ĐỨC GIÊSU LÀ AI? – TÌM HIỂU TIN MỪNG THEO THÁNH MÁTTHÊU – Lm. Anmai, CSsR
TIN CÔNG GIÁO VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI NGÀY 18.9.2026 – Lm. Anmai, CSsR tổng hợp
ĐƯỢC CHỮA LÀNH ĐỂ TRỞ THÀNH NGƯỜI ĐỒNG HÀNH VÀ PHỤC VỤ – Lm. Anmai, CSsR
ĐÃ ĐƯỢC CHÚA CHỮA LÀNH, HÃY ĐỨNG DẬY VÀ BƯỚC ĐI VỚI NGƯỜI – Lm. Anmai, CSsR
LỜI NGUYỆN SÁNG – THỨ SÁU TUẦN XXIV THƯỜNG NIÊN
Lạy Chúa Giê-su, trong buổi sáng hôm nay, khi một ngày mới lại mở ra trước mắt chúng con, chúng con xin dâng lên Chúa tất cả con người, công việc, niềm vui, nỗi buồn, những dự định và cả những điều bất ngờ sẽ đến trong ngày. Qua Tin Mừng hôm nay, chúng con được nhìn thấy Chúa rảo qua các thành phố và làng mạc để loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Chúa không ngừng bước đi, không ngừng tìm kiếm con người, không ngừng gieo vào lòng nhân thế niềm hy vọng và ơn cứu độ. Xin cho chúng con cũng biết bắt đầu ngày mới với một trái tim sẵn sàng lên đường, không sống khép kín cho riêng mình, nhưng biết đem tình thương, sự bình an và lòng nhân hậu của Chúa đến cho những người chúng con gặp gỡ.
Lạy Chúa, Tin Mừng hôm nay còn cho chúng con thấy bên cạnh Chúa có Nhóm Mười Hai và những người phụ nữ đã được Chúa chữa lành, giải thoát và biến đổi. Các bà đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Chúa và các môn đệ. Đó là một sự phục vụ rất âm thầm nhưng vô cùng quý giá. Các bà không đứng ở nơi nổi bật, không tìm lời khen ngợi, chỉ đơn sơ dùng những gì mình có để góp phần cho sứ mạng loan báo Tin Mừng. Xin dạy chúng con hiểu rằng trong Nước Chúa, không có sự phục vụ chân thành nào là nhỏ bé, không có hy sinh nào vì yêu thương mà bị lãng quên. Một lời hỏi thăm, một chén nước, một phần cơm, một chút thời gian dành cho người cô đơn, một sự nhường nhịn trong gia đình, một món quà cho người nghèo, một việc âm thầm giúp cộng đoàn, tất cả đều có thể trở thành của lễ đẹp lòng Chúa nếu được thực hiện bằng một trái tim yêu mến.
Lạy Chúa Giê-su, chúng con cũng ý thức rằng mọi sự chúng con đang có đều là hồng ân Chúa ban. Sức khỏe, tài năng, thời giờ, của cải, những cơ hội trong cuộc sống, tất cả đều không phải chỉ để chúng con giữ lại cho riêng mình. Xin giải thoát chúng con khỏi lòng ích kỷ, tính toán và sự dửng dưng trước nhu cầu của anh chị em. Xin cho chúng con biết sử dụng những gì Chúa trao để phục vụ sự sống, xây dựng tình người, nâng đỡ người yếu đuối và cộng tác vào công cuộc loan báo Tin Mừng. Xin cho chúng con biết trao đi mà không khoe khoang, giúp đỡ mà không đòi đáp trả, hy sinh mà không kể công, phục vụ mà không tìm chỗ nhất.
Xin Chúa chúc lành cho ngày sống hôm nay của chúng con. Khi vui, xin cho chúng con biết tạ ơn; khi mệt mỏi, xin cho chúng con biết cậy trông; khi gặp trái ý, xin cho chúng con biết nhẫn nại; khi có cơ hội làm điều thiện, xin đừng để chúng con chần chừ. Xin cho từng lời nói, từng công việc và từng chọn lựa của chúng con trở thành một cách âm thầm bước theo Chúa trên con đường loan báo Tin Mừng. Và đến cuối ngày, xin cho chúng con có thể bình an thưa với Chúa rằng: hôm nay con đã cố gắng dùng những gì Chúa ban để yêu Chúa và phục vụ anh chị em mình.
Lạy Chúa Giê-su, xin ở lại với chúng con, đồng hành với chúng con và làm cho cả ngày sống này trở nên một lời cầu nguyện đẹp lòng Chúa. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
Ca nhập lễ
Lạy Chúa, xin ban bình an cho những ai trông cậy vào Chúa, xin cho các tiên tri của Chúa được trung trực; xin nhậm lời cầu nguyện của tôi tớ Chúa, và của Is-ra-el dân Chúa.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa là Ðấng sáng tạo và điều khiển muôn loài, xin nhìn đến chúng con và cho chúng con biết tận tình thờ phượng Chúa, hầu luôn được cảm thấy rõ ràng lòng Chúa yêu thương. Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc 1 Cr 15, 12-20
“Nếu Ðức Kitô đã không sống lại, thì đức tin của anh em cũng vô giá trị”.
Trích thư thứ nhất của Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Côrintô.
Anh em thân mến, nếu chúng tôi rao giảng rằng Ðức Kitô đã từ cõi chết sống lại, làm sao trong anh em lại có người dám nói: không có vấn đề kẻ chết sống lại? Nếu kẻ chết không sống lại, thì Ðức Kitô cũng đã không sống lại. Mà nếu Ðức Kitô đã không sống lại, thì lời giảng của chúng tôi sẽ nên trống rỗng, và Ðức Tin của anh em cũng ra trống rỗng. Vì chưng nếu kẻ chết không sống lại, thì chúng tôi bị coi là những chứng nhân giả dối về Thiên Chúa, vì lẽ chúng tôi đã làm chứng nghịch với Thiên Chúa rằng: Chúa đã phục sinh Ðức Kitô, khi mà Chúa đã không làm cho Người sống lại. Bởi chưng nếu những kẻ chết không sống lại, thì Ðức Kitô cũng đã không sống lại. Và nếu Ðức Kitô đã không sống lại, thì đức tin của anh em cũng vô giá trị, vì anh em vẫn còn ở trong tội lỗi. Vậy ngay cả những người đã an giấc trong Ðức Kitô cũng hư vong. Nếu chúng ta chỉ hy vọng vào Ðức Kitô trong đời sống hiện tại mà thôi, thì chúng ta là những người đáng thương hại nhất.
Nhưng kỳ thực Ðức Kitô đã sống lại, Người là đầu mùa những người đã an giấc ngàn thu.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 16, 1. 6-7. 8b và 15
Ðáp: Lạy Chúa, khi thức giấc, con no thoả nhìn chân dung Chúa (c. 15b).
Xướng: Lạy Chúa, xin nghe điều chính nghĩa của con, xin để ý đến lời con kêu cứu, lắng tai nghe tiếng con thốt ra từ cặp môi chân thành!
Xướng: Con kêu van Ngài, bởi Ngài nhậm lời con, lạy Chúa, xin ghé tai về bên con, xin nghe rõ tiếng con. Xin tỏ ra đức từ bi lạ lùng của Chúa, là Ðấng giải thoát khỏi bọn đối phương, những ai tìm nương tựa tay hữu của Ngài.
Xướng: Xin che chở con trong bóng cánh tay Ngài. Phần con, nhờ công chính, sẽ được thấy thiên nhan, khi thức giấc, con no thoả nhìn chân dung Chúa.
Alleluia: Tv 118, 36a và 29b
Alleluia, alleluia! – Lạy Chúa, xin nghiêng lòng con theo lời Chúa răn bảo, và xin rộng tay ban luật pháp của Chúa cho con. – Alleluia.
Phúc Âm: Lc 8, 1-3
“Có mấy phụ nữ đi với Người và họ đã lấy của cải mình mà giúp Người”.
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, Chúa rảo qua các thành thị và xóm làng, giảng dạy và loan báo Tin Mừng nước Thiên Chúa. Có nhóm Mười Hai cùng đi với Người, cũng có cả mấy người phụ nữ đã được chữa khỏi tà thần và bệnh tật: là bà Maria cũng gọi là Mađalêna, người đã được trừ khỏi bảy quỷ ám, bà Gioanna vợ của Chusa, viên quản lý của Hêrôđê, bà Susanna và nhiều bà khác; những bà này đã lấy của cải mình mà giúp Người.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin nghe lời chúng con cầu nguyện và thương nhận những lễ vật này để hiến lễ mỗi người chúng con dâng mà tôn vinh Danh Thánh, giúp mọi người đạt tới ơn cứu độ. Chúng con cầu xin…
Ca hiệp lễ
Ôi Thiên Chúa, cao quý thay ân sủng của Ngài. Con người ta tìm nương tựa trong bóng cánh của Ngài.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, xin làm cho sức mạnh của bí tích này tràn ngập chúng con cả hồn lẫn xác, để chúng con không còn sống theo những cảm nghĩ tự nhiên, nhưng luôn theo ơn Thánh Thần hướng dẫn. Chúng con cầu xin…
ĐÃ ĐƯỢC CHÚA CHỮA LÀNH, HÃY ĐỨNG DẬY VÀ BƯỚC ĐI VỚI NGƯỜI
Có những đoạn Tin Mừng rất dài, kể lại những phép lạ gây kinh ngạc, những bài giảng làm rung động lòng người, những cuộc tranh luận quyết liệt giữa Đức Giêsu với những người chống đối Người; nhưng cũng có những đoạn Tin Mừng chỉ vỏn vẹn vài câu, tưởng như chỉ là một ghi chú nhỏ của thánh sử về hành trình của Đức Giêsu, vậy mà nếu dừng lại đủ lâu, nếu đọc bằng trái tim cầu nguyện, nếu để từng chữ đi xuống thật sâu trong tâm hồn, chúng ta lại thấy mở ra cả một thế giới của Tin Mừng. Đoạn Lc 8,1-3 hôm nay là một đoạn như thế. Thánh Luca không kể một phép lạ mới, không thuật lại một dụ ngôn mới, cũng không ghi lại một cuộc tranh luận thần học nào. Ngài chỉ nói Đức Giêsu đi qua các thành phố và làng mạc để rao giảng Tin Mừng Nước Thiên Chúa; cùng đi với Người có Nhóm Mười Hai và một số phụ nữ đã được chữa khỏi bệnh tật và giải thoát khỏi thần dữ, trong đó có Maria gọi là Mađalêna, Gioanna vợ ông Khuda, quản lý của vua Hêrôđê, Susanna và nhiều người khác; các bà đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giêsu và các môn đệ. Chỉ vài dòng thôi, nhưng trong vài dòng ngắn ngủi ấy, chúng ta gặp được một Giáo Hội đang hình thành quanh Đức Giêsu; gặp những con người từng mang vết thương nhưng nay trở thành chứng nhân; gặp những người đã được cứu chữa và vì thế không thể tiếp tục sống như chưa từng gặp Chúa; gặp một cộng đoàn trong đó mỗi người có một vị trí, mỗi người có một ơn gọi, mỗi người đem điều mình có để làm cho Tin Mừng được tiếp tục lên đường. Và nếu đặt đoạn Tin Mừng ngắn này bên cạnh bài đọc thứ nhất trích thư thứ nhất của thánh Phaolô gửi tín hữu Côrintô, chúng ta càng thấy rõ hơn nền tảng của tất cả mọi hành trình Kitô hữu: Đức Kitô đã sống lại. Nếu Đức Kitô không sống lại, mọi sự chỉ còn là một câu chuyện đẹp nhưng đã kết thúc; nếu Đức Kitô không sống lại, những bước chân của các môn đệ chẳng có ý nghĩa gì; nếu Đức Kitô không sống lại, sự hy sinh của các phụ nữ theo Người chỉ là một sự quảng đại nhân loại đáng quý nhưng không dẫn đến sự sống đời đời; nếu Đức Kitô không sống lại, lời rao giảng của Hội Thánh chỉ còn là một thứ triết lý luân lý; nhưng thánh Phaolô khẳng định mạnh mẽ rằng Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết và Người là hoa quả đầu mùa của những kẻ đã an giấc. Chính bởi vì Đức Kitô đã sống lại mà mọi bước chân đi theo Người đều có ý nghĩa; chính bởi vì Đức Kitô đã chiến thắng sự chết mà những giọt nước mắt, những hy sinh, những phục vụ âm thầm của chúng ta không rơi vào hư vô; chính bởi vì Người đang sống mà cuộc đời của những người từng tan vỡ có thể được làm lại từ đầu.
Hình ảnh đầu tiên mà Tin Mừng đặt trước mắt chúng ta hôm nay là một Đức Giêsu không đứng yên. Người đi. Người đi từ thành này đến thành khác, từ làng nọ đến làng kia. Tin Mừng của Thiên Chúa không bị nhốt trong một căn phòng. Tình yêu của Thiên Chúa không chờ con người tìm được đường đến với mình rồi mới bắt đầu hoạt động. Thiên Chúa đi tìm con người. Từ toàn bộ lịch sử cứu độ, chúng ta gặp một Thiên Chúa luôn đi bước trước. Khi Ađam trốn trong vườn, Thiên Chúa đi tìm và hỏi: “Ngươi ở đâu?” Khi Israel bị nô lệ ở Ai Cập, Thiên Chúa nghe tiếng dân kêu than và sai Môsê đến giải phóng họ. Khi nhân loại chìm trong bóng tối tội lỗi, Con Thiên Chúa không đứng từ trời cao để gọi con người tự tìm đường trở về, nhưng Người xuống thế làm người, dựng lều giữa chúng ta, bước trên những con đường đầy bụi của Galilê, bước vào những ngôi nhà nghèo, ngồi ăn với người thu thuế, chạm đến người phong hủi, cúi xuống trước người đau khổ, đến bên những ai bị xã hội gạt ra bên lề. Đức Giêsu là Thiên Chúa đang đi tìm con người. Hôm nay Người đi qua các thành và làng mạc. Những địa danh ấy có thể rất xa chúng ta về thời gian và địa lý, nhưng mầu nhiệm thì vẫn còn nguyên vẹn: Chúa vẫn đang đi ngang qua cuộc đời mỗi người. Chúa đi ngang qua một gia đình đang bất hòa; Chúa đi ngang qua một người đang nằm trên giường bệnh; Chúa đi ngang qua một người trẻ đang hoang mang trước tương lai; Chúa đi ngang qua một người vừa thất bại trong công việc; Chúa đi ngang qua một người đang khóc vì mất đi người mình yêu thương; Chúa đi ngang qua một linh mục đang mệt mỏi trong mục vụ; Chúa đi ngang qua một tu sĩ đang trải qua khô khan; Chúa đi ngang qua một người đang mắc kẹt trong tội lỗi lâu năm; Chúa đi ngang qua một người tưởng rằng mình đã bị tất cả quên lãng. Chúng ta có thể không nhận ra Người, nhưng Người vẫn đi. Có những ngày Chúa đến qua một câu Kinh Thánh; có những ngày Chúa đến qua lời khuyên của một người bạn; có những ngày Chúa đến qua một thất bại làm ta tỉnh thức; có những ngày Chúa đến qua một người nghèo xin ta giúp đỡ; có những ngày Chúa đến qua sự im lặng của một nhà tạm; có những ngày Chúa đến qua một biến cố làm đảo lộn những kế hoạch ta đã tính toán rất kỹ. Điều quan trọng là chúng ta có nhận ra Người đang đi ngang qua hay không.
