Phụng vụ Lời Chúa – Lời nguyện – Suy niệm (Youtube & bản văn) 10 Thứ Năm tuần XXX – Lm. Anmai, CSsR
BẢN TIN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO THỨ NĂM NGÀY 29 THÁNG 10 NĂM 2026 – Lm. Anmai, CSsR tổng hợp
THỨ 5 TUẦN 30 TN MẶC LẤY ÁO GIÁP CỦA T. CHÚA, TRỞ VỀ DƯỚI ĐÔI CÁNH YÊU THƯƠNG – Lm. Anmai, CSsR
THỨ 5 T 30 TN BƯỚC ĐI CỦA NIỀM TIN VÀ TÌNH YÊU TRONG SỰ QUAN PHÒNG CỦA TC – Lm. Anmai, CSsR
LỜI NGUYỆN THỨ NĂM TUẦN XXX THƯỜNG NIÊN
Lạy Chúa Giêsu, xin quy tụ chúng con dưới cánh tình thương của Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, hôm nay con đến bên Chúa với những lo âu con vẫn giấu trong lòng. Có những điều chưa xảy ra mà con đã sợ; có những khó khăn vừa xuất hiện đã khiến con muốn bỏ cuộc; có những lời người khác nói làm con mất bình an suốt nhiều ngày. Trong Tin Mừng, giữa lời đe dọa của Hê-rô-đê, Chúa vẫn tiếp tục chữa lành, giải thoát và bước đi trên con đường Chúa Cha trao phó. Xin cho con được tựa vào lòng can đảm của Chúa. Khi sợ hãi, xin giúp con bình tâm nhận ra điều phải làm; khi bị chống đối, xin giữ con khỏi cay đắng; khi gặp thử thách, xin cho con đủ sức trung thành với điều thiện.
Lạy Chúa, con thường muốn một cuộc đời ít sóng gió, một đức tin không phải trả giá, một tình yêu không khiến mình tổn thương. Vì thế, con dễ im lặng khi cần bênh vực người yếu thế, dễ tránh né khi có người cần giúp đỡ, dễ bỏ dở một bổn phận khi chẳng còn ai động viên. Xin tha thứ cho những lần con để sự an toàn của mình trở thành lý do khép lòng trước người khác. Xin dạy con sống có trách nhiệm, biết tìm sự nâng đỡ cần thiết và can đảm thực hiện điều đúng. Xin cho con tiếp tục yêu thương bằng những việc vừa sức hôm nay, dù lòng còn mệt, dù kết quả chưa như con mong đợi.
Lạy Chúa Giêsu, lời Chúa gọi Giê-ru-sa-lem làm con nghe được nỗi đau của một tình yêu bị khước từ. Chúa đã nhiều lần muốn quy tụ con cái thành ấy, nhưng họ không chịu. Con cũng đã có những lần như vậy. Chúa mời con trở về, con lại trì hoãn. Chúa nhắc con hòa giải, con vẫn giữ chặt tự ái. Chúa mở cho con một lối sống tốt hơn, con còn quyến luyến những thói quen đang làm mình xa Chúa. Xin cho con nhận ra những cánh cửa chính con đã đóng. Xin làm mềm lòng con, để con biết đón nhận lời sửa dạy, biết thành thật nhìn nhận lỗi lầm và biết trở về khi còn được nghe tiếng Chúa gọi.
Chúa ví tình thương của mình như gà mẹ tập họp đàn con dưới cánh. Con xin đem đến dưới cánh Chúa những phần đời mong manh nhất của mình: một vết thương chưa lành, một nỗi buồn chưa nói được, một lỗi lầm vẫn khiến con xấu hổ, một tương lai con chưa biết sẽ ra sao. Xin cho con được ở lại trong sự hiện diện của Chúa, được thưa với Chúa mọi điều mà không phải che giấu. Khi chưa tìm được lời để cầu nguyện, xin đón nhận cả sự thinh lặng và nước mắt của con. Xin giúp con tin rằng giữa những ngày yếu đuối, con vẫn có thể nương tựa nơi Chúa và bắt đầu lại.
Lạy Chúa, xin quy tụ gia đình con trong tình thương của Chúa. Có những người sống chung một mái nhà mà đã lâu không thật sự lắng nghe nhau; có những bữa cơm đủ người nhưng thiếu lời hỏi han; có những tổn thương cứ lớn dần vì ai cũng chờ người kia xin lỗi trước. Xin giúp chúng con biết bước đến với nhau. Xin cho người lớn biết nói lời dịu dàng, người trẻ biết mở lòng chia sẻ, người đang giận biết dừng lại trước khi làm đau người thân. Xin nâng đỡ những gia đình đang chịu tang, đang chăm sóc người bệnh, đang lo cơm áo hoặc đứng trước nguy cơ đổ vỡ. Xin cho họ gặp được người biết đồng hành và những giúp đỡ thiết thực.
Xin thương những người đang bị đe dọa, bị bỏ rơi hoặc không tìm được nơi an toàn để trở về. Xin gìn giữ trẻ nhỏ, người già cô đơn và những ai phải chịu bạo lực. Xin ban sự sáng suốt, lòng can đảm và phương tiện cần thiết cho những người đang bảo vệ họ. Xin cho Hội Thánh trở thành mái nhà biết đón nhận, lắng nghe và chăm sóc; xin cho mỗi người chúng con góp phần bằng sự hiện diện chân thành, một lời nâng đỡ và một bàn tay sẵn sàng giúp đỡ.
Lạy Chúa Giêsu, xin đừng để hôm nay trôi qua trong sự khép kín của con. Xin giúp con mở một cánh cửa lòng, sửa một điều sai, nối lại một liên hệ và chu toàn một việc tốt. Khi đường đời còn khó khăn, xin cùng con bước tiếp. Khi con muốn xa rời Chúa, xin nhắc con nhớ nơi mình được yêu thương. Và mỗi ngày, xin cho con biết đón Chúa bằng lòng tin cùng một cuộc sống đang cố gắng đổi mới: Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Đức Chúa. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.
Ca nhập lễ
Tâm hồn những ai tìm Chúa, hãy mừng vui. Hãy coi trọng Chúa và quyền năng của Người, hãy luôn luôn tìm kiếm thiên nhan Chúa.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin cho chúng con được thêm lòng tin cậy mến và biết yêu chuộng những điều Chúa truyền dạy, hầu đáng hưởng những gì Chúa hứa ban. Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc I: Ep 6, 10-20
“Anh em hãy mặc lấy mã giáp của Thiên Chúa để có thể đứng vững”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Êphêxô.
Anh em thân mến, về tương lai, anh em hãy can đảm trong Chúa, và trong quyền năng sức mạnh của Người. Anh em hãy mặc lấy mã giáp của Thiên Chúa, để anh em có thể chống lại được với những mưu chước ma quỷ. Bởi vì chúng ta không những chiến đấu với huyết nhục, mà còn chiến đấu với kẻ chấp chính và quyền thế, với kẻ cai quản thế giới u minh này, và những ác thần trên không gian. Bởi đó, anh em hãy mặc lấy mã giáp của Thiên Chúa, để có thể kháng cự được trong ngày đen tối, và đứng vững sau khi bình định được tất cả. Vậy anh em hãy đứng vững, thắt đai lưng chân lý, mặc áo giáp công chính, và chân mang giày để sẵn sàng truyền bá Tin Mừng hoà bình. Anh em hãy luôn luôn mang khiên thuẫn đức tin, nhờ đó anh em dập tắt được mọi tên lửa kẻ cực ác. Anh em hãy nhận lấy mũ chiến cứu độ và cầm gươm của Thánh Thần, (tức là lời của Thiên Chúa).
Bằng mọi lời cầu xin và khẩn nguyện, anh em hãy nguyện cầu mọi lúc trong Thánh Thần. Hãy tỉnh thức ân cần lo việc đó, và cũng hãy cầu nguyện cho tất cả các thánh. Hãy cầu nguyện cho cả tôi nữa, để tôi được lợi khẩu khi mở miệng, và can đảm rao giảng mầu nhiệm Tin Mừng mà tôi là sứ giả ngay trong lúc phải mang xiềng xích, hầu khi rao giảng, tôi mạnh dạn nói năng như tôi phải nói.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 143, 1. 2. 9-10
Ðáp: Ôi Ðá Tảng của con, chúc tụng Chúa! (c. 1a).
Xướng: Ôi Ðá Tảng của con, chúc tụng Chúa, là Ðấng rèn luyện cho tay con biết đấu tranh, cho các ngón tay con thiện nghề chinh chiến.
Xướng: Chúa là Tình thương và là chiến luỹ, là Ðấng phù trợ và giải phóng con, Chúa là khiên thuẫn, là chỗ con nương náu. Ngài bắt chư dân phải khuất phục con.
Xướng: Ôi Thiên Chúa, con sẽ ca mừng Ngài bài ca mới, với cây đàn mười dây con sẽ ca mừng Ngài, vì Ngài đã ban cho các vua chiến thắng, đã giải phóng Ðavít là tôi tớ của Ngài.
Alleluia: x. Ep 1, 17-18
Alleluia, alleluia! – Cha của Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, đã soi lòng trí để chúng ta biết thế nào là sự cậy trông Chúa kêu gọi chúng ta. – Alleluia.
Phúc Âm: Lc 13, 31-35
“Không lẽ một tiên tri phải giết chết ngoài thành Giêrusalem?”
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Trong ngày ấy, có mấy người biệt phái đến gần thưa Chúa Giêsu rằng: “Xin Thầy lên đường và đi khỏi đây, vì Hêrôđê toan giết Thầy”. Người trả lời: “Các ông hãy đi nói với con cáo đó rằng: “Ðây Ta trừ quỷ và chữa lành bệnh tật hôm nay và ngày mai, rồi ngày thứ ba Ta hoàn tất cuộc đời. Nhưng hôm nay, ngày mai và ngày hôm sau nữa, Ta còn phải đi đường, vì không lẽ một tiên tri bị giết chết ngoài thành Giêrusalem”.
“Ôi Giêrusalem, Giêrusalem! Ngươi giết hại các tiên tri và ném đá những người đã được sai đến cùng ngươi. Ðã bao lần Ta muốn tụ họp con cái ngươi, như gà mẹ ấp ủ gà con dưới cánh, thế mà ngươi đã không muốn. Thì đây, nhà các ngươi sẽ bị bỏ hoang vu. Nhưng Ta bảo cho các ngươi hay: Các ngươi sẽ không còn xem thấy Ta, cho đến khi các ngươi sẽ nói rằng: “Chúc tụng Ðấng nhân danh Chúa mà đến!”
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin nhìn đến lễ vật chúng con dâng để tỏ lòng kính tôn thần phục và xin cho lễ tạ ơn này góp phần làm vinh danh Chúa. Chúng con cầu xin…
Ca hiệp lễ
Xin cho chúng tôi được hân hoan mừng Chúa chiến thắng, và nhân danh Thiên Chúa, chúng tôi nâng cao ngọn cờ.
Hoặc đọc:
Đức Kitô đã yêu thương chúng ta, và đã phó mình làm của lễ tế thơm tho ngọt ngào dâng lên Thiên Chúa vì chúng ta.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, xin cho chúng con được hưởng nhờ trọn vẹn ơn thiêng của bí tích chúng con vừa cử hành để nhờ thánh lễ tưởng niệm Ðức kitô chịu thương khó, chúng con được sống lại với Người. Người hằng sống và hiển trị muôn đời…
BƯỚC ĐI CỦA NIỀM TIN VÀ TÌNH YÊU TRONG SỰ QUAN PHÒNG CỦA THIÊN CHÚA
Cuộc hành trình trần世 của mỗi người tín hữu là một chuỗi những tháng năm đan xen giữa ánh sáng và bóng tối, giữa niềm hy vọng hân hoan và những nỗi sợ hãi bất an trước tương lai. Trong cõi đời ô trọc và đầy rẫy biến động này, con người thường dễ rơi vào cảm giác chông chênh, lạc lõng, tựa như những chiếc lá khô trước gió bão cuộc đời. Thế nhưng, giữa muôn vàn tiếng ồn ào, đe dọa và lôi kéo của thế gian, Lời Chúa luôn vang lên như một chiếc la bàn tuyệt hảo, định hướng cho tâm hồn chúng ta biết bước đi trong sự gắn kết mật thiết với Đấng Tối Cao. Mạc khải Kinh Thánh hôm nay mở ra trước mắt chúng ta một viễn cảnh sâu sắc về bản chất của sứ mạng ngôn sứ, về lòng can đảm vượt qua những cạm bẫy hiểm nguy, và trên hết, về tình yêu bao dung, nhẫn nại đến nghẹn ngào của Thiên Chúa đối với con người ngoan cố nhưng được Ngài ôm ấp trong đôi cánh vỗ chở che.
Khi nhìn vào khung cảnh Tin Mừng, ta bắt gặp một bầu không khí căng thẳng và đầy áp lực. Đức Giê-su đang rảo bước trên con đường định mệnh của Ngài, loan báo Tin Mừng cứu độ, chữa lành bệnh tật và trục xuất những thế lực tối tăm. Giữa lúc ấy, một nhóm người Pha-ri-sêu xuất hiện. Động cơ của họ có lẽ rất phức tạp và mập mờ: họ đến cảnh báo Ngài rằng Hê-rô-đê đang tìm cách giết Ngài, và khuyên Ngài hãy rời khỏi nơi đó ngay lập tức. Ở đây, chúng ta cần dừng lại để suy gẫm về tính hai mặt của lời cảnh báo này. Liệu đây là một hành động chân thành xuất phát từ sự quan tâm đến an nguy của Thầy Giê-su, hay chỉ là một mưu mô xảo quyệt của nhóm Pha-ri-sêu nhằm đẩy Ngài rời khỏi vùng ảnh hưởng của họ, hoặc làm cho Ngài khiếp sợ mà chùng bước trước sứ mạng cao cả? Dù động cơ là gì đi nữa, thì hình ảnh Hê-rô-đê được Đức Giê-su gọi bằng một danh xưng vô cùng châm biếm và chính xác: “Con cáo ấy”. Trong văn hóa Kinh Thánh cũng như ngôn ngữ bình dân thời bấy giờ, con cáo không biểu trưng cho sự uy dũng hay sức mạnh chính trị chân chính, mà đại diện cho sự xảo quyệt, tiểu nhân, nham hiểm và sống bám vào những mưu mô đen tối.
Phản ứng của Đức Giê-su trước lời đe dọa ấy thật mạnh mẽ, đanh thép nhưng cũng vô cùng bình thản. Ngài không hề nao núng, không hề chớp mắt trước quyền lực thế gian. Con Thiên Chúa không hành động theo thời gian biểu của bạo chúa, cũng chẳng khuất phục trước những lời hăm dọa tầm thường của một kẻ tiểu nhân trượng phu đắc chí ngắn ngủi. Ngài khẳng định một cách dứt khoát rằng sứ mạng của Ngài nằm trong chương trình cứu độ vĩnh cửu của Thiên Chúa Cha. Ngài đang thực hiện những công việc của lòng thương xót: trừ quỷ, chữa lành, giải thoát con người khỏi ách kìm kẹp của tội lỗi và sự dữ. Ngài tuyên bố rằng Ngài phải tiếp tục hành trình hôm nay, ngày mai, và ngày kia, cho đến khi hoàn tất trọn vẹn chương trình cứu thế. Không một thế lực trần gian nào, dù là bạo chúa Hê-rô-đê hay những kẻ thủ đoạn thâm độc, có thể làm thay đổi hay rút ngắn lịch trình cứu độ mà Thiên Chúa đã định đoạt.
