Phụng vụ Lời Chúa – Lời nguyện – Suy niệm (Youtube & bản văn) Thứ Tư 28 tháng 10 – LỄ THÁNH SI-MON VÀ THÁNH GIU-ĐA, TÔNG ĐỒ – Lm. Anmai, CSsR

9

TÌM HIỂU TIN MỪNG THEO THÁNH LUCA – Lm. Anmai, CSsR
CHƯƠNG 2. ĐẤNG CỨU ĐỘ ĐẾN TRONG SỰ KHIÊM HẠ
GIÁNG SINH: QUYỀN LỰC ĐẾ QUỐC VÀ MỘT HÀI NHI
Tin Mừng theo thánh Luca 2,1–7

Phụng vụ Lời Chúa – Lời nguyện – Suy niệm (Youtube & bản văn) Thứ Tư 28 tháng 10 – LỄ THÁNH SI-MON VÀ THÁNH GIU-ĐA, TÔNG ĐỒ – Lm. Anmai, CSsR

BẢN TIN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO THỨ TƯ, NGÀY 28 THÁNG 10 NĂM 2026 – Lm. Anmai, CSsR tổng hợp

Thánh Anphongsô (Alphonsus Liguori) – Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÊRAĐÔ – NGƯỜI ANH EM BÉ NHỎ CỦA CHÚA CỨU THẾ – Lm. Anmai, CSsR

Thánh Anphongsô (Alphonsus Liguori) – Lm. Anmai, CSsR

THÁNH GIÊRAĐÔ – NGƯỜI ANH EM BÉ NHỎ CỦA CHÚA CỨU THẾ – Lm. Anmai, CSsR
https://youtu.be/onD1Xa48svc
PHIM : NGÔI NHÀ BẤT ỔN – Kịch bản & lời bình: Lm. Anmai, CSsR

NGÔI NHÀ BẤT ỔN
Kịch bản & lời bình: Lm. Anmai, CSsR

PHIM : NGÔI NHÀ BẤT ỔN – Kịch bản & lời bình: Lm. Anmai, CSsR

T 4 tuần XXX TN NGÀY 28 THÁNG 10 LỄ THÁNH SI-MON VÀ THÁNH GIU-ĐA, TÔNG ĐỒ NỀN TẢNG ĐỨC TIN – Lm. Anmai, CSsR

T 4 tuần 30 – 28.10 — TH SI-MON VÀ THÁNH GIU-ĐA, TÔNG ĐỒ ĐƯỢC CHÚA GỌI TÊN – Lm. Anmai, CSsR

CHỌN CHÚA, KHÔNG CHỌN VIỆC CỦA CHÚA Cuộc đời, chứng từ và linh đạo của Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận – Lm. Anmai, CSsR

CHỌN CHÚA, KHÔNG CHỌN VIỆC CỦA CHÚA Cuộc đời, chứng từ và linh đạo của Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận – Lm. Anmai, CSsR

LỜI NGUYỆN LỄ THÁNH SI-MON VÀ THÁNH GIU-ĐA, TÔNG ĐỒ
Ngày 28 tháng 10
Lạy Chúa Giêsu, hôm nay con xin lặng lòng bước vào đêm cầu nguyện của Chúa trên núi. Khi mọi tiếng động đã lắng xuống, Chúa vẫn thức trong tình yêu của Chúa Cha. Trước khi gọi các Tông Đồ, Chúa đã cầu nguyện; trước khi trao sứ mạng, Chúa đã ở lại bên Cha. Còn con, nhiều lần vừa thức dậy đã vội lao vào công việc, vừa gặp khó khăn đã cuống cuồng tìm cách giải quyết, vừa đứng trước một lựa chọn đã để nỗi sợ và ý riêng dẫn đường. Xin dạy con biết dừng lại trước nhan Chúa, đem những điều chưa hiểu, những việc chưa biết phải làm và những người con đang lo lắng vào lời cầu nguyện. Xin cho con biết lắng nghe, để những quyết định của con được nuôi dưỡng bằng lòng tin và tình yêu.
Lạy Chúa, đến sáng, Chúa gọi các môn đệ lại và chọn mười hai người. Mỗi người có một tên gọi, một cuộc đời, một tính cách; mỗi người được Chúa nhìn đến và trao phó một sứ mạng. Xin cho con nhận ra rằng con cũng được Chúa yêu thương cách riêng. Giữa bao người, Chúa biết tên con, biết những giới hạn con ngại nói ra, biết cả khát vọng sống tốt vẫn âm thầm trong lòng con. Có lúc con thấy mình chẳng có gì đáng quý, chẳng làm được việc gì lớn lao, chẳng xứng đáng để được Chúa dùng. Xin giúp con tin vào lòng thương xót của Chúa, biết đứng dậy sau lỗi lầm và can đảm đáp lại tiếng gọi hôm nay bằng chính cuộc sống còn nhiều thiếu sót của mình.
Nhờ lời chuyển cầu của thánh Si-mon và thánh Giu-đa, xin cho con biết sống trung thành trong những bổn phận bình thường. Xin gìn giữ lòng nhiệt thành của con, để khi phục vụ, con biết yêu thương người mình phục vụ; khi bảo vệ điều đúng, con vẫn giữ được sự hiền hòa; khi góp ý, con biết tôn trọng phẩm giá người khác. Xin thanh luyện những lúc con làm việc đạo đức mà mong được khen, những lúc con nhân danh việc chung để áp đặt ý riêng, những lúc con hăng hái với công việc nhưng lại thiếu kiên nhẫn với người bên cạnh. Xin cho tình yêu Chúa đi sâu vào lòng con, giúp con bền bỉ làm điều tốt cả khi không ai biết đến.
Lạy Chúa Giêsu, trong danh sách những người được chọn có cả người sau này phản bội Chúa. Con đọc đến đó và xin cúi đầu xét lại lòng mình. Con đã được nghe lời Chúa, được đến gần bàn thờ, được đón nhận biết bao ân sủng, nhưng vẫn có thể sống xa Chúa qua những lựa chọn hằng ngày. Xin giữ con tỉnh thức trước lòng tham, sự tự mãn và thói quen thỏa hiệp với điều sai. Khi con sa ngã, xin cho con đủ khiêm nhường để thú nhận, đủ tin tưởng để trở về, đủ can đảm để sửa lại những tổn thương mình đã gây nên. Xin đừng để con vì xấu hổ mà trốn tránh Chúa, hoặc vì quen được tha thứ mà coi nhẹ tội lỗi của mình.
Chúa đã đi xuống cùng các Tông Đồ, đến giữa đoàn người đang mong được nghe giảng và chữa lành. Xin cho con, sau mỗi lần cầu nguyện, biết trở về với cuộc sống bằng một trái tim rộng mở hơn. Xin cho con nhận ra người đang cần được lắng nghe trong chính gia đình mình, người đang kiệt sức nơi con làm việc, người âm thầm chịu đau khổ trong cộng đoàn. Xin giúp con bước đến, hỏi han, chia sẻ và thực hiện điều con có thể làm. Xin cho những lời kinh con đọc được tiếp nối bằng sự tử tế, để người khác có thể cảm nhận lòng thương xót của Chúa qua cách con hiện diện bên họ.
Lạy Chúa, con xin dâng Chúa những người đang đau yếu, những người bị giày vò bởi lo âu, những gia đình đang bất hòa và những tâm hồn tưởng mình đã hết đường trở về. Xin chạm đến họ bằng tình yêu chữa lành. Xin nâng đỡ người chăm sóc bệnh nhân, soi sáng những người đang tìm cách giúp đỡ, và cho người đau khổ gặp được những bàn tay biết nâng niu. Giữa thử thách, xin gìn giữ nơi họ niềm hy vọng và giúp họ nhận ra rằng mình vẫn được yêu thương.
Xin cho Hội Thánh luôn trung thành với sứ mạng Chúa trao. Xin nâng đỡ các mục tử, các nhà truyền giáo và mọi người đang âm thầm phục vụ Tin Mừng. Phần con, xin cho con biết ở lại với Chúa trong cầu nguyện, bước theo Chúa trong đời sống và đem tình yêu Chúa đến những nơi con được sai đi. Mỗi ngày, xin giúp con đáp lại tiếng gọi bằng một việc tốt cụ thể, một lòng trung thành sâu hơn, một tình yêu chân thật hơn. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.

Ca nhập lễ
Đây là những vị Thánh, mà Chúa đã tuyển chọn trong tình yêu chân thành, và đã ban cho ngài vinh quang muôn đời.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, Chúa đã dùng lời các thánh tông đồ rao giảng để cho chúng con được nhận biết danh Chúa. Xin nhận lời hai thánh tông đồ Si-mon và thánh Giu-đa cầu nguyện mà cho Hội Thánh được phát triển không ngừng khắp nơi trên trần thế . Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc I: Ep 2, 19-22
“Anh em đã được xây dựng trên nền tảng các tông đồ và các tiên tri”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Êphêxô.
Anh em thân mến, anh em không còn là khách trọ và là khách qua đường nữa, nhưng là người đồng hương với các thánh và là người nhà của Thiên Chúa: anh em đã được xây dựng trên nền tảng của các Tông đồ và Tiên tri, và chính Ðức Kitô làm đá góc tường. Trong Người, tất cả toà nhà được xây dựng cao lên thành đền thánh trong Chúa, trong Người, cả anh em cũng được xây dựng làm một với nhau, để trở thành nơi Thiên Chúa ngự trong Thánh Thần.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 18, 2-3. 4-5
Ðáp: Tiếng chúng đã vang cùng trái đất
Xướng: Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa, thanh không kể ra sự nghiệp của Người. Ngày này nhắc nhủ cho ngày khác, đêm này truyện tụng cho đêm kia.
Xướng: Ðây không phải lời cũng không phải tiếng, mà âm thanh chúng không thể lọt tai. Nhưng tiếng chúng đã vang cùng trái đất, và lời chúng truyền ra khắp cõi địa cầu.
Alleluia:
Alleluia, alleluia! – Chúng con ca ngợi Chúa là Thiên Chúa; chúng con tuyên xưng Chúa là Chúa tể; lạy Chúa, ca đoàn vinh quang các tông đồ ca ngợi Chúa. – Alleluia.
Phúc Âm: Lc 6, 12-19
“Người chọn mười hai vị mà Người gọi là tông đồ”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Trong những ngày ấy Chúa Giêsu lên núi cầu nguyện, và suốt đêm Người cầu nguyện cùng Thiên Chúa. Sáng ngày, Người gọi các môn đệ và chọn mười hai vị mà Người gọi là tông đồ: Ðó là Simon mà Người đặt tên là Phêrô và em ông là Anrê, Giacôbê và Gioan, Philipphê và Bartôlômêô, Matthêu và Tôma, Giacôbê con ông Alphê và Simon cũng gọi là nhiệt thành, Giuđa con ông Giacôbê và Giuđa Iscariốt, kẻ phản bội. Người đi xuống với các ông, và dừng lại trên một khoảng đất bằng phẳng, có nhóm đông môn đệ cùng đoàn lũ dân chúng đông đảo từ khắp xứ Giuđêa, Giêrusalem và miền duyên hải Tyrô và Siđôn đến nghe Người giảng và để được chữa lành mọi bệnh tật. Cả những người bị quỷ ô uế hành hạ cũng được chữa khỏi, và tất cả đám đông tìm cách chạm tới Người, vì tự nơi Người phát xuất một sức mạnh chữa lành mọi người.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, trong ngày kính hai thánh tông đồ Si-mon và thánh Giu-đa được Chúa ban thưởng vinh quang thiên quốc, xin Chúa nhận của lễ và lời cầu của chúng con mà làm cho chúng con thêm vững vàng tin tưởng hầu xứng đáng tham dự thánh lễ này. Chúng con cầu xin…
Ca hiệp lễ
Chúa phán: Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, trong ngày lễ kỷ niệm hai thánh tông đồ Si-mon và thánh Giu-đa chịu khổ hình, chúng con đã đón nhận bí tích Mình và Máu Chúa Kitô, và đang được Chúa Thánh Thần tác động. Xin cho bí tích này luôn gìn giữ chúng con trong tình yêu Chúa. Chúng con cầu xin…

SỐNG MẦU NHIỆM TÔNG ĐỒ: ÂN SƠN, SỨ VỤ VÀ CHỨNG TÁ CAN TRƯỜNG TRONG ĐỜI SỐNG KI-TÔ HỮU
Hòa nhịp trong dòng chảy phụng vụ thánh thiêng của Hội Thánh, ngày 28 tháng 10 hằng năm mở ra trước mắt cộng đoàn đức tin một khung trời hiệp thông đầy xác tín và hồng ân, khi chúng ta cùng hân hoan mừng kính hai vị Thánh Tông Đồ Si-mon và Giu-đa. Trong mầu nhiệm hiệp thân của Thân Thể Mầu Nhiệm là Đức Giê-su Ki-tô, cuộc đời và sứ mạng của hai đấng thánh này không chỉ là những trang sử vàng son của thời giáo đoàn sơ khai, mà còn là tấm gương phản chiếu sống động, là nền tảng kiên vững cho chính ơn gọi, đời sống và sứ vụ chứng tá của mỗi người chúng ta hôm nay. Thánh Phao-lô tông đồ, trong bức thư gửi tín hữu Ê-phê-sô, đã củng cố niềm hy vọng và định vị chỗ đứng của người tín hữu giữa dòng đời khi khẳng định rằng: anh em không còn là người xa lạ hay khách trọ, nhưng là người đồng hương với các người thuộc về thánh gia, là người nhà của Thiên Chúa, được xây dựng trên nền móng là các tông đồ và ngôn sứ, còn đá góc tường chính là chính Đức Giê-su Ki-tô. Lời khẳng định ấy vang lên như một tiếng gọi thức tỉnh tâm hồn chúng ta hãy nhìn lại nguồn gốc ơn gọi cao quý của mình. Chúng ta được mời gọi bước vào bài giảng sâu lắng này để cùng nhau chiêm ngắm năm chiều kích nền tảng định hình nên đời sống Ki-tô hữu: từ cội nguồn ơn gọi phát xuất từ lời cầu nguyện thẳm sâu của Thầy Chí Thánh, qua hành trình làm môn đệ khiêm tốn, bước sang sứ mạng loan báo Tin Mừng hân hoan, đối diện với ơn gọi tử đạo can trường qua cái chết và sự từ bỏ chính mình, cho đến sức mạnh của lời chuyển cầu cứu độ nâng đỡ những hoàn cảnh ngặt nghèo nhất.
Chiều kích thứ nhất khởi đi từ căn tính của ơn gọi, nơi mà nền tảng của mọi ơn gọi tông đồ không bắt nguồn từ những toan tính nhân loại, những chiến lược truyền giáo khôn ngoan hay những tiêu chuẩn học thức xuất chúng của trần gian, nhưng được thai nghén và sinh ra từ chính bầu khí cầu nguyện thâm trầm của Đức Giê-su. Phúc Âm theo thánh Lu-ca ghi lại một chi tiết vô cùng quan trọng trước thời khắc định mệnh chọn lựa nhóm Mười Hai: Đức Giê-su đã lên núi cầu nguyện, Người thức suốt đêm để thưa chuyện với Chúa Cha. Đêm dài thanh vắng ấy không phải là một khoảng thời gian nghỉ ngơi tĩnh lặng đơn thuần, mà là một cuộc chiến đấu thiêng liêng, một sự phó thác tuyệt đối và là một hành động chuyển cầu thiết tha của người Con Một trước mặt Chúa Cha. Người đã cầu nguyện cho từng người mà Người chuẩn bị chọn lựa, gọi tên từng người trong tâm tình yêu mến thiết tha. Những cái tên như Si-mon, Giu-đa, cùng với Phê-rô, An-rê, Gia-cô-bô, Gio-an và các vị khác đã được cội nguồn tình yêu từ trái tim Thiên Chúa ôm ấp qua những giọt nước mắt và lời khẩn nài trong đêm vắng. Sự cầu nguyện của Đức Giê-su không dừng lại ở đêm trên núi trước khi chọn nhóm Mười Hai, mà còn kéo dài suốt chặng đường sứ vụ công khai và đạt đến đỉnh cao trong bữa Tiệc Ly. Tại đó, trước giờ phút bước vào cuộc khổ nạn, Người đã lớn tiếng cầu nguyện cho các môn đệ: “Lạy Cha Thánh, xin gìn giữ họ trong danh Cha mà Cha đã ban cho con, để họ nên một như chúng ta… Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin gìn giữ họ khỏi ác thần. Xin thánh hiến họ trong sự thật.” Sự cầu nguyện của Chúa Giê-su còn mang một sắc thái cụ thể và cá vị khi Ngài quay sang Phê-rô và nói rằng Xa-tan đã xin được sàng anh em như sàng gạo, nhưng Ngài đã cầu nguyện riêng cho Phê-rô để đức tin của ông không bị tơi tả, và khi đã trở lại, ông phải có bổn phận làm vững mạnh anh em mình.
Nhìn lại hành trình đức tin của chính mình, mỗi người chúng ta buộc phải cúi đầu tạ ơn Thiên Chúa trong sự kinh ngạc thánh thiêng. Ơn gọi Ki-tô hữu của chúng ta, ơn gọi dấn thân phục vụ trong Hội Thánh, không phải là một sự tình cờ của lịch sử cá nhân hay do ngẫu nhiên xô đẩy, mà khởi nguồn sâu xa từ chính lời cầu nguyện không ngừng nghỉ của Đức Giê-su Ki-tô. Ngài đã cầu nguyện cho chúng ta từ ngàn xưa, trước khi chúng ta cất tiếng chào đời, và Ngài vẫn đang tiếp tục cầu nguyện cho chúng ta trong từng thánh lễ, trong mỗi phút giây thử thách, lầm than hay yếu đuối của cuộc đời. Khi chúng ta vấp ngã, khi sứ mạng gặp gian truân, khi những hiểu lầm và bách hại vây quanh, chính lời cầu bầu của Đấng Phục Sinh đang âm thầm nâng đỡ, giữ gìn đức tin chúng ta không bị dập tắt. Sự thật này mời gọi chúng ta phải sống với một thái độ tri ân sâu sắc, đồng thời học lấy gương Thầy Chí Thánh để biến đời mình thành một chuỗi dài cầu nguyện cho nhau, biết kiên trì chuyển cầu cho anh chị em mình đứng vững trong ơn nghĩa Chúa.
Chiều kích thứ hai dẫn dắt chúng ta vào hành trình làm môn đệ, một hành trình đòi hỏi sự khiêm tốn tuyệt đối và sự biến đổi tâm hồn từ bên trong. Khi Đức Giê-su bước xuống núi sau đêm dài cầu nguyện, thánh sử Lu-ca tường thuật rằng Ngài đã chọn nhóm Mười Hai từ chính các môn đệ của mình, nghĩa là từ những người đang theo sát chân Ngài như những học trò khao khát lắng nghe lời sự sống. Điểm đáng kinh ngạc là Đức Giê-su không tìm kiếm những học giả uyên bác từ các trường phái kinh sư danh giá, không chọn những biệt phái khắt khe tự mãn với sự công chính hình thức của lề luật, cũng chẳng màng đến những người quyền thế có địa vị cao sang trong xã hội. Ngài chọn những con người hết sức bình dị, những ngư phủ thô ráp bên bờ biển hồ Ga-li-lê, những người thu thuế bị coi là tội lỗi đàm tiếu, những con người tầm thường và bé mọn theo tiêu chuẩn của thế gian. Đức Giê-su hành động theo logic của tình yêu thương nhưng đầy nghịch lý: Người chọn những kẻ yếu đuối để làm hổ thẹn những kẻ mạnh mẽ, chọn những kẻ không là gì để hạ nhục những gì là vĩ đại trước mặt đời. Hai vị thánh Si-mon và Giu-đa mà chúng ta mừng kính hôm nay chiếm một vị thế khiêm tốn trong danh sách các tông đồ, thậm chí được đặt ở những vị trí áp chót ngay trước Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, kẻ phản bội. Cho đến tận ngày nay, ngay cả trong cung thánh đền thờ thánh Phê-rô tại Rô-ma, di hài của hai ngài cũng nằm lặng lẽ dưới bàn thờ thánh Giu-se, khuất lấp và khiêm nhường dưới sự che chở của Bí tích Thánh Thể, không có những mái vòm hoành tráng hay những tác phẩm nghệ thuật lẫy lừng phô trương như các vị khác. Nhưng chính sự khiêm tốn ẩn dật ấy lại tỏa ngát một hương thơm nhân đức tuyệt vời, bởi vì đối với Đức Giê-su, điều cốt lõi không phải là nhãn hiệu xã hội, giai cấp hay sự nổi tiếng, mà là tấm lòng rộng mở biết khao khát ơn cứu độ.
Đặc biệt, sự kết hợp giữa các môn đệ trong nhóm Mười Hai là một minh chứng hùng hồn về quyền năng của ân sủng trong việc vượt qua mọi hố sâu chia rẽ tự nhiên của con người. Hãy tưởng tượng sự hiện diện của Si-mon, người được gọi là “Quá Khích” hay “Nhiệt Thành” (Zealot), một thành viên thuộc nhóm cực đoan có tư tưởng chống đối Roma bằng bạo lực và khinh bỉ những kẻ bán nước, lại được đặt đứng chung một chiến hào với Ma-thêu, kẻ từng là một tên thu thuế làm tay sai cho chính quyền thực dân bóc lột đồng bào mình. Theo lý trí tự nhiên và hận thù thế gian, Si-mon và Ma-thêu phải là kẻ thù không đội trời chung, sẵn sàng lao vào ẩu đả khi đối mặt. Thế nhưng, tình yêu của Đức Giê-su đã bẻ gãy mọi hàng rào thù hận, biến những con người có khuynh hướng đối lập gay gắt trở thành những người anh em ruột thịt trong một cộng đoàn hiệp nhất. Điều này đặt ra một dấu hỏi lớn cho đời sống Hội Thánh và cộng đoàn chúng ta hôm nay. Biết bao nhiêu lần chúng ta vẫn để cho những khác biệt về quan điểm, chính trị, sở thích, giai cấp hay văn hóa chia rẽ tình huynh đệ, quên mất rằng trong Đức Giê-su Ki-tô, chúng ta được mời gọi vượt lên trên mọi xung đột để trở nên một thân thể duy nhất. Trở thành môn đệ đích thực nghĩa là phải luôn ngồi dưới chân Thầy để được Ngài uốn nắn, từ bỏ cái tôi kiêu căng tự phụ, và nhìn nhận người anh em bên cạnh mình không phải qua lăng kính thành kiến, mà bằng ánh mắt bao dung và thương xót của Thiên Chúa.
Chiều kích thứ ba mở ra chân trời của sứ mạng tông đồ và truyền giáo. Danh hiệu “tông đồ” tự bản chất mang ý nghĩa là “những người được sai đi”, là những sứ giả, những đại sứ mang trọng trách loan báo triều đại Thiên Chúa đến tận cùng trái đất. Sau khi được huấn luyện, kèm cặp và biến đổi trong tình yêu của Thầy, nhóm Mười Hai không thể giữ lại ơn phước cho riêng mình; ngọn lửa bừng cháy trong lồng ngực buộc họ phải lên đường. Tiếng vọng từ Thánh Vịnh vang lên trong phụng vụ hôm nay: “Tiếng găm vang đi khắp mặt đất, và thông điệp truyền đến tận cùng cõi trần gian”, đã nên trọn qua cuộc đời xả thân không mệt mỏi của các ngài. Những con người mộc mạc ngày nào đã băng qua những nẻo đường hiểm trở của thế giới cổ đại, vượt qua biển khơi giông bão, đối mặt với hiểm nguy trùng trùng để gieo vãi hạt giống Tin Mừng cứu độ. Họ không chịu giấu nén nén bạc Chúa trao, không thỏa mãn với sự an toàn cá nhân, nhưng bị thôi thúc bởi lòng nhiệt thành cứu các linh hồn. Nhìn lại bối cảnh hiện tại, khi nhân loại đang sở hữu những phương tiện khoa học kỹ thuật tối tân, những phương tiện truyền thông chớp nhoáng, trí tuệ nhân tạo, xe hơi tốc độ cao và những chuyến bay vượt đại dương, chúng ta tự hỏi lòng mình đã tận dụng những ơn huệ đó thế nào cho công cuộc loan báo Tin Mừng? Sứ mạng truyền giáo không phải là đặc quyền của riêng linh mục hay tu sĩ, mà là bản chất không thể tách rời của bí tích Rửa tội. Mỗi người Ki-tô hữu, bằng chính đời sống hằng ngày, bằng lời nói đầy bác ái và việc làm thấm đượm Tin Mừng, được sai đến với những vùng ngoại biên của xã hội đương đại, nơi con người đang đói khát tình thương, chìm đắm trong cô đơn và tuyệt vọng, để đem ánh sáng dịu ngọt của tình yêu Thiên Chúa đến cho họ.
Chiều kích thứ tư, vô cùng hệ trọng và đòi hỏi sự hy sinh triệt để, chính là con đường tử đạo. Các tông đồ Si-mon và Giu-đa đã không chỉ rao giảng bằng lời nói suông, mà họ đã đóng ấn cho lời chứng của mình bằng chính máu đào của sự tử đạo. Họ sẵn sàng đón nhận cái chết cay đắng vì danh Đức Giê-su, chấp nhận đi theo Thầy đến cùng con đường hạt lúa mì phải mục nát đi mới sinh nhiều bông hạt. Họ đã lội ngược dòng một thế giới đầy thù hận bằng sự tha thứ, dùng thân mình làm tấm bia đỡ đạn cho những mũi tên bách hại, và coi việc bị sỉ nhục, bách hại vì Đức Ki-tô không phải là tai họa, mà là hồng phúc lớn lao. Lời mời gọi tử đạo hôm nay không nhất thiết đòi hỏi mọi người chúng ta phải đổ máu theo nghĩa đen như các ngài trong thời kỳ cấm cách, nhưng nó hiện thân qua hình thức “tử đạo trắng”, nghĩa là cái chết hằng ngày đối với cái tôi ích kỷ, cái tôi kiêu ngạo, xác thịt và tội lỗi. Sống đạo trong một xã hội tục hóa và thực dụng hôm nay đòi hỏi lòng can đảm phi thường để dám lội ngược dòng, dám bảo vệ sự thật, dám sống bác ái vị tha khi xung quanh người ta chuộng sự ích kỷ và bạo lực. Một người Ki-tô hữu không dám chết đi cho những đam mê tội lỗi của bản thân thì không thể nào loan báo một Tin Mừng cứu độ có sức mạnh biến đổi lịch sử. Hiệu năng của việc rao giảng Tin Mừng phụ thuộc hoàn toàn vào mức độ chúng ta dám sống chết cho niềm tin ấy, để ngôn ngữ cơ thể, cách hành xử và toàn bộ cuộc đời chúng ta trở thành bài giảng hùng hồn nhất chạm đến trái tim của những người chung quanh.
Chiều kích thứ năm và cũng là điểm khép lại tuyệt mỹ của bức tranh tâm linh hôm nay chính là sức mạnh của lời chuyển cầu. Khi nhắc đến thánh Giu-đa, tâm thức đạo đức của dân Chúa ngay lập tức liên tưởng đến ngài như vị thánh bảo trợ của những hoàn cảnh tuyệt vọng, những ca bệnh nan y, những gia đình tan vỡ, những nút thắt tưởng chừng không bao giờ gỡ nổi trong đời sống con người. Lòng sùng kính này không phải là một sự cuồng tín mông muội, mà phát xuất từ kinh nghiệm thiêng liêng sâu xa của bao thế hệ tín hữu từ thời Trung cổ, qua chứng từ của các thánh như thánh Bê-na-đô hay thánh Bir-gít, khi họ chạy đến với ngài trong những cơn ngặt nghèo và nhận được những phép lạ nhãn tiền vượt quá sức tưởng tượng. Thiên Chúa đã đặt để nơi thánh nhân một đặc ân chuyển cầu kỳ diệu để nhắc nhở nhân loại rằng không có hoàn cảnh nào là quá muộn màng, không có mảnh đời nào là bị Thiên Chúa lãng quên, và không có bế tắc nào mà ơn thánh Chúa không thể xuyên thủng. Hơn thế nữa, bài học từ các ngài mời gọi mỗi người chúng ta cũng phải trở thành những trung gian chuyển cầu cho tha nhân. Đời sống Ki-tô hữu đích thực là một đời sống đan xen giữa những lời cầu nguyện không nguôi dành cho thế giới đau khổ này. Khi chúng ta dâng lời cầu xin cho những người lầm đường lạc lối, cho những người đang quằn quại trong bệnh tật và chiến tranh, chúng ta đang tiếp nối sứ mạng của Thầy Chí Thánh và các tông đồ. Giờ phút này, khi chuẩn bị bước vào phần Phụng Vụ Thánh Thể linh thiêng, nơi bánh và rượu trở nên Mình và Máu Thánh Chúa, nơi lệnh truyền “Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta” được tái diễn qua đôi tay linh mục, chúng ta hãy mang tất cả những nỗi thống khổ, những ý nguyện phó thác của anh chị em vào bàn thờ Chúa. Xin cho các thánh Si-mon và Giu-đa chuyển cầu cho chúng ta biết gìn giữ lửa nhiệt thành, sống xứng đáng là những viên đá sống động được xây dựng trên nền tảng các tông đồ, để qua đời sống hiệp nhất, yêu thương và dấn thân của chúng ta, danh thánh Chúa được cả sáng trên mặt đất này cho đến muôn đời.
Lm. Anmai, CSsR