Tin Mừng nói Đức Giêsu đi để “rao giảng và loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa”. Chúa không đi vô định. Người đi với một sứ mạng. Và sứ mạng ấy là công bố rằng Thiên Chúa đang đến gần con người, rằng triều đại của tình yêu, sự thật, công chính, lòng thương xót và sự sống đã bắt đầu. Nước Thiên Chúa không phải là một vùng lãnh thổ trên bản đồ; Nước Thiên Chúa là nơi Thiên Chúa thực sự được nhìn nhận là Chúa của đời ta. Nước Thiên Chúa bắt đầu khi một người thôi trả thù và chọn tha thứ; Nước Thiên Chúa xuất hiện khi một người giàu biết mở tay cho người nghèo; Nước Thiên Chúa lớn lên khi một gia đình biết quỳ xuống cầu nguyện với nhau; Nước Thiên Chúa được biểu lộ khi một người bị xúc phạm không đáp lại bằng xúc phạm; Nước Thiên Chúa hiện diện khi người ta dám sống thật giữa một môi trường đầy gian dối; Nước Thiên Chúa đến khi một người đã sa ngã dám tin rằng lòng thương xót của Chúa lớn hơn tội lỗi của mình; Nước Thiên Chúa hiện diện khi chúng ta đặt Thiên Chúa ở trung tâm thay vì đặt tiền bạc, danh tiếng, quyền lực, cái tôi hay sự hưởng thụ ở trung tâm. Vì thế rao giảng Nước Thiên Chúa không chỉ là nói về Thiên Chúa nhưng là để cho Thiên Chúa cai trị cuộc đời mình. Một người có thể nói rất nhiều về Tin Mừng mà đời sống lại không giống Tin Mừng. Một người có thể thuộc nhiều câu Kinh Thánh mà lòng đầy cay đắng. Một người có thể làm nhiều việc đạo đức mà vẫn kiêu căng. Một người có thể hiện diện trong nhà thờ thường xuyên mà lại không bao giờ để Chúa bước vào những góc tối của tâm hồn mình. Tin Mừng hôm nay mời ta tự hỏi một câu rất thật: trong đời tôi, ai đang làm vua? Chúa hay cái tôi? Ý Chúa hay ý riêng? Chân lý hay quyền lợi? Tình yêu hay oán hận? Thiên Chúa hay tiền bạc? Khi trả lời thành thật câu hỏi ấy, chúng ta sẽ biết Nước Thiên Chúa đang ở đâu trong lòng mình.
Điều rất đẹp là Đức Giêsu không đi một mình. Tin Mừng nói: “Có Nhóm Mười Hai cùng đi với Người.” Đấng có thể cứu thế giới một mình lại muốn con người cộng tác. Đấng không cần ai vẫn gọi các môn đệ bước theo. Đây là một mầu nhiệm của tình yêu Thiên Chúa: Chúa muốn chúng ta cần đến nhau. Kitô giáo không phải là con đường cô độc của những cá nhân tìm sự thánh thiện riêng cho mình. Hội Thánh là một đoàn người cùng đi với Đức Kitô. Không ai tự mình làm nên Hội Thánh. Không linh mục nào một mình có thể xây dựng giáo xứ. Không giám mục nào một mình có thể chu toàn sứ mạng của giáo phận. Không giáo dân nào có thể nói: tôi chỉ cần Chúa, không cần cộng đoàn. Chúa Giêsu gọi Nhóm Mười Hai, nghĩa là Người thiết lập một cộng đoàn quanh Người. Và cộng đoàn ấy không hoàn hảo. Trong Nhóm Mười Hai có Phêrô nóng nảy và sau này chối Thầy; có Tôma hay nghi ngờ; có Giacôbê và Gioan từng muốn xin chỗ cao nhất; có Giuđa cuối cùng phản bội. Thế mà Chúa vẫn gọi họ, vẫn đi cùng họ, vẫn kiên nhẫn huấn luyện họ. Đó cũng là câu chuyện của Hội Thánh hôm nay. Chúng ta thường mơ về một cộng đoàn hoàn hảo trong đó mọi người dễ thương, hiểu nhau, không va chạm, không làm mình tổn thương. Nhưng một cộng đoàn như thế có lẽ chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng. Hội Thánh thật được làm nên bởi những người thật: có thánh thiện và yếu đuối, quảng đại và ích kỷ, nhiệt thành và mệt mỏi, khôn ngoan và vụng về. Điều giữ chúng ta lại với nhau không phải vì tất cả đều hợp tính nhau nhưng vì tất cả cùng được Đức Kitô gọi và cùng đi sau Người. Khi nhìn vào Hội Thánh chỉ bằng mắt người đời, ta dễ thất vọng. Nhưng khi nhìn Hội Thánh như đoàn người đang được Đức Kitô kiên nhẫn dẫn dắt, ta học được cách vừa yêu mến Hội Thánh vừa cầu nguyện cho Hội Thánh, vừa dấn thân vừa khiêm tốn, vừa xây dựng vừa biết tha thứ cho những giới hạn của nhau.
Rồi thánh Luca kể đến một nhóm người rất đặc biệt: những phụ nữ đi theo Đức Giêsu. Trong bối cảnh xã hội thời đó, chi tiết này thật đáng chú ý. Đức Giêsu không nhìn người phụ nữ như những con người thứ yếu. Trong hành trình loan báo Tin Mừng, họ hiện diện, họ được chữa lành, họ theo Chúa, họ phục vụ, họ đóng góp, họ trở thành những chứng nhân. Một trong những người được nêu tên đầu tiên là Maria Mađalêna, “người đã được giải thoát khỏi bảy quỷ”. Tin Mừng không kể chi tiết quá khứ của bà, và chúng ta cũng không nên tưởng tượng thêm điều Kinh Thánh không nói; nhưng một điều chắc chắn là bà đã biết thế nào là được giải thoát. Có một thời cuộc đời bà bị bóng tối chi phối, nhưng rồi Đức Giêsu đã bước vào và làm bà tự do. Và điều tuyệt đẹp nhất không phải chỉ là Maria được chữa lành, mà là sau khi được chữa lành, bà đi theo Đấng đã chữa mình. Đây chính là điểm chạm rất mạnh đối với đời sống chúng ta. Có biết bao lần chúng ta muốn Chúa giải quyết vấn đề nhưng lại không muốn theo Chúa. Ta muốn Chúa chữa bệnh nhưng không muốn thay đổi đời sống. Ta muốn Chúa giúp vượt qua khó khăn tài chính nhưng không muốn sống công bằng. Ta muốn Chúa đem bình an cho gia đình nhưng không muốn bỏ tính nóng nảy. Ta muốn Chúa tha thứ cho mình nhưng lại không muốn tha thứ cho người khác. Ta muốn lãnh ơn nhưng không muốn trở thành môn đệ. Maria Mađalêna cho thấy con đường khác: được chữa lành rồi bước theo. Được giải thoát rồi thuộc về Đấng giải thoát mình. Nhận ân sủng rồi biến cả cuộc đời thành một câu trả lời.
Có lẽ đây là một trong những căn bệnh thiêng liêng âm thầm nhất của người tín hữu: chúng ta quen nhận nhưng chậm đáp lại. Mỗi ngày chúng ta nhận biết bao điều từ Chúa mà ít khi ý thức. Một nhịp tim không phải do ta ra lệnh mà nó đập. Một hơi thở không phải do ta tự tạo. Một buổi sáng mở mắt ra là một ân huệ. Có người hôm qua còn nói cười hôm nay đã ra đi. Có người bằng tuổi chúng ta nhưng không còn đủ sức bước đi. Có người khát khao được nghe, được nhìn, được nói, được cử động những điều mà chúng ta đang có và xem như quá bình thường. Chúng ta được nuôi dưỡng bằng Thánh Thể, được nghe Lời Chúa, được tha tội, được sống trong Hội Thánh, được có những con người yêu thương mình. Bao nhiêu ân huệ! Nhưng câu hỏi không phải chỉ là “Chúa đã cho tôi những gì?” mà còn là “tôi đang làm gì với những gì Chúa đã cho?” Những người phụ nữ trong Tin Mừng hôm nay đã trả lời bằng cuộc sống: họ dùng chính những gì mình có để phục vụ Đức Giêsu và sứ mạng của Người. Ân sủng trở thành phục vụ. Biết ơn trở thành dấn thân. Được yêu trở thành yêu. Được cứu trở thành cộng tác vào việc cứu người khác.
Thánh Luca còn nhắc đến Gioanna, vợ ông Khuda, quản lý của vua Hêrôđê. Đây là một chi tiết rất thú vị. Một người thuộc gia đình có liên hệ với triều đình lại xuất hiện trong nhóm đi theo một vị Thầy nghèo thành Nadarét. Tin Mừng đã chạm đến những tầng lớp rất khác nhau. Maria Mađalêna có câu chuyện riêng; Gioanna đến từ một hoàn cảnh khác; Susanna lại là một con người khác; Nhóm Mười Hai có người đánh cá, người thu thuế và những cá tính khác biệt. Điều này nhắc chúng ta rằng chung quanh Đức Giêsu, mọi ranh giới xã hội đều trở nên thứ yếu. Người giàu và người nghèo, người có học và người ít học, người có địa vị và người vô danh đều cần ơn cứu độ như nhau. Trước mặt Chúa, không ai lớn vì tài khoản ngân hàng, cũng không ai nhỏ vì căn nhà nghèo; không ai cao vì chức vụ, cũng không ai thấp vì nghề nghiệp bình thường. Giá trị căn bản nhất của con người nằm ở chỗ họ là con Thiên Chúa và được Đức Kitô đổ máu cứu chuộc. Nếu thực sự tin điều ấy, thái độ của chúng ta đối với nhau sẽ thay đổi rất nhiều. Ta sẽ bớt khinh người nghèo; bớt sợ người quyền thế; bớt tâng bốc người có tiền; bớt coi thường người ít học; bớt phân loại con người theo những tiêu chuẩn thế gian. Chúa Giêsu có thể làm cho những con người rất khác nhau bước chung trên một con đường vì họ cùng nhìn về Người.
Tin Mừng còn nói các bà “đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giêsu và các môn đệ”. Một câu rất đơn giản nhưng chứa đựng một thần học rất đẹp về tiền bạc và của cải. Tin Mừng không nói tiền bạc tự nó là xấu. Vấn đề không phải ta có bao nhiêu nhưng là của cải đang phục vụ ai. Tiền bạc có thể trở thành thần tượng, nhưng tiền bạc cũng có thể trở thành khí cụ của Tin Mừng. Một đồng tiền dùng để mua ma túy và một đồng tiền dùng để mua thuốc cho người nghèo có cùng giá trị vật chất nhưng giá trị luân lý hoàn toàn khác. Một căn nhà có thể trở thành nơi phô trương giàu sang nhưng cũng có thể trở thành nơi đón tiếp người cô đơn. Một chiếc xe có thể phục vụ lòng kiêu hãnh nhưng cũng có thể đưa người bệnh đến bệnh viện. Một chiếc điện thoại có thể gieo tin giả, xúc phạm người khác, phát tán điều xấu, nhưng cũng có thể dùng để loan báo Lời Chúa, an ủi người đau khổ, nối kết những người đang cần giúp đỡ. Tài năng cũng vậy. Một giọng hát có thể dùng để tìm danh tiếng hoặc để giúp cộng đoàn cầu nguyện. Kiến thức có thể dùng để tự tôn hoặc để phục vụ. Quyền lực có thể dùng để thống trị hoặc để bảo vệ người yếu thế. Thời gian có thể bị tiêu tán trong vô ích hoặc trở thành món quà cho gia đình, cộng đoàn và người đau khổ. Câu hỏi của Tin Mừng không phải chỉ là “bạn có gì?” nhưng là “điều bạn có đang phục vụ Nước Thiên Chúa hay đang phục vụ cái tôi?”
Có một vẻ đẹp thầm lặng nơi những người phụ nữ hôm nay: họ không đứng trên bục giảng, không phải là Nhóm Mười Hai, không được kể là thực hiện phép lạ, nhưng công việc của họ rất cần thiết cho hành trình truyền giáo. Điều đó an ủi tất cả những ai đang làm những việc nhỏ bé và ít được biết đến trong Hội Thánh. Có những người suốt nhiều năm quét nhà thờ mà không ai biết tên. Có những bà mẹ dâng con cho Chúa qua từng kinh Kính Mừng trong đêm. Có những người lặng lẽ gửi một chút tiền cho công việc bác ái. Có người chở linh mục đi thăm bệnh nhân. Có người nấu một nồi cháo cho người nghèo. Có người âm thầm cầu nguyện cho người khác. Có ca viên đến tập hát sau một ngày làm việc mệt mỏi. Có giáo lý viên bỏ thời gian cuối tuần để dạy trẻ. Có người chăm sóc một linh mục già, một tu sĩ đau yếu, một cha mẹ đã mất trí nhớ. Có người không bao giờ xuất hiện trên sân khấu của cuộc đời nhưng trước mặt Thiên Chúa, công việc của họ có giá trị vô cùng. Chúng ta sống trong một thời đại người ta rất quan tâm đến việc được nhìn thấy: bao nhiêu lượt thích, bao nhiêu người theo dõi, bao nhiêu người biết đến tên mình. Nhưng Tin Mừng có một tiêu chuẩn khác. Thiên Chúa nhìn vào tình yêu. Một việc rất nhỏ làm vì yêu có thể lớn trước mặt Chúa hơn một công trình rất lớn được thực hiện chỉ để tìm tiếng khen. Những người phụ nữ hôm nay nhắc chúng ta rằng Hội Thánh được xây dựng không chỉ bởi những người đứng trước cộng đoàn nhưng còn bởi vô số đôi tay âm thầm phía sau. Và ngày sau hết, có lẽ chúng ta sẽ kinh ngạc khi thấy những người mà thế gian không bao giờ biết đến lại đứng rất gần Chúa vì họ đã yêu nhiều trong thinh lặng.
Điều này đưa chúng ta về với bài đọc thứ nhất. Thánh Phaolô tranh luận với một số người tại Côrintô không tin vào sự sống lại của kẻ chết. Ngài nói rất quyết liệt: nếu người chết không sống lại thì Đức Kitô cũng đã không sống lại; nếu Đức Kitô không sống lại thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng và đức tin của anh em cũng trống rỗng. Đây là một tuyên bố rất mạnh. Kitô giáo đứng hay ngã với mầu nhiệm Phục Sinh. Chúng ta không chỉ tin vào một ông Giêsu đã từng sống cách đây hai ngàn năm. Chúng ta tin vào Đức Giêsu Kitô đang sống. Thập giá không phải là chương cuối. Ngôi mộ không có lời cuối. Sự chết không có lời cuối. Tội lỗi không có lời cuối. Đêm tối không có lời cuối. Đức Kitô phục sinh mới là lời cuối của Thiên Chúa về số phận nhân loại. Và bởi thế, người Kitô hữu có một thứ hy vọng rất khác với sự lạc quan tâm lý. Lạc quan nói: rồi có thể mọi chuyện sẽ tốt hơn. Hy vọng Kitô giáo nói: ngay cả nếu một số chuyện ở đời này không tốt hơn theo cách ta mong muốn, Thiên Chúa vẫn có thể đưa chúng ta xuyên qua sự chết đến sự sống. Người tín hữu không phủ nhận đau khổ nhưng biết đau khổ không phải tận cùng. Người tín hữu vẫn khóc khi mất người thân nhưng khóc trong hy vọng. Người tín hữu vẫn đau khi bệnh tật nhưng biết thân xác này được định hướng về sự phục sinh. Người tín hữu vẫn gặp thất bại nhưng biết cuộc đời không được đo bằng một vài thành bại chóng qua. Người tín hữu có thể bị người đời quên lãng nhưng biết tên mình được ghi trong lòng Thiên Chúa.
Thánh Phaolô còn nói một câu khiến chúng ta phải suy nghĩ: “Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Kitô chỉ vì đời này mà thôi, thì chúng ta là những người đáng thương hơn hết.” Có một thứ Kitô giáo rất dễ rơi vào cám dỗ chỉ tìm Chúa vì đời này. Ta cầu nguyện để khỏe mạnh, để làm ăn thuận lợi, để con cái đỗ đạt, để tránh tai họa, để có công việc, để gia đình yên ổn. Những lời cầu xin ấy hoàn toàn chính đáng; chính Đức Giêsu cũng dạy ta xin Cha ban lương thực hằng ngày. Nhưng nếu đức tin của chúng ta dừng lại ở đó, nó trở nên quá nhỏ. Đức Kitô không chết và sống lại chỉ để ta có một cuộc đời dễ chịu hơn vài chục năm trên mặt đất. Người đến để giải thoát ta khỏi tội lỗi và sự chết, đưa ta vào sự sống đời đời của Thiên Chúa. Nếu ta chỉ theo Chúa khi Chúa ban thành công thì ngày thất bại ta sẽ bỏ Chúa. Nếu ta chỉ cầu nguyện khi thấy kết quả thì ngày cầu mãi không thấy kết quả ta sẽ chán nản. Nếu ta chỉ tin Chúa để được chữa bệnh thì ngày bác sĩ nói căn bệnh không thể chữa, đức tin sẽ sụp đổ. Nhưng nếu chúng ta tin Đức Kitô phục sinh, ngay cả khi phải đi qua thập giá, ta vẫn biết phía sau thập giá là bình minh Phục Sinh. Đây là lý do các thánh tử đạo có thể bước đến cái chết mà vẫn hát. Không phải vì họ không sợ đau, nhưng vì họ biết cái chết không còn là bức tường, nó đã trở thành cánh cửa.
Thánh Phaolô kết luận: “Nhưng không phải thế! Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu.” Những chữ “nhưng không phải thế” giống như một tia sáng xé ngang đêm tối. Giả như cuộc đời chỉ có đau khổ, nhưng không phải thế. Giả như ngôi mộ là kết thúc, nhưng không phải thế. Giả như tội lỗi là không thể tha thứ, nhưng không phải thế. Giả như những vết thương quá khứ buộc chúng ta mãi mãi phải sống như nạn nhân, nhưng không phải thế. Giả như thất bại cuối cùng quyết định giá trị con người, nhưng không phải thế. Đức Kitô đã sống lại. Đó là trung tâm của đức tin. Và nếu Người đã sống lại, mọi sự có thể bắt đầu lại. Maria Mađalêna là bằng chứng sống động về điều ấy: quá khứ không còn giữ bà lại, vì Đức Giêsu đã giải thoát bà. Từ một người mang những xiềng xích vô hình, bà trở thành người đi bên cạnh Chúa. Rồi đến buổi sáng Phục Sinh, chính bà sẽ trở thành một trong những chứng nhân đầu tiên gặp Đấng Phục Sinh. Ân sủng Thiên Chúa có một sức mạnh kỳ diệu: Chúa không chỉ cứu ta “khỏi” một điều gì, Người cứu ta “để” một sứ mạng. Người không chỉ kéo ta ra khỏi vực sâu; Người đặt chân ta lên đường. Người không chỉ tha thứ tội lỗi; Người trao cho ta một tương lai.
Vì thế, có lẽ hôm nay mỗi người nên nhìn lại lịch sử đời mình và hỏi: Chúa đã chữa tôi khỏi điều gì? Không nhất thiết phải là một phép lạ thể lý. Có người đã được Chúa kéo ra khỏi sự tuyệt vọng. Có người được cứu khỏi một mối quan hệ sai lạc. Có người được giải thoát khỏi nghiện ngập. Có người từng sống nhiều năm trong oán hận nhưng nhờ ơn Chúa đã tha thứ. Có người từng rất xa Hội Thánh nhưng một biến cố nào đó đưa họ trở về. Có người đã tưởng hôn nhân tan vỡ nhưng rồi Chúa cho họ học lại cách yêu. Có người đã từng kiêu căng và qua thất bại học được khiêm nhường. Có người từng nghĩ tiền bạc là tất cả nhưng một cơn bệnh cho họ hiểu sự sống quý hơn tài khoản. Có người từng chạy theo tiếng khen và cuối cùng nhận ra chỉ ánh mắt Thiên Chúa mới đủ. Mỗi người đều có một “Ai Cập” mà Chúa đã dẫn mình ra; một “biển đỏ” Chúa đã mở; một “sa mạc” Chúa đã nuôi; một “ngôi mộ” Chúa đã giúp mình bước ra. Nhưng đừng chỉ kể câu chuyện ấy bằng hoài niệm. Nếu Chúa đã cứu ta, ta đang dùng đời mình thế nào để phục vụ Người?
Những người phụ nữ trong Tin Mừng đã trả lời rất cụ thể: họ đi theo Chúa và lấy của cải của mình mà phục vụ. Kitô giáo chân thật luôn trở thành một điều gì đó rất cụ thể. Yêu Chúa không thể chỉ ở cảm xúc. Nếu yêu Chúa, ta sẽ dành thời giờ cho Người. Nếu yêu người nghèo, ta sẽ chia sẻ. Nếu yêu gia đình, ta sẽ bớt cầm điện thoại và dành thời gian thật sự cho nhau. Nếu yêu Hội Thánh, ta sẽ không chỉ phê bình nhưng góp phần xây dựng. Nếu tin vào sự sống đời đời, ta sẽ sắp xếp lại những ưu tiên của cuộc đời. Nếu tin người bên cạnh là hình ảnh Thiên Chúa, ta sẽ bớt nói những lời làm họ tổn thương. Đức tin không có hành động rất dễ trở thành một lớp trang điểm tôn giáo bên ngoài một đời sống vẫn hoàn toàn do ích kỷ điều khiển. Những phụ nữ hôm nay không giảng một bài nào được Tin Mừng ghi lại, nhưng đời họ là một bài giảng: Chúa đã làm điều lớn lao cho tôi, nên từ nay những gì tôi có thuộc về sứ mạng của Người.
Và có một chi tiết khác rất đáng suy nghĩ: họ đi “cùng” Đức Giêsu. Kitô hữu không chỉ làm việc “cho” Chúa; chúng ta được mời gọi sống “với” Chúa. Đây là sự khác biệt rất lớn. Một người có thể làm rất nhiều công việc tông đồ mà tâm hồn lại xa Chúa. Ta có thể tổ chức chương trình, hội họp, xây dựng, giảng dạy, làm bác ái, điều hành biết bao hoạt động nhưng nếu không còn cầu nguyện, không còn ngồi bên Chúa, không còn để Người yêu mình, công việc dần trở thành gánh nặng. Chúa Giêsu không trước hết tuyển nhân viên; Người gọi môn đệ. Và môn đệ trước hết là người “ở với Người”. Mọi phục vụ phải chảy ra từ tương quan ấy. Nếu không, ta sẽ dễ kiệt sức, dễ so bì, dễ tự ái khi không được ghi nhận, dễ ghen tị khi người khác được khen, dễ buồn khi công việc không thành công theo ý mình. Nhưng nếu ta làm vì đã ở với Chúa, phần thưởng sâu xa nhất không phải là lời khen mà chính là được cùng Người trên đường.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với linh mục, tu sĩ và tất cả những ai đang phục vụ Hội Thánh. Có một nghịch lý nguy hiểm: ta có thể dành cả ngày nói về Chúa mà không nói với Chúa; cả ngày làm việc của Chúa nhưng quên chính Chúa; cả ngày chăm sóc linh hồn người khác nhưng bỏ đói linh hồn mình. Tin Mừng hôm nay đưa ta trở về điều căn bản: đi cùng Đức Giêsu. Người đi trước, ta đi sau. Sứ mạng là của Người, không phải của ta. Hội Thánh là của Người, không phải của ta. Giáo xứ là của Người. Cộng đoàn là của Người. Thành công thuộc về Người, và cả những lúc dường như thất bại cũng nằm trong tay Người. Biết như thế, người mục tử được giải thoát khỏi ảo tưởng phải cứu cả thế giới bằng sức riêng. Ta chỉ là người cộng tác. Có những hạt giống ta gieo hôm nay nhưng người khác sẽ gặt. Có những bài giảng ta tưởng chẳng ai nhớ nhưng nhiều năm sau một người vẫn mang trong lòng. Có một lời an ủi ta nói rồi quên nhưng với người nghe nó trở thành điểm tựa để họ không tuyệt vọng. Có một kinh nguyện âm thầm mà ta không bao giờ biết nó đã đem lại ơn gì. Nước Thiên Chúa lớn lên theo cách của Thiên Chúa.
Thánh vịnh đáp ca hôm nay cất lên một niềm khát vọng thật sâu: khi được nhìn thấy thánh nhan Chúa, con sẽ thỏa lòng. Đây mới là cùng đích của con người. Trái tim chúng ta thường nghĩ nó sẽ no thỏa nếu có thêm chút tiền, thêm chút danh tiếng, thêm một chức vụ, thêm một căn nhà, thêm một chuyến đi, thêm người khen mình. Nhưng mỗi lần đạt được điều mong muốn, sau một thời gian, một khoảng trống mới lại xuất hiện. Thánh Augustinô đã diễn tả kinh nghiệm ấy khi nói tâm hồn con người không nghỉ yên cho đến khi nghỉ yên trong Thiên Chúa. Chúng ta được tạo dựng cho điều lớn hơn mọi sự trên đời. Không một thụ tạo hữu hạn nào có thể lấp đầy một trái tim được dựng nên cho Đấng vô hạn. Vì thế người giàu vẫn có thể cô đơn. Người nổi tiếng vẫn có thể trống rỗng. Người có quyền lực vẫn có thể sợ hãi. Chỉ Thiên Chúa mới đủ. Và Phục Sinh bảo đảm rằng một ngày kia, nếu trung thành, chúng ta sẽ được nhìn thấy Người mặt đối mặt. Đó là quê hương thật của chúng ta.
Khi ý thức điều này, ta bắt đầu biết đặt mọi sự vào đúng chỗ. Sức khỏe quý nhưng không phải tuyệt đối. Tiền cần nhưng không phải ông chủ. Danh dự tốt nhưng không phải căn tính. Thành công đáng vui nhưng không phải cứu độ. Thất bại đau nhưng không phải tận thế. Cái chết đáng sợ theo bản năng con người nhưng không còn là chiến thắng cuối cùng. Đức Kitô phục sinh đặt một chân trời mới phía trước chúng ta. Và dưới ánh sáng ấy, cuộc sống hôm nay trở thành hành trình chuẩn bị cho cuộc gặp gỡ. Ta vẫn làm việc, xây dựng, yêu thương, chăm sóc gia đình, phục vụ xã hội, nhưng làm tất cả với một trái tim tự do hơn vì biết mọi sự chóng qua. Những gì tồn tại vĩnh viễn là tình yêu.
Có một câu hỏi cuối cùng chúng ta nên mang theo từ Lời Chúa hôm nay: nếu ngày mai tôi đứng trước mặt Chúa, điều gì hôm nay sẽ trở nên quan trọng và điều gì sẽ trở nên rất nhỏ? Có lẽ rất nhiều điều đang khiến ta mất ngủ sẽ bỗng trở nên không đáng kể. Ai hơn ai, ai nói xấu mình, ai được khen hơn mình, ai có xe đẹp hơn, ai có chức lớn hơn, ai thắng một cuộc tranh luận… tất cả sẽ nhỏ lại. Nhưng một người ta đã tha thứ sẽ trở nên quan trọng. Một người nghèo ta đã giúp sẽ quan trọng. Một lời xin lỗi ta dám nói sẽ quan trọng. Một người đang cô đơn mà ta đã ngồi cạnh sẽ quan trọng. Một Thánh lễ ta tham dự với lòng yêu mến sẽ quan trọng. Một lần ta chọn trung thực khi có thể gian dối sẽ quan trọng. Một lần ta đứng dậy sau tội lỗi và quay về với Chúa sẽ quan trọng. Một hy sinh không ai biết sẽ quan trọng. Một chén nước trao vì yêu sẽ không bị quên trước mặt Thiên Chúa.
Tin Mừng hôm nay rất ngắn nhưng mở ra một con đường sống: Đức Giêsu đang đi. Người rao giảng Nước Thiên Chúa. Những ai đã được Người chữa lành bước đi cùng Người. Họ không giữ ân huệ cho riêng mình. Họ đem chính con người, thời gian, của cải và cuộc đời để phục vụ sứ mạng. Và tất cả điều ấy được đặt trên nền móng không lay chuyển mà thánh Phaolô công bố: Đức Kitô đã sống lại. Vì Người sống, chúng ta có thể hy vọng. Vì Người sống, quá khứ không phải là bản án chung thân. Vì Người sống, tội lỗi có thể được tha. Vì Người sống, một đời tưởng đã đổ vỡ có thể được dựng lại. Vì Người sống, người đau khổ không đau khổ một mình. Vì Người sống, người hấp hối không đi vào hư vô. Vì Người sống, những người thân yêu đã chết trong Chúa không biến mất nhưng đang chờ ngày phục sinh. Vì Người sống, mọi việc bác ái làm trong âm thầm đều được ghi nhận. Vì Người sống, không một giọt nước mắt nào của người tín hữu bị lãng phí. Vì Người sống, Hội Thánh vẫn tiếp tục bước qua lịch sử bất chấp mọi yếu đuối của con người. Vì Người sống, mỗi buổi sáng đều có thể là một khởi đầu mới.
Có thể hôm nay có người đang đọc những dòng này trong một giai đoạn rất tối. Có thể cha mẹ đang lo cho một đứa con đi sai đường. Có thể một gia đình đang đứng trước đổ vỡ. Có thể một bệnh nhân đang nhận kết quả không mong muốn. Có thể một người đang mất việc. Có thể một linh mục cảm thấy công việc mục vụ không sinh hoa trái. Có thể một người đã cầu nguyện quá lâu mà Chúa dường như vẫn im lặng. Xin hãy nhớ lời thánh Phaolô: “Nhưng Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết.” Đừng để hoàn cảnh hiện tại viết câu cuối của đời mình. Câu cuối thuộc về Thiên Chúa. Thứ Sáu Tuần Thánh tưởng như là câu cuối, nhưng rồi có sáng Phục Sinh. Ngôi mộ bị niêm phong tưởng là dấu chấm hết, nhưng viên đá đã lăn ra. Các môn đệ tưởng mọi hy vọng đã chết, nhưng Đấng họ khóc thương đã đứng giữa họ và nói: “Bình an cho anh em.” Thiên Chúa chuyên mở những con đường ở nơi con người chỉ nhìn thấy bức tường.
Và nếu hôm nay chúng ta đang ở một giai đoạn bình an, đừng để bình an biến thành ngủ quên. Hãy nhìn những người phụ nữ đi theo Đức Giêsu và hỏi: tôi có gì có thể dâng? Tôi có thời gian không? Tôi có kiến thức không? Tôi có khả năng lắng nghe không? Tôi có tiền bạc không? Tôi có sức khỏe không? Tôi có một căn nhà có thể mở cửa đón người khác không? Tôi có khả năng viết, nói, hát, dạy học, nấu ăn, chữa bệnh, sửa máy, lái xe, chăm sóc trẻ em hay đồng hành với người già không? Không ai quá nghèo đến mức không có gì để cho. Một người nằm liệt giường vẫn có thể cầu nguyện. Một cụ già không đi đâu được vẫn có thể lần chuỗi cho Hội Thánh. Một người nghèo vẫn có thể trao một nụ cười. Một đứa trẻ có thể chia sẻ món đồ chơi. Một người đau khổ có thể dâng đau khổ kết hợp với thập giá Chúa. Trong Nước Thiên Chúa không có đời sống nào vô dụng nếu nó được trao cho Chúa.
Xin Chúa cho chúng ta đừng chỉ là những người đứng bên đường xem Đức Giêsu đi qua. Xin cho ta can đảm bước vào đoàn người ấy. Có Nhóm Mười Hai với những yếu đuối của họ. Có Maria Mađalêna mang ký ức về một đời được giải thoát. Có Gioanna với hoàn cảnh xã hội của mình. Có Susanna và nhiều người không được lịch sử ghi lại đầy đủ nhưng tên họ ở trong trái tim Thiên Chúa. Và hôm nay còn một chỗ trống dành cho mỗi chúng ta. Đức Giêsu vẫn đang đi qua các thành phố và làng mạc của thời đại này; Người vẫn muốn Tin Mừng đến với những người chưa biết hy vọng; Người vẫn muốn người đói được ăn, người cô đơn được thăm viếng, người thất vọng được an ủi, người tội lỗi được nghe về lòng thương xót, người trẻ được hướng dẫn, gia đình được nâng đỡ, người hấp hối được đồng hành. Và Người vẫn hỏi chúng ta bằng sự dịu dàng của Tin Mừng: “Con có muốn đi với Thầy không?”
Nếu chúng ta đã được chữa lành, hãy đi với Người. Nếu chúng ta đã được tha thứ, hãy đi với Người. Nếu chúng ta vẫn còn mang thương tích, hãy cứ đi với Người. Nếu chúng ta nghèo, hãy mang cái nghèo của mình đi với Người. Nếu chúng ta giàu, hãy đem của cải phục vụ Người. Nếu chúng ta yếu đuối, hãy đem chính sự yếu đuối ấy đến với Người. Không cần đợi mình hoàn hảo mới bắt đầu. Các môn đệ ngày xưa cũng chưa hoàn hảo khi được gọi. Maria Mađalêna không xóa được quá khứ nhưng quá khứ không còn làm chủ tương lai bà. Chúa chỉ cần một trái tim sẵn sàng.
Lạy Chúa Giêsu Kitô phục sinh, chúng con tin Chúa đang sống. Xin đừng để đức tin của chúng con chỉ là một thói quen tôn giáo nhưng trở thành một cuộc gặp gỡ thực sự với Chúa. Xin bước vào những góc tối trong lòng chúng con, chữa lành những thương tích chúng con giấu kín, tháo cởi những xiềng xích chúng con không đủ sức tự tháo, tha thứ những lỗi lầm chúng con thành tâm thống hối và làm cho chúng con đứng dậy. Nhưng lạy Chúa, xin đừng chỉ chữa chúng con để chúng con tiếp tục sống cho riêng mình. Xin chữa chúng con để chúng con có thể bước theo Chúa. Xin ban cho chúng con trái tim của Maria Mađalêna, biết nhớ mình đã được giải thoát khỏi đâu để không bao giờ kiêu căng. Xin ban cho chúng con lòng quảng đại của Gioanna, Susanna và những người phụ nữ đã lấy những gì mình có mà phục vụ công cuộc Tin Mừng. Xin ban cho chúng con một đức tin vững vàng vào sự Phục Sinh, để giữa những ngày u tối chúng con vẫn không tuyệt vọng, giữa mất mát vẫn còn hy vọng, giữa nước mắt vẫn còn tin vào bình minh, giữa cái chết vẫn biết rằng sự sống mới là lời cuối cùng của Thiên Chúa.
Xin cho mỗi buổi sáng chúng con biết nói: hôm nay Chúa đang đi, con xin đi với Chúa. Hôm nay Chúa muốn đến với một người đau khổ, xin dùng đôi chân con. Hôm nay Chúa muốn an ủi một người buồn, xin dùng lời nói của con. Hôm nay Chúa muốn nuôi một người đói, xin dùng đôi tay con. Hôm nay Chúa muốn tha thứ cho một người, xin dùng trái tim con. Hôm nay Chúa muốn Tin Mừng được nghe giữa một thế giới đầy tin dữ, xin dùng cuộc đời con. Và đến ngày hành trình trên mặt đất kết thúc, khi mọi con đường trần gian dừng lại, xin cho chúng con được nghe tiếng Chúa gọi bước qua cánh cửa cuối cùng, để điều tác giả Thánh vịnh hằng khát mong trở thành sự thật nơi chúng con: khi thức giấc, chúng con được thỏa lòng vì được nhìn thấy thánh nhan Chúa. Bởi vì Chúa đã sống lại; và vì Chúa sống, những ai thuộc về Chúa cũng sẽ được sống. Amen.
Lm. Anmai, CSsR
ĐƯỢC CHỮA LÀNH ĐỂ TRỞ THÀNH NGƯỜI ĐỒNG HÀNH VÀ PHỤC VỤ
Tin Mừng theo thánh Luca 8,1-3 là một đoạn rất ngắn, chỉ vài câu thôi, nhưng nếu dừng lại thật lâu, chúng ta sẽ nhận ra trong đó có cả một bức tranh tuyệt đẹp về Hội Thánh, về đời sống môn đệ, về lòng biết ơn, về sự cộng tác và nhất là về cách Đức Giêsu xây dựng Nước Thiên Chúa giữa cuộc đời. Thánh Luca kể rằng Đức Giêsu “rảo qua các thành phố, làng mạc, rao giảng và loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa”. Người không ngồi yên một chỗ chờ người ta tìm đến mình. Người lên đường. Người bước vào những con đường bụi bặm của Galilê. Người đi qua thành thị và làng quê. Người tìm đến con người trong chính nơi họ đang sống, đang làm việc, đang đau khổ, đang mang những câu hỏi của mình. Và điều rất đáng chú ý là Đức Giêsu không đi một mình. Cùng đi với Người có Nhóm Mười Hai, và còn có “mấy người phụ nữ đã được Người trừ quỷ và chữa bệnh”, trong đó Tin Mừng nêu tên Maria Mácđala, Gioanna, Susanna và nhiều bà khác. Các bà “đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giêsu và các môn đệ”. Một đoạn Tin Mừng tưởng như chỉ ghi lại một chi tiết hậu trường của hành trình truyền giáo, nhưng thật ra lại mở ra một linh đạo rất sâu: người đã nhận được ân sủng thì không giữ ân sủng lại cho riêng mình; người được chữa lành sẽ học cách trở thành người phục vụ; người đã gặp Đức Kitô sẽ muốn bước đi với Đức Kitô; người đã được Chúa cứu ra khỏi những vùng tối của cuộc đời sẽ muốn dùng chính cuộc đời mình để cộng tác cho ánh sáng của Tin Mừng được lan rộng hơn.
Trước hết, Tin Mừng cho chúng ta thấy một Đức Giêsu luôn ở trong tư thế lên đường. Người “rảo qua các thành phố, làng mạc”. Động từ ấy gợi lên một cuộc đời không khép kín, không tìm sự an toàn, không đóng khung trong một không gian quen thuộc. Đức Giêsu không chỉ rao giảng nơi những hội đường danh tiếng, không chỉ tìm đến những trung tâm lớn, nhưng Người đi cả vào thành phố lẫn làng mạc. Nghĩa là không có nơi nào quá nhỏ bé đối với tình yêu Thiên Chúa, không có con người nào quá tầm thường để Đức Giêsu không muốn gặp. Có những làng quê chẳng ai biết tên, có những gia đình chẳng có ảnh hưởng gì, có những con người hoàn toàn vô danh trong lịch sử, nhưng đối với Đức Giêsu, họ vẫn đáng để Người bước tới. Nước Thiên Chúa không chỉ dành cho những nơi sang trọng, những con người có học thức, những người có tiếng nói trong xã hội. Nước Thiên Chúa được loan báo cho tất cả. Chính điều đó chất vấn mỗi người chúng ta: đời sống Kitô hữu của chúng ta có đang là một đời sống “lên đường” không, hay chúng ta đang biến đức tin thành một nơi trú ẩn an toàn cho riêng mình? Chúng ta có sẵn sàng bước ra khỏi sự tiện nghi của bản thân để đến với một người cô đơn, một người bệnh tật, một gia đình đang gặp khó khăn, một người đã lâu không đến nhà thờ, một người đang đau khổ vì đổ vỡ, hay không? Nhiều khi chúng ta tưởng truyền giáo phải là làm những việc thật lớn. Nhưng Đức Giêsu cho thấy truyền giáo trước hết là bước đi. Bước khỏi mình. Bước về phía người khác. Bước vào câu chuyện của họ. Bước đến nơi họ đang đau. Và đem đến đó một chút Tin Mừng.
Thánh Luca còn nói Đức Giêsu “rao giảng và loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa”. Người không loan báo chính mình theo nghĩa tìm danh tiếng cho bản thân. Người loan báo Nước Thiên Chúa, nghĩa là loan báo rằng Thiên Chúa đang đến gần con người, Thiên Chúa yêu thương con người, Thiên Chúa đang chữa lành, tha thứ, giải thoát và mở một con đường mới cho con người. Tin Mừng không trước hết là một hệ thống những điều phải thuộc lòng, nhưng là một tin vui phải được sống và được trao đi: Thiên Chúa vẫn yêu con người. Có lẽ thế giới hôm nay chưa bao giờ thiếu thông tin, nhưng lại rất thiếu tin vui. Mỗi ngày người ta đọc hàng trăm bản tin, nghe hàng nghìn lời nói, nhận vô số thông báo từ điện thoại và mạng xã hội, nhưng lòng người vẫn có thể rơi vào mệt mỏi, lo âu, mất phương hướng. Trong một thế giới như thế, người Kitô hữu được mời gọi trở thành người mang Tin Mừng. Không phải bằng những khẩu hiệu lớn, nhưng bằng một cách sống khiến người khác cảm thấy rằng họ vẫn đáng được yêu, họ vẫn còn hy vọng, họ vẫn có thể bắt đầu lại. Một lời tha thứ có thể là Tin Mừng. Một cuộc viếng thăm người đau yếu có thể là Tin Mừng. Một sự im lặng lắng nghe người đang đau khổ có thể là Tin Mừng. Một bữa cơm được chia sẻ với người nghèo có thể là Tin Mừng. Một lời nói không làm tổn thương người khác giữa lúc mình đang giận cũng có thể là Tin Mừng. Nước Thiên Chúa bắt đầu rất âm thầm như thế.
Nhưng một chi tiết thật đẹp của đoạn Tin Mừng hôm nay là Đức Giêsu không làm mọi sự một mình. Bên cạnh Người có Nhóm Mười Hai. Bên cạnh Nhóm Mười Hai còn có những người phụ nữ. Đây là một hình ảnh rất quan trọng về cộng đoàn môn đệ. Tin Mừng không phải là công việc của một cá nhân tài giỏi. Sứ vụ không phải là sân khấu để một người chứng minh khả năng của mình. Ngay chính Đức Giêsu cũng quy tụ người khác và cho họ được dự phần vào hành trình của Người. Đây là một bài học rất lớn cho đời sống Hội Thánh. Có những lúc chúng ta vô tình nghĩ rằng người này quan trọng hơn người kia, công việc này cao quý hơn công việc kia, người đứng trên bục giảng quan trọng hơn người âm thầm chuẩn bị phía sau. Nhưng Tin Mừng hôm nay phá vỡ cái nhìn ấy. Trong đoàn người đi theo Đức Giêsu có các Tông đồ, có những người phụ nữ, có những người được nhắc tên và có cả “nhiều bà khác nữa” chẳng được ghi tên. Người thì rao giảng, người thì phục vụ bằng tài sản mình có, người hiện diện công khai, người âm thầm phía sau. Nhưng tất cả đều góp phần để sứ vụ của Đức Giêsu được thực hiện. Hội Thánh cũng vậy. Một giáo xứ không chỉ được xây dựng bởi linh mục. Một cộng đoàn không chỉ tồn tại nhờ vài người đứng đầu. Có biết bao nhiêu người chẳng bao giờ được nhắc tên: người quét sân nhà thờ, người cắm hoa, người giữ xe, người dạy giáo lý, người âm thầm đóng góp, người thăm bệnh nhân, người cầu nguyện cho cộng đoàn, người chuẩn bị từng chiếc ghế, người lau từng ô cửa, người chăm sóc những người nghèo. Có thể họ chẳng bao giờ đứng trước micro, nhưng trong mắt Thiên Chúa, sự đóng góp âm thầm ấy vô cùng quý giá.
Đáng suy nghĩ hơn nữa là thánh Luca nói những phụ nữ này là những người “đã được Người trừ quỷ và chữa bệnh”. Nghĩa là trước khi trở thành người phục vụ, họ từng là những người cần được cứu giúp. Trước khi trở thành người đồng hành với Đức Giêsu, họ từng có những vết thương. Maria Mácđala được nhắc đến như người đã được giải thoát khỏi bảy quỷ. Dù chúng ta không nên suy diễn vượt quá điều Tin Mừng nói, chi tiết ấy đủ để cho thấy chị đã từng trải qua một cuộc giải thoát rất sâu xa. Cuộc đời của chị đã có một “trước” và một “sau” khi gặp Đức Giêsu. Và đây là điều rất đẹp trong cách Thiên Chúa làm việc: Người không chỉ chữa lành một con người rồi để họ trở về đời sống cũ như thể chẳng có gì xảy ra. Ân sủng mở ra một hành trình mới. Người được chữa lành trở thành môn đệ. Người được giải thoát trở thành người đồng hành. Người đã từng cần người khác nâng mình lên, nay lại học cách nâng đỡ người khác. Đó chính là logic của lòng biết ơn Kitô giáo. Chúng ta không thể trả lại cho Thiên Chúa những gì Người đã ban, nhưng chúng ta có thể biến ân huệ mình nhận được thành một ân huệ cho người khác.
Có lẽ mỗi người trong chúng ta đều có một câu chuyện như thế, dù không phải lúc nào chúng ta cũng nhận ra. Có những lúc Chúa đã kéo chúng ta ra khỏi một hoàn cảnh tưởng như không có đường thoát. Có khi Người cứu chúng ta khỏi một chọn lựa sai. Có khi Người giữ gìn một gia đình khỏi tan vỡ. Có khi Người cho chúng ta gặp đúng một người vào thời điểm rất cần thiết. Có khi Người chữa lành một vết thương trong tâm hồn mà chẳng ai biết. Có khi Người cho chúng ta sức mạnh đi qua một biến cố tưởng như không chịu nổi. Có khi đơn giản là Người đã kiên nhẫn với chúng ta sau rất nhiều lần chúng ta yếu đuối. Nhưng điều dễ xảy ra là chúng ta nhận ơn rồi quên. Khi đau khổ thì cầu nguyện thật nhiều, khi bình an trở lại thì Chúa dần biến thành người xa lạ. Khi bệnh thì khẩn khoản xin Chúa, khi khỏe rồi lại sống như thể mọi sự chỉ là điều đương nhiên. Những người phụ nữ trong Tin Mừng hôm nay dạy chúng ta một thái độ khác: họ đã được chữa lành, và họ bước theo. Họ đã nhận ơn, và họ phục vụ. Họ đã được nâng dậy, và họ dùng đời mình để cộng tác với Đức Giêsu.
Tin Mừng ghi một chi tiết thật cụ thể: “Các bà đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giêsu và các môn đệ.” Đức tin ở đây không dừng ở cảm xúc. Lòng biết ơn được biến thành sự chia sẻ rất thực tế. Họ không chỉ nói: “Lạy Thầy, con biết ơn Thầy.” Họ lấy chính những gì thuộc về mình để phục vụ sứ vụ. Và chúng ta phải hiểu chữ “của cải” theo một nghĩa rất rộng. Tất nhiên đó có thể là tiền bạc, lương thực, phương tiện vật chất cần thiết cho một đoàn truyền giáo. Nhưng đối với người môn đệ hôm nay, “của cải” còn là thời giờ, khả năng, kiến thức, sức khỏe, kinh nghiệm, sự kiên nhẫn, các mối tương quan, đôi bàn tay, tiếng nói, trí óc, và thậm chí cả những vết thương đã được chữa lành. Tất cả đều có thể trở thành điều chúng ta dâng cho Chúa. Có người không có nhiều tiền, nhưng có thời gian để ngồi với người già. Có người không thể làm việc lớn, nhưng có thể gọi điện hỏi thăm một người đang cô đơn. Có người không giỏi nói, nhưng có đôi tay sẵn sàng phục vụ. Có người từng trải qua đau khổ và vì thế có khả năng đồng cảm đặc biệt với những người cũng đang đau. Có người có kiến thức và có thể dùng kiến thức ấy để giúp người trẻ. Có người có phương tiện và có thể âm thầm hỗ trợ những công việc bác ái. Điều quan trọng không phải chúng ta có nhiều hay ít, nhưng là chúng ta có sẵn lòng đặt những gì mình có vào tay Chúa hay không.
Một điểm rất đáng chú ý nữa là những người phụ nữ được thánh Luca nhắc đến đến từ những hoàn cảnh rất khác nhau. Maria Mácđala mang một quá khứ được đánh dấu bởi kinh nghiệm giải thoát. Gioanna lại là vợ của Khu-da, quản lý của vua Hêrôđê, nghĩa là bà có liên hệ với một môi trường xã hội hoàn toàn khác. Susanna được nhắc tên nhưng chúng ta hầu như không biết thêm gì. Rồi còn “nhiều bà khác nữa”. Họ khác nhau về hoàn cảnh, kinh nghiệm, địa vị và lịch sử đời mình, nhưng tất cả cùng đi sau một Đức Giêsu. Đó chính là vẻ đẹp của Hội Thánh. Hội Thánh không phải là cộng đoàn của những người giống nhau. Hội Thánh là nơi những người rất khác nhau tìm được một điểm chung nơi Đức Kitô. Người giàu và người nghèo, người có học và người ít học, người từng mang một quá khứ phức tạp và người có một đời sống bình thường, người có địa vị xã hội và người chẳng ai biết tới, tất cả có thể ngồi chung một bàn vì cùng được Chúa yêu. Sacred Space cũng gợi lên chính nét đặc biệt ấy khi nhận xét rằng đoàn người quanh Đức Giêsu là một cộng đoàn rất đa dạng, những người mà trong mắt xã hội có thể chẳng có nhiều điểm chung, nhưng tình yêu dành cho Đức Giêsu đã đưa họ lại gần nhau.
Điều này cũng đặt một câu hỏi rất khó cho đời sống cộng đoàn của chúng ta hôm nay: chúng ta có thực sự để Đức Kitô trở thành điểm nối kết mình với người khác không? Hay chúng ta chỉ dễ chịu với những người giống mình? Người cùng tuổi, cùng suy nghĩ, cùng địa vị, cùng quan điểm thì dễ thân. Nhưng người khác mình thì rất khó. Có khi chúng ta đi lễ chung một nhà thờ nhưng lòng lại xa nhau. Có khi cùng đọc kinh nhưng vẫn mang trong lòng những định kiến, những chia rẽ, những vết thương không chịu chữa lành. Có khi chúng ta nói nhiều về hiệp nhất nhưng lại chỉ muốn hiệp nhất với những người đồng ý với mình. Tin Mừng hôm nay nhắc rằng cộng đoàn của Đức Giêsu ngay từ đầu đã không phải là cộng đoàn đồng nhất, mà là cộng đoàn hiệp thông. Hiệp thông không có nghĩa mọi người giống nhau. Hiệp thông nghĩa là dù khác nhau nhưng đều nhìn về một Đức Kitô, cùng bước theo một Đức Kitô, cùng phục vụ một Nước Thiên Chúa.
Chúng ta cũng cần suy nghĩ thật sâu về cách Đức Giêsu nhìn và đón nhận những người phụ nữ trong đoạn Tin Mừng này. Trong bối cảnh xã hội thời ấy, việc phụ nữ đi theo một rabbi trên hành trình truyền giáo là một điều rất đáng chú ý. Thế nhưng Đức Giêsu không nhìn họ như những nhân vật bên lề. Người đón nhận họ vào cộng đoàn môn đệ. Họ có chỗ trong hành trình Tin Mừng. Họ không phải chỉ là khán giả. Họ là những người cộng tác. Điều này cho thấy Đức Giêsu nhìn con người không trước hết qua những nhãn dán xã hội, nhưng qua phẩm giá và khả năng đáp lại tiếng gọi của Thiên Chúa. Trong Người, những ranh giới khiến con người coi thường nhau bắt đầu bị phá vỡ. Điều ấy vẫn còn nguyên tính thời sự. Trong đời sống hôm nay, biết bao lần con người bị đánh giá vì giới tính, hoàn cảnh gia đình, nghề nghiệp, trình độ, quá khứ hoặc danh tiếng. Nhưng Đức Giêsu nhìn sâu hơn. Người thấy nơi mỗi người một con người có thể được chữa lành, được biến đổi và trở thành môn đệ.
Maria Mácđala là một minh chứng tuyệt đẹp. Điều định nghĩa chị không phải là bóng tối đã từng trải qua, nhưng là Đấng đã giải thoát chị. Đây là một chân lý rất quan trọng đối với đời sống thiêng liêng: quá khứ của chúng ta không có quyền nói lời cuối cùng về chúng ta. Tội lỗi không có quyền nói lời cuối cùng. Vết thương không có quyền nói lời cuối cùng. Thất bại không có quyền nói lời cuối cùng. Những điều người khác nói về chúng ta cũng không có quyền nói lời cuối cùng. Đức Kitô mới là Đấng nói lời cuối cùng. Khi Người bước vào cuộc đời một con người, một lịch sử mới có thể bắt đầu. Có người suốt đời bị ám ảnh bởi một lỗi lầm đã qua. Có người không thể tha thứ cho chính mình. Có người sống như thể mình mãi mãi chỉ là tổng số của những thất bại. Nhưng Tin Mừng nhắc chúng ta rằng ân sủng có khả năng viết tiếp câu chuyện. Maria Mácđala không đứng mãi tại nơi chị đã được chữa lành. Chị bước theo Đức Giêsu. Và sau này, chị sẽ đứng bên thập giá, sẽ đến mộ vào sáng Phục Sinh, sẽ trở thành một trong những chứng nhân đầu tiên của Chúa sống lại. Đó là điều ân sủng có thể làm với một cuộc đời biết mở ra cho Thiên Chúa.
Có một điều nữa rất đáng suy niệm: Đức Giêsu cho phép người khác giúp mình. Điều này nghe có vẻ đơn giản nhưng lại rất sâu. Con Thiên Chúa làm người đã chấp nhận sống trong sự lệ thuộc rất con người. Người cần nơi trú, cần lương thực, cần người cộng tác, cần những người hỗ trợ hành trình truyền giáo. Người không biến đá thành bánh mỗi ngày để khỏi nhờ ai. Người không dùng quyền năng để tạo ra mọi thứ cần thiết cho mình. Người để cho người khác có cơ hội phục vụ. Đây cũng là một bài học cho chúng ta, nhất là những người quen gánh vác, quen cho đi, quen phục vụ. Có lúc chúng ta phải học nhận. Có lúc phải để người khác giúp mình. Có người rất thích giúp người khác nhưng lại cảm thấy xấu hổ khi mình cần giúp đỡ. Nhưng Đức Giêsu cho thấy việc đón nhận sự trợ giúp cũng có thể là một hành vi khiêm nhường. Khi để người khác giúp mình, chúng ta cho họ cơ hội sống tình yêu. Đời sống Kitô hữu không phải là cuộc thi xem ai độc lập nhất. Đó là một thân thể, trong đó mỗi người vừa cho vừa nhận.
Và có lẽ đây cũng là một hình ảnh rất đẹp về Hội Thánh truyền giáo: Đức Giêsu ở trung tâm, quanh Người là một đoàn người rất khác nhau, mỗi người góp phần bằng điều mình có, tất cả cùng lên đường để Tin Mừng được loan báo. Không ai sở hữu Tin Mừng. Không ai có quyền biến sứ vụ thành tài sản riêng. Chúng ta chỉ là những người cùng cộng tác với Chúa. Khi quên điều ấy, công việc của Chúa rất dễ biến thành công việc của cái tôi. Người ta có thể phục vụ nhưng lại tìm danh tiếng. Có thể làm việc tông đồ nhưng lại muốn được công nhận. Có thể dấn thân cho cộng đoàn nhưng lại buồn khi người khác không biết đến công lao của mình. Những người phụ nữ trong Tin Mừng hôm nay phần lớn chỉ được nhắc thoáng qua. Bao nhiêu người còn chẳng có tên. Thế nhưng chính sự phục vụ âm thầm của họ đã giúp hành trình loan báo Tin Mừng tiếp tục. Có những đóng góp chỉ Thiên Chúa biết. Và đôi khi đó chính là những đóng góp đẹp nhất.
Đoạn Tin Mừng còn cho chúng ta thấy một con đường trưởng thành của người môn đệ gồm ba chuyển động: được chữa lành, bước theo và phục vụ. Được chữa lành mà không bước theo thì đức tin chỉ dừng lại ở việc tìm lợi ích cho mình. Bước theo mà không phục vụ thì việc theo Chúa có nguy cơ chỉ trở thành một đời sống đạo mang tính cá nhân. Phục vụ mà không để Chúa chữa lành thì chúng ta dễ mang những vết thương chưa được chữa vào chính công việc phục vụ và vô tình làm tổn thương người khác. Vì thế ba điều phải đi cùng nhau. Hãy để Chúa chữa lành mình. Hãy bước đi với Chúa. Và hãy để điều mình đã nhận từ Chúa trở thành món quà cho người khác.
Mỗi sáng thức dậy, chúng ta có thể hỏi: hôm nay tôi có thể dùng điều gì của mình để phục vụ Nước Thiên Chúa? Có thể không phải điều lớn. Một giờ đồng hồ. Một lời hỏi thăm. Một khoản tiền nhỏ dành cho người cần hơn. Một bữa ăn. Một chuyến xe. Một cuộc điện thoại. Một lời cầu nguyện. Một chút kiên nhẫn với người trong gia đình. Một lần nhịn nói lời làm tổn thương. Một lần chủ động làm hòa. Một sự hiện diện bên giường bệnh. Một việc chẳng ai thấy nhưng Chúa thấy. Nếu làm bằng tình yêu, tất cả những điều ấy đều có thể trở thành “của cải” chúng ta dùng để giúp Đức Giêsu tiếp tục sứ vụ của Người hôm nay.
Có lẽ chúng ta thường nghĩ mình phải làm một điều phi thường mới có thể trở thành môn đệ tốt. Nhưng Tin Mừng không nói các bà đã làm phép lạ, giảng những bài lớn hay thực hiện những hành động gây tiếng vang. Chỉ nói rằng họ đi với Đức Giêsu và dùng những gì mình có để phục vụ. Đôi khi sự thánh thiện cũng bình thường như thế. Ở với Chúa. Đi với Chúa. Chia sẻ điều mình có. Trung thành từng ngày. Và không bỏ cuộc. Có những người sống một đời rất âm thầm nhưng cả cuộc đời họ chính là một bài giảng. Một người mẹ chăm sóc gia đình trong kiên nhẫn. Một người cha làm việc lương thiện để nuôi con. Một người con tận tình chăm cha mẹ già. Một giáo lý viên bền bỉ với các em nhỏ. Một người âm thầm phục vụ giáo xứ hàng chục năm. Họ có thể không bao giờ đứng trên bục giảng, nhưng sự trung thành của họ đang nói về Tin Mừng.
Đức Giêsu hôm nay vẫn đang “rảo qua các thành phố, làng mạc”. Không còn theo cách Người bước trên những con đường Galilê ngày xưa, nhưng Người đang đi qua thế giới bằng chính Hội Thánh, bằng từng người môn đệ. Người muốn đi vào bệnh viện qua bước chân của người thăm bệnh. Người muốn đi vào gia đình tan vỡ qua một người biết hòa giải. Người muốn đi đến người nghèo qua bàn tay biết sẻ chia. Người muốn đến với người cô đơn qua một người chịu ngồi lại lắng nghe. Người muốn đến với những người đã bỏ Chúa qua một người biết yêu thương họ mà không xét đoán. Người muốn đi đến những vùng tối của xã hội qua những Kitô hữu dám đem vào đó ánh sáng của sự thật, lòng thương xót và hy vọng. Câu hỏi không phải là Chúa còn muốn đi hay không. Câu hỏi là chúng ta có sẵn lòng đi với Người hay không.
Một trong những lời gợi ý rất đẹp của Sacred Space là hãy tưởng tượng mình đang bước trong đoàn người đi bên Đức Giêsu và tự hỏi mình có thể đóng góp phần nào vào hành trình ấy. Câu hỏi đó đáng để chúng ta mang vào giờ cầu nguyện: “Lạy Chúa, trong đoàn người đang đi với Chúa hôm nay, chỗ của con ở đâu? Chúa muốn con làm gì? Con có điều gì có thể dâng cho Chúa?” Có thể câu trả lời nằm rất gần, ngay trong gia đình, giáo xứ, cộng đoàn hoặc nơi làm việc của mình. Có khi Chúa không gọi ta đi thật xa. Người chỉ bảo: hãy yêu người đang ở bên cạnh con tốt hơn. Hãy chăm sóc người con đang có trách nhiệm. Hãy dùng khả năng con đang có. Hãy trung thành với bổn phận rất bình thường hôm nay.
Tin Mừng Lc 8,1-3 cũng mời chúng ta biết trân trọng những người đang âm thầm giúp đỡ sứ vụ Hội Thánh. Có những người dâng tiền. Có người dâng thời giờ. Có người dâng sức khỏe. Có người dâng tuổi trẻ. Có người dâng những năm tháng cuối đời trong cầu nguyện. Không phải ai cũng làm được mọi việc, nhưng ai cũng có thể làm một điều gì đó. Vấn đề không phải giá trị vật chất của điều được trao, nhưng tình yêu nằm trong sự trao tặng ấy. Đồng tiền của người giàu và đồng tiền rất nhỏ của người nghèo có thể hoàn toàn khác nhau về giá trị kinh tế, nhưng trước mặt Chúa, điều làm nên giá trị sâu xa là tấm lòng. Chúa không cần tài sản của chúng ta theo nghĩa Người thiếu thốn. Người cho chúng ta cơ hội được cộng tác, bởi khi trao đi, chính chúng ta được giải thoát khỏi sự ích kỷ và trở nên giống Người hơn.
Chúng ta cũng có thể học nơi những người phụ nữ này sự trung thành. Họ không chỉ xuất hiện một lần rồi biến mất. Những trình thuật Tin Mừng sau đó cho thấy những phụ nữ môn đệ vẫn hiện diện trong những thời khắc rất quan trọng. Khi nhiều người bỏ chạy trước thập giá, những người phụ nữ vẫn ở gần. Khi sáng Phục Sinh còn mờ tối, họ đã lên đường ra mộ. Người đã thực sự được tình yêu Chúa chạm đến sẽ có một sức mạnh trung thành rất lạ. Không phải vì họ không sợ. Không phải vì họ mạnh hơn mọi người. Nhưng vì họ biết mình đã được yêu như thế nào. Chính ký ức về ân sủng làm họ ở lại. Đây cũng là bí quyết của lòng trung thành Kitô hữu: nhớ lại điều Chúa đã làm cho mình. Khi mệt mỏi trong đời sống đức tin, hãy nhớ. Khi muốn bỏ cuộc trong một sứ vụ, hãy nhớ. Khi cảm thấy cầu nguyện khô khan, hãy nhớ. Khi thất vọng về con người trong Hội Thánh, hãy nhớ lần đầu Chúa đã chạm đến lòng mình. Ký ức về lòng thương xót có thể giúp chúng ta tiếp tục bước đi.
Sau cùng, đoạn Tin Mừng hôm nay đặt chúng ta trước một lựa chọn rất đơn giản nhưng căn bản: tôi muốn chỉ là người đứng bên đường nhìn Đức Giêsu đi qua, hay tôi muốn nhập vào đoàn người bước theo Người? Đứng nhìn thì dễ. Bình luận cũng dễ. Phê bình người khác càng dễ. Nhưng bước theo mới khó. Bước theo nghĩa là để cho lịch trình của mình bị thay đổi bởi Tin Mừng. Bước theo nghĩa là sẵn sàng chia sẻ điều mình có. Bước theo nghĩa là chấp nhận cùng đi với những người rất khác mình. Bước theo nghĩa là có lúc mệt, có lúc không được hiểu, có lúc phải hy sinh. Nhưng chính trên con đường ấy, con người tìm thấy một niềm vui rất sâu: niềm vui biết rằng đời mình không chỉ sống cho mình.
Xin Chúa cho chúng ta biết nhận ra những ân huệ mình đã lãnh nhận để không sống như thể mọi sự là điều đương nhiên. Xin cho chúng ta có lòng biết ơn của Maria Mácđala, Gioanna, Susanna và biết bao người môn đệ vô danh. Xin cho những vết thương đã được chữa lành nơi chúng ta trở thành nguồn cảm thông cho người đang đau. Xin cho những điều chúng ta có, dù nhiều hay ít, trở thành phương tiện phục vụ Tin Mừng. Xin cho chúng ta đừng đứng xa quan sát hành trình của Đức Giêsu, nhưng can đảm nhập vào đoàn người bước theo Người. Và xin cho đến cuối đời, khi nhìn lại, chúng ta có thể nói rằng: tôi đã được Chúa yêu, tôi đã được Chúa chữa lành, và tôi đã cố gắng dùng chính cuộc đời mình để đáp lại tình yêu ấy bằng cách yêu thương và phục vụ những người Chúa gửi đến.
Lm. Anmai, CSsR
NHỮNG NGƯỜI ÂM THẦM ĐI CÙNG CHÚA GIÊSU
Tin Mừng theo thánh Luca hôm nay chỉ vỏn vẹn ba câu, nhưng ba câu ngắn ngủi ấy lại mở ra trước mắt chúng ta một bức tranh rất đẹp về Hội Thánh ngay từ những bước chân đầu tiên của Đức Giêsu trên đường loan báo Tin Mừng. Thánh Luca kể rằng Đức Giêsu “rảo qua các thành phố, làng mạc, rao giảng và loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa”. Người không đứng yên một chỗ để chờ con người tìm đến. Người bước đi. Người đi từ thành phố này đến làng mạc khác, từ những nơi đông người đến những miền quê nhỏ bé, từ những người có địa vị đến những con người bị bỏ quên. Tin Mừng vốn mang bản chất của một cuộc lên đường. Tình yêu của Thiên Chúa không chịu đứng yên. Tình yêu ấy luôn tìm kiếm, luôn đi tới, luôn bước ra khỏi những giới hạn quen thuộc để đến với con người. Nhưng điều đặc biệt trong đoạn Tin Mừng hôm nay là Đức Giêsu không đi một mình. Cùng đi với Người có Nhóm Mười Hai, có Maria Mácđala, có Gioanna, Susanna và “nhiều bà khác nữa”. Một đoàn người thật đa dạng đang cùng bước theo Chúa trên những con đường bụi bặm miền Galilê. Có những người được gọi để rao giảng. Có những người được chữa lành. Có những người dùng chính tài sản của mình để phục vụ. Người này đứng ở phía trước, người kia lặng lẽ phía sau; người này cất tiếng giảng, người kia chuẩn bị bữa ăn; người này đi vào làng loan báo Tin Mừng, người khác góp phần để hành trình ấy có thể tiếp tục. Nhưng tất cả đều thuộc về một sứ mạng duy nhất: làm cho Nước Thiên Chúa hiện diện giữa cuộc đời.
Điều đầu tiên đáng để chúng ta dừng lại thật lâu là câu: “Đức Giêsu rảo qua các thành phố, làng mạc.” Chúng ta quen nhìn Đức Giêsu qua những phép lạ lớn lao, những bài giảng hùng hồn, những cuộc tranh luận với giới lãnh đạo Do Thái, nhưng có lẽ ít khi hình dung Người đã phải đi bộ bao nhiêu cây số, bao nhiêu lần mệt mỏi, bao nhiêu buổi sáng thức dậy trên một con đường mới, bao nhiêu buổi chiều tìm nơi nghỉ chân, bao nhiêu lần ăn uống đơn sơ cùng các môn đệ. Công cuộc cứu độ không diễn ra trong một thế giới trừu tượng. Đức Giêsu đã bước vào những con đường rất thật của con người. Bàn chân Người từng dính bụi. Thân xác Người từng mỏi mệt. Người từng khát nước, từng cần thức ăn, từng cần chỗ nghỉ. Thiên Chúa đã làm người đến mức chấp nhận cần đến sự phục vụ của người khác. Đây là một mầu nhiệm rất đẹp: Đấng có thể nuôi cả năm ngàn người bằng năm chiếc bánh và hai con cá lại sẵn lòng nhận phần ăn do một người phụ nữ chuẩn bị; Đấng có thể biến nước thành rượu lại chấp nhận uống chén nước người khác trao; Đấng làm chủ trời đất lại để những môn đệ bình thường lấy tài sản của họ mà phục vụ Người. Thiên Chúa không chỉ ban. Thiên Chúa còn cho chúng ta niềm vui được góp phần vào công việc của Người.
Bởi vậy, theo Chúa không có nghĩa là tất cả mọi người phải làm cùng một việc. Người này có thể giảng. Người kia có thể hát. Người khác có thể dạy giáo lý. Có người phục vụ bệnh nhân. Có người chăm sóc trẻ nhỏ. Có người âm thầm quét sân nhà thờ. Có người đóng góp tiền bạc để một công trình bác ái được tiếp tục. Có người chẳng bao giờ đứng trước micro nhưng mỗi tối quỳ xuống cầu nguyện cho người đang làm việc truyền giáo. Có người chẳng bao giờ được ai biết tên nhưng mỗi tuần vẫn lặng lẽ gửi một chút tiền giúp người nghèo. Có người nấu một nồi cháo. Có người lái xe đưa bệnh nhân đi viện. Có người sửa một chiếc ghế trong nhà nguyện. Có người chỉ gọi điện thăm một người đang cô đơn. Trước mắt người đời, những việc ấy có thể rất nhỏ. Nhưng trong Nước Thiên Chúa, không có việc phục vụ nào được thực hiện vì lòng yêu mến mà lại là vô nghĩa. Hội Thánh không chỉ được xây dựng bởi những người đứng trên cung thánh. Hội Thánh còn được xây dựng bởi hàng triệu bàn tay âm thầm mà chẳng mấy ai nhìn thấy.
Sacred Space lưu ý rằng đoạn Tin Mừng này cho thấy hai hình thức cộng tác bổ túc cho nhau: những người trực tiếp loan báo Tin Mừng và những người dùng khả năng, phương tiện của mình để nâng đỡ sứ mạng ấy. Cả hai đều thuộc về công cuộc loan báo Tin Mừng của Hội Thánh. Đây là điều rất quan trọng. Đôi khi chúng ta vô tình nghĩ rằng chỉ người giảng đạo mới làm việc truyền giáo. Không. Một bà mẹ nuôi con trong đức tin đang truyền giáo. Một người cha lao động lương thiện để giữ gia đình trong bình an đang truyền giáo. Một người trẻ sống tử tế giữa môi trường đầy gian dối đang truyền giáo. Một người bệnh dâng đau khổ cầu nguyện cho Hội Thánh đang truyền giáo. Một người già lần chuỗi Mân Côi cầu cho các linh mục đang truyền giáo. Một người làm kinh doanh nhưng giữ lương tâm ngay thẳng đang truyền giáo. Một người có của cải và biết chia sẻ với người túng thiếu đang truyền giáo. Một giáo dân đóng góp âm thầm để một linh mục có thể đi đến vùng xa dâng lễ và cử hành các bí tích cũng đang tham gia trực tiếp vào sứ mạng của Hội Thánh. Không phải ai cũng được sai đi tới một miền truyền giáo xa xôi, nhưng tất cả đều được mời gọi đặt phần đời của mình vào sứ mạng của Đức Kitô.
Tin Mừng còn nhắc đến Maria Mácđala. Luca nói bà là người đã được giải thoát khỏi bảy quỷ. Điều quan trọng ở đây không phải là tò mò về quá khứ của bà, nhưng là nhìn thấy sức mạnh biến đổi của cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu. Một người từng bị sự dữ giam cầm giờ đây trở thành người đồng hành với Chúa. Một cuộc đời từng tan vỡ giờ đây trở thành một cuộc đời phục vụ. Một người từng cần được cứu giờ đây trở thành người góp phần để Tin Mừng cứu độ được loan báo cho người khác. Đó là cách ân sủng hoạt động. Chúa không chỉ kéo một người ra khỏi hố sâu rồi để họ đứng đó. Người chữa lành để họ bước đi. Người giải thoát để họ trở nên tự do cho sứ mạng. Người tha thứ để họ có thể trở thành chứng nhân của lòng thương xót. Maria Mácđala không còn bị định nghĩa bởi quá khứ. Bà được định nghĩa bởi tương quan mới với Đức Kitô.
Đây cũng là Tin Mừng lớn lao cho tất cả những ai cảm thấy đời mình đã có quá nhiều sai lầm. Có người mang một quá khứ làm họ mặc cảm cả đời. Có người nhớ mãi một tội lỗi. Có người tự nhủ: “Tôi đã như thế thì còn làm được gì cho Chúa?” Nhưng Đức Giêsu không nhìn con người theo cách đó. Người không đóng khung một người trong chương tồi tệ nhất của cuộc đời họ. Người có thể viết tiếp. Và đôi khi chương đẹp nhất lại bắt đầu sau những chương tưởng như thất bại nhất. Maria Mácđala là một minh chứng. Người đã được chữa lành lại trở thành người bước theo Đấng chữa lành mình. Tình yêu được nhận trở thành tình yêu được trao. Lòng thương xót đã chạm vào một con người rồi từ con người ấy tiếp tục lan đi.
Bên cạnh Maria còn có Gioanna, vợ ông Khuđa, viên quản lý của vua Hêrôđê. Chỉ một chi tiết ấy cũng đủ làm cho chúng ta suy nghĩ. Một người phụ nữ có liên hệ với môi trường cung đình lại xuất hiện trong đoàn môn đệ của một người thầy nghèo từ Nadarét. Tin Mừng đang âm thầm phá vỡ những hàng rào xã hội. Trong đoàn người đi với Đức Giêsu có những xuất thân rất khác nhau. Có ngư phủ. Có người thu thuế. Có phụ nữ từng được chữa lành. Có người thuộc tầng lớp khá giả. Tất cả cùng đi sau một Thầy. Trong Nước Thiên Chúa, giá trị của một người không nằm ở chức vụ, gia cảnh, tiền bạc hay địa vị, mà nằm ở việc họ mở lòng cho Chúa đến đâu và sẵn sàng trao chính mình cho sứ mạng của Người đến mức nào.
Câu khiến chúng ta xúc động nhất có lẽ là: “Các bà này đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giêsu và các môn đệ.” Họ không chỉ nói rằng họ yêu Chúa. Họ đặt tình yêu ấy vào những gì rất cụ thể. Họ mở túi tiền. Họ chia sẻ những gì thuộc về mình. Tin Mừng không lãng mạn hóa tình yêu. Tình yêu luôn có giá. Khi yêu một người thật sự, ta phải cho đi điều gì đó: thời gian, công sức, sự quan tâm, tài sản, sự thoải mái, đôi khi cả giấc ngủ. Yêu mà không bao giờ phải hy sinh điều gì thì rất dễ chỉ là cảm xúc. Những người phụ nữ hôm nay cho thấy một đức tin có bàn tay. Họ biến lòng biết ơn thành hành động.
Điều này đặt ra cho chúng ta một câu hỏi không dễ trả lời: tôi đã trao điều gì cho Chúa? Không phải Chúa cần tiền của tôi như một người nghèo cần bố thí. Thiên Chúa không thiếu gì. Nhưng Người muốn trái tim tôi được tự do khỏi sự chiếm hữu. Người muốn tôi hiểu rằng mọi điều tôi có đều là ân ban. Tôi có sức khỏe, có thời giờ, có một mái nhà, một nghề nghiệp, một chút khả năng, một chút tiền bạc, một vài mối tương quan, một chút kiến thức. Tôi có sử dụng những điều ấy chỉ để xây dựng cuộc đời riêng hay còn dành một phần cho Nước Chúa? Một câu hỏi đơn giản nhưng có thể làm thay đổi cả đời sống đức tin: “Điều Chúa ban cho tôi đang giúp ai ngoài chính tôi?”
Có khi người ta nghĩ dâng cho Chúa nghĩa là phải cho thật nhiều. Nhưng Tin Mừng không nói các bà đã cho bao nhiêu. Tin Mừng chỉ nói họ lấy “của cải mình” mà giúp đỡ. Điều Chúa nhìn trước hết không phải con số mà là tấm lòng. Một bà góa dâng hai đồng tiền nhỏ lại được Đức Giêsu khen hơn những người bỏ nhiều tiền vào Đền Thờ, bởi bà đã trao bằng cả lòng tín thác. Có những người giàu cho rất nhiều nhưng chẳng cảm thấy mất gì. Có người nghèo chỉ trao một phần nhỏ nhưng đó là cả một hy sinh lớn. Thiên Chúa biết sự khác biệt ấy. Người nhìn điều không ai nhìn thấy: cái giá của một món quà trong trái tim người trao.
Nhưng của cải không chỉ là tiền. Có một thứ quý hơn tiền là thời gian. Có người rất sẵn lòng bỏ tiền nhưng không sẵn lòng ngồi bên một người đang đau khổ. Có người có thể đóng góp cho một công việc bác ái nhưng không thể dành mười phút nghe người thân trong nhà. Có người có thể làm nhiều việc cho giáo xứ nhưng lại không có giờ cho con cái. Vì thế “lấy của cải mình mà giúp đỡ” hôm nay cũng có thể hiểu rộng hơn: lấy tất cả những gì Thiên Chúa đã giao cho mình mà đặt vào việc phục vụ tình yêu. Một đôi tai biết lắng nghe cũng là của cải. Một lời nói dịu dàng là của cải. Một kỹ năng nghề nghiệp là của cải. Một chiếc xe có thể dùng đưa một người bệnh đi khám. Một căn phòng có thể mở cửa đón một người đang khó khăn. Một điện thoại có thể dùng để gọi cho người cô đơn. Một tài khoản mạng xã hội có thể dùng để gieo điều tử tế thay vì lan truyền cay độc. Một trí tuệ có thể dùng để hướng dẫn người trẻ. Một tuổi già vẫn có thể trở thành kho tàng cầu nguyện. Không ai nghèo đến mức không có gì để trao.
Đoạn Tin Mừng ngắn này cũng cho thấy Đức Giêsu trân trọng sự hiện diện và phục vụ của những người phụ nữ theo một cách đáng chú ý trong bối cảnh xã hội thời đó. Sacred Space nhấn mạnh rằng Luca đặc biệt ghi nhận họ như những người đồng hành thực sự trong cộng đoàn quanh Đức Giêsu. Họ không phải những nhân vật trang trí bên lề. Họ là những môn đệ. Họ đã được chữa lành, đã bước theo, đã phục vụ và về sau chính các phụ nữ cũng xuất hiện ở những thời khắc quan trọng trong trình thuật Tin Mừng, đặc biệt quanh biến cố Thương Khó và Phục Sinh. Điều ấy nhắc Hội Thánh mọi thời phải biết trân trọng mọi ơn gọi và mọi đặc sủng. Nước Thiên Chúa không phải là sân khấu của một vài người nổi bật. Đó là một thân thể trong đó mọi chi thể đều có vai trò.
Có lẽ điều nguy hiểm trong đời sống Hội Thánh không phải chỉ là thiếu người phục vụ mà còn là việc chúng ta thích phân loại sự phục vụ theo mức độ danh giá. Có việc được nhìn thấy và có việc chẳng ai chú ý. Có người được gọi tên, có người không. Có người đứng trên bục, có người đứng trong bếp. Có người được vỗ tay, có người dọn ghế sau khi mọi người đã ra về. Nhưng dưới ánh mắt Thiên Chúa, tiêu chuẩn không phải là ai nổi bật hơn mà là ai yêu nhiều hơn. Có thể người âm thầm rửa từng chiếc ly sau một sinh hoạt giáo xứ đang làm một việc thánh thiện chẳng kém người đứng nói trước cả cộng đoàn, nếu họ làm việc ấy với lòng mến. Có thể người âm thầm góp một phần thu nhập để giúp chủng sinh nghèo đang tham dự vào công cuộc đào tạo linh mục dù chẳng bao giờ bước chân vào chủng viện. Có thể một người mẹ già cầu nguyện mỗi tối cho các nhà truyền giáo đang góp sức cho việc loan báo Tin Mừng tại những nơi bà sẽ chẳng bao giờ đặt chân đến.
Trong đời sống của mỗi cộng đoàn, luôn có những “Maria, Gioanna và Susanna” như thế. Họ không nhất thiết là phụ nữ; đó là tất cả những con người âm thầm nâng đỡ công việc chung. Họ là người đến nhà thờ sớm mở cửa. Là người kiểm tra micro. Là người mua hoa. Là người giặt khăn bàn thờ. Là người nấu một bữa cơm cho linh mục vừa đi mục vụ trở về. Là người đưa một người già đến lễ. Là người nhận nuôi một em nhỏ nghèo. Là người chuyển một khoản trợ giúp mà không để tên. Là người cầu nguyện âm thầm cho một linh mục đang mệt mỏi. Có lẽ lịch sử Hội Thánh trên mặt đất sẽ không bao giờ ghi hết tên họ. Nhưng lịch sử Nước Trời không quên một ai.
Đôi khi người phục vụ cũng có cám dỗ muốn được nhìn nhận. “Tôi làm rất nhiều mà chẳng ai biết.” “Tôi giúp bao nhiêu nhưng không ai cảm ơn.” “Tôi hy sinh mà người khác lại được khen.” Đó là những nỗi đau rất thật. Nhưng Tin Mừng hôm nay mời chúng ta thanh luyện động lực sâu xa nhất: tôi làm vì ai? Nếu tôi làm để được người khác ghi nhận, tôi sẽ nhanh chóng mệt mỏi khi không được khen. Nếu tôi làm vì Chúa, sự âm thầm lại có thể trở thành nơi tự do nhất. Không phải vì chúng ta không cần lời cảm ơn, nhưng vì giá trị của việc mình làm không phụ thuộc vào lời cảm ơn của người khác. Chúa thấy. Chỉ thế thôi đã đủ để một việc nhỏ trở nên vĩnh cửu.
Một điểm nữa rất đáng suy nghĩ: các phụ nữ này không chỉ đưa tiền rồi trở về nhà. Luca nói họ “cùng đi” với Đức Giêsu. Trước khi trao của cải, họ trao sự hiện diện. Đây là điều khác biệt giữa một ân nhân và một môn đệ. Ân nhân có thể cho một điều gì đó rồi đứng ngoài. Môn đệ thì đi cùng. Đức tin Kitô giáo không phải đóng góp một phần tiền bạc rồi coi như đã hoàn thành nghĩa vụ. Chúa muốn chính con người chúng ta. Có thể ta dâng tiền nhưng không dâng trái tim. Có thể ta làm việc thiện nhưng vẫn không thật sự muốn đi với Chúa. Tin Mừng hôm nay đặt thứ tự rất đẹp: họ ở với Người, đi cùng Người, rồi phục vụ Người bằng những gì họ có. Chính tương quan với Đức Giêsu sinh ra việc phục vụ.
Nếu không có tương quan ấy, hoạt động tông đồ rất dễ trở thành công việc thuần túy. Ta có thể tổ chức rất nhiều chương trình nhưng dần đánh mất Chúa. Có thể bận rộn làm việc cho Chúa đến mức không còn thời gian ở với Chúa. Có thể nói về Tin Mừng nhưng tâm hồn lại khô cạn vì lâu ngày không cầu nguyện. Những người phụ nữ hôm nay nhắc chúng ta rằng nền tảng của phục vụ là đồng hành với Đức Giêsu. Trước khi bàn tay làm việc, trái tim phải ở gần Người.
“Cùng đi với Người.” Có lẽ đây là câu đẹp nhất để diễn tả đời Kitô hữu. Không phải chỉ tin một vài chân lý. Không phải chỉ giữ một số luật lệ. Không phải chỉ đi lễ Chúa nhật. Kitô giáo trước hết là một cuộc đồng hành. Tôi bước cùng Đức Kitô qua những ngày vui và những ngày buồn. Tôi bước cùng Người khi khỏe mạnh và khi bệnh tật. Tôi bước cùng Người lúc thành công và khi thất bại. Có khi đường bằng phẳng. Có khi phải đi qua đồi Canvê. Có ngày tôi cảm thấy Chúa rất gần. Có ngày tôi không cảm thấy gì. Nhưng điều quan trọng không phải cảm giác mà là vẫn tiếp tục bước.
Maria Mácđala chắc hẳn không biết con đường bà bước theo Đức Giêsu rồi sẽ dẫn tới đâu. Bà không biết sẽ có ngày đứng gần thập giá. Bà không biết sẽ có một buổi sáng chạy tới mộ. Bà không biết mình sẽ trở thành người được Tin Mừng Gioan thuật lại như chứng nhân đầu tiên gặp Đấng Phục Sinh. Người môn đệ không cần thấy hết con đường mới bước. Chỉ cần biết mình đang đi với ai. Chúng ta cũng thế. Ta không biết năm tới sẽ xảy ra điều gì. Ta không biết sức khỏe sẽ ra sao. Ta không biết công việc còn thế nào. Ta không biết những người thân sẽ ở bên mình bao lâu. Ta không biết Chúa sẽ dẫn mình qua những biến cố nào. Nhưng đức tin không phải biết trước mọi ngã rẽ. Đức tin là biết Đấng đang đi cùng mình.
Tin Mừng hôm nay cũng chất vấn thái độ của chúng ta đối với tiền bạc. Tiền tự nó không xấu. Nó có thể trở thành công cụ tuyệt vời của tình yêu. Chính những người phụ nữ trong Tin Mừng đã dùng tài sản để nâng đỡ việc rao giảng Nước Thiên Chúa. Vấn đề không phải chúng ta có tiền hay không, nhưng tiền đang phục vụ điều gì. Khi tiền trở thành ông chủ, nó trói buộc ta. Khi tiền trở thành người phục vụ, nó có thể nuôi người đói, chữa người bệnh, đào tạo người trẻ, nâng đỡ người truyền giáo, xây mái nhà cho người nghèo, mua sách cho trẻ em, cung cấp thuốc cho người không có khả năng chữa bệnh. Một đồng tiền đi qua bàn tay của một người có trái tim Tin Mừng có thể trở thành một hành động của Nước Thiên Chúa.
Có một câu hỏi đáng để mỗi người mang vào giờ cầu nguyện: “Những gì tôi đang có thuộc về ai?” Nếu câu trả lời là “của tôi”, ta sẽ luôn sợ mất. Nếu câu trả lời là “Chúa trao cho tôi quản lý”, mọi thứ đổi khác. Tôi vẫn làm việc. Tôi vẫn tiết kiệm. Tôi vẫn chăm lo gia đình. Tôi vẫn có quyền hưởng những thành quả lao động chính đáng. Nhưng tôi không còn tuyệt đối hóa sở hữu. Tôi nhận ra rằng Chúa đặt một phần của cải vào tay tôi để một phần nhu cầu của người khác có thể được đáp ứng qua tôi.
Ngày sau hết, có lẽ Chúa sẽ không hỏi chúng ta đã có bao nhiêu, nhưng sẽ hỏi chúng ta đã làm gì với những gì mình có. Có một trái tim mà không biết yêu thì đáng buồn. Có đôi tay mà chẳng bao giờ đưa ra nâng ai dậy thì đáng tiếc. Có tiền mà chẳng bao giờ làm dịu được nỗi khổ của ai thì nghèo biết bao. Có kiến thức mà không bao giờ soi sáng người khác thì kiến thức ấy vẫn chưa đạt tới vẻ đẹp trọn vẹn. Có đức tin mà chỉ giữ cho mình thì đức tin ấy chưa trưởng thành.
Và rồi đoạn Tin Mừng kết thúc rất nhẹ nhàng. Không phép lạ. Không tranh luận. Không tiếng reo hò. Chỉ có những con người đang đi với Chúa và âm thầm góp phần cho sứ mạng của Người. Nhưng đôi khi chính những đoạn Tin Mừng yên lặng như vậy lại gần với đời sống chúng ta hơn cả. Phần lớn đời ta sẽ không có những biến cố phi thường. Chúng ta sống qua những ngày rất bình thường: thức dậy, cầu nguyện, đi làm, chăm sóc gia đình, gặp gỡ người khác, mệt mỏi, nghỉ ngơi rồi bắt đầu một ngày mới. Sự thánh thiện phần lớn cũng được xây dựng trong những điều bình thường ấy. Không phải ai cũng được gọi làm việc lớn. Nhưng ai cũng có thể làm việc nhỏ với một tình yêu lớn.
Hôm nay, khi nhìn Đức Giêsu đang đi từ thành này sang làng khác cùng Nhóm Mười Hai và những người phụ nữ trung tín, chúng ta hãy tự hỏi mình đang đứng ở đâu trong đoàn người ấy. Tôi chỉ đứng bên đường nhìn Chúa đi qua, hay tôi đang bước theo Người? Tôi chỉ nhận ơn, hay tôi đã biết dùng chính điều mình nhận được để phục vụ? Tôi chỉ mong Hội Thánh làm điều gì đó cho tôi, hay tôi cũng tự hỏi mình có thể làm gì cho Hội Thánh? Tôi chỉ mong người khác phục vụ mình, hay tôi đang học cách phục vụ trong âm thầm?
Có lẽ chúng ta không cần bắt đầu bằng một việc lớn. Hãy bắt đầu bằng điều đang ở ngay trong tay mình. Một giờ thời gian. Một cuộc điện thoại. Một lời động viên. Một bữa cơm. Một phần thu nhập. Một chuyến xe. Một buổi thăm bệnh. Một chuỗi Mân Côi. Một lời cầu nguyện cho người mình không thích. Một lần nhẫn nhịn. Một lần tha thứ. Một lần không nói điều làm tổn thương người khác. Một lần đứng về phía người yếu thế. Một lần quảng đại mà không cần ai biết. Chính từ những điều ấy Nước Thiên Chúa lớn lên.
Xin Chúa cho chúng ta hiểu rằng đời sống Kitô hữu không chỉ là nhận lãnh ân sủng nhưng còn là trở thành người cộng tác với ân sủng. Xin cho chúng ta sau khi được Chúa chữa lành biết trở thành người mang chữa lành đến cho người khác; sau khi được Chúa tha thứ biết trở thành người biết thứ tha; sau khi được Chúa nâng đỡ biết biết nâng đỡ anh chị em; sau khi nhận được nhiều điều tốt đẹp biết mở bàn tay chia sẻ. Xin cho mỗi chúng ta tìm thấy vị trí của mình trong đoàn người đang bước theo Đức Giêsu. Có thể chẳng ai biết tên ta. Có thể việc ta làm chẳng được nhắc tới. Có thể phần đóng góp của ta rất nhỏ. Nhưng nếu nó được trao bằng tình yêu, nó đã đi vào dòng chảy của Tin Mừng.
Và xin cho đến cuối đời, điều đẹp nhất người ta có thể nói về chúng ta cũng đơn giản như điều Luca viết về những môn đệ ngày xưa: người ấy đã đi cùng Đức Giêsu; người ấy đã lấy những gì mình có mà phục vụ; người ấy đã không sống chỉ cho mình. Được như thế đã là một cuộc đời đáng sống, bởi cuối cùng điều làm cho một đời người có ý nghĩa không phải là ta đã giữ được bao nhiêu cho mình, nhưng là qua đời ta, bao nhiêu tình yêu của Thiên Chúa đã có thể chạm đến những người khác.
Lm. Anmai, CSsR
NHỮNG NGƯỜI ÂM THẦM NÂNG ĐỠ SỨ VỤ CỦA CHÚA
Tin Mừng theo thánh Luca hôm nay chỉ có ba câu rất ngắn, nhưng nếu đọc chậm và dừng lại thật lâu trước từng chi tiết, chúng ta sẽ nhận ra phía sau vài câu đơn sơ ấy là cả một bức tranh tuyệt đẹp về đời sống của Đức Giêsu, về cộng đoàn các môn đệ đầu tiên và nhất là về những con người âm thầm góp phần làm cho Tin Mừng được tiếp tục lên đường. Đức Giêsu “rảo qua các thành phố, làng mạc, rao giảng và loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa”. Cùng đi với Người có Nhóm Mười Hai, nhưng không chỉ có Nhóm Mười Hai. Thánh Luca còn cẩn thận ghi tên một số phụ nữ: Maria gọi là Maria Mácđala, bà Gioanna, vợ ông Khu-da quản lý của vua Hêrôđê, bà Susanna và nhiều bà khác nữa. Rồi thánh sử thêm một chi tiết tưởng chừng rất đời thường nhưng lại vô cùng quan trọng: “Các bà này đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giêsu và các môn đệ.” Chỉ một câu ấy thôi đã mở ra cho chúng ta một cái nhìn rất khác về sứ vụ loan báo Tin Mừng. Chúng ta thường nghĩ đến những người đứng phía trước: người giảng, người lãnh đạo, người được nhìn thấy, người được nhắc tên, người thực hiện những công việc lớn lao. Nhưng phía sau bất cứ sứ vụ nào cũng có biết bao nhiêu con người không đứng trên bục giảng, không xuất hiện trước đám đông, không được người khác tán thưởng, nhưng chính nhờ những hy sinh lặng thầm của họ mà sứ vụ có thể tiếp tục. Chính bài suy niệm của Radio Veritas Asia đã đặc biệt dừng lại nơi bà Gioanna. Bà sống trong một hoàn cảnh khá đặc biệt: bà là vợ của Khu-da, một người quản lý trong triều đình Hêrôđê. Điều đó có nghĩa bà không thuộc thành phần nghèo khổ hay hoàn toàn vô danh trong xã hội. Bà có một vị trí nhất định, có những tương quan xã hội nhất định, và rất có thể cũng có những điều kiện vật chất mà nhiều người khác không có. Thế nhưng điều đáng chú ý không phải bà có bao nhiêu, mà là bà đã làm gì với những điều mình có. Bà không giữ tất cả cho mình. Bà đã dùng chính nguồn lực, điều kiện và khả năng của mình để nâng đỡ Đức Giêsu và các môn đệ trên hành trình loan báo Tin Mừng. Đây chính là vẻ đẹp của đời sống Kitô hữu: Thiên Chúa không đòi chúng ta phải có những điều phi thường trước khi có thể phục vụ Người; Người chỉ hỏi chúng ta rằng: con sẽ làm gì với những điều Ta đã đặt vào tay con? Có người có tiền bạc, có người có thời giờ, có người có sức khỏe, có người có kiến thức, có người có một chiếc xe, có người có một căn nhà, có người có khả năng nấu ăn, có người biết sử dụng máy móc, có người biết viết, biết nói, biết hát, biết chăm sóc bệnh nhân, biết lắng nghe, biết an ủi; thậm chí có người dường như chẳng có gì ngoài một tấm lòng chân thành và một đôi tay sẵn sàng. Nhưng khi tất cả những điều ấy được đặt trong tay Thiên Chúa và được dùng vì tình yêu, chúng có thể trở thành phương tiện để Tin Mừng tiếp tục được loan báo. Vì thế, câu hỏi của Tin Mừng hôm nay không phải trước tiên là: “Tôi có nhiều hay ít?” nhưng là: “Tôi đang sử dụng những gì mình có như thế nào?” Không phải: “Tôi có nổi tiếng hay không?” nhưng là: “Tôi có đang góp phần vào công việc của Chúa hay không?” Không phải: “Người khác có biết việc tôi làm hay không?” nhưng là: “Thiên Chúa có vui lòng trước cách tôi phục vụ hay không?” Có những người cả đời chẳng bao giờ được nhắc đến tên trong một bản tin giáo xứ; chẳng bao giờ đứng trên sân khấu nhận một bó hoa; chẳng bao giờ được giới thiệu như một ân nhân; chẳng có hàng ngàn người theo dõi trên mạng xã hội; nhưng mỗi sáng họ đến nhà thờ sớm mở cửa, lau bàn thờ, xếp ghế, chuẩn bị hoa, thay nước, kiểm tra âm thanh; có người âm thầm chở một cụ già đi lễ; có người lặng lẽ gửi chút tiền cho một chủng sinh; có người nấu một nồi cháo cho bệnh nhân; có người đưa một linh mục đi mục vụ; có người sửa chiếc quạt, thay bóng đèn, quét sân, rửa chén sau một buổi sinh hoạt; có người thức khuya đánh máy bài giảng, dựng một đoạn phim, chỉnh một bản thu âm, in một tờ thông báo, lo tiền điện, tiền nước, tiền xăng; có người chẳng làm gì “lớn lao”, chỉ đều đặn cầu nguyện cho người đang thi hành sứ vụ. Những việc đó đôi khi nhỏ đến mức chẳng ai chú ý, nhưng trước mặt Thiên Chúa, chúng không hề nhỏ.
Có một cám dỗ rất tinh tế trong đời sống hôm nay, đó là chúng ta dễ đồng hóa “quan trọng” với “được nhìn thấy”. Ai xuất hiện nhiều thì tưởng là người ấy quan trọng hơn. Ai nói lớn thì tưởng là người ấy đóng góp nhiều hơn. Ai có chức vụ thì tưởng là người ấy phục vụ nhiều hơn. Ai được nhắc tên thì tưởng là người ấy có giá trị hơn. Nhưng Tin Mừng hôm nay đảo ngược cái nhìn đó. Đức Giêsu không xây dựng Nước Thiên Chúa bằng một nhóm những ngôi sao nổi bật, nhưng bằng một cộng đoàn trong đó mỗi người trao phần mình cho sứ vụ. Nhóm Mười Hai có vai trò riêng. Những người phụ nữ có vai trò riêng. Người giảng có vai trò của người giảng. Người phục vụ có vai trò của người phục vụ. Người dâng của cải có vai trò của người dâng của cải. Người cầu nguyện có vai trò của người cầu nguyện. Chẳng ai có tất cả, và cũng chẳng ai hoàn toàn vô dụng. Một cộng đoàn lành mạnh không phải là nơi chỉ vài người làm tất cả rồi những người còn lại ngồi xem; cũng không phải là nơi người ta tranh giành để được đứng phía trước. Một cộng đoàn Kitô giáo đích thực là nơi mỗi người khám phá ân huệ mình đã nhận được và tự hỏi: “Tôi có thể đặt điều này vào việc xây dựng Nước Chúa bằng cách nào?” Điều đó nghe có vẻ đơn giản, nhưng thật ra chạm rất sâu vào tâm hồn chúng ta, bởi nhiều khi chính sự so sánh làm chúng ta mất bình an. Người này nhìn người kia và nghĩ: “Họ làm được nhiều hơn tôi.” Người khác nghĩ: “Tôi chẳng có khả năng gì đáng kể.” Có người lại nghĩ: “Bao giờ tôi khá giả hơn tôi mới làm việc thiện.” “Bao giờ tôi rảnh hơn tôi mới tham gia.” “Bao giờ tôi giỏi hơn tôi mới phục vụ.” “Bao giờ tôi có địa vị tôi mới có thể giúp Giáo Hội.” Nhưng nếu cứ đợi đến khi mình có đủ mọi điều kiện, có lẽ cả đời chúng ta sẽ không bao giờ bắt đầu. Bà Gioanna không được Tin Mừng ca ngợi vì một bài giảng hùng hồn hay một phép lạ ngoạn mục. Tin Mừng chỉ ghi nhận bà đã dùng những gì bà đang có để phục vụ Đức Giêsu. Và thế là đủ để tên bà được ghi lại trong Tin Mừng qua bao thế kỷ. Điều này thật đáng suy nghĩ. Một cuộc đời trở nên có ý nghĩa không nhất thiết vì người ấy thực hiện một công trình khiến cả thế giới biết đến. Một cuộc đời có thể trở nên vô cùng đẹp chỉ vì người ấy trung thành dâng cho Chúa những gì mình đang có. Một bà mẹ dành cả đời chăm sóc con cái có thể chẳng ai biết tới, nhưng Thiên Chúa biết. Một người cha lao động vất vả để gia đình được sống có thể chẳng ai tặng bằng khen, nhưng Thiên Chúa biết. Một giáo lý viên hàng tuần kiên trì dạy vài chục đứa trẻ có thể chẳng bao giờ được nhắc tên, nhưng Thiên Chúa biết. Một người già đau yếu chẳng đi đâu được, chỉ âm thầm lần chuỗi cầu cho các linh mục và các gia đình, có thể người đời nghĩ họ chẳng làm được gì, nhưng Thiên Chúa biết. Một người nghèo mỗi tháng dành ra một số tiền rất nhỏ để giúp người nghèo hơn mình, có thể chẳng ai để ý, nhưng Thiên Chúa biết. Trong Nước Trời, giá trị của một việc làm không được đo trước hết bằng độ lớn của nó, mà bằng tình yêu được đặt vào đó. Hai đồng tiền nhỏ của bà góa có thể ít trước mắt người đời nhưng lại trở nên lớn trước mắt Đức Giêsu, bởi bà đã đặt vào đó cả tấm lòng. Cũng vậy, những người phụ nữ trong Tin Mừng hôm nay không chỉ “đưa tiền” cho Đức Giêsu như một hành vi tài trợ; họ đã đặt chính cuộc đời mình vào sứ vụ. Họ đi cùng Người. Họ đã được Người chữa lành, giải thoát, và từ kinh nghiệm được nhận lãnh ân sủng, họ trở thành những con người biết trao ban. Đây chính là nhịp điệu của đời sống Kitô hữu: nhận rồi trao, được yêu rồi yêu, được chữa lành rồi trở thành khí cụ chữa lành, được Thiên Chúa nâng đỡ rồi trở thành người nâng đỡ anh chị em. Ