịu treo trên thập giá” mà lại thản nhiên đi ngang qua người bị bỏ rơi. Có một nguy cơ rất lớn trong thời đại hôm nay: mỗi ngày chúng ta nhìn thấy quá nhiều hình ảnh đau thương đến nỗi trái tim dần trở nên chai lì. Một bản tin chiến tranh xuất hiện, ta xem vài giây rồi chuyển sang nội dung khác. Một người nghèo ngồi bên đường, ta bước qua vì đã quen. Một gia đình gặp biến cố, ta tò mò hỏi chuyện nhưng không thực sự chia sẻ. Một người mang tiếng xấu, ta nhanh chóng kết án mà không biết họ đang chiến đấu với những gì. Thậm chí nỗi đau của người khác đôi khi trở thành đề tài giải trí, bình luận hoặc tranh cãi trên mạng. Đức Maria Sầu Bi xin chúng ta lấy lại khả năng biết đau với nỗi đau của người khác, biết dừng lại, biết lắng nghe, biết cầu nguyện và biết hành động.
Lời của bài thánh thi Stabat Mater vang lên như một cuộc xét mình: “Ai là người không tuôn châu lệ, khi nhìn thấy Mẹ Chúa Kitô trong cảnh đau thương như thế?” Nếu trái tim ta không còn rung động trước đau khổ của tha nhân, có lẽ trái tim ấy đang cần được chữa lành. Hoán cải không chỉ là từ bỏ những tội lỗi rõ ràng; hoán cải còn là xin Chúa lấy khỏi ta sự vô cảm. Có người không làm hại ai cách trực tiếp, nhưng chưa bao giờ dừng lại để nâng một người đang ngã. Có người không nói lời độc ác, nhưng sự im lặng của họ làm cho người đau khổ cảm thấy bị bỏ rơi. Có người rất siêng năng đọc kinh, nhưng lại không chịu nghe câu chuyện của một người đang cần được chia sẻ. Có người bảo vệ chân lý bằng những lời lẽ gay gắt, nhưng quên rằng chân lý của Đức Kitô luôn đi cùng tình yêu và lòng thương xót. Chiêm ngắm Đức Maria dưới chân thập giá, chúng ta phải tự hỏi: Tôi đang đứng bên cạnh thập giá của ai? Trong gia đình tôi, ai đang âm thầm chịu đựng mà tôi chưa nhận ra? Trong cộng đoàn tôi, ai đang bị bỏ quên? Có ai đang cần một cuộc điện thoại, một cuộc thăm viếng, một lời xin lỗi, một sự trợ giúp cụ thể hoặc chỉ một người chịu ngồi bên cạnh và lắng nghe?
“Xin cho con được hòa nước mắt với Mẹ, được đau buồn cùng Đấng đã chịu đau khổ vì con, suốt những ngày đời con. Xin cho con được đứng bên thập giá với Mẹ, được cùng Mẹ khóc than và cầu nguyện.” Lời cầu ấy không xin một thứ xúc động chóng qua, nhưng xin được mang trái tim của Đức Maria. Đồng cảm Kitô giáo không dừng ở cảm xúc. Cảm xúc có thể làm ta rơi nước mắt trước một câu chuyện, nhưng lòng thương xót thúc đẩy ta bước tới và làm điều cụ thể. Đức Maria không chỉ đau trong lòng; Mẹ đã đi theo Con đến tận Núi Sọ, đứng bên Con, đón nhận lời trăn trối của Con và sau đó ở lại cùng các môn đệ. Lòng trắc ẩn chân thật luôn dẫn đến sự hiện diện và phục vụ. Đôi khi ta không thể thay đổi hoàn cảnh của người khác, nhưng có thể làm cho họ không phải đối diện hoàn cảnh ấy một mình. Ta không chữa được bệnh, nhưng có thể thăm người bệnh. Ta không làm người đã chết sống lại, nhưng có thể ngồi bên người đang chịu tang. Ta không giải quyết được mọi khó khăn của một gia đình, nhưng có thể mang đến một bữa ăn, một khoản hỗ trợ, một lời cầu nguyện. Ta không thể chấm dứt mọi cuộc chiến, nhưng có thể giáo dục lòng mình khỏi hận thù, cầu nguyện cho hòa bình và khước từ gieo thêm chia rẽ. Ta không thể cứu cả thế giới, nhưng có thể làm cho một góc nhỏ quanh mình trở nên nhân hậu hơn.
Có người cho rằng lòng trắc ẩn là dấu hiệu của yếu đuối. Nhưng Đức Maria dưới chân thập giá cho thấy lòng thương xót đòi hỏi sức mạnh phi thường. Người yếu đuối thường chạy trốn nỗi đau của người khác vì sợ bị liên lụy; người mạnh mẽ dám ở lại. Người yếu đuối dễ phản ứng bằng hận thù khi bị tổn thương; người mạnh mẽ có thể khóc mà vẫn tha thứ. Người yếu đuối tìm cách thống trị; người mạnh mẽ biết cúi xuống phục vụ. Đức Maria không mang binh khí, không có quyền lực chính trị, không nói một lời đe dọa, nhưng Mẹ đứng vững giữa đám đông thù nghịch bằng sức mạnh của tình yêu. Dưới chân thập giá, sự hiền lành của Mẹ không phải là thụ động, nhưng là sự kháng cự sâu xa nhất trước quyền lực của sự dữ: Mẹ không cho phép hận thù của người khác chiếm lấy trái tim mình. Đây là chiến thắng lớn mà chúng ta cũng được mời gọi thực hiện. Người khác có thể làm ta đau, nhưng ta không buộc phải trở thành bản sao của họ. Họ có thể đối xử bất công, nhưng ta không cần lấy bất công đáp lại. Họ có thể gieo cay đắng, nhưng với ơn Chúa, ta có thể không để cay đắng bén rễ. Tha thứ không làm cho việc xấu trở thành việc tốt, cũng không miễn trừ trách nhiệm của người gây hại; tha thứ là không cho phép sự dữ tiếp tục cai trị tâm hồn mình.
Dưới chân thập giá, Đức Maria còn dạy chúng ta biết im lặng. Im lặng của Mẹ không phải là trống rỗng, nhưng chứa đầy lời cầu nguyện. Có những đau khổ không thể giải quyết bằng lý luận. Có những người đang đau không cần nghe ngay những lời khuyên đạo đức, càng không cần nghe rằng họ thiếu đức tin hoặc rằng người khác còn khổ hơn. Họ cần một người hiện diện. Có lúc, lời an ủi lớn nhất không phải là một câu giải thích, nhưng là một bàn tay nắm lấy bàn tay, một ánh mắt không phán xét, một người bạn kiên nhẫn ngồi lại. Đức Maria không giảng cho Chúa Giêsu một bài về ý nghĩa đau khổ. Mẹ đứng đó và yêu. Đôi khi mục vụ của sự hiện diện quan trọng hơn mục vụ của lời nói. Trong gia đình cũng vậy: thay vì vội sửa chữa, tranh luận hoặc tìm ai đúng ai sai, chúng ta có thể học cách lắng nghe. Khi một người đang mang thập giá, đừng biến mình thành một thập giá khác đặt lên vai họ. Đừng dùng những lời thiếu tế nhị để làm vết thương sâu hơn. Hãy xin Mẹ dạy ta biết khi nào nên nói, khi nào nên im lặng, khi nào nên khuyên nhủ và khi nào chỉ nên ở bên.
Đức Maria cũng giúp chúng ta chữa lành tương quan với chính những đau khổ trong quá khứ. Nhiều người mang theo trong lòng những vết thương từ thời thơ ấu, từ gia đình, từ một cuộc hôn nhân đổ vỡ, một sự phản bội, một lần bị sỉ nhục hoặc một mất mát chưa bao giờ được than khóc đúng nghĩa. Người ta tưởng mình đã quên, nhưng vết thương vẫn ảnh hưởng đến cách suy nghĩ, phản ứng và yêu thương. Khi gặp một hoàn cảnh tương tự, nỗi đau cũ lại trỗi dậy. Có người vì từng bị bỏ rơi nên luôn sợ mất người mình yêu; có người vì từng bị coi thường nên luôn cố chứng minh mình; có người vì từng bị phản bội nên không còn tin ai; có người vì không thể tha thứ cho quá khứ nên vô tình làm tổn thương hiện tại. Đức Mẹ Sầu Bi không yêu cầu chúng ta phủ nhận những vết thương ấy. Mẹ mời ta đem chúng đến dưới chân thập giá. Chữa lành không có nghĩa là ký ức bị xóa sạch, nhưng là ký ức không còn điều khiển đời mình. Vết thương có thể vẫn để lại sẹo, nhưng vết sẹo ấy trở thành lời chứng rằng ân sủng mạnh hơn điều đã làm ta tổn thương. Trong thân thể phục sinh, Chúa Giêsu vẫn mang dấu đinh, nhưng các dấu đinh không còn là dấu hiệu của thất bại; chúng trở thành dấu chứng của tình yêu chiến thắng. Với ơn Chúa, những vết thương của chúng ta cũng có thể được biến đổi như thế.
Mẹ Sầu Bi còn đứng bên những người đang cảm thấy Thiên Chúa im lặng. Có những giai đoạn ta cầu xin mãi mà không thấy lời đáp, đi lễ nhưng lòng trống rỗng, đọc kinh mà tâm trí khô khan, cố sống tốt mà thử thách vẫn chồng chất. Khi ấy, ta dễ nghĩ rằng Chúa đã bỏ quên mình. Hãy nhìn Đức Maria trong ngày Thứ Bảy Tuần Thánh. Con Mẹ đã nằm trong mồ, các môn đệ tan tác, mọi lời hứa dường như đã bị chôn cùng thân xác Chúa. Nhưng Mẹ vẫn tin. Đức tin của Mẹ không dựa trên cảm giác, mà dựa trên chính Thiên Chúa. Mẹ không nhìn thấy Con sống lại ngay lúc đó, nhưng Mẹ giữ lời Chúa trong lòng. Có lẽ nhiều người chúng ta đang sống một ngày Thứ Bảy Tuần Thánh kéo dài: cái cũ đã chết nhưng cái mới chưa xuất hiện; lời cầu xin chưa được nhận lời; lối ra chưa mở; bình minh chưa đến. Mẹ dạy ta rằng sự im lặng của Thiên Chúa không có nghĩa là Người vắng mặt. Trong lòng đất, hạt giống đang nứt ra. Sau tảng đá mồ, chiến thắng đang được chuẩn bị. Khi ta không thấy Chúa hành động, đó chưa phải là bằng chứng Người không hành động. Hãy ở lại với Mẹ, kiên trì cầu nguyện, trung thành với bổn phận hôm nay và đừng quyết định tuyệt vọng khi câu chuyện của Thiên Chúa vẫn chưa đến trang cuối.
Đối với những người đang chăm sóc bệnh nhân, người già, người khuyết tật hoặc một người thân gặp khủng hoảng, hình ảnh Đức Maria đứng bên thập giá đem lại niềm an ủi đặc biệt. Có những người chăm sóc trong nhiều năm, âm thầm hy sinh sức khỏe, thời gian, công việc và những dự định riêng. Không mấy ai biết những đêm họ thức trắng, những lần họ nuốt nước mắt, những lúc kiệt sức nhưng vẫn phải mỉm cười. Họ có thể cảm thấy mình chẳng làm được điều lớn lao, chỉ lặp lại những việc nhỏ: đút từng muỗng cơm, thay áo, cho uống thuốc, đưa đi bệnh viện, ngồi chờ ngoài phòng cấp cứu. Nhưng dưới ánh sáng thập giá, những việc ấy có một giá trị vô cùng lớn. Đức Maria cũng không thể ngăn Con chết, nhưng sự hiện diện của Mẹ là món quà không gì thay thế được. Tình yêu không luôn luôn chữa khỏi, nhưng tình yêu luôn có thể làm cho đau khổ trở nên nhân bản hơn. Có những phép lạ không phải là bệnh tật biến mất, nhưng là một người tìm được sức mạnh để trung thành đến cùng; không phải hoàn cảnh đổi thay, nhưng là trái tim không bị hoàn cảnh làm cho cay độc.
Nhìn lên Mẹ, chúng ta cũng nghĩ đến biết bao người mẹ hôm nay đang chịu đau khổ vì con cái. Có người mẹ đau vì con bệnh nặng; có người đau vì con sống xa nhà; có người nhìn con rơi vào nghiện ngập; có người chứng kiến con rời xa đức tin; có người bất lực trước cuộc hôn nhân tan vỡ của con; có người ôm di ảnh của đứa con đã mất. Những người mẹ ấy có thể tìm thấy nơi Đức Maria một người thực sự hiểu mình. Mẹ không đưa ra một câu trả lời đơn giản, nhưng Mẹ nói bằng chính cuộc đời: “Mẹ đã đi qua con đường ấy. Con hãy ở lại với Mẹ dưới chân thập giá. Hãy khóc nếu cần, nhưng đừng ngừng cầu nguyện. Hãy làm tất cả những gì tình yêu chân chính đòi hỏi, nhưng cũng hãy trao đứa con của con vào tay Thiên Chúa. Con không thể kiểm soát mọi lựa chọn của nó, nhưng có thể tiếp tục yêu, tiếp tục cầu nguyện và giữ cánh cửa của lòng thương xót rộng mở.” Có những người con phải trở về bằng một con đường rất dài. Có những lời cầu nguyện dường như bị trì hoãn nhiều năm. Nhưng tình yêu của một người mẹ kết hợp với thập giá Chúa không bao giờ là điều nhỏ bé.
Hôm nay, Đức Mẹ Sầu Bi đặt chúng ta trước một chọn lựa: khi gặp thập giá, ta sẽ đứng lại hay bỏ chạy? Khi thấy người khác đau, ta sẽ đến gần hay đi qua? Khi bị tổn thương, ta sẽ để vết thương trở thành nguồn hận thù hay xin Chúa biến nó thành lòng cảm thông? Khi không hiểu đường lối Chúa, ta sẽ buông bỏ đức tin hay cùng Mẹ thưa lại tiếng xin vâng? Đời Kitô hữu không được đo lường chỉ bằng số lời kinh chúng ta đọc khi mọi sự bình an, nhưng còn bằng sự trung thành của chúng ta trong những ngày tăm tối. Tình yêu không được chứng minh chỉ trong những cuộc gặp gỡ vui vẻ, nhưng đặc biệt trong khả năng ở lại khi người mình yêu đau yếu, thất bại, trở nên khó chịu hoặc không còn có thể đáp lại. Rất nhiều người đi theo Chúa khi Chúa làm phép lạ, hóa bánh ra nhiều và được dân chúng tung hô; nhưng dưới chân thập giá chỉ còn một nhóm nhỏ. Đức Maria thuộc về nhóm nhỏ trung thành ấy. Mẹ không chỉ là Mẹ của Chúa Giêsu tại Bêlem, Mẹ còn là Mẹ của Người tại Canvê. Mẹ không chỉ ôm Hài Nhi khi các thiên thần hát mừng, Mẹ còn ôm xác Con khi bầu trời tối sầm. Tình yêu của Mẹ không lệ thuộc vào hoàn cảnh; vì thế, tình yêu ấy trở thành khuôn mẫu cho tình yêu của Hội Thánh và của từng người chúng ta.
Xin Mẹ dạy chúng ta biết đứng bên thập giá. Khi thập giá của chính mình trở nên nặng nề, xin Mẹ cho ta sức mạnh để không tuyệt vọng. Khi thập giá của người khác làm ta phiền toái, xin Mẹ cho ta lòng quảng đại để không bỏ đi. Khi đứng trước những đau khổ không thể giải thích, xin Mẹ dạy ta im lặng cầu nguyện. Khi bị người khác làm tổn thương, xin Mẹ giữ lòng ta khỏi hận thù. Khi thấy thế giới đầy chiến tranh, bất công và nước mắt, xin Mẹ đừng để ta trở nên vô cảm. Xin Mẹ cho chúng ta đôi mắt biết nhận ra người đang đau, đôi tai biết lắng nghe, bàn tay biết nâng đỡ, đôi chân biết bước đến và một trái tim đủ rộng để mang lấy nỗi đau của anh chị em mình. Xin Mẹ giúp chúng ta hiểu rằng lòng trắc ẩn không phải là sự yếu đuối, nhưng là sức mạnh của những người dám yêu đến cùng. Xin Mẹ nhắc chúng ta rằng sau Thứ Sáu Tuần Thánh sẽ có Chúa nhật Phục Sinh, sau đêm tối sẽ có bình minh, sau nước mắt sẽ có niềm vui, và sau sự chết sẽ là sự sống đời đời.
Lạy Đức Maria, Mẹ Sầu Bi, Mẹ đã đứng dưới chân thập giá khi mọi sự dường như sụp đổ. Mẹ đã tin khi không còn nhìn thấy, đã hy vọng khi chung quanh chỉ còn bóng tối, đã yêu khi trái tim bị lưỡi gươm đâm thâu. Xin ở bên chúng con trong những giờ phút đau thương. Xin đón lấy nước mắt chúng con và kết hợp với nước mắt của Mẹ. Xin dẫn chúng con đến gần Chúa Giêsu chịu đóng đinh, để nơi những thương tích của Người, chúng con tìm được sự chữa lành; nơi sự cô đơn của Người, chúng con tìm được một người bạn; nơi cái chết của Người, chúng con nhận ra nguồn sống; và nơi thập giá của Người, chúng con khám phá tình yêu lớn hơn mọi tội lỗi, mạnh hơn mọi đau khổ và chiến thắng cả sự chết. Xin cho chúng con đừng chỉ đứng nhìn Mẹ từ xa, nhưng thực sự đứng với Mẹ, khóc với Mẹ, cầu nguyện với Mẹ và yêu với trái tim của Mẹ. Rồi khi giờ thử thách qua đi, xin Mẹ cũng dẫn chúng con đến gặp Chúa Phục Sinh, để chúng con hiểu rằng không một giọt nước mắt nào được dâng lên trong tình yêu lại bị Thiên Chúa lãng quên, không một hy sinh âm thầm nào là vô ích, không một đêm tối nào có thể dập tắt ánh sáng và không một thập giá nào có thể nói lời cuối cùng. Lời cuối cùng luôn thuộc về Thiên Chúa, và lời cuối cùng ấy chính là tình yêu, sự sống và phục sinh.
ĐỨC MARIA ĐỨNG DƯỚI CHÂN THẬP GIÁ – NGƯỜI MẸ CỦA ĐAU KHỔ, TÍN TRUNG VÀ HY VỌNG
“Đứng gần thập giá Đức Giêsu, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Maria vợ ông Clôpát, cùng với bà Maria Mácđala. Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng: ‘Thưa Bà, đây là con của Bà.’ Rồi Người nói với môn đệ: ‘Đây là mẹ của anh.’ Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình” (Ga 19,25-27).
Trong đời sống đức tin của Hội Thánh, lòng sùng kính Đức Mẹ Sầu Bi không phát sinh từ một thứ tình cảm ủy mị trước nỗi đau của một người mẹ mất con, nhưng bắt nguồn từ việc chiêm ngắm mầu nhiệm cứu độ được hoàn tất trên thập giá, nơi Đức Maria hiện diện như người mẹ, người môn đệ và người nữ hoàn toàn kết hợp với hy lễ của Đức Kitô. Lòng sùng kính này được phát triển mạnh vào khoảng cuối thế kỷ XI, đặc biệt tại những vùng chung quanh Địa Trung Hải. Gắn liền với lòng đạo đức ấy là bài thánh thi Stabat Mater, theo truyền thống được quy cho Jacopone da Todi, sống vào khoảng từ năm 1230 đến năm 1306. Ngay những lời đầu của bài thánh thi đã đưa người tín hữu vào khung cảnh linh thiêng và đau thương của đồi Canvê: Mẹ đau thương đứng bên thập giá, nơi Người Con duy nhất của Mẹ đang hấp hối. Đến thế kỷ XV, Hội Thánh bắt đầu có những cử hành phụng vụ kính Đức Maria đau khổ, còn được gọi là lễ Đức Mẹ Thương Xót, tưởng niệm người Mẹ đã “đứng” dưới chân thập giá. Nhưng từ trước đó, vào năm 1233, Dòng Tôi Tớ Đức Trinh Nữ Maria, thường được gọi là Dòng Tôi Tớ Đức Mẹ, đã được thành lập. Các tu sĩ của Hội dòng này góp phần đặc biệt quan trọng trong việc phổ biến lòng sùng kính Bảy Sự Thương Khó Đức Maria. Năm 1668, họ được phép cử hành thánh lễ ngoại lịch kính Bảy Sự Thương Khó của Mẹ. Năm 1692, Đức Giáo hoàng Innôcentê XII cho phép cử hành lễ Đức Mẹ Sầu Bi vào Chúa nhật thứ ba của tháng Chín. Sau đó, ngày lễ được chuyển sang thứ Sáu trước Chúa nhật Lễ Lá. Đến ngày 18 tháng 9 năm 1814, Đức Giáo hoàng Piô VII mở rộng lễ này cho toàn thể Hội Thánh Latinh và đặt vào Chúa nhật thứ ba tháng Chín. Cuối cùng, Đức Giáo hoàng Piô X ấn định ngày lễ vào 15 tháng 9, ngay sau lễ Suy Tôn Thánh Giá, và từ đó ngày lễ không còn chỉ được gọi là lễ Bảy Sự Thương Khó Đức Maria, nhưng mang tên lễ Đức Mẹ Sầu Bi. Việc Hội Thánh đặt lễ Đức Mẹ Sầu Bi ngay sau lễ Suy Tôn Thánh Giá mang một ý nghĩa rất sâu xa: không thể chiêm ngắm thập giá Đức Kitô mà không nhận ra bóng dáng của người Mẹ đang đứng gần bên; cũng không thể hiểu nỗi đau của Đức Maria nếu tách nỗi đau ấy khỏi cuộc thương khó cứu độ của Con Mẹ. Thập giá của Chúa Giêsu và trái tim bị lưỡi gươm đâm thâu của Đức Maria không phải là hai biến cố tách biệt, nhưng là hai chiều kích liên kết mật thiết trong cùng một mầu nhiệm tình yêu tự hiến.
Tin Mừng không nói rằng Đức Maria nằm gục dưới chân thập giá, cũng không nói rằng Mẹ kêu la, phản kháng hay oán trách. Thánh Gioan chỉ dùng một động từ giản dị nhưng vô cùng mạnh mẽ: Mẹ “đứng”. Đức Maria đứng gần thập giá Đức Giêsu. Mẹ đứng đó trong đau đớn, nhưng không tuyệt vọng; đứng đó trong thinh lặng, nhưng không vô cảm; đứng đó với trái tim tan nát, nhưng đức tin không sụp đổ; đứng đó như một người mẹ nhìn con mình chết dần trong nhục nhã, đồng thời như một người môn đệ đang tiếp tục thưa lời “xin vâng” giữa giờ phút đen tối nhất. Tư thế đứng của Đức Maria chính là tư thế của đức tin trưởng thành. Đức tin ấy không còn được nâng đỡ bởi những dấu lạ huy hoàng, bởi tiếng thiên thần hay niềm vui của đêm Bêlem. Trên Canvê không còn lời ca của thiên thần, không còn ánh sao dẫn đường, không còn những mục đồng hớn hở, không còn ba nhà đạo sĩ phủ phục tiến dâng lễ vật. Trước mắt Mẹ chỉ còn một thân thể bị đánh đòn, một khuôn mặt đầy máu và bụi đất, đôi tay bị đóng đinh, đôi chân bị xuyên thủng và tiếng thở ngày càng yếu của Người Con mà Mẹ đã cưu mang. Thế nhưng chính tại nơi mọi dấu chỉ dường như chống lại lời hứa của Thiên Chúa, Đức Maria vẫn tin. Mẹ đứng đó, bởi Mẹ biết rằng Thiên Chúa vẫn trung tín, ngay cả khi con người chưa hiểu được đường lối của Người.
Từ ngày truyền tin, Mẹ đã thưa với sứ thần: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Lời xin vâng ấy không chỉ được thưa một lần trong căn nhà nhỏ tại Nadarét, nhưng phải được lặp lại suốt cả cuộc đời. Mẹ đã thưa xin vâng khi mang thai trong hoàn cảnh có thể khiến người khác hiểu lầm; thưa xin vâng khi không tìm được chỗ trong quán trọ; thưa xin vâng khi phải sinh Con trong hang đá nghèo hèn; thưa xin vâng khi bồng Con trốn sang Ai Cập; thưa xin vâng trong ba mươi năm âm thầm tại Nadarét; thưa xin vâng khi Con rời mái nhà để lên đường rao giảng; thưa xin vâng khi chứng kiến người ta chống đối, vu khống và tìm cách giết Con; và cuối cùng, Mẹ thưa lời xin vâng đau đớn nhất dưới chân thập giá. Nếu lời xin vâng tại Nadarét mở cửa để Ngôi Lời nhập thể, thì lời xin vâng trên Canvê mở trái tim người Mẹ để đón nhận toàn thể nhân loại làm con. Một lời xin vâng đã trao cho thế giới Đấng Cứu Thế; lời xin vâng kia đón nhận thế giới đã được Đấng Cứu Thế cứu chuộc. Chính vì thế, đau khổ của Đức Maria không vô nghĩa. Đó là đau khổ được sống trong tình yêu, được kết hợp với hy lễ của Chúa Giêsu và được biến đổi thành sự cộng tác đầy tự do vào chương trình cứu độ.
Khi nhìn thấy Mẹ và người môn đệ mình yêu mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói: “Thưa Bà, đây là con của Bà.” Đây không chỉ là sự lo liệu rất nhân bản của một người con hiếu thảo dành cho mẹ mình trước khi chết. Nếu chỉ muốn nhờ Gioan chăm sóc Đức Maria, Chúa Giêsu có thể nói một cách đơn giản hơn. Nhưng trong giờ phút trọng đại, khi công trình cứu độ đang đi đến chỗ hoàn tất, Người đã long trọng thiết lập một tương quan mới. Người trao người môn đệ cho Đức Maria và trao Đức Maria cho người môn đệ. Đây gần như là di chúc cuối cùng của Chúa trên thập giá. Người không để Mẹ cô độc, nhưng trao Mẹ cho người môn đệ đã theo Người đến tận cùng; đồng thời Người cũng không để người môn đệ và toàn thể Hội Thánh mồ côi, nhưng trao cho họ một người mẹ. Dưới chân thập giá, một gia đình mới được sinh ra. Gia đình ấy không hình thành bởi huyết thống tự nhiên, nhưng bởi máu cứu độ của Đức Kitô. Đức Maria trở thành Mẹ của người môn đệ, còn người môn đệ trở thành con của Mẹ. Từ giây phút đó, chức năng làm mẹ của Đức Maria được mở rộng đến mọi người thuộc về Đức Kitô.
Trong trình thuật này, Chúa Giêsu gọi Đức Maria là “Bà” hay “Người Nữ”. Cách xưng hô ấy không diễn tả sự xa cách hoặc thiếu kính trọng. Chính từ ngữ này đã được Chúa dùng tại tiệc cưới Cana, khi Mẹ nói với Người rằng đôi tân hôn đã hết rượu. Khi ấy, Chúa trả lời: “Thưa Bà, chuyện đó can gì đến Bà và tôi? Giờ của tôi chưa đến.” Tại Cana, giờ của Chúa chưa đến; trên Canvê, giờ ấy đã đến. Cana báo trước thập giá, còn thập giá hoàn tất điều Cana tiên báo. Tại Cana, nước được biến thành rượu; trong Bữa Tiệc Ly và trên thập giá, rượu trở thành dấu chỉ của Máu Giao Ước mới. Tại Cana, lời chuyển cầu của Đức Maria dẫn các gia nhân đến chỗ vâng phục: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”; dưới chân thập giá, sự hiện diện thinh lặng của Mẹ dẫn các môn đệ đến chỗ đón nhận hy lễ của Con Mẹ. Ở Cana, Chúa Giêsu bắt đầu bày tỏ vinh quang; trên Canvê, vinh quang của Người được biểu lộ trong tình yêu hiến mạng đến cùng. Đức Maria hiện diện ở đầu và ở đỉnh cao của giờ cứu độ, luôn luôn trong tư thế của người Mẹ tin tưởng, người môn đệ lắng nghe và người nữ hướng người khác về với Đức Kitô.
Danh xưng “Người Nữ” còn đưa chúng ta trở về những trang đầu của sách Sáng Thế. Sau khi phạm tội, con người bị cuốn vào sự đổ vỡ, sợ hãi và chết chóc. Nhưng ngay giữa bóng tối ấy, Thiên Chúa đã hứa về một người nữ và dòng dõi của người nữ sẽ chiến thắng con rắn. Nếu Evà xưa đã hiện diện bên cây biết lành biết dữ và cùng Ađam bước vào sự bất tuân, thì Đức Maria, Evà mới, hiện diện bên cây thập giá và kết hợp với Đức Kitô, Ađam mới, trong sự vâng phục. Evà xưa đã đưa tay đến trái cấm; Đức Maria mở đôi tay đón nhận trái phúc của lòng Mẹ bị treo trên thập giá. Qua sự bất tuân của con người cũ, tội lỗi và sự chết đi vào thế gian; qua sự vâng phục của Đức Kitô và lời xin vâng trung tín của Đức Maria, con đường sự sống được mở ra. Bởi thế, khi gọi Mẹ là “Người Nữ”, Chúa Giêsu không hạ thấp Mẹ, nhưng tỏ lộ vị trí của Mẹ trong lịch sử cứu độ. Mẹ chính là người nữ của lời hứa, người nữ của Cana, người nữ dưới chân thập giá, người nữ mặc áo mặt trời trong thị kiến của sách Khải Huyền và là hình ảnh của Hội Thánh đang đau đớn sinh ra những người con mới cho Thiên Chúa.
Chúa Giêsu nói với Mẹ: “Đây là con của Bà.” Người không còn gọi Gioan bằng tên riêng, vì Gioan lúc ấy đại diện cho mọi môn đệ. Nơi người môn đệ Chúa yêu, mỗi Kitô hữu đều được trao cho Đức Maria. Chúa không chỉ trao một người con đạo đức cho Mẹ, nhưng trao cả Hội Thánh được sinh ra từ cạnh sườn bị đâm thâu của Người. Vì thế, Đức Maria được trao cho Hội Thánh và Hội Thánh được trao cho Đức Maria. Mẹ không thay thế Đức Kitô, bởi chính Đức Kitô là Đấng Cứu Độ duy nhất. Mẹ cũng không che khuất Người, nhưng luôn đưa chúng ta đến với Người. Mọi lòng sùng kính Đức Maria chân chính đều phải dẫn người tín hữu đến việc yêu mến Chúa Giêsu hơn, lắng nghe Lời Chúa sâu hơn, tham dự các bí tích sốt sắng hơn và sống Tin Mừng trung thành hơn. Mẹ không giữ bất cứ ai lại cho riêng mình. Ở Cana, Mẹ nói: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Dưới chân thập giá, Mẹ tiếp tục dạy điều ấy bằng chính sự thinh lặng và lòng trung tín của Mẹ. Nhìn vào Mẹ, chúng ta học biết rằng làm môn đệ không chỉ là nghe những lời dễ chịu của Chúa, nhưng còn là bước theo Người đến tận Canvê, ở lại với Người khi mọi người bỏ đi và tin vào Người ngay cả khi Người dường như thất bại trước mắt thế gian.
Sau khi nói với Mẹ, Chúa Giêsu nói với người môn đệ: “Đây là mẹ của anh.” Lời ấy không chỉ dành cho thánh Gioan, nhưng dành cho từng người chúng ta. Chúa Giêsu không nói: “Đây là một người mẹ,” nhưng nói: “Đây là mẹ của anh.” Đây là một lời trao ban mang tính cá vị. Giữa đám đông nhân loại, mỗi người đều có thể nghe lời ấy như được Chúa nói trực tiếp với mình: Đây là Mẹ của con. Khi con cô đơn, đây là Mẹ của con; khi con đau yếu, đây là Mẹ của con; khi gia đình con rạn nứt, đây là Mẹ của con; khi con phạm tội và không dám ngước mắt nhìn Chúa, đây là Mẹ của con; khi con bước vào tuổi già, bệnh tật và giờ chết, đây vẫn là Mẹ của con. Chúa Giêsu đã trao cho chúng ta điều rất quý giá đối với Người. Người đã trao chính Mẹ của Người cho chúng ta. Và Người trao Mẹ không phải trong giờ phút huy hoàng, nhưng trong chính giờ khắc đau thương nhất. Vì thế, chức làm mẹ thiêng liêng của Đức Maria được ghi dấu bởi thập giá. Mẹ không đứng ở xa để quan sát nỗi đau của con cái, nhưng bước vào trong nỗi đau ấy với trái tim đã từng bị lưỡi gươm đâm thâu.
Tin Mừng kể rằng từ giờ đó, người môn đệ rước Mẹ về nhà mình. Nguyên bản còn gợi lên một ý nghĩa sâu sắc hơn: người môn đệ đón Mẹ vào những gì thuộc về mình, vào nơi sâu kín nhất, vào gia sản tinh thần, vào cuộc đời, vào những điều mình yêu quý nhất. Đón Đức Maria không chỉ là đặt một tượng Đức Mẹ trong nhà, đeo một tràng chuỗi hay đọc một vài kinh vào những dịp đặc biệt. Những thực hành ấy rất quý giá, nhưng phải diễn tả một sự đón nhận sâu hơn. Đón Mẹ về nhà mình là dành cho Mẹ một chỗ trong đời sống đức tin; là học nơi Mẹ cách lắng nghe, suy niệm và tuân giữ Lời Chúa; là để Mẹ dẫn chúng ta đến gần Chúa Giêsu; là đem tinh thần khiêm nhường, phục vụ, thanh sạch, tín thác và yêu thương của Mẹ vào trong gia đình, cộng đoàn và sứ vụ. Một người nói rằng mình yêu mến Đức Mẹ nhưng lại sống kiêu căng, chia rẽ, gian dối và thiếu lòng thương xót thì người ấy chưa thực sự đón Mẹ về nhà. Nơi nào Đức Maria được đón nhận thật sự, nơi đó Chúa Giêsu phải được yêu mến hơn; nơi đó người nghèo phải được tôn trọng hơn; nơi đó những người đau khổ phải được an ủi; nơi đó sự hiệp nhất phải được xây dựng; nơi đó lời xin vâng với Thiên Chúa phải trở nên cụ thể trong những bổn phận hằng ngày.
Đức Maria là Mẹ của Chúa Giêsu, nhưng đồng thời cũng là người môn đệ đầu tiên và hoàn hảo nhất của Con mình. Mẹ đã cưu mang Chúa trong thân xác trước khi cưu mang Người trong lòng sao? Đúng hơn, Mẹ đã cưu mang Người trong lòng tin trước khi cưu mang Người trong cung lòng. Chính nhờ tin mà Mẹ đón nhận Lời; chính nhờ vâng phục mà Lời trở thành xác phàm nơi Mẹ. Mẹ không chỉ sinh ra Đức Giêsu về thể xác, nhưng còn bước theo Người trên hành trình của một môn đệ. Khi không hiểu hết những biến cố xảy ra, Mẹ “hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng”. Mẹ không đòi Thiên Chúa phải giải thích mọi sự ngay lập tức. Mẹ biết chờ đợi trong đức tin. Trong đời sống của chúng ta, nhiều đau khổ trở nên nặng nề hơn vì chúng ta muốn hiểu ngay, muốn có câu trả lời ngay, muốn Thiên Chúa thay đổi hoàn cảnh ngay. Nhưng có những điều chỉ được soi sáng sau một thời gian dài; có những vết thương chỉ có thể được hiểu dưới ánh sáng của phục sinh; có những giọt nước mắt hôm nay đang âm thầm tưới cho những hạt giống mà ngày mai Thiên Chúa mới làm nảy mầm. Đức Maria dạy chúng ta biết giữ những điều chưa hiểu trong lòng, không để chúng biến thành cay đắng, nhưng biến chúng thành lời cầu nguyện.
Nỗi đau của Đức Mẹ đã được cụ già Simêon báo trước khi Hài Nhi Giêsu được dâng trong Đền Thờ: “Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà.” Lưỡi gươm ấy không chỉ đâm vào tim Mẹ một lần trên Canvê, nhưng đã xuyên qua từng chặng đường làm mẹ của Mẹ. Hội Thánh truyền thống suy niệm Bảy Sự Thương Khó của Đức Maria: lời tiên báo của ông Simêon; cuộc trốn sang Ai Cập; việc lạc mất Chúa Giêsu ba ngày trong Đền Thờ; cuộc gặp gỡ giữa Mẹ và Con trên đường lên Canvê; Chúa Giêsu chịu đóng đinh và chết trên thập giá; thân xác Chúa được hạ xuống và trao vào tay Mẹ; cuối cùng là việc mai táng Chúa trong mồ. Bảy nỗi đau ấy không phải là một bảng liệt kê để khơi gợi buồn thương, nhưng là bảy ngôi trường dạy chúng ta sống đức tin. Trong mỗi nỗi đau, Mẹ không chỉ chịu đựng một biến cố, nhưng còn phải buông bỏ một điều rất quý. Mẹ buông bỏ ước muốn được sống an toàn khi phải trốn sang Ai Cập; buông bỏ việc hiểu và giữ Con cho riêng mình khi tìm thấy Người trong Đền Thờ; buông bỏ niềm an ủi được nhìn thấy Con được người ta đón nhận khi gặp Người trên đường thập giá; và cuối cùng buông bỏ cả thân xác của Con khi đặt Người vào mồ. Đức Maria đau khổ vì yêu, nhưng chính tình yêu cũng ban cho Mẹ sức mạnh để không giữ lại. Mẹ để Chúa Giêsu hoàn toàn thuộc về thánh ý Chúa Cha và thuộc về công trình cứu độ nhân loại.
Đứng dưới chân thập giá, Đức Maria chịu một cuộc tử đạo trong tâm hồn. Các vị tử đạo đổ máu vì Đức Kitô; còn Mẹ chịu lưỡi gươm đau khổ đâm xuyên tâm hồn vì Con và cùng với Con. Mẹ không bị đóng đinh bằng những chiếc đinh bằng sắt, nhưng trái tim Mẹ bị đóng vào thập giá bởi tình mẫu tử. Mỗi vết thương trên thân thể Chúa Giêsu đều vang lên trong lòng Mẹ. Khi người ta đội mão gai lên đầu Con, trái tim Mẹ cũng bị gai nhọn đâm vào. Khi người ta đóng đinh đôi tay từng ôm lấy Mẹ, tâm hồn Mẹ cũng bị xé nát. Khi người ta nhạo cười và thách thức Chúa xuống khỏi thập giá, Mẹ phải nghe những lời xúc phạm dành cho Đấng mà Mẹ biết là Con Thiên Chúa. Khi Chúa thốt lên: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?”, Mẹ không thể làm gì khác ngoài việc ở lại. Có những lúc tình yêu không thể cất đau khổ khỏi người mình yêu. Tình yêu chỉ có thể hiện diện, chia sẻ và không bỏ đi. Đức Maria không cứu Chúa Giêsu khỏi thập giá, nhưng Mẹ hiện diện để Người không phải chết trong sự vắng mặt của Mẹ. Sự hiện diện ấy tưởng như bất lực nhưng lại là một hành động yêu thương vô cùng lớn lao.
Điều này đặc biệt an ủi những người mẹ, người cha đang đau khổ vì con cái. Có những người mẹ ngày đêm chăm sóc người con mắc bệnh hiểm nghèo mà không thể chữa khỏi; có những người cha nhìn con lạc xa đức tin, chìm trong nghiện ngập hay sống trong đổ vỡ mà không biết làm thế nào kéo con trở về; có những gia đình phải đứng bên giường bệnh, nắm tay người thân trong những phút cuối cùng; có người cha, người mẹ phải tiễn đưa con mình về nơi an nghỉ trước khi chính họ lìa đời. Trong những hoàn cảnh ấy, con người dễ cảm thấy mình bất lực và tự trách mình vì không làm được nhiều hơn. Đức Mẹ Sầu Bi nhắc họ rằng sự hiện diện trung thành không bao giờ là vô ích. Có khi ta không thể chữa lành, nhưng có thể ở bên; không thể giải quyết tất cả, nhưng có thể lắng nghe; không thể lấy đi thập giá của người khác, nhưng có thể giúp họ không phải vác một mình; không thể giữ một người khỏi chết, nhưng có thể làm cho họ ra đi trong vòng tay yêu thương và lời cầu nguyện. Đứng bên cạnh một người đang đau khổ bằng một tình yêu không bỏ cuộc chính là một cách đứng với Đức Maria dưới chân thập giá.
Tuy nhiên, sự hiện diện của Mẹ trên Canvê không chỉ nói về việc cảm thông với nỗi đau, mà còn nói về sự kiên vững trong thử thách đức tin. Khi Chúa Giêsu bị bắt, các môn đệ đã chạy trốn. Phêrô đi theo từ xa rồi ba lần chối Thầy. Giuđa phản bội. Đám đông từng tung hô Người nay lại đòi đóng đinh Người. Những người được Chúa chữa lành, cho ăn và an ủi hầu như không thấy xuất hiện. Nhưng Đức Maria vẫn đứng đó. Mẹ không theo Con vì thành công, không yêu Con vì những phép lạ, không ở lại vì được người ta kính trọng. Mẹ ở lại vì Mẹ yêu. Tình yêu chân thật được nhận biết không phải khi mọi sự thuận lợi, nhưng khi người ta vẫn trung thành lúc không còn nhận được gì. Nhiều người theo Chúa khi cầu nguyện được như ý, công việc bình an, gia đình êm ấm và sức khỏe tốt đẹp. Nhưng khi bệnh tật, thất bại hay hiểu lầm xảy đến, họ bắt đầu hỏi Chúa ở đâu, thậm chí muốn rời bỏ Người. Đức Maria dạy chúng ta một đức tin không lệ thuộc vào cảm giác và hoàn cảnh. Tin không có nghĩa là lúc nào cũng cảm thấy Chúa gần; tin là vẫn đứng về phía Chúa ngay cả khi chỉ nhìn thấy thập giá. Tin không có nghĩa là mọi lời cầu nguyện đều được đáp lại theo ý ta; tin là dám trao chính mình cho thánh ý Chúa, vì biết rằng tình yêu của Người lớn hơn khả năng hiểu biết của ta.
Mẹ đứng dưới chân thập giá không phải vì Mẹ không đau, nhưng vì tình yêu của Mẹ lớn hơn nỗi đau. Sự can đảm Kitô giáo không phải là không biết sợ, mà là vẫn trung thành giữa sợ hãi; không phải là không khóc, mà là không để nước mắt dập tắt hy vọng; không phải là không bị thương, mà là không để vết thương biến mình thành người cay độc. Có những nỗi đau làm con người khép kín và chỉ nghĩ đến bản thân. Nhưng nỗi đau của Đức Maria lại mở rộng trái tim Mẹ để đón nhận thêm những người con mới. Ngay trong giờ mất Người Con duy nhất, Mẹ được mời gọi nhận lấy Gioan làm con. Đây là nghịch lý của tình yêu cứu độ: khi trái tim Mẹ bị xé mở bởi đau khổ, chính lúc ấy trái tim ấy trở thành nơi trú ẩn cho toàn thể Hội Thánh. Mẹ không để đau khổ làm mình cằn cỗi; trong ân sủng, Mẹ để đau khổ trở nên khả năng sinh hoa trái. Vì thế, Đức Mẹ Sầu Bi gần gũi đặc biệt với những người đang chịu đau khổ, nhưng Mẹ cũng mời họ không để nỗi đau đóng kín đời mình. Một trái tim đã bị tổn thương vẫn có thể trở thành nơi an ủi người khác. Một người từng khóc vẫn có thể lau nước mắt cho anh chị em. Một người đã đi qua đêm tối có thể cầm đèn dẫn đường cho người đang tuyệt vọng. Nếu được trao cho Chúa, vết thương không nhất thiết trở thành mồ chôn; nó có thể trở thành cánh cửa của lòng trắc ẩn.
Đức Maria dưới chân thập giá cũng dạy chúng ta biết đau cùng nỗi đau của nhân loại. Mẹ đau không chỉ vì Con của Mẹ bị hành hạ, nhưng vì tội lỗi, hận thù và sự mù quáng của con người đang đóng đinh Đấng vô tội. Hôm nay, thập giá vẫn tiếp tục được dựng lên nơi những người bị chiến tranh cướp mất gia đình, nơi những thai nhi không được chào đời, nơi những trẻ em bị bạo hành, nơi những người di dân bị khước từ, nơi người già bị bỏ quên, nơi người nghèo bị bóc lột, nơi những nạn nhân của buôn người, nơi những bệnh nhân cô độc, nơi những người bị vu khống và kết án bất công. Nếu thực sự yêu mến Đức Mẹ Sầu Bi, chúng ta không thể chỉ xúc động trước tượng Mẹ với bảy lưỡi gươm rồi dửng dưng trước những con người đang bị lưỡi gươm đau khổ đâm thâu mỗi ngày. Tôn kính Mẹ là học cách đứng bên cạnh các thập giá của anh chị em. Có khi chúng ta không thể thay đổi cả thế giới, nhưng có thể không bỏ mặc một con người. Có khi chúng ta không thể chấm dứt chiến tranh, nhưng có thể gieo hòa bình trong gia đình. Có khi chúng ta không thể xóa hết đói nghèo, nhưng có thể chia sẻ với một người thiếu thốn. Có khi chúng ta không thể giải quyết mọi bất công, nhưng có thể từ chối tiếp tay cho gian dối và sống công bằng trong phần trách nhiệm của mình.
Sự thinh lặng của Đức Maria dưới chân thập giá cũng là một bài học cần thiết. Tin Mừng không ghi lại một lời nào của Mẹ trong khung cảnh này. Mẹ không nguyền rủa những người đóng đinh Con mình, không tranh luận với các kinh sư, không đòi Thiên Chúa phải giải thích và cũng không phô bày nỗi đau để tìm kiếm sự chú ý. Mẹ đứng đó trong thinh lặng. Nhưng thinh lặng của Mẹ không phải là sự cam chịu yếu đuối; đó là thinh lặng của tình yêu đang cầu nguyện, của đức tin đang đón nhận một mầu nhiệm vượt quá hiểu biết. Có những giờ phút mọi lời nói trở nên nghèo nàn. Trước một người vừa mất thân nhân, đôi khi một cái nắm tay chân thành có giá trị hơn nhiều lời giải thích. Trước đau khổ, chúng ta thường vội đưa ra những câu trả lời dễ dãi: “Chúa thử thách,” “Chúa muốn như vậy,” “rồi mọi chuyện sẽ ổn.” Những câu nói ấy, dù có ý tốt, có thể làm người đang đau càng thêm tổn thương. Đức Maria dạy chúng ta mục vụ bằng sự hiện diện. Mẹ không giải thích thập giá; Mẹ đứng bên thập giá. Mẹ không xóa câu hỏi; Mẹ mang câu hỏi ấy trong đức tin. Mẹ không nói thay cho người đau khổ; Mẹ khóc cùng họ và dẫn họ đến với Chúa.
Từ thập giá, Chúa Giêsu trao Mẹ cho người môn đệ, và sau đó Tin Mừng kể rằng Người nói: “Mọi sự đã hoàn tất.” Việc trao ban Đức Maria nằm trong những hành động cuối cùng hoàn tất chương trình cứu độ. Người đã trao thân thể cho nhân loại trong Bí tích Thánh Thể, trao máu mình trên thập giá, trao Thánh Thần khi gục đầu xuống, trao sự sống cho những kẻ tội lỗi, và trao cả Mẹ mình cho các môn đệ. Người không giữ lại điều gì. Thập giá chính là nơi Thiên Chúa trao ban đến tận cùng. Vì thế, người môn đệ sống dưới chân thập giá cũng phải trở thành con người của sự trao ban. Không thể đón Mẹ mà vẫn sống ích kỷ. Không thể gọi Mẹ là Mẹ mà không nhận những người con khác của Mẹ là anh chị em. Nếu Đức Maria là Mẹ chúng ta, thì người nghèo, người yếu đuối, người bệnh tật, người làm ta khó chịu và cả người từng làm ta tổn thương đều được mời gọi vào gia đình của Thiên Chúa. Lòng sùng kính Đức Mẹ phải phá vỡ sự khép kín và đưa chúng ta vào mối hiệp thông rộng lớn hơn.
Ngày lễ Đức Mẹ Sầu Bi được cử hành ngay sau lễ Suy Tôn Thánh Giá cũng nhắc rằng nỗi đau không phải là lời cuối cùng. Nếu chỉ dừng lại ở thứ Sáu Tuần Thánh, chúng ta sẽ biến Kitô giáo thành tôn giáo của tang tóc. Nhưng thập giá dẫn đến phục sinh. Đức Maria đứng dưới chân thập giá với trái tim tan nát, nhưng Mẹ không đánh mất lời hứa. Mẹ đã nghe Con mình loan báo về sự phục sinh, dù lúc ấy chưa thể thấy sự phục sinh diễn ra thế nào. Niềm hy vọng của Mẹ không dựa trên điều mắt thấy, nhưng dựa trên sự trung tín của Thiên Chúa. Chính vì thế, Đức Mẹ Sầu Bi không phải là hình ảnh của tuyệt vọng, nhưng là biểu tượng của hy vọng giữa đau thương. Mẹ cho chúng ta biết rằng có thể khóc mà vẫn tin, có thể đau mà vẫn yêu, có thể đứng trước ngôi mộ mà vẫn chờ đợi bình minh. Đức tin không phủ nhận thực tại đau khổ; đức tin đi xuyên qua đau khổ và khám phá rằng Thiên Chúa có thể mở một con đường ngay cả nơi con người chỉ còn nhìn thấy ngõ cụt.
Trong cuộc sống, mỗi người đều có những Canvê riêng. Có người mang thập giá bệnh tật; có người mang thập giá của một cuộc hôn nhân rạn nứt; có người đau vì con cái; có người bị phản bội bởi chính người mình tin tưởng; có người bị hiểu lầm dù đã cố gắng sống tốt; có người mang ký ức quá khứ không thể xóa; có người mỗi ngày vẫn cười với mọi người nhưng đêm về lại âm thầm khóc. Lễ Đức Mẹ Sầu Bi không bảo chúng ta giả vờ rằng đau khổ không tồn tại. Trái lại, Hội Thánh mời chúng ta gọi đúng tên nỗi đau, nhìn thẳng vào vết thương và đem tất cả đến bên Mẹ. Mẹ không hứa sẽ lập tức cất mọi thập giá, nhưng Mẹ đứng bên chúng ta. Người Mẹ từng đi qua cuộc trốn chạy, lưu lạc, nghèo khó, mất mát và tang tóc hiểu được tiếng thở dài không thành lời của con cái. Mẹ hiểu những lời cầu nguyện chỉ còn là nước mắt. Mẹ hiểu cảm giác phải đứng bên một người mình yêu mà không thể làm gì. Mẹ hiểu sự đau đớn khi lời hứa của Thiên Chúa dường như bị thực tế phủ nhận. Và vì hiểu, Mẹ có thể dạy chúng ta chịu đau mà không tuyệt vọng, chờ đợi mà không buông xuôi và yêu thương mà không tính toán.
Mẹ còn dạy chúng ta đừng chạy trốn thập giá của người khác. Các môn đệ đã bỏ chạy vì sợ liên lụy, nhưng Mẹ ở lại. Hôm nay chúng ta cũng có thể bị cám dỗ tránh xa những người đang gặp hoạn nạn vì sợ mất thời gian, mất tiền bạc, mất sự bình yên hoặc bị kéo vào những rắc rối không thuộc về mình. Chúng ta thích hiện diện trong ngày vui, nhưng lại lúng túng trước bệnh viện, tang lễ, thất bại và nước mắt. Tuy nhiên, tình yêu được kiểm chứng bằng khả năng ở lại. Đức Maria không nói được nhiều với Chúa Giêsu trên thập giá, nhưng việc Mẹ không bỏ đi đã nói tất cả. Có lẽ một trong những ân huệ lớn nhất ta có thể trao cho một người là làm cho họ biết rằng trong giờ tối tăm, họ không bị bỏ lại một mình. Một cuộc điện thoại, một chuyến thăm, một bữa cơm, một lời cầu nguyện hay sự lắng nghe kiên nhẫn có thể trở thành cách chúng ta đứng cùng Mẹ dưới chân thập giá hôm nay.
Đồng thời, Đức Mẹ Sầu Bi mời gọi chúng ta xét lại những lưỡi gươm mà chính mình có thể đã đâm vào trái tim người khác. Có những lưỡi gươm bằng lời nói cay nghiệt, bằng sự vô ơn, phản bội, thờ ơ, xét đoán và im lặng lạnh lùng. Có những người mẹ đau lòng không phải vì nghèo khó, nhưng vì con cái bất hòa; có những người cha đau khổ vì đã hy sinh cả đời mà tuổi già bị bỏ quên; có những người vợ, người chồng mang vết thương do sự thiếu chung thủy; có những linh mục và tu sĩ đau vì những lời vu khống hay thái độ vô cảm; có những người nghèo bị tổn thương bởi ánh mắt khinh miệt. Chiêm ngắm trái tim Mẹ bị đâm thâu không chỉ để xin Mẹ an ủi nỗi đau của ta, nhưng còn để xin Mẹ giúp ta ngừng gây đau cho người khác. Đừng vừa đọc kinh kính Đức Mẹ vừa dùng lời nói làm tan nát gia đình. Đừng vừa khóc trước tượng Mẹ vừa lạnh lùng với người đang cần sự cảm thông. Đừng vừa xin Mẹ chữa lành mình vừa tiếp tục nuôi hận thù và làm tổn thương anh chị em.
Sau cùng, hãy cùng người môn đệ yêu dấu đón Mẹ về nhà mình. Hãy đón Mẹ vào ngôi nhà có những bất hòa để Mẹ dạy ta biết lắng nghe và tha thứ; đón Mẹ vào ngôi nhà đang có người bệnh để Mẹ dạy ta biết chăm sóc với lòng dịu dàng; đón Mẹ vào tâm hồn đang hoang mang để Mẹ dạy ta tín thác; đón Mẹ vào đời sống cầu nguyện khô khan để Mẹ giúp ta kiên trì; đón Mẹ vào những lựa chọn khó khăn để Mẹ nhắc ta: “Người bảo gì, các con cứ việc làm theo.” Nhưng đón Mẹ cũng có nghĩa là chấp nhận cùng Mẹ đứng bên thập giá, không tìm một thứ đạo chỉ toàn an ủi mà không có hy sinh, chỉ muốn phép lạ mà không muốn hoán cải, chỉ mong nhận ơn mà không sẵn sàng phục vụ. Trường học của Đức Maria là trường học của Tin Mừng; con đường của Mẹ là con đường đi theo Đức Kitô; vinh quang của Mẹ bắt đầu từ sự khiêm nhường và đi qua thập giá để đến phục sinh.
Lạy Đức Mẹ Sầu Bi, Mẹ đã đứng dưới chân thập giá khi mọi hy vọng dường như bị đóng đinh, xin dạy chúng con biết đứng vững trong những ngày thử thách. Khi chúng con không hiểu đường lối Thiên Chúa, xin dạy chúng con biết giữ Lời trong lòng và tiếp tục tin tưởng. Khi chúng con nhìn người mình yêu đau khổ mà không thể làm gì, xin dạy chúng con biết ở lại bằng một tình yêu trung thành. Khi thập giá trở nên nặng nề, xin đừng để chúng con buông xuôi hay cay đắng. Khi nước mắt làm đôi mắt chúng con mờ đi, xin giúp chúng con vẫn nhận ra Chúa Giêsu đang ở gần. Xin Mẹ đón nhận những gia đình tan vỡ, những người mẹ mất con, những người cha đau khổ, những bệnh nhân cô độc, những người bị phản bội và những tâm hồn đang đứng bên bờ tuyệt vọng. Xin giúp Hội Thánh biết đứng bên những người bị đóng đinh của thời đại, không chỉ bằng lời nói nhưng bằng lòng thương xót cụ thể. Xin cho chúng con biết đón Mẹ vào nhà, vào tâm hồn và vào mọi chọn lựa của cuộc đời. Và khi giờ cuối cùng đến, xin Mẹ đứng bên thập giá của chúng con, giúp chúng con phó thác linh hồn trong tay Thiên Chúa, để sau đêm tối của đau thương, chúng con được cùng Mẹ bước vào ánh sáng phục sinh của Đức Kitô. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