Sự kiên định của Đức Giê-su mang lại cho chúng ta một bài học vô giá về lòng can đảm thiêng liêng. Trong cuộc sống hằng ngày, mỗi người chúng ta cũng thường xuyên đối diện với vô số những “con cáo” mang tên sợ hãi, hoài nghi, áp lực xã hội, hoặc những đe dọa ngầm làm chùn bước chân ta trong việc sống theo chân lý Tin Mừng. Có những lúc chúng ta cảm thấy lo sợ trước quyền lực của sự dữ, trước những bất công bủa vây, hay trước những thế lực đang tìm cách bóp nghẹt tiếng nói của lương tâm và đức tin. Đức Giê-su mời gọi chúng ta hãy ngước nhìn lên Ngài để học lấy sự phó thác tuyệt đối. Cu đời chúng ta không nằm trong sự định đoạt ngẫu nhiên của số phận, cũng chẳng bị chi phối hoàn toàn bởi những mưu mô độc ác của con người, nhưng nằm trọn trong lòng bàn tay quan phòng đầy yêu thương của Thiên Chúa. Khi chúng ta kiên tâm bước đi trên con đường sự thật và bác ái, không một sức mạnh nào có thể tước đoạt đi ý nghĩa đích thực của cuộc đời chúng ta cho đến khi chúng ta hoàn tất trọn vẹn sứ mạng mà Chúa đã trao phó.
Điểm đến cuối cùng trong hành trình của Đức Giê-su không phải là một vùng đất xa xôi nào khác, mà chính là Giê-ru-sa-lem. Tại sao lại là Giê-ru-sa-lem? Thành phố này trong lịch sử cứu độ mang một sứ điệp vô cùng mâu thuẫn và đầy kịch tính. Giê-ru-sa-lem là Thành Thánh, là trung tâm tôn thờ Thiên Chúa, là nơi ngự trị của Đền Thờ linh thánh, là niềm tự hào của cả dân tộc Ít-ra-en. Thế nhưng, trớ trêu thay, Giê-ru-sa-lem đồng thời cũng là “thành phố giết các ngôn sứ và ném đá những kẻ được sai đến cùng nó”. Đây là hình ảnh thu nhỏ của một tấm lòng chai đá, một cộng đoàn khép kín trước ơn sủng, nơi con người có vẻ như đang tôn thờ Thiên Chúa bằng môi miệng, nhưng lại khước từ và tiêu diệt chính những sứ giả mang thông điệp của tình yêu đích thực đến từ Thiên Chúa. Sự phản kháng này không chỉ xảy ra trong quá khứ đối với các ngôn sứ như Ê-li-a, Ê-sai-a hay Giê-rê-mi-a, mà còn đạt đến đỉnh điểm bi thảm khi chính Con Một Thiên Chúa bước vào thành phố ấy để chịu khổ nạn và chịu đóng đinh.
Trước sự cứng lòng và thái độ khước từ mang tính bi kịch này, phản ứng của Đức Giê-su không phải là sự tức giận, nguyền rủa hay trả thù, mà là một tiếng kêu xé lòng thấm đẫm nỗi đau thương và tình yêu thương vô bờ bến: “Giê-ru-sa-lem, Giê-ru-sa-lem, thành phố giết các ngôn sứ và ném đá những kẻ được sai đến cùng ngươi! Đã bao lần ta muốn tụ họp con cái ngươi lại, như gà mái gom gà con dưới cánh, mà các ngươi không chịu!” Ôi, một hình ảnh đẹp đẽ, dịu dàng và cảm động biết bao! Đức Giê-su không ví mình như một vị tướng quân hùng hổ xua quân dẹp loạn, cũng không xuất hiện như một quan tòa nghiêm khắc sẵn sàng giáng họa tru di diệt tộc, mà Ngài tự ví mình như một con gà mái hiền từ, dung dị, sẵn sàng xòe rộng đôi cánh để che chở, ấp ủ, bảo bọc đàn con nhỏ trước những cơn giông bão hiểm nguy của cuộc đời.
Hình ảnh gà mái gom gà con dưới cánh nói lên tất cả chiều kích của tình yêu tự hiến. Con gà mái không chỉ bảo vệ đàn con bằng sự ấm áp của thân mình, mà trong những trường hợp nguy hiểm tột cùng như hỏa hoạn hay thú dữ tấn công, nó sẵn sàng hy sinh mạng sống chính mình để che chở cho đàn con được sống. Đó chính là dung mạo đích thực của Thiên Chúa: một Thiên Chúa chịu tổn thương vì yêu, một Thiên Chúa khao khát quy tụ con cái trong sự hiệp nhất và bình an, một Thiên Chúa nhẫn nại đợi chờ dẫu cho con người liên tục quay lưng, phản bội và từ chối ơn cứu độ. Ngài đau xót không phải vì sự bất kính đối với bản thân Ngài, mà vì chính sự bất hạnh mà con người tự chuốc lấy khi từ khước nguồn mạch của sự sống và tình yêu.
Sự từ chối ấy tất yếu dẫn đến những hậu quả đau thương. Đức Giê-su thốt lên lời tiên tri đầy ám ảnh: “Này, nhà các ngươi sẽ bị bỏ mặc cho các ngươi”. Căn nhà ở đây chính là Đền Thờ Giê-ru-sa-lem – niềm kiêu hãnh rực rỡ của tôn giáo thời bấy giờ. Khi con người tự cô lập mình khỏi tình yêu của Thiên Chúa, khi họ biến đền thờ thành nơi buôn bán, thành sào huyệt của sự giả hình và bạo lực, thì vinh quang của Thiên Chúa sẽ rút đi, để lại một cấu trúc trống rỗng, khô cằn và cuối cùng sụp đổ hoàn toàn. Lời tiên tri này đã ứng nghiệm bi thảm vào khoảng bốn mươi năm sau, khi thành Giê-ru-sa-lem và Đền Thờ bị quân đội La Mã tàn phá bình địa, không còn hòn đá nào trên hòn đá nào. Đây là bài học cảnh tỉnh muôn đời cho mỗi tâm hồn chúng ta: một đời sống đạo hình thức, vắng bóng tình yêu chân thực và sự hoán cải nội tâm thì sớm muộn gì cũng trở thành một ngôi nhà hoang phế, mất đi sức sống thần linh và chìm trong cảnh hoang tàn thiêng liêng.
Tuy nhiên, câu chuyện không khép lại hoàn toàn trong sự tuyệt vọng đen tối. Đức Giê-su đã mở ra một chân trời hy vọng ở phần cuối đoạn Tin Mừng: “Và Ta bảo thật các ngươi, các ngươi sẽ không còn thấy ta nữa cho đến thời điểm các ngươi sẽ nói: Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa!” Câu nói này mang một ý nghĩa kép vô cùng sâu sắc. Thứ nhất, nó hướng về khung cảnh tương lai gần, khi Đức Giê-su tiến vào thành Giê-ru-sa-lem trong tiếng tung hô “Hosanna! Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa” của đám đông vào ngày lễ Lá. Thứ hai, và sâu xa hơn thế nữa, nó hướng về cánh chung, ngày mà mọi đầu gối phải bái quỳ và mọi miệng lưỡi sẽ tuyên xưng vinh quang của Đức Ki-tô trong ngày quang lâm trở lại. Dù con người có bất trung, dù thế giới có khước từ, thì kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa vẫn sẽ đạt tới tận cùng vinh quang của nó. Đấng bị loại trừ nay sẽ trở thành viên đá góc tường tuyệt hảo, Đấng chịu chết trên thập giá nay sẽ phục hồi muôn vật trong ánh sáng phục sinh rạng ngời.
Từ những mạch nguồn suy tư này, khi chiếu giọi vào đời sống thực tế của người tín hữu hôm nay, chúng ta thấy mình được mời gọi bước vào một cuộc canh tân nội tâm mạnh mẽ. Thế giới hiện đại cũng đang rẫy đầy những “thành phố Giê-ru-sa-lem” thu nhỏ bên trong tâm hồn mỗi người và trong lòng xã hội chúng ta đang sống. Đó là nơi ngự trị của sự ích kỷ, lòng hận thù, sự dửng dưng vô cảm trước nỗi đau của đồng loại, và sự khước từ những giá trị luân lý cao đẹp mà Thiên Chúa đã khắc ghi vào bản tính con người. Chúng ta thường xuyên xây những bức tường kiên cố để ngăn cách bản thân với tha nhân, để tự bảo vệ cái tôi ích kỷ, và vô tình chúng ta cũng đang đóng cửa tâm hồn trước tiếng gọi dịu ngọt của Đấng đang mong mỏi gom tụ chúng ta dưới đôi cánh tình yêu của Ngài.
Nhiều lúc trong cuộc sống, chúng ta giống như những chú gà con bướng bỉnh, thích chạy lang thang ra khỏi sự bảo bọc an toàn của đôi cánh mẹ để lao vào những cạm bẫy hào nhoáng của trần gian, để rồi chuốc lấy những vết thương rớm máu, sự cô đơn cùng cực và nỗi thất vọng não nề. Thế nhưng, tình yêu của Thiên Chúa chưa bao giờ thay đổi. Ngài vẫn kiên nhẫn đứng đó, mở rộng đôi tay trên thập giá, chờ đợi chúng ta quay trở về. Ngài không trách cứ những sai lầm quá khứ của chúng ta, nhưng chỉ mong ước một tâm hồn khiêm tốn nhận ra sự yếu đuối của mình để sà vào lòng Ngài. Sự hoán cải đích thực bắt đầu từ khoảnh khắc chúng ta chịu dừng lại những bước chân lầm lạc, lắng nghe tiếng nói thầm kín của ơn thánh tri ân, và thưa lên rằng: “Lạy Chúa, xin hãy gom tụ con lại, xin hãy che chở con dưới bóng đôi cánh Ngài, bởi vì ngoài Ngài ra, con chỉ là tro bụi và hư vô”.
Hơn thế nữa, bài học từ Đức Giê-su đối với thành Giê-ru-sa-lem cũng đặt ra cho mỗi chúng ta trách nhiệm của một ngôn sứ giữa lòng trần thế. Người môn đệ của Đức Ki-tô không được phép sống dửng dưng trước nỗi đau của thời đại. Chúng ta được sai đến để loan báo sự thật, để chữa lành những bất công, và để xây dựng nền văn minh của tình thương. Sứ mạng này chắc chắn sẽ gặp phải sự chống đối, sự hiểu lầm, thậm chí là sự bách hại từ một thế giới ưa chuộng bóng tối và sự dối trá. Thế nhưng, giống như Thầy Chí Thánh, chúng ta không được phép sợ hãi hay chùng bước trước những “con cáo” đầy xảo quyệt của xã hội đương đại. Lòng can đảm của người kitô hữu không dựa vào sức mạnh bạo lực hay quyền lực trần thế, mà kín múc từ nguồn ơn sủng thâm sâu của Thiên Chúa – Đấng nắm giữ trong tay lịch sử và định đoạt số phận của muôn loài.
Chúng ta cũng cần suy ngẫm về cách thức chúng ta đối diện với những người xung quanh, đặc biệt là những người gây tổn thương cho chúng ta hoặc những người đang sống xa cách với Thiên Chúa. Phản ứng tự nhiên của con người xác thịt thường là sự trả đũa, sự giận dữ hay thái độ loại trừ. Thế nhưng, tinh thần của Đức Giê-su dạy chúng ta một con đường hoàn toàn khác: con đường của lòng xót thương, sự kiên nhẫn và lời cầu nguyện không nguôi. Khi nhìn một thế giới đang đau khổ và lầm đường lạc lối, thay vì lên án hay nguyền rủa, chúng ta được mời gọi hãy khóc thương cho nó như Đức Giê-su đã từng khóc thương cho thành Giê-ru-sa-lem. Một trái tim biết xót thương là một trái tim phản chiếu trọn vẹn khuôn mặt nhân hậu của Cha trên trời. Khi chúng ta mở rộng lòng mình ra để ôm lấy anh chị em bằng tình yêu hy sinh, chúng ta đang trở thành nhịp cầu nối ơn cứu độ của Thiên Chúa đến với những mảnh đời đang khao khát ánh sáng.
Cuộc đời của chúng ta là một hành trình dài đi tìm kiếm sự bình an đích thực. Sự bình an ấy không phải là sự vắng bóng hoàn toàn của gian nan thử thách, mà là sự xác tín thẳm sâu rằng dù có chuyện gì xảy ra đi nữa, chúng ta vẫn luôn nằm trong sự quan phòng vô biên của Thiên Chúa. Những biến cố bất ngờ, những đau khổ thể xác hay tinh thần, những mất mát tưởng chừng như không thể vượt qua, đôi khi lại là những nhát cuốc sắc bén để phá vỡ lớp đất chai cứng trong tâm hồn chúng ta, giúp cho hạt giống đức tin được nảy mầm và trổ sinh hoa trái dồi dào. Không có đau khổ nào là vô nghĩa trong chương trình của Thiên Chúa nếu chúng ta biết kết hợp nó với cuộc khổ nạn cứu chuộc của Đức Giê-su Ki-tô. Mọi nước mắt sẽ được lau khô, mọi vết thương sẽ được chữa lành, và cuối cùng, tình yêu sẽ chiến thắng sự hận thù, sự sống sẽ nuốt chửng sự chết.
Giờ đây, khi hướng tâm hồn về phía trước, chúng ta hãy tự hỏi chính mình: Tôi đang để cho ai dẫn dắt cuộc đời tôi? Tôi đang nấp dưới đôi cánh bảo bọc của Thiên Chúa hay đang tự lao mình vào những cạm bẫy hiểm nguy của thế gian? Trái tim tôi có đang là một “Giê-ru-sa-lem” khép kín, chai đá trước ơn sủng, hay là một ngôi nhà rộng mở đón tiếp Đấng hằng gõ cửa tâm hồn mỗi ngày? Câu trả lời nằm ở sự tự do quyết định của chính mỗi người chúng ta. Cuộc sống ngắn ngủi này là cơ hội duy nhất để chúng ta tập tành yêu thương, tập tành sống theo chân lý, và chuẩn bị tâm hồn để bước vào thành thánh vĩnh cửu trên trời.
Ước gì qua những lời suy niệm này, ánh sáng Lời Chúa thấm nhập vào từng ngóc ngách của tâm hồn chúng ta, soi rọi những góc khuất tăm tối, gột rửa những vết nhơ của tội lỗi và lười biếng thiêng liêng. Xin cho mỗi người chúng ta, dẫu phải đối diện với muôn vàn giông bão, thử thách và đe dọa của cuộc sống trần thế, vẫn luôn giữ vững một niềm tin kiên định, một lòng cậy trông tuyệt đối vào sự quan phòng của Thiên Chúa Cha. Xin cho chúng ta biết khiêm tốn nép mình dưới đôi cánh che chở của Đức Giê-su, để trong vòng tay yêu thương của Ngài, chúng ta tìm lại được sự bình an đích thực, sức mạnh nội tâm và lòng can đảm để bước đi trọn vẹn sứ mạng mà Ngài đã tin tưởng trao phó cho mỗi người chúng ta trong cuộc đời này.
Lm. Anmai, CSsR
MẶC LẤY TOÀN BỘ ÁO GIÁP CỦA THIÊN CHÚA ĐỂ ĐỨNG VỮNG TRƯỚC MƯU MƯỚC CỦA KẺ THÙ
Kính thưa cộng đoàn phụng vụ, cuộc đời của người tín hữu Kitô giáo từ khi bước xuống dòng nước Thanh Tẩy không bao giờ là một chuỗi ngày nghỉ ngơi nhàn hạ hay một cuộc dạo chơi bình yên giữa trần thế. Trái lại, Kinh Thánh và truyền thống sống đạo chân chính luôn nhắc nhở chúng ta rằng: đời sống đức tin là một cuộc chiến thiêng liêng trường kỳ, khốc liệt và không có chỗ cho sự lơ là, chểnh mảng. Cuộc chiến này không diễn ra trên những chiến trường gươm giáo khói lửa của loài người, nhưng diễn ra trong chiều sâu của tâm hồn, nơi quyền lực của ánh sáng và bóng tối giao tranh từng giờ từng phút. Để có thể đứng vững và chiến thắng trong trận chiến này, Thiên Chúa không hề để chúng ta bơ vơ hay tay không tấc sắt. Ngài đã ban cho chúng ta thứ vũ khí tối tân nhất, bền chắc nhất và quyền năng nhất, đó chính là “toàn bộ áo giáp của Thiên Chúa”.
Nhìn lại lịch sử cứu độ cũng như trang Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy Chúa Giêsu Kitô – Vị Thủ Lãnh tối cao của chúng ta – đã bước vào giữa lòng thế gian này với một tinh thần dũng mãnh phi thường, bất chấp mọi đe dọa từ quyền lực trần thế. Khi hay tin Hêrôđê đang tìm cách mưu sát Ngài, Chúa Giêsu không hề nao núng hay run sợ trước sự xảo quyệt và hung tàn của kẻ cầm quyền mà Ngài ví như một con “chồn” xảo quyệt. Ngài hiên ngang gửi lời đáp trả khẳng định sứ mạng cứu độ của Thiên Chúa không một ai có thể ngăn cản: Ngài vẫn tiếp tục công cuộc trừ quỷ, chữa lành hôm nay, ngày mai, và ngày thứ ba sẽ hoàn tất mục đích tối cao của mình. Chúa Giêsu biết rõ định mệnh của một ngôn sứ không thể bỏ mình ngoài Giêrusalem, và Ngài bước đi trong sự phó thác trọn vẹn vào ý định của Chúa Cha.
Tuy nhiên, đằng sau sự cứng cỏi, tàn ác và những mưu mô của Hêrôđê hay những kẻ chống đối, Chúa Giêsu nhìn thấu một thực tại bi thảm hơn nhiều: đó là sự chi phối của các thần dữ, của các chủ quyền và thế lực tối tăm đang ngự trị nơi tâm hồn con người. Ngài đã phải rơi lệ thương xót cho Giêrusalem – thành trì thánh thiện nơi đáng lẽ phải ngập tràn bình an và tình yêu thương, lại trở thành nơi chối bỏ, ném đá và sát hại các ngôn sứ. Chúa Giêsu đã thốt lên những lời đầy xót xa: “Hỡi Giêrusalem, Giêrusalem, ngươi giết các ngôn sứ và ném đá những kẻ được sai đến cùng ngươi! Đã bao lần Ta muốn tập họp con cái ngươi lại như gà mái tụ tập gà con dưới cánh, mà các ngươi lại không chịu!”.
Sự từ chối ấy không chỉ xảy ra trong quá khứ của dân Israel mà còn là tấm gương phản chiếu thực trạng của con người trong mọi thời đại. Đôi khi, chính chúng ta cũng tỏ ra “không chịu” để cho Thiên Chúa che chở, không chịu để cho lòng thương xót của Ngài biến đổi, và vô tình tự giam mình trong quyền lực của kẻ ác. Các thế lực thù địch vô hình ấy không chiến đấu với chúng ta bằng xác thịt, mà nhắm thẳng vào linh hồn, vào phẩm giá làm con Chúa, và vào ơn gọi hướng về cõi vĩnh hằng của mỗi người. Chính vì thế, thánh Phaolô Tông Đồ đã thiết tha kêu gọi các tín hữu tại Êphêsô cũng như tất cả chúng ta hôm nay: “Hãy mặc lấy toàn bộ áo giáp của Thiên Chúa, để có thể đứng vững trước những mưu chước của Ma Quỷ”.
Áo giáp của Thiên Chúa không phải là thứ trang bị bằng đồng hay bằng sắt lạnh ngắt của thế gian, mà là chính ơn sủng, quyền năng và những nhân đức mà Chúa Kitô đã trao ban cho Hội Thánh. Để hiểu rõ cách thức chiến đấu và bảo vệ bản thân, chúng ta hãy cùng nhau chiêm ngắm sáu phần của bộ áo giáp thiêng liêng này dưới ánh sáng của Lời Chúa và truyền thống phụng vụ thánh thiêng.
Phần thứ nhất của bộ áo giáp chính là chiếc thắt lưng mang tên “Sự Thật”. Thánh Phaolô dạy chúng ta hãy đứng vững với thắt lưng là sự thật. Trong đời sống người chiến sĩ cổ đại, chiếc thắt lưng đóng vai trò giữ cho tấm áo dài rộng được gọn gàng, tạo sự uyển chuyển, linh hoạt trong chuyển động và đồng thời là nơi giắt gươm báu sẵn sàng chiến đấu. Ở bình diện thiêng liêng, sống trong sự thật có nghĩa là chúng ta phải đón nhận chân lý mạc khải của Thiên Chúa, từ bỏ mọi sự gian dối, giả hình và sống đúng với bản chất của người con thảo. Đặc biệt, khu vực thắt lưng còn tượng trưng cho sự thanh sạch và đức khiết tịnh. Kẻ thù của linh hồn – ma quỷ – rất thích tấn công con người vào địa hạt của bản năng, biến tình yêu cao quý mà Thiên Chúa hằng mong ước thành thứ dục vọng ích kỷ, biến con người từ chỗ là kẻ bảo vệ, hiến thân vì người khác trở thành kẻ chiếm đoạt và hủy hoại tha nhân. Do đó, việc thắt lưng bằng sự thật chính là cam kết sống trung thực với chính mình, với tha nhân và với Thiên Chúa, gìn giữ tâm hồn và thân xác trong sự trong sạch để không bị những lời gian dối của ma quỷ đánh lừa.
Phần thứ hai vô cùng quan trọng để bảo vệ những bộ phận chí tử của cơ thể chính là “Đức Giác Ngộ và Sự Công Chính” được ví như chiếc áo giáp che ngực. Ngực là nơi ngự trị của trái tim, trung tâm của sự sống và tình cảm. Ma quỷ luôn tìm cách bắn những mũi tên căm hờn, oán giận, hoài nghi và cay đắng vào tâm hồn chúng ta để làm cho trái tim trở nên chai đá, vô cảm trước nỗi đau của anh chị em. Chiếc áo giáp công chính chính là sự ngay thẳng trước mặt Thiên Chúa và sự công bình trong quan hệ với tha nhân. Khi chúng ta sống đời sống thánh thiện, tuân giữ giới răn của Chúa và thực thi bác ái, tâm hồn chúng ta được bảo bọc vững chắc. Sự công chính của Thiên Chúa trở thành lá chắn nội tâm giúp trái tim không bị lung lay trước những lời vu khống, cáo buộc hay những cám dỗ buông xuôi trong tội lỗi.
Phần thứ ba liên quan đến đôi chân của chúng ta: “Đôi chân đi giày sẵn sàng rao giảng Tin Mừng bình an”. Trong thế giới cổ đại, đôi giày sandal là dấu hiệu của sự tự do, bởi vì những kẻ nô lệ thường phải đi chân trần để không thể chạy trốn. Đối với người Kitô hữu, đôi giày sẵn sàng ấy không chỉ mang ý nghĩa tự do thoát khỏi ách nô lệ của tội lỗi, mà còn là sự hăng say lên đường, dấn thân đem bình an của Chúa đến cho mọi ngõ ngách của cuộc đời. Người chiến sĩ của Chúa không được phép chần chừ, lười biếng hay chôn chân trong sự ích kỷ cá nhân. Sự lười biếng chính là xưởng thợ của ma quỷ; vì thế, giữ cho đôi chân luôn bước đi trong sứ mạng loan báo Tin Mừng, làm những việc thiện hảo và phục vụ tha nhân chính là phương thế tuyệt vời để đẩy lùi mọi cám dỗ rã rời, chán nản trong đời sống thiêng liêng.
Phần thứ tư mang ý nghĩa quyết định trong những giờ phút thử thách cam go nhất: “Khiên Mộc của Đức Tin”. Thánh Phaolô sử dụng từ ngữ chỉ loại khiên lớn, che chở toàn bộ thân hình của người chiến sĩ trước những mũi tên tẩm lửa dữ dội của kẻ thù. Những mũi tên lửa ấy chính là những ý nghĩ tuyệt vọng, những nghi ngờ về tình thương của Thiên Chúa, những cám dỗ cho rằng tội lỗi là ngọt ngào và Thiên Chúa không hề quan tâm đến sự khốn khổ của con người. Từ thời ông bà nguyên tổ trong vườn Địa Đàng cho đến nay, ma quỷ vẫn luôn dùng chiếc nỏ gian xảo để bắn vào tâm trí loài người sự hoài nghi: “Liệu Thiên Chúa có thực sự yêu thương bạn không? Liệu tuân giữ lề luật có ích gì?”. Để dập tắt hoàn toàn những mũi tên lửa ấy, không có cách nào khác ngoài việc cầm chắc chiếc khiên đức tin – đó là sự phó thác tuyệt đối vào quyền năng, lòng nhân hậu và sự quan phòng của Thiên Chúa, tin tưởng vào mọi chân lý mà Hội Thánh hằng gìn giữ và truyền lại.
Phần thứ năm bảo vệ phần cao quý và quan trọng nhất của lý trí con người chính là “Chiếc Mũ Sắt của ơn Cứu Độ”. Tâm trí con người là chiến trường khốc liệt nơi các dòng tư tưởng giao tranh. Ma quỷ luôn tìm cách nhồi sọ chúng ta bằng tinh thần thế tục, bằng sự hoài nghi về ơn cứu chuộc, hoặc ngược lại, làm cho chúng ta rơi vào ảo tưởng rằng ơn cứu độ là điều hiển nhiên, ai muốn sống thế nào cũng được cứu rỗi mà không cần ơn thánh hay sự hối cải. Đội chiếc mũ sắt của ơn cứu độ nghĩa là chúng ta luôn suy gẫm về công trình cứu chuộc diệu kỳ mà Đức Giêsu Kitô đã thực hiện qua cuộc khổ nạn và cái chết thập giá của Ngài. Tâm trí chúng ta phải được lấp đầy bởi ý thức về ơn gọi thiên triệu, về sự thánh hóa bản thân và niềm hy vọng vĩnh cửu. Đây cũng là hình ảnh quen thuộc trong phụng vụ thánh hiêng, khi các linh mục khi mặc chiếc áo amít che đầu trước khi cử hành Thánh Lễ đã dâng lời cầu xin Chúa đặt lên đầu chiếc mũ sắt cứu độ để chiến thắng mọi mưu chước của Satan.
Và phần vũ khí cuối cùng mang tính chủ động tấn công và phòng thủ đồng thời chính là “Gươm của Thần Khí, tức là Lời Thiên Chúa”. Gươm là thứ vũ khí vừa dùng để đỡ đòn vừa dùng để phản công khi giáp lá cà. Trong sa mạc, Chúa Giêsu đã dùng chính Lời Chúa để đánh bại những chước cám dỗ tinh vi của tên cám dỗ. Lời Chúa không phải là những trang sách chết nằm yên trên kệ, mà là gươm thiêng sắc bén được chính Chúa Thánh Thần đặt vào miệng và tâm trí chúng ta. Khi chúng ta siêng năng gẫm suy, học hỏi và thuộc lòng Lời Chúa, Thánh Thần sẽ nhắc nhở chúng ta sử dụng Lời ấy đúng lúc để xua tan bóng tối u ám của nghi kỵ, buồn sầu và tội lỗi. Lời Chúa có sức mạnh phơi bày sự thật, thanh luyện tâm hồn và hướng dẫn chúng ta đi trọn con đường vẹn toàn nhân đức.
Tuy nhiên, tất cả những phần áo giáp ấy sẽ trở nên vô nghĩa nếu thiếu đi sức mạnh kết nối tối cao, đó chính là “Lời Cầu Nguyện”. Thánh Phaolô nhấn mạnh rằng chúng ta phải luôn luôn cầu nguyện trong Thánh Thần, với mọi lời van xin và khẩn nài, phải tỉnh thức và kiên trì cầu nguyện cho hết thảy các thánh nhân và cho cả các thừa tác viên của Tin Mừng. Cầu nguyện chính là nhịp đập của trái tim người Kitô hữu hướng về Thiên Chúa. Nhờ đời sống cầu nguyện bền bỉ, chúng ta mới có thể siết chặt thắt lưng sự thật, giữ vững lòng công chính, xỏ chân vào giày Tin Mừng, giương cao khiên đức tin, đội mũ sắt cứu độ và tung gươm Lời Chúa một cách hiệu quả nhất. Cầu nguyện biến chúng ta từ những con người yếu đuối mong manh thành những chiến sĩ dũng mãnh của Đấng Tối Cao.
Nhìn lại hành trình đức tin của chính mình, mỗi người chúng ta được mời gọi tự vấn xem bộ áo giáp của Thiên Chúa trên người chúng ta có đang bị rỉ sét, có chỗ nào bị bỏ quên hay chúng ta đang tự mãn cởi bỏ từng phần vì nghĩ rằng thời bình đã đến? Cuộc chiến thiêng liêng không bao giờ nghỉ ngơi. Thế giới chung quanh chúng ta đang ngập tràn những cạm bẫy tinh vi của chủ nghĩa thực dụng, sự vô luân, lòng ích kỷ và sự dửng dưng đối với ơn thánh. Những thế lực tối tăm vẫn đang ngày đêm rình rập để đánh cắp niềm hy vọng và sự bình an trong tâm hồn các gia đình, các bạn trẻ và từng người trong cộng đoàn chúng ta.
Chính trong hoàn cảnh đó, chúng ta không được phép hoảng sợ hay buông xuôi, bởi vì như Thánh Vịnh 144 đã ca tụng: “Chúc tụng Chúa là Đá Tảng của tôi, Đấng luyện tay tôi cho chiến trận, luyện ngón tay tôi cho giao tranh!”. Ngài chính là Đấng xót thương, là thành lũy, là đồn lũy cứu độ, là khiên mộc chở che chúng ta trong mọi cơn gian truân. Khi chúng ta quy tụ lại trong cử hành Thánh Thể này, chúng ta đang đến với Đấng là nguồn mạch mọi sức mạnh thiêng liêng. Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết trên cây thập giá, đang hiến mình làm lương thực nuôi dưỡng chúng ta, để biến đổi tâm hồn chúng ta nên đồng hình đồng dạng với Ngài.
Hãy để cho Chúa Giêsu tập hợp chúng ta lại dưới đôi cánh yêu thương của Ngài, như gà mẹ ấp ủ gà con, thay vì cứng lòng từ chối ơn cứu độ. Hãy can đảm bước ra khỏi những mờ tối của tội lỗi, mặc lấy toàn bộ áo giáp của Thiên Chúa bằng một đời sống đức tin kiên định, lòng ái mộ sự thật, thực thi công chính, hăng say loan báo Tin Mừng, cầm chắc khiên đức tin và không ngừng dâng lời cầu nguyện thiết tha trong Thánh Thần.
Giống như vị Tông Đồ dân ngoại đã mạnh mẽ tuyên bố vào những giờ phút cuối đời sau một cuộc chiến đấu rạng ngời: “Tôi đã đấu trong cuộc chiến đấu cao đẹp, đã chạy đến đích, đã giữ vững niềm tin”, chúng ta cũng hãy tiến bước với niềm hy vọng vững vàng rằng ơn thắng trận thuộc về những ai kiên trì đến cùng trong ơn nghĩa Chúa. Nguyện xin Thiên Chúa là Đá Tảng và là Đấng cứu độ hằng ban ơn lực, củng cố ý chí và gìn giữ bước chân chúng ta trên đường ngài. Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa!
Lm. Anmai, CSsR
KHÔNG GIAN CỦA TÌNH YÊU THƯƠNG VÀ SỰ KIÊN TRÌ: TIẾNG GỌI ĐƯỢC THU HÚT VÀO TRÁI TIM THIÊN CHÚA
Kính thưa quý cộng đoàn và anh chị em thân mến, trong hành trình đức tin đầy ắp những thăng trầm, thử thách, đôi khi chúng ta dễ cảm thấy đơn độc, mệt mỏi và chông chênh trước những giông bão của cuộc đời. Cuộc sống hiện đại với biết bao áp lực, những nỗi lo toan cơm áo gạo tiền, những vết thương lòng do sự bất hòa, chia rẽ và cả những hiểm nguy rình rập từ sự dữ xung quanh đôi khi làm cho tâm hồn chúng ta chai sạn, khép kín và hoài nghi. Tuy nhiên, chính trong những khoảnh khắc tăm tối và bấp bênh nhất ấy, Lời Chúa lại vang lên như một nguồn sáng chiếu rọi, một hơi ấm sưởi ấm tâm hồn, khẳng định một chân lý tuyệt đối: Thiên Chúa không hề đứng ngoài cuộc đời chúng ta; Ngài hằng khao khát quy tụ, ôm ấp và kéo mỗi người chúng ta trở về sát bên trái tim đầy xót thương của Ngài.
Hình ảnh Chúa Giêsu bước đi hiên ngang hướng về Giê-rusalem dẫu biết trước những gian nan, khổ hình và cái chết đang chờ đợi Ngài là một bài học vô giá về sự kiên định trong sứ mạng. Khi đối diện với những lời cảnh báo đầy đe dọa từ những kẻ quanh đó về âm mưu của Hê-rô-đê, Chúa Giêsu không hề nao núng, không tìm cách trốn chạy hay co cụm lại để bảo vệ sự an toàn ích kỷ của bản thân. Ngài thản nhiên đáp lại bằng một thái độ quyết đoán, xác quyết rằng sứ mạng của Ngài phải được hoàn tất theo đúng chương trình yêu thương của Chúa Cha. Ngài vẫn tiếp tục hành trình, chữa lành những mảnh đời đau khổ, rao giảng Tin Mừng và đối diện với định mệnh cứu chuộc nhân loại bằng một trái tim hoàn toàn phó thác.
Sự kiên trì của Chúa Giêsu không phải là sự lì lợm hay mù quáng, mà là biểu hiện trọn vẹn của tình yêu dấn thân tuyệt đối. Ngài biết rằng con đường dẫn đến vinh quang của sự Phục Sinh bắt buộc phải đi qua thập giá. Ngài không quản ngại khó khăn, không chùn bước trước nghịch cảnh, bởi vì ánh mắt Ngài luôn hướng về ý định cứu độ của Thiên Chúa Cha và niềm khát khao cháy bỏng muốn cứu chuộc từng linh hồn. Trong cuộc sống của mỗi người chúng ta hôm nay, bài học về sự kiên trì trong sứ mạng Kitô hữu mang một ý nghĩa vô cùng thiết thực. Biết bao lần chúng ta nản lòng trước những thất bại trong công việc, những rạn nứt trong gia đình, hay những lúc cảm thấy đức tin của mình bị lung lay bởi trào lưu tục hóa. Chúng ta muốn buông xuôi, muốn đầu hàng nghịch cảnh và tự nhủ rằng việc sống theo Lời Chúa giữa một thế giới đầy dẫy sự ích kỷ này là điều quá sức. Nhưng chính lúc ấy, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy ngước nhìn lên Ngài, Đấng không bao giờ bỏ cuộc trên đường lên Giê-rusalem. Sức mạnh để chúng ta tiếp tục bước đi không đến từ tài năng hay sức lực cạn kiệt của bản thân, mà đến từ việc chúng ta cho phép Đấng Phục Sinh đồng hành, cầm tay và nâng đỡ chúng ta qua từng bước chân của cuộc đời.
Điều kỳ diệu và cảm động nhất trong mạc khải về tình yêu Thiên Chúa chính là chiều kích nội tâm đầy dịu dàng và thương xót của Người, được diễn tả qua tiếng kêu than đầy thổn thức của Chúa Giêsu đối với thành Giê-rusalem: “Hỡi Giê-rusalem, Giê-rusalem, ngươi giết các tiên tri và ném đá những kẻ được sai đến cùng ngươi! Biết bao lần ta đã muốn quy tụ con cái ngươi lại như gà mái tua cánh gom gà con dưới cánh, mà các ngươi không chịu!”. Tiếng kêu ấy không mang âm hưởng của sự trách móc hay phán xét lạnh lùng, mà là tiếng lòng của một người Cha, một Đấng Cứu Độ đang đau đớn trước sự khước từ của chính những người con mà Ngài hết lòng yêu dấu. Hình ảnh gà mái gom gà con dưới cánh là một trong những hình ảnh đẹp đẽ, gần gũi và sâu sắc nhất trong Kinh Thánh để diễn tả bản chất của Thiên Chúa. Gà mái không chỉ che chở con mình khỏi những cơn giông bão của thời tiết hay những hiểm nguy từ loài thú dữ, mà nó còn sẵn sàng hy sinh thân mình, chịu đựng tất cả để bảo vệ sự sống cho đàn con nhỏ. Thiên Chúa cũng vậy, Ngài khao khát đưa chúng ta vào không gian an toàn của tình yêu Ngài, nơi chúng ta được che chở, được yêu thương vô điều kiện và tìm thấy sự bình an đích thực cho tâm hồn.
Thế nhưng, thảm kịch lớn nhất của con người trong mọi thời đại không nằm ở chỗ Thiên Chúa từ bỏ chúng ta, mà nằm ở chỗ chính chúng ta “đã không chịu”. Chúng ta thường tự chuốc lấy sự cô đơn, bơ vơ và tổn thương khi cố tình khép cửa tâm hồn trước lời mời gọi yêu thương của Ngài. Chúng ta tìm kiếm sự an ủi, sự công nhận và hạnh phúc giả tạo ở những chốn lầm lạc bên ngoài, để rồi khi vấp ngã, khi đối diện với những giông tố thực sự của cuộc đời, chúng ta mới bàng hoàng nhận ra mình đang trơ trọi giữa một thế gian lạnh giá. Thiên Chúa tôn trọng tự do của con người đến mức Ngài không bao giờ ép buộc chúng ta phải bước vào vòng tay của Ngài. Ngài chờ đợi, Ngài gọi mời, Ngài hiện diện cách khiêm hạ trong từng biến cố của cuộc sống, và Ngài chỉ đang chờ một tiếng “xin vâng”, một sự hé mở dù là nhỏ bé nhất từ phía chúng ta để ân sủng của Ngài có thể tuôn đổ tràn trề. Để cho Thiên Chúa quy tụ chúng ta có nghĩa là chúng ta phải dũng cảm lột bỏ lớp vỏ bọc của sự tự phụ, kiêu ngạo và tự mãn. Nó đòi hỏi chúng ta phải khiêm nhường thừa nhận rằng bản thân mình bất toàn, yếu đuối và vô cùng cần đến lòng thương xót của Ngài. Khi chúng ta buông bỏ những toan tính ích kỷ, những giận hờn, ghen tị và đặt trọn niềm tin tưởng vào sự quan phòng của Ngài, chúng ta sẽ cảm nhận được sự ấm áp của đôi cánh ân sủng đang che chở, bao bọc lấy cuộc đời mình. Đó là trạng thái của một tâm hồn đã thực sự tìm thấy chốn nghỉ ngơi đích thực giữa muôn vàn bão giông của thế giới tục lụy này.
Một khía cạnh tuyệt vời khác trong bài học Tin Mừng hôm nay chính là thái độ của Chúa Giêsu đối với những kẻ thù ghét, chống đối và tìm cách hãm hại Ngài. Giê-rusalem không chỉ khước từ Ngài, mà còn là nơi sẽ đóng đinh Ngài trên cây thập giá. Những kẻ đối nghịch đang bủa vây, rình rập và tìm cách tiêu diệt sứ mạng của Ngài. Thế nhưng, trái tim của Chúa Giêsu hoàn toàn không có chỗ cho sự thù hận, sự cay đắng hay tâm lý trả thù. Ngài không đáp trả bạo lực bằng bạo lực, cũng không dùng quyền năng thiên tính để tiêu diệt những kẻ bách hại mình. Thay vào đó, Ngài đáp lại bằng tình yêu thương hy sinh tột cùng. Ngài khóc thương cho thành phố đang chìm đắm trong lầm lạc, Ngài cầu nguyện cho những kẻ đang đóng đinh Ngài, và Ngài ban ơn cứu độ cho bất kỳ ai hướng lòng về Ngài. Đây chính là chuẩn mực tối cao của đời sống Kitô hữu mà mỗi người chúng ta được mời gọi để dấn thân thực hành trong cuộc sống thường nhật. Làm thế nào để chúng ta có thể yêu thương những người khó ưa, những người đối xử bất công với chúng ta, hoặc thậm chí là những kẻ đang tìm cách hãm hại, vu khống chúng ta nơi môi trường làm việc, trong gia đình hay ngoài xã hội? Bản năng tự nhiên của con người là ăn miếng trả miếng, là nuôi dưỡng sự oán hận và tìm cách trả thù để thỏa mãn cái tôi bị tổn thương. Thế nhưng, Tin Mừng của Chúa Giêsu lại đảo ngược hoàn toàn logic trần thế ấy. Ngài dạy chúng ta rằng sự thù hận chỉ đẻ ra thêm sự thù hận, và chỉ có tình yêu thương mới có sức mạnh bẻ gãy vòng luẩn quẩn của bạo lực và tội lỗi. Khi chúng ta cầu nguyện cho những kẻ bách hại mình, khi chúng ta sẵn sàng tha thứ cho những ai xúc phạm đến chúng ta, chúng ta không chỉ đang làm ơn cho người khác, mà chính chúng ta đang giải phóng tâm hồn mình khỏi gánh nặng của sự cay đắng và thù hận. Chúng ta cho phép dòng chảy ân sủng của Thiên Chúa xuyên qua cuộc đời mình để biến đổi những góc tối thành ánh sáng, biến những vết thương thành nguồn mạch của lòng thương xót. Sống tinh thần này đòi hỏi một sự hy sinh lớn lao, một sự từ bỏ cái tôi triệt để và một nguồn ơn trợ giúp đặc biệt từ trên cao, nhưng đó lại là con đường duy nhất dẫn đến sự bình an nội tâm và phẩm giá cao quý của một người con cái Chúa.
Nhìn lại lịch sử ơn gọi của chính mình, mỗi người chúng ta cũng hãy tự hỏi bản thân xem đã bao nhiêu lần chúng ta nghe thấy tiếng Chúa gọi mời nhưng lại phớt lờ vì quá bận rộn với những mục tiêu trần thế. Chúng ta mải miết chạy theo danh vọng, tiền tài, sự thành công bên ngoài mà quên mất rằng kho báu lớn nhất và duy nhất mang lại ý nghĩa cho cuộc đời chính là mối tương quan thâm sâu, mật thiết với Thiên Chúa. Ngài đang kiên nhẫn đứng bên thềm cửa cuộc đời mỗi người, gõ cửa và chờ đợi chúng ta mở lòng. Ngài không đòi hỏi chúng ta phải hoàn hảo ngay lập tức từ bước đi đầu tiên, nhưng Ngài mong mỏi sự chân thành trong nỗ lực muốn trở về của chúng ta. Mỗi khi chúng ta sa ngã trong tội lỗi, mỗi khi chúng ta vấp ngã trước những cám dỗ ngọt ngào của thế gian, đừng bao giờ chùn bước hay sợ hãi mà chạy trốn khỏi Thiên Chúa như ông A-đam và bà Evà trong vườn Ê-đen xưa. Trái lại, chính trong những giây phút yếu đuối nhất, chúng ta càng phải chạy đến với Ngài nhiều hơn, bởi vì lòng thương xót của Ngài lớn hơn bất kỳ tội lỗi nào của nhân loại. Giống như người cha nhân hậu trong dụ ngôn người con hoang đàng, Thiên Chúa luôn ngóng trông từ đằng xa, chạy đến ôm chầm lấy chúng ta, trao ban chiếc nhẫn của phẩm giá làm con và khoản đãi chúng ta bằng bữa tiệc của tình yêu thương viên mãn.
Sự biến đổi tâm hồn này không chỉ diễn ra trong phạm vi cá nhân giữa ta với Chúa, mà nó phải được thể hiện cụ thể ra bên ngoài qua đời sống bác ái, sẻ chia với những người xung quanh. Khi chúng ta đã cảm nghiệm được sự ấm áp và an toàn dưới đôi cánh che chở của Thiên Chúa, chúng ta không thể giữ tình yêu ấy cho riêng mình. Chúng ta có sứ mạng phải trở thành những cánh tay nối dài của Thiên Chúa, đem tình yêu, sự cảm thông và lòng xót thương đến cho những mảnh đời bất hạnh, cô đơn và đang lầm lạc xung quanh chúng ta. Một người hàng xóm đang gặp khó khăn tài chính, một đồng nghiệp đang chìm đắm trong khủng hoảng tinh thần, một người thân trong gia đình đang rạn nứt tình cảm – tất cả đều là những hình ảnh phản chiếu của một Giê-rusalem đang cần được Thiên Chúa quy tụ qua chính hành động bác ái và sự hiện diện đầy yêu thương của chúng ta. Khi chúng ta sẵn sàng mở rộng trái tim, dấn thân phục vụ tha nhân không chút vụ lợi, không phân biệt đối xử, đó chính là lúc chúng ta đang thực thi ý muốn của Thiên Chúa cách trọn vẹn nhất. Cuộc đời của một Kitô hữu đích thực không đo lường bằng những thành công lớn lao về mặt vật chất hay danh tiếng hão huyền trước mặt người đời, mà được đo lường bằng mức độ chúng ta đã yêu thương đến mức nào, chúng ta đã sẵn sàng hy sinh bao nhiêu cho hạnh phúc của anh chị em đồng loại, và chúng ta đã để cho Thiên Chúa biến đổi tâm hồn mình sâu sắc ra sao.
Hành trình đức tin vì thế là một cuộc tiến bước không ngừng nghỉ về phía trước, dẫu cho con đường phía trước có thể gập ghềnh sỏi đá và chứa đựng nhiều thử thách cam go. Chúng ta được mời gọi bước đi với lòng xác tín mạnh mẽ rằng chúng ta không bao giờ cô đơn. Đấng đã kiên trì bước đi trên con đường lên Giê-rusalem, Đấng đã đổ máu mình ra để chuộc lấy sự sống cho nhân loại, vẫn đang hằng ngày bước đi bên cạnh chúng ta, cầm tay chúng ta và thì thầm những lời yêu thương vào sâu thẳm tâm hồn. Mỗi lần chúng ta tham dự vào mầu nhiệm Thánh Thể, đó chính là khoảnh khắc tuyệt diệu nhất khi Thiên Chúa thực hiện điều mà Ngài hằng khao khát: quy tụ chúng ta lại làm một trong thân thể mầu nhiệm của Ngài, nuôi dưỡng chúng ta bằng chính Thịt và Máu Người, để ban cho chúng ta sức mạnh vượt qua mọi gian khó của cuộc đời tạm bợ này. Thánh Thể chính là minh chứng hùng hồn nhất cho thấy Ngài muốn ở lại trong chúng ta và muốn chúng ta ở lại trong Ngài, trở thành một nguồn mạch tình yêu tuôn trào không ngừng nghỉ cho thế giới hôm nay.
Kính thưa quý cộng đoàn, khép lại những suy tư sâu lắng này, chúng ta hãy dâng lên Chúa một lời cầu nguyện chân thành từ đáy lòng: Lạy Chúa, xin hãy uốn nắn trái tim chai đá và ích kỷ của chúng con thành một trái tim bằng thịt, tràn đầy lòng trắc ẩn và sự bao dung giống như Trái Tim Chúa. Xin ban cho chúng con ơn can đảm để không bao giờ chùn bước trước những nghịch cảnh, thử thách của cuộc đời, nhưng luôn biết kiên trì bước đi trong sứ mạng mà Chúa đã trao phó. Xin dạy chúng con biết mở rộng đôi tay và tâm hồn để đón nhận tình yêu thương che chở của Chúa, đồng thời biết quảng đại sẻ chia tình yêu ấy cho những anh chị em chung quanh, đặc biệt là những ai đang lầm lạc, đau khổ và thù ghét chúng ta. Xin cho cuộc đời chúng con thực sự trở thành một khúc ca ngợi khen lòng thương xót Chúa, một không gian bình an để qua đó, nhiều tâm hồn mệt mỏi tìm được chốn dung thân ấm áp trong vòng tay yêu thương của người Cha nhân hậu trên trời. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
SỨ VỤ TÌNH YÊU VÀ NỖI LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA ĐẤNG CỨU THẾ
Cuộc hành trình trần thế của Con Thiên Chúa là một chuỗi dài của tình yêu hiến tế, của sự kiên trì vượt qua mọi thử thách, và trên hết là một tấm lòng xót thương vô bờ bến dành cho nhân loại tội lỗi. Khi suy ngẫm về đoạn Tin Mừng theo thánh Luca, nơi Chúa Giêsu đối diện với những lời đe dọa từ Hêrôđê và cất lên tiếng khóc thương cho thành Giêrusalem, chúng ta được mời gọi bước vào một chiều sâu tâm linh vô cùng phong phú. Đó không chỉ là câu chuyện của một thời đại lịch sử, mà là tấm gương phản chiếu chính tâm hồn mỗi người chúng ta hôm nay, trước ơn cứu độ và lòng kiên nhẫn hải hà của Thiên Chúa.
Khi những người Pharisêu đến cảnh cáo Chúa Giêsu rằng Hêrôđê đang tìm cách giết Ngài và khuyên Ngài hãy rời đi nơi khác, phản ứng của Chúa Giêsu hoàn toàn đi ngược lại với sự sợ hãi của con người. Ngài không hề nao núng, không tìm cách trốn chạy hay ẩn nấp để bảo toàn tính mạng theo bản năng sinh tồn tầm thường. Trái lại, Ngài gọi Hêrôđê là “con cáo” – một hình ảnh biểu thị sự xảo quyệt, nham hiểm nhưng đồng thời cũng nhỏ nhen trước quyền năng tối cao của Thiên Chúa. Câu trả lời của Chúa Giêsu mang một khí phách uy hùng nhưng đượm một nỗi niềm kiên định thiêng liêng: “Hãy đi mà nói với con cáo ấy rằng: Hôm nay và ngày mai tôi trừ quỷ và chữa bệnh, và đến ngày thứ ba thì tôi hoàn thành sứ mệnh.”
Sự kiên định ấy khẳng định một chân lý cốt lõi: lịch sử cứu độ không nằm trong tay của những kẻ quyền lực trần gian, dù đó là một bạo chúa như Hêrôđê hay bất kỳ thế lực hắc ám nào, mà hoàn toàn nằm trong chương trình định đoạt của Thiên Chúa Cha. Chúa Giêsu làm chủ hoàn toàn thời gian của cuộc đời Ngài. Ngài không bị chi phối bởi những lời đe dọa giết chóc, mà được dẫn dắt bởi ngọn lửa nhiệt thành thi hành ý định của Đấng đã sai Ngài đến. Mỗi ngày trôi qua đối với Ngài là một cơ hội để ban phát ơn cứu độ, để xoa dịu những đau khổ của con người qua việc trừ quỷ và chữa lành bệnh tật. Sứ vụ ấy mang tính nhịp điệu của sự dấn thân trọn vẹn: hôm nay, ngày mai, và cho đến khi hoàn tất trọn vẹn chương trình cứu chuộc trên đồi Canvê.
Điều này soi sáng cho đời sống đức tin của mỗi chúng ta trong thế giới hiện đại. Đôi khi, chúng ta dễ dàng rơi vào trạng thái sợ hãi trước những đe dọa của thế gian, trước áp lực của thời đại, trước những cạm bẫy hay sự chống đối đức tin. Chúng ta loay hoay tìm cách bảo vệ bản thân, thu mình lại trong vùng an toàn và quên đi sứ mạng ngôn sứ mà mình đã lĩnh nhận qua Bí tích Rửa tội. Nhìn lên Chúa Giêsu, chúng ta học được sự can đảm nội tâm. Can đảm không có nghĩa là liều lĩnh hay bất chấp, nhưng là sự phó thác tuyệt đối vào Thiên Chúa, sống trọn vẹn từng phút giây hiện tại để làm điều thiện, để loan báo Tin Mừng bằng chính đời sống bác ái, yêu thương và phục vụ. Không một thế lực nào có thể tước đi ý nghĩa cuộc đời của một người biết hiến dâng trọn vẹn cho chương trình của Thiên Chúa.
Tuy nhiên, hành trình của Chúa Giêsu không dừng lại ở thái độ hiên ngang trước quyền lực trần thế. Điểm chạm sâu sắc nhất trong đoạn Tin Mừng này chính là bước ngoặt chuyển từ sự kiên quyết đối mặt với hiểm nguy sang một nỗi lòng thổn thức, một tiếng kêu xé lòng dành cho thành Giêrusalem. Ngài thốt lên những lời đầy ai oán: “Giêrusalem, Giêrusalem, thành giết các ngôn sứ và ném đá những kẻ được sai đến cùng ngươi! Đã bao lần ta muốn tụ họp con cái ngươi lại như gà mái tụ họp gà con dưới cánh, mà các ngươi không chịu!”
Lời than vãn ấy không mang sắc thái của sự oán trách cay đắng, hay sự trả thù của một Đấng bị từ chối. Trái lại, đó là tiếng thở dài của một trái tim yêu thương đến cùng, một tình yêu bị khước từ nhưng vẫn cứ tha thiết dâng tràn. Hình ảnh gà mái tụ họp con cái dưới cánh là một hình ảnh đẹp đẽ, gần gũi và đầy quyền năng trong Kinh Thánh. Gà mái không chỉ che chở con cái khỏi những hiểm nguy từ trên cao như diều hâu, thú dữ, mà còn ủ ấm chúng trong vòng tay yêu thương, bảo bọc chúng bằng chính thân mình. Thiên Chúa qua hình ảnh của Chúa Giêsu đã mong mỏi điều đó đối với dân tộc Ngài, và rộng ra là với toàn thể nhân loại. Ngài không muốn một ai phải hư mất, không muốn một tâm hồn nào phải rơi vào cảnh lạc lõng, bơ vơ giữa giông bão cuộc đời. Ngài khao khát quy tụ tất cả về một mối trong sự bình an, hiệp nhất và ơn sủng.
Thế nhưng, bi kịch lớn nhất của con người nằm ở chỗ tự do mà Thiên Chúa ban tặng lại trở thành công cụ để từ chối chính Ngài. “Mà các ngươi không chịu!” – năm từ ngắn ngủi nhưng chứa đựng biết bao đớn đau, bao sự bất lực của một tình yêu đích thực bị gạt bỏ trước sự bướng bỉnh, chai đá và kiêu ngạo của con người. Thiên Chúa tôn trọng tự do của chúng ta đến mức Ngài không bao giờ dùng vũ lực để ép buộc con người phải yêu mến Ngài hay đón nhận ơn cứu độ. Ngài đứng ngoài cửa lòng và gõ cửa; Ngài chờ đợi, ngóng trông và đau khổ trước sự khước từ của con người.
Thành Giêrusalem đại diện cho tâm hồn con người bất tuân, những kẻ vì mải mê theo đuổi những giá trị trần tục, quyền lực ảo ảnh, hay sự tự mãn trong lề luật hình thức mà đánh mất khả năng nhận ra Thiên Chúa đang hiện diện ngay giữa họ. Họ đã sát hại các ngôn sứ – những sứ giả của chân lý – và giờ đây họ chuẩn bị khước từ chính Con Một Thiên Chúa. Sự khước từ ấy dẫn đến một hậu quả tất yếu đầy xót xa: “Này nhà các ngươi sẽ bị bỏ mặc cho các ngươi.” Khi con người tự ý đóng cửa lòng mình trước ơn cứu độ, họ tự đặt mình vào cảnh hoang vu thiêng liêng, nơi không còn ánh sáng của tình yêu dẫn đường, nơi chỉ còn lại sự cô độc và đổ nát nội tâm.
Suy ngẫm về hình ảnh này, mỗi người chúng ta cần dừng lại để kiểm tâm. Đã bao nhiêu lần trong cuộc đời, Chúa cũng từng muốn quy tụ chúng ta dưới cánh tay che chở của Ngài, muốn ôm ấp những tổn thương, tha thứ những lỗi lầm và ban cho chúng ta sự bình an nội tâm? Nhưng rồi, qua sự bướng bỉnh, qua lòng kiêu ngạo, qua những toan tính ích kỷ và sự dửng dưng tội lỗi, chúng ta đã nói lời từ chối với Ngài? Chúng ta tìm kiếm sự an ủi nơi những cạm bẫy trần gian, tự xây dựng cho mình những pháo đài giả tạo để rồi cuối cùng chỉ chuốc lấy sự trống rỗng và cô đơn. Tiếng khóc của Chúa Giêsu dành cho Giêrusalem hôm nay cũng chính là tiếng khóc Ngài dành cho mỗi linh hồn đang lạc lối, đang tự giam mình trong ngục tù của sự bất tuân và xa cách tình yêu Chúa.
Tuy nhiên, đoạn Tin Mừng không khép lại hoàn toàn trong sự tuyệt vọng đen tối. Dù thành Giêrusalem sẽ bị bỏ mặc, dù đền thờ sẽ đối diện với sự tàn phá, Chúa Giêsu vẫn mở ra một tia hy vọng hướng về tương lai cánh chung: “Và các ngươi sẽ không còn thấy tôi nữa, cho đến thời gian các ngươi sẽ nói: Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa!” Lời khẳng định này chứa đựng niềm tin kiên vững vào lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa. Cánh cửa lòng trí con người có thể tạm thời khép lại, nhưng tình yêu của Thiên Chúa không bao giờ cạn kiệt. Sẽ có những lúc con người phải trải qua những đau khổ, những hoạn nạn thanh luyện để nhận ra sự bất lực của chính mình, để từ đáy vực thẳm của sự cô đơn, họ cất tiếng kêu xin và trở về với Đấng cứu độ.
Hành trình mùa vụ trần thế này đòi hỏi chúng ta phải có một thái độ hoán cải tận căn. Hoán cải không chỉ là từ bỏ tội lỗi bề ngoài, mà là mở rộng đôi cánh tâm hồn để đón nhận sự chở che của Thiên Chúa. Sống tinh thần của người môn đệ theo chân Chúa Giêsu đòi hỏi chúng ta phải từ bỏ thái độ tự mãn, cứng nhắc, và học lấy bài học khiêm nhường. Khiêm nhường để nhận ra mình luôn cần đến ơn cứu độ; khiêm nhường để cho phép Thiên Chúa bế ẵm, che chở và dẫn dắt qua những giông bão cuộc đời thay vì cứ cố gắng tự mình chống chọi bằng sức lực mỏng giòn.
Trong bối cảnh xã hội hôm nay, khi con người ngày càng trở nên cô đơn giữa một thế giới kết nối, khi những lo toan vật chất, bạo lực, sự dửng dưng và ích kỷ đang làm xói mòn tình người, sứ điệp của đoạn Tin Mừng này càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Chúng ta được mời gọi trở thành những cánh tay nối dài của tình yêu Thiên Chúa. Nếu Chúa Giêsu hằng khao khát tụ họp con cái loài người như gà mái tụ họp gà con, thì mỗi kitô hữu chúng ta – những người mang danh là môn đệ của Ngài – cũng phải có bổn phận mang lấy tâm tình ấy. Chúng ta được sai đi để trở thành những chứng nhân của lòng xót thương, biết đem sự ấm áp của tình bác ái để sưởi ấm những cõi lòng lạnh lẽo, biết dùng sự bao dung, tha thứ để hàn gắn những rạn nứt trong gia đình và xã hội.
Đừng bao giờ mệt mỏi trong việc làm điều thiện, cũng đừng nản lòng trước những sự chống đối hay hững hờ của thế gian. Giống như Chúa Giêsu đã hiên ngang bước đi trên con đường trọn vẹn sứ mạng của Ngài hôm nay và ngày mai, chúng ta cũng hãy can đảm chu toàn ơn gọi của mình bằng tất cả niềm tin yêu và phó thác. Mọi thử thách, bách hại hay khó khăn ở trần thế này chỉ là những bước đệm tạm thời trong lịch sử cứu độ cá nhân của mỗi người. Điều quan trọng là cuối cùng, chúng ta có mở lòng mình ra để thốt lên câu ca tụng chân thành: “Chúc tụng Đấng ngự đến nhân danh Chúa!” hay không.
Nguyện xin Chúa ban cho chúng ta ơn canh tân tâm hồn, để mỗi ngày sống là một nhịp cầu nối kết tình yêu giữa Thiên Chúa và anh chị em đồng loại. Xin cho chúng ta biết nép mình dưới bóng đôi cánh bảo bọc của Ngài, tránh xa những cám dỗ và mưu mô của thế gian, và luôn kiên tâm vững bước trên con đường hướng về sự sống vĩnh cửu. Để rồi, khi cuộc đời trần thế này khép lại, chúng ta được hợp lời với các thánh nhân trên trời mà ca tụng vinh quang Thiên Chúa đến muôn đời.
Lm. Anmai, CSsR
CHIẾN ĐẤU TRONG ƠN THÁNH VÀ LÒNG THƯƠNG XÓT: BƯỚC ĐI VỮNG VÀNG TRÊN CON ĐƯỜNG VỀ GIÊ-RU-SA-LEM CỦA ĐỨC KITÔ
Cuộc đời của người môn đệ Đức Giêsu Kitô chưa bao giờ là một chuỗi ngày dạo chơi trên những thảm cỏ nhung êm đềm hay một hành trình nghỉ dưỡng bình yên không chút gợn sóng. Trái lại, từ ngàn xưa cho đến tận hôm nay, Kinh Thánh và kinh nghiệm sống đức tin của biết bao thế hệ tiền nhân đã luôn minh định rằng: sự hiện diện của chúng ta giữa trần gian này là một cuộc chiến đấu thiêng liêng trường kỳ, một nỗ lực không ngừng nghỉ để đứng vững trước những chước cám dỗ, những cạm bẫy tinh vi của thế lực bóng tối và những yếu đuối phận người. Lời Chúa trong thư gửi tín hữu Êphêsô mà Phụng vụ Giáo hội đặt ra trước mắt chúng ta hôm nay vang lên như một tiếng còi kèn hiệu lệnh dõng dạc, đánh thức tâm hồn những ai đang mê ngủ hoặc chùng bước trước những chông gai của cuộc sống thường ngày. Tông đồ Phao-lô không ngần ngại mời gọi mỗi người chúng ta hãy mặc lấy toàn bộ vũ khí của Thiên Chúa, để có thể hiên ngang đứng vững trước những mưu chước của ma quỷ. Thế nhưng, thế giới hôm nay thường dạy con người ta tìm kiếm sự thỏa hiệp, tìm kiếm những con đường phẳng lặng, tránh né mọi sự va chạm hay hy sinh. Người ta muốn có một thứ đạo bình an rẻ tiền, một thứ tôn giáo không có thập giá, không có mồ hôi và nước mắt. Nhưng Đức Giêsu Kitô, vị Mục Tử tối cao của chúng ta, lại đi ngược lại với dòng chảy dễ dãi ấy của thế gian. Ngài kiên định bước đi trên con đường định mệnh hướng về Giê-ru-sa-lem, thành phố của những mâu thuẫn, nơi các ngôn sứ thường phải chịu chung một số phận bi thương, nơi tình yêu tuyệt đối của Thiên Chúa sẽ phải đối đầu trực diện với sự cứng cỏi, chối từ và hận thù của lòng dạ con người. Khi nhìn ngắm Đức Giêsu quả cảm tiến bước giữa những lời đe dọa của Hê-rô-đê cũng như sự u mê của đám đông, đồng thời nghe văng vẳng tiếng khóc thương xót của Ngài dành cho thành Giê-ru-sa-lem, chúng ta được mời gọi đi sâu vào tâm tình của một đức tin sống động: đức tin đòi hỏi sự can đảm chiến đấu, lòng trung kiên sắt son và một tấm lòng bừng cháy tình yêu thương tha thiết trước những tâm hồn còn đang lầm lạc.
Để có thể hiểu thấu đáo và sống trọn vẹn tinh thần của ngày hôm nay, chúng ta cần phải nhìn nhận thực trạng của bản thân trong mối tương quan với thế giới xung quanh. Con người thời đại công nghệ số hôm nay đang bị vây bọc bởi vô số thứ vũ khí tối tân, nhưng ngặt nghèo thay, những thứ vũ khí ấy đôi khi lại phục vụ cho lòng ích kỷ, sự chia rẽ và những mưu mô tính toán vụ lợi. Con người lo trang bị cho mình những kiến thức khoa học, những bằng cấp uy tín, những tài khoản ngân hàng kếch xù để bảo vệ sự an toàn vật chất trước mắt, nhưng lại hoàn toàn trần trụi, yếu ớt và vô phòng bị trước những cám dỗ thâm độc của thế lực siêu hình, của tinh thần thế tục đang ngày đêm gặm nhấm, xói mòn đời sống nội tâm. Chúng ta dễ dàng ngã gục trước một lời mời gọi hưởng thụ bất chính, dễ dàng buông xuôi trước một cơn giận dữ, một sự đố kỵ nhỏ nhen hay một lối sống giả hình, thực dụng. Tông đồ Phao-lô đã rất sắc sảo khi chỉ ra rằng kẻ thù thực sự của chúng ta không phải là máu thịt, không phải là những con người bằng xương bằng thịt đang sống chung quanh chúng ta, dẫu rằng đôi khi chính họ là tác nhân gây ra cho ta những tổn thương sâu sắc. Kẻ thù đích thực, kẻ thù thâm độc ẩn giấu đằng sau mọi sự dữ, mọi sự bất công và chia rẽ chính là những quyền lực tối tăm, là tên ác thần đang thao túng tâm trí con người. Chính vì thế, nếu chúng ta chỉ dùng sức lực tự nhiên, dùng sự khôn ngoan phàm trần hay sự kiêu ngạo của lý trí để đương đầu với sự dữ, thì phần thua thiệt chắc chắn sẽ thuộc về chúng ta. Thρόng trường cuộc đời không dành cho những kẻ chủ quan, ngạo mạn. Chỉ có ai biết khiêm tốn mặc lấy những thứ vũ khí mà chính Thiên Chúa ban tặng thì mới có thể đứng vững cho đến cùng.
Vậy những thứ vũ khí mà Thiên Chúa trao ban cho người chiến sĩ Tin Mừng là gì? Đó hoàn toàn không phải là gươm giáo bằng sắt thép, không phải là bạo lực hay quyền lực thế gian có thể tàn sát lẫn nhau. Những thứ vũ khí ấy chính là sự thật đóng vai trò làm thắt lưng, sự công chính đóng vai trò làm giáp ngực, đôi chân được đi giày sẵn sàng loan báo Tin Mừng bình an, khiên mộc là đức tin có thể dập tắt mọi mũi tên lửa của tên ác giả, và chiếc mũ chiến chính là ơn cứu độ, cùng với thanh gươm của Thần Khí, tức là Lời của Thiên Chúa. Hãy thử dừng lại đôi phút để suy ngẫm về từng món trang bị thiêng liêng cao quý này trong đời sống thường nhật của chúng ta. Sống sự thật giữa một xã hội đầy dẫy những lời gian dối, lọc lừa đôi khi đòi hỏi một sự hy sinh vô cùng lớn lao. Người ta sẵn sàng luồn cúi, sẵn sàng bẻ cong sự thật để đổi lấy những lợi lộc trước mắt, để cầu cạnh chút danh vọng hão huyền hay để tránh né những phiền toái. Thế nhưng, một người môn đệ chân chính của Đức Giêsu không thể thỏa hiệp với sự dối trá. Sống sự thật là dám đứng về phía ánh sáng, dẫu cho ánh sáng ấy có phơi bày những giới hạn của bản thân hoặc làm phật lòng những kẻ đang muốn che đậy sự thật bằng bóng tối. Sự công chính của Thiên Chúa không phải là một thứ đạo đức giả hình phô trương bên ngoài cho thiên hạ ngắm nhìn, nhưng là một lối sống ngay thẳng, công minh, tôn trọng phẩm giá của tha nhân và tuân giữ trọn vẹn thánh ý Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống.
Bên cạnh đó, chiếc khiên đức tin đóng một vai trò quyết định trong những cơn giông bão của cuộc đời. Cuộc sống của chúng ta hiếm khi nào là một mặt hồ phẳng lặng mãi mãi. Sẽ có những lúc những cơn gió lốc của đau khổ, bệnh tật, thất bại trong công việc hay sự đổ vỡ trong gia đình ập đến bất ngờ, khiến chúng ta chao đảo. Những lúc ấy, những mũi tên lửa của sự hoài nghi, thất vọng, thậm chí là oán trách Thiên Chúa sẽ được bắn xối xả vào tâm trí chúng ta. Tên ác thần rất ranh mãnh, hắn thường thì thầm vào tai ta những câu hỏi nghi ngờ kiểu như: “Thiên Chúa ở đâu khi ngươi đau khổ thế này?”, “Tại sao kẻ gian ác lại được thăng tiến còn người kính sợ Chúa lại chịu muôn vàn khốn khó?”. Nếu không có chiếc khiên đức tin vững chắc, nếu không biết bám víu vào ơn sủng và sự quan phòng của Ngài, chúng ta sẽ rất dễ buông xuôi, ngã gục và đánh mất đi niềm hy vọng tinh tuyền thuở ban đầu. Đức tin không phải là một lý thuyết khô khan nằm trên những trang sách thần học, mà là một sự phó thác tuyệt đối, một cái nắm tay kiên định vào Đấng mà chúng ta tôn thờ, dẫu cho mắt ta chưa nhìn thấy tương lai ngày mai ra sao.
Vũ khí tối thượng và sắc bén nhất trong bộ giáp của người chiến sĩ Kitô giáo chính là thanh gươm của Thần Khí, tức là Lời của Thiên Chúa, đi kèm với đời sống cầu nguyện không ngừng nghỉ. Một người kitô hữu mà lãng quên Lời Chúa, bỏ bê việc đọc kinh, suy niệm và trò chuyện tâm tình với Đấng Tạo Hóa thì chẳng khác nào một người lính xông trận mà tay không bắt giặc, hoặc mang theo một thanh gươm cùn chẳng thể cắt đứt nổi một cọng rơm. Lời Chúa chính là ngọn đèn soi cho bước chân chúng ta đi, là nguồn sức mạnh nội tâm giúp chúng ta phân định được đâu là đường lối của Thiên Chúa và đâu là cạm bẫy của thế gian. Cầu nguyện không phải là một hình thức đọc những câu kinh vẹt vằn, máy móc theo thói quen lúc đầu hôm sớm mai, nhưng là một hơi thở của linh hồn, là giây phút tĩnh lặng để tâm hồn chúng ta được đong đầy bởi lòng thương xót và ánh sáng từ trời cao. Thánh Augustinô từng đưa ra một hình ảnh vô cùng sâu sắc và thực tế về thái độ của chúng ta đối với những kẻ làm hại mình hoặc những người sống sai lạc: khi chúng ta đối diện với những kẻ xấu, chúng ta không chiến đấu chống lại bản thân con người của họ bằng sự căm hờn, ghen ghét hay trả thù, nhưng chúng ta chiến đấu chống lại tên ác ma đang giật dây, đang chiếm hữu và sai khiến họ. Cũng giống như một người lính trên chiến trường đối đầu với một kỵ sĩ đối phương đang lao tới, anh ta không nhắm vào con ngựa vô tội để tiêu diệt, mà nhằm thẳng vào tên kỵ sĩ đang ngự trên lưng ngựa. Mục đích của cuộc chiến không phải là để tiêu diệt con người, mà là để cứu vãn con người, để đánh đuổi tên ma quỷ đang thống trị họ, nhằm giải thoát những linh hồn khốn khổ ấy ra khỏi ách nô lệ của tội lỗi và sự chết. Nhận thức được điều này sẽ hoàn toàn thay đổi cách ứng xử của chúng ta đối với những kẻ chống đối, những người lầm đường lạc lối chung quanh ta. Thay vì nuôi dưỡng lòng căm hờn, nuôi mộng trả thù hay buông lời nguyền rủa, chúng ta sẽ nhìn họ với ánh mắt trắc ẩn của Đức Giêsu, một ánh mắt đầy thương cảm và mong mỏi ơn cứu độ cho họ.
Chính tinh thần chiến đấu gắn liền với lòng thương xót ấy được minh họa một cách sống động qua hành trình tiến về Giê-ru-sa-lem của Đức Giêsu trong đoạn Tin Mừng theo thánh Luca hôm nay. Khi có những người Pharisêu đến cảnh báo Ngài rằng: “Ông hãy mau biến đi chỗ khác, vì vua Hê-rô-đê đang muốn tìm giết ông”, phản ứng của Đức Giêsu hoàn toàn đi ngược lại với sự sợ hãi của con người phàm trần. Ngài không hề nao núng, không tìm cách trốn chạy hay luồn cúi trong bóng tối để bảo toàn tính mạng sinh học của mình. Ngài hiên ngang trả lời với một khí phách uy nghiêm của một vị Vua sự thật: “Các ông hãy đi nói với con cáo ấy rằng: Hôm nay và ngày mai tôi trừ quỷ và chữa bệnh, và vào ngày thứ ba tôi hoàn tất mục tiêu của mình”. Hình ảnh “con cáo” mà Đức Giêsu dùng để chỉ Hê-rô-đê không mang ý nghĩa lăng mạ hạ cấp, nhưng là để vạch trần bản chất xảo quyệt, nhát gan nhưng đầy tàn độc của một kẻ cầm quyền đang run sợ trước quyền năng của chân lý và sự thánh thiện. Hê-rô-đê có thể nắm trong tay quyền lực trần thế, có thể ra lệnh tống ngục hay chém đầu Gioan Tẩy Giả, nhưng hắn hoàn toàn bất lực trước sứ mạng cứu thế mà Chúa Cha đã ủy thác cho Con Một Ngài. Đức Giêsu làm chủ hoàn toàn lịch sử của chính mình và lịch sử nhân loại. Ngài không chết vì bị ép uổng hay vì sa vào bẫy của kẻ thù, nhưng Ngài tự nguyện hiến mạng sống mình theo chương trình cứu độ muôn thuở của Thiên Chúa.
Và rồi, sự kiên định ấy dẫn dắt bước chân Ngài tiến thẳng về Giê-ru-sa-lem, thành phố định mệnh của lịch sử cứu độ. Đức Giêsu thốt lên một câu nói đầy trăn trở và đau đớn: “Không thể được, vì một ngôn sứ không thể chết ngoài Giê-ru-sa-lem”. Giê-ru-sa-lem, ôi Giê-ru-sa-lem, thành phố sát hại các ngôn sứ và ném đá những kẻ được sai đến cùng ngươi! Biết bao nhiêu lần Ngài đã muốn quy tụ con cái ngươi lại như gà mẹ gom gà con dưới cánh, thế mà các ngươi không chịu! Những lời này của Đức Giêsu không chứa đựng một chút oán hờn hay cay đắng nào, mà tràn ngập một nỗi đau thương sâu thẳm của một trái tim yêu thương đến cùng. Giê-ru-sa-lem tượng trưng cho bộ mặt cứng cỏi của con người muôn thuở: Thiên Chúa luôn mở rộng đôi tay che chở, luôn ban ơn phước và tình thương vô biên, thế nhưng con người lại thích tự chuốc lấy hiểm nguy, thích chạy theo những ảo ảnh trần gian, khước từ ơn cứu độ và đóng đinh những sứ giả của tình yêu. Hình ảnh gà mẹ gom gà con dưới cánh là một trong những hình ảnh đẹp đẽ và cảm động nhất trong Kinh Thánh. Gà mẹ không chỉ dùng sự ấm áp của thân mình để sưởi ấm cho đàn con non nớt, mà khi có diều hâu hay nguy hiểm rình rập từ trên cao, gà mẹ sẵn sàng dang rộng đôi cánh che chở, thậm chí lấy thân mình để chịu trận, để chết thay cho đàn con nhỏ dại. Đức Giêsu chính là hiện thân trọn vẹn của hình ảnh gà mẹ ấy. Trên thập giá tại Giê-ru-sa-lem ít ngày sau đó, Ngài sẽ dang rộng đôi tay hoàn toàn ra, không phải để ôm ấp sự ích kỷ, mà để đón lấy tất cả những tội lỗi, những đòn roi, những sự khinh miệt của nhân loại vào chính thân mình, chịu chết để cho chúng ta được sống.
Khi suy ngắm về hành trình về Giê-ru-sa-lem của Chúa, chúng ta không thể không tự vấn bản thân về thái độ của chính mình trong đời sống đức tin hiện tại. Phải chăng đôi khi chúng ta cũng giống như những cư dân Giê-ru-sa-lem xưa, miệng thì tung hô Chúa trong những dịp lễ lạt vui mừng, nhưng trong đời sống thực tế lại khước từ Ngài, từ chối để cho Lời Ngài biến đổi tâm can? Chúng ta muốn hưởng thụ ơn phước của Thiên Chúa, muốn Ngài ban cho gia đình được bình an, công việc được hanh thông, con cái được thành đạt, nhưng lại kiên quyết từ chối vác thập giá hằng ngày bước theo chân Ngài. Chúng ta sợ hãi những hy sinh, sợ hãi việc phải sống ngược lại với dòng đời thực dụng, sợ hãi việc phải lên tiếng bênh vực cho công lý và sự thật khi phải trả giá bằng danh dự hay lợi lộc cá nhân. Chúng ta muốn một Thiên Chúa chiều theo ý muốn yếu đuối của mình, chứ không muốn để Thiên Chúa thanh luyện và uốn nắn ý chí của chúng ta theo đường lối của Ngài. Chính sự mâu thuẫn nội tâm này là nguyên nhân khiến cho đời sống thiêng liêng của biết bao kitô hữu trở nên khô cằn, héo hắt và dễ dàng gục ngã trước những chước cám dỗ nhỏ nhoi của cuộc đời.
Hành trình tiến về Giê-ru-sa-lem của Đức Giêsu cũng là hình ảnh thu nhỏ cho hành trình đức tin của chính mỗi cuộc đời chúng ta. Mỗi người chúng ta đều đang mang trong mình một “Giê-ru-sa-lem” phải bước tới – đó là những thử thách lớn lao, những sứ mạng đòi hỏi sự hy sinh, những quyết định dấn thân vì Tin Mừng mà đôi khi chúng ta muốn trốn tránh. Có những người đang phải đối diện với căn bệnh hiểm nghèo, đó là Giê-ru-sa-lem của họ; có những người đang gánh chịu sự đổ vỡ trong đời sống hôn nhân, sự bất hòa trong gia đình hay những áp lực khủng khiếp trong công việc và mưu sinh, đó cũng chính là Giê-ru-sa-lem của họ. Làm thế nào để chúng ta không buông xuôi tuyệt vọng trong những hoàn cảnh ấy? Câu trả lời duy nhất nằm ở việc chúng ta có dám kết hợp cuộc đời mình với bước chân quả cảm của Đức Giêsu hay không. Khi chúng ta quy chiếu mọi đau khổ, mọi thử thách của mình vào mầu nhiệm Thập Giá và Phục Sinh của Chúa, những gánh nặng ấy sẽ không còn là những tảng đá đè bẹp chúng ta xuống bùn đen, mà trở thành những bậc thang nâng tâm hồn chúng ta lên kết hợp mật thiết hơn với Đấng Cứu Độ.
Để có thể sống tinh thần chiến đấu và yêu thương này trong thế giới hôm nay, chúng ta cần phải thực hành sự canh tân nội tâm một cách triệt để. Trước hết, chúng ta phải tập thói quen mặc lấy áo giáp của Chúa mỗi ngày. Việc mặc lấy này không phải là một nghi thức làm phép hình thức, mà là một quyết định sống có ý thức: thức dậy mỗi sáng với lời nguyện xin Chúa ban ơn phước, dành thời gian để suy gẫm Lời Chúa trước khi lao vào những tất bật lo toan của cơm áo gạo tiền. Hãy để cho Lời Chúa thanh lọc những suy nghĩ ích kỷ, những toan tính hẹp hòi và những giận hờn vô cớ trong lòng chúng ta. Khi một tư tưởng xấu hay một sự cám dỗ trả thù trỗi dậy trong tâm trí, hãy dùng thanh gươm của Thần Khí – chính là những câu Lời Chúa mà chúng ta đã ghi khắc trong lòng – để chặt đứt nó ngay từ trong trứng nước. Đừng để cho bóng tối có cơ hội bén rễ và lan rộng trong khu vườn tâm hồn mà Chúa đã dày công vun trồng, tưới gội bằng chính giá máu của Con Một Ngài.
Thứ hai, chúng ta cần phải thực hành lòng thương xót và sự kiên nhẫn đối với những người chung quanh, đặc biệt là những người làm tổn thương chúng ta hoặc có lối sống đi ngược lại với niềm tin của chúng ta. Thế giới hôm nay tràn ngập sự dữ và sự chia rẽ không phải vì thiếu những bộ luật nghiêm khắc hay thiếu những nhà tù kiên cố, nhưng là vì thiếu vắng tình yêu thương chân thành và sự tha thứ từ trái tim con người. Nếu ai cũng chọn cách “ăn miếng trả miếng”, lấy bạo lực đáp trả bạo lực, lấy sự hận thù để vùi dập sự hận thù, thì nhân loại này sẽ chẳng khác nào một bãi chiến trường hoang tàn, nơi chỉ còn lại tro tàn của sự tuyệt vọng. Đức Giêsu đã không chọn con đường trả thù hay dùng binh quyền để bảo vệ chính mình. Ngài chọn con đường thập giá, con đường của sự tha thứ tột cùng: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”. Noi gương Thầy Chí Thánh, chúng ta cũng được mời gọi trở nên những chứng nhân của lòng thương xót giữa lòng đời. Khi gặp phải những sự chống đối, những lời lăng mạ hay bất công, thay vì lồng lộn tức giận hay tìm cách hạ bời đối thủ, hãy thầm dâng một lời cầu nguyện cho họ, xin Chúa soi sáng và chữa lành cõi lòng tăm tối của họ. Đó mới chính là thứ vũ khí sắc bén nhất có thể làm rung động và biến đổi cả những trái tim chai đá nhất.
Thứ ba, chúng ta phải nuôi dưỡng một niềm hy vọng vững bền vào ơn cứu độ chung cuộc của Thiên Chúa. Dẫu cho thế gian có đảo điên, dẫu cho các thế lực sự dữ có vẻ như đang hoành hành ngang dọc và đắc thắng khắp nơi, chúng ta vẫn luôn phải khắc ghi trong tim rằng lịch sử này không nằm trong tay của những bạo chúa trần gian như Hê-rô-đê, cũng không nằm trong sự thao túng của ma quỷ, nhưng hoàn toàn nằm trong bàn tay yêu thương và quyền năng của Thiên Chúa. Ngài là Đấng làm chủ lịch sử, Đấng biết rõ từng giọt nước mắt chúng ta rơi và sẽ lau sạch mọi giọt lệ ấy trong ngày vinh quang của Ngài. Sự kiên định bước đi về Giê-ru-sa-lem của Đức Giêsu không dẫn đến cái chết vô nghĩa trong tuyệt vọng, nhưng mở ra cánh cửa Phục Sinh huy hoàng, đem lại sự sống đời đời cho toàn thể nhân loại. Do đó, mọi hy sinh, mọi nỗ lực chiến đấu chống lại tội lỗi, mọi đau khổ mà chúng ta âm thầm gánh chịu vì danh Chúa sẽ không bao giờ là công cốc, nhưng sẽ trổ sinh những bông hạt dồi dào trong khu vườn Nước Trời.
Anh chị em thân mến, hành trình đức tin của chúng ta không phải là một chặng đường dễ dãi, nhưng là một cuộc chiến đấu cao cả và đẹp đẽ. Đó là cuộc chiến đấu để bảo vệ sự thật, để gìn giữ sự trong sạch của tâm hồn, để thực thi công lý và lan tỏa tình yêu thương giữa một thế giới đang bị thương tổn bởi hận thù và ích kỷ. Hãy mạnh mẽ lên! Đừng sợ hãi trước những mưu chước của thế gian hay những yếu đuối mỏng giòn của phận người, bởi vì chúng ta không chiến đấu một mình. Bên cạnh chúng ta luôn có sự hiện diện chở che của Đức Giêsu Kitô – Đấng đã chiến thắng tử thần, có sự đồng hành của Mẹ Maria và các thánh anh hùng tiền nhân, và có sức mạnh vô biên của Thánh Thần đang ngự trị trong tâm hồn chúng ta. Hãy mặc lấy toàn bộ vũ khí của Thiên Chúa, thắt lưng bằng sự thật, mặc lấy giáp công chính, mang giày sẵn sàng loan báo Tin Mừng bình an, cầm khiên đức tin và đội mũ chiến cứu độ, để chúng ta có thể hiên ngang đứng vững trong ngày tai ương và hoàn tất chu toàn sứ mạng mà Chúa đã trao phó. Xin cho mỗi người chúng ta, dẫu phải bước qua những thung lũng âm u hay những ngọn đồi Giê-ru-sa-lem đầy thử thách, vẫn luôn giữ được một trái tim bừng cháy lửa mến, một niềm tin kiên định sắt son và một lòng quyết tâm trọn đời sống theo thánh ý Chúa, để mai sau được xứng đáng hưởng nếm hoan lạc vĩnh cửu trong nhà Cha trên trời.
Lm. Anmai, CSsR
HƯỚNG TỚI PHẦN TỐT NHẤT: BÍ QUYẾT CỦA SỰ BÌNH AN VÀ TÌNH YÊU TRÍCH TRONG ĐỜI SỐNG THƯỜNG NHẬT
Kính thưa quý ông bà và anh chị em, hành trình đức tin của mỗi người chúng ta không phải là một con đường bằng phẳng, trải đầy hoa hồng, mà là một cuộc lữ hành dài đượm màu sắc của những chọn lựa hằng ngày. Trong thế giới hôm nay, nơi mà nhịp sống hối hả, những lo toan bề bộn và áp lực công việc dường như muốn nuốt chửng lấy thời gian của con người, chúng ta dễ dàng rơi vào trạng thái bận rộn đến mức quên mất bản chất sâu xa của sự hiện hữu. Con người hiện đại thường tự hào về khối lượng công việc mình hoàn thành, về tốc độ giải quyết vấn đề và về sự năng động không ngừng nghỉ. Tuy nhiên, phía sau vỏ bọc của sự bận rộn ấy thường là những tâm hồn cạn kiệt năng lượng, những trái tim bất an và một khoảng trống mênh mông trong đời sống thiêng liêng. Chính trong bối cảnh đầy những tiếng ồn ào và xao xuyến đó, Lời Chúa vang lên như một dòng suối mát lành, chiếu rọi vào tâm can chúng ta một ánh sáng soi đường, mời gọi mỗi người dừng lại đôi chút để chiêm ngắm mẫu gương của hai chị em Martha và Maria tại làng Bêtania, nơi Đức Giêsu đã đến viếng thăm và để lại cho nhân loại một bài học ngàn vàng về nghệ thuật sống, về sự ưu tiên đích thực và về mối tương quan mật thiết giữa hành động và chiêm niệm.
Khi Đức Giêsu bước vào ngôi nhà của Martha, Người không chỉ đến với tư cách là một vị khách quý hay một bậc thầy thông thái, mà Người đến như một người bạn thân thiết, một người Thượng Hữu muốn chia sẻ mái ấm và sự thân tình với con người. Tiếp đón Thiên Chúa trong ngôi nhà của mình là niềm vinh dự lớn lao, nhưng cũng đồng thời là một thách đố đối với giới hạn của con người. Martha, với bản tính xốc vác, nhiệt thành và tinh thần phục vụ cao độ, đã ngay lập tức lao vào công việc bếp núc, loay hoay với muôn vàn chuẩn bị để chu tất mọi bề cho vị khách cao quý. Chúng ta không thể trách cứ Martha, bởi vì sự dấn thân và tinh thần hiếu khách của bà là điều đáng trân trọng. Trong bất kỳ cộng đoàn hay gia đình nào, những con người như Martha luôn là cột trụ gánh vác các công việc vật chất, lo lắng cho những nhu cầu thiết thực của đời sống chung. Họ là những người tận tụy, không quản ngại khó nhọc, sẵn sàng đổ mồ hôi để chu toàn trách nhiệm. Thế nhưng, bi kịch tinh thần bắt đầu xuất hiện khi sự bận rộn ấy không còn xuất phát từ niềm vui của tình yêu tự hiến, mà dần biến thành gánh nặng của sự lo âu, bồn chồn và tính toán thiệt hơn. Martha bắt đầu cảm thấy cô độc trong chính căn bếp của mình, khi người em gái là Maria không những không xắn tay áo giúp đỡ mà lại chọn một vị trí hoàn toàn khác: ngồi bên chân Chúa để chăm chú lắng nghe từng lời Người dạy bảo.
Sự bất bình dâng trào trong lòng Martha đã dẫn đến một phản ứng rất đỗi con người: bà đến trước mặt Thầy và phàn nàn, thậm chí mang tính chất trách móc: “Lạy Thầy, em tôi để mặc tôi phục vụ một mình mà không thèm để ý sao? Xin Thầy bảo nó giúp tôi với!”. Lời kêu trách ấy phản ánh một tâm trạng vô cùng phổ biến trong đời sống đạo đức của chúng ta. Biết bao nhiêu lần trong cuộc sống, chúng ta cũng từng mang tâm trạng của Martha. Chúng ta làm việc tông đồ, phục vụ giáo xứ, lo toan cho gia đình, gánh vác những trách nhiệm nặng nề, rồi nhìn sang những người khác mà cảm thấy chạnh lòng, bất công, tị nạnh. Chúng ta nghĩ rằng mình đang gánh vác phần nặng nhọc nhất, còn người khác thì thảnh thơi, trốn tránh trách nhiệm. Sự bận rộn lúc này đã đánh cắp đi niềm vui phục vụ, biến lòng nhiệt thành ban đầu thành sự cay đắng, cằn nhằn và mất đi bình an nội tâm. Thiên Chúa không bao giờ chê trách tinh thần phục vụ của Martha, bởi vì Người thấu hiểu sự vất vả của bà, nhưng Người nhẹ nhàng đưa ra một lời chẩn đoán chính xác về tình trạng bệnh lý của tâm hồn: “Martha, Martha, con lo lắng và xao xuyến về nhiều chuyện lắm. Chỉ có một sự cần mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi”.
Lời trách móc ân cần nhưng kiên quyết ấy của Đức Giêsu mở ra cho chúng ta một chân trời suy tư sâu sắc về bản chất của đời sống Kitô hữu. Đức Giêsu không phủ nhận giá trị của công việc bác ái hay sự hy sinh phục vụ, bởi vì chính Người cũng đã đến để phục vụ chứ không phải để được phục vụ. Tuy nhiên, Người muốn vạch trần một nguy cơ lớn lao mà con người thường vấp phải: đó là việc đánh đồng hoạt động bề ngoài với sự kết hợp nội tâm. Khi chúng ta lao vào công việc mà đánh mất tâm tình kết hợp với Thiên Chúa, khi chúng ta phục vụ tha nhân nhưng lại xa cách nguồn mạch của tình yêu, thì công việc ấy chỉ còn là những hoạt động xã hội thuần túy, mang tính cơ học và dễ dẫn đến sự kiệt quệ tâm lý. Maria đã làm gì để được Thầy khen ngợi? Bà không hề làm gì theo nghĩa đen của những công việc tay chân trong khoảnh khắc đó; bà chỉ đơn giản là ngồi xuống dưới chân Thầy, buông bỏ mọi vướng bận chung quanh, mở rộng tai nghe và rộng mở tâm hồn để đón nhận Lời Sự Thật. Hành động ngồi dưới chân Thầy là biểu trưng tuyệt vời nhất của sự khiêm nhường tột độ, của sự phó thác hoàn toàn và của lòng khao khát khôn cùng đối với Thiên Chúa. Maria hiểu rằng, trước khi có thể làm bất cứ điều gì cho Chúa hay cho tha nhân, bản thân cô phải được Chúa lấp đầy, phải được Lời của Người biến đổi và nuôi dưỡng.
Sự chọn lựa của Maria không phải là sự lười biếng hay trốn tránh bổn phận, mà là việc đặt để ưu tiên tối thượng cho đúng chỗ của nó. Trong trật tự của đời sống thiêng liêng, Thiên Chúa luôn phải đứng ở vị trí hàng đầu. Mọi hoạt động mục vụ, mọi công tác bác ái, mọi sự dấn thân xã hội nếu không được bén rễ sâu trong đời sống cầu nguyện và lắng nghe Lời Chúa thì sớm muộn gì cũng sẽ trở nên khô khan, cằn cỗi và vụ lợi. Chúng ta có thể thấy rõ điều này qua lịch sử của Giáo Hội và qua kinh nghiệm bản thân của biết bao các vị thánh. Mẹ Têrêxa Calcutta, một biểu tượng vĩ đại của lòng bác ái Kitô giáo, người dành trọn cuộc đời để chăm sóc những người hắt hủi, hấp hối và nghèo khổ nhất trên đường phố Calcutta, đã từng chia sẻ một chân lý cốt lõi: để có thể yêu thương và phục vụ những con người khốn cùng ấy suốt cả ngày, mỗi ngày bà và các chị em trong hội dòng phải dành nhiều giờ trước Thánh Thể trong sự thinh lặng tuyệt đối. Nếu không có những giờ phút “ngồi dưới chân Chúa” như Maria, dòng suối tình yêu thương trong lòng họ sẽ sớm cạn kiệt, và việc phục vụ sẽ biến thành một gánh nặng không thể kham nổi. Sự cân bằng giữa cầu nguyện và hoạt động, giữa chiêm niệm và dấn thân, chính là chìa khóa vàng mở cánh cửa dẫn đến sự thánh thiện và bình an đích thực.
Tuy nhiên, việc hiểu được nguyên lý này và thực hành nó trong đời sống hằng ngày lại là một thách thức không hề nhỏ đối với mỗi người chúng ta. Con người thời đại hôm nay đang bị bủa vây bởi một thứ “văn hóa bận rộn”. Chúng ta bận rộn từ sáng sớm đến tối mịt với công việc cơ quan, với các mối quan hệ xã hội, với việc chăm sóc gia đình, và thậm chí bận rộn cả với các sinh hoạt tôn giáo. Không ít người trong chúng ta mang danh nghĩa là phục vụ Chúa, làm công quả cho nhà thờ, tham gia các hội đoàn, nhưng lại bận rộn đến mức không còn một phút giây thinh lặng nào để ở lại với Chúa trong tâm hồn mình. Chúng ta biến nhà thờ thành một công xưởng thứ hai, nơi các hoạt động hành chính, tổ chức sự kiện, chuẩn bị các thánh lễ chiếm trọn tâm trí, khiến chúng ta quên mất Đấng là Chủ tể của mọi công việc. Khi sự bận rộn thể lý lấn át đời sống nội tâm, chúng ta dễ dàng rơi vào cái bẫy của sự kiêu ngạo thiêng liêng. Chúng ta bắt đầu nghĩ rằng Giáo Hội, giáo xứ hay gia đình không thể thiếu mình, rằng sự tồn vong của công việc phụ thuộc hoàn toàn vào năng lực của chúng ta. Đó là lúc chúng ta đánh mất tinh thần bé mọn, đánh mất sự khiêm nhường và tự biến mình thành những người nô lệ cho các cấu trúc do chính mình tạo ra.
Đức Giêsu nhắc nhở Martha, và qua bà, nhắc nhở tất cả chúng ta rằng: “Con lo lắng và xao xuyến về nhiều chuyện lắm. Chỉ có một sự cần mà thôi”. Cụm từ “chỉ có một sự cần mà thôi” ở đây chính là việc hướng tâm hồn về Thiên Chúa, là việc đón nhận ơn cứu độ, là việc để cho tình yêu của Ngài chi phối toàn bộ cuộc đời chúng ta. Tất cả những cái khác, dẫu quan trọng đến đâu trong nhãn quan nhân loại, xét cho cùng cũng chỉ là phương tiện tạm thời. Tiền tài, danh vọng, địa vị xã hội, và thậm chí cả những thành công mục vụ rực rỡ nhất nếu tách rời khỏi mối tương quan thâm thiết với Thiên Chúa thì cũng chỉ là những cành khô héo bị ném vào lửa. Sự xao xuyến của con người xuất phát từ việc chúng ta đặt hy vọng và sự bình an của mình vào những thực tại mong manh, dễ thay đổi của thếgian. Khi chúng ta bám víu vào công việc, vào sự kiểm soát tuyệt đối mọi thứ xung quanh, chúng ta tự trói buộc mình vào vòng xoáy của sự lo âu và bất an. Chỉ khi nào chúng ta biết buông bỏ quyền kiểm soát ích kỷ ấy để đặt trọn niềm tin tưởng vào lòng thương xót Chúa, chúng ta mới thực sự tìm lại được sự bình an sâu thẳm trong tâm hồn, một thứ bình an mà thế gian không thể ban tặng và không thể cướp đi được.
Để có thể đạt được phần tốt nhất mà Maria đã chọn, mỗi Kitô hữu cần phải có một cuộc cách mạng nội tâm, một sự hoán cải tận căn trong cách thức nhìn nhận và sống ơn gọi của mình. Cuộc cách mạng ấy bắt đầu bằng việc tái lập giá trị của sự thinh lặng. Thinh lặng không phải là sự vắng bóng của âm thanh bên ngoài, mà là không gian thiêng liêng nơi tâm hồn hướng về Thiên Chúa. Trong thế giới tràn ngập tiếng ồn của thông tin, mạng xã hội, âm nhạc và những lời bàn tán, việc giữ được sự thinh lặng nội tâm trở thành một đặc ân quý giá. Nếu chúng ta không biết cách tắt bớt những tiếng ồn kỹ thuật số và những bận tâm trần thế để bước vào căn phòng kín của tâm hồn, chúng ta sẽ không bao giờ nghe được tiếng nói thì thầm của Chúa Thánh Thần. Ngài không nói trong trận gió lốc hay trong lửa đỏ của những tranh chấp ồn ào, mà Ngài nói trong tiếng gió hiu hắt, nhẹ nhàng của sự thinh lặng. Lắng nghe Lời Chúa không phải là một hành động thụ động, mà là một sự dấn thân triệt để của đức tin, đòi hỏi chúng ta phải biết gạt bỏ những định kiến, những toan tính cá nhân để cho Lời của Ngài thẩm thấu, thanh luyện và định hướng mọi suy nghĩ, lời nói, việc làm của mình.
Bên cạnh sự thinh lặng, việc sống tinh thần của Maria còn đòi hỏi chúng ta phải biết thực hành thái độ phó thác. Sự lo lắng của Martha phần lớn xuất phát từ sự tự phụ cho rằng mọi thứ phải theo ý mình, mọi việc phải hoàn hảo dưới sự giám sát của mình. Khi mọi thứ chệch hướng hoặc khi người khác không làm theo ý muốn của chúng ta, chúng ta nổi giận, bất mãn và oán trách. Trái lại, thái độ ngồi dưới chân Chúa của Maria là sự thừa nhận giới hạn của bản thân con người trước mặt Đấng Tạo Hóa. Maria biết rằng Người Thầy đang ngồi trước mặt cô không chỉ là một vị ngôn sứ vĩ đại, mà là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa. Ngồi dưới chân Thầy nghĩa là đặt mình ở vị trí của kẻ học trò khiêm tốn, sẵn sàng đón nhận sự hướng dẫn thay vì tự mình làm thầy thiên hạ. Trong đời sống gia đình, trong các hội đoàn, trong cộng đồng giáo xứ và xã hội, biết bao nhiêu va chạm, xung đột và đổ vỡ xảy ra chỉ vì ai cũng muốn làm thầy, ai cũng muốn bảo vệ cái tôi to lớn của mình mà quên mất cách ngồi xuống để lắng nghe nhau và lắng nghe Thiên Chúa. Khi chúng ta biết khiêm tốn ngồi lại bên nhau, đối thoại trong tinh thần bác ái và ánh sáng của Lời Chúa, những bức tường ngăn cách sẽ bị phá đổ, nhường chỗ cho sự hiệp nhất và yêu thương.
Hơn thế nữa, bài học từ Bêtania còn mời gọi chúng ta nhìn lại cách thức chúng ta chu toàn bổn phận hằng ngày. Phục vụ không có nghĩa là loại bỏ cầu nguyện, và cầu nguyện cũng không có nghĩa là trốn tránh trách nhiệm trần thế. Sự vĩ đại của đời sống Kitô hữu nằm ở sự hòa hợp nhuần nhuyễn giữa hai chiều kích này, giống như hai cánh của một con chim không thể thiếu cánh nào. Một người phục vụ đích thực là người mang trong mình ngọn lửa của kinh nguyện, để rồi khi họ bước ra khỏi nhà nguyện, đến với công việc bác ái, đến với những người đau khổ, nghèo đói, bất hạnh, họ không mang theo sự kiêu ngạo hay vụ lợi, mà mang chính tình yêu thương dịu hiền và khiêm tốn của Đức Giêsu. Ngược lại, một người chiêm niệm chân chính sẽ không bao giờ dửng dưng trước những giọt nước mắt và nỗi thống khổ của tha nhân. Họ thấy gương mặt của Đức Giêsu đang chịu đau khổ nơi những người anh chị em bé mọn, và đó là động lực thôi thúc họ hành động. Sự kết hợp hoàn hảo này biến mọi công việc thường nhật, dẫu tầm thường nhất như quét nhà, nấu ăn, làm việc văn phòng, hay những công tác mục vụ lớn lao, trở thành những hy lễ thiêng liêng dâng lên Thiên Chúa. Không có công việc nào là nhỏ nhặt nếu nó được thực hiện với tình yêu lớn lao và tâm tình kết hợp mật thiết với Chúa.
Khi suy ngẫm về hình ảnh của Martha và Maria, chúng ta cũng được mời gọi nhìn ngắm Đức Trinh Nữ Maria, người Mẹ tuyệt mỹ của Giáo Hội, Đấng đã thực hành trọn vẹn cả hai chiều kích này một cách hoàn hảo nhất. Trong biến cố Truyền Tin, Mẹ Maria đã ngồi lắng nghe sứ thần truyền tin với tấm lòng rộng mở, khiêm tốn thưa lên tiếng “Xin Vâng” tuyệt đối trong sự thinh lặng của đức tin. Mẹ đã cất giữ mọi suy tư ấy trong lòng mình. Nhưng ngay sau đó, với một trái tim tràn đầy tình yêu bác ái và sự hăng say phục vụ, Mẹ đã vội vã lên đường cất bước đến vùng núi non để thăm viếng và phụ giúp người chị họ Elizabeth đang trong lúc mang thai tuổi già. Mẹ Maria không hề chần chừ hay ích kỷ giữ ơn thánh cho riêng mình; Mẹ mang Chúa đến cho người khác bằng chính hành động phục vụ đầy khiêm tốn và tận tụy. Mẹ là hiện thân sống động của sự kết hợp hoàn hảo giữa việc lắng nghe Lời Chúa và dấn thân phục vụ tha nhân. Nhìn lên Mẹ Maria, chúng ta tìm thấy nguồn cảm hứng bất tận để sống trọn vẹn ơn gọi của mình trong thế giới hôm nay, không để bản thân bị cuốn phăng vào cơn lốc của sự bận rộn vô nghĩa, nhưng luôn giữ được sự bình an sâu thẳm của tâm hồn trong mọi hoàn cảnh.
Quý ông bà và anh chị em rất thân mến, hành trình đức tin của chúng ta là một tiến trình liên tục canh tân, đòi hỏi chúng ta phải biết dừng lại trước những ngã ba đường của cuộc sống để tự vấn về những ưu tiên của mình. Chúng ta đang dành phần lớn thời gian và tâm trí cho điều gì? Cho những lo toan vật chất mau qua, cho những danh vọng hão huyền của trần gian, hay cho “phần tốt nhất” mà không ai có thể cướp mất được? Hãy để Lời Chúa hôm nay thâm nhập vào sâu thẳm tâm can mỗi người, đánh thức những góc khu vực còn đang ngủ mê, băng bó những vết thương do sự lo âu và bận rộn gây ra. Hãy mạnh dạn buông bỏ những gánh nặng không cần thiết, những tính toán thiệt hơn ích kỷ, để có thể chọn lựa ngồi lại bên chân Chúa, lắng nghe tiếng nói dịu ngọt của Ngài trong cõi thinh lặng của trái tim. Chỉ trong Ngài, và chỉ khi biết đặt Ngài làm trung tâm của mọi sinh hoạt, chúng ta mới thực sự tìm thấy ý nghĩa trọn vẹn của cuộc sống, mới có được sức mạnh để vượt qua mọi giông bão cuộc đời và mới có thể trở thành những chứng nhân đích thực của tình yêu và sự bình an giữa lòng nhân thế.
Nguyện xin Thiên Chúa ban ơn hoán cải cho mỗi người chúng ta, để qua lời chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria và các thánh, chúng ta biết kết hợp hài hòa giữa đời sống cầu nguyện và tinh thần phục vụ. Xin cho chúng ta, dẫu phải đối diện với muôn vàn bận rộn và thách đố của đời thường, vẫn luôn giữ được sự nhạy bén của tâm hồn để nhận ra sự hiện diện của Chúa, biết chọn lựa phần tốt nhất, và đem ánh sáng, niềm vui, lòng thương xót của Ngài đến cho những ai chúng ta gặp gỡ trên mọi nẻo đường cuộc sống. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