ĐƯỜNG BƯỚC THEO THẦY: TỪ MÁNG LỚM ĐẾN NHÂN CHỨNG TỬ ĐẠO
Hôm nay, bước vào phụ vụ ngày 28 tháng 10, Giáo hội hân hoan mừng kính hai vị Thánh Tông đồ Si-mon và Giu-đa. Khi ngước nhìn lên các ngài, chúng ta không chỉ dừng lại ở những trang sử vàng son của thời kỳ Giáo hội tiên khởi, nhưng là để soi chiếu chính căn tính Kitô hữu của mỗi người chúng ta vào gương sáng đức tin kiên cường, vào ơn gọi cao quý, vào tinh thần môn đệ đích thực và sứ mạng truyền giáo đầy cam go mà các ngài đã lãnh nhận và hoàn tất bằng chính mạng sống của mình. Thánh Phao-lô trong bức thư gửi tín hữu Ê-phê-sô đã khẳng định một chân lý nền tảng rằng đời sống đức tin của chúng ta được xây dựng trên nền tảng của các Tông đồ và ngôn sứ, với chính Đức Giê-su Ki-tô làm đá tảng góc tường. Việc mừng kính hai thánh Tông đồ Si-mon và Giu-đa hôm nay mời gọi chúng ta đào sâu năm chiều kích cốt lõi định hình nên một người môn đệ bước theo Chúa: Khởi nguồn từ đời sống cầu nguyện, căn tính của người môn đệ, tinh thần hiệp nhất bất chấp những khác biệt nguyên thủy, lòng nhiệt thành tông đồ hăng say, chứng tá của máu đào tử đạo, và quyền năng mạnh mẽ của lời chuyển cầu.
Khi đọc lại Tin Mừng theo thánh Lu-ca thuật lại biến cố Đức Giê-su chọn lựa nhóm Mười Hai, chúng ta đối diện với một chi tiết vô cùng quan trọng và sâu sắc: trước khi đưa ra quyết định trọng đại này, Chúa Giê-su đã lên núi và thức thâu đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa. Ngài không chọn các môn đệ dựa trên những tính toán khôn ngoan thuần túy con người, không dựa trên các cuộc thăm dò xã hội, hay các tiêu chuẩn học thức lẫy lừng của các học viện Kinh Thánh thời bấy giờ. Sự chọn lựa ấy được ấp ủ, được thanh luyện và được định hình hoàn toàn trong mối tương quan mật thiết không ranh giới giữa người Con và Chúa Cha qua suốt một đêm dài hướng lòng lên trời cao.
Biến cố thâu đêm cầu nguyện ấy nối kết trực tiếp với lời cầu nguyện thiết tha mà Chúa Giê-su sẽ dâng lên Chúa Cha trong Bữa Tiệc Ly: “Lạy Cha thánh, xin giữ họ trong danh Cha mà Cha đã ban cho con, để họ nên một như chúng ta… Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin giữ họ khỏi ác thần. Xin thánh hiến họ trong sự thật.” Đặc biệt, trước cuộc khổ nạn, Ngài đã quay sang Phê-rô và nói rằng: “Hỡi Si-mon, Si-mon, kìa Satan đã xin được sàng anh em như mì, nhưng thầy đã cầu nguyện cho anh để đức tin của anh không tơi tả, và khi anh đã trở lại, hãy làm cho anh em mình vững mạnh.”
Nhìn ngắm hai thánh Si-mon và Giu-đa, và nhìn ngắm chính bản thân mình trong giờ phút này, chúng ta được mời gọi để ý thức một sự thật kỳ diệu: ơn gọi làm Kitô hữu, ơn gọi bước theo đường ngũ thánh của chúng ta, chưa bao giờ là một sự ngẫu nhiên tình cờ của lịch sử. Nó bắt nguồn từ chính lời cầu nguyện bền bỉ và thiết tha mà Chúa Giê-su đã dâng lên Chúa Cha từ muôn thuở và đang tiếp tục chuyển cầu cho chúng ta trong mỗi thánh lễ, trong mỗi phút giây thử thách của cuộc đời. Ngài cầu nguyện để đức tin của chúng ta không lụi tàn trước những cơn bão giông của thế tục, để chúng ta được thánh hiến trong chân lý và để tình yêu của Thiên Chúa đổ tràn trong tâm hồn chúng ta. Do đó, đời sống thiêng liêng của chúng ta chỉ có thể đứng vững khi nó neo đậu chắc chắn vào dòng suối cầu nguyện không ngừng nghỉ ấy. Khi chúng ta mỏi mệt, khi chúng ta ngã lòng trước những yếu đuối bản thân hay những bất công xã hội, hãy nhớ rằng chúng ta luôn có một Đấng đang hằng sống để cầu thay nguyện giúp cho chúng ta trước ngai tòa Thiên Chúa.
Điều thứ hai làm chúng ta phải ngạc nhiên khi nhìn vào danh sách mười hai Tông đồ được Đức Giê-su chọn lựa đó là nguồn gốc của các ngài. Chúa Giê-su không tìm kiếm những bậc hiền triết uyên bác nhất, không chiêu mộ những người Phar-sêu đạo đức giả hình với những chiếc áo dài rợp phố hay những người có gia thế lẫy lừng. Ngài bước xuống chân núi, rảo bước qua những miền đất ven hồ, ghé qua các bến thuyền đánh cá, những trạm thu thuế ô uế, và cất tiếng gọi những con người rất đỗi bình thường, tầm thường dưới mắt người đời, thậm chí có những người mang nhiều thương tích và góc khuất.
Hai thánh Si-mon và Giu-đa trong danh sách của thánh sử Lu-ca đều nằm ở những vị trí khiêm tốn cuối danh sách, ngay trước kẻ phản bội Giu-đa Ít-ca-ri-ốt. Ngôi mộ của hai ngài tại đền thờ thánh Phê-rô ở Rô-ma cũng nằm lặng lẽ ở một góc trang nghiêm nhưng khuất lấp, không phô trương những mái vòm vĩ đại hay những bức tượng đồng hoành tráng như vị thủ lãnh các Tông đồ. Điều đó nhắc nhở chúng ta một chân lý cốt lõi: trong vương quốc của Thiên Chúa, điều quan trọng không phải là chúng ta vĩ đại thế nào theo tiêu chuẩn trần thế, mà là chúng ta nhận thức rõ bản thân mình nghèo hèn ra sao trước ơn thánh Chúa.
Chúa gọi các ngài, và gọi mỗi người chúng ta, không phải vì chúng ta tài giỏi hay vô tội, nhưng vì lòng thương xót hải hà của Ngài. Ngài muốn dùng những chiếc bình sành dễ vỡ là chính chúng ta để chứa đựng kho tàng ân sủng cao cả. Tinh thần môn đệ đòi hỏi chúng ta phải có một thái độ khiêm tốn triệt để, luôn sẵn sàng ngồi dưới chân Thầy Chí Thánh để học hỏi, để được uốn nắn, và để từ bỏ cái tôi kiêu ngạo. Khi một người Kitô hữu quên mất căn tính làm môn đệ của mình, khi họ bắt đầu tự hào về những thành tựu tôn giáo hay quyền lực trần thế, thì đó cũng là lúc họ đánh mất tinh thần của Tin Mừng và biến đời sống đạo thành một thứ hình thức trống rỗng.
Một điểm đặc biệt vô cùng hấp dẫn và mang tính thời sự sâu sắc khi chúng ta suy ngẫm về hai vị thánh hôm nay chính là sự kết hợp kỳ diệu giữa hai con người có xuất thân và tư tưởng tưởng chừng như đối nghịch nhau hoàn toàn trong cùng một nhóm Mười Hai. Thánh Si-mon được gọi là “Si-mon Quá Khích” hay “Si-mon Biệt Thệ” (Zealot). Trong bối cảnh xã hội Do Thái thời bấy giờ, nhóm Biệt Thệ là những người có lòng nhiệt thành cực đoan đối với lề luật, họ chủ trương dùng bạo lực, gươm giáo và các biện pháp quyết liệt để lật đổ ách thống trị tàn bạo của Đế quốc Rô-ma, thanh tẩy đất thánh khỏi những kẻ ngoại bang ô uế.
Thế nhưng, trong kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa, Si-mon Biệt Thệ lại được đặt ngồi chung một bàn tiệc, chung một sứ mạng, chung một lý tưởng với những con người khác, và đặc biệt là với những người mà lẽ ra theo tư tưởng chính trị của ông, ông phải coi là kẻ thù hoặc kẻ bán nước. Chúa Giê-su không quan tâm đến các nhãn dán xã hội, không chia rẽ con người theo các phe nhóm hay giai cấp chính trị. Ngài quy tụ tất cả lại trong tình yêu bao trùm của Ba Ngôi Thiên Chúa, biến những con người có xu hướng xung đột trở nên những người anh em ruột thịt trong một gia đình đức tin.
Bài học này vang lên mạnh mẽ trong lòng Giáo hội hôm nay và trong đời sống của mỗi cộng đoàn chúng ta. Đã bao nhiêu lần chúng ta chia rẽ nhau vì những khác biệt chính trị, tư tưởng, văn hóa, thế hệ hay cách thức thực hành đạo? Đã bao nhiêu lần chúng ta dán nhãn cho người khác, coi những ai không cùng quan điểm với mình là kẻ thù cần phải loại trừ? Mừng kính thánh Si-mon và Giu-đa là dịp để chúng ta cúi đầu sám hối trước sự thiếu hiệp nhất của chính mình, đồng thời nài xin ơn Chúa để Người hàn gắn mọi rạn nứt. Trong Đức Giê-su Ki-tô, không còn ranh giới giữa người Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, người theo phái này hay phái khác; tất cả chúng ta đều là chi thể trong một thân thể mầu nhiệm duy nhất, được nuôi dưỡng bởi một nguồn cội tình yêu duy nhất.
Sau khi được chọn và được huấn luyện, mười hai con người ấy được trao phó một danh hiệu mới vô cùng trọng đại: Tông đồ, nghĩa là “những người được sai đi”. Các ngài không được phép giữ lấy ơn cứu độ cho riêng mình, không được phép giấu nén ngọn lửa đức tin trong những góc khuất an toàn của sự ích kỷ cá nhân. Tình yêu của Đức Giê-su quá lớn lao, ơn cứu chuộc của Ngài quá vĩ đại, đòi hỏi phải được lan tỏa đến tận cùng cõi đất.
Theo truyền thống thánh hiền của Giáo hội, sau biến cố Ngũ Tuần, hai thánh Si-mon và Giu-đa đã mang ngọn lửa Tin Mừng đi đến những chân trời góc bể khác nhau của thế giới cổ đại. Thánh Si-mon được truyền tụng là đã đi rao giảng tại xứ sở Ba Tư, Ai Cập và nhiều vùng đất hiểm trở khác, mang theo niềm hy vọng phục sinh đến cho những dân tộc chưa từng biết ơn Chúa. Thánh Giu-đa, người mà truyền thống thường gắn liền với bức thư mang tên ngài đầy uy lực cảnh tỉnh và khích lệ đức tin, cũng đã bước chân lên những nẻo đường truyền giáo gian nan tại Mê-sô-pô-ta-mi-a, bươn chải qua bao nhiêu ngọn núi, dòng sông, đối diện với muôn vàn hiểm nguy để gieo vãi hạt giống Lời Chúa.
Nhìn lại khả năng truyền giáo của chúng ta hôm nay, khi mà thế giới hiện đại trang bị cho chúng ta biết bao nhiêu phương tiện truyền thông tối tân, xe cộ nhanh chóng, internet toàn cầu, máy bay vượt đại dương, thì đôi khi ngọn lửa nhiệt huyết trong tim chúng ta lại trở nên nguội lạnh hơn bao giờ hết. Chúng ta có thể dễ dàng chia sẻ những tin tức vô bổ trên mạng xã hội hàng giờ liền, nhưng lại ngần ngại, hổ thẹn khi phải nói một lời chứng nhân về lòng thương xót của Thiên Chúa cho một người đồng nghiệp đang chìm đắm trong tuyệt vọng. Lễ kính hai thánh Tông đồ hôm nay là lời đánh thức mạnh mẽ, chất vấn chúng ta về tinh thần tông đồ: Chúng ta đã làm gì với kho tàng đức tin mà cha ông để lại? Chúng ta đã mang Chúa đến cho những vùng ngoại biên nào trong cuộc sống của những người xung quanh chúng ta?
Đỉnh cao trong hành trình bước theo Thầy Chí Thánh của các Tông đồ chính là cái chết tử đạo. Cả thánh Si-mon và thánh Giu-đa cuối cùng đều đã lấy máu đào của mình để ký kết cho lòng trung kiên tuyệt đối với danh thánh Chúa Giê-su. Theo các biên niên sử cổ xưa về các thánh nhân, thánh Si-mon đã chịu chung số phận bị hành hình dã man vì từ chối chối bỏ đức tin, trong khi thánh Giu-đa cũng chịu tử đạo tại xứ Ba Tư sau khi đã hoán cải vô số tâm hồn hướng về ánh sáng chân lý.
Các ngài đã không ngần ngại uống chén đắng mà Thầy Giê-su đã uống. Các ngài hiểu rằng hạt lúa mì nếu không rơi xuống đất và thối đi thì sẽ chỉ trơ trọi một mình, nhưng nếu nó thối đi, nó mới trổ sinh nhiều bông hạt. Tử đạo không chỉ là việc đổ máu ra ngoài chiến trường bách hại, mà còn là tiến trình “tử đạo trắng” diễn ra từng ngày trong thâm tâm mỗi người: chết đi cho cái tôi ích kỷ, chết đi cho những tham sân si, chết đi cho tội lỗi và những toan tính vụn vặt của thế gian để cho Đức Ki-tô thực sự lớn lên trong ta.
Thế giới hôm nay có thể không đòi hỏi chúng ta phải đổ máu trên đoạn đầu đài, nhưng thế giới ấy đang rất cần những con người dám sống ngược dòng, dám chịu thiệtòi vì sự thật, dám đứng vững trước những cám dỗ vật chất và quyền lực để làm chứng cho các giá trị Tin Mừng. Khi một Kitô hữu dám sống trọn vẹn tinh thần thập giá, dám tha thiết yêu thương kẻ thù và kiên định làm điều thiện giữa một xã hội đầy rẫy sự vô cảm, thì đó chính là một hình thức tử đạo hùng hồn nhất, đánh động mạnh mẽ nhất đến những tâm hồn đang lầm đường lạc lối.
Khi nhắc đến thánh Giu-đa, lòng dân Chúa lập tức trào dâng một niềm cảm mến đặc biệt đối với vị thánh được tôn kính là đấng bảo trợ cho những hoàn cảnh tuyệt vọng, những vụ việc tưởng chừng như bế tắc hoàn toàn không còn lối thoát. Lòng sùng kính này không phải là một thứ mê tín dị đoan, mà xuất phát từ lịch sử sâu xa của các cuộc hành hương qua nhiều thế kỷ, nơi mà các tín hữu khi đối diện với những nghịch cảnh ngặt nghèo nhất của bệnh tật, gia đình tan vỡ, khủng hoảng tài chính hay khủng hoảng tinh thần, đã khiêm tốn chạy đến nài xin sự bầu cử của ngài và đã nhận được những ơn lạ vô cùng lớn lao.
Điều này dạy cho chúng ta một bài học lớn về chiều kích hiệp thông của các thánh trong Giáo hội. Các ngài không phải là những bức tượng đá vô tri vô giác đứng yên trên các bệ thờ, nhưng là những người anh em cả đang sống động, đang chiêm ngắm nhan thánh Chúa và hằng ngày chuyển cầu cho chúng ta. Thánh Giu-đa nhắc nhở chúng ta rằng không có hoàn cảnh nào trong cuộc đời của một người tin tưởng vào Chúa lại thực sự là đường cùng. Dù bóng tối của tội lỗi có dày đặc đến đâu, dù nghịch cảnh có khắc nghiệt đến mấy, thì lòng thương xót của Thiên Chúa vẫn luôn lớn hơn tất cả, và các ngài luôn sẵn sàng đưa tay nâng đỡ, dẫn dắt chúng ta đi qua thung lũng bóng chết để đến với ánh sáng bình an.
Cuộc đời và gương sáng của hai thánh Tông đồ Si-mon và Giu-đa không chỉ là những trang sử đẹp để chúng ta đọc lên rồi khép lại, mà là một lời mời gọi khẩn thiết, là một tấm gương soi chiếu cho từng bước chân hành trình đức tin của mỗi chúng ta trong thời đại hôm nay.
Khởi đầu từ một ơn gọi được nuôi dưỡng bằng trọn một đêm cầu nguyện của Thầy Chí Thánh, các ngài đã đáp lại tiếng gọi ấy với tất cả sự chân thành của những con người bé nhỏ, nghèo hèn. Các ngài đã vượt qua mọi rào cản về tư tưởng, thù hận và chia rẽ để nên một trong tình yêu hiệp nhất của Nhiệm Thể Chúa Ki-tô. Các ngài đã hăng say mang ngọn lửa Tin Mừng đi đến tận cùng trái đất, không chùn bước trước những đe dọa bách hại, sẵn sàng dâng hiến cả mạng sống qua cái chết tử đạo đau thương nhưng vinh quang. Và giờ đây, từ cõi vinh hiển trên trời, các ngài vẫn đang dang tay đón nhận, chuyển cầu và nâng đỡ những ai đang lầm than, tuyệt vọng trên con đường lữ thứ trần gian.
Ngước nhìn lên hai vị Thánh Tông đồ hôm nay, chúng ta hãy dâng lời tạ ơn Thiên Chúa vì những ơn lành lớn lao mà Ngài đã tuôn đổ trên Giáo hội qua chứng tá kiên trung của các ngài. Xin cho mỗi người chúng ta, dẫu mỏng dòn yếu đuối và giới hạn, cũng biết mở rộng tâm hồn đón nhận ơn thánh Chúa, biết sống đời sống cầu nguyện sâu sắc, biết yêu thương hiệp nhất với anh chị em xung quanh, và biết can đảm ra đi làm chứng cho Tin Mừng giữa lòng thế giới hôm nay. Xin hai thánh Si-mon và Giu-đa đồng hành, che chở và chuyển cầu cho giáo xứ chúng ta, cho gia đình mỗi người chúng ta, để sau chặng đường chiến đấu ở trần gian, chúng ta cũng được cùng các ngài hưởng hoan lạc muôn đời trong nhà Cha trên trời.
Lm. Anmai, CSsR

BƯỚC THEO THẦY TRÊN NẺO ĐƯỜNG TIN YÊU VÀ HIỆN THỰC HÓA TIN MỪNG GIỮA ĐỜI
Hôm nay, Giáo hội hân hoan mừng kính hai vị thánh Tông đồ Si-mon và Giu-đa, những người đã được Chúa Giê-su Kitô tuyển chọn từ những nẻo đường bình dị của cuộc sống để bước theo Ngài, trở thành những cột trụ vững chắc cho tòa nhà đức tin của Hội Thánh. Khi bước vào mầu nhiệm của ngày lễ này, chúng ta được mời gọi nhìn ngắm ơn gọi cao cả, hành trình đáp trả đầy thách đố nhưng vô cùng tuyệt vời của hai vị thánh, qua đó soi chiếu lại chính đời sống đức tin của mỗi người chúng ta trong lòng xã hội hôm nay.
Trong hành trình đức tin, ơn gọi không bao giờ là một sự tình cờ ngẫu nhiên, nhưng luôn phát xuất từ sáng kiến yêu thương và chương trình quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa. Bài Tin Mừng theo thánh Luca phác họa lại khung cảnh trang nghiêm và sâu lắng trước khi Đức Giê-su tuyển chọn nhóm Mười Hai: Ngài lên núi cầu nguyện và thức suốt đêm cùng Thiên Chúa. Hình ảnh vị Thầy nhân thế thao thức trong đêm vắng để thưa chuyện cùng Chúa Cha cho thấy tầm quan trọng của sứ mạng mà Ngài sắp trao phó. Đức Giê-su không chọn các môn đệ dựa theo những tiêu chuẩn khắt khe của thế gian, cũng không dựa trên tài năng xuất chúng, quyền thế hay sự giàu sang phú quý. Ngài chọn theo ý muốn của Chúa Cha, và trong danh sách mười hai con người ấy, có những nét tính cách rất khác biệt, những mảnh đời vô cùng tầm thường, thậm chí có cả những góc khuất đầy bất định.
Thánh Si-mon, theo truyền thống Kinh Thánh được gọi là người Nhiệt Thành, thuộc nhóm có tư tưởng ái quốc mạnh mẽ, mang trong mình ngọn lửa khát khao độc lập cho dân tộc Do Thái, mong chờ một Đấng Mêsia đến giải phóng ách thống trị trần thế. Thế nhưng, khi gặp gỡ Đức Giê-su, ngọn lửa nhiệt thành ấy đã được thanh luyện, chuyển hướng từ một chủ nghĩa chính trị cục bộ sang lòng nhiệt huyết đối với Nước Trời, một tình yêu cháy bỏng dành cho Tin Mừng cứu độ. Ngài đã không tiếc thân mình để mang ngọn lửa đức tin đi đến những vùng đất xa xôi, rao giảng ơn cứu chuộc và cuối cùng đổ máu đào để làm chứng cho danh Chúa. Cuộc đời thánh nhân nhắc nhở chúng ta rằng, những nhiệt huyết tự nhiên của con người nếu biết đặt vào đúng tâm điểm là Đức Kitô và Tin Mừng, sẽ trở thành động lực mạnh mẽ để phục vụ tha nhân và làm vinh danh Thiên Chúa.
Bên cạnh đó là thánh Giuđa, còn được gọi là Ta-đê-ô, người từng đặt câu hỏi đầy thao thức với Thầy mình trong bữa Tiệc Ly về việc tại sao Thầy lại tỏ mình cho các môn đệ mà không tỏ mình cho thế gian. Ngài là hình ảnh của một tâm hồn chân thành, khao khát ánh sáng, khao khát được thấu hiểu mầu nhiệm Thiên Chúa sâu xa hơn. Dù các Tin Mừng ít ghi chép về ngài, thánh nhân vẫn kiên trung bước đi trên con đường Thầy đã chọn, đem lòng khiêm hạ và sự gắn bó âm thầm để xây dựng Hội Thánh. Trong lịch sử phụng vụ dân gian, ngài còn được tôn kính là vị thánh bảo trợ cho những hoàn cảnh khó khăn tưởng chừng như vô vọng. Điều này cho thấy Thiên Chúa luôn dùng những con người có vẻ như nhỏ bé, ít được chú ý nhất để thực hiện những công trình vĩ đại của Ngài, miễn là họ mở rộng tâm hồn đón nhận ơn sủng và sự hướng dẫn của Thánh Thần.
Nhìn vào cuộc đời của thánh Si-mon và thánh Giuđa, chúng ta nhận ra một chân lý sâu sắc rằng sự thánh thiện không phải là đặc quyền dành riêng cho những ai hoàn hảo từ tấm bé, nhưng là ơn ban nhưng không của Thiên Chúa dành cho những ai khiêm tốn để cho Ngài biến đổi. Chúa Giê-su gọi các ngài không phải vì các ngài đã đạo đức sẵn, nhưng để qua sự đồng hành với Ngài, lắng nghe lời Ngài dạy dỗ, chia sẻ chén đắng ngọt của cuộc đời mục vụ, các ngài được thanh luyện và trở nên những chứng nhân đích thực. Các ngài đã đáp trả tiếng gọi ấy bằng cả trọn vẹn cuộc đời mình, từ những bước chân rong ruổi trên các nẻo đường truyền giáo cho đến cái chết tử đạo đau thương nhưng đầy vinh quang.
Hành trình của hai vị thánh Tông đồ cũng chính là hình ảnh phản chiếu hành trình của mỗi người Kitô hữu chúng ta hôm nay. Qua Bí tích Rửa tội, mỗi người chúng ta cũng được Thiên Chúa gọi tên từng người một, được mời gọi bước vào tình thân hiệp thông sâu xa với Ngài và được sai đi để trở thành muối cho đời, ánh sáng cho thế gian. Thế nhưng, trong cuộc sống thường nhật, chúng ta thường hay vấp ngã trước những cám dỗ về danh vọng, tiền tài, quyền lực hay sự ích kỷ tầm thường. Có những lúc chúng ta để cho ngọn lửa nhiệt huyết ban đầu lụi tàn trước những thử thách, khó khăn của cuộc sống, hoặc buông xuôi trong những hoàn cảnh tưởng chừng như bế tắc.
Bài học từ thánh Si-mon mời gọi chúng ta hãy canh tân lòng nhiệt thành của mình. Nhiệt thành không phải là sự hăng say bộc phát theo cảm tính, mà là một thái độ dấn thân triệt để cho Tin Mừng, biết đem tinh thần bác ái, sự công chính và lòng thương xót của Chúa vào trong gia đình, nơi làm việc và giữa lòng xã hội tục hóa này. Đừng để những lo toan vật chất hay những tranh chấp hơn thua làm nguội lạnh tình yêu thuở ban đầu đối với Chúa. Hãy để cho Thần Khí Chúa thanh luyện những ý hướng tự nhiên của chúng ta, để mọi suy nghĩ, lời nói và hành động đều quy hướng về vinh quang Thiên Chúa và ích lợi cho tha nhân.
Đồng thời, bài học từ thánh Giuđa khích lệ chúng ta hãy luôn vững vàng niềm cậy trông, nhất là trong những giờ phút tăm tối, đau khổ hay tuyệt vọng của cuộc đời. Khi đối diện với bệnh tật, khủng hoảng kinh tế, đổ vỡ gia đình hay những bế tắc trong công việc, chúng ta dễ rơi vào ngã lòng, đánh mất hy vọng. Chính lúc ấy, tấm gương kiên trung của vị thánh bổn mạng những hoàn cảnh khó khăn nhắc nhở chúng ta chạy đến cùng Chúa với một đức tin đơn sơ nhưng mãnh liệt. Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi những ai kêu cầu Ngài bằng tất cả sự chân thành và tín thác. Ngài có cách của Ngài để biến những sa mạc khô cằn thành những dòng suối mát lành, và biến những nghịch cảnh thành cơ hội để ơn thánh Chúa được rạng ngời.
Đời sống tông đồ hôm nay không đòi hỏi mỗi người chúng ta phải chịu tử đạo bằng gươm giáo hay máu đổ ra nơi pháp trường như các bậc tiền nhân thuở trước, nhưng đòi hỏi một thứ tử đạo trắng âm thầm và bền bỉ hơn. Đó là sự từ bỏ ý riêng mỗi ngày, là việc lội ngược dòng trước những trào lưu thực dụng, ích kỷ và dửng dưng của thế giới đương đại. Tử đạo trắng là việc sống Lời Chúa một cách trọn vẹn giữa đời thường, biết tha thiết cầu nguyện cho những ai lầm đường lạc lối, biết chia sẻ cơm áo gạo tiền với người bất hạnh, và biết kiến tạo hòa bình, yêu thương ở những nơi có hận thù, chia rẽ.
Hơn nữa, mừng lễ hai thánh Tông đồ cũng là dịp để chúng ta nhìn lại chiều kích hiệp thông trong Hội Thánh. Chúa Giê-su không chọn một cá nhân đơn độc để làm việc một mình, nhưng Ngài gọi nhóm Mười Hai, một tập thể gồm những con người với đủ mọi cá tính, trình độ và xuất thân khác nhau để sống chung, chia sẻ và cùng nhau loan báo Tin Mừng. Điều đó nhắc nhở chúng ta rằng, đời sống đạo không thể là một hành trình khép kín cá nhân, mà phải được thể hiện qua tình hiệp nhất huynh đệ trong giáo xứ, trong các hội đoàn và trong gia đình. Sự khác biệt về quan điểm, tính cách không phải là bức tường chia rẽ, mà là nét đẹp phong phú trong thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô, đòi hỏi chúng ta phải biết nhường nhịn, dung thứ và yêu thương nhau như Chúa đã truyền dạy.
Khi ngắm nhìn các ngài, chúng ta cũng được mời gọi dâng lời cảm tạ Thiên Chúa vì những ơn lành ngài đã tuôn đổ trên Hội Thánh qua bao thế hệ. Nhờ máu các thánh tử đạo và chứng tá kiên trung của các Tông đồ, hạt giống đức tin đã được gieo vãi khắp muôn phương và trổ sinh hoa trái dồi dào đến tận thời đại hôm nay. Trách nhiệm của thế hệ chúng ta là gìn giữ, vun trồng và làm cho gia tài đức tin ấy tiếp tục sinh hoa kết trái nơi con cái, cháu chắt và những người chung quanh chúng ta. Đừng để ngọn đèn đức tin mà các bậc tiền nhân đã dày công thắp sáng bị lu mờ hay tắt ngấm giữa dòng đời xuôi ngược.
Nguyện xin qua lời chuyển cầu của thánh Si-mon và thánh Giuđa, xin Thiên Chúa ban cho mỗi người chúng ta một ơn gọi kiên vững, một lòng nhiệt thành hăng say và một niềm cậy trông tuyệt đối vào lòng thương xót của Chúa. Xin cho chúng ta biết noi gương các ngài, sẵn sàng thưa hai tiếng xin vâng trước mọi thánh ý Chúa, dấn thân phục vụ anh chị em bằng cả trái tim yêu thương, để qua cuộc sống hằng ngày của chúng ta, danh Chúa được cả sáng và Nước Trời được lan rộng đến muôn người.
Lm. Anmai, CSsR

SỐNG TIN MỪNG TRONG LẶNG LẼ VÀ TRUNG KIÊN: MẦU NHIỆM ƠN GỌI VÀ SỨ MẠNG CỦA THÁNH SI-MON VÀ THÁNH GIU-ĐA TÔNG ĐỒ
Hôm nay, phụng vụ thánh thiện của Giáo Hội hân hoan mừng kính hai vị Thánh Tông Đồ Si-mon và Giu-đa. Khi nhắc đến hai danh xưng này, tâm hồn chúng ta được mời gọi bước vào một chiều kích sâu thẳm của mầu nhiệm ơn gọi, mầu nhiệm hiệp thông và sứ mạng. Trong bức tranh toàn cảnh về Nhóm Mười Hai, có những tông đồ được Kinh Thánh khắc họa với rất nhiều chi tiết, lời nói và hành động cụ thể như Phê-rô, Gio-an hay Gia-cô-bê. Thế nhưng, cũng có những tông đồ xuất hiện vô cùng kín đáo, dường như ẩn mình trong lặng lẽ, chỉ được nhắc đến qua danh sách tên tuổi hoặc một vài câu hỏi nhỏ thỏm bên lề các biến cố lớn. Thánh Si-mon và Thánh Giu-đa thuộc về nhóm những người lặng lẽ ấy. Sự khiêm tốn trong Tin Mừng của các ngài không làm lu mờ đi ánh quang vinh của đức tin, trái lại, càng làm nổi bật hơn vẻ đẹp tuyệt mỹ của lòng trung kiên âm thầm mà bền đỗ cho đến cùng.
Nhìn ngắm cuộc đời và hành trình theo Chúa của hai Thánh Tông Đồ, chúng ta được mời gọi xâu chuỗi lại ý nghĩa của việc làm môn đệ trong đời sống thực tế hôm nay. Cuộc đời của mỗi người Ki-tô hữu không phải lúc nào cũng diễn ra dưới ánh đèn sân khấu hào nhoáng của những thành công vang dội hay những tràng pháo tay tán thưởng. Phần lớn cuộc đời của chúng ta diễn ra trong những không gian bình dị, những công việc thường nhật nhỏ bé, những nỗi âm thầm hy sinh và cả những giọt nước mắt ít ai thấu hiểu. Chính trong bối cảnh ấy, gương sáng của Thánh Si-mon và Thánh Giu-đa trở thành ngọn hải đăng soi chiếu, nhắc nhở chúng ta về giá trị của sự trung tín trong từng bước chân theo Chúa, dẫu cho thế gian có thờ ơ hay lãng quên.
Trước hết, chúng ta hãy dừng lại để chiêm ngắm Thánh Si-mon, người được gọi là “Nhiệt Thành” hay “Cananéen”. Biệt hiệu này gợi lên trong lịch sử Do Thái thời bấy giờ một nhóm người mang trong mình ngọn lửa sục sôi cho lề luật, một khao khát cháy bỏng về sự giải phóng chính trị và tôn giáo khỏi ách thống trị ngoại bang, thậm chí sẵn sàng dùng bạo lực hoặc những biện pháp cực đoan để bảo vệ gia sản của tiền nhân. Thế nhưng, khi được Chúa Giê-su gọi bước vào hàng ngũ Môn Đệ, ngọn lửa nhiệt thành mang tính trần thế và chính trị ấy đã được thanh luyện triệt để từ cội rễ. Đức Giê-su không dập tắt nhiệt huyết của Si-mon, Ngài không biến sự hăng hái thành sự thờ ơ lạnh nhạt, nhưng Ngài đã chuyển hóa hướng đi của ngọn lửa ấy. Từ chỗ muốn dùng gươm giáo và sự khích bác trần gian để đổi thay thời cuộc, Si-mon đã học nơi Thầy Chí Thánh cách đem ngọn lửa tình yêu hy sinh, ngọn lửa của lòng xót thương và Tin Mừng cứu độ để đốt cháy thế giới.
Sự biến đổi của Thánh Si-mon là bài học lớn lao cho mỗi người chúng ta. Ai trong chúng ta khi bước theo Chúa cũng mang theo những nhiệt huyết, những hoài bão, đôi khi cả những tính khí bộc trực, những định kiến hoặc sự nóng nảy rất con người. Chúng ta muốn bảo vệ chân lý theo cách của riêng mình, muốn áp đặt ý muốn của mình lên người khác bằng sự gay gắt nhân danh lòng đạo đức. Nhưng Tin Mừng mời gọi chúng ta hãy để cho Thầy Giê-su thanh luyện ngọn lửa nhiệt thành trong tâm hồn. Nhiệt thành tông đồ không phải là sự hiếu chiến, không phải là sự phấn khích nhất thời hay tinh thần loại trừ, mà là một tình yêu kiên vững, dám xả thân vì ơn cứu độ của tha nhân, dám đón nhận thánh ý Chúa ngay cả khi điều đó đi ngược lại với tính toán thiệt hơn của bản thân.
Bên cạnh Thánh Si-mon là Thánh Giu-đa, còn được gọi là Tha-đê để phân biệt với Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, kẻ phản bội Thầy. Trong Tin Mừng theo thánh Gio-an, có một chi tiết rất đẹp và sâu sắc liên quan đến vị tông đồ này. Trong bữa tiệc ly, khi Chúa Giê-su nói về việc Ngài sẽ tỏ mình ra cho những ai yêu mến Ngài mà không tỏ mình cho thế gian, thánh Giu-đa đã cất lên câu hỏi đầy trăn trở: “Thưa Thầy, tại sao lại như vậy? Tại sao Thầy lại chuẩn bị tỏ mình ra cho chúng con mà không tỏ mình cho thế gian?”. Câu hỏi ấy không chỉ là sự tò mò của riêng một cá nhân, mà là tiếng lòng thổn thức của bao thế hệ nhân loại trước mầu nhiệm Thiên Chúa. Tại sao Thiên Chúa toàn năng lại chọn con đường ẩn giấu? Tại sao Ngài không hiển linh một cách rực rỡ trước mắt mọi người để ép buộc thế gian phải tin nhận?
Chúa Giê-su đã không đưa ra một lời giải thích mang tính triết lý cao siêu hay một công thức khoa học để thỏa mãn sự tò mò ấy, nhưng Ngài đã đáp lại bằng một chân lý của tình yêu thẳm sâu: “Nếu ai yêu mến tôi, thì sẽ giữ lời tôi, và Cha tôi sẽ yêu mến người ấy, và chúng tôi sẽ đến và ở lại với người ấy”. Câu trả lời của Chúa Giê-su mở ra một bước ngoặt vĩ đại: Thiên Chúa không mặc khải quyền năng của Ngài qua những màn trình diễn oai hùng làm chấn động địa cầu, nhưng Ngài chọn cung lòng của những kẻ bé mọn, những ai khiêm nhường thực thi lời Ngài làm đền thờ ngự trị. Thánh Giu-đa qua câu hỏi ấy đã đại diện cho chúng ta để nhận ra rằng: hiểu về Thiên Chúa không phải là nắm bắt Ngài bằng lý trí kiêu ngạo, mà là dấn thân bước vào mối tình tương giao mật thiết, sống động qua việc tuân giữ các giới răn trong đời sống hằng ngày.
Cuộc đời của hai vị Tông Đồ sau biến cố Ngũ Tuần là một hành trình dài của sự hiến dâng trọn vẹn. Theo truyền thống thánh thiện của Giáo Hội, cả hai ngài đã cùng sát cánh bên nhau bước đi trên những nẻo đường truyền giáo đầy chông gai thử thách, mang ngọn lửa Tin Mừng đến những vùng đất xa xôi như vùng Lưỡng Hà, Ba Tư và nhiều nơi khác. Các ngài không tìm kiếm danh vọng hay vị thế cho riêng mình. Các ngài không bận tâm đến việc ai là người đứng đầu hay ai được ngợi khen. Điều duy nhất chi phối tâm hồn các ngài chính là niềm khao khát làm cho danh thánh Chúa được cả sáng, làm cho ơn cứu độ được lan tỏa đến những tâm hồn còn đang chìm đắm trong bóng tối của tội lỗi và sự hoang mang. Cuối cùng, đỉnh cao của hành trình đức tin ấy chính là cái chết tử đạo. Các ngài đã chu toàn sứ mạng đến giọt máu cuối cùng, lấy chính mạng sống của mình để minh chứng cho tình yêu tuyệt đối dành cho Đức Ki-tô Phục Sinh.
Nhìn vào chứng tá của hai thánh nhân, chúng ta được mời gọi nhìn lại chính bản chất của Giáo Hội. Giáo Hội không phải là một tổ chức nhân sự thuần túy quản lý theo mô hình trần thế, cũng không phải là một tập hợp của những con người hoàn hảo không vết nhơ. Giáo Hội được xây dựng trên nền tảng của các Tông Đồ, với Đức Giê-su Ki-tô là viên đá góc tường. Sự thánh thiện của Giáo Hội không đến từ sự tài giỏi của con người, nhưng đến từ sức sống mãnh liệt của Chúa Thánh Thần đang tuôn đổ trong từng nhiệm thể. Mỗi người chúng ta, khi lãnh nhận bí tích Thanh Tẩy, cũng được mời gọi trở thành những viên đá sống động được đặt trên nền tảng tông đồ ấy. Chúng ta được kết nối với nhau không phải bởi sợi dây lợi lộc hay ý thức hệ tạm bợ, mà bởi cùng một đức tin, cùng một tình yêu và cùng một ơn gọi nên thánh.
Trong đời sống xã hội hôm nay, việc giữ vững đức tin và sống theo tinh thần Tin Mừng chưa bao giờ là điều dễ dàng. Thế giới chung quanh chúng ta đang vận hành theo những giá trị hoàn toàn trái ngược với Tin Mừng của Đức Ki-tô. Chủ nghĩa thực dụng đề cao cái tôi ích kỷ, chủ nghĩa tương đối chối bỏ chân lý tuyệt đối, và sự dửng dưng vô cảm đang làm băng hoại những mối dây liên kết chân tình giữa con người với con người. Người Ki-tô hữu sống giữa lòng thế giới ấy rất dễ rơi vào trạng thái nản lòng, mệt mỏi, hoặc có xu hướng khép kín trong những nhóm nhỏ an toàn để tránh né những va chạm với thực tại. Có những lúc chúng ta tự hỏi: liệu sự dấn thân âm thầm của mình cho lòng bác ái, sự tử tế trong công việc, sự trung thực trong gia đình có thực sự mang lại ý nghĩa gì không khi mà cái ác và sự bất công dường như vẫn đang lấn lướt?
Chính trong những phút giây hoang mang và thử thách ấy, gương sáng của Thánh Si-mon và Thánh Giu-đa đến như một lời nhắc nhở mạnh mẽ rằng: sức mạnh của người môn đệ không nằm ở số lượng đông đảo hay ở quyền lực trần thế, mà nằm ở sự trung tín tuyệt đối vào ơn gọi của mình. Một hạt lúa mì rơi xuống đất, nếu không chịu chết đi, thì vẫn trơ trọi một mình; nhưng nếu chết đi, nó mới sinh ra nhiều bông hạt. Các thánh Tông Đồ đã không ngần ngại tiêu hao đời mình cho sứ mạng. Các ngài đã chấp nhận đi vào những vùng đất bão hòa sự thù hận bằng một trái tim tràn ngập tình yêu thương và lòng khoan dung. Các ngài không sợ hãi trước những đe dọa, không chùn bước trước những hiểu lầm, bởi vì các ngài xác tín rằng Đấng các ngài tin tưởng chính là Đấng đã chiến thắng sự chết và ban sự sống đời đời.
Đời sống gia đình của chúng ta cũng rất cần đến tinh thần tông đồ này. Trong mái ấm gia đình hằng ngày, biết bao nhiêu áp lực đè nặng lên đôi vai của những người làm cha, làm mẹ và con cái. Những bất hòa nhỏ nhặt, những khác biệt về thế hệ, những lo toan cơm áo gạo tiền rất dễ làm nguội lạnh ngọn lửa yêu thương ban đầu. Mừng kính hai Thánh Tông Đồ hôm nay là dịp để mỗi gia đình nhìn lại cách thức chúng ta đang xây dựng tổ ấm của mình. Một gia đình Công giáo không chỉ là nơi để cùng nhau sinh sống qua ngày, mà phải là một hội thánh tại gia, nơi Lời Chúa được lắng nghe, nơi sự tha thiết tha thứ được thực hành mỗi ngày, và nơi tình yêu hy sinh được đặt làm nền tảng cốt lõi. Khi vợ chồng biết nhường nhịn nhau, khi con cái biết hiếu kính với sinh thành, và khi mọi người biết cùng nhau nâng đỡ nhau trong lời cầu nguyện, thì chính ngôi nhà nhỏ bé ấy đã trở thành một đền thờ sống động của Thiên Chúa giữa lòng đời.
Trong đời sống giáo xứ và cộng đoàn giáo hội rộng lớn hơn, tinh thần của Thánh Si-mon và Thánh Giu-đa mời gọi chúng ta vượt qua những chia rẽ, đố kỵ, hay tinh thần bè phái cục bộ. Đôi khi trong các hội đoàn hay giáo xứ, chúng ta dễ rơi cạm bẫy của việc tranh giành quyền lực, khẳng định cái tôi cá nhân, quên mất rằng mục đích duy nhất của mọi sinh hoạt tông đồ là làm vinh danh Chúa và cứu rỗi các linh hồn. Nhìn ngắm hai vị thánh đi chung một con đường, chia sẻ cùng một sứ mạng và cùng chung một máu đào tử đạo, chúng ta hiểu rằng sự hiệp nhất trong đa dạng là sức mạnh tối thượng của Giáo Hội. Mỗi người có một ơn gọi riêng, một tài năng khác nhau, nhưng tất cả đều được mời gọi chung tay góp sức để xây dựng thân thể mầu nhiệm của Đức Ki-tô. Không có đóng góp nào là nhỏ bé nếu được thực hiện với tình yêu lớn lao; không có hy sinh nào là vô nghĩa nếu được đặt trọn vào bàn tay nhân ái của Thiên Chúa.
Hơn thế nữa, sứ mạng của người môn đệ trong thời đại kỹ thuật số và toàn cầu hóa hôm nay đòi hỏi một sự bén nhạy mới, nhưng đồng thời cũng cần một chiều sâu thiêng liêng vững chắc. Chúng ta đang sống trong một thế giới ngập tràn thông tin, nơi con người có thể kết nối với nhau chỉ qua một cú chạm màn hình, nhưng paradoxically (trớ trêu thay), con người lại ngày càng cảm thấy cô đơn hơn, trống rỗng hơn và lạc lõng hơn bao giờ hết. Giữa một xã hội khát khao ý nghĩa sống nhưng lại loay hoay tìm kiếm sai chỗ ấy, người Ki-tô hữu được mời gọi trở thành những chứng nhân của niềm hy vọng. Chúng ta không cần phải là những nhà hùng biện lớn hay những học giả lừng danh để làm chứng cho Chúa. Đôi khi, chỉ cần một ánh mắt cảm thông, một cử chỉ sẻ chia chân thành, một thái độ kiên nhẫn lắng nghe người đang đau khổ, hoặc một sự tha thiết cầu nguyện cho những ai đang lầm đường lạc lối, cũng đủ để phản chiếu ánh sáng dịu dàng của Tin Mừng vào những góc khuất tối tăm của cuộc đời.
Hãy nhìn lại câu hỏi của thánh Giu-đa trong bữa tiệc ly để tự vấn tâm hồn mình hôm nay: Chúng ta đang biểu lộ Chúa cho thế gian bằng cách nào? Liệu qua đời sống hằng ngày của chúng ta, người ta có nhận ra khuôn mặt nhân hậu và xót thương của Thiên Chúa không? Hay ngược lại, chính những ích kỷ, giận hờn, ghen tị và lối sống dửng dưng của chúng ta lại đang làm che khuất đi dung nhan tuyệt mỹ của Ngài trước mặt những người chung quanh? Thiên Chúa không chọn những con người tài giỏi phi thường theo chuẩn mực của thế gian để làm tông đồ cho Ngài, nhưng Ngài chọn những con người biết mở rộng cõi lòng để cho ơn thánh biến đổi, những con người dẫu yếu đuối mỏng giòn nhưng lại dám đặt trọn niềm tin cậy vào lòng thương xót Chúa.
Thánh Si-mon từ một người mang khát vọng bạo lực trần thế đã trở thành một tông đồ hiền lành và can đảm của Thập Giá. Thánh Giu-đa từ một tâm hồn trăn trở với những câu hỏi lớn đã trở thành một cột trụ vững chắc của đức tin và tình yêu hiệp thông. Cả hai ngài đã minh chứng rằng cuộc đời của một môn đệ chân chính không đo lường bằng những tiếng vang trần thế, mà đo lường bằng mức độ sẵn sàng từ bỏ ý riêng để đi trọn con đường mà Thầy đã vạch ra. Đó là con đường của hạt lúa mì chịu mục nát, con đường của tình yêu không biên giới, con đường của sự xả thân phục vụ cho đến hơi thở cuối cùng.
Khi dâng thánh lễ này, hoặc khi suy gẫm về các ngài trong giờ phút thinh lặng của tâm hồn, chúng ta hãy phó thác toàn bộ cuộc đời mình cho sự quan phòng yêu thương của Thiên Chúa. Xin cho mỗi người chúng ta biết noi gương hai Thánh Tông Đồ Si-mon và Giu-đa, biết sống âm thầm nhưng mãnh liệt trong đức tin, biết làm cho ngọn lửa nhiệt thành tông đồ luôn bùng cháy trong từng công việc nhỏ bé hằng ngày. Xin cho chúng ta đừng bao giờ chùn bước trước những khó khăn thử thách hay sự chống đối của thế gian, bởi vì chúng ta luôn có Đấng Phục Sinh hằng đồng hành và nâng đỡ.
Nguyện xin qua lời chuyển cầu thiết tha của hai Thánh Tông Đồ Si-mon và Giu-đa, Thiên Chúa tuôn đổ muôn ơn lành xuống trên cộng đoàn chúng ta, canh tân đời sống đức tin của mỗi người, ban cho gia đình chúng ta sự bình an hiệp nhất, và hướng dẫn bước chân chúng ta luôn đi trọn con đường chân lý và sự thật. Xin cho chúng ta biết dùng chính cuộc đời thường nhật của mình để viết nên một bản tình ca đẹp dâng lên Thiên Chúa, một bản tình ca được viết bằng lòng trung kiên bền đỗ, bằng sự dấn thân quên mình và bằng tình yêu mến vô biên dành cho Chúa và anh chị em đồng loại, để rồi khi hành trình trần世 khép lại, chúng ta cũng được xứng đáng chung phần vinh quang muôn đời với các thánh trên trời.
Lm. Anmai, CSsR

HƯỚNG VỀ NGUỒN SÁNG ĐÍCH THỰC: TÁI KHÁM PHÁ VẺ ĐẸP CỦA ĐỨC TIN QUA GƯƠNG SÁNG CÁC THÁNH TÔNG ĐỒ SI-MON VÀ GIU-ĐA
Hành trình của đức tin Kitô giáo chưa bao giờ là một lý thuyết trừu tượng hay một hệ thống triết lý thuần túy do con người tự dựng xây, nhưng là một cuộc gặp gỡ sống động với Đức Giêsu Kitô, Đấng hằng sống và là trung tâm của lịch sử nhân loại. Trong khung cảnh phụ vụ của ngày 28 tháng 10, Hội Thánh hân hoan mừng kính hai thánh Tông Đồ Si-mon và Giu-đa. Hai vị thánh này, dù không chiếm những vị trí nổi bật nhất trong các sách Tin Mừng và thường ít được nhắc đến hơn so với Phê-rô hay Gio-an, lại mang một sứ điệp vô cùng sâu sắc và thiết yếu cho đời sống của mỗi tín hữu trong mọi thời đại. Cuộc đời và chứng tá của các ngài mời gọi chúng ta lội ngược dòng thời gian để trở về với cội nguồn ơn gọi, để chiêm ngắm và thấu cảm sâu xa vẻ đẹp rạng ngời của hồng ân đức tin. Đức tin ấy không phải là gánh nặng của những lề luật khô khan, mà là ánh sáng bừng lên trong tâm hồn, là sức sống nội tâm biến đổi toàn diện cuộc đời con người, và là ngọn lửa sưởi ấm một thế giới đang nguội lạnh trước tình yêu Thiên Chúa.
Khi nhìn ngắm khuôn mặt của thánh Si-mon, được truyền thống gọi là người Ca-na-an hay người Nhiệt Thành, chúng ta bắt gặp một con người mang trong mình ngọn lửa nhiệt huyết sục sôi. Trước khi bước theo Đức Giêsu, Si-mon thuộc nhóm những người nhiệt thành, những người vì lòng yêu mến lề luật và đất nước Do Thái mà sẵn sàng dùng mọi phương thế, thậm chí cả bạo lực, để giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị ngoại bang. Ngọn lửa trong lòng Si-mon là ngọn lửa của sự bất bình trước sự bất công, là khát vọng đổi thay xã hội theo quan điểm trần thế. Thế nhưng, cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu Na-da-rét đã thực hiện một cuộc cách mạng vĩ đại trong tâm hồn ông. Ngài không dập tắt ngọn lửa nhiệt thành ấy, trái lại, Đức Giêsu đã thanh luyện, hướng dẫn và nâng cao nó. Ngọn lửa chính nghĩa trần thế nay được chuyển hóa thành ngọn lửa của lòng mến Chúa và yêu người, ngọn lửa của tình yêu Thánh Giá và Tin Mừng cứu độ. Si-mon học được rằng vương quốc của Thiên Chúa không đến bằng gươm giáo hay bạo lực của con người, nhưng bằng quyền năng của sự khiêm nhường, tự hiến và tình yêu tha thứ đến cùng. Sự chuyển biến từ một người nhiệt thành theo nghĩa chính trị sang một tông đồ nhiệt thành vì Tin Mừng là một bài học cao quý cho mỗi chúng ta. Trong đời sống thường nhật, biết bao lần chúng ta cũng mang trong mình những nhiệt huyết lệch lạc, những hăng say theo ý riêng, những bực dọc trước nghịch cảnh xã hội. Nhìn lên thánh Si-mon, chúng ta được mời gọi để xin ơn thanh luyện ý hướng, để cho ngọn lửa nhiệt thành của Chúa Thánh Thần thiêu rụi những ích kỷ tầm thường, biến chúng ta thành những chứng nhân hăng say rao giảng ơn cứu độ bằng con đường khiêm hạ và bác ái chân thành.
Bên cạnh thánh Si-mon là thánh Giu-đa, còn được gọi là Ta-đê, người được thế gian biết đến qua bức thư mang tính ngôn sứ đầy mạnh mẽ trong Tân Ước và đặc biệt là vị thánh bảo trợ cho những hoàn cảnh tuyệt vọng, những ngõ cụt của cuộc đời. Trong đêm Tiệc Ly, khi Đức Giêsu hé mở về mầu nhiệm vinh quang của Thiên Chúa và việc Ngài sẽ tỏ mình ra cho các môn đệ, chính thánh Giu-đa đã cất lên câu hỏi đầy trăn trở: “Thưa Thầy, tại sao Thầy lại sẽ tỏ mình ra cho chúng ta mà không tỏ mình ra cho thế gian?” Câu hỏi ấy cũng chính là thao thức ngàn đời của con người trước một Thiên Chúa dường như ẩn giấu, một Thiên Chúa không dùng những oai linh hiển hách theo cách nhìn trần thế để áp đặt con người, mà lại chọn con đường khiêm tốn bước vào lịch sử qua tình yêu và sự tháp nhập mật thiết. Câu trả lời của Đức Giêsu cho thánh Giu-đa vẫn vang vọng đến muôn đời: “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và Chúng Ta sẽ đến và ở lại với người ấy”. Thiên Chúa không tỏ mình qua sự uy hiếp bên ngoài, nhưng ngự trị trong cõi sâu thẳm của một tâm hồn yêu mến và tuân giữ Lời Ngài. Thánh Giu-đa đã lãnh hội sâu sắc chân lý này để rồi suốt cuộc đời còn lại, ngài trở thành hiện thân của niềm hy vọng kiên vững. Khi đứng trước những khó khăn bủa vây, những bế tắc của cuộc sống hiện đại, khi con người dễ rơi vào cạm bẫy của sự tuyệt vọng và hoài nghi, thánh Giu-đa nhắc nhở chúng ta rằng cội rễ của niềm hy vọng Kitô giáo nằm ở sự gắn bó keo sơn với Đức Giêsu. Ngài là vị thánh của những ca khó, bởi vì ngài minh chứng rằng không có hoàn cảnh nào quá tối tăm mà ánh sáng tình yêu Thiên Chúa không thể chiếu soi, không có cõi lòng nào quá chai đá mà ơn thánh không thể mềm hoá.
Hai vị tông đồ, với hai nét cá tính và con đường riêng biệt, lại được Kinh Thánh đặt sát bên nhau và truyền thống Giáo hội kết hợp các ngài trong cùng một ngày lễ kính. Sự kết hợp ấy nói lên một thực tại phong phú của thân thể mầu nhiệm Chúa Kitô: sự hiệp nhất trong đa dạng. Giáo hội không phải là một khối đơn điệu, một tập hợp những con người rập khuôn, nhưng là một cộng đoàn sống động gồm những cá nhân với những hoàn cảnh, tính cách và lịch sử khác nhau, nhưng cùng được quy tụ quanh một Người Thầy duy nhất là Đức Giêsu. Thánh Si-mon với ngọn lửa nhiệt thành và thánh Giu-đa với chiều sâu thao thức nội tâm cùng chung nhịp đập con tim vì Tin Mừng, cùng hiến dâng trọn vẹn cuộc đời, thậm chí đổ máu đào để làm chứng cho danh thánh Chúa tại miền đất xa xôi. Chứng tá tử đạo của các ngài không phải là sự kết thúc bi thảm, mà là hạt giống trổ sinh hoa trái dồi dào cho cánh đồng truyền giáo của Giáo hội. Qua các ngài, chúng ta thấy rằng việc bước theo Chúa không đòi hỏi chúng ta phải hoàn hảo ngay từ đầu, nhưng đòi hỏi một sự hoán cải liên lỉ, một sự sẵn sàng để cho Ân Sủng nhào nặn từng ngày, biến những con người yếu đuối thành những cột trụ vững chắc của đền thánh tâm hồn.
Nhìn lại bối cảnh của thế giới hôm nay, khi con người chìm ngập trong những lo toan vật chất, khi chủ nghĩa thực dụng và thế tục hóa làm phai mờ chiều kích thiêng liêng, khi con người dễ buông xuôi trước những khủng hoảng của đức tin và luân lý, lời mời gọi từ các thánh Tông Đồ Si-mon và Giu-đa vang lên cấp thiết hơn bao giờ hết: “Hãy làm cho chúng tôi được tái khám phá vẻ đẹp của đức tin”. Vẻ đẹp của đức tin không nằm ở những hình thức ngoại giáo hay những tranh luận triết lý cao siêu, nhưng tỏa sáng rực rỡ qua dung mạo của Đức Giêsu Kitô, Đấng đã yêu thương chúng ta đến cùng trên cây Thập Giá. Đức tin là một món quà cao quý, là ánh mai bình minh xua tan bóng tối hoài nghi, là chiếc neo chắc chắn giữ tâm hồn chúng ta giữa những giông bão cuộc đời. Khi đánh mất đức tin hoặc khi để cho đức tin trở nên nguội lạnh, con người sẽ rơi vào trạng thái cô đơn sâu thẳm, lạc lõng giữa vũ trụ bao la và không còn tìm thấy ý nghĩa đích thực của sự hiện hữu. Vì thế, việc canh tân đời sống đức tin không chỉ là bổn phận, mà còn là ơn huệ lớn lao mà chúng ta phải khẩn khoản này xin mỗi ngày.
Để tái khám phá vẻ đẹp của đức tin, bước đi tiên quyết là chúng ta phải trở về với nguồn mạch Lời Chúa và đời sống cầu nguyện. Đức tin không thể lớn lên nếu không được nuôi dưỡng bằng lương thực đích thực là Lời hằng sống của Thiên Chúa và Thánh Thể. Trong thinh lặng của tâm hồn, khi chúng ta biết gác lại những tiếng ồn ào của thế gian để đối thoại thân tình với Chúa, chúng ta sẽ cảm nghiệm được sự ngọt ngào của tình yêu ơn thánh. Các thánh Tông Đồ đã sống thân mật với Đức Giêsu trên những nẻo đường Pa-lét-tin, lắng nghe từng lời giảng dạy, chứng kiến từng phép lạ và nhất là nhìn ngắm cách sống của Ngài. Chính kinh nghiệm sống động đó đã làm cho đức tin của các ngài trở nên kiên vững trước mọi phong ba bão táp, biến những ngư phủ nghèo hèn và những con người bình thường thành những chứng nhân làm rung chuyển thế giới cổ đại. Ngày nay, chúng ta không còn gặp Đức Giêsu bằng đôi mắt thể lý như các Tông Đồ xưa, nhưng chúng ta được mời gọi gặp gỡ Ngài qua các Bí tích của Giáo hội, qua Lời Thánh Kinh, qua những người anh em nghèo khó và đau khổ xung quanh chúng ta. Mỗi cuộc gặp gỡ tha nhân chính là một cơ hội để chúng ta thực thi đức tin bằng hành động cụ thể, bởi vì đức tin không có việc làm là đức tin chết.
Hơn thế nữa, vẻ đẹp của đức tin còn được biểu lộ qua tinh thần hiệp thông và bác ái trong cộng đoàn Giáo hội. Thánh Phao-lô đã từng nhắc nhở rằng chúng ta là thân thể của Chúa Kitô và mỗi người là những bộ phận khác nhau. Khi một chi thể đau khổ, mọi chi thể khác cùng đau khổ; khi một chi thể được tôn vinh, mọi chi thể khác cùng vui mừng. Trong một xã hội đề cao chủ nghĩa cá nhân, nơi con người ngày càng trở nên xa cách và lạnh lùng với nhau, cộng đoàn Kitô hữu phải là một ốc đảo của tình huynh đệ, một ngọn hải đăng chiếu rọi ánh sáng hy vọng. Các thánh Si-mon và Giu-đa đã đi chung một con đường tông đồ, đã sát cánh bên nhau trong sứ mạng loan báo Tin Mừng và cuối cùng cùng chia sẻ một chén đắng tử đạo. Sự gắn bó ấy minh chứng rằng đức tin không phải là một cuộc hành trình đơn độc, mà là bước đi chung trong một dân tộc được Thiên Chúa tuyển chọn. Chúng ta cần đến nhau để nâng đỡ, để nương tựa và để cùng nhau tiến bước về nhà Cha. Những khác biệt về tính cách, quan điểm hay hoàn cảnh sống không phải là bức tường chia rẽ, mà là những sắc thái phong phú làm cho vẻ đẹp của Thân Thể Chúa Kitô thêm phần rực rỡ, miễn là ở trung tâm của mọi sinh hoạt cộng đoàn luôn có sự hiện diện của tình yêu và lòng thương xót.
Đức tin đích thực cũng không thể tách rời khỏi sứ mạng loan báo Tin Mừng. Một ngọn đuốc được thắp lên không phải để giấu dưới chum giỏ, nhưng là để đặt trên đế đèn chiếu sáng cho mọi người trong nhà. Khi chúng ta thực sự cảm nhận được vẻ đẹp khôn tả của đức tin và niềm vui khôn tả vì được Thiên Chúa yêu thương, chúng ta không thể giữ niềm vui đó cho riêng mình. Nó sẽ tự nhiên bùng cháy và lan tỏa ra xung quanh qua thái độ sống hằng ngày, qua lời nói hiền hòa, qua việc làm bác ái vị tha và qua sự dấn thân phục vụ những ai đang ngụp lặn trong khổ đau, tuyệt vọng. Thế giới hôm nay đang khát khao chứng nhân hơn là thầy dạy. Những lời giảng thuyết hùng hồn có thể thuyết phục trí tuệ con người trong chốc lát, nhưng chỉ có đời sống xả thân vì tình yêu thương mới có thể chạm đến cõi lòng sâu thẳm của họ. Nhìn vào gương sáng của các thánh Tông Đồ, chúng ta được mời gọi bước ra khỏi vùng an toàn của sự ích kỷ cá nhân, dấn thân vào những “vùng ngoại biên” của xã hội, nơi con người đang quằn quại trong đói nghèo, cô đơn và lạc lõng, để mang cho họ hương thơm của lòng nhân hậu Chúa.
Hành trình đức tin cũng đi đôi với sự kiên trì vác thập giá hằng ngày. Theo chân Đức Giêsu chưa bao giờ là con đường rải hoa hồng, nhưng là con đường hẹp đòi hỏi sự từ bỏ ý riêng, sự nhẫn nại đón nhận những thử thách, hiểu lầm và bách hại. Thánh Si-mon và thánh Giu-đa đã phải trả giá bằng cả mạng sống của mình để trung thành với sứ mạng được trao phó. Các ngài đã không chùn bước trước đe dọa của quyền lực trần gian, cũng không nao núng trước những khó khăn tưởng chừng không thể vượt qua. Sức mạnh của các ngài không đến từ bản năng tự nhiên, nhưng đến từ ơn thánh ban tặng cho những ai dám trông cậy tuyệt đối vào Thiên Chúa. Khi chúng ta gặp gian nan trong đời sống gia đình, công việc, hay trong chính hành trình gìn giữ đức tin giữa một thế giới nhiều nghịch lý, xin hãy nhớ đến các ngài. Xin các ngài dạy chúng ta biết biến đau khổ thành lời kinh nguyện, biến thử thách thành cơ hội để thanh luyện tình yêu, và biến những giọt nước mắt thành niềm hy vọng phục sinh.
Trong bầu không khí trang nghiêm và sốt sắng của ngày lễ kính hai vị Tông Đồ, chúng ta hãy dâng lời tạ ơn Thiên Chúa vì hồng ân cao quý là Giáo hội, vì truyền thống đức tin thánh thiện mà bao thế hệ tiền nhân đã đổ mồ hôi, nước mắt và máu đào để gìn giữ và truyền lại cho chúng ta hôm nay. Chúng ta đang đứng trên vai của những người khổng lồ đức tin, và trách nhiệm của chúng ta là không được làm cho ngọn lửa ấy tàn lụi, nhưng phải tiếp tục truyền giữ cho các thế hệ tương lai với tất cả lòng nhiệt thành và niềm xác tín mãnh liệt. Đừng để cho những cơn gió ngược của thế tục hóa làm lung lay niềm tin tưởng vào quyền năng và tình yêu của Chúa. Hãy để cho ánh sáng Tin Mừng thấm nhập vào từng ngóc ngách của đời sống gia đình, xứ đạo và xã hội chúng ta đang sống.
Nguyện xin các thánh Tông Đồ Si-mon và Giu-đa, những cột trụ vững chãi của đền thánh Thiên Chúa, ban cho chúng ta ơn canh tân tâm hồn sâu sắc. Xin các ngài cầu bầu cùng Thiên Chúa ban cho mỗi người chúng ta một đức tin tinh ròng, một niềm hy vọng bất khuất và một tình yêu mến nồng nàn. Xin giúp chúng ta biết tái khám phá vẻ đẹp cao cả của ơn gọi làm con Chúa, để giữa một thế giới đầy những chao đảo và hỗn loạn, chúng ta vẫn hiên ngang đứng vững như những chứng nhân của ánh sáng và sự thật. Xin các ngài đồng hành, che chở và dắt dìu bước chân lữ hành của mỗi người chúng ta, để khi cuộc đời trần thế này khép lại, chúng ta cũng được chung phần vinh quang muôn đời với các ngài và muôn thánh trên quê trời, nơi hoan lạc ngập tràn và tình yêu Chúa chiếu soi muôn thuở.
Lm. Anmai, CSsR

LỬA NHIỆT THÀNH VÀ NIỀM CẬY TRÔNG: HÀNH TRÌNH TÔNG ĐỒ TRONG ÁNH SÁNG THÁNH SI-MON VÀ THÁNH GIU-ĐA
Hôm nay, toàn thể Giáo hội hân hoan cử hành phụng vụ kính hai thánh Si-mon và Giu-đa, hai tông đồ của Chúa Cứu Thế. Khi nhắc đến hai vị thánh này, chúng ta thường đối diện với một thực tế thú vị trong các sách Tin Mừng: các ngài thuộc về nhóm những tông đồ ít được nhắc đến tên tuổi, những con người dường như đứng ở hậu cảnh, lặng lẽ và âm thầm bên cạnh Thầy Chí Thánh. Không có những bản văn dài ghi lại các bài giảng rình rang của Si-mon, cũng chẳng có những đoạn đối thoại dài dòng của Giu-đa ngoại trừ câu hỏi đầy thao thức về căn tính của Đấng Phục Sinh. Thế nhưng, chính trong sự thầm lặng ấy lại ngời sáng một vẻ đẹp tuyệt vời của ơn gọi Kitô hữu: sự dấn thân triệt để, lòng trung thành đến cùng và ơn sủng biến đổi cuộc đời từ những con người rất đỗi tầm thường trở thành những cột trụ vững chãi của tòa nhà Giáo hội.
Nhìn lại bức tranh toàn cảnh của Nhóm Mười Hai, chúng ta không khỏi ngạc nhiên trước cách thức tuyển chọn của Đức Giêsu. Ngài không chọn những bậc hiền triết uyên bác, không chọn các nhà lãnh đạo chính trị lẫy lừng hay những bậc quyền quý giàu sang chốn đền vàng điện ngọc. Ngài đi dọc theo bờ hồ, bước vào cuộc đời của những ngư dân bám biển chơn chất, những người thu thuế bị xã hội miệt thị, và cả những con người mang nặng tư tưởng trần thế như Si-mon, người được gọi là “Nhiệt Thành” hay “Cananeen”. Thuộc nhóm Nhiệt Thành, Si-mon ban đầu mang trong mình ngọn lửa khát vọng độc lập dân tộc, mong mỏi một Đấng Mêsia chiến thắng bằng sức mạnh chính trị và bạo lực gươm giáo để đánh đuổi ngoại bang áp bức. Đó là một ước mơ rất con người, một nhiệt huyết chính đáng về lòng yêu nước, nhưng lại bị giới hạn trong nhãn quan trần tục chật hẹp.
Chúa Giêsu đã đến để thanh luyện, uốn nắn và nâng cao ngọn lửa nhiệt thành ấy. Ngài không dập tắt nhiệt huyết của Si-mon, nhưng chuyển hóa nó từ lòng yêu nước cực đoan thành tình yêu mến vô biên đối với Tin Mừng cứu độ. Ngọn lửa bốc cháy trong lòng Si-mon không còn hướng về một vương quốc trần thế hay những cuộc nổi dậy đẫm máu, mà hướng về Vương quốc của lòng thương xót, nơi con người được giải phóng khỏi ách nô lệ tội lỗi và sự chết. Sự biến đổi này là một bảo chứng hùng hồn cho thấy ơn Chúa không hủy diệt tự do hay cá tính của con người, nhưng kiện toàn và thánh hóa nó, biến những khát vọng tự nhiên thành động lực siêu nhiên để phụng sự Thiên Chúa và tha nhân.
Bên cạnh Si-mon là thánh Giu-đa, hay còn gọi là Ta-đê-ô, người được tôn kính cách đặc biệt trong lòng dân Chúa như vị trạng sư của những hoàn cảnh ngặt nghèo, những nỗi đau thương tưởng chừng đã tuyệt vọng. Trong Tin Mừng, thánh Giu-đa xuất hiện với một chi tiết rất đẹp khi ngài đặt câu hỏi với Chúa Giêsu trong bữa tiệc ly: “Thưa Thầy, tại sao Thầy lại tỏ mình cho chúng con mà không tỏ mình cho thế gian?” Câu hỏi ấy phản ánh nỗi lòng thao thức của một người môn đệ khao khát ánh sáng chân lý được tỏ lộ rộng rãi, khao khát thế giới nhận biết vinh quang của Thầy mình. Câu trả lời của Chúa Giêsu mở ra một chân trời thiêng liêng sâu thẳm: ơn thánh không áp đặt trên những ai khép kín, mà chỉ ngự trị và tỏ lộ nơi những tâm hồn mở ngõ đón nhận tình yêu qua đời sống tuân giữ giới răn và hiệp thông mật khẩu với Thiên Chúa Ba Ngôi.
Cuộc đời của hai vị tông đồ Si-mon và Giu-đa sau những năm tháng sát cánh bên Thầy đã trải dài trên những chặng đường truyền giáo gian nan và khốc liệt. Theo truyền thống thánh hiền, sau khi loan báo Tin Mừng tại nhiều vùng đất khác nhau, hai ngài đã hội ngộ tại xứ Ba Tư và cùng chung chia một số phận tử đạo anh dũng vì danh Đức Giêsu Kitô. Trước áp lực của sự dữ, trước những đe dọa tột cùng của lý hình ngoại giáo buộc từ bỏ đức tin, các ngài đã không mảy may chùn bước. Máu đào của Si-mon và Giu-đa đổ xuống trên mảnh đất truyền giáo không phải là dấu hiệu của sự thất bại, mà là hạt giống trổ sinh những tín hữu mới, là lời tuyên xưng hùng hồn nhất bằng chính mạng sống rằng Đức Kitô thực sự đã sống lại và ngự trị trong lòng lịch sử nhân loại.
Suy ngẫm về hành trình của hai vị thánh hôm nay, chúng ta được mời gọi nhìn lại chính ơn gọi và sứ mạng của mỗi người chúng ta trong lòng Giáo hội thời đại mới. Phụng vụ Lời Chúa nhắc nhở chúng ta rằng nền tảng của Giáo hội không dựa trên tài năng, sức mạnh hay sự khôn ngoan phàm nhân, nhưng được xây dựng trên nền tảng các Tông Đồ, mà chính Đức Giêsu Kitô là viên đá góc tường cực kỳ quý giá. Mỗi Kitô hữu chúng ta, dẫu mang thân phận mỏng giòn, yếu đuối, đầy rẫy những bất toàn và giới hạn, vẫn được Thiên Chúa tuyển chọn từ muôn thuở để trở nên những viên đá sống động gắn kết vào đền thờ thiêng liêng của Ngài.
Trong đời sống thường nhật, không ít lần chúng ta cảm thấy chán nản trước những yếu đuối của bản thân, trước những bế tắc trong công việc, gia đình hay những hoàn cảnh ngặt nghèo tưởng chừng tuyệt vọng. Chính trong những lúc ấy, gương sáng của thánh Giu-đa Ta-đê-ô nhắc nhở chúng ta đừng bao giờ ngã lòng cậy trông. Thiên Chúa là Đấng có quyền năng biến đổi những điều không thể thành có thể, biến những góc khuất tăm tối nhất của cuộc đời thành nguồn mạch của ơn thánh và lòng thương xót. Ngài không chờ đợi chúng ta phải hoàn hảo mới gọi chúng ta, nhưng Ngài gọi chúng ta để qua ơn thánh của Ngài, chúng ta được nên hoàn thiện từng ngày trong tình yêu thương.
Đồng thời, ngọn lửa nhiệt thành của thánh Si-mon cũng chất vấn sự dửng dưng, nguội lạnh của chúng ta trước sứ mạng loan báo Tin Mừng. Thế giới hôm nay đang phải đối diện với biết bao khủng hoảng về giá trị luân lý, sự cô đơn trong lòng đô thị hiện đại, và những lầm lạc do chủ nghĩa vật chất gây ra. Chúa Kitô đang tiếp tục gọi mời mỗi chúng ta bước ra khỏi vùng an toàn của bản thân, dấn thân vào những “vùng ngoại biên” của xã hội để đem hơi ấm tình thương, lòng bác ái và niềm hy vọng Tin Mừng đến cho những mảnh đời bất hạnh. Nhiệt thành tông đồ không đòi hỏi chúng ta phải làm những chuyện động trời, nhưng bắt đầu từ những việc bác ái nhỏ bé hằng ngày: một lời mỉm cười nâng đỡ, một cử chỉ tha thứ chân thành, một sự lắng nghe cảm thông đối với người đang sầu khổ.
Mừng kính hai thánh Tông đồ Si-mon và Giu-đa, chúng ta hãy dâng lời tạ ơn Thiên Chúa vì những hồng ân lớn lao Ngài đã thương ban cho Giáo hội qua chứng tá đức tin kiên cường của các ngài. Xin cho mỗi chúng ta, noi gương các bậc tiền nhân, biết luôn giữ vững ngọn lửa mến Chúa yêu người trong tâm hồn, can đảm làm chứng cho chân lý giữa một thế giới nhiều đổi thay và thử thách. Dù cuộc sống có gặp bao nhiêu chông gai, sóng gió hay những hoàn cảnh tưởng chừng bế tắc, xin cho chúng ta luôn vững một niềm cậy trông vào quyền năng và lòng thương xót Chúa, để bước đi hiên ngang trên con đường trọn lành mà Thầy Chí Thánh đã vạch sẵn cho từng người.
Lm. Anmai, CSsR