Thánh Anphongsô (Alphonsus Liguori) – Lm. Anmai, CSsR
ĐỌC TIN MỪNG BẰNG SỰ TRUNG THỰC VÀ ĐƯA MÁNG CỎ VÀO ĐỜI SỐNG – Lm. Anmai, CSsR
Thánh Anphongsô (Alphonsus Liguori) – Lm. Anmai, CSsR
Thứ 3 tuần XXX TN SỰ THẬT CAO CẢ VỀ NƯỚC THIÊN CHÚA VÀ HÀNH TRÌNH BIẾN ĐỔI ÂM THẦM TRONG ĐỜI SỐNG THƯỜNG NHẬT – Lm. Anmai, CSsR
Thứ 3 tuần XXX TN HƯỚNG ĐI CỦA NƯỚC TRỜI: SỰ ÂM THẦM, KIÊN NHẪN VÀ LỚN LÊN TRONG ÂN SỰ – Lm. Anmai, CSsR
Phụng vụ Lời Chúa – Lời nguyện – Suy niệm (Youtube & bản văn) Thứ Ba tuần XXXX TN – Lm. Anmai, CSsR
BẢN TIN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO Thứ Ba ngày 27 tháng 10 NĂM 2026 – Lm. Anmai, CSsR tổng hợp
LỜI NGUYỆN: XIN CHO NƯỚC CHÚA LỚN LÊN TRONG CON
Lạy Chúa Giêsu, giữa một cuộc đời thường đo giá trị bằng những gì lớn lao, nổi bật và được nhiều người biết đến, Chúa lại dẫn con đến bên một hạt cải bé nhỏ và một nắm men âm thầm. Con vẫn thích nhìn thấy kết quả ngay, thích được công nhận, thích những việc mình làm mang lại thành công rõ rệt. Vì thế, có những ngày con buồn vì thấy mình quá nhỏ bé, những cố gắng quá ít ỏi, những lời cầu nguyện dường như chưa làm thay đổi được điều gì. Xin Chúa đặt vào lòng con niềm tin của người gieo hạt: biết trao hạt giống xuống đất, biết chăm sóc từng ngày, và biết kiên nhẫn với sự sống đang lớn lên ngoài tầm mắt. Xin cho con hiểu rằng điều con chưa nhìn thấy không có nghĩa là Chúa chưa làm việc; điều chưa nở hoa hôm nay không có nghĩa là đã mất hy vọng.
Lạy Chúa, xin gieo hạt giống Nước Trời vào những nơi cằn cỗi nhất trong tâm hồn con. Có nơi đã chai cứng vì những tổn thương lâu ngày, có nơi đầy gai góc của tự ái và ganh tị, có nơi bị bỏ hoang vì con mải mê với bao điều khác. Xin giúp con mở lòng đón nhận lời Chúa, dám để lời ấy chạm đến những thói quen con vẫn muốn giữ, những lỗi lầm con vẫn tìm cách bào chữa, những người con vẫn chưa chịu tha thứ. Xin cho con đừng chỉ nghe Tin Mừng rồi xúc động trong giây lát, nhưng biết đem một lời của Chúa vào cách sống hôm nay: bớt một lời nặng nề, thêm một chút nhẫn nại, dừng một phán xét vội vàng, thực hiện một việc tốt mà con đã trì hoãn từ lâu.
Xin Chúa gìn giữ những hạt giống bé nhỏ trong gia đình con. Một lời xin lỗi còn ngập ngừng, một bữa cơm có đủ người ngồi lại, một kinh tối giữa ngày mệt nhọc, một lần cha mẹ chịu lắng nghe con cái, một lần người con biết hỏi thăm cha mẹ: xin đừng để con xem thường những điều ấy. Có những mái nhà đang lạnh dần vì ai cũng chờ người khác yêu thương trước. Xin cho con biết bắt đầu bằng phần của mình, biết nói một lời dịu dàng, biết ngồi xuống bên người thân, biết đặt chiếc điện thoại sang một bên để nhìn thấy khuôn mặt đang cần con quan tâm. Xin cho tình yêu được vun trồng bằng những việc thật nhỏ, để qua tháng ngày, mái nhà trở thành nơi người yếu mệt có thể trở về và được đón nhận.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa nói đến cây cải lớn lên, để chim trời có thể làm tổ trên cành. Xin cho đời con cũng có một khoảng bình an dành cho người khác. Xin cho người đang buồn có thể tìm nơi con một sự lắng nghe; người vừa vấp ngã gặp nơi con một bàn tay nâng đỡ; người nghèo khó gặp nơi con sự giúp đỡ chân thành; người cảm thấy bị bỏ rơi biết rằng họ vẫn được trân trọng. Xin đừng để con khép cửa lòng chỉ vì sợ phiền, sợ mất thời giờ hay sợ phải chia sẻ. Nhưng xin cũng dạy con phục vụ với lòng khiêm nhường, tôn trọng câu chuyện và phẩm giá của mỗi người, để sự giúp đỡ của con không làm ai phải tủi thân.
Xin cho con trở nên một chút men lành trong những nơi con hiện diện. Giữa những cuộc trò chuyện đầy trách móc, xin cho con biết nói lời công bằng. Giữa những lời đồn làm tổn thương người vắng mặt, xin cho con có can đảm dừng lại. Giữa công việc dễ khiến người ta gian dối, xin giữ con trung thực. Khi gặp sự vô tâm, xin đừng để con cũng trở nên vô tâm; khi bị đối xử thiếu tử tế, xin đừng để nỗi đau biến con thành người chỉ biết làm đau người khác. Xin cho Tin Mừng thấm vào cả cách con kiếm sống, sử dụng tiền bạc, đối xử với người yếu thế và chu toàn những bổn phận hằng ngày.
Lạy Chúa, có những người con đã cầu nguyện cho họ rất lâu mà vẫn chưa thấy đổi thay. Có những bất hòa con đã cố hàn gắn nhưng vẫn còn âm ỉ. Có những yếu đuối trong chính con tưởng đã vượt qua rồi lại trở về. Xin nâng đỡ con trong những lúc ấy. Xin cho con biết phân định điều cần làm, khiêm tốn tìm sự giúp đỡ và bền lòng bước tiếp. Xin dạy con kiên nhẫn mà không thờ ơ, hy vọng mà không trốn tránh trách nhiệm. Con không thể ép một hạt giống lớn lên bằng sự nóng ruột, nhưng con có thể tiếp tục tưới chăm bằng lời cầu nguyện, lòng trung tín và những lựa chọn tốt lành.
Hôm nay, con xin dâng Chúa phần đời nhỏ bé của con: những việc chưa hoàn thành, những yêu thương còn vụng về, những cố gắng chẳng ai biết đến. Xin đón nhận và thanh luyện tất cả. Xin cho con vui vì được góp một chút vào công trình của Chúa, dù con không được nhìn thấy hết hoa trái. Và mỗi tối, khi trở về trước nhan Chúa, xin cho con có thể thưa: hôm nay con đã cố gắng để một người bớt cô đơn, một mái nhà bớt lạnh, một vết thương bớt nhức nhối. Lạy Chúa Giêsu, xin cho Nước Chúa lớn lên trong con, rồi từ con âm thầm lan đến những người Chúa đặt trên đường đời con. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.
Ca nhập lễ
Tâm hồn những ai tìm Chúa, hãy mừng vui. Hãy coi trọng Chúa và quyền năng của Người, hãy luôn luôn tìm kiếm thiên nhan Chúa.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin cho chúng con được thêm lòng tin cậy mến và biết yêu chuộng những điều Chúa truyền dạy, hầu đáng hưởng những gì Chúa hứa ban. Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc Ep 5, 21-33
“Mầu nhiệm này thật lớn lao; trong Ðức Kitô và trong Hội Thánh”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Êphêxô.
Anh em thân mến, anh em hãy phục tùng nhau trong sự kính sợ Ðức Kitô. Người vợ hãy phục tùng chồng mình, như đối với Chúa: vì chồng là đầu người vợ, như Ðức Kitô là đầu Hội Thánh: chính Người là Ðấng Cứu Chuộc thân thể mình. Nhưng như Hội Thánh phục tùng Ðức Kitô thể nào, thì người vợ cũng phục tùng chồng mình trong mọi sự như vậy.
Hỡi những người làm chồng, hãy yêu thương vợ mình, như Ðức Kitô yêu thương Hội Thánh và phó mình vì Hội Thánh để thánh hoá Hội Thánh, khi Người dùng nước và lời hằng sống rửa sạch Hội Thánh, ngõ hầu bày tỏ cho mình một Hội Thánh vinh quang, không vết nhơ, không nhăn nheo, hay phải điều gì khác tương tự, nhưng thánh thiện và vẹn tuyền.
Cũng thế, người chồng phải yêu thương vợ mình như chính thân mình. Ai yêu thương vợ mình, là yêu thương chính mình. Vì không ai ghét thân xác mình bao giờ, nhưng nuôi dưỡng và nâng niu nó, như Ðức Kitô đối với Hội Thánh: vì chúng ta là chi thể của thân xác Người, do xương thịt Người. “Bởi thế, người ta lìa bỏ cha mẹ mình mà kết hợp với vợ mình: và cả hai nên một thân xác”. Mầu nhiệm này thật lớn lao, tôi muốn nói về Ðức Kitô và Hội Thánh. Dù sao, mỗi người trong anh em hãy yêu vợ như bản thân mình, còn vợ thì hãy kính sợ chồng.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 127, 1-2. 3. 4-5
Ðáp: Phúc thay những bạn nào tôn sợ Thiên Chúa (c. 1a).
Xướng: Phúc thay những bạn nào tôn sợ Thiên Chúa, bạn nào ăn ở theo đường lối của Người. Công quả tay bạn làm ra, bạn được an hưởng, bạn được hạnh phúc và sẽ gặp may.
Xướng: Hiền thê bạn như cây nho đầy hoa trái, trong gia thấy nội cung nhà bạn, con cái bạn như những chồi non của khóm ô liu, ở chung quanh bàn ăn của bạn.
Xướng: Ðó là phúc lộc dành để cho người biết tôn sợ Thiên Chúa. Nguyện Thiên Chúa từ Sion chúc phúc cho bạn, để bạn nhìn thấy cảnh thịnh đạt của Giêrusalem, hết mọi ngày trong đời sống của bạn.
Alleluia: Tv 118, 34
Alleluia, alleluia! – Lạy Chúa, xin giáo huấn con, để con tuân cứ luật pháp của Chúa và để con hết lòng vâng theo luật đó. – Alleluia.
Phúc Âm: Lc 13, 18-21
“Hạt cải mọc lên và trở thành một cây to”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, Chúa Giêsu phán rằng: “Nước Thiên Chúa giống như cái gì? Và Ta sẽ so sánh nước đó với cái gì? Nước đó giống như hạt cải mà người kia lấy gieo trong vườn mình. Nó mọc lên và trở thành một cây to, và chim trời đến nương náu trên ngành nó”.
Người lại phán rằng: “Ta sẽ so sánh Nước Thiên Chúa với cái gì? Nước đó giống như tấm men mà người đàn bà kia lấy bỏ vào ba đấu bột, cho tới khi tất cả khối đều dậy men”.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin nhìn đến lễ vật chúng con dâng để tỏ lòng kính tôn thần phục và xin cho lễ tạ ơn này góp phần làm vinh danh Chúa. Chúng con cầu xin…
Ca hiệp lễ
Xin cho chúng tôi được hân hoan mừng Chúa chiến thắng, và nhân danh Thiên Chúa, chúng tôi nâng cao ngọn cờ.
Hoặc đọc:
Đức Kitô đã yêu thương chúng ta, và đã phó mình làm của lễ tế thơm tho ngọt ngào dâng lên Thiên Chúa vì chúng ta.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, xin cho chúng con được hưởng nhờ trọn vẹn ơn thiêng của bí tích chúng con vừa cử hành để nhờ thánh lễ tưởng niệm Ðức kitô chịu thương khó, chúng con được sống lại với Người. Người hằng sống và hiển trị muôn đời…
SỰ THẬT CAO CẢ VỀ NƯỚC THIÊN CHÚA VÀ HÀNH TRÌNH BIẾN ĐỔI ÂM THẦM TRONG ĐỜI SỐNG THƯỜNG NHẬT
Trong hành trình đức tin Kitô giáo, có những câu hỏi đôi khi vang lên trong tâm khảm mỗi người chúng ta một cách sâu lắng và đầy trăn trở: Nước Thiên Chúa thực sự là gì? Làm thế nào để nhận ra sự hiện diện của Ngài giữa một thế giới đầy những biến động, bất an, toan tính và cả những ồn ào vội vã? Khi Con Thiên Chúa bước vào trần gian, Ngài đã không chọn ngôn ngữ của các triết gia vĩ đại hay quyền lực của những vị hoàng đế bách chiến bách thắng để định nghĩa về vương quốc của Ngài. Trái lại, Ngài thường dùng những hình ảnh rất đỗi bình dị, quen thuộc từ đời sống thường ngày của con người: một hạt cải nhỏ bé được gieo xuống lòng đất, hay một nhúm men bé xíu được người phụ nữ vùi vào ba đấu bột. Những hình ảnh ấy thoạt nghe có vẻ khiêm tốn, tầm thường, nhưng ẩn giấu bên trong lại là một sức mạnh siêu nhiên kỳ diệu, một nguồn năng lượng biến đổi tận căn toàn bộ vũ trụ và lịch sử nhân loại.
Khi suy ngẫm về những dụ ngôn này, chúng ta được mời gọi bước vào một chiều sâu mới của tâm hồn để thấu hiểu rằng Nước Thiên Chúa không phải là một ý niệm trừu tượng thuộc về một cõi xa xôi nào đó, cũng không phải là một chế độ chính trị trần thế được kiến thiết bằng gươm giáo hay bạo lực. Nước Thiên Chúa trước hết và trên hết chính là sự hiện diện sống động của chính Thiên Chúa đang ngự trị, hoạt động và hành động trong cõi lòng của những ai mở tung cửa tâm hồn đón nhận Ngài. Nước ấy bắt đầu từ những khởi đầu vô cùng nhỏ bé, tưởng chừng như không đáng kể trong mắt đời, nhưng lại chứa đựng tiềm năng vô hạn của tình yêu và lòng thương xót Chúa. Trong thế giới hiện đại hôm nay, nơi con người thường bị cuốn theo nhịp sống cuồng quay của thành công chớp nhoáng, của những kết quả tức thì và sự công nhận hào nhoáng bên ngoài, Thiên Chúa lại lật ngược hoàn toàn những tiêu chuẩn ấy. Ngài mời gọi chúng ta trân trọng những bước đi âm thầm, những hy sinh nhỏ nhặt trong góc khuất, những lời cầu nguyện thầm kín và cả những hành vi bác ái không tiếng tăm. Chính trong những thực tại tưởng chừng như bé nhỏ ấy, quyền năng của Nước Trời đang âm thầm nhào nặn và biến đổi toàn bộ cục diện cuộc đời chúng ta.
Để hiểu thấu đáo về bản chất của Nước Thiên Chúa, trước hết chúng ta cần nhìn ngắm lại hình ảnh hạt cải mà Đức Giêsu đã dùng để ví von. Hạt cải được biết đến như một trong những loại hạt nhỏ nhất mà người nông dân thời đó gieo vào lòng đất. Nó nhỏ bé đến mức con người rất dễ bỏ quên hoặc làm rơi rớt mà không mảy may bận tâm. Thế nhưng, điều kỳ diệu nằm ở bản chất sự sống tiềm ẩn bên trong hạt giống ấy. Khi được chôn vùi vào trong lòng đất tối tăm, dường như nó phải chết đi đối với hình hài ban đầu của mình, phải chịu đựng sự chà đạp của đất đá và sự cô độc trong lòng đất mẹ. Thế rồi, qua một tiến trình âm thầm của thời gian, dưới ánh nắng ấm áp và những giọt mưa tưới gội, hạt giống nhỏ nhoi ấy bắt đầu nảy mầm, vươn lên mạnh mẽ và cuối cùng phát triển thành một thứ cây lớn, cành lá sum suê đến mức các chim trời có thể đến nương náu dưới bóng mát của nó.
Hình ảnh này chính là bức tranh thu nhỏ về cách thức mà Thiên Chúa đang kiến thiết vương quốc của Ngài trong tâm hồn mỗi Kitô hữu và trong lòng Hội Thánh. Khi Thiên Chúa gieo hạt giống đức tin vào cuộc đời chúng ta, Ngài không bắt đầu bằng những biểu hiện hoành tráng hay những phép lạ lùng vang dội khắp năm châu. Ngài thường bắt đầu bằng một tia sáng nhỏ trong tâm trí, một nỗi khát khao thầm kín về sự thiện, một tiếng gọi dịu dàng trong lời kinh nguyện buổi sáng hay một ơn sám hối bất chợt khi ta nhận ra sự yếu đuối mỏng giòn của chính mình. Đức tin ban đầu ấy có thể rất mong manh, dễ bị đe dọa bởi những cơn giông bão của nghi kỵ, thử thách và cám dỗ từ trần gian. Thế nhưng, nếu chúng ta biết nuôi dưỡng hạt giống ấy bằng đời sống cầu nguyện kiên trì, bằng việc lắng nghe Lời Chúa và thực thi bác ái, thì sức sống linh thánh bên trong sẽ làm cho nó lớn lên từng ngày. Sự tăng trưởng của Nước Thiên Chúa trong tâm hồn không diễn ra theo kiểu bộc phát, giật cục, mà là một tiến trình kiên nhẫn, bền bỉ và đôi khi vượt quá mọi dự tính của con người. Có những lúc chúng ta cảm thấy đời sống thiêng liêng của mình giậm chân tại chỗ, tưởng chừng như chẳng có gì thay đổi lớn lao, nhưng thực ra ơn thánh Chúa vẫn đang hoạt động trong cõi sâu thẳm của tâm hồn, âm thầm bám rễ sâu hơn vào nguồn mạch ân sủng để chuẩn bị cho một mùa gặt dồi dào trong tương lai.
Bên cạnh hình ảnh hạt cải, Đức Giêsu còn ví Nước Thiên Chúa giống như men trong bột mà người phụ nữ vùi vào ba đấu bột cho đến khi toàn bộ khối bột dậy men. Hình ảnh này đưa chúng ta từ chiều kích không gian của sự phát triển bên ngoài sang chiều kích nội tâm của sự biến đổi từ bên trong. Men là một chất có kích thước rất nhỏ bé so với khối lượng khổng lồ của ba đấu bột — một lượng bột đủ để nướng bánh cho cả một ngôi làng lớn trong đời sống cổ thời. Khi người phụ nữ trộn men vào bột, thoạt đầu chúng ta chẳng thấy có sự thay đổi nào rõ rệt; khối bột vẫn nằm yên ở đó, không có tiếng động, không có vẻ hào nhoáng. Thế nhưng, quá trình lên men bắt đầu diễn ra một cách âm thầm, lặng lẽ nhưng vô cùng mãnh liệt từng phân tử một. Men thấm nhập vào từng hạt bột, chuyển hóa tính chất của bột, làm cho toàn bộ khối lượng nặng nề ấy phồng lên, trở nên xốp mềm, thơm ngon và sẵn sàng để làm nên những chiếc bánh nuôi sống con người.
Ý nghĩa thiêng liêng của hình ảnh này thật sâu sắc đối với đời sống chứng tá của người Kitô hữu giữa lòng xã hội hôm nay. Thiên Chúa muốn mỗi người chúng ta trở thành “men” trong thế giới này. Ngài không đặt để chúng ta ở một nơi biệt lập tách rời khỏi dòng chảy của nhân loại, nhưng ngài muốn chúng ta hiện diện ngay giữa những môi trường trần thế đầy rẫy những lo toan, ích kỷ, toan tính và cả những góc tối của tội lỗi. Sứ mạng của người môn đệ Chúa không phải là đứng từ xa chỉ trích hay lên án thế gian, nhưng là âm thầm bước vào lòng xã hội, thấm nhập vào gia đình, nơi làm việc, trường học và các mối quan hệ xã hội bằng tình yêu thương, lòng bao dung, sự chính trực và tinh thần hy sinh phục vụ. Giống như hạt men tan biến đi trong khối bột để làm cho bột dậy men, người Kitô hữu cũng được mời gọi đem tinh thần Tin Mừng hòa quyện vào từng sinh hoạt thường nhật của đời sống. Sự biến đổi xã hội, sự thăng tiến của nền văn minh tình thương không đến từ những khẩu hiệu đao to búa lớn hay những cuộc cách mạng bạo lực, mà đến từ sự biến đổi âm thầm của từng con người biết để cho ơn thánh Chúa canh tân từ trong tâm can. Khi một cá nhân sống chân thực, khi một gia đình biết tha thứ cho nhau, khi một người làm việc với trọn vẹn sự tận tâm và liêm khiết vì lòng mến Chúa, thì chính lúc đó, chất men Tin Mừng đang âm thầm làm dậy men cả một tập thể, cả một cộng đoàn và rộng hơn là cả một xã hội xung quanh họ.
Tuy nhiên, để trở thành hạt men hay hạt giống trổ sinh hoa trái trong Nước Thiên Chúa, con người chúng ta phải trải qua một cuộc lột xác nội tâm đau đớn nhưng đầy hồng ân: đó là sự từ bỏ cái tôi ích kỷ để hoàn toàn phó thác vào bàn tay quan phòng của Thiên Chúa. Bản tính tự nhiên của con người thường hướng về sự kiểm soát, muốn mọi thứ phải diễn ra theo ý mình, muốn nhìn thấy kết quả nhãn tiền và dễ dàng nản lòng khi gặp phải những nghịch cảnh trái ý. Khi đối diện với những khó khăn trong đời sống gia đình, những trắc trở trong công việc hay những khủng hoảng về đức tin, chúng ta thường có xu hướng hoảng sợ hoặc tìm cách xoay sở bằng sức lực và sự khôn ngoan thuần túy của con người. Nhưng dụ ngôn về Nước Thiên Chúa lại dạy chúng ta một bài học hoàn toàn ngược lại: sự vĩ đại của Thiên Chúa thường được bộc lộ qua sự bất lực và nghèo nàn của con người khi họ biết khiêm tốn cậy trông vào Ngài. Hạt cải phải nằm xuống trong lòng đất và phân hủy đi thì mới có thể sinh ra cây lớn; hạt men phải tan biến vào khối bột thì mới làm cho bánh dậy men. Cả hai hình ảnh đều mang một thông điệp cốt lõi về sự chết đi đối với cái tôi độc đoán để sự sống thần linh có thể trỗi dậy và chiếm trọn ngôi vị chủ tể trong tâm hồn chúng ta.
Trong đời sống cầu nguyện và tu đức hằng ngày, việc canh tân tâm hồn đòi hỏi chúng ta phải biết dừng lại giữa những bộn bề lo toan để lắng nghe tiếng Chúa. Biết bao lần chúng ta để cho những bận tâm trần thế che khuất đi tầm nhìn siêu nhiên, khiến chúng ta quên mất mục đích đích thực của cuộc đời mình là tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Ngài trước hết, còn mọi sự khác Ngài sẽ ban thêm cho. Khi chúng ta dành thời gian thinh lặng trước Thánh Thể, khi chúng ta mở trang Kinh Thánh để cho Lời Chúa soi sáng cõi lòng, hay khi chúng ta thực hiện những nghĩa cử bác ái nhỏ bé trong âm thầm không phô trương, chính là lúc chúng ta đang gieo những hạt giống của Nước Trời vào mảnh đất cuộc đời mình. Đừng bao giờ coi thường những việc lành nhỏ bé được làm với tình yêu thương lớn lao. Một lời thăm hỏi ân cần dành cho người cô đơn, một cử chỉ tha thứ cho người xúc phạm đến ta, một giờ đồng hồ kiên nhẫn chăm sóc người bệnh tật, hay đơn giản là một lời cầu nguyện ngắn ngủi dâng lên Chúa giữa giờ làm việc căng thẳng — tất cả những điều tưởng chừng như nhỏ nhặt ấy lại có sức mạnh lay động trái tim Thiên Chúa và làm cho vương quốc của Ngài lan rộng ra giữa trần gian.
Nhìn lại lịch sử cứu độ và hành trình của Hội Thánh qua các thời đại, chúng ta thấy rõ biết bao minh chứng hùng hồn cho chân lý này. Hội Thánh khởi đầu với một nhóm nhỏ các môn đệ quê mùa, nhút nhát và sợ hãi sau biến cố Thập Giá. Thế nhưng, khi các ngài để cho Chúa Thánh Thần – Đấng là nguồn mạch sự sống và là hạt men vô hình – tràn ngập tâm hồn, các ngài đã mạnh dạn bước ra các nẻo đường thế giới để loan báo Tin Mừng. Họ không có gươm giáo, không có quyền lực chính trị, không có của cải giàu sang, nhưng họ có một thứ vũ khí duy nhất vô địch: tình yêu thập giá và niềm tin sắt đá vào Đấng Phục Sinh. Sức sống ấy đã lan tỏa từ Giêrusalem ra khắp đế quốc Rôma, cảm hóa biết bao tâm hồn cứng cỏi, vượt qua hàng thế kỷ bách hại tàn khốc để trở thành nguồn ơn cứu độ cho muôn dân. Điều đó minh chứng hùng hồn rằng Nước Thiên Chúa không bị giới hạn bởi bất kỳ quyền lực trần thế nào, và những ai cộng tác vào công trình của Ngài, dẫu yếu đuối mỏng giòn đến đâu, cũng trở thành những tác nhân của ơn cứu độ cho anh chị em đồng loại.
Bước vào thế giới hôm nay, khi đối diện với muôn vàn thách đố từ chủ nghĩa duy vật, sự dửng dưng tôn giáo và những tổn thương sâu sắc trong các mối tương quan con người, người Kitô hữu đôi khi cảm thấy chạnh lòng hoặc nản chí vì nghĩ rằng sứ mạng làm chứng cho Tin Mừng quá ư nặng nhọc và quá nhỏ bé trước dòng chảy cuồng xiết của thời đại. Thế nhưng, chính trong những phút giây hoang mang ấy, những dụ ngôn về hạt cải và men trong bột lại cất lên như một lời trấn an đầy quyền năng và hy vọng từ chính Thầy Chí Thánh. Ngài nhắc nhở chúng ta rằng đừng nhìn vào số lượng hay bề ngoài hoành tráng, mà hãy tin tưởng tuyệt đối vào sức mạnh nội tại của ơn thánh Chúa. Thiên Chúa không cần những con người tài giỏi kiệt xuất theo tiêu chuẩn trần thế để làm nên những kỳ công của Ngài; Ngài chỉ cần những trái tim khiêm tốn, sẵn sàng để cho Ngài sử dụng như những khí cụ đơn hèn trong tay Ngài. Khi chúng ta dâng hiến cho Chúa những khả năng giới hạn, những giọt mồ hôi nhọc nhằn và cả những bất toàn yếu đuối của mình, Ngài sẽ chúc lành, thánh hóa và nhân lên gấp bội để biến những nỗ lực bé nhỏ ấy thành những hồng ân lớn lao phục vụ cho tha nhân và làm vinh danh tôn nhan Ngài.
Hơn thế nữa, mầu nhiệm Nước Thiên Chúa còn mở ra trước mắt chúng ta một viễn tượng cánh chung đầy hy vọng. Những gì chúng ta đang gieo trồng hôm nay trong âm thầm, những giọt nước mắt hy sinh, những nhọc nhằn vì công lý và bác ái, không hề rơi vào quên lãng hay trở thành vô nghĩa. Tất cả đều đang được Thiên Chúa ghi nhận và kiến tạo nên một tương lai vĩnh cửu. Giống như hạt cải cuối cùng sẽ trở thành cây lớn cho chim muôn nương náu, và khối bột cuối cùng sẽ dậy men để trở thành tấm bánh thơm thảo, lịch sử nhân loại và cuộc đời của mỗi người chúng ta cũng đang tiến về sự viên mãn trong tình yêu trọn vẹn của Thiên Chúa. Ngày mà Nước Thiên Chúa hiển trị trong vinh quang sẽ là ngày mọi đau khổ, nước mắt và sự dữ bị tiêu diệt hoàn toàn, nhường chỗ cho cõi trời mới đất mới nơi công chính ngự trị. Cho đến ngày đó, sứ mạng của chúng ta là tiếp tục sống tinh thần của hạt cải và men trong bột: âm thầm, trung kiên, kiên nhẫn và đầy tràn niềm hy vọng giữa đời thường.
Khi suy gẫm sâu xa về những chân lý này, mỗi người chúng ta được mời gọi trở về khám phá chính cõi lòng mình. Nước Thiên Chúa đang ở đâu nếu không phải là nơi tâm hồn chúng ta đã được thanh tẩy bằng Bí tích Rửa tội và được nuôi dưỡng bằng Thánh Thể hằng ngày? Chúa Giêsu đã từng khẳng định rằng Nước Thiên Chúa ở ngay giữa chúng ta, ở ngay trong lòng chúng ta. Do đó, việc xây dựng và làm cho Nước Thiên Chúa lớn lên không phải là một công việc ở đâu xa xôi ngoài tầm với, mà bắt đầu ngay từ việc canh tân đời sống bản thân, loại bỏ những toan tính ích kỷ, những giận hờn ghen tị, và mở rộng cõi lòng để đón nhận ơn tha thứ cùng tình yêu thương của Ngài. Khi chúng ta để cho Chúa ngự trị trọn vẹn trong tâm hồn, khi mỗi suy nghĩ, lời nói và hành động của chúng ta đều được soi chiếu bởi ánh sáng Tin Mừng, thì lúc đó chúng ta đang trở thành những sứ giả sống động mang Nước Trời đến cho những ai chúng ta gặp gỡ trên đường đời.
Hãy tưởng tượng một gia đình mà ở đó mỗi thành viên đều sống theo tinh thần của hạt men: người vợ biết nhẫn nại và tha thứ, người chồng biết hy sinh và yêu thương hết lòng, con cái biết hiếu thảo và vâng lời. Gia đình ấy dù có thể phải đối diện với nhiều khó khăn kinh tế hay thử thách cuộc sống, nhưng bên trong vẫn luôn tràn ngập sự bình an, niềm vui và bầu khí ấm áp của tình yêu Thiên Chúa. Đó chính là một hình ảnh sống động và chân thực nhất của Nước Thiên Chúa ngay giữa trần gian này. Hoặc hãy tưởng tượng một môi trường làm việc mà ở đó người Kitô hữu từ bỏ lối sống gian dối, cạnh tranh bất chính, thay vào đó là sự trung thực, tinh thần sẻ chia và giúp đỡ đồng nghiệp. Nơi làm việc ấy, dù có thể ban đầu gặp phải những hiểu lầm hay thiệtòi, nhưng qua thời gian, chính sự chính trực và hiền hòa sẽ cảm hóa và làm thay đổi bầu không khí chung, đem lại sự tin tưởng và tình liên đới chân thành. Đó chính là cách mà hạt men Tin Mừng đang âm thầm làm dậy men cả một tập thể.
Đời sống dâng hiến và tông đồ của chúng ta cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Có những linh mục, tu sĩ, giáo lý viên và những nhà thừa sai đang âm thầm miệt mài làm việc trong những vùng đất hoang vu, những khu xóm nghèo khổ hay những môi trường khô cằn đức tin mà không hề có tiếng tăm vang dội hay những phần thưởng trần thế. Họ làm việc trong thầm lặng, ngày qua ngày gieo vãi hạt giống Lời Chúa vào những tâm hồn gai góc. Đôi khi họ cảm thấy cô đơn, mệt mỏi và tự hỏi liệu công sức của mình có mang lại kết quả gì không. Nhưng chính niềm tin vào mầu nhiệm Nước Trời đã nâng đỡ họ đứng vững. Họ biết rằng không có một giọt mồ hôi nào đổ ra vì yêu mến Chúa mà lại bị lãng quên; không có một hạt giống đức tin nào được gieo bằng sự hy sinh thầm lặng mà lại không trổ sinh hoa trái vào đúng thời đúng buổi của Thiên Chúa. Sự kiên trì bền bỉ ấy chính là minh chứng hùng hồn nhất cho sức mạnh của ơn thánh đang hoạt động qua những phương thế mỏng giòn của con người.
Trong những giờ phút tĩnh lặng của tâm hồn, khi nhìn lại chặng đường đã qua, chúng ta hãy dâng lời tạ ơn Chúa vì biết bao ơn lành Ngài đã tuôn đổ xuống trên cuộc đời chúng ta, dẫu qua những con đường rất âm thầm và kín đáo. Có những ơn huệ chúng ta chỉ nhận ra khi nhìn lại quá khứ, khi thấy Chúa đã dìu dắt chúng ta qua những ngã rẽ hiểm nghèo, qua những năm tháng đau thương tưởng chừng không thể vượt qua, để rồi đưa chúng ta đến bến bờ của bình an và hy vọng. Thiên Chúa vẫn luôn âm thầm hoạt động như thế trong lịch sử cá nhân mỗi người cũng như trong lịch sử của toàn thể nhân loại. Ngài không bao giờ bỏ rơi công trình tay Ngài tạo dựng. Dù thế giới hôm nay có nhiều góc tối, dù con người có lúc quay lưng lại với cội nguồn và đánh mất những giá trị đạo đức cao đẹp, thì quyền năng của Nước Thiên Chúa vẫn đang âm thầm lan tỏa như dòng ngầm thanh khiết nuôi dưỡng sự sống của trần gian.
Giờ đây, đứng trước thềm của những thử thách và cơ hội mới trong đời sống chứng tá hằng ngày, chúng ta hãy tái xác nhận niềm hy vọng và quyết tâm của mình. Đừng sợ hãi trước sự nhỏ bé hay yếu đuối của bản thân, cũng đừng ngã lòng trước những nghịch cảnh và chống đối của trần gian. Hãy tin tưởng mạnh mẽ rằng khi chúng ta khiêm tốn dâng hiến những gì mình có — dẫu chỉ là chút ít khả năng, chút thời gian hay những hy sinh nhỏ nhặt — vào trong tay Chúa, Ngài sẽ dùng những điều bé nhỏ ấy để làm nên những phép lạ vĩ đại cho vương quốc của Ngài. Hãy để cho tâm hồn chúng ta trở nên như mảnh đất màu mỡ đón nhận hạt giống Lời Chúa, và như khối bột sẵn sàng để cho men tình yêu của Ngài biến đổi hoàn toàn từ bên trong.
Nguyện xin Thiên Chúa là Cha nhân từ, qua lời chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria – Mẹ của sự thinh lặng, lắng nghe và xin vâng tuyệt đối, ban cho mỗi người chúng ta ơn can đảm, lòng kiên trì và sự nhạy bén thiêng liêng. Xin cho chúng ta biết cộng tác đắc lực vào công trình kiến thiết Nước Trời bằng chính đời sống hằng ngày của mình, để qua từng lời nói, việc làm và tâm tình phó thác, ánh sáng và tình thương của Thiên Chúa được chiếu tỏa rạng ngời đến cho muôn người xung quanh, làm cho danh Chúa được cả sáng và vương quốc của Ngài ngày càng lan rộng đến muôn thuở muôn đời.
Lm. Anmai, CSsR
BƯỚC KHỞI ĐẦU KHIÊM TỐN VÀ SỨC MẠNH BIẾN ĐỔI ÂM THẦM CỦA NƯỚC TRỜI
Trong hành trình đức tin Kitô giáo, một trong những trăn trở lớn nhất của người môn đệ xưa cũng như nay là vấn đề về sự hiệu quả, tầm vóc và cách thức mà quyền năng Thiên Chúa hành động giữa lòng thế giới. Khi nhìn vào thực tế lịch sử nhân loại, nhìn vào những thực thể mong manh của Giáo hội hay những nỗ lực nhỏ bé của bản thân trong việc xây dựng một xã hội công bằng, bác ái và chân lý, chúng ta không ít lần rơi vào cảm giác hoang mang, nghi kỵ. Thế giới hôm nay bị chi phối bởi những trào lưu thực dụng, bởi bạo lực, bởi sức mạnh của đồng tiền, truyền thông và quyền lực chính trị. Trong một khung cảnh quá đỗi chao đảo và bề thế như thế, những giá trị Tin Mừng xem ra quá nhỏ bé, mỏng mảnh và dễ dàng bị bóp nghẹt. Một lời nói thật, một hành động bác ái âm thầm, một sự dấn thân vì công lý không công danh lơi lả liệu có đủ sức làm xoay chuyển càn khôn hay chỉ là muối bỏ bể?
Chính trong những phút giây con người dễ chùng bước ấy, Đức Giêsu Kitô đã mở ra cho chúng ta một chân trời suy tư hoàn toàn mới qua những dụ ngôn mang chiều kích thâm sâu về Nước Trời. Ngài không dùng những hình ảnh của đao binh, của chiến xa hùng hậu hay của những tòa cao ốc chọc trời để minh họa cho quyền tối thượng của Thiên Chúa. Ngài mượn những hình ảnh rất tầm thường, rất khiêm tốn từ chính đời sống nông nghiệp và đời sống gia đình thường nhật của người Do Thái thời bấy giờ: hạt cải nhỏ bé nhất trong các loại hạt và một nhúm men bé nhỏ giấu vào trong vùi bột. Qua hai hình ảnh này, Đức Giêsu mặc khải một mầu nhiệm lớn lao về bản chất của ơn cứu độ: quyền năng của Thiên Chúa không ngự trị qua sự áp đảo bên ngoài, mà qua sức sống tiềm ẩn, mãnh liệt và khả năng biến đổi từ bên trong.
Để hiểu đúng đắn về Nước Trời, trước hết chúng ta cần gạt bỏ những quan niệm sai lầm mang tính chính trị hay địa lý. Nước Trời không phải là một vùng lãnh thổ địa lý có biên giới rõ ràng, cũng không phải là một vương quốc trần gian được thiết lập bằng binh quyền hay quyền lực trần thế. Trong ngôn ngữ Hy Lạp của Tân Ước, từ “Basileia” không chỉ có nghĩa là “vương quốc” xét về mặt không gian, mà chính xác hơn phải được hiểu là “vương quyền”, “sự cai trị” hay đúng hơn là một “mạng lưới các mối quan hệ”. Sự trị đến của Nước Trời xảy ra ở bất cứ nơi nào con người tự nguyện đặt để cuộc đời mình dưới quyền năng yêu thương của Thiên Chúa, và để cho tình yêu ấy hướng dẫn mọi tương quan giữa mình với tha nhân.
Nước Trời hiện diện khi con người thực thi công lý, thực hiện lòng thương xót và sống trong sự hiệp thông chân thực. Và Đức Giêsu chính là hiện thân sống động, là biểu tượng tuyệt hảo của Nước Trời đó. Qua chính con người, cuộc đời, cái chết và sự phục sinh của Ngài, quyền năng yêu thương của Thiên Chúa đã phá vỡ mọi bức tường ngăn cách để bước vào lịch sử nhân loại. Bất cứ ai đón nhận thông điệp của Ngài, bất cứ ai mở lòng ra cho hơi ấm của Tin Mừng, thì ngay tại khoảnh khắc đó, Nước Trời đang được hiện thực hóa. Khi chúng ta cùng nhau cất lên lời kinh mà chính Chúa đã dạy: “Xin cho Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”, chúng ta đang khẩn nài Thiên Chúa biến đổi toàn thể càn khôn này theo trật tự tình yêu của Ngài.
Hình ảnh thứ nhất mà Đức Giêsu đặt ra trước mắt chúng ta là hạt cải. Trong thế giới tự nhiên, hạt cải nổi tiếng vì kích thước vô cùng khiêm tốn của nó. Đối với người nông dân Palestine thời xưa, hạt cải là biểu trưng cho sự nhỏ bé, gần như không đáng kể khi nằm lẫn lộn giữa muôn vàn loại hạt giống khác. Thế nhưng, điều kỳ diệu nằm ở bản chất bên trong của nó. Khi được gieo xuống lòng đất sâu, chịu đựng sự mục nát của lớp vỏ bên ngoài, hạt cải không hề tiêu tan mà âm thầm nảy mầm, đâm rễ sâu vào lòng đất mẹ và vươn lên thành một thứ cây lớn, thậm chí có thể đạt kích thước của một thân cây vững chãi đến mức các loài chim trời có thể tìm đến đây để làm tổ, nương náu bóng mát.
Hình ảnh này mang một thông điệp vô cùng mạnh mẽ về hành trình của Giáo hội và sứ mạng của mỗi người Kitô hữu trong dòng chảy thời gian. Vào thời điểm Đức Giêsu cất lời giảng dạy, cộng đoàn các môn đệ theo chân Ngài chỉ là một nhóm người vô danh tiểu tốt, nghèo hèn, không tấc sắt trong tay, không thế lực chống lưng, đứng trước một đế chế La Mã hùng mạnh và một hệ thống tôn giáo truyền thống đầy quyền uy. Nhìn vào nhóm người ấy, không ai có thể ngờ rằng từ đây sẽ nảy sinh ra một tôn giáo lan rộng khắp địa cầu. Thế nhưng, lịch sử đã chứng minh điều ngược lại. Hạt giống Tin Mừng được gieo vào đất lịch sử qua cái chết đau thương trên thập giá của Thầy Chí Thánh tưởng chừng như đã chết vùi, nhưng lại bung nở một sức sống mãnh liệt chưa từng có.
Các Kitô hữu tiên khởi đã trải qua những cuộc bách hại khốc liệt, những hầm lò tử đạo, những sự miệt thị của xã hội đương thời. Thế nhưng, chính trong sự bách hại và yếu đuối ấy, sức mạnh của Thiên Chúa lại được biểu lộ trọn vẹn. Giáo hội lớn lên không phải bằng gươm giáo hay quyền lực chính trị, mà bằng máu của các martyres (các nhân chứng tử đạo), bằng đời sống hiệp thông huynh đệ, bằng tình bác ái hi sinh phục vụ những người cùng khổ.
Nhìn lại bối cảnh Giáo hội và thế giới hôm nay, bài học từ hạt cải vẫn giữ nguyên vẹn giá trị thời sự nóng hổi. Đôi khi, chúng ta nhìn vào thực trạng suy giảm đức tin tại nhiều nơi trên thế giới, nhìn vào những thách đố của phong trào tục hóa, sự dửng dưng của thế hệ trẻ đối với đời sống tôn giáo, và chúng ta cảm thấy bi quan. Chúng ta tự hỏi liệu Giáo hội có đang thu mình lại, liệu sứ mạng loan báo Tin Mừng có đang trở thành một nỗ lực vô ích? Câu trả lời từ dụ ngôn hạt cải là: Không bao giờ được phép mất hy vọng.
Sức mạnh của Nước Trời không nằm ở số lượng đông đảo hay sự hoành tráng bề ngoài, mà nằm ở chính cội nguồn thần linh bên trong. Khi chúng ta kiên trì sống theo các giá trị của sự thật, của tình yêu thương và sự công chính, dẫu cho những hành động ấy có vẻ nhỏ nhoi như hạt cải giữa một khu vườn rộng lớn đầy cỏ dại, chúng ta vẫn đang góp phần tạo nên một cội nguồn sự sống đời đời. Sự thật và tình yêu có một sức mạnh nội tại tất yếu; chúng có thể bị lu mờ tạm thời bởi gian dối và thù hận, nhưng cuối cùng, theo định luật tự nhiên của hạt giống, chúng phải vươn lên và chiến thắng. Những ai dấn thân cho Tin Mừng không bao giờ phải sợ hãi trước những nghịch cảnh hay thế lực đen tối, bởi vì tương lai thuộc về sự sống và ánh sáng.
Bên cạnh hình ảnh hạt cải phản ánh chiều kích phát triển từ trong ra ngoài của Nước Trời, Đức Giêsu còn đưa ra một hình ảnh thứ hai vô cùng gần gũi và tinh tế: người phụ nữ vùi một nhúm men nhỏ vào trong ba đấu bột. Hành động này thoạt nhìn có vẻ rất bình thường trong công việc nội trợ hàng ngày, nhưng lại chứa đựng một ẩn dụ thần học sâu sắc về phương thức mà Nước Trời lan tỏa và biến đổi nhân loại.
Yến mạch hay bột mì vốn là những khối bột khô khan, rời rạc, không có sự sống tự thân nếu đứng độc lập. Một nhúm men được người phụ nữ đưa vào khối bột ấy có tỷ lệ vô cùng nhỏ bé so với khối lượng khổng lồ của ba đấu bột (tương đương với khối lượng bột có thể làm ra bánh cho cả một ngôi làng nhỏ ăn). Thế nhưng, khi nhúm men ấy được trộn lẫn, được vùi sâu, được nhào nặn hòa quyện vào từng thớ bột, nó không đứng yên một chỗ. Men bắt đầu quá trình lên men âm thầm, lặng lẽ, không ồn ào, không phô trương, không có tiếng động lớn. Từ bên trong, men tác động từng tế bào bột, chuyển hóa cấu trúc hóa học của chúng, làm cho toàn bộ khối bột từ chỗ nặng nề, đặc quánh trở nên xốp mềm, nở phồng và sẵn sàng để làm nên những chiếc bánh nuôi sống con người.
Trong truyền thống Kinh Thánh Cựu Ước, men đôi khi được dùng như một biểu tượng mang tính tiêu cực, ám chỉ sự dữ, sự phao uế hay thói hypocrit (giả hình) cần phải được tẩy trừ trước lễ Vượt Qua. Tuy nhiên, trong dụ ngôn này, Đức Giêsu lại sử dụng hình ảnh men theo một chiều hướng hoàn toàn tích cực, nhằm nhấn mạnh đến tác động biến đổi mang tính triệt tiêu sự nguội lạnh và thổi bùng sức sống của Thiên Chúa vào trong trần gian.
Cách thức mà Nước Trời lan tỏa trong thế giới không phải bằng con đường áp đặt từ trên cao, không phải bằng những cuộc thập tự chinh đẫm máu hay sự xâm lăng văn hóa, mà là con đường “nhập thể” triệt để. Men phải được đặt vào bên trong khối bột, nghĩa là người Kitô hữu, những công dân của Nước Trời, không được phép tách rời khỏi trần thế hay tự cô lập mình trong những chiếc tháp ngà đạo đức giả hiệu. Chúng ta được mời gọi để sống giữa lòng xã hội, dấn thân vào mọi lĩnh vực của đời sống trần thế: từ chính trị, kinh tế, khoa học, nghệ thuật cho đến giáo dục, truyền thông và đời sống gia đình thường nhật.
Sự hiện diện của người Kitô hữu trong xã hội phải giống như chất men. Chất men không tự hào khoe mẽ sự hiện diện của mình bằng cách nổi bềnh bồng trên mặt khối bột; trái lại, nó chịu ẩn mình đi, chịu tan biến vào trong bột để thực hiện sứ mạng biến đổi. Sự hiện diện của chúng ta trong môi trường làm việc, trong các mối quan hệ xã hội đôi khi không cần phải hô hào những khẩu hiệu lớn lao, mà được thể hiện qua thái độ sống trung thực, qua lòng trắc ẩn đối với những mảnh đời bất hạnh, qua tinh thần trách nhiệm trong công việc và qua niềm hy vọng không bao giờ tắt trước những khủng hoảng của thời đại.
Nếu người Kitô hữu sống đúng tinh thần Tin Mừng, họ sẽ là chất men làm cho môi trường xung quanh họ trở nên nhân bản hơn, công bằng hơn và tràn đầy tình yêu thương hơn. Sự biến đổi này diễn ra từ từ, kiên trì và bền bỉ, giống như quá trình lên men của bánh mì. Chúng ta không thể đòi hỏi sự thay đổi tức thời hay nóng vội gặt hái thành quả ngay lập tức. Thiên Chúa có nhịp điệu riêng của Ngài, và lịch sử cứu độ được dệt nên bởi những đóng góp âm thầm của vô số những con người bé nhỏ biết để cho lòng mình được nhào nặn bởi tình yêu Chúa.
Tuy nhiên, điều cốt lõi cần lưu ý trong hình ảnh viên men và khối bột chính là tính chất “giữ mình”. Dù chất men hoàn toàn hòa quyện, vùi sâu vào trong bột đến mức thoạt nhìn bên ngoài người ta không còn nhận ra đâu là men đâu là bột, nhưng bản chất của viên men vẫn không hề bị đồng hóa hay mất đi đặc tính của nó. Men vẫn giữ nguyên vẹn nồng độ và men chua của mình để tiếp tục tác động hóa học lên khối bột. Nếu chất men bị hòa tan hoàn toàn đến mức mất đi đặc tính ban đầu, nó sẽ trở nên vô dụng và không thể làm cho bánh nở được nữa.
Đây là một lời cảnh tỉnh sâu sắc cho mỗi người chúng ta trong đời sống giữa thế giới tục hóa hôm nay. Sống giữa lòng thế giới không có nghĩa là buông xuôi theo dòng chảy của thế gian, không có nghĩa là thỏa hiệp với những bất công, sự suy đồi đạo đức, chủ nghĩa cá nhân ích kỷ hay lối sống thực dụng đang bao trùm xã hội. Chúng ta được mời gọi hiện diện giữa trần gian nhưng không thuộc về thế gian. Căn tính Kitô giáo của chúng ta, tầm nhìn đức tin của chúng ta phải luôn được giữ gìn một cách sắc bén, trong sáng và trung kiên. Giống như chất men giữ được bản chất riêng của mình trong khi đang biến đổi khối bột, người Kitô hữu phải giữ vững ngọn lửa Tin Mừng trong tâm hồn, để từ ánh sáng và hơi ấm đó, chúng ta mới có khả năng chiếu soi và sưởi ấm những góc khuất tối tăm của xã hội đương đại.
Nếu quan sát kỹ lưỡng, chúng ta sẽ nhận ra rằng cả hai dụ ngôn hạt cải và hũ men đều nhắm đến một chủ đề chung: sự tương phản giữa khởi đầu vô cùng khiêm tốn, nhỏ bé và kết quả vĩ đại, phi thường. Đây dường như là phong cách hành động quen thuộc của Thiên Chúa trong lịch sử cứu độ. Thiên Chúa không chọn những gì lớn lao, ồn ào hay vĩ đại theo tiêu chuẩn của con người để làm dụng cụ cho chương trình của Ngài. Ngài thường bắt đầu từ những điều nhỏ nhặt nhất, từ những con người tầm thường nhất để thực hiện những công trình vĩ đại.
Hãy nhìn lại lịch sử cứu độ qua Kinh Thánh. Khi Thiên Chúa muốn chọn một dân tộc để khởi đầu giao ước, Ngài không chọn một đế chế hùng cường Ai Cập hay Babylon, mà chọn Áp-ra-ham, một ông lão già nua sống cảnh du mục tha phương. Khi Ngài muốn giải phóng dân tộc ấy khỏi ách nô lệ, Ngài không dùng một vị tướng soái bách chiến bách thắng, mà dùng Môi-sê, một kẻ ngọng nghịu từng là kẻ trốn chạy tội án. Khi Ngài muốn ban ơn cứu độ cho nhân loại, Ngài không sai Con Một ngự xuống trong một cung điện vàng son với đội vệ binh rực rỡ, mà chọn một máng cỏ hôi tanh tại Bê-lem nghèo khó, lớn lên trong một gia đình thợ mộc vô danh tại Nadarét. Và khi thiết lập Giáo hội, Ngài đã đặt nền móng trên những ngư phủ thất học, nhút nhát và đầy tì vết.
Phong cách này của Thiên Chúa dạy cho chúng ta một bài học lớn về sự khiêm nhường và niềm cậy trông. Trong đời sống thiêng liêng cũng như trong các hoạt động mục vụ tông đồ, chúng ta thường dễ rơi vào cạm bẫy của chủ nghĩa hiệu năng (efficiency) và sự kiêu ngạo thiêng liêng. Chúng ta đánh giá mức độ thành công của một công việc dựa trên số lượng người tham gia, số tiền gây quỹ được, quy mô của các chương trình hay sự tung hô của dư luận. Khi không thấy những kết quả hoành tráng đó, chúng ta nản lòng, chúng ta buông xuôi và nghi ngờ sự hiện diện của ơn thánh.
Thế nhưng, các dụ ngôn hôm nay kéo chúng ta trở lại với sự thật nền tảng của đức tin: công trình của Thiên Chúa không được đo lường bằng tiêu chuẩn toán học hay thương mại của con người. Một lời cầu nguyện thầm kín được dâng lên trong căn phòng vắng ngắt cho một người bệnh tật; một cử chỉ tha thứ nhỏ bé trong gia đình khi sự tức giận đang dâng trào; một chén nước mát trao cho người khát bên lề đường; một ánh mắt cảm thông dành cho người đang bị cô lập… tất cả những điều đó thoạt nhìn có vẻ nhỏ bé, vô nghĩa trước những đau khổ khổng lồ của nhân loại, nhưng dưới cái nhìn của Thiên Chúa, chúng chính là những hạt cải, những nhúm men mang năng lượng biến đổi toàn bộ cấu trúc của thế giới.
Đời sống tu trì và đời sống dấn thân của người Kitô hữu đôi khi diễn ra trong sự đơn điệu, trong những công việc thường nhật lặp đi lặp lại không tiếng tăm, không vinh quang trần thế. Một người giáo lý viên kiên trì đến lớp mỗi tuần dù chỉ có lèo tèo vài em học sinh; một nữ tu chăm sóc những bệnh nhân phong cùi suốt cả cuộc đời mà không ai biết tới; một linh mục âm thầm lắng nghe những tâm tư mỏi mệt của hối nhân trong tòa giải tội suốt nhiều giờ liền; một người cha, người mẹ nhẫn nại hy sinh tuổi xuân để giáo dục con cái nên người trong một xã hội đầy cạm bẫy… những con người ấy chính là hiện thân sống động của hạt cải và hũ men trong thời đại hôm nay. Họ không làm nên những tiếng vang lớn trên các mặt báo, nhưng họ đang lặng lẽ làm thay đổi chiều hướng của lịch sử nhân loại từ bên trong, đưa nhân loại xích lại gần hơn với chương trình yêu thương của Thiên Chúa.
Nếu chúng ta mở rộng tầm nhìn để suy ngẫm về thực trạng của thế giới hiện đại, chúng ta sẽ thấy rằng nhân loại đang khao khát biết bao những hạt giống nhỏ bé và những nhúm men chân thành ấy. Thế giới hôm nay đầy ắp thông tin nhưng lại đói khát ý nghĩa; kết nối toàn cầu nhưng con người lại cảm thấy cô đơn hơn bao giờ hết; công nghệ phát triển tối tân nhưng lòng người lại lạnh lùng và đầy rẫy bạo lực. Trong một thế giới bị xé nát bởi ích kỷ và chia rẽ, quyền lực chính trị hay bạo lực quân sự không bao giờ có thể mang lại hòa bình đích thực. Hòa bình và sự biến đổi chân chính chỉ có thể đến từ sự hoán cải của từng tâm hồn, từ sức mạnh của tình yêu hy sinh và lòng bác ái vị tha.
Chính vì thế, ơn gọi của người Kitô hữu trong thế giới hôm nay không phải là tìm kiếm quyền lực hay sự ảnh hưởng bề ngoài theo kiểu trần gian, mà là trở nên những chứng nhân khiêm tốn của Nước Trời. Chúng ta được mời gọi để sống một đời sống sâu sắc từ bên trong, bám rễ sâu vào nguồn mạch ơn thánh qua Lời Chúa và các Bí tích, để từ nguồn cội thiêng liêng đó, sức sống của Thiên Chúa có thể trổ sinh qua cuộc đời chúng ta.
Đừng bao giờ coi thường những việc lành nhỏ bé mà chúng ta có thể làm mỗi ngày. Một nụ cười xua tan nỗi buồn cho người đồng nghiệp đang căng thẳng; một lời động viên kịp thời cho người đang ngã lòng; sự kiên nhẫn lắng nghe một người đang đau khổ… tất cả những hành động đó thoạt nhìn rất tầm thường, nhưng chúng mang trong mình sức mạnh phục hồi của Thiên Chúa. Giống như chất men làm dậy lên cả khối bột, những hành động bác ái âm thầm của chúng ta, dẫu nhỏ bé đến đâu, cũng đang góp phần làm cho thế giới này mềm mại hơn, nhân ái hơn và chan chứa hy vọng hơn.
Hơn thế nữa, các dụ ngôn về Nước Trời cũng mời gọi chúng ta nhìn vào chiều kích cánh chung (tận cùng) của lịch sử với một niềm hy vọng vững chắc. Đôi khi, khi nhìn vào những bất công, tội ác và đau khổ đang tràn lan trên mặt đất, chúng ta dễ sinh lòng hoài nghi về sự chiến thắng cuối cùng của sự thiện. Dường như cái ác đang lấn át, dường như sự gian dối đang nắm quyền bính. Thế nhưng, hạt cải không ngừng lớn lên cho dù có lúc bị vùi dập trong bùn đất; và chất men không ngừng làm việc biến đổi cho dù nó hoàn toàn biến mất khỏi tầm nhìn mắt thường. Lịch sử nhân loại không bị trôi lăn trong vô định hay bị bỏ mặc cho ngẫu nhiên thao túng; lịch sử đang nằm trong bàn tay quan phòng đầy yêu thương của Thiên Chúa. Dù tiến trình có vẻ chậm chạp theo nhịp đếm của thời gian con người, Nước Trời chắc chắn sẽ đạt đến độ viên mãn. Những ai đặt đời mình vào tiến trình ấy, những ai cộng tác vào công trình của Thiên Chúa dù chỉ bằng một hạt mầm nhỏ bé nhất, sẽ không bao giờ phải thất vọng, bởi vì mùa gặt cuối cùng chắc chắn sẽ đến với tràn trề hoa trái.
Khi suy ngắm về hai hình ảnh hạt cải và hũ men, chúng ta cũng được mời gọi nhìn lại chính nội tâm của bản thân mình. Mỗi người chúng ta tự thâm tâm có phải là một hạt giống đang nảy mầm hay một khối bột đang được men biến đổi không? Hay chúng ta vẫn còn là những khối bột khô cứng, khép kín trong cái tôi ích kỷ, cố chấp và đầy rẫy những toan tính trần tục? Để Nước Trời có thể lớn lên và lan tỏa qua cuộc đời chúng ta, trước hết chúng ta phải để cho quyền năng của Thiên Chúa đâm rễ và nhào nặn chính tâm hồn mình. Chúng ta cần sự khiêm nhường để thừa nhận sự nhỏ bé và bất toàn của bản thân, không cậy dựa vào sức riêng hay tài năng hão huyền, mà hoàn toàn phó thác vào ơn huệ và sức mạnh của Thiên Chúa.
Quá trình làm cho Nước Trời hiện diện không đòi hỏi chúng ta phải làm những chuyện động trời hay phi thường. Thiên Chúa không cần những vĩ nhân tự phụ, Ngài cần những con người sẵn sàng để cho mình trở nên nhỏ bé như hạt cải, sẵn sàng chịu vùi dập và tan biến đi như hũ men để phục vụ cho kế hoạch yêu thương của Ngài. Khi một hạt giống chịu chấp nhận nằm im trong lòng đất tối tăm, nó không hề bị hủy diệt mà đang bước vào một cuộc biến hình vĩ đại để trở thành sự sống mới. Khi một người Kitô hữu chịu từ bỏ cái tôi ích kỷ, chịu hy sinh quyền lợi riêng tư, chịu chia sẻ tình thương một cách vô điều kiện, thì chính trong sự “chết đi” ấy, sức sống phục sinh của Đức Kitô lại trào tràn và lan tỏa mạnh mẽ đến những người xung quanh.
Ước gì mỗi người chúng ta, trong bậc sống và hoàn cảnh riêng của mình, biết ý thức sâu sắc về ơn gọi làm chứng cho Nước Trời. Dẫu cuộc sống có nhiều khó khăn, dẫu những nỗ lực âm thầm của chúng ta đôi khi không được ai ghi nhận hay ca tụng, xin đừng bao giờ chùng bước hay ngã lòng. Hãy tin tưởng vào sức mạnh nội tại của hạt giống Tin Mừng. Hãy kiên nhẫn làm chất men âm thầm nhưng đầy hiệu năng giữa lòng gia đình, họ đạo, nơi công sở và trong xã hội hôm nay.
Xin cho ánh sáng và tình yêu của Thiên Chúa thấm nhập vào từng ngóc ngách của cuộc đời chúng ta, để qua sự hiện diện nhỏ bé nhưng kiên trung của mỗi người, vương quyền yêu thương, công lý và bình an của Ngài được hiển trị trọn vẹn trên cõi đất này cũng như trong cõi đời đời.
Lm. Anmai, CSsR
Khi chúng ta suy gẫm về mầu nhiệm Nước Trời, tâm trí chúng ta thường hướng về những thực tại lớn lao, siêu việt và vượt trên tầm nắm bắt của thế giới trần tục. Thế nhưng, trong chương trình cứu độ kỳ diệu của Thiên Chúa, Nước Trời lại không bắt đầu bằng những tiếng sét rền vang hay những biến cố chấn động lịch sử theo kiểu phàm nhân. Thay vào đó, Ngài chọn cách âm thầm gieo bước, khởi đầu từ những hạt giống nhỏ bé nhất, từ những không gian tưởng chừng như tầm thường nhất của đời sống nhân loại. Đức Giê-su Ki-tô đã dùng những hình ảnh rất đỗi quen thuộc từ đời sống nông nghiệp và sinh hoạt gia đình thường nhật để diễn tả thực tại cao cả ấy: hình ảnh hạt cải nhỏ bé được gieo vào lòng đất và nắm men vùi sâu trong khối bột.
Sự tương phản giữa khởi đầu khiêm tốn và kết quả vô cùng lớn lao chính là đặc trưng nền tảng của Nước Trời. Hạt cải, vốn được xem là loại hạt nhỏ nhất trong số các hạt giống trên mặt đất, khi được vùi vào lòng đất lại có thể vươn lên thành một cây lớn, cành lá sum suê đến mức chim trời có thể đến làm tổ và tìm thấy chốn nghỉ ngơi dưới bóng mát của nó. Cũng vậy, một nhúm men rất nhỏ bé được trộn lẫn vào ba đấu bột sẽ âm thầm tác động từ bên trong, khiến cho toàn bộ khối bột được dậy men. Quá trình này diễn ra một cách lặng lẽ, không ồn ào, không khoa trương, nhưng lại có sức mạnh biến đổi toàn bộ cấu trúc của khối bột từ bên trong.
Chính quy luật này cũng được lặp lại trong lịch sử cứu độ qua cuộc đời của các thánh nhân và qua từng bước đi của Giáo hội. Một thiếu nữ vô danh tại làng Nazareth nhỏ bé đã thay đổi toàn bộ dòng chảy lịch sử nhân loại chỉ bằng một tiếng “Xin vâng” hoàn toàn tín thác vào thánh ý Thiên Chúa. Một nữ tu trẻ tuổi chịu bệnh tật đau khổ trong tu viện kín cổng cao tường ở miền tây bắc nước Pháp lại có thể rung chuyển và làm mới lại sinh hoạt thiêng liêng của toàn thể Giáo hội qua đời sống cầu nguyện âm thầm và lòng vâng phục tuyệt đối. Một vị linh mục chánh xứ tận tụy với đoàn chiu tại New Haven đã gieo mông ước bác ái để rồi từ đó phát sinh ra một phong trào hiệp thông rộng khắp toàn cầu. Điều này chứng tỏ rằng trong chương trình của Thiên Chúa, không có hành động yêu thương nào là nhỏ mọn, không có nỗ lực âm thầm nào là vô nghĩa. Tất cả những ai cố gắng sống ơn gọi của mình trong sự kết hợp mật thiết với Chúa đều trở thành hạt giống và nắm men làm biến đổi thế giới này từ bên trong.
Nơi chốn tuyệt vời nhất, màu mỡ nhất và cũng là nền tảng nhất để hạt giống Nước Trời mọc lên, đơm hoa kết trái chính là đời sống gia đình, đặc biệt là qua ơn gọi và Bí tích Hôn Phược. Gia đình không chỉ đơn thuần là một tế bào xã hội theo nghĩa tự nhiên, mà thực chất là một “Hội thánh tại gia”, là mảnh đất màu mỡ mà Thiên Chúa cày xới để Nước của Ngài được hiện thực hóa cách sống động nhất. Khi nhìn vào sứ điệp của Thánh Phao-lô gửi tín hữu Ê-phê-sô, chúng ta thấy rõ một viễn cảnh vô cùng cao cả về mầu nhiệm hôn nhân. Sứ điệp này đặt hôn nhân không phải trong những chuẩn mực lỏng lẻo hay thực dụng của xã hội trần tục, mà đặt trọn vẹn trong chương trình quy tụ muôn vật muôn loài về một mối trong Đức Ki-tô.
Trong bối cảnh văn hóa thời Cổ Đại, gia đình và hôn nhân thường chịu nhiều tổn thương và biến dạng sâu sắc. Người Do Thái thời đó cho phép người chồng có quyền ly dị vợ chỉ bằng vài dòng chữ đơn giản vì bất kỳ lý do gì. Người Hy Lạp coi người vợ chủ yếu như công cụ để sinh con đẻ cái nối dõi tông đường, trong khi họ tìm kiếm sự thỏa mãn và đồng điệu tâm hồn ở những mối quan hệ bên ngoài. Người Rô-ma lại đẩy tình trạng ly hôn và tái kết hôn lên thành một trào lưu thực dụng đến mức tệ hại, nơi sự cam kết không có chỗ đứng và lòng chung thủy trở nên xa xỉ. Ngay cả trong cộng đoàn Kitô hữu sơ khai, khi các tín hữu phải sống giữa lòng một nền văn hóa ngoại giáo đầy rẫy sự trác táng và bất ổn, đời sống gia đình cũng đối diện với muôn vàn thách đố cam go.
Thế nhưng, khi Thánh Phao-lô viết bức thư gửi tín hữu Ê-phê-sô, ngài đã nâng tầm hôn nhân lên một chiều kích hoàn toàn mới mẻ và cách mạng. Ngài không nhìn hôn nhân qua lăng kính của sự thỏa mãn dục vọng hay sự liên kết kinh tế đơn thuần, mà nhìn nó qua mầu nhiệm tự hiến của Đức Giê-su Ki-tô đối với Hội thánh. Ngài bắt đầu bằng một nguyên tắc nền tảng: “Hãy phục tùng nhau trong sự kính sợ Đức Ki-tô”. Sự phục tùng này không phải là sự áp bức hay hạ nhục phẩm giá của bất kỳ ai, mà là sự tôn trọng sâu xa, là cái nhìn đức tin nơi người bạn đời, nơi họ phản chiếu chính hình ảnh của Thiên Chúa.
Khi người vợ nhìn người chồng của mình với đôi mắt đức tin, cô ấy nhìn thấy hình ảnh của Đức Ki-tô và sẵn sàng bước vào trật tự yêu thương của gia đình. Ngược lại, người chồng được mời gọi nhìn người vợ không phải như một thứ tài sản để sai sử hay sở hữu, mà là thân thể chính mình, là người mình phải yêu thương đến cùng. Thánh Phao-lô đã đưa ra một tiêu chuẩn vô cùng cao cả: “Hồng ân lớn lao nhất là người chồng hãy yêu thương vợ mình như Đức Ki-tô đã yêu thương Hội thánh và phó nộp mình vì Hội thánh”. Sự hy sinh này đòi hỏi người chồng phải chịu đóng đinh những ích kỷ, cái tôi và sự lười biếng thiêng liêng của mình để làm cho người vợ được nên thánh, được tinh tuyền và trọn lành trước mặt Thiên Chúa.
Đời sống gia đình Kitô giáo, do đó, chính là nơi mà mầu nhiệm vượt qua được sống lại mỗi ngày qua những nghĩa cử hy sinh nhỏ bé trong đời sống chung. Đó là sự nhẫn nại tha thứ khi đối diện với những bất toàn của nhau, là sự kiên trì lắng nghe khi những hiểu lầm xuất hiện, là sự đồng cam cộng khổ qua những giông bão cuộc đời. Khi một gia đình sống được tinh thần yêu thương hy sinh ấy, họ trở thành một dấu chỉ rạng ngời phản chiếu tình yêu của Thiên Chúa giữa một thế giới đang bị chia rẽ bởi ích kỷ và hận thù. Sức mạnh biến đổi của một gia đình thánh thiện có sức lan tỏa mạnh mẽ hơn bất kỳ bài thuyết giáo hùng hồn nào. Như Đức Phao-lô VI đã từng khẳng định trong tông huấn Evangelii Nuntiandi, chính chứng tá sống động của một gia đình hiệp nhất, yêu thương và phục vụ âm thầm giữa lòng xóm làng, công sở hay xã hội là một hình thức loan báo Tin Mừng mạnh mẽ và thuyết phục nhất. Người ta sẽ nhìn vào gia đình ấy và tự hỏi điều gì đã tạo nên sự bình an, niềm vui và lòng bao dung kỳ diệu đó, để rồi từ đó nhận ra sự hiện diện sống động của Thiên Chúa.
Ngày nay, đời sống hôn nhân và gia đình đang phải đối diện với những cơn bão dữ dội từ một nền văn hóa tục hóa, chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, tệ nạn ly hôn lan tràn như một thứ ung thư độc hại, và sự xâm nhập tinh vi của những cạm bẫy kỹ thuật số làm xói mòn lòng chung thủy. Kẻ thù của linh hồn luôn tìm cách rình rập để chia rẽ những gì Thiên Chúa đã kết hợp, để làm nhạt phai ý nghĩa thiêng liêng của bí tích thánh thiêng này. Nhiều người ngã lòng trước những khó khăn của đời sống gia đình, cho rằng sự hiệp nhất suốt đời là điều không thể đạt tới.
Chính trong hoàn cảnh đó, ơn gọi hôn nhân càng đòi hỏi các đôi vợ chồng phải bám rễ sâu hơn nữa vào nguồn mạch Ân Sủng của Chúa. Gia đình không thể tự sức mình duy trì tình yêu trọn vẹn nếu thiếu đi sự hiện diện của Đấng là Tình Yêu nguồn suối. Mỗi gia đình cần phải trở thành một ngôi đền nguyện cầu, nơi Lời Chúa được vang lên, nơi bàn thờ gia đình là nơi dâng hiến những mệt nhọc, lo toan và vui buồn thường nhật cho Thiên Chúa. Khi cầu nguyện cùng nhau và cho nhau, các cặp vợ chồng mới có thể kín múc được sức mạnh để tha thứ cho nhau bảy mươi lần bảy, để bắt đầu lại mỗi ngày với một trái tim mới mẻ và rộng mở.
Anh chị em thân mến, Nước Trời đang ở giữa chúng ta, đang âm thầm lớn lên trong từng mái ấm gia đình nơi chúng ta đang hiện diện. Dù cho thế giới ngoài kia có xô bồ, dù cho những thử thách của đời sống gia đình có nặng nề đến đâu, chúng ta hãy vững lòng tin tưởng vào quyền năng của Chúa. Hãy là hạt giống nhỏ bé được gieo vào đời, hãy là nắm men âm thầm làm dậy lên sự thánh thiện trong môi trường sống của mình. Xin Chúa chúc lành cho tất cả các gia đình chúng ta, để mỗi mái ấm thực sự trở thành một chốn nghỉ ngơi bình an, một vườn hoa thiêng liêng trổ sinh muôn ngàn hoa trái nhân đức, và là hình ảnh sống động tiên báo về vương quốc vĩnh cửu nơi Thiên Chúa hằng trị và yêu thương muôn đời.
Lm. Anmai, CSsR
SỰ HIỆN DIỆN BIẾN ĐỔI CỦA NƯỚC THIÊN CHÚA TRONG ĐỜI SỐNG THƯỜNG NHẬT
Bước đi trong hành trình đức tin, con người chúng ta thường dễ bị cuốn vào những thước đo trần thế, những tiêu chuẩn vĩ đại của quyền lực, sự thành công hào nhoáng và những dấu chỉ kỳ vĩ mắt thấy tai nghe. Khi nghe Đức Giêsu Kitô giảng dạy về Nước Thiên Chúa, các môn đệ xưa cũng như mỗi người chúng ta hôm nay đôi khi vẫn mang một nỗi khát mong lệch lạc. Chúng ta hay tự hỏi: Nước ấy ở đâu? Bao giờ nó xuất hiện một cách hiển trị rền vang như tiếng sấm giữa trời xanh? Thiên Chúa hành động bằng cách nào để biến đổi cục diện lịch sử nhân loại đầy rẫy bất công và đau thương này? Câu trả lời của Chúa Giêsu qua các dụ ngôn và lời giảng dạy không đặt vương quốc của Ngài trên những bệ phóng của quyền lực chính trị hay những ảo tưởng vĩ cuồng của con người. Ngài mạc khải một thực tại hoàn toàn khác biệt: Nước Thiên Chúa không đến với những tiếng kèn vang dội hay những bảng hiệu chói lọi ngoài đường phố, mà âm thầm hiện diện ngay giữa lòng thế giới, ngay trong tâm hồn và từng ngóc ngách sinh hoạt tầm thường nhất của con người.
Đức Giêsu Kitô chính là hiện thân sống động của Nước Thiên Chúa. Sự xuất hiện của Ngài mang tính khiêm nhường tột cùng, ẩn giấu trong hình hài một người thợ lao động tại Nazaret, lớn lên trong thinh lặng, gắn bó với gia đình, làng xóm và công việc lao nhọc hằng ngày. Điều này mang lại một sứ điệp chấn động tâm hồn: Thiên Chúa không đứng bên lề lịch sử hay chờ đợi chúng ta phải leo lên những đỉnh cao phi thường mới đoái hoang đến. Ngài bước vào cuộc đời chúng ta từ những thực tại nhỏ bé nhất. Nước Thiên Chúa giống như hạt cải được gieo xuống đất, thoạt nhìn là hạt nhỏ bé nhất trong các loài hạt, nhưng khi lớn lên lại trở thành cây lớn để chim trời đến nương náu trong cành lá của nó. Sự phát triển của Nước Trời không cậy dựa vào thanh thế loài người, mà phát xuất từ sức sống nội tại của ơn sủng, từ tình yêu âm thầm nhưng mãnh liệt của Thiên Chúa được cấy gội vào lòng trần gian.
Nhìn ngắm cung cách hành động của Thiên Chúa, chúng ta nhận ra Ngài tôn trọng tự do và sự kiên nhẫn dường nào. Nước Thiên Chúa không áp đặt bằng sức mạnh vũ lực hay sự cưỡng bách ngoại tại. Giống như men trong bột mà người phụ nữ vùi vào ba đấu bột cho đến khi dậy men toàn bộ, Nước Trời tác động từ bên trong, biến đổi từ cội rễ tâm hồn con người. Men không tạo ra tiếng động ồn ào, nó âm thầm làm việc trong thinh lặng của bột mịn. Từng nghĩa cử bác ái nhỏ nhọt, từng lời tha thứ được thốt lên trong âm thầm, từng hy sinh thầm lặng vì người khác, tất cả đều là những hạt men làm cho xã hội chai sạn này thấm đẫm tình thương của Thiên Chúa. Sống tinh thần Nước Trời đồng nghĩa với việc từ bỏ lối sống phô trương hình thức, thói quen tìm kiếm sự công nhận phù phiếm của thế gian để quay về với nội tâm chân thực, nơi Thiên Chúa ngự trị và làm chủ.
Trong nhãn quan của linh đạo Kitô giáo đích thực, không có sự phân biệt rạch ròi giữa việc thiêng liêng và việc trần tục đối với những ai biết sống kết hợp với Chúa. Mọi công việc từ những việc trọng đại cho đến những sinh hoạt bình dị nhất như quét nhà, nấu nướng, nghiên cứu khoa học, lao động chân tay hay phục vụ anh chị em đều có thể trở thành chất liệu thánh hóa bản thân. Khi một người chu toàn bổn phận hằng ngày với tình yêu mến thiết tha dâng lên Thiên Chúa, công việc ấy mang giá trị vĩnh cửu. Thế giới hiện đại hôm nay đang rơi vào khủng hoảng ý nghĩa trầm trọng bởi con người chạy theo chủ nghĩa thực dụng, đánh giá phẩm giá con người qua mức độ tài sản họ tích lũy hay địa vị họ nắm giữ. Chúa Giêsu liên tục đảo ngược những trật tự giả tạo đó. Ngài mời gọi chúng ta thanh tẩy tâm hồn khỏi lòng tham lam vật chất, bởi của cải trần gian nếu chiếm hữu tâm can sẽ trở thành chiếc xiềng xích nặng nề cản trở bước chân vào vương quốc sự sống. Sự giàu có trước mặt Thiên Chúa không nằm ở những gì chúng ta giữ cho riêng mình, mà ở khả năng quảng đại chia sẻ và trao ban chính bản thân mình cho tha nhân.
Hành trình bước theo Đức Giêsu đòi hỏi một sự hoán cải tận căn, một cuộc lột xác nội tâm để nhận ra sự hiện diện của Ngài ngay trong những biến cố tầm thường của đời sống. Khi đối diện với đau khổ, thử thách, hay những lúc cảm thấy cô đơn lạc lõng, chúng ta dễ có xu hướng trách móc hoặc tìm kiếm những phép lạ ngoạn mục bên ngoài để củng cố niềm tin. Thế nhưng, Thiên Chúa thường thì thầm với chúng ta qua sự thinh lặng của cầu nguyện, qua ánh mắt của người nghèo khổ, qua sự mệt nhọc của một ngày lao động vất vả, hay qua nụ cười cảm thông của người bên cạnh. Nước Thiên Chúa ở ngay giữa chúng ta, nghĩa là Ngài đang hiện diện trọn vẹn trong từng nhịp đập của trái tim khi chúng ta mở rộng cửa lòng để đón nhận ơn thánh. Vấn đề không phải là Thiên Chúa có ở đó hay không, mà là liệu đôi mắt đức tin của chúng ta có đủ nhạy bén để nhận ra Ngài, liệu trái tim chúng ta có đủ khiêm nhường để quỳ xuống thờ lạy Ngài trong những thực tại bình thường nhất của cuộc sống hay không.
Sứ mạng loan báo Nước Thiên Chúa vì thế không phải là một lý thuyết xa vời dành riêng cho các nhà thần học hay những tu sĩ trong tu viện kín cổng cao tường. Đó là ơn gọi phổ quát dành cho mọi tín hữu ngay giữa dòng đời náo nhiệt. Bất cứ nơi nào có một Kitô hữu sống chân thực theo tinh thần Tin Mừng, nơi đó Nước Thiên Chúa đang hiển hiện. Khi một người cha đi làm về mệt nhọc nhưng vẫn dành thời gian lắng nghe con cái với tất cả sự trìu mến, đó là Nước Trời. Khi một người mẹ chăm sóc bữa ăn giấc ngủ cho gia đình với tất cả tình mẫu tử hy sinh, đó là Nước Trời. Khi một nhân viên giữ gìn sự chính trực nơi công sở giữa muôn vàn cám dỗ gian lận, đó là Nước Trời. Khi một tâm hồn biết tha thiết cầu nguyện cho kẻ thù và xoa dịu nỗi đau của người bất hạnh, đó là Nước Trời đang lan tỏa mạnh mẽ trên mặt đất này.
Chúng ta hãy xét mình xem bản thân đã thực sự làm cho Nước Thiên Chúa lớn lên trong môi trường sống của mình chưa, hay chúng ta vô tình kìm hãm nó bằng sự dửng dưng, ích kỷ và lối sống hai mặt? Đôi khi chúng ta lớn tiếng nói về Thiên Chúa nhưng lại từ chối thực thi lòng thương xót trong những mối quan hệ gia đình và xã hội thường ngày. Chúng ta mong chờ những thay đổi lớn lao nơi cấu trúc xã hội nhưng lại quên rằng sự biến đổi bắt đầu từ chính cõi lòng mình. Đức Giêsu mời gọi chúng ta trở nên những chứng nhân tỉnh thức, những hạt giống sẵn sàng mục nát đi để trổ sinh hoa trái ngọt ngào. Hạt giống nếu cứ giữ khư khư trong kho lãnh thì mãi mãi chỉ là một hạt giống cô độc; chỉ khi được vùi sâu vào đất đen, chịu đựng sự ẩm ướt và áp lực của đất đai, nó mới nứt mầm vươn lên đón ánh mặt trời.
Mỗi ngày sống là một cơ hội mới để chúng ta cộng tác vào công trình sáng tạo và cứu chuộc của Thiên Chúa. Hãy nhìn cuộc đời bằng đôi mắt của niềm hy vọng và lòng biết ơn. Đừng ngã lòng trước những yếu đuối mỏng giòn của bản thân hay sự dữ đang hoành hành ngoài kia, bởi vì quyền năng của Thiên Chúa mạnh mẽ hơn tất cả những giới hạn trần thế. Sức mạnh của Nước Trời không nằm ở số lượng đông đảo hay binh lực hùng hậu, mà nằm ở sức mạnh của tình yêu thập giá—tình yêu chịu đựng đến cùng để cứu chuộc muôn người. Khi chúng ta chấp nhận lội ngược dòng, sống khiêm nhường, yêu thương đến mức hy sinh quyền lợi riêng tư, chúng ta đang trở thành những sứ giả đích thực của vương quốc hằng sống.
Nguyện xin ơn trên soi sáng để mỗi người chúng ta biết canh tân đời sống mỗi ngày, biến mọi sinh hoạt thường nhật thành những khúc ca tôn vinh Thiên Chúa và phục vụ tha nhân. Xin cho chúng ta đừng tìm kiếm những điều vĩ đại hão huyền, nhưng biết trân trọng những cơ hội bé nhỏ mà Chúa gieo rắc trên đường đời, để qua đời sống chứng tá âm thầm nhưng kiên định của chúng ta, Nước Thiên Chúa được hiển trị sâu rộng trong tâm hồn mọi người và thế giới chung quanh.
Lm. Anmai, CSsR
HƯỚNG ĐI CỦA NƯỚC TRỜI: SỰ ÂM THẦM, KIÊN NHẪN VÀ LỚN LÊN TRONG ÂN SỰ
Cuộc hành trình đức tin của mỗi người Kitô hữu từ ngàn xưa cho đến nay luôn trải qua những thao thức, những trăn trở và đôi khi cả những thất vọng trước thực tại của thế giới cũng như trước chính bản thân mình. Khi nhìn vào Tin Mừng, chúng ta dễ dàng nhận thấy cách Chúa Giêsu rao giảng, cách Ngài giới thiệu về Nước Trời thường đi ngược lại với những kỳ vọng mang tính chính trị, quyền lực hay sự vĩ đại phô trương mà con người thời bấy giờ hằng mong đợi. Thay vì những đạo quân hùng hậu, những chiến thắng lẫy lừng hay sự biến đổi chớp nhoáng của xã hội, Chúa Giêsu lại dùng những hình ảnh rất đỗi tầm thường, quen thuộc trong đời sống thường nhật để minh họa cho mầu nhiệm cao cả này: hạt cải nhỏ bé được gác xuống đất và vũng men chìm khuất trong ba đấu bột. Những dụ ngôn ấy không chỉ phản ánh bối cảnh lịch sử của sứ vụ trần thế nơi Đức Kitô, mà còn mở ra một chân trời sâu thẳm về nhịp độ làm việc của Thiên Chúa, một nhịp độ đòi hỏi con người phải có sự nhẫn nại linh thiêng, lòng tin tưởng tuyệt đối và một cái nhìn đức tin vượt lên trên những giới hạn nhãn tiền của trần gian.
Sự kiên nhẫn của Thiên Chúa trước tiên được bộc lộ qua cách Ngài tôn trọng lịch sử và tự do của con người. Trong các bài giảng và dụ ngôn của Chúa Giêsu, chúng ta thấy Ngài không hề nôn nóng trước sự chậm chạp của các môn đệ, cũng chẳng ngã lòng trước sự cứng cỏi của lòng người. Bốn dụ ngôn nền tảng thường được nhắc đến trong các Tin Mừng Nhất Lãm, bao gồm hạt giống tự mọc lên trong lòng đất, hạt cỏ lùng mọc chung với lúa tốt cho đến ngày gặt, hạt cải nhỏ nhất trong các loài hạt và chút men nhỏ làm dậy men cả khối bột, đều quy hướng về cùng một thực tại cốt lõi: đó là sự mưu cầu ơn cứu độ diễn ra trong một tiến trình âm thầm, đôi khi vấp phải những vấp váp, những thử thách và cả những thất bại bề ngoài. Con người thời danh dự thường đo lường thành công bằng tốc độ, bằng quy mô bề thế, bằng những con số thống kê hoành tráng và những thành tựu có thể sờ nắn ngay lập tức. Ngược lại, Thiên Chúa lại hành động theo phong cách của tình yêu khiêm hạ. Ngài gieo vãi Lời của mình vào mảnh đất tâm hồn nhân loại, nơi đầy rẫy những gai góc, sỏi đá và sự yếu đuối, để rồi Ngài nhẫn nại chờ đợi hạt giống ấy tự lớn lên theo một trượng mực vượt xa sự kiểm soát chật hẹp của lý trí phàm trần.
Nhìn lại lịch sử cứu độ, từ thuở tạo dựng trời đất được mô tả trong sách Sáng Thế cho đến mầu nhiệm Nhập Thể và Cứu Chuộc, chúng ta nhận ra một vũ trụ và một nhân loại không hề bước đi trong một sự hoàn hảo tĩnh tại hay một đường thẳng tắp không vết gợn. Sự sống được phóng thích vào vũ trụ qua một tiếng phán của Đấng Tối Cao giống như một dòng năng lượng mãnh liệt, tuôn trào với muôn vàn sắc thái: nước, đất, ánh sáng, muông thú và con người. Nhưng sự tuôn trào ấy không đi kèm với một sự sắp đặt cứng nhắc triệt tiêu tự do; trái lại, nó khai mở một hành trình dài dằng dặc, một tiến trình lịch sử đầy những thăng trầm, những khúc quanh của đau khổ, bất trung, nước mắt và cả những tiếng kêu cứu xé lòng. Sức mạnh của Nước Trời không áp đặt bằng gươm giáo hay quyền lực bạo tàn, nhưng ngấm ngầm biến đổi thế giới từ bên trong, tựa như chất men âm thầm hoán cải từng tế bào của khối bột cuộc sống.
Trong đời sống thiêng liêng cá nhân, bài học về hạt cải và nén men mang lại một sự an ủi vô bờ bến cho những ai đang cảm thấy mệt mỏi vì sự bất toàn của chính mình. Bao nhiêu lần chúng ta rơi vào ngã lòng khi thấy bản thân sau bao nhiêu năm tháng tìm kiếm Chúa mà vẫn vấp ngã những lỗi lầm cũ, vẫn sân si, vẫn yếu đuối và chậm chạp trong nhân đức? Chúng ta mong ước mình trở nên thánh thiện ngay lập tức, muốn có một đức tin vững như bàn thạch không hề lung lay trước giông bão cuộc đời. Thế nhưng, Chúa Giêsu qua dụ ngôn hạt cải lại nhắc nhở chúng ta rằng khởi đầu của mọi công trình vĩ đại nơi Thiên Chúa bao giờ cũng bắt đầu từ những điều nhỏ bé nhất, tầm thường nhất, thậm chí dễ bị bỏ quên nhất. Hạt cải nhỏ bé đến mức có thể lọt thỏm trong lòng bàn tay, nhưng ẩn chứa bên trong nó là một sức sống mãnh liệt được Creator ban tặng. Khiêm tốn đón nhận sự nhỏ bé và giới hạn của mình chính là bước đầu tiên để cho quyền năng của Thiên Chúa được thể hiện trọn vẹn trong sự yếu đuối của chúng ta.
Sự thiếu hoàn hảo không phải là dấu hiệu của sự ruồng bỏ hay thất bại, mà chính là không gian để lòng thương xót của Thiên Chúa hoạt động. Con người hiện đại thường bị ám ảnh bởi sự hoàn hảo giả tạo: hoàn hảo trong công việc, hoàn hảo trong gia đình, hoàn hảo trên các nền tảng xã hội, và tệ hại hơn là sự áp đặt một sự hoàn hảo đạo đức giả tạo lên người khác. Sự ám ảnh này sinh ra một thứ bạo lực tinh thần tinh vi, nơi chúng ta không thể dung thứ cho những vết sẹo, những vấp ngã hay sự chậm tiến của anh chị em xung quanh, và nhất là không thể tha thứ cho sự bất lực của chính mình. Dụ ngôn về Nước Trời đến để đập vỡ chiếc gương méo mó ấy. Nó mời gọi chúng ta bước vào một cái nhìn thực tế và đầy lòng trắc ẩn: chấp nhận rằng cuộc đời này, gia đình này, cộng đoàn này và chính tâm hồn chúng ta chưa phải là thiên đàng hoàn hảo, mà chỉ là một cuộc hành trình lữ hành, một quá trình biến đổi liên léo từ thân phận cát bụi thấp hèn bước về phía ánh sáng vĩnh cửu của ngày Thiên Chúa hoàn tất vạn vật.
Chính trong bối cảnh đó, sự kiên nhẫn với chính mình trở thành một nhân đức nền tảng của đời sống nội tâm. Chúng ta thường rất nghiêm khắc với tha nhân nhưng lại dễ dãi với chính mình, hoặc ngược lại, quá khắc nghiệt với bản thân đến mức rơi vào tuyệt vọng khi không đạt được những tiêu chuẩn thiêng liêng cao ngất ngưởng do chính cái tôi kiêu hãnh đặt ra. Sự kiên nhẫn đích thực không phải là sự dửng dưng buông xuôi, cũng không phải là thái độ cam chịu thụ động trước tội lỗi và sự lười biếng. Kiên nhẫn theo Tin Mừng là sự tín thác sâu xa vào hoạt động của ơn thánh. Giống như người nông dân sau khi vãi giống xuống đất, ông phải ngủ dậy, thức giấc, đêm ngày qua đi, mầm lúa cứ lớn lên lúc nào ông cũng chẳng hay biết, bởi vì đất tự sức mình làm mọc lên cây lúa, trước hết là ngọn, rồi đến bông, rồi sau cùng là lúa đặc hạt trong bông. Con người không thể tự ép mình trở thành thánh bằng sức lực cơ bắp hay sự căng thẳng tinh thần; thánh thiện là hồng ân, là kết quả của sự cộng tác kiên nhẫn, khiêm tốn để cho Thần Khí Chúa nhào nặn tâm hồn qua từng ngày sống bình dị.
Bên cạnh đó, lòng kiên nhẫn với tha nhân cũng là một thử thách cam go nhưng vô cùng cần thiết cho bất kỳ ai muốn bước theo chân Thầy Chí Thánh. Chúng ta sống giữa một xã hội đầy những vết thương, nơi con người dễ tổn thương và dễ làm tổn thương nhau. Trong các mối tương quan gia đình, cộng đoàn tu trì hay xã hội rộng lớn, cám dỗ muốn “nhổ cỏ lùng” ngay lập tức bằng sự xét đoán khắc nghiệt, bằng những lời chỉ trích cay độc hay bằng thái độ loại trừ luôn chực chờ bủa vây. Chúng ta muốn thanh lọc những ai không theo ý mình, muốn uốn nắn người khác theo khuôn mẫu hoàn hảo do ta tự vẽ ra. Nhưng dụ ngôn về cỏ lùng và lúa tốt lại dạy chúng ta bài học về sự nhẫn nhịn khôn ngoan của chủ ruộng: hãy để chúng cùng lớn lên cho đến mùa gặt. Sự kiên nhẫn này không dung túng cho sự dữ, nhưng đặt niềm tin vào quyền phán xét tối cao và lòng thương xót kiên nhẫn của Thiên Chúa, Đấng biết rõ hơn ai hết tấm lòng của mỗi tạo vật và biết cách nào để chuyển hóa sự dữ thành ơn ích cho những ai tin tưởng vào Ngài.
Hình ảnh hạt men vùi trong ba đấu bột lại mở ra một chiều kích khác của Nước Trời: chiều kích của sự biến đổi nội tâm mang tính lan tỏa và thấm nhuần. Men không đứng bên ngoài để hô hào, không dùng sức mạnh bạo lực để đập phá khối bột, mà nó khiêm tốn ẩn mình vào giữa lòng khối bột nặng nề, âm thầm làm việc từ bên trong cho đến khi toàn bộ khối bột phồng lên và dậy mùi thơm. Điều này soi chiếu trực tiếp vào sứ mạng của người Kitô hữu giữa lòng thế giới tục hóa hôm nay. Chúng ta không được kêu gọi để trốn chạy khỏi thế gian hay dựng lên những bức tường biệt lập tự mãn, nhưng được sai vào giữa lòng xã hội để trở nên hạt men của Tin Mừng. Sự hiện diện của chúng ta đôi khi có vẻ nhỏ bé, mờ nhạt trước những cấu trúc quyền lực khổng lồ, trước những trào lưu văn hóa đi ngược lại với giá trị Tin Mừng, trước bạo lực, gian dối và ích kỷ lan tràn. Thế nhưng, giống như hạt men nhỏ bé, sức mạnh của chúng ta không nằm ở số lượng hay phương tiện vật chất, mà nằm ở quyền năng của tình yêu đích thực và sự trung thành với những giá trị Tin Mừng được sống âm thầm nhưng triệt để trong từng chi tiết nhỏ của đời sống hằng ngày.
Một hạt men chỉ có thể làm dậy men khi nó chấp nhận tan biến, hòa lẫn vào khối bột. Nếu hạt men cứ giữ nguyên hình thù cứng nhắc của mình và nằm ở một góc khô ráo, nó sẽ mãi mãi chỉ là một cục men vô dụng. Cũng vậy, đời sống Kitô hữu không thể tỏa hương thơm của Đức Kitô nếu chúng ta cứ mãi khép kín trong sự an toàn ích kỷ, sợ hãi những va chạm, sợ hãi sự dấn thân và hy sinh. Sự biến đổi thế giới bắt đầu từ sự biến đổi chính cõi lòng sâu thẳm của mỗi người. Khi một con người thực sự để cho ơn Chúa thấm nhập, khi sự hiền lành, lòng bao dung, sự tha thiết với công lý và bình an tràn ngập tâm hồn họ, thì dù họ ở đâu, gia đình, công sở, bệnh viện hay những nơi góc khuất của xã hội, họ đều trở thành nguồn năng lượng thiêng liêng âm thầm nâng đỡ và biến đổi những người xung quanh. Sự biến đổi vĩ đại nhất của lịch sử nhân loại chưa bao giờ đến từ những tiếng hô hào ồn ào hay những cuộc cách mạng đẫm máu, nhưng luôn bắt nguồn từ những tâm hồn khiêm hạ đã để cho tình yêu của Thiên Chúa làm chủ trọn vẹn.
Hành trình đức tin ấy cũng đồng thời là một cuộc lữ hành từ sự hữu hạn mong manh bước tới sự viên mãn vĩnh hằng mà Thiên Chúa đã dọn sẵn cho con người. Sự bất toàn của kiếp người không phải là ngõ cụt, mà là điểm xuất phát của một ơn gọi hướng thượng. Tất cả những giọt nước mắt, những lần vấp ngã đau đớn, những giới hạn về thể lý lẫn tinh thần, và ngay cả cái chết, đều không có tiếng nói cuối cùng. Trong nhãn quan của mầu nhiệm Phục Sinh, mọi thực tại đau thương và giới hạn của đời này đều đang được Thiên Chúa âm thầm uốn nắn, thanh luyện và biến đổi để chuẩn bị cho mùa gặt cuối cùng, nơi mà sự hài hòa tuyệt mỹ sẽ được thiết lập trọn vẹn trong ngày quang lâm của Đức Kitô. Sự hiểu biết này đem lại cho người tín hữu một niềm hy vọng vững vàng không gì lay chuyển nổi. Dù thế giới chung quanh có chao đảo, dù lịch sử nhân loại có trải qua bao nhiêu tang tóc và khủng hoảng, người môn đệ của Chúa vẫn có thể mỉm cười bình an bước đi trong đêm tối của đức tin, bởi vì họ biết rằng hạt giống Nước Trời đã được gieo xuống và chắc chắn sẽ trổ sinh hoa trái dồi dào theo đúng thời giờ của Đấng Tối Cao.
Đời sống dâng hiến và đời sống gia đình đều tìm thấy chung một nguồn mạch sức mạnh từ hai dụ ngôn này. Đối với những ai sống đời tu trì trong thinh lặng và cầu nguyện của đan viện, cuộc sống ngày qua ngày có vẻ đơn điệu với những giờ kinh phụng vụ lặp đi lặp lại, những công việc lao động thủ công tầm thường, những mối tương quan chật hẹp trong cùng một cộng đoàn với bao nhiêu cọ xát tự nhiên. Đôi khi có những đan sĩ tự hỏi: sự hiện diện khuất tất sau những bức tường đan viện này có ích gì cho thế giới đang ào ạt chuyển động ngoài kia? Câu trả lời chính là mầu nhiệm của hạt cải và hạt men. Đan viện không phải là nơi tạo ra những phép lạ chói lọi, mà là một không gian nhỏ bé nơi ngọn lửa cầu nguyện và tình yêu thương được ấp ủ, trở thành nguồn mạch thiêng liêng âm thầm nuôi dưỡng toàn thể thân mình Hội Thánh. Sự trung thành âm thầm trong những điều nhỏ nhặt nhất, ngày này qua ngày khác, chính là cách đan sĩ gieo vãi hạt giống Nước Trời vào lòng nhân loại.
Cũng một thế đứng ấy được áp dụng cho đời sống gia đình và môi trường lao động trần thế. Người cha, người mẹ đang vất vả mưu sinh, kiên nhẫn dạy dỗ con cái qua từng bữa cơm, từng lời nhắc nhở nhẹ nhàng, đôi khi cảm thấy nản lòng trước sự bướng bỉnh của tuổi trẻ hay những áp lực dồn dập của đời sống kinh tế. Hãy tin rằng sự hy sinh thầm lặng ấy, những giọt mồ hôi nhẫn nhục ấy, chính là những hạt men âm thầm làm dậy lên tình người, sự hiếu thảo và lòng nhân ái trong lòng xã hội thực dụng này. Không có một hành động yêu thương chân thành nào bị coi là nhỏ bé hay vô nghĩa trước mặt Thiên Chúa. Ngài biết cách lấy đi sự mệt mỏi của chúng ta và chuyển hóa những nỗ lực tưởng chừng như vô vọng thành những mùa gặt trĩu hạt vượt trên mọi ước mơ của con người.
Bước đi trong ánh sáng của các dụ ngôn Nước Trời, chúng ta được mời gọi buông bỏ sự nôn nóng và những ảo tưởng về quyền lực trần thế để trở về với tinh thần thơ ấu thiêng liêng. Sống tinh thần thơ ấu nghĩa là hoàn toàn tín thác vào bàn tay quan phòng của Cha trên trời, chấp nhận bước đi từng bước nhỏ trong ánh sáng đức tin, không đòi hỏi phải thấy trước toàn bộ tương lai, nhưng vững lòng tin rằng Đấng đã khởi sự việc lành nơi chúng ta sẽ chính là Đấng hoàn thành nó. Sự nhẫn nại với bản thân giúp chúng ta không ngã lòng trước những vấp ngã, trái lại biết đứng dậy với lòng cậy trông mới mẻ sau mỗi lần sa ngã. Sự nhẫn nại với tha nhân mở rộng trái tim chúng ta để đón nhận họ với tất cả những giới hạn và vết thương, lấy tình yêu thương và lời cầu nguyện để bao phủ thay vì dùng sự xét đoán và loại trừ.
Cuộc sống trần thế này dẫu còn nhiều bất toàn, đau khổ và mâu thuẫn, nhưng không bao giờ là một cõi hoang vu vô định. Nó là thửa ruộng thơm mùi đất mới đang được Thiên Chúa cày xới, là khối bột đang được ơn thánh nhào nặn từng ngày qua bàn tay quan phòng đầy trìu mến của Ngài. Mỗi chúng ta, dù ở bất cứ bậc sống nào, ơn gọi nào hay hoàn cảnh nào, cũng đều được mời gọi trở nên hạt giống nhỏ được vùi sâu trong đất hay hạt men khiêm tốn giữa lòng đời. Hãy can đảm sống trọn vẹn từng khoảnh khắc hiện tại bằng tất cả tình yêu mến, sự trung kiên và niềm hy vọng vững bền. Đừng sợ hãi trước sự nhỏ bé của mình, bởi vì chính qua những con người bé mọn, qua những hành động âm thầm không tên tuổi, Thiên Chúa đang thực hiện những công trình vĩ đại nhất của Ngài cho lịch sử nhân loại và cho cõi vĩnh hằng mai hậu.
Lm. Anmai, CSsR
HƯỚNG DẪN ĐỜI SỐNG THÁNH THIỆN TRONG ÂN SỦNG VÀ SỰ KHIÊM NHƯỜNG
Sự biến đổi sâu xa của tâm hồn luôn khởi đi từ những bước chân âm thầm và kín nhiệm trong hành trình đức tin hằng ngày. Khi con người mở rộng cõi lòng để đón nhận ánh sáng chân lý từ trời cao, mọi khía cạnh của cuộc sống trần世 đều được chiếu soi và thanh luyện. Đời sống thiêng liêng không phải là một chuỗi những hình thức tôn 𨷂 bên ngoài hay những thành tích đạo đức phô trương trước mặt người đời, mà là một mối tương quan mật thiết, chân thành và trọn vẹn giữa thụ tạo và Đấng Tạo Hóa. Trong cõi thâm nghiêm của tâm hồn, nơi chỉ có ánh mắt của Chúa thấu suốt, con người được mời gọi buông bỏ mọi ảo tưởng về sự tự mãn để bước vào cung thánh của lòng thương xót vô biên.
Con đường trọn lành đòi hỏi một sự kiên trì bền bỉ qua từng biến cố nhỏ nhặt nhất của cuộc sống thường nhật. Mỗi ngày trôi qua là một cơ hội mới để ơn thánh hoạt động, biến đổi những yếu hèn, bất toàn của con người thành những viên đá quý xây dựng đền thờ tâm hồn. Sự khiêm nhường đích thực không bao giờ tự hào về những gì mình đã làm được, nhưng luôn nhìn nhận rằng tất cả đều là hồng ân, là lượng xót thương nhưng không mà Thiên Chúa ban tặng. Chính thái độ nghèo khó trong tâm hồn này mở thông các tầng trời, kéo ơn cứu độ và sự bình an đích thực xuống cho nhân loại đang lầm than giữa muôn vàn giông bão cuộc đời.
Ánh sáng của Tin Mừng soi rọi vào tận những góc khuất tăm tối nhất của ích kỷ và kiêu ngạo con người. Thường thì chúng ta dễ dàng rơi vào cám dỗ tự xưng công chính, tự biến mình thành tiêu chuẩn để phán xét và quy kết tha nhân. Thái độ ấy làm xói mòn tình hiệp thông, bóp nghẹt nhịp đập của bác ái và làm cho tâm hồn trở nên chai sạn trước nỗi đau của anh chị em đồng loại. Trái lại, tinh thần Tin Mừng mời gọi mỗi người hãy bước xuống khỏi bục vinh quang tự ảo tưởng để hòa mình vào dòng chảy thương xót của Thiên Chúa, nơi không ai bị loại trừ và mọi tội nhân thành tâm sám hối đều tìm thấy sự dung tha.
Sự khiêm nhường không làm cho con người trở nên hèn kém hay mất đi phẩm giá, trái lại, nó tôn vinh phẩm giá đích thực của người con cái Chúa. Khi nhận ra mình hoàn toàn bé nhỏ và bất lực trước mầu nhiệm sự sống, con người mới thực sự mở rộng đôi tay để đón nhận sức mạnh từ ơn trên. Sức mạnh ấy không khuất phục ai bằng bạo lực hay quyền uy trần thế, mà cảm hóa lòng người bằng sự hiền hòa, kiên nhẫn và hy sinh tận tụy. Đó là phong cách sống của chính Đức Giêsu Kitô, Đấng đã tự hạ mình mặc lấy thân phận con người để nâng con người lên hàng vương giả của sự sống thần linh.
Hành trình đức tin cũng là hành trình của niềm hy vọng không lay chuyển giữa một thế giới đầy dẫy những chao đảo và thử thách. Đứng trước những nghịch cảnh của thời đại, nhiều người dễ rơi vào tình trạng chán nản, buông xuôi hoặc tìm kiếm những chỗ dựa ảo tưởng chóng qua. Tuy nhiên, sức sống nội tâm phát xuất từ việc kết hợp mật thiết với Chúa sẽ là mỏ neo vững chắc giữ cho con người không bị cuốn phăng đi. Niềm hy vọng Kitô giáo không phải là một sự lạc quan tếu táo, mà là lòng tin tưởng tuyệt đối vào quyền năng và tình yêu quản trị lịch sử của Thiên Chúa, Đấng luôn biết cách vẽ đường thẳng bằng những nét cong của con người.
Để duy trì ngọn lửa đức tin luôn sáng ngời, mỗi tín hữu cần nuôi dưỡng đời sống cầu nguyện bằng một tâm tình phó thác trọn vẹn. Cầu nguyện không phải là đọc lên những công thức dài dòng hay tìm cách thuyết phục Thiên Chúa thay đổi ý định theo ý muốn ích kỷ của chúng ta, mà là để cho Thiên Chúa biến đổi ý chí và tâm hồn chúng ta theo thánh ý Ngài. Trong không gian tĩnh lặng của sự thinh lặng nội tâm, tiếng nói của Chúa vang lên nhẹ nhàng nhưng đầy uy quyền, soi dẫn từng bước đi, chữa lành những vết thương lòng và trao ban nguồn năng lượng mới cho sứ mạng tông đồ giữa đời.
Đời sống cộng đoàn và sứ mạng loan báo Tin Mừng gắn kết chặt chẽ với chiều kích nội tâm này. Một người không thể mang lại bình an cho tha nhân nếu chính bản thân họ chưa trải nghiệm sự bình an sâu xa trong Chúa. Chứng tá hùng hồn nhất không nằm ở những lời lẽ hoa mỹ hay các chiến dịch rầm rộ, mà phát xuất từ một đời sống phản chiếu ánh sáng và tình yêu của Thiên Chúa qua những cử chỉ bác ái âm thầm hằng ngày. Sự hiện diện của một Kitô hữu đích thực giữa lòng xã hội phải là men, là muối, là ánh sáng đem lại niềm vui, sự hy vọng và lòng trắc ẩn cho những mảnh đời bất hạnh, đau khổ.
Mỗi thử thách xuất hiện trong cuộc sống không phải là hình phạt, mà là ơn thanh luyện giúp cắt tỉa những cành cây khô khan, ích kỷ để trổ sinh hoa trái dồi dào hơn. Khi đối diện với hiểu lầm, phỉ báng hay thất bại, người môn đệ Chúa không ngã lòng nhưng biết hiệp thông cuộc đời mình vào mầu nhiệm Thập Giá. Chính nơi thập giá tưởng chừng là dấu chỉ của sự nhục nhã và tận cùng thất bại, Thiên Chúa lại mạc khải vinh quang rực rỡ nhất của tình yêu hi dâng. Nhìn ngắm thập giá, con người tìm lại được ý nghĩa của đau khổ và sức mạnh để bước tiếp trên con đường hẹp dẫn đến sự sống đời đời.
Việc canh tân đời sống đạo đức tự bản chất đòi hỏi một cuộc xuất hành liên lì ra khỏi cái tôi ích kỷ để hướng về Thiên Chúa và tha nhân. Cuộc xuất hành này không đòi hỏi phải rời bỏ thế giới vật chất, mà đòi hỏi sự hoán cải nội tâm triệt để. Từ bỏ nếp sống cũ, từ bỏ những toan tính vụ lợi, từ bỏ thói quen phán xét người khác để mặc lấy tâm tình của Đức Kitô là tiến trình trọn đời không bao giờ kết thúc. Đó là hành trình đi từ bóng tối của sự tự phụ bước vào ánh sáng tuyệt vời của sự thật và tình yêu.
Kết thúc hành trình trần thế, điều còn lại duy nhất không phải là những gì chúng ta tích lũy cho bản thân, mà là tình yêu chúng ta đã trao ban và đón nhận. Thiên Chúa không hỏi chúng ta đã làm được bao nhiêu công trình vĩ đại theo tiêu chuẩn loài người, nhưng Ngài nhìn vào tấm lòng với tất cả sự chân thành, khiêm nhường và lòng thương xót mà chúng ta dành cho anh chị em mình. Nguyện xin ơn Chúa canh tân tâm hồn mỗi người chúng ta, để từng ngày trúng ta biết sống xứng đáng là con cái sự sáng, làm rạng ngời danh thánh Ngài giữa muôn dân nước.
Lm. Anmai, CSsR
HÀNH TRÌNH ĐỨC TIN VÀ NIỀM HY VỌNG TRONG LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA
Cuộc sống trần世 của con người từ ngàn xưa cho đến nay luôn là một chuỗi những đan xen giữa ánh sáng và bóng tối, giữa niềm vui hân hoan và nỗi đau khổ tột cùng. Bước đi giữa dòng đời xu ngược, mỗi chúng ta đôi khi cảm thấy chênh vênh, mệt mỏi trước những áp lực của thời gian, trước sự mong manh của phận người và trước những biến cố bất ngờ xảy đến. Thế nhưng, trong cái nhìn của đức tin Kitô giáo, sự hiện hữu của chúng ta không bị bỏ rơi trong cõi hỗn mang vô định, cũng không phải là một chuỗi vô nghĩa những ngẫu nhiên lạnh lùng. Thiên Chúa, Đấng thấu suốt mọi cõi lòng và yêu thương con người bằng một tình yêu muôn thuở, luôn hiện diện và đồng hành. Ngài không đứng nhìn từ một cõi xa xăm vô cảm, nhưng đã bước vào lịch sử nhân loại, chia sẻ phận người với chúng ta để chỉ cho chúng ta con đường đi về sự thật và ánh sáng vĩnh cửu.
Khi suy ngắm về hành trình đức tin, chúng ta thường dễ rơi vào cảm giác tự mãn hoặc ngược lại, là sự chán nản tuyệt vọng. Có những lúc chúng ta tưởng rằng mình đã nắm giữ được chân lý, đã thực hành đầy đủ các lề luật và nghi thức đạo đức, để rồi tự mãn nguyện với vạch xuất phát an toàn của chính mình. Lại có những lúc, đối diện với những thử thách cam go của cuộc sống thường nhật, những đổ vỡ trong gia đình, những bất trắc trong công việc hay những nỗi cô đơn sâu thẳm trong tâm hồn, chúng ta lại nghi ngờ sự quan phòng của Thiên Chúa. Chúng ta tự hỏi rằng Thiên Chúa đang ở đâu khi thế giới này tràn ngập đau thương và bất công? Tại sao con đường của người công chính đôi khi lại lắm chông gai đến thế? Những trăn trở ấy không phải là điều xa lạ đối với truyền thống Kinh Thánh. Từ các ngôn sứ trong Cựu Ước cho đến các tông đồ trong Tân Ước, tất cả các bậc thánh nhân đều đã từng trải qua những đêm dài tăm tối của tâm hồn, những giây phút mà sự thinh lặng của Thiên Chúa như một thách đố lớn lao đối với lòng tin.
Chính trong bối cảnh ấy, Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy hướng tầm nhìn vượt lên trên những giới hạn chật hẹp của thực tại trần thế để nhận ra một chiều kích hoàn toàn mới: chiều kích của niềm hy vọng Kitô giáo. Hy vọng không phải là một sự chờ đợi thụ động, một thái độ khoanh tay đứng nhìn thời gian trôi qua với một chút ảo tưởng hão huyền rằng mọi sự rồi sẽ tự động tốt đẹp hơn. Hy vọng đích thực trong đức tin Kitô giáo là một nhân đức năng động, một sức mạnh nội tâm được hun đúc từ niềm tin tưởng tuyệt đối vào quyền năng và tình yêu thương xót của Thiên Chúa. Đó là sự xác tín rằng lịch sử nhân loại và lịch sử cuộc đời mỗi người chúng ta nằm trong đôi tay từ mẫu của Đấng Tạo Hóa, Đấng biết cách viết nên những trang trắng tuyệt đẹp ngay cả trên những dòng chữ xiêu vẹo và đầy vết nhơ của cuộc đời chúng ta.
Để hiểu sâu sắc hơn về hành trình đức tin này, chúng ta cần quay về với hình ảnh của Nước Trời được chính Chúa Giêsu phác họa qua các dụ ngôn. Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu thường dùng những hình ảnh rất đỗi gần gũi, quen thuộc với đời sống thường nhật của người nông dân hay người thợ thủ công để diễn tả những thực tại siêu linh cao cả. Ngài ví Nước Trời giống như hạt cải nhỏ bé nhất trong các loại hạt, nhưng khi được gieo xuống lòng đất, nó lại lớn lên thành một cái cây lớn đến mức chim trời có thể đến làm tổ trên cành. Hoặc Ngài ví Nước Trời như chút men mà người phụ nữ vùi vào ba đấu bột cho đến khi toàn bộ khối bột dậy men. Những hình ảnh này mang một thông điệp vô cùng mạnh mẽ và đầy ủi an cho những ai đang cảm thấy yếu đuối, nhỏ bé và bất lực trước những chuyển biến lớn lao của thế giới.
Sự phát triển của Nước Trời không diễn ra theo logic bạo lực, ồn ào hay phô trương của thế gian. Thiên Chúa không dùng quyền lực chính trị hay sức mạnh quân sự để thiết lập vương quốc của Ngài. Vương quốc ấy bắt đầu từ những điều rất nhỏ bé, âm thầm, đôi khi bị thế gian coi thường và gạt bỏ. Một lời thăm hỏi ân cần, một ánh mắt cảm thông dành cho người đau khổ, một nghĩa cử sẻ chia với người nghèo khó, một sự tha thiết trong lời cầu nguyện âm thầm trong căn phòng kín… tất cả những điều tưởng chừng như nhỏ nhặt ấy lại chính là những hạt giống Nước Trời đang được gieo vãi vào lòng trần gian. Chúng ta thường có xu hướng đánh giá cao những thành tựu lớn lao, những con số ấn tượng, những công trình hoành tráng. Nhưng trước mặt Thiên Chúa, giá trị của một con người không nằm ở chỗ họ làm được bao nhiêu tiếng vang lớn, mà nằm ở chỗ họ đã đặt bao nhiêu tình yêu vào trong những việc làm nhỏ bé tầm thường hằng ngày.
Hơn thế nữa, hành trình của hạt cải hay nén men còn dạy chúng ta bài học kiên nhẫn. Trong một xã hội hiện đại bị chi phối bởi nhịp sống hối hả, nơi mọi thứ đều phải diễn ra tức thời từ thông tin cho đến các dịch vụ, chúng ta dễ trở nên thiếu kiên nhẫn đối với bản thân, đối với tha nhân và thậm chí đối với cả Thiên Chúa. Chúng ta muốn thấy ngay kết quả của những nỗ lực đạo đức, chúng ta muốn những vấn đề phức tạp được giải quyết ngay lập tức, chúng ta muốn sự hoán cải của người thân diễn ra theo thời gian biểu của chúng ta. Khi không đạt được điều đó, chúng ta dễ thất vọng, chán nản và muốn buông xuôi. Thế nhưng, đời sống tâm linh không phải là một dây chuyền sản xuất công nghiệp, mà là một khu vườn cần có thời gian để đơm hoa kết trái. Hạt giống cần phải mục nát trong lòng đất, trải qua sương gió, mưa nắng thì mới có thể vươn lên thành cây vững chắc. Quá trình biến đổi nội tâm của con người cũng đòi hỏi một sự kiên nhẫn bền bỉ như thế. Thiên Chúa tôn trọng tự do của chúng ta và Ngài kiên nhẫn chờ đợi từng bước chân quay về của chúng ta, dẫu cho đôi khi chúng ta vấp ngã và đi lạc đường.
Sự kiên nhẫn của Thiên Chúa không phải là sự dửng dưng, mà là biểu hiện của lòng thương xót vô biên. Lòng thương xót ấy chính là trọng tâm của sứ điệp Tin Mừng. Khi ngắm nhìn con người với tất cả sự bất toàn, yếu đuối, tội lỗi và giới hạn, Chúa Giêsu không đến để lên án hay tiêu diệt, nhưng để cứu chuộc và chữa lành. Ngài ôm lấy những mảnh vỡ của cuộc đời chúng ta, hàn gắn những vết thương lòng tưởng chừng không bao giờ lành, và trao ban cho chúng ta một phẩm giá cao quý: phẩm giá làm con cái Thiên Chúa. Trở thành Kitô hữu không có nghĩa là chúng ta là những con người hoàn hảo, không hề biết vấp ngã hay sai lầm. Trái lại, người Kitô hữu đích thực là người ý thức sâu sắc về sự khốn cùng của mình, để từ đó mở rộng tâm hồn đón nhận ơn tha thứ và lòng xót thương từ Thiên Chúa, đồng thời biết sẻ chia lòng xót thương ấy với những anh chị em đang sống xung quanh mình.
Trong đời sống cộng đoàn cũng như trong các mối quan hệ xã hội hằng ngày, thái độ của chúng ta đối với tha nhân thường bị chi phối bởi sự phán xét và định kiến. Chúng ta rất nhanh chóng nhìn thấy cái rác trong mắt người khác mà quên đi cái xà trong mắt chính mình. Chúng ta dễ dàng dán nhãn cho người khác, quy trách nhiệm cho họ và khép lại cánh cửa lòng mình trước những ai không cùng quan điểm, không cùng lối sống hoặc đã từng vấp ngã lỗi lầm với chúng ta. Thế nhưng, Tin Mừng của Chúa Giêsu lại đảo lộn hoàn toàn những chuẩn mực phàm nhân ấy. Ngài mời gọi chúng ta bước vào một nền văn hóa của sự gặp gỡ, của sự lắng nghe và của lòng bao dung. Yêu thương tha nhân không có nghĩa là dung túng cho cái ác hay sự bất công, nhưng là nhìn tha nhân bằng ánh mắt của Thiên Chúa – ánh mắt nhìn thấy tiềm năng của sự thiện ẩn giấu bên dưới lớp tro tàn của tội lỗi và yếu đuối.
Thách đố lớn nhất đối với người tín hữu trong thời đại hôm nay chính là việc sống chứng nhân giữa một thế giới đang ngày càng tục hóa và dửng dưng với các giá trị thiêng liêng. Chủ nghĩa tiêu thụ, lòng ích kỷ cá nhân, sự cạnh tranh khốc liệt và những nỗi lo toan cơm áo gạo tiền đang dần bóp nghẹt không gian thinh lặng trong tâm hồn con người. Chúng ta bị cuốn đi vào cơn lốc của công việc và những phương tiện truyền thông hiện đại đến mức đánh mất khả năng gặp gỡ chính mình, gặp gỡ tha nhân và quan trọng hơn hết là đánh mất khả năng gặp gỡ Thiên Chúa trong chiều sâu thẳm của cầu nguyện. Khi con người đánh mất cội nguồn tâm linh, họ dễ trở nên cô đơn ngay giữa đám đông, bơ vơ giữa những giá trị ảo và đánh mất phương hướng cho cuộc đời mình.
Chính trong bối cảnh đầy thách đố này, ơn gọi của người Kitô hữu trở nên vô cùng cấp thiết và cao quý. Chúng ta được mời gọi trở nên những chứng nhân của niềm hy vọng, những người mang trong mình ngọn lửa bình an và tình yêu của Thiên Chúa để thắp sáng những chốn tăm tối của cuộc đời. Trở thành chứng nhân không nhất thiết phải làm những điều lớn lao hay hùng biện những bài giảng cao siêu; trước hết và trên hết, điều đó được thể hiện qua một lối sống chân thành, khiêm tốn, biết quan tâm đến những người xung quanh và luôn giữ vững lòng tín thác vào Chúa ngay giữa những giông bão cuộc đời. Khi một con người sống chan hòa tình yêu thương và sự tha thứ, người đó đang vô tình hay hữu ý phác họa lại khuôn mặt nhân ái của Thiên Chúa giữa lòng trần thế này.
Đời sống cầu nguyện chính là nguồn cội tiếp sức cho hành trình chứng nhân ấy. Cầu nguyện không phải là đọc những công thức kinh kệ một cách máy móc hay là việc kể lể những nhu cầu vật chất của bản thân cho Chúa nghe như một thói quen hình thức. Cầu nguyện đích thực là một cuộc gặp gỡ thân mật, một mối tương quan sống động giữa người con và người Cha nhân hiền. Đó là không gian mà ở đó chúng ta dám sống thật với chính mình, dám buông bỏ những chiếc mặt nạ che đậy sự yếu đuối để đặt trọn vẹn nỗi lòng, niềm vui và sự lo âu của mình vào trong đôi tay nhân ái của Ngài. Trong sự thinh lặng của cầu nguyện, tâm hồn chúng ta được gột rửa khỏi những bận rộn trần thế, được lấp đầy bằng ơn thánh và được tái tạo nguồn năng lượng mới để tiếp tục dấn thân vào sứ mạng yêu thương.
Bên cạnh đó, việc lắng nghe và sống theo Lời Chúa là kim chỉ nam không thể thiếu cho mỗi bước đi của chúng ta. Kinh Thánh không phải là một cổ thư khô khan hay một cẩm nang luân lý cứng nhắc, mà là bức thư tình mà Thiên Chúa gửi gắm cho nhân loại qua mọi thời đại. Mỗi khi chúng ta mở Lời Chúa ra đọc và suy niệm, chính Thiên Chúa đang thì thầm với tâm hồn chúng ta, đang soi sáng những góc khuất tăm tối trong cuộc đời chúng ta và đang vạch ra con đường chân lý để chúng ta bước đi. Sống Lời Chúa có nghĩa là biến những giá trị Tin Mừng thành hành động cụ thể trong đời sống hằng ngày: biết bênh vực kẻ yếu thế, biết chia sẻ cơm bánh với người đói khát, biết xây dựng hòa bình nơi có sự chia rẽ và biết đem lại niềm vui cho những ai đang đau khổ.
Nhìn về tương lai, dẫu biết rằng con đường phía trước còn nhiều chông gai và thử thách, chúng ta vẫn có một niềm xác tín vững bền rằng lịch sử nhân loại không bị trôi dạt vô định, nhưng đang tiến về một cùng đích tuyệt mỹ: sự viên mãn trong tình yêu của Thiên Chúa. Đức Kitô Phục Sinh đã chiến thắng sự chết và tội lỗi, Ngài đang mở rộng đôi tay đón chờ chúng ta trong nhà của Cha trên trời. Niềm hy vọng cánh chung này không làm cho chúng ta trở nên dửng dưng hay trốn tránh những trách nhiệm trần thế, trái lại, nó thôi thúc chúng ta dấn thân mạnh mẽ hơn nữa để xây dựng một thế giới công bằng hơn, huynh đệ hơn và ngập tràn tình ái ngay trong chính thời gian hiện tại này.
Mỗi bước đi của chúng ta trên mặt đất này đều mang một ý nghĩa vĩnh cửu khi được gắn kết với tình yêu của Thiên Chúa. Những giọt nước mắt chúng ta rơi trong đau khổ, những nỗ lực thầm lặng của chúng ta trong việc làm điều thiện, những hy sinh nhỏ bé chúng ta dâng hiến cho tha nhân – tất cả đều không hề bị bỏ quên, nhưng được ghi khắc trong trái tim vô bờ bến của Đấng Tạo Hóa. Ngài biết rõ từng tên gọi của chúng ta, thấu hiểu từng nỗi niềm thổn thức trong tâm hồn và luôn sẵn sàng ban ơn trợ giúp đúng lúc cho những ai kêu cầu đến Ngài với một lòng khiêm tốn chân thành.
Giờ đây, khi khép lại những dòng suy niệm này, chúng ta hãy hướng lòng lên cao với tâm tình cảm tạ và ngợi khen Thiên Chúa. Xin Ngài ban cho chúng ta ơn canh tân đổi mới tâm hồn, xin cho ánh sáng Tin Mừng của Chúa luôn soi rọi từng bước chân chúng ta đi, để giữa một thế giới còn nhiều đau thương và chia rẽ, chúng ta biết sống như những người con của sự sáng, mang lại hơi ấm tình thương và niềm hy vọng cho những ai đang tìm kiếm ý nghĩa cuộc đời. Xin ơn trên đồng hành, nâng đỡ và dẫn dắt chúng ta qua mọi nẻo đường tương lai, để cuộc đời chúng ta thực sự trở thành một khúc ca cảm tạ tri ân dâng lên Thiên Chúa muôn đời vinh hiển.
Lm. Anmai, CSsR
SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NƯỚC THIÊN CHÚA VÀ HỒNG ÂN BÍ TÍCH HÔN NHÂN TRONG ĐỜI SỐNG KITÔ HỮU
Nước Thiên Chúá luôn hiện diện giữa trần gian như một mầu nhiệm cao cả, một thực tại thiêng liêng vừa vượt trên tầm hiểu biết nhân loại lại vừa gần gũi đến mức có thể chạm đến từng góc khuất nhỏ bé nhất của đời sống thường nhật. Khi bàn về Nước Thiên Chúa, Đức Giêsu thường dùng những hình ảnh gần gũi, mộc mạc từ thiên nhiên và đời sống lao động để diễn tả quy luật phát triển của nó. Ngài ví Nước Trời giống như hạt cải được gieo vào lòng đất, vốn là loại hạt nhỏ nhất trong số các hạt giống trên mặt đất, nhưng khi đã gieo xuống thì lớn lên thành một cây lớn, cành lá xum xuê đến mức chim trời có thể đến làm tổ dưới bóng mát của nó. Hình ảnh ấy mặc khải cho chúng ta một chân lý nền tảng: những thực tại vĩ đại nhất của ơn cứu độ thường khởi đầu từ những khởi nguyên vô cùng khiêm tốn, nhỏ bé và âm thầm.
Sự phát triển của Nước Trời không tuân theo những tiêu chuẩn hào nhoáng hay sức mạnh bạo lực trần thế, mà đi theo con đường của ơn thánh tác động từ bên trong tâm hồn con người. Điều này được minh họa rõ nét qua dụ ngôn men trong bột. Một nhúm men nhỏ bé đượcùi vào trong khối bột lớn dường như biến mất hoàn toàn vào mắt thường, nhưng chính thứ men ấy lại âm thầm làm cho toàn bộ khối bột dậy men, chuyển hóa và nâng cao toàn bộ tấm bánh. Sự biến đổi này diễn ra từ bên trong, kín đáo nhưng vô cùng mạnh mẽ. Trong lịch sử cứu độ cũng như trong đời sống Giáo Hội qua mọi thời đại, chúng ta luôn thấy bàn tay uy quyền của Thiên Chúa đặt để những khởi đầu rất nhỏ để làm thay đổi cả dòng chảy lịch sử. Một tiếng xin vâng âm thầm của một thiếu nữ nơi làng Nazareth hẻo lánh đã mở ra cánh cửa cứu chuộc cho toàn thể nhân loại. Một tâm hồn yếu đuối trong tu viện kín cẩn dâng những hy sinh nhỏ bé đã trở thành nguồn ơn thánh đổi mới tinh thần cho cả Hội Thánh. Một linh mục tận tụy chăm sóc đoàn chiên nghèo khó đã khơi nguồn cho một phong trào bác ái vĩ đại vươn tầm thế giới. Điều đó minh chứng rằng không có hành vi yêu thương nào là nhỏ mịt, không có sự dấn thân nào là vô nghĩa khi được đặt vào trong chương trình yêu thương của Thiên Chúa.
Môi trường nguyên thủy và quan trọng nhất để Nước Thiên Chúa bén rễ, nảy nở và vươn cao chính là gia đình, nơi mà bí tích hôn nhân được cử hành và sống động từng ngày. Đời sống gia đình Kitô giáo không đơn thuần là một liên kết xã hội hay một thỏa thuận pháp lý giữa hai cá nhân, mà là một cộng đoàn sự sống và tình yêu đích thực, là “Hội Thánh tại gia” nơi mầu nhiệm cứu chuộc của Đức Kitô được phản chiếu rõ nét. Khi nhìn lại bối cảnh lịch sử mà thánh Phaolô tông đồ viết những dòng thư gửi tín hữu Êphêsô, chúng ta càng nhận ra tính cách mạng và cao cả của ơn gọi gia đình trong ánh sáng Tin Mừng. Thời kỳ ấy, cấu trúc gia đình nhân loại đang rơi vào tình trạng suy đồi và khủng hoảng trầm trọng. Trong truyền thống Do Thái giáo, người chồng có quyền ly dị vợ chỉ vì những lý do vô cùng nhỏ nhặt thông qua một tờ giấy bỏ. Trong thế giới Hy Lạp, người phụ nữ gần như bị giam hãm trong nhà với vai trò sinh con đẻ cái, trong khi người nam tìm kiếm sự thỏa mãn và đồng điệu tâm hồn ở bên ngoài. Đáng buồn hơn cả là tại Đế quốc Rôma, văn hóa ly hôn và tái kết hôn diễn ra như một trò giải trí vô cảm, nơi sự cam kết bền vững bị gạt bỏ hoàn toàn và phẩm giá con người bị hạ thấp thành công cụ hưởng thụ.
Chính giữa một xã hội đầy rẫy sự tan rã và ích kỷ ấy, sứ điệp Kitô giáo về hôn nhân xuất hiện như một luồng ánh sáng mới mẻ, phục hồi phẩm giá nguyên thủy mà Thiên Chúa đã định đoạt cho tình yêu nam nữ từ thủa tạo thiên lập địa. Thánh Phaolô đã không dừng lại ở những chuẩn mực luân lý thông thường, nhưng đã nâng tầm hôn nhân lên hàng bí tích cao cả khi liên kết tình yêu vợ chồng với mầu nhiệm Đức Kitô và Hội Thánh. Ngài mời gọi các Kitô hữu hãy sống tương quan gia đình dựa trên nền tảng cốt lõi là sự kính sợ Đức Kitô và lòng tôn trọng lẫn nhau. Sự tùng phục lẫn nhau trong tình yêu Kitô giáo hoàn toàn khác biệt với sự áp bức hay bất bình đẳng xã hội; đó là sự tự nguyện cúi xuống phục vụ nhau trong tinh thần khiêm hạ, lấy tình yêu thập giá làm thước đo cho mọi hành động ứng xử.
Khi người vợ nhìn người chồng bằng đôi mắt đức tin, nàng nhìn thấy hình ảnh của Đức Kitô và sẵn sàng đón nhận vai trò đồng hành trong chương trình yêu thương ấy. Ngược lại, người chồng được mời gọi yêu thương vợ mình không phải bằng thứ tình cảm vị kỷ hay sở hữu chủ quyền, mà bằng thứ tình yêu hy sinh trọn vẹn như Đức Kitô đã yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh. Đức Giêsu đã không ngần ngại đổ máu mình ra để thanh tẩy, dưỡng nuôi và làm cho Hội Thánh trở nên thánh thiện, tinh tuyền. Người chồng Kitô hữu cũng được mời gọi mang lấy tâm tình ấy: sẵn sàng hy sinh ý riêng, vác thập giá hằng ngày, chịu chết đi cái tôi ích kỷ để bảo vệ, nuôi dưỡng và thánh hóa người bạn đời của mình. Sự hiến thân này biến gia đình thành một đền thờ sống động, nơi ơn thánh Chúa tuôn đổ dồi dào và chữa lành mọi vết thương do tội lỗi cùng sự yếu đuối nhân thế gây ra.
Thách đố lớn lao đặt ra cho các gia đình Kitô giáo trong thời đại hôm nay cũng không hề thua kém những khó khăn của thế giới cổ đại. Nền văn hóa đương đại đang phải đối diện với đại dịch của sự phai nhạt cam kết, sự lan tràn của lối sống thực dụng, văn hóa ly dị trá hình và những cạm bẫy tinh vi từ thế giới kỹ thuật số làm xói mòn nền tảng đạo đức gia đình. Sự tấn công của chủ nghĩa cá nhân cực đoan khiến cho nhiều người xem hôn nhân chỉ là một bản hợp đồng tạm thời có thể hủy bỏ bất cứ lúc nào cảm thấy không còn hứng thú. Thêm vào đó, những cám dỗ từ bên ngoài, sự thiếu kiên nhẫn trong việc tha thứ và sự xao lãng trong đời sống cầu nguyện chung đang làm cho nhiều gia đình Kitô giáo dần đánh mất bản sắc thánh thiêng của mình.
Tuy nhiên, chính trong bối cảnh đầy rẫy thử thách ấy, sứ mạng làm chứng cho Nước Thiên Chúa của gia đình lại càng trở nên khẩn thiết hơn bao giờ hết. Một gia đình Kitô giáo kiên vững giữa dòng đời tục hóa, biết thực hành lòng thương xót, biết mở lời xin lỗi và tha thứ cho nhau sau mỗi giông bão cuộc đời, chính là một bằng chứng hùng hồn nhất về sự hiện diện của ơn thánh Chúa. Khi cha mẹ sống trung tín với nhau cho đến chết, khi con cái được lớn lên trong bầu khí của sự quan tâm, cầu nguyện và hy sinh thầm lặng, thì mái ấm ấy thực sự trở thành một “hạt cải” gieo xuống lòng xã hội, âm thầm mọc lên thành cây lớn che chở cho bao tâm hồn đang bơ vơ mệt mỏi tìm kiếm bình an.
Hơn thế nữa, bí tích hôn nhân không chỉ hướng về hạnh phúc riêng tư của hai vợ chồng hay sự ấm êm của một mái nhà nhỏ, mà còn mang chiều kích truyền giáo phổ quát. Đức Thánh Cha Phaolô VI trong tông huấn Loan Báo Tin Mừng đã từng nhấn mạnh rằng phương thức truyền giáo hiệu quả nhất đôi khi không đến từ những lời giảng thuyết hào hùng, mà đến từ chứng tá âm thầm của những gia đình sống đạo giữa lòng đời. Khi một gia đình Kitô giáo dọn đến một vùng đất mới, sống hiền hòa, đùm bọc láng giềng, đối xử với nhau bằng tình yêu khoan dung và nhẫn nại, những người xung quanh sẽ phải ngạc nhiên tự hỏi điều gì đã làm cho họ sống khác biệt đến thế. Chính câu hỏi tự phát ấy là khởi đầu của cuộc đối thoại đức tin sâu lắng nhất, là nhịp cầu đưa con người đến với nguồn mạch ơn cứu độ.
Mỗi thành viên trong gia đình, từ người chồng, người vợ cho đến những đứa con cái, đều được mời gọi trở thành một phần của nhúm men Tin Mừng ấy. Đời sống gia đình đòi hỏi sự kiên nhẫn dấn thân không mệt mỏi. Sẽ có những ngày tháng khó khăn, những hiểu lầm chồng chất, những bất đồng quan điểm tưởng chừng không thể hàn gắn. Nhưng chính trong những khoảnh khắc thập giá ấy, ơn huệ của bí tích hôn nhân mới thực sự phát huy năng lực siêu nhiên của nó. Ơn thánh không biến con người thành những vị thánh hoàn hảo không vết nhơ ngay từ đầu, mà ban cho họ sức mạnh để đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã, ơn tha thứ để hàn gắn những rạn nứt và lòng can đảm để bắt đầu lại từ đầu mỗi ngày.
Nhìn ngắm mầu nhiệm gia đình qua lăng kính của Nước Thiên Chúa, chúng ta nhận ra rằng mọi nỗ lực nhỏ bé nhằm giữ gìn sự hiệp nhất, vun đắp tình yêu thương chân thành và giáo dục con cái trong đường lối Chúa đều mang giá trị vĩnh cửu. Không có sự hy sinh nào trong âm thầm bị bỏ quên trước nhan thánh Chúa. Những bữa cơm gia đình quây quần trong lời kinh nguyện, những cái ôm tha thứ sau cơn giận hờn, những đêm thức trắng chăm sóc người thân bệnh tật đều là những viên gạch quý giá xây dựng nên vương quốc tình yêu của Thiên Chúa ngay trên trần thế này.
Nguyện xin Thiên Chúa, qua lời chuyển cầu của Thánh Gia Thất Nazareth, ban tràn đầy ơn thánh xuống trên mọi gia đình. Xin cho các đôi vợ chồng luôn biết nhìn nhau qua ánh mắt của Đức Kitô, biết ơn nhau trong từng ơn huệ nhỏ bé, biết hy sinh cho nhau đến cùng và biết biến tổ ấm của mình thành một nhúm men thánh thiện làm dậy men cả thế giới bằng lòng thương xót và tình yêu hải hà của Ngài.
Lm. Anmai, CSsR
HƯỚNG VỀ NƯỚC THIÊN CHÚA TRONG ĐỜI SỐNG THƯỜNG NHẬT
Cuộc hành trình đức tin của người Kitô hữu từ ngàn xưa cho đến nay luôn xoay quanh một trung tâm điểm, một chân lý tối thượng được Đức Giêsu Kitô công bố và minh định qua từng lời giảng dạy, từng dụ ngôn và chính qua mầu nhiệm cuộc đời Người: Nước Thiên Chúac. Nước Thiên Chúa không phải là một vương quốc trần gian mang tính địa lý, giới hạn bởi biên giới hay quyền lực chính trị, cũng không phải là một thể chế xã hội do sức người kiến tạo bằng những mưu lược ngoại sinh. Sự hiện diện của Nước Trời mang một bản chất hoàn toàn khác biệt, vượt lên trên mọi thứ chuẩn mực phàm trần để đi thẳng vào cõi lòng sâu thẳm của con người, biến đổi toàn bộ thực tại trần thế từ bên trong. Khi suy ngắm về Nước Thiên Chúa, chúng ta được mời gọi bước vào một không gian linh thánh, nơi tình yêu, lòng xót thương, sự công chính và ơn cứu độ của Thiên Chúa đang ngự trị và hành động cách uy quyền. Con người trong dòng chảy lịch sử nhân loại thường có xu hướng tìm kiếm những điều lớn lao, những biểu hiện hoành tráng, những phép lạ nhãn tiền hay những cấu trúc quyền lực bề thế để định vị sự hiện diện của Thiên Chúa. Tuy nhiên, qua các dụ ngôn về Nước Trời, đặc biệt là hình ảnh hạt cải nhỏ bé hay chút men trong bột, Đức Giêsu đã lật đổ những quan niệm sai lầm ấy. Ngài vén mở cho chúng ta thấy rằng sức mạnh của Nước Thiên Chúa thường bắt đầu từ những thực tại âm thầm, nhỏ bé, dường như không đáng kể dưới con mắt trần thế, nhưng lại mang trong mình một sức sống mãnh liệt và năng động vô bờ bến.
Bản chất của Nước Thiên Chúa trước hết là sự trị đến của tình yêu thương vô điều kiện và lòng khoan dung hải hà từ Thiên Chúa Cha. Đức Giêsu Kitô chính là hiện thân sống động của Nước Trời. Nơi đâu có sự hiện diện của Ngài, nơi nào con người mở rộng tâm hồn đón nhận lời mời gọi sám hối và tin vào Tin Mừng, nơi ấy Nước Thiên Chúa đã hiện diện ở giữa chúng ta. Sự hiện diện ấy mang tính chất nội tâm sâu sắc, đòi hỏi ở mỗi người một sự hoán cải tận căn. Không thể bước vào Nước Trời nếu tâm hồn con người còn bị trói buộc bởi những tham vọng ích kỷ, bởi sự kiêu ngạo, bởi lòng luyến ái lệch lạc đối với của cải vật chất hay những quyền lực ảo ảnh của thế gian. Cơn cám dỗ lớn nhất của con người mọi thời đại là tìm cách xây dựng một “vương quốc” cho riêng mình, gom góp danh vọng, tiền tài và sự an toàn giả tạo dựa trên sức mạnh của vật chất. Đức Giêsu đã từng cảnh báo về sự khó khăn của người giàu khi bước vào Nước Trời, không phải vì tự bản chất của cải là xấu xa hay tội lỗi, mà bởi vì trái tim con người rất dễ bị thế giới vật chất chiếm đoạt, khiến họ quên đi nguồn cội và mục đích tối hậu của đời mình. Khi con người cậy dựa hoàn toàn vào của cải hay tài năng riêng mà loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi phương trình cuộc sống, họ tự đặt mình ra ngoài biên giới của Nước Trời. Ngược lại, những ai có tâm hồn nghèo khó trước mặt Thiên Chúa, những ai biết cậy trông phó thác vào ơn thánh, những kẻ hiền lành, xây dựng hòa bình và khao khát sự công chính, chính họ là những công dân chân chính của Nước Trời.
Để hiểu sâu sắc về cách thức Nước Thiên Chúa vận hành trong lịch sử và trong tâm hồn mỗi người, chúng ta cần nhìn ngắm chiều kích hiện sinh của nó giữa những sinh hoạt thường nhật. Đời sống Kitô giáo không đòi hỏi chúng ta phải trốn chạy khỏi thế gian hay tìm kiếm những nơi thanh vắng biệt lập để tu luyện theo kiểu khắc khổ tách rời thực tại. Ngược lại, chính giữa lòng thế giới trần tục này, nơi công xưởng, văn phòng, đồng áng, trường học, gia đình và những mối tương quan xã hội chồng chéo, là chiến trường và cũng là mảnh đất màu mỡ để Nước Thiên Chúa được gieo vãi và trổ sinh hoa trái. Thánh Josemaría Escrivá đã từng nhấn mạnh rằng chính giữa những thực tại trần thế mang tính vật chất nhất, chúng ta phải thánh hóa bản thân, phục vụ Thiên Chúa và toàn thể nhân loại. Lao động hằng ngày, dù là những công việc nhỏ nhặt nhất, tẻ nhạt nhất hay vất vả nhất, đều có thể trở thành phương thế kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa nếu được thực hiện với tinh thần yêu mến và ý hướng ngay lành. Nước Thiên Chúa giống như hạt men vùi sâu trong khối bột cuộc đời. Hạt men không phô trương oai quyền, không đứng ở vị trí đầu sóng ngọn gió để hô hào lớn tiếng, mà nó lặng lẽ tác động từ bên trong, len lỏi vào từng tế bào của khối bột, âm thầm chuyển hóa toàn bộ nguyên liệu thô kệch thành một thứ bánh thơm ngon phục vụ cho tha nhân. Người Kitô hữu được mời gọi trở nên những hạt men như thế giữa lòng xã hội hôm nay. Sự hiện diện của chúng ta ở nơi làm việc, trong cộng đoàn và gia đình phải mang hương vị của Tin Mừng, làm biến đổi bầu không khí xung quanh bằng sự chân thành, lòng bác ái, sự tha thứ và niềm hy vọng vững bền.
Tuy nhiên, con đường xây dựng và đón nhận Nước Thiên Chúa không bao giờ là một con đường phẳng lặng hay trải đầy hoa hồng. Nó đòi hỏi sự hy sinh từ bỏ, sự kiên trì chiến đấu chống lại cái tôi ích kỷ và những cám dỗ tinh vi của tinh thần thế tục. Thế giới hôm nay đang bị cuốn theo cơn lốc của chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa hưởng thụ và sự dửng dưng tôn giáo. Người ta dễ dàng tôn vinh sức mạnh cơ bắp, trí khôn thủ đoạn, sự thành công đo lường bằng tiền tài và danh vọng trước mắt, trong khi lại coi nhẹ những giá trị tinh thần, lòng trung thực, sự hy sinh âm thầm và tình yêu bác ái vị tha. Trong bối cảnh ấy, việc sống theo các nguyên tắc của Nước Trời đôi khi biến chúng ta thành những người ngược dòng, bị coi là khờ khạo hay lỗi thời theo chuẩn mực của trần gian. Nhưng chính sự “ngược dòng” ấy lại là minh chứng rõ ràng nhất cho thấy chúng ta thuộc về một thực tại cao cả hơn. Đức Giêsu đã khẳng định rằng nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót, và những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu. Tiêu chuẩn phán xét của Thiên Chúa hoàn toàn khác biệt với thước đo của con người. Ngài không nhìn bề ngoài nhưng thấu suốt cõi lòng. Những hy sinh thầm lặng không ai biết tới, những giọt mồ hôi đổ ra để phục vụ người nghèo khổ bệnh tật, những lời cầu nguyện âm thầm dâng lên giữa đêm sâu, hay sự nhẫn nhục chịu đựng bất công vì danh Chúa – tất cả đều có giá trị vĩnh cửu và góp phần đặt những viên đá vững chắc cho Vương Quốc của sự thật và sự sống.
Để Nước Thiên Chúa thực sự ngự trị trong tâm hồn, chúng ta cần nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng bằng nguồn ơn thánh mạch dào qua các Bí tích, đặc biệt là Bí tích Thánh Thể và Bí tích Hòa Giải, kết hợp với việc suy niệm Lời Chúa hằng ngày. Lời Chúa không chỉ là một văn bản cổ xưa để đọc qua cho biết lịch sử, mà là một sự hiện diện hằng sống, một công trình của Chúa Thánh Thần mang lại ánh sáng, sức mạnh, niềm an ủi và sự hăng say cho cuộc sống. Khi chúng ta để cho Lời Chúa thấm nhập vào từng khoảnh khắc tĩnh lặng của tâm hồn, Lời ấy sẽ hoạt động như một thứ men gột rửa những toan tính phàm tục, thanh luyện ý chí và hướng dẫn mọi hành động của chúng ta đi theo quỹ đạo của tình yêu thương divino. Đời sống cầu nguyện không phải là việc đọc lên những công thức khô khan, mà là cuộc gặp gỡ thân tình, đối thoại sống động với người Cha trên trời, Đấng thấu suốt mọi bí ẩn và ban ơn trợ giúp đúng lúc. Nhờ cầu nguyện, chúng ta nhận ra rằng mình yếu đuối và bất toàn biết bao, từ đó khiêm tốn mở rộng tâm hồn để đón nhận quyền năng và lòng thương xót của Ngài. Sức mạnh của Nước Thiên Chúa chỉ thực sự phát huy tác dụng khi con người nhận ra sự nghèo nàn của bản thân để buông bỏ hoàn toàn sự tự phụ, phó thác trọn vẹn cuộc đời mình vào tay Đấng Tạo Hóa.
Hơn nữa, Nước Thiên Chúa còn mang chiều kích cộng đoàn sâu sắc. Vương quốc ấy không chỉ là mối tương quan riêng tư giữa cá nhân với Chúa, mà còn là một cộng đoàn huynh đệ hiệp nhất, nơi con người nhận ra nhau là anh em con cùng một Cha trên trời. Tình yêu đối với Thiên Chúa không thể tách rời tình yêu đối với tha nhân, nhất là những người đau khổ, bé mọn, bị gạt ra bên lề xã hội. Chính qua cách thức chúng ta đối xử với những người anh em nhỏ bé nhất, chúng ta đang minh chứng cho tư cách công dân Nước Trời của mình. Một xã hội được biến đổi theo tinh thần Nước Chúa là một xã hội mà ở đó công lý được thực thi bằng tình bác ái, sự ganh đua nhường chỗ cho sự nâng đỡ lẫn nhau, và lòng hận thù được hóa giải bằng lòng tha thứ dung thứ. Mỗi hành động bác ái dù là nhỏ bé nhất, như một ly nước lạnh ban cho kẻ khát, một lời thăm hỏi động viên người cô độc, hay một cử chỉ chia sẻ với người thiếu thốn, đều là một viên gạch góp phần xây dựng nền văn minh tình thương – nền văn minh của Nước Trời ngay giữa trần gian này. Chúng ta được mời gọi trở thành những chứng nhân của niềm hy vọng, mang ánh sáng Tin Mừng chiếu soi vào những góc khuất tối tăm của đau khổ, tuyệt vọng và bất công trong xã hội đương đại.
Khi nhìn về tương lai, niềm hy vọng vào Nước Thiên Chúa mang lại cho người Kitô hữu sự bình an sâu thẳm trước những bất trắc, đau khổ và biến động của lịch sử trần gian. Dù thế giới có đổi thay, dù các đế chế trần tục có nổi lên rồi sụp đổ, dù con người có trải qua bao nhiêu thế chiến, khủng hoảng hay thảm họa, Vương Quốc của Thiên Chúa vẫn trường tồn vĩnh cửu và đang tiến về thời viên mãn trong ngày sau hết. Sứ mệnh của chúng ta trong hiện tại là tỉnh thức và sẵn sàng, cộng tác với ơn thánh để mở rộng biên giới của Nước Trời bằng đời sống chứng tá anh dũng nhưng âm thầm trong công việc hằng ngày. Xin Chúa Thánh Thần canh tân tâm hồn chúng ta, soi sáng trí khôn và hun đúc lòng nhiệt thành, để mỗi người chúng ta thực sự trở thành những sứ giả nhiệt thành của Nước Thiên Chúa, mang tình yêu và ơn cứu độ của Ngài đến cho muôn người khắp nơi trên mặt đất này.
Lm. Anmai, CSsR
HÀNH TRÌNH BIẾN ĐỔI NỘI TÂM VÀ KHÁM PHÁ NƯỚC THIÊN CHÚA TRONG ĐỜI SỐNG THƯỜNG NHẬT
Hành trình đức tin của mỗi người Ki-tô hữu không phải là một chuỗi những lý thuyết trừu tượng hay những nguyên tắc luân lý khô khan, mà là một cuộc gặp gỡ sống động với Thiên Chúa ngay giữa những bộn bề của cuộc sống trần thế. Nước Thiên Chúa không phải là một không gian địa lý xa xôi, cũng không phải là một thực tại chỉ xuất hiện sau khi chúng ta giã biệt cõi đời này. Thay vào đó, Nước Trời là một mầu nhiệm đang hiện diện, đang nảy nở và mời gọi chúng ta cộng tác để đưa nó vào từng ngóc ngách của cuộc sống thường nhật. Việc suy tư về bản chất của Nước Thiên Chúa giúp chúng ta nhận ra rằng Tin Mừng không bao giờ tách rời khỏi những công việc lao động, những mối tương quan gia đình, xã hội và trách nhiệm trần gian của mỗi người. Con người được mời gọi để thánh hóa chính những thực tại trần thế này, biến những điều tưởng chừng như nhỏ nhặt, tầm thường nhất thành chất liệu thiêng liêng để xây dựng vương quốc tình yêu và sự thật của Ngài.
Sự hiện diện của Nước Thiên Chúa trong lịch sử nhân loại bắt đầu từ chính thái độ khiêm tốn và tinh thần từ bỏ để đón nhận ơn cứu độ. Khi nhìn vào những dụ ngôn về Nước Trời, Chúa Giê-su thường dùng hình ảnh hạt cải nhỏ bé, hay chút men trong thúng bột, để diễn tả cách mà Thiên Chúa tác động trong thế giới này. Ngài không dùng quyền lực bạo tàn, không áp đặt bằng gươm giáo hay những cuộc cách mạng chính trị chớp nhoáng, mà chọn con đường âm thầm, kiên nhẫn và sâu lắng. Hạt giống nhỏ bé rơi xuống đất, chịu mục nát đi để rồi âm thầm mọc lên thành cây lớn cho chim trời đến nương náu. Cũng vậy, Nước Thiên Chúa bắt đầu từ những tâm hồn bé mọn, biết khiêm tốn lắng nghe và thực thi Lời Chúa trong đời sống hằng ngày. Sự biến đổi này đòi hỏi con người phải vượt qua cái tôi ích kỷ, vượt qua sự tự mãn và những toan tính vụ lợi trần thế để mở rộng cõi lòng đón nhận ánh sáng chân lý từ trời cao.
Để hiểu thấu đáo về Nước Thiên Chúa, chúng ta cần nhìn lại cách mà Chúa Giê-su đối diện với những cám dỗ về quyền lực và sự giàu sang của thế gian này. Sự giàu có về mặt vật chất tự bản chất không phải là điều xấu, nhưng nó rất dễ trở thành một chiếc bùa mê làm cho con người mù quáng, tự mãn và quên đi cội nguồn đích thực của đời mình. Khi một người quá bám víu vào của cải, vào địa vị hay danh vọng, trái tim của họ sẽ bị trói buộc và không còn khoảng trống dành cho Thiên Chúa. Chúa Giê-su từng đưa ra những lời cảnh tỉnh mạnh mẽ về sự khó khăn của người giàu khi bước vào Nước Trời, không phải vì Chúa ghét bỏ người giàu, mà bởi vì sức nặng của của cải vật chất thường kéo lê tâm hồn con người dính chặt vào mặt đất. Sự bám víu này làm tê liệt khả năng yêu thương, làm suy giảm tinh thần bác ái và khiến con người quên mất rằng tất cả mọi ơn huệ đều đến từ lòng thương xót hải hà của Thiên Chúa.
Thái độ đúng đắn trước Nước Thiên Chúa đòi hỏi một cuộc hoán cải tận căn, một sự lột xác nội tâm để đặt Thiên Chúa lên vị trí tối thượng trong mọi chọn lựa của cuộc sống. Hoán cải không phải là một cảm nhất thời, mà là một tiến trình kéo dài suốt đời, trong đó con người liên tục thanh luyện ý định, từ bỏ những thói hư tật xấu và hướng về những giá trị vĩnh cửu. Khi một Kitô hữu quyết định sống theo tinh thần Tin Mừng, họ không trốn chạy thế gian nhưng dấn thân vào lòng thế gian với một tâm tình hoàn toàn mới. Công việc làm ăn, học tập, nghiên cứu khoa học, nghệ thuật hay những sinh hoạt gia đình thường ngày đều được nâng lên hàng phẩm giá cao quý, trở thành phương thế để phụng sự Thiên Chúa và phục vụ tha nhân. Chính trong những thực tại vật chất ấy, chúng ta thể hiện lòng mến Chúa yêu người một cách cụ thể và thiết thực nhất.
Sự thánh hóa đời sống thường nhật là chìa khóa mở ra cánh cửa của Nước Thiên Chúa cho những ai đang khao khát ơn cứu độ. Nhiều người lầm tưởng rằng để nên thánh, người ta phải trốn tránh cuộc đời, vào tu viện hoặc tách rời khỏi những lo toan cơm áo gạo tiền. Tuy nhiên, Tin Mừng và truyền thống sống đạo chân chính đã chứng minh điều ngược lại. Chúa Giê-su đã dành phần lớn cuộc đời ẩn dật của mình tại Nazareth để làm một người thợ mộc bình thường, lao động bằng chính mồ hôi nước mắt của mình. Ngài đã thánh hóa đôi bàn tay lao động, thánh hóa những mối tương quan xóm gi làng nước và làm cho những công việc tầm thường nhất mang giá trị cứu độ. Do đó, người môn đệ Chúa hôm nay không được phép tách rời đức tin ra khỏi công việc nghề nghiệp. Khi chúng ta làm việc với tinh thần trách nhiệm cao độ, sự trung thực tuyệt đối và tình yêu thương chân thành dành cho đồng loại, chúng ta đang góp phần mở rộng biên giới của Nước Trời ngay giữa lòng trần gian.
Tinh thần phục vụ là một đặc tính cốt lõi khác của những công dân thuộc về Nước Thiên Chúa. Thế gian thường đo lường giá trị con người bằng quyền lực, tiền tài, sự thành công bề ngoài và khả năng thống trị kẻ khác. Ngược lại, Chúa Giê-su đã đảo ngược hoàn toàn trật tự ấy khi khẳng định rằng ai muốn làm lớn thì phải làm đầy tớ cho mọi người, và Con Người đến không phải để được phục vụ nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người. Phục vụ trong tinh thần Tin Mừng không phải là một sự ép buộc hay hạ nhũn bản thân một cách tiêu cực, mà là biểu hiện của một trái tim tràn đầy tình yêu thương và lòng biết ơn. Khi chúng ta biết quan tâm đến những mảnh đời bất hạnh, những người nghèo khổ, bệnh tật, bị gạt ra bên lề xã hội hay đơn giản là những người sống gần gũi xung quanh chúng ta đang cần sự giúp đỡ, chúng ta đang chạm tay vào Nước Thiên Chúa.
Đời sống cầu nguyện và hiệp thông với Thiên Chúa chính là nguồn sức mạnh nội tâm giúp con người duy trì nhiệt huyết xây dựng Nước Trời. Không ai có thể cho đi điều mình không có. Nếu tâm hồn chúng ta khô cằn, xa cách nguồn mạch sự sống là chính Thiên Chúa, chúng ta sẽ sớm gục ngã trước những cám dỗ, áp lực và sự thất vọng của cuộc đời. Cầu nguyện không chỉ là đọc lên những công thức hay lời kinh có sẵn, mà là một cuộc gặp gỡ thân mật, một sự lắng nghe tiếng nói thầm kín của Chúa Thánh Thần trong cõi sâu thẳm tâm hồn. Nhờ đời sống cầu nguyện tinh tuyêm, chúng ta nhận ra ý định của Thiên Chúa trong từng hoàn cảnh cụ thể, biết tha thứ cho những ai xúc phạm đến mình, biết chia sẻ cơm áo với người thiếu thốn và giữ vững niềm hy vọng ngay cả trong những đêm tối đức tin tăm tối nhất.
Thách đố lớn nhất của con người trong thời đại hôm nay chính là sự tục hóa cực đoan và chủ nghĩa duy vật thực dụng. Con người dễ dàng rơi vào cám dỗ coi trọng vật chất hơn tinh thần, xem hiệu quả kinh tế là thước đo duy nhất cho thành công và quên đi chiều kích tâm linh cao cả của kiếp người. Trong bối cảnh đó, sứ mạng của người Kitô hữu càng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Chúng ta được sai đến để làm muối cho đời và ánh sáng cho trần gian, mang hơi ấm của tình yêu Thiên Chúa đến làm mềm lại những cõi lòng đang lạnh giá vì hận thù và ích kỷ. Sự hiện diện của chúng ta phải là một dấu chỉ hy vọng, một lời chứng sống động về một trật tự khác – trật tự của lòng thương xót, sự công bình và ơn tha thứ.
Hành trình bước theo Chúa Giê-su cũng đòi hỏi mỗi người phải có lòng can đảm để vác thánh giá hằng ngày của mình. Thánh giá ở đây không phải là những đau khổ vô nghĩa, mà là những từ bỏ tự nhiên, những hy sinh âm thầm vì lợi ích của tha nhân, và sự kiên trì lội ngược dòng trước những trào lưu sai lạc của xã hội. Khi đối diện với thử thách, đau khổ hay hiểu lầm, người môn đệ không được nản lòng buông xuôi, nhưng biết kết hiệp những đau khổ ấy với cuộc khổ nạn của Chúa Kitô trên thập giá. Chính qua mầu nhiệm thập giá, quyền năng và tình yêu cứu độ của Thiên Chúa được tỏ hiện một cách rạng ngời nhất, biến những đau thương tột cùng thành nguồn suối ơn thánh và sự sống mới cho nhân loại.
Sự phó thác trọn vẹn vào bàn tay quan phòng của Thiên Chúa là đỉnh cao của đời sống thiêng liêng. Con người thường lo lắng cho ngày mai, bận tâm về cơm áo gạo tiền, danh vọng tương lai và luôn tìm cách kiểm soát mọi thứ theo ý mình. Tuy nhiên, Chúa Giê-su mời gọi chúng ta hãy nhìn ngắm những đóa huệ ngoài đồng và những con chim trên trời để nhận ra sự chăm sóc vô bờ bến của người Cha trên trời. Phó thác không có nghĩa là buông xuôi lười biếng, không làm gì cả, mà là làm hết sức mình với tất cả khả năng Chúa ban, rồi bình an trao phó kết quả vào lòng thương xót của Ngài. Khi đạt đến sự bình an nội tâm này, con người sẽ không còn sợ hãi trước những biến động của thời cuộc, vì biết rằng cuộc đời mình nằm trọn trong chương trình yêu thương quan phòng của Đấng Tối Cao.
Niềm hy vọng vào Nước Trời cũng định hình cách chúng ta đối diện với cái chết và sự hữu hạn của đời người. Cái chết đối với người tin không phải là dấu chấm hết bi thảm, mà là ngưỡng cửa bước vào sự sống viên mãn, là cuộc hội ngộ vĩnh cửu với Đấng mà chúng ta đã tôn thờ và yêu mến suốt cả cuộc đời. Ý thức về sự ngắn ngủi của đời trần gian giúp chúng ta biết trân trọng từng phút giây hiện tại, sống chan hòa, bao dung và tích cực làm những việc thiện nghĩa. Mọi nỗ lực xây dựng công lý, hòa bình và tình bác ái ở trần gian này không bao giờ bị coi là công cốc, nhưng sẽ được Thiên Chúa kiện toàn và biến đổi thành vinh quang vĩnh cửu trong ngày sau hết.
Kết thúc cuộc hành trình suy tư này, chúng ta được mời gọi hãy canh tân đời sống của mình mỗi ngày, để Nước Thiên Chúa thực sự ngự trị trong tâm hồn và qua cuộc đời của chúng ta. Hãy để ánh sáng Tin Mừng chiếu soi từng suy nghĩ, lời nói và hành động, biến đổi những ước muốn ích kỷ tầm thường thành những khát vọng cao cả vì vinh danh Chúa và phần rỗi các linh hồn. Giữa một thế giới đầy rẫy những xao động và chia rẽ, mỗi Kitô hữu hãy trở nên một nhịp cầu yêu thương, một hạt men âm thầm nhưng mạnh mẽ, làm dậy lên khối bột nhân loại bằng tình yêu cứu độ của Đức Giê-su Ki-tô. Nguyện xin ơn thánh của Chúa đồng hành, soi sáng và nâng đỡ chúng ta trên bước đường lữ hành trần thế, để khi hoàn tất chặng đường dương thế, chúng ta xứng đáng được bước vào vương quốc vĩnh cửu, nơi Thiên Chúa hiển trị và yêu thương muôn đời.
Lm. Anmai, CSsR
SỨC MẠNH CỦA SỰ ÂM THẦM VÀ HÀNH TRÌNH TĂNG TRƯỞNG TRONG NƯỚC TRỜI
Trong đời sống đức tin Kitô giáo, chúng ta thường dễ bị cám dỗ bởi những tiêu chuẩn thành công mang tính trần thế: sự rầm rộ, những kết quả nhãn tiền, các con số thống kê ấn tượng và ánh hào quang của những thành tựu lớn lao. Ngay từ thời của Chúa Giêsu, đám đông và cả những người môn đệ đôi khi cũng mong đợi một Vương Quốc Thiên Chúa xuất hiện với quyền lực sấm sét, với những cuộc cách mạng chớp nhoáng đập tan mọi thế lực bất công ngay lập tức, và với một sự biến đổi ngoạn mục hiển hiện ngay trước mắt. Thế nhưng, phong cách hành động của Thiên Chúa lại hoàn toàn đi ngược lại với logic loài người. Thiên Chúa chọn con đường của sự âm thầm, của hạt giống nhỏ bé chôn vùi trong lòng đất, và của một nhúm men nhỏ hòa lẫn giữa khối bột khổng lồ.
Khi chi ngắm khung cảnh Tin Mừng qua các dụ ngôn về hạt cải và về men trong bột, chúng ta được mời gọi bước vào một chiều sâu tâm linh vô cùng tinh tế. Chúa Giêsu không dùng những hình ảnh của quyền lực chính trị hay bạo lực quân sự để mô tả về Nước Trời. Ngài chọn những thực tại rất đỗi khiêm hạ, nhỏ bé, thậm chí tầm thường dưới cái nhìn của thế gian. Một hạt cải nhỏ xíu, nếu đặt cạnh những hạt giống khác, gần như biến mất giữa lòng bàn tay. Một nhúm men, nếu đứng độc lập, chẳng có giá trị hình thức nào và dễ dàng bị coi là thứ bỏ đi. Thế nhưng, chính trong sự nhỏ bé ẩn dật ấy lại ẩn chứa một sức sống mãnh liệt, một năng lượng biến đổi tận căn toàn bộ thực tại xung quanh.
Sự nhỏ bé ban đầu này phản ánh chính thực trạng của sứ mạng Chúa Giêsu trong những ngày tháng Ngài bước đi trên đất Palestin. Dưới mắt các nhà lãnh đạo tôn giáo thời bấy giờ và dưới cái nhìn của đế quốc Rôma thống trị, nhóm nhỏ những ngư dân nghèo nàn tụ tập quanh một vị thầy từ làng Nadarét chẳng có gì đáng kể. Đó là một sự thất bại rõ rệt nếu dùng thước đo của hiệu suất và thành quả trần thế. Sứ lượng môn đệ thưa thớt, những lời giảng dạy đôi khi bị hiểu lầm, sự chống đối từ các kinh sư và Pharisêu ngày càng dâng cao, và cái chết nhục nhã trên thập giá dường như đã đặt dấu chấm hết cho mọi hy vọng. Thế nhưng, chính từ cái chết hạt giống ấy, một sức sống phục sinh đã bùng nổ, vươn cao cành lá sum suê cho muôn chim muôn thú đến nương náu.
Nhìn vào lịch sử cứu độ cũng như lịch sử Hội Thánh qua các thời đại, chúng ta thấy rõ một nguyên lý cánh chung kỳ diệu: những gì vĩ đại nhất của Thiên Chúa đều khởi đầu từ những điều vô cùng nhỏ bé và khiêm tốn. Không có tiếng kèn trống rình rang, không có chiến dịch quảng bá rầm rộ, Nước Trời cứ thế âm thầm lớn lên trong cõi lòng con người, giống như quá trình hạt giống nảy mầm trong lòng đất đen sâu thẳm mà người nông dân ngày đêm ngủ thức chẳng thể nhìn thấy rõ từng mili-mét nó lớn lên ra sao. Đất đai cần thời gian, bóng tối cần thiết cho rễ cây bám sâu, và sự kiên nhẫn là điều kiện tiên quyết để chờ ngày mùa gặt.
Chính tại điểm này, chúng ta đụng chạm đến một trong những thách đố lớn nhất của đời sống thiêng liêng: sự thiếu kiên nhẫn với chính mình và với tha nhân. Con người thời đại hôm nay sống trong nhịp điệu cuồng quay của công nghệ, nơi mọi thứ phải diễn ra tức thời, từ tốc độ truyền tải thông tin cho đến sự thỏa mãn các nhu cầu cá nhân. Chúng ta muốn có kết quả ngay lập tức. Chúng ta muốn cầu nguyện hôm nay là ngày mai tâm hồn phải thánh thiện hoàn hảo, không còn vướng mắc bất kỳ lỗi lầm nào. Chúng ta muốn con cái chúng ta ngoan ngoãn ngay lập tức, muốn cộng đoàn ta sống hiệp nhất rạng ngời chỉ sau một vài lời nhắc nhở, và muốn xã hội này trở nên công chính chỉ bằng vài đạo luật mới. Khi những mong đợi ấy không thành hiện thực, khi chúng ta vẫn thấy mình vấp ngã trong những yếu đuối cũ, khi người anh em bên cạnh vẫn chậm thay đổi, chúng ta dễ rơi vào ngã lòng, thất vọng, thậm chí nổi giận và buông xuôi.
Dụ ngôn về hạt cải và nén men trong bột là một liều thuốc giải độc tuyệt vời cho thái độ số nóng vội ấy. Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy học lấy sự kiên nhẫn của Thiên Chúa. Sự kiên nhẫn không phải là sự thụ động buông xuôi, nhưng là một thái độ tin tưởng sâu xa vào sức mạnh nội tại mà Thiên Chúa đã đặt để trong tâm hồn mỗi người và trong lòng Hội Thánh. Sự tăng trưởng thiêng liêng chưa bao giờ là một đường thẳng đi lên đều đặn, mà là một hành trình dài bao gồm cả những thăng trầm, những bước lùi tưởng như vô vọng, những vết thương chưa lành và cả những khoảnh khắc ánh sáng bất ngờ len lỏi.
Hơn thế nữa, những yếu đuối, bất toàn, vấp ngã và những tổn thương trong cuộc sống không phải là những chướng ngại vật tuyệt đối tiêu diệt Nước Trời, mà trái lại, chúng là một phần không thể thiếu trong tiến trình sinh trưởng của con người chúng ta. Sức mạnh của ơn thánh thường được biểu lộ cách tỏ tường nhất qua sự yếu đuối của con người. Một thân cây vĩ đại không mọc lên trên một mặt phẳng trơn lì không vấp váp, nhưng nó phải đâm rễ sâu vào đất đá, phải chống chọi với những trận cuồng phong bão táp, phải trải qua mùa đông lạnh lẽo mất hết lá cành để rồi chắt chiu nhựa sống cho mùa xuân đơm hoa kết trái.
Việc chấp nhận bản thân mình chưa hoàn hảo là một bước ngoặt lớn trong đời sống nội tâm. Nhiều Kitô hữu đánh mất niềm vui và sự bình an vì họ mang một thứ chủ nghĩa hoàn hảo lệch lạc: họ không thể dung thứ cho những giới hạn của chính mình. Họ tự dằn vặt khi cơn giận bùng phát, khi sự kiêu ngạo trỗi dậy, hay khi lòng trắc ẩn phai mờ. Họ quên mất rằng chúng ta mới chỉ đang ở trên đường hành hương. Đời này không phải là chốn hoàn mỹ tuyệt đối, mà là một quá trình biến đổi liên tục từ sự hạn hẹp của cõi thụ tạo mỏng giòn hướng về sự viên mãn trọn vẹn trong ngày sau hết. Sức nặng của sự bất toàn không phải để kéo chúng ta xuống hố sâu tuyệt vọng, mà là để nhắc nhở chúng ta về lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa, Đấng đang kiên nhẫn nhào nặn từng chút một trên cuộc đời chúng ta.
Cùng một thái độ ấy phải được áp dụng trong cách nhìn và cách đối xử với tha nhân. Tại sao chúng ta lại quá khắt khe với những lầm lỗi của anh chị em mình? Tại sao chúng ta đòi hỏi người khác phải lập tức thay đổi theo ý muốn và tiêu chuẩn của chúng ta trong khi chính chúng ta cũng đang chật vật với những góc tối của bản thân? Sự thiếu bác ái thường xuất phát từ việc chúng ta quên mất lữ trình tha thiết của tha nhân. Mỗi người đều mang trong mình một lịch sử thương tổn riêng, những chiếc gai trong thịt chưa rút ra được, và những gánh nặng tâm lý đè nặng lên từng bước chân. Yêu thương một con người không có nghĩa là đòi hỏi họ phải ngay lập tức hoàn hảo, nhưng là kiên nhẫn đồng hành với họ trong quá trình họ đang tập tễnh lớn lên trước mặt Chúa.
Nhìn rộng ra bình diện lịch sử nhân loại và đời sống xã hội, sự hiện diện của Giáo Hội và của những giá trị Tin Mừng cũng tuân theo quy luật của hạt men. Men không tự mình làm rùm beng lên; nó lặng lẽ chìm vào trong khối bột, hòa tan vào đó, không để lại dấu vết thị giác rõ rệt ban đầu, nhưng chính sự hiện diện âm thầm ấy lại làm cho toàn bộ khối bột dậy men, biến đổi bản chất của nó từ bên trong. Giáo Hội không được kêu gọi để trở thành một đế chế thống trị bằng quyền lực ngoại tại hay áp lực chính trị, mà là một thứ men khiêm tốn giữa lòng thế giới. Những người Kitô hữu đích thực đôi khi chỉ là một thiểu số nhỏ bé giữa một xã hội dửng dưng hoặc thù địch với đức tin, nhưng chính đời sống âm thầm thấm đẫm tinh thần Phúc Âm của họ lại là nguồn năng lượng thiêng liêng nâng đỡ và biến đổi thế giới từng ngày.
Sự biến đổi này không diễn ra theo những kịch bản hào nhoáng của con người. Thiên Chúa không cần những thành công chớp nhoáng dễ phai mờ như pháo hoa đêm giao thừa. Ngài cần những chứng nhân bền bỉ như ánh nến cháy âm thầm tận tụy hao mòn để tỏa sáng trong đêm tối. Mỗi việc thiện nhỏ bé được thực hiện trong âm thầm, một lời cầu nguyện dâng lên cho người đang gặp hoạn nạn, một sự tha thiết nhẫn nhịn trước một lời lăng mạ, một cái ôm siết chặt cảm thông với người đau khổ – tất cả những hành động tưởng chừng không ai thấy ấy lại chính là những hạt men cao quý làm dậy lên hương vị của Nước Trời giữa một thế giới đang khô cằn vì ích kỷ và hận thù.
Hơn thế nữa, khi suy ngẫm về sự phát triển của vạn vật từ thuở tạo dựng đến nay, chúng ta thấy một bức tranh hoành tráng về tiến trình tiến hóa của vũ trụ và lịch sử nhân loại. Sách Sáng Thế ký mô tả một vũ trụ được khai sinh từ một tiếng phán quyền năng của Thiên Chúa, nơi muôn loài nước, đất, mặt trời, mặt trăng, muôn thú và con người cùng bừng tỉnh trong một cuộc bùng nổ hiện hữu đầy kỳ vĩ. Thế nhưng, sự bùng nổ ban đầu ấy không phải là một sự hoàn hảo tĩnh tại, mà là khởi đầu cho một hành trình vô tận tiến về sự hiệp thông trọn vẹn. Thế giới này, qua bao thăng trầm của lịch sử, qua bao đau thương, chiến tranh, khủng hoảng và đổ vỡ, vẫn đang cựa mình quằn quại trong cơn đau sinh nở để hướng về Ngày Sau Hết – ngày mà Đức Kitô quy tụ vạn vật lại trong vinh quang của Ngài.
Trong tiến trình vũ trụ và lịch sử ấy, sự đau khổ đóng một vai trò vô cùng mầu nhiệm mà trí năng hạn hẹp của chúng ta khó lòng thấu hiểu ngay lập tức. Những đau khổ, tai ương, những giới hạn sinh học và tâm lý, những cuộc khủng hoảng tinh thần không phải là minh chứng cho việc Thiên Chúa bỏ rơi thế giới, mà là những nhịp đập của một công trình sáng tạo chưa hoàn tất. Thiên Chúa đang tiếp tục sáng tạo. Ngài không dựng nên một thế giới đứng yên như một cỗ máy đã lên dây cót sẵn, mà Ngài dựng nên một vũ trụ tự do, một lịch sử có sự cộng tác của con người, nơi cái đẹp được chưng cất qua những giọt mồ hôi và nước mắt.
Chính vì thế, thái độ đúng đắn của người môn đệ giữa thế giới hôm nay không phải là sự hoảng sợ trước những đổi thay hay khủng hoảng, cũng không phải là sự nóng nảy muốn dùng bạo lực để áp đặt công lý ngay tức khắc, mà là một niềm hy vọng vững vàng neo đậu nơi tâm tình phó thác. Hy vọng Kitô giáo không phải là thứ lạc quan ngây thơ phớt lờ những bi kịch của trần gian, nhưng là một sự xác tín từ bên trong rằng lịch sử này có một hướng đi và một điểm tận cùng đầy ánh sáng. Dù bóng tối có vẻ như đang bao trùm, dù sự bất công có lúc lấn át, thì hạt men Nước Trời vẫn đang âm thầm hoạt động bên trong tâm khảm của nhân loại.
Chúng ta hãy nhìn lại chính đời sống cầu nguyện của mình. Đôi khi chúng ta nản lòng vì thấy việc cầu nguyện thật khô khan, tẻ nhạt, tâm trí cứ lang thang đi đây đi đó, và dường như chẳng có cảm xúc sốt sắng nào xuất hiện. Chúng ta tự hỏi liệu Chúa có nghe thấy lời mình không, hay việc mình ngồi đây là một sự hoài phí thời gian. Thế nhưng, kinh nghiệm của các thánh nhân cho thấy rằng chính trong những khoảng lặng tưởng chừng trống rỗng và khô khan ấy, hạt giống đức tin lại đang âm thầm cắm rễ sâu nhất vào lòng đất tăm tối của tâm hồn. Cầu nguyện không phải là việc chúng ta tạo ra những cảm xúc thăng hoa chớp nhoáng, mà là sự bền bỉ hiện diện trước mặt Chúa, để cho tình yêu của Ngài nhào nặn chúng ta mà không cần chúng ta phải hiểu hết cách thức hoạt động của Ngài.
Hành trình của người môn đệ đi theo Chúa Giêsu vì thế là một hành trình đi vào chiều kích nội tâm sâu thẳm. Thế giới bên ngoài có thể ồn ào, náo nhiệt, cuồng cuộn những trào lưu, ý thức hệ và những cuộc tranh giành quyền lực vô nghĩa. Nhưng tâm hồn người Kitô hữu phải là một khu vườn kín, nơi hạt cải đức tin được nuôi dưỡng từng ngày bằng nguồn ơn thánh nhiệm mầu, nơi khối bột cuộc đời được nhào nặn bằng tình yêu khiêm tốn của Thầy Chí Thánh. Chúng ta không cần phải vội vã chứng tỏ bản thân hay nóng lòng đòi hỏi những thành tựu rực rỡ mang tính hình thức. Điều quan trọng là chúng ta có đang trung thành để cho Thiên Chúa làm chủ cuộc đời mình hay không.
Khi chiêm ngắm Mẹ Maria, hiện thân tuyệt vời nhất của thái độ lắng nghe và gìn giữ Lời Chúa trong lòng, chúng ta học được bài học về sự âm thầm tuyệt đối. Mẹ không để lại những bài diễn văn hùng hồn, không đứng ở những vị trí quyền lực lẫy lừng của thế gian. Mẹ chỉ lặng lẽ ôm ấp mầu nhiệm Con Thiên Chúa trong cung lòng, rồi âm thầm bước đi qua từng chặng đường đời, từ hang lừa Belem nghèo khó cho đến chân cây thập giá đẫm máu trên đồi Canvê. Mẹ tin tưởng tuyệt đối vào quyền năng của Thiên Chúa ngay cả trong những thời điểm tăm tối nhất, khi mọi hy vọng dường như vụt tắt. Và chính qua sự âm thầm khiêm hạ ấy, Mẹ đã trở thành nguồn ơn phúc lớn lao cho toàn thể nhân loại, là đóa hoa tuyệt mỹ nhất nở ra từ mảnh đất khiêm nhường của nhân tính.
Hôm nay, khi đối diện với những thử thách của cuộc sống thường nhật, với những giới hạn của bản thân và những bất toàn của cộng đoàn xung quanh, chúng ta hãy nhớ lại hình ảnh hạt cải nhỏ bé và nhúm men trong bột. Xin Chúa ban cho chúng ta ơn kiên nhẫn thánh thiêng – kiên nhẫn với chính mình để không ngã lòng trước những yếu đuối vấp ngã, kiên nhẫn với anh chị em để biết dung thứ và yêu thương bằng trái tim của Chúa, và kiên nhẫn với chương trình của Thiên Chúa trong lịch sử thế giới.
Đừng sợ hãi trước sự nhỏ bé hay những thất bại tạm thời của mình. Trong cõi đời này, những gì vĩ đại nhất trước mặt Thiên Chúa thường bắt đầu từ những nơi âm thầm nhất, kín đáo nhất và khiêm hạ nhất. Hãy cứ để mình được vùi sâu vào lòng đất của sự khiêm tốn, hãy cứ để tình yêu của Chúa men hóa từng ngóc ngách tâm hồn, và hãy tin tưởng rằng dưới ánh mắt quan phòng đầy trìu mến của Ngài, mọi hạt giống đức tin được gieo vãi trong nước mắt sẽ nhất định trổ sinh những bông hạt trĩu trịt vào ngày mùa gặt vĩnh hằng.
Lm. Anmai, CSsR
SỨC MẠNH CỦA NIỀM HY VỌNG VÀ MẦU NHIỆM NƯỚC TRỜI TRONG ĐỜI SỐNG KITÔ HỮU
Hành trình đức tin của người môn đệ Chúa Kitô chưa bao giờ là một con đường phẳng lặng trải đầy hoa hồng, nhưng là một cuộc lội ngược dòng đầy trăn trở, nơi ánh sáng và bóng tối, niềm vui và nỗi đau đan xen vào nhau từng giây phút. Khi nhìn vào thực tại của thế giới hôm nay, với muôn vàn khủng hoảng, bất công, bệnh tật, chiến tranh và những đổ vỡ trong tâm hồn con người, không ít lần chúng ta cảm thấy chùn bước. Dường như những gánh nặng của thời gian và không gian đang đè nặng lên đôi vai của những kẻ lữ hành đức tin. Tuy nhiên, chính trong tâm điểm của những xao xuyến và thử thách ấy, Lời Chúa lại vang lên như một khúc ca khải hoàn của niềm hy vọng, soi sáng cho cõi lòng đang khao khát ơn cứu độ. Sứ điệp Lời Chúa không né tránh những khổ đau của thực tại, nhưng đặt chúng vào trong một viễn cảnh rộng lớn hơn, đó là viễn cảnh của một cuộc sinh nở vĩ đại mà toàn thể vũ trụ và chính con người đang quằn quại trải qua để bước vào vinh quang thiên quốc.
Thánh Phaolô Tông Đồ, trong bức thư gửi tín hữu Rôma, đã mạnh mẽ khẳng định rằng những đau khổ của thời gian hiện tại không thể sánh được với vinh quang sắp được tỏ hiện nơi chúng ta. Đứng trước một thế giới đang rên siết và quằn quại trong cơn đau chuyển dạ, ngài không đưa ra một thứ triết lý an ủi rẻ tiền hay một sự lạc quan hão huyền, mà là một nhãn quan siêu nhiên sâu sắc. Thiên nhiên và tạo vật, dẫu không có lý trí, nhưng qua thân phận bị phục tùng dưới quyền lực của sự hư nát, cũng đang ngóng chờ ngày được giải thoát khỏi ách nô lệ của sự tiêu diệt để bước vào tự do vinh hiếm của con cái Thiên Chúa. Sự chờ đợi ấy không phải là một sự thụ động buông xuôi, mà là tiếng kêu thấu trời của một cuộc vượt qua. Chúng ta, những kẻ đã lãnh nhận hoa trái đầu mùa của Chúa Thánh Thần, cũng đồng thời mang trong mình những tiếng rên siết nội tâm. Chúng ta khao khát sự trọn lành, mong mỏi ơn cứu chuộc thân xác này, mong chờ ngày trọn vẹn thuộc về Đấng Tối Cao.
Thế nhưng, căn tính của người Kitô hữu chính là sống và hành động trong niềm hy vọng. Hy vọng điều mình chưa thấy chính là đỉnh cao của sự phó thác và kiên nhẫn. Nhìn thấy rồi thì còn gì phải hy vọng? Chính vì thế, sự kiên nhẫn trở thành nhân đức nền tảng giúp người tín hữu đứng vững giữa giông bão cuộc đời. Đời sống thiêng liêng không phải là sự vắng bóng của thập giá, mà là khả năng mang lấy thập giá ấy với một tình yêu nồng nàn và một niềm xác tín sắt đá rằng: sau đêm tối của khổ đau luôn là bình minh phục sinh rạng ngời. Thiên Chúa chưa bao giờ bỏ rơi tạo vật của Ngài. Ngài uốn nắn, thanh luyện và thử thách lòng trung thành của chúng ta, nhưng đồng thời Ngài cũng tuôn đổ muôn vàn ơn lành, cả những niềm vui lớn lao lẫn những niềm an ủi nhỏ bé thường ngày, để nâng bước đôi chân mỏi mệt của chúng ta trên con đường trần thế.
Nhìn lại lịch sử cứu độ, hình ảnh dân Chúa trở về từ chốn lưu đày Babylon chính là một minh chứng hùng hồn cho lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa. Khi đối diện với cảnh hoang tàn đổ nát của quê hương cũ, họ cảm thấy ngỡ ngàng như đang mơ. Miệng họ ngập tràn tiếng cười, môi họ vang lên những khúc ca hoan hỉ, khiến cho các dân ngoại phải thốt lên rằng: “Việc Chúa làm cho họ thật vĩ đại!”. Thiên Chúa biết rõ những giới hạn mỏng giòn của con người, biết rằng chúng ta không thể chịu đựng mãi sự khô cằn và cô độc, nên Ngài đã đổi thay vận mệnh của chúng ta như dòng suối miền Nam tưới mát sa mạc khô cằn. Những ai gieo trong lệ sầu sẽ gặt trong hân hoan. Sự dấn thân, những hy sinh thầm lặng, những giọt nước mắt đổ ra vì Tin Mừng và vì tình huynh đệ chắc chắn sẽ không bao giờ ra vô ích, nhưng sẽ trổ sinh hoa trái ngọt ngào vào mùa gặt vĩnh cửu.
Để hiểu rõ hơn về cách thức mà Nước Thiên Chúa hoạt động và phát triển giữa trần gian, Chúa Giêsu đã dùng những dụ ngôn vô cùng gần gũi và giản dị: hạt cải được gieo vào lòng đất và ít men vùi trong ba đấu bột. Dụ ngôn hạt cải cho chúng ta thấy một nghịch lý kỳ diệu của ơn thánh. Khởi đầu của Nước Trời thật nhỏ bé, tầm thường và dễ bị bỏ quên, giống như hạt giống nhỏ nhất trong các loài hạt. Thế nhưng, ẩn chứa bên trong cái vỏ bọc mộc mạc ấy là một sức sống mãnh liệt, một năng lượng thần linh không thể kìm nén. Khi được gieo xuống đất và chịu mục nát đi, nó vươn mình lớn lên thành một cây lớn, cành lá sum suê đến nỗi chim trời có thể đến làm tổ trên đó. Điều này minh chứng cho sự khiêm tốn của Thiên Chúa: Ngài không chọn những cỗ máy khổng lồ hay quyền lực trần thế để đổi thay lịch sử, mà Ngài chọn những con người bé nhỏ, những hành động yêu thương thầm lặng, những lời cầu nguyện chân thành để làm bệ phóng cho công cuộc cứu độ.
Cùng một bài học ấy được tiếp nối qua hình ảnh người phụ nữ vùi men vào trong ba đấu bột. Men là một nguyên liệu cực kỳ nhỏ bé so với khối lượng bột khổng lồ, nhưng khi đã được trộn lẫn và ủ kín, nó âm thầm làm việc, sục sôi bên trong và biến đổi toàn bộ khối bột trở thành thứ bánh thơm ngon nuôi sống con người. Nước Thiên Chúa cũng vận hành theo cách thức như thế. Sự hiện diện của người Kitô hữu giữa lòng thế giới không ồn ào, phô trương, nhưng phải là thứ men Tin Mừng thấm đượm vào từng ngóc ngách của xã hội, vào gia đình, công sở, học đường và những mối tương quan hằng ngày. Chúng ta không cần phải làm những điều vĩ đại vượt sức mình; điều quan trọng là hãy sống trọn vẹn ơn gọi của mình với tất cả tình yêu, để Chúa ủ men cuộc đời ta và lan tỏa hương thơm của Ngài ra xung quanh.
Sức mạnh làm cho hạt cải thành cây lớn và làm cho khối bột dậy men không đến từ sự khôn ngoan hay tài năng kiệt xuất của con người, nhưng hoàn toàn phát xuất từ ân sủng của Thiên Chúa. Đức Thánh Cha Phanxicô từng nhắc nhở chúng ta một chân lý cốt lõi rằng: sự màu mỡ huyền nhiệm của sứ vụ tông đồ không nằm ở những toan tính, kế hoạch chiến lược hay phương pháp hiện đại của chúng ta, nhưng nằm ở sự choáng ngợp trước lời của Chúa Giêsu: “Không có Thầy, các con chẳng làm gì được”. Nhận thức được sự nghèo hèn và bất lực bản thân chính là chìa khóa mở ra cánh cửa tâm hồn để ơn Chúa ùa vào. Khi con người buông bỏ ảo tưởng tự cứu rỗi bằng sức mình và khiêm tốn trao phó cuộc đời vào bàn tay Quan Phòng, thì lúc ấy quyền năng của Thiên Chúa mới thực sự được tỏ hiện một cách rực rỡ nhất.
Cộng tác với ân sủng chính là sứ mạng cao cả nhất của người môn đệ Chúa Kitô. Sứ mạng ấy không đòi hỏi phải có những chiến công hiển hách, mà trước hết và trên hết là chứng tá của một đời sống được biến đổi bởi tình yêu. Lời nói có thể lay động, nhưng gương sáng và cách sống mới chính là thỏi nam châm thu hút các tâm hồn về với Đấng Tạo Hóa. Nhất là khi chứng tá ấy được tôi luyện trong đau khổ, được ôm ấp bằng tình yêu tha thiết và được biểu lộ qua một nụ cười hiền hòa ngay giữa gian truân, thì nó lại trở thành thứ ngôn ngữ mạnh mẽ nhất, thuyết phục nhất để loan báo Tin Mừng cho một thế giới đang khát khao chân lý.
Lịch sử Giáo Hội đã minh chứng cho chân lý này qua muôn vàn các thánh nhân, trong đó có một đóa hoa tuyệt đẹp nở rộ giữa lòng Trung Đông đầy khói lửa và chia rẽ: Thánh nữ Rafqa Choboq Ar-Rayes. Cuộc đời của thánh nữ là một bản trường ca hùng tráng về sức mạnh của ơn thánh và sự kết hiệp mật thiết với mầu nhiệm thập giá Chúa Kitô. Sinh ra và lớn lên trong một thời kỳ đầy biến động, chứng kiến những đau thương tột cùng của chiến tranh, bạo lực và thảm sát tàn khốc, Rafqa đã sớm mang trong tâm hồn những vết thương sâu sắc của nhân loại. Dẫu vậy, ngài vẫn giữ gìn một trái tim nhân hậu, sẵn sàng che chở, cứu giúp những sinh linh vô tội khỏi nanh vuốt của bạo tàn.
Khi bước vào đời sống thánh hiến, trước hết trong hội dòng hoạt động và sau đó là trong đan viện chiêm niệm của Dòng Nữ tu Maronite Liban, thánh nữ đã không ngừng khao khát được nên giống Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Ngài đã xin Chúa cho mình được thông phần vào cuộc khổ nạn cứu thế. Lời cầu nguyện ấy đã được đáp ứng theo một cách thức đầy thử thách: ngài phải trải qua những cơn đau đớn thể xác vô cùng khủng khiếp trong suốt hai mươi chín năm cuối đời, mất đi thị lực cả hai mắt và bị tê liệt toàn thân, ngoại trừ đôi bàn tay vẫn còn cử động để đan len. Một con người bị tước đi ánh sáng, bị giam cầm trong một cơ thể tê liệt, tưởng chừng như chỉ còn lại sự tuyệt vọng và cay đắng. Thế nhưng, điều kỳ diệu là trên khuôn mặt của thánh nữ Rafqa chưa bao giờ vắng bóng nụ cười. Ngài đã biến từng cơn đau đớn thể lý thành một lời kinh nguyện liên rỉ dâng lên Thiên Chúa, biến những giọt nước mắt đớn đau thành hương trầm dâng tiến ngai tòa Đấng Tối Cao.
Đời sống và cái chết của thánh nữ Rafqa gửi đến cho mỗi người chúng ta hôm nay một thông điệp vô cùng mạnh mẽ: đau khổ, khi được đón nhận và kết hợp với cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, sẽ không còn là một sự nguyền rủa hay ngõ cụt, nhưng trở thành nguồn mạch ơn cứu độ và là phương thế truyền giáo hiệu quả nhất. Ai tìm kiếm Chúa Kitô mà trốn tránh thập giá thì sẽ tìm thấy thập giá mà không có Chúa Kitô, và gánh nặng ấy sẽ trở nên quá sức chịu đựng. Ngược lại, những ai bước đi với Chúa, mang lấy thập giá của mình bằng tình yêu và sự phó thác, thì sẽ cảm nghiệm được rằng ách của Chúa thì êm ái và gánh của Ngài thì nhẹ nhàng. Thập giá lúc bấy giờ không còn đè nặng trên vai, đôi vai của người môn đệ, mà trở thành đôi cánh nâng tâm hồn bay cao đến cõi phúc vinh cửu.
Xét cho cùng, hành trình đức tin của chúng ta trong tháng truyền giáo cũng như trong từng ngày sống chính là lời đáp trả tự do trước tình yêu nhưng không của Thiên Chúa. Chúng ta được mời gọi trở nên những hạt giống nhỏ bé được gieo vào lòng đời, những nhúm men khiêm tốn làm dậy lên hương vị Nước Trời trong một xã hội đang nguội lạnh tình người. Đừng sợ hãi trước sự yếu đuối của bản thân, cũng đừng ngã lòng trước những giông bão của thời đại, bởi vì Đấng đã chiến thắng tử thần vẫn đang âm thầm hoạt động trong lịch sử nhân loại. Ngài đang dùng những bàn tay yếu đuối của chúng ta để viết nên những trang sử cứu độ đầy kỳ diệu.
Hãy sống với niềm hy vọng vững vàng, với sự kiên nhẫn bền bỉ và với một trái tim tràn đầy lòng biết ơn. Hãy để cho ân sủng của Chúa biến đổi từng ý nghĩ, lời nói và hành động của chúng ta, để mỗi bước chân đi qua đều để lại dấu ấn của lòng thương xót, sự hòa giải và bình an. Ước gì cuộc đời của mỗi chúng ta thực sự trở thành một bài ca chúc tụng tình yêu Thiên Chúa, một nhịp cầu nối kết giữa trời và đất, để qua đời sống chứng tá đầy hoan乐 và bác ái của chúng ta, nhiều tâm hồn sẽ nhận biết và tôn vinh người Cha trên trời, Đấng hằng yêu thương và cứu độ chúng ta đến muôn đời. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
HỮNG THỰC TẠI NỘI TÂM VÀ SỨC MẠNH BIẾN ĐỔI CỦA ÂN SỰ TRONG ĐỜI SỐNG KITÔ HỮU
Hành trình đức tin của mỗi người chúng ta không phải là một con đường bằng phẳng trải đầy hoa hồng, nhưng là một chuỗi những tháng năm lữ hành đầy thử thách, nơi mà ánh sáng và bóng tối đan xen, nơi mà niềm hy vọng đôi khi bị thử tôi qua những chiếc vạc lửa của đau khổ và nghịch cảnh trần gian. Khi nhìn vào thế giới hôm nay, một thế giới đang cuộn chảy trong dòng xoáy của sự thực dụng, tốc độ và cả những bất định, con người dễ dàng rơi vào trạng thái hoang mang, chới với và mệt mỏi. Chúng ta tự hỏi liệu những nỗ lực âm thầm sống theo Tin Mừng có đem lại ý nghĩa gì không, hay liệu Thiên Chúa có thực sự hiện diện và can thiệp vào những góc khuất tăm tối nhất của phận người hay không. Lời Chúa trong phụng vụ hôm nay, đặc biệt qua khung cảnh suy tư về các bài đọc thánh kinh thuộc mùa thường niên, mời gọi chúng ta dừng lại, bước ra khỏi sự ồn ào náo nhiệt của những lo toan thường nhật để lắng nghe tiếng nói sâu thẳm của tâm hồn, nơi Thiên Chúa đang ngự trị và ngỏ lời với mỗi người chúng ta.
Để hiểu được chiều kích sâu thẳm của mạc khải, chúng ta cần phải nhìn nhận một thực tế rằng đời sống tinh thần của con người thường bị chi phối bởi những gì bề ngoài, những gì có thể đong đếm được bằng tiêu chuẩn trần thế. Chúng ta thường đánh giá thành công bằng của cải, danh vọng, địa vị và những tràng pháo tay tán thưởng của đám đông. Thế nhưng, trong cái nhìn của Thiên Chúa, thước đo giá trị lại hoàn toàn đảo ngược. Ngài nhìn thấu tận đáy tâm can con người, thấu suốt những ý định thầm kín và cả những vết thương chưa lành lặn. Sứ điệp Lời Chúa hôm nay đưa chúng ta đi sâu vào mầu nhiệm của sự nhỏ bé, mầu nhiệm của hạt cải và chút men trong bột, những hình ảnh quen thuộc nhưng mang sức mạnh đánh thức tâm thức đức tin. Thiên Chúa không chọn những gì ồn ào, vĩ đại theo kiểu phàm nhân để làm chất liệu cứu độ, Ngài thường bắt đầu từ những khởi đầu rất khiêm tốn, âm thầm và có vẻ như yếu ớt trước mắt thế gian.
Khi suy gẫm về những thử thách và đau khổ của cuộc sống hiện tại, thánh Phao-lô đã từng khẳng định một chân lý đầy sức nâng đỡ rằng những đau nhức của thời gian hiện tại không thể sánh được với vinh quang sắp được tỏ hiện nơi chúng ta. Đứng trước những đau khổ, bệnh tật, sự bất công xã hội hay những khủng hoảng nội tâm, con người tự nhiên có xu hướng chùn bước, buông xuôi hoặc tìm kiếm sự giải thoát theo bản năng. Thế nhưng, người Kitô hữu được mời gọi nhìn ngắm thực tại bằng đôi mắt của niềm hy vọng siêu nhiên. Niềm hy vọng ấy không phải là một thứ lạc quan tếu tỏi, ngây thơ trước những bi kịch của cuộc đời, nhưng là một sự xác tín vững vàng vào tình yêu quan phòng của Thiên Chúa, Đấng đang âm thầm tác động trong lịch sử và trong từng biến cố của đời ta. Thiên Chúa không bỏ rơi tạo vật của Ngài; trái lại, toàn thể thiên nhiên và nhân loại đang cùng rên siết, đang cùng chuyển bụng chờ đợi ngày được giải thoát, ngày mà tự do đích thực của con cái Chúa được tỏ rạng. Sự chờ đợi ấy đòi hỏi ở người tin một thái độ kiên nhẫn, một sự bền đỗ không mỏi mệt trong lời cầu nguyện và một tinh thần phó thác trọn vẹn vào quyền năng hải hà của Đấng Tối Cao.
Bên cạnh chiều kích của niềm hy vọng giữa đau khổ, Lời Chúa còn phơi bày cho chúng ta thấy sự kỳ diệu của Nước Trời qua những dụ ngôn mang tính chất biểu trưng mạnh mẽ. Nước Trời giống như hạt cải mà một người lấy gieo trong ruộng mình. Hạt cải nhỏ bé nhất trong các loài hạt, thế nhưng khi mọc lên, nó lại lớn hơn mọi thứ rau cỏ khác, trở thành cây lớn đến nỗi chim trời đến làm tổ trên cành. Hình ảnh này không chỉ nói về sự phát triển ngoại tại của Giáo Hội hay của sứ vụ loan báo Tin Mừng, mà còn là một bức tranh sống động về hành trình thiêng liêng của chính tâm hồn mỗi người. Có những khởi đầu trong đời sống đạo của chúng ta rất mong manh: một chút thiện chí nhỏ bé, một quyết tâm từ bỏ một thói hư tật xấu cỏn con, một lời cầu nguyện ngắn ngủi cất lên giữa lúc bận rộn. Chúng ta dễ có cảm giác rằng những điều nhỏ bé ấy chẳng thể làm thay đổi được gì trong một cuộc đời đã quá nhiều phức tạp và tội lỗi. Thế nhưng, bàn tay của Thiên Chúa có thói quen biến những cái không có thành có, biến sự yếu đuối thành sức mạnh vĩ đại. Khi chúng ta trao phó những hạt giống đức tin nhỏ nhoi của mình cho tình yêu Chúa, Ngài sẽ làm cho nó lớn lên theo cách thức vượt trên mọi sự tưởng tượng của con người. Cây sự sống trong tâm hồn chúng ta sẽ vươn cao, trở thành chốn bình an cho chính chúng ta và cho cả những ai đang sống chung quanh ta.
Không dừng lại ở hình ảnh hạt cải, dụ ngôn về chút men trong ba đấu bột lại mở ra cho chúng ta một chiều kích khác vô cùng quan trọng: chiều kích của sự biến đổi nội tâm và sức mạnh thấm nhiễm. Men không đứng bên ngoài để chỉ trích hay áp đặt, men hòa lẫn vào trong bột, âm thầm làm việc từ bên trong, khiến cho toàn thể khối bột dậy men. Đây chính là căn tính và sứ mệnh của người môn đệ Chúa Kitô giữa lòng thế giới tục hóa này. Chúng ta không được kêu gọi để sống tách biệt, trốn chạy khỏi xã hội bằng một thứ đạo đức khép kín, biệt lập; trái lại, chúng ta được sai vào lòng đời, vào trong những môi trường gia đình, công sở, học đường, và các cấu trúc xã hội đầy rẫy nhữngtoan tính và ích kỷ. Tại những nơi đó, sự hiện diện của chúng ta phải giống như chút men tốt lành. Sự hiền hậu, lòng bác ái, sự chính trực và lòng trung thực của chúng ta có thể rất nhỏ bé, nhưng nếu chúng ta sống trọn vẹn tinh thần Tin Mừng, ơn Chúa sẽ qua cuộc đời khiêm tốn của chúng ta mà làm dậy men cả một tập thể, biến đổi bầu khí xung quanh từ lạnh lùng thành ấm áp, từ hận thù thành yêu thương.
Tuy nhiên, để trở thành hạt cải mọc xanh tốt hay chút men làm dậy cả khối bột, chúng ta không thể dựa vào sức lực tự nhiên của mình. Con người xác phàm rất dễ mệt mỏi, dễ chán nản khi gặp phải sự chống đối, dửng dưng hoặc khi những nỗ lực tốt đẹp của mình không được đền đáp xứng đáng. Đã bao nhiêu lần chúng ta muốn buông xuôi, muốn thỏa hiệp với bóng tối vì thấy việc thiện xem ra quá cô đơn và yếu thế? Chính trong những giây phút ấy, chúng ta cần phải quay trở về với nguồn cội của sức mạnh thiêng liêng, đó là sự kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu trong đời sống cầu nguyện và các bí tích. Cầu nguyện không phải là đọc lên những công thức dài dòng hay cốt để thay đổi ý định của Thiên Chúa, nhưng là để để cho tâm hồn mình được biến đổi, để được chìm đắm trong tình yêu và ánh sáng của Ngài, từ đó nhìn mọi sự việc với một nhãn quan mới, một bình an nội tâm sâu thẳm mà thế gian không thể ban tặng cũng không thể lấy đi được.
Khi suy ngẫm về những thực tại này, chúng ta cũng được mời gọi tự vấn về những ưu tiên trong đời sống hằng ngày của mình. Có những lúc chúng ta bận rộn với vô số công việc không tên, chạy theo những mục tiêu vật chất tạm bợ, để rồi bỏ quên đi phần rốt ráo và quan trọng nhất của đời người. Chúng ta đầu tư rất nhiều thời gian, tâm sức cho sự nghiệp, cho các mối quan hệ xã hội, nhưng lại dành cho Thiên Chúa những khoảng thời gian thừa thãi, mệt mỏi cuối ngày. Lời Chúa hôm nay là một lời cảnh tỉnh nhẹ nhàng nhưng thấm thía: điều gì thực sự có giá trị vĩnh cửu trong cuộc đời bạn? Những danh vọng, tiền tài rồi sẽ qua đi theo dòng thời gian, chỉ có tình yêu được trao ban, chỉ có đức tin được vun đắp và lòng cậy trông được kiên vững mới là hành trang theo ta vào cõi vĩnh hằng. Do đó, việc hoán cải tâm hồn không phải là một sự kiện xảy ra một lần cho tất cả, mà là một tiến trình liên lỉ hằng ngày, đòi hỏi sự can đảm đối diện với chính mình, sự khiêm nhường nhìn nhận những yếu đuối, bất toàn để rồi sấp mình xuống trước lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa.
Đời sống của một người Kitô hữu đích thực phải là một bản hòa ca nhịp nhàng giữa lời cầu nguyện và hành động, giữa việc chiêm niệm mầu nhiệm cao siêu và việc dấn thân phục vụ anh chị em đồng loại. Khi chúng ta thực sự trải nghiệm được tình yêu cứu độ của Thiên Chúa, lòng chúng ta sẽ bừng cháy một ngọn lửa nhiệt thành muốn chia sẻ niềm vui ấy cho những người chung quanh. Sự chia sẻ này không nhất thiết phải bằng những bài giảng hùng hồn hay những chiến dịch lớn lao, mà đôi khi chỉ bằng một ánh mắt cảm thông, một cử chỉ tha thứ, một sự lắng nghe chân thành dành cho người đang đau khổ, hoặc một sự nâng đỡ âm thầm đối với người đang ngã lòng. Trong thế giới mà con người ngày càng trở nên xa cách, lạnh lùng và vô cảm với nỗi đau của tha nhân, sự hiện diện của một Kitô hữu sống đúng với tinh thần Tin Mừng chính là một dấu chỉ hy vọng sống động, là nhịp cầu nối kết con người với Thiên Chúa và với nhau.
Hành trình đức tin cũng đòi hỏi chúng ta phải có một thái độ tỉnh thức thường xuyên trước những cám dỗ của tinh thần thế tục. Thế gian luôn tìm cách đồng hóa chúng ta theo những tiêu chuẩn của nó: tiêu chuẩn của sự hưởng thụ ích kỷ, của sự thành công bằng mọi giá, của sự chụp giựt và tranh giành quyền lực. Nếu chúng ta không có một đời sống nội tâm sâu sắc, chúng ta sẽ rất dễ bị cuốn trôi theo dòng chảy ấy mà không hề hay biết, để rồi đánh mất đi căn tính làm con cái Chúa. Sự tỉnh thức đòi hỏi chúng ta phải biết thanh lọc tâm hồn mỗi ngày, dọn sạch những rác rưởi của lòng ích kỷ, kiêu căng, giận hờn và ganh tỵ, để nhường chỗ cho ơn thánh Chúa ngự trị và hành động. Đó là một cuộc chiến nội tâm cam go nhưng đầy vinh quang, bởi vì phần thưởng dành cho người chiến thắng không phải là những thứ hư nát trần gian, mà là sự sống đời đời trong vinh quang của Ba Ngôi Thiên Chúa.
Khi nhìn lại chặng đường dài mà mỗi người chúng ta đã đi qua, chúng ta có quyền dâng lời tạ ơn Thiên Chúa vì biết bao ơn lành Người đã thương ban, kể cả những thử thách và nghịch cảnh, bởi vì chính qua những hoàn cảnh đó mà đức tin của chúng ta được tinh rèn, trở nên mạnh mẽ và kiên vững hơn. Thiên Chúa không hứa dành cho chúng ta một cuộc đời không có bão tố, nhưng Ngài hứa sẽ đồng hành, sẽ cầm tay và sẽ dắt đưa chúng ta vượt qua mọi giông tố cuộc đời. Ngài là chiếc mỏ neo chắc chắn cho tâm hồn chúng ta giữa biển đời sóng gió. Khi chúng ta cảm thấy chới với, khi bóng tối của sự cô đơn và tuyệt vọng vây quanh, hãy nhớ rằng luôn có một tình yêu hải hà đang chờ đợi ta quay trở về, một cánh tay nhân ái sẵn sàng ôm lấy ta vào lòng với tất cả sự dịu dàng và tha thứ.
Bước vào những ngày tháng tiếp theo của hành trình dương thế, ước gì mỗi người chúng ta biết mang theo ngọn lửa của Lời Chúa vào trong cuộc sống hằng ngày của mình. Hãy để cho hạt giống đức tin được gieo vào tâm hồn chúng ta trổ sinh những bông hạt dồi dào của lòng bác ái, sự nhẫn nại và lòng cậy trông phó thác. Hãy là chút men âm thầm nhưng đầy mãnh liệt làm biến đổi gia đình, cộng đoàn và xã hội chúng ta đang sống, để qua cuộc đời khiêm tốn của chúng ta, Danh Thánh Chúa được cả sáng và tình yêu thương của Ngài được lan tỏa đến muôn người. Xin Chúa ban ơn, chúc lành và gìn giữ mỗi người chúng ta trong tình yêu trọn vẹn của Ngài, để dẫu giữa muôn vàn thăng trầm của cuộc sống, chúng ta vẫn mãi là những chứng nhân trung kiên của niềm hy vọng và sự thật. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
