CHỨNG TÁ KHÔNG QUY VỀ MÌNH, NHƯNG DẪN NGƯỜI TA ĐẾN VỚI ĐỨC KITÔ – Lm. Anmai, CSsR

10

CHỨNG TÁ KHÔNG QUY VỀ MÌNH, NHƯNG DẪN NGƯỜI TA ĐẾN VỚI ĐỨC KITÔ
Có lẽ một trong những điều quan trọng nhất mà người Kitô hữu phải học lại trong thời đại hôm nay chính là ý nghĩa đích thực của hai chữ “chứng tá”. Chứng tá Kitô giáo không phải là kể cho người khác nghe mình tài giỏi thế nào, đạo đức thế nào, đã làm được bao nhiêu việc lớn lao, đã có bao nhiêu người quý mến, đã xây dựng được bao nhiêu công trình, đã giảng bao nhiêu bài, đã thu hút bao nhiêu lượt xem, bao nhiêu lượt thích, bao nhiêu người theo dõi. Chứng tá Kitô giáo, nếu thật sự là chứng tá, luôn có một cấu trúc rất khác: bằng lời nói và bằng chính cuộc sống của mình, ta làm chứng cho điều mà một Người Khác đã làm nơi ta. Người Kitô hữu không phải là trung tâm của chứng tá; Đức Kitô mới là trung tâm. Người Kitô hữu không phải là ánh sáng; họ chỉ phản chiếu Ánh Sáng. Người Kitô hữu không phải là nguồn mạch; họ chỉ là chiếc máng nhỏ để dòng nước ân sủng đi qua. Người Kitô hữu không phải là Đấng cứu độ; họ chỉ là người đã được cứu và vì đã được cứu nên không thể không kể lại lòng thương xót mình đã nhận. Một chứng nhân Kitô giáo đích thực vì thế không nói: “Hãy nhìn tôi tuyệt vời thế nào”, nhưng bằng cả đời mình âm thầm nói: “Hãy nhìn xem Thiên Chúa đã nhân hậu với tôi biết bao.” Người ấy không bắt người khác ngước mắt nhìn mình, nhưng nâng ánh mắt của họ lên Đấng đã cúi xuống trên cuộc đời mình. Người ấy không xây tượng đài cho bản thân, nhưng mở một con đường nhỏ để người khác có thể gặp Chúa. Chính trong ý nghĩa ấy, và chỉ trong ý nghĩa ấy, người Kitô hữu mới có thể trở thành chứng nhân, trở thành người loan báo Tin Mừng, trở thành thừa sai của Đức Kitô và của Thần Khí Người.
Đây cũng là điểm quyết định khi chúng ta bước vào thế giới truyền thông và mạng xã hội. Ngày nay người ta nói rất nhiều đến “ảnh hưởng”, đến “xây dựng thương hiệu cá nhân”, đến “tăng tương tác”, đến “thu hút người theo dõi”, đến “tạo nội dung có sức lan tỏa”. Những điều ấy tự nó không nhất thiết xấu. Một phương tiện có khả năng đưa Tin Mừng đến với nhiều người là một phương tiện đáng quý. Một bài suy niệm chạm được đến một tâm hồn đau khổ là một điều tốt. Một video giúp một người đang tuyệt vọng tìm lại hy vọng là một điều đáng mừng. Một dòng chia sẻ giúp ai đó quay lại cầu nguyện sau nhiều năm xa Chúa là một hồng ân. Tuy nhiên, chính ở đây cũng xuất hiện một cám dỗ rất tinh vi: người loan báo Tin Mừng có thể dần dần trở thành người loan báo chính mình; người muốn đưa người khác đến Chúa có thể dần dần muốn đưa người khác đến với trang của mình; người từng vui vì một linh hồn được nâng đỡ có thể dần dần chỉ vui vì con số lượt xem tăng lên. Và lúc đó, dù ngôn ngữ vẫn có thể rất đạo đức, dù hình ảnh vẫn có thể đầy những câu Thánh Kinh, dù nội dung vẫn nói về Chúa, nhưng ở tầng sâu hơn, cái tôi đã âm thầm bước lên ngai. Bởi vậy, người Kitô hữu hiện diện trên mạng xã hội cần thường xuyên tự hỏi một câu rất khó nhưng rất cần thiết: sau khi xem, nghe hoặc đọc điều tôi chia sẻ, người ta nhớ đến tôi nhiều hơn hay nhớ đến Chúa nhiều hơn? Người ta ngưỡng mộ tôi hay muốn sống Tin Mừng hơn? Người ta gắn bó với cá nhân tôi hay được thúc đẩy bước vào mối tương quan sâu hơn với Đức Kitô? Nếu một ngày không còn ai nhớ tên ta nữa nhưng một vài người vẫn tiếp tục cầu nguyện, yêu thương, tha thứ, sống tử tế và bước theo Chúa nhờ một điều nhỏ bé họ từng nhận từ ta, như vậy đã là một chứng tá rất đẹp rồi.
Chứng tá Kitô hữu bắt đầu từ một kinh nghiệm nền tảng: tôi đã được yêu trước. Không phải tôi yêu Chúa trước, nhưng Người đã yêu tôi trước. Không phải tôi đi tìm Người trước, nhưng Người đã đi tìm tôi. Không phải tôi tự cứu mình khỏi những vùng tối, nhưng chính Người đã bước vào bóng tối của tôi. Không phải tôi đủ tốt nên được thương, nhưng vì được thương nên tôi mới có khả năng trở nên tốt hơn. Và vì thế, Tin Mừng mà người Kitô hữu mang đến cho người khác trước hết không phải là một học thuyết, một hệ thống luân lý hay một danh sách những điều phải làm, nhưng là lời chứng của một người đã gặp lòng thương xót. “Tôi đã được Chúa đỡ dậy.” “Tôi đã từng tuyệt vọng và Người không bỏ tôi.” “Tôi từng phạm sai lầm và Người vẫn mở cửa.” “Tôi từng tưởng đời mình không còn ý nghĩa, nhưng trong một khoảnh khắc nào đó tôi nhận ra Người vẫn ở đó.” Những lời như thế có sức mạnh vì chúng không phát xuất từ sách vở nhưng từ đời sống. Chúng không có sức mạnh vì người nói hùng biện, mà vì sự thật đã đi qua nước mắt, qua thất bại, qua chờ đợi, qua tha thứ và qua kinh nghiệm được yêu.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa một người nói về Thiên Chúa và một người nói từ kinh nghiệm đã được Thiên Chúa chạm đến. Người thứ nhất có thể biết rất nhiều điều; người thứ hai có thể chỉ biết vài điều, nhưng những điều ấy mang hơi ấm của cuộc gặp gỡ. Người thứ nhất có thể trình bày một bài thật hoàn chỉnh; người thứ hai có thể chỉ nói một câu đơn sơ nhưng câu đó lại đi thẳng vào tâm hồn. Điều ấy không có nghĩa rằng kiến thức không quan trọng. Giáo lý, thần học, Kinh Thánh, truyền thống Hội Thánh đều vô cùng cần thiết. Đức tin không thể sống bằng cảm xúc mơ hồ. Nhưng kiến thức chỉ trở nên truyền giáo thật sự khi nó được thấm vào đời sống. Người nghe cần cảm thấy rằng điều chúng ta nói không chỉ đúng, mà còn đã được sống; không chỉ hay, mà còn đã được trả giá; không chỉ là công thức, mà là một phần của lịch sử đời ta.
Bởi vậy, chứng tá Kitô hữu luôn gắn liền với ký ức biết ơn. Người biết ơn không sống như thể mọi sự mình có là do công lao bản thân. Người biết ơn nhìn đời và nhận ra vô số món quà mình không thể tự tạo ra: sự sống, hơi thở, cha mẹ, những người từng nâng đỡ mình, những cơ hội đến đúng lúc, một lời khuyên cứu mình khỏi quyết định sai lầm, một người đã tha thứ cho mình khi mình không xứng đáng, một biến cố đau buồn nhưng về sau lại trở thành bước ngoặt, một cánh cửa đóng lại để mình khỏi đi vào con đường không tốt, một lần bệnh tật làm mình hiểu điều gì thật sự quý giá, một người nghèo dạy mình lòng quảng đại, một thất bại làm mình bớt kiêu ngạo. Người sống trong tâm tình biết ơn sẽ nhìn cuộc đời không chỉ như chuỗi thành tựu để khoe, nhưng như một cuốn sách đầy dấu tay của Thiên Chúa.
Chính ký ức biết ơn làm nảy sinh niềm vui. Và đức tin, trước khi trở thành lời giải thích, thường được người khác nhận biết qua niềm vui ấy. Không phải thứ vui hời hợt luôn cười, cũng không phải thái độ phủ nhận đau khổ, nhưng là niềm vui sâu thẳm của một người biết mình được yêu và không bị bỏ rơi. Có những người mang rất nhiều vết thương nhưng ở bên họ ta vẫn cảm thấy bình an. Có những người sống rất giản dị nhưng người khác lại thích tìm đến. Có những người không nói những điều phi thường, nhưng ánh mắt họ không có độc tố của cay nghiệt; lời nói họ không có sức nặng của oán hờn; cách họ đối xử với người yếu thế khiến người khác tự hỏi: “Điều gì làm người này sống như vậy?” Chính câu hỏi ấy là cửa ngõ của Tin Mừng.
Theo luận lý của Tin Mừng, nhiều khi công việc của người chứng nhân chỉ là khơi lên một câu hỏi. Phần còn lại là công việc âm thầm của Thiên Chúa. Điều này giải thoát chúng ta khỏi một gánh nặng rất lớn. Chúng ta không phải là người làm cho ai đó tin. Chúng ta không thể cưỡng ép một tâm hồn mở ra. Không thể tranh luận đến mức một người yêu Chúa. Không thể áp lực một người để họ hoán cải thật sự. Có thể thắng một cuộc tranh luận mà làm mất một con người. Có thể chứng minh mình đúng nhưng làm cho cánh cửa tâm hồn người khác đóng lại. Có thể nói rất nhiều về chân lý nhưng lại nói theo một cách khiến người nghe không còn muốn đến gần chân lý nữa. Người thừa sai khôn ngoan hiểu rằng mình gieo, người khác tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho mọc lên. Vì thế, người ấy làm phần việc của mình với tất cả trách nhiệm nhưng không chiếm chỗ của Thiên Chúa.
Đó cũng là lý do Thánh Phêrô khuyên các tín hữu hãy luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của mình, nhưng phải làm điều đó với sự hiền hòa và kính trọng. Điều đáng chú ý là Thánh Phêrô không nói: hãy làm mọi cách khiến người khác phải hỏi. Ngài giả định rằng lối sống Kitô hữu tự nó phải khơi lên câu hỏi. Khi một người bị xúc phạm mà không trả thù, người khác sẽ hỏi tại sao. Khi một người có quyền lực nhưng không chèn ép, người khác sẽ hỏi tại sao. Khi một người thành công nhưng không kiêu căng, người khác sẽ hỏi tại sao. Khi một người thất bại nhưng không tuyệt vọng, người khác sẽ hỏi tại sao. Khi một người bị hiểu lầm nhưng không trở nên cay độc, người khác sẽ hỏi tại sao. Khi một gia đình vẫn cùng nhau cầu nguyện giữa thử thách, người khác sẽ hỏi họ lấy sức mạnh từ đâu. Khi một người đang bệnh nhưng vẫn biết cảm ơn, người khác sẽ tự hỏi điều gì đang nâng đỡ họ. Chứng tá bắt đầu ngay tại những câu hỏi như vậy.
Và câu trả lời tốt nhất đôi khi rất đơn sơ: “Tôi không mạnh như anh nghĩ đâu. Nhưng tôi biết mình không cô đơn.” “Tôi cũng đau như mọi người, chỉ là tôi tin Chúa vẫn ở đây.” “Tôi cũng từng muốn trả thù, nhưng tôi nhớ mình đã được tha thứ quá nhiều.” “Tôi cũng sợ chết, nhưng tôi tin sự chết không phải là tiếng nói cuối cùng.” Những câu như thế không đặt người Kitô hữu lên bục cao; ngược lại, chúng cho thấy một con người mong manh nhưng đang được nâng đỡ bởi một tình yêu lớn hơn mình.
Ở điểm này, Đức Maria là khuôn mẫu tuyệt đẹp của chứng tá. Mẹ có thể được gọi là một trong những con người có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong lịch sử nhân loại, nhưng Mẹ chưa bao giờ tìm cách trở thành người có ảnh hưởng. Mẹ không xây dựng hình ảnh. Mẹ không tìm người theo dõi. Mẹ không tìm vị trí nổi bật. Mẹ không lập chương trình để lưu danh. Tất cả những gì Mẹ làm là nói “Xin Vâng” và để Thiên Chúa thực hiện nơi Mẹ điều Người muốn. Chính vì không tìm mình mà đời Mẹ trở nên có sức lan tỏa. Chính vì không giữ Chúa cho mình mà Mẹ trao Chúa cho thế giới. Chính vì không tự đặt mình ở trung tâm mà Mẹ trở thành một trong những dấu chỉ trong trẻo nhất chỉ về Đức Kitô.
Bài Magnificat của Đức Maria cho ta thấy rõ điều ấy. Mẹ không hát về thành tựu của mình nhưng về những kỳ công Thiên Chúa đã thực hiện. “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa.” Trung tâm là Đức Chúa. “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả.” Chủ thể hành động là Thiên Chúa. Maria biết mình bé nhỏ, và chính vì biết mình bé nhỏ nên Mẹ có thể nhận ra điều vĩ đại Thiên Chúa đang làm. Đây là một sự tự do rất lớn. Người khiêm nhường không cần liên tục bảo vệ hình ảnh của mình. Không cần chứng minh mình quan trọng. Không cần thắng mọi tranh luận. Không cần được nhắc tên trong mọi thành công. Không cần lên tiếng về mọi vấn đề để chứng tỏ mình hiện diện. Người khiêm nhường có khả năng để Thiên Chúa lớn lên còn mình nhỏ lại.
Đức Maria cũng dạy người Kitô hữu rằng ảnh hưởng thật không nhất thiết ồn ào. Nhiều điều có sức biến đổi nhất trong đời xảy ra trong âm thầm. Một người mẹ kiên trì cầu nguyện cho con suốt hai mươi năm có thể ảnh hưởng đến lịch sử một linh hồn hơn hàng ngàn bài đăng. Một người cha sống trung thực dù phải chịu thiệt có thể khắc vào tâm hồn con cái một bài học mạnh hơn trăm bài giảng. Một linh mục trung thành với giờ cầu nguyện, với người nghèo, với bệnh nhân và tòa giải tội có thể gieo những hạt giống mà chính ngài không bao giờ biết đã mọc ở đâu. Một giáo lý viên nhớ tên một đứa trẻ khó bảo và vẫn kiên nhẫn với em có thể trở thành người mà nhiều năm sau em nhớ lại như một chứng tá về tình yêu Thiên Chúa. Một người trẻ từ chối chia sẻ tin giả trong khi cả nhóm đang hùa theo cũng đang làm chứng. Một người im lặng không tham gia nói xấu cũng đang làm chứng. Một người xin lỗi công khai vì mình sai đang làm chứng. Một người dám sửa một bài đăng khi phát hiện thông tin không đúng cũng đang làm chứng. Những việc ấy có vẻ nhỏ, nhưng Tin Mừng thường đi vào lịch sử qua những cánh cửa nhỏ như vậy.
Trong không gian mạng, chứng tá khiêm nhường càng quan trọng bởi vì cơ chế của mạng xã hội thường thưởng cho sự nổi bật. Nền tảng khuyến khích ta gây chú ý, phản ứng nhanh, phát biểu mạnh, đẩy cảm xúc lên cao, tranh luận, phán xét, tạo phe. Nhưng Thần Khí hoạt động theo một nhịp khác. Thần Khí đưa ta đến sự thật, nhưng sự thật gắn với tình yêu. Thần Khí cho ta lòng can đảm, nhưng lòng can đảm ấy không đồng nghĩa với hung hăng. Thần Khí thúc đẩy lời nói, nhưng cũng dạy thinh lặng. Thần Khí có thể khiến ta lên tiếng trước bất công, nhưng cũng ngăn ta biến sự thật thành vũ khí làm nhục người khác. Một người Kitô hữu có thể nói rất đúng nhưng vẫn nói không theo Thần Khí. Điều này xảy ra khi mục tiêu kín đáo của ta không còn là cứu một người anh em nhưng là đánh bại họ; không còn là bảo vệ chân lý nhưng là bảo vệ cái tôi; không còn là xây dựng cộng đoàn nhưng là thu hút đám đông về phía mình.
Chứng tá Kitô hữu vì thế luôn cần phân định động cơ. Trước khi đăng một điều gì đó, có thể tự hỏi: tôi đăng điều này vì yêu sự thật hay vì muốn được công nhận? Tôi chia sẻ điều này để giúp người khác hay để hạ người nào đó xuống? Tôi phản hồi vì trách nhiệm hay vì đang giận? Tôi có đang biến lỗi lầm của người khác thành nguyên liệu cho nội dung của mình không? Tôi có đang dùng những đau khổ của người khác để gây xúc động và tăng tương tác không? Tôi có sẵn sàng xóa bài nếu nhận ra nó gây hại không? Tôi có thể im lặng nếu điều đó tốt hơn cho hiệp thông không? Những câu hỏi như vậy khó chịu, nhưng rất cần nếu ta muốn mạng xã hội trở thành nơi truyền giáo chứ không phải nơi cái tôi khoác áo đạo đức.
“Anh em hãy sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em.” Câu này có một chi tiết thật đẹp: Kitô hữu không được kêu gọi trước tiên làm cho người khác sợ, mà làm cho họ đặt câu hỏi về hy vọng. Một đời sống Kitô hữu đúng nghĩa phải có một điều gì đó khiến người khác nghĩ: người này có một nguồn hy vọng nào mà tôi chưa biết. Trong một xã hội đầy lo âu, người Kitô hữu phải là người gieo hy vọng. Trong một môi trường đầy cay độc, họ phải mang đến sự dịu dàng. Giữa một nền văn hóa thích kết án, họ phải biết mở cánh cửa của lòng thương xót. Giữa nơi ai cũng sợ mất mặt, họ phải có khả năng xin lỗi. Giữa nơi ai cũng muốn chứng minh mình đúng, họ phải có can đảm nói: “Tôi đã sai.” Giữa nơi thành công được đo bằng con số, họ phải nhớ rằng một linh hồn được nâng dậy đã đủ để vui.
Đức Kitô đã nói: “Hãy học cùng tôi, vì tôi hiền lành và khiêm nhường trong lòng.” Đây có lẽ là trường học quan trọng nhất cho mọi nhà truyền thông Kitô giáo. Học từ Đức Kitô không chỉ là học nội dung Người dạy mà còn học cách Người hiện diện. Chúa có thể rất thẳng thắn với những kẻ giả hình, nhưng Người không bao giờ nghiền nát người yếu đuối. Người có thể gọi tội là tội nhưng lại ngồi ăn với người tội lỗi. Người có thể nói với người phụ nữ ngoại tình: “Đừng phạm tội nữa”, nhưng trước đó Người đã bảo vệ bà khỏi những viên đá. Người có thể chất vấn người phụ nữ Samari về đời sống không ngay chính, nhưng lại nói chuyện với chị bằng sự tôn trọng đến mức chị trở thành người loan báo Người cho cả làng. Chúa không làm cho sự thật mềm đi, nhưng Người làm cho sự thật có một khuôn mặt, và khuôn mặt ấy là lòng thương xót.
Đó là cách người Kitô hữu được mời gọi làm chứng hôm nay. Có thể rất trung thành với chân lý mà không thô bạo. Có thể rõ ràng mà không nhục mạ. Có thể bảo vệ giáo huấn của Hội Thánh mà không đối xử với người bất đồng như kẻ thù. Có thể sửa sai mà không làm người khác mất phẩm giá. Có thể tranh luận mà không thù ghét. Có thể dừng lại khi nhận thấy cuộc trao đổi chỉ còn phục vụ cái tôi. Người Kitô hữu phải nhớ rằng đằng sau mỗi tài khoản mạng xã hội là một con người, và đằng sau mỗi con người là một lịch sử mà ta không biết hết. Có thể người đang bình luận gay gắt vừa mất một người thân. Có thể người đang công kích Giáo Hội đã từng bị tổn thương bởi một người có đạo. Có thể người đang sống sai lạc chưa từng được ai yêu thương đủ để họ tin rằng mình có thể thay đổi. Điều đó không làm sai thành đúng, nhưng nhắc ta rằng chân lý phải được nói trong tình yêu.
Có một nguy cơ khác trong việc làm chứng: ta có thể vô tình tạo ra ấn tượng rằng người Kitô hữu là người không có vấn đề, không có khủng hoảng, không có thất bại. Nếu chứng tá chỉ kể những đoạn đẹp, người nghe sẽ tưởng đức tin là một công thức để có cuộc đời suôn sẻ. Nhưng Tin Mừng không hứa điều đó. Đức tin không làm ta miễn nhiễm với bệnh tật, phản bội, mất mát hay nước mắt. Đức tin trao cho ta một Đấng cùng đi qua chúng. Vì vậy, đôi khi chứng tá mạnh nhất không phải là: “Tôi cầu nguyện và mọi chuyện lập tức ổn”, mà là: “Tôi đã cầu nguyện rất lâu, mọi chuyện chưa ổn, nhưng tôi vẫn tin.” Không phải: “Tôi tin Chúa nên tôi không còn đau”, nhưng là: “Tôi vẫn đau, nhưng tôi không đau một mình.” Không phải: “Tôi chưa bao giờ nghi ngờ”, mà là: “Tôi đã có những đêm không cảm thấy gì, nhưng tôi vẫn chọn ở lại.” Những chứng tá như thế chân thật hơn và gần với mầu nhiệm Thập Giá hơn.
Bởi vì chứng tá Kitô hữu cuối cùng luôn mang hình Thập Giá. Người chứng nhân không chỉ nói về điều Thiên Chúa cho mình nhưng cũng chấp nhận để đời mình trở thành quà tặng. Đức Kitô không cứu thế giới bằng một chiến dịch quảng bá nhưng bằng việc hiến chính mình. Sức mạnh của Tin Mừng nằm ở đó. Hạt lúa phải chết đi mới sinh nhiều bông hạt. Nếu đời sống chứng tá không có sự từ bỏ, nó dễ biến thành trình diễn. Nếu truyền giáo không làm ta mất gì, có lẽ ta phải tự hỏi mình đã thực sự cho đi chưa. Có người trả giá bằng thời gian. Có người bằng sự kiên nhẫn. Có người bằng việc chịu hiểu lầm. Có người bằng tiền bạc dành cho người nghèo. Có người bằng việc âm thầm chăm sóc cha mẹ già. Có người bằng việc kiên trì với một đứa con đang nổi loạn. Có người bằng quyết định tha thứ. Có người bằng việc từ bỏ một cơ hội không chính đáng dù rất hấp dẫn. Mỗi hy sinh ấy, nếu kết hợp với Chúa Kitô, đều trở thành một lời chứng.
Và cuối cùng, người chứng nhân phải học nghệ thuật biến mất. Gioan Tẩy Giả đã nói: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Đó có thể là phương châm cho mọi người làm việc truyền thông Kitô giáo. Thành công lớn nhất không phải là người ta cần đến ta mãi mãi, nhưng là họ dần dần biết tự đến với Chúa. Người giáo lý viên giỏi không tạo ra những người phụ thuộc vào mình nhưng giúp họ trưởng thành trong đức tin. Người linh hướng tốt không làm người khác lệ thuộc vào ý kiến mình nhưng giúp họ nhận ra tiếng Chúa. Người giảng hay không chỉ làm người ta chờ bài giảng tiếp theo nhưng làm họ mở Kinh Thánh, cầu nguyện và sống Tin Mừng. Người làm truyền thông Công giáo không nên mơ mình trở thành trung tâm của cộng đồng nhưng ước ao mình trở thành một chiếc biển chỉ đường. Biển chỉ đường không cần ai ôm lấy nó. Nó chỉ cần chỉ đúng hướng.
Có lẽ vào ngày cuối cùng, Chúa không hỏi ta có bao nhiêu người theo dõi, nhưng bao nhiêu người đã được yêu thương qua ta. Không hỏi bài đăng nào đạt nhiều lượt xem nhất, nhưng ta đã dùng tiếng nói của mình để nâng ai dậy. Không hỏi hình ảnh của ta có đẹp không, nhưng tâm hồn ta có giống Chúa hơn không. Không hỏi ta nổi tiếng đến đâu, nhưng ta đã trung thành đến đâu trong những việc không ai nhìn thấy. Không hỏi có bao nhiêu người biết tên ta, nhưng liệu tên của họ có được ta mang trong lời cầu nguyện hay không.
Vì thế, chứng tá Kitô hữu không phải là một kỹ thuật. Đó là hoa trái của một đời sống gặp Chúa. Ta không thể cho người khác điều mình không có. Muốn truyền niềm vui, phải thường xuyên trở về với Nguồn Vui. Muốn nói về hy vọng, phải để Chúa chạm vào những vùng tuyệt vọng của mình. Muốn đem bình an, phải học ở lại trong bình an của Chúa. Muốn nói về lòng thương xót, phải sống kinh nghiệm được tha thứ. Muốn nói về khiêm nhường, phải mỗi ngày chiến đấu với cái tôi. Muốn trở thành chứng nhân, phải để Thần Khí viết câu chuyện của Chúa trong cuộc đời mình.
Khi ấy, ta sẽ bớt lo phải tạo ảnh hưởng và bắt đầu lo sống trung thành. Bớt lo phải gây ấn tượng và bắt đầu lo để lại bình an. Bớt lo người ta nghĩ gì về mình và bắt đầu tự hỏi người ta có gặp được chút gì của Đức Kitô qua mình hay không. Có thể ta không làm được những điều vĩ đại. Nhưng một câu nói đúng lúc, một ánh mắt không kết án, một lần kiên nhẫn, một lời xin lỗi, một sự tha thứ, một bài viết chân thành, một lần từ chối chia sẻ điều chưa được kiểm chứng, một lời cầu nguyện âm thầm, một nghĩa cử với người nghèo… tất cả đều có thể là những hạt giống Thiên Chúa dùng.
Chúng ta chỉ gieo. Người làm cho hạt nảy mầm là Chúa. Chúng ta chỉ mở cửa. Người bước vào tâm hồn là Chúa. Chúng ta chỉ thắp một ngọn đèn nhỏ. Người là Ánh Sáng thật. Chúng ta chỉ kể câu chuyện của mình, nhưng câu chuyện sâu xa nhất vẫn là câu chuyện của Người: câu chuyện về một Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi ban Con Một; câu chuyện về Đấng đã đi tìm con chiên lạc; câu chuyện về Người Cha vẫn đứng trước cửa chờ đứa con hoang đàng; câu chuyện về Đấng chịu đóng đinh mà vẫn thốt lên lời tha thứ; câu chuyện về Ngôi Mộ trống cho thấy đau khổ và sự chết không có tiếng nói cuối cùng.
Bởi vậy, người Kitô hữu không cần làm mình trở nên vĩ đại để có thể làm chứng. Chỉ cần để Chúa trở nên lớn trong đời mình. Không cần trở thành một nhân vật phi thường. Chỉ cần để những điều bình thường được sống với một tình yêu phi thường. Không cần làm cho mọi người chú ý. Chỉ cần trung thành đủ lâu để ai đó một ngày nhìn cuộc đời ta và tự hỏi: “Điều gì khiến người này vẫn yêu, vẫn tin, vẫn hy vọng như thế?” Và khi câu hỏi ấy xuất hiện, cánh cửa đã hé mở. Ta chỉ cần dịu dàng nói về lý do của niềm hy vọng nơi mình. Phần còn lại hãy để Thiên Chúa thực hiện trong âm thầm.
Bởi Tin Mừng không lan truyền sâu nhất nhờ những con người luôn nói về mình. Tin Mừng lan truyền qua những con người mà khi gặp họ, người khác bỗng muốn biết thêm về Chúa của họ. Đó là chứng tá đẹp nhất. Đó là ảnh hưởng sâu nhất. Đó là truyền giáo đích thực. Và có lẽ, đó cũng là điều đẹp nhất mà một đời Kitô hữu có thể để lại sau khi mình đi qua thế gian này: không phải một cái tên lớn, nhưng một lối nhỏ dẫn người khác đến với Đức Kitô.
Lm. Anmai, CSsR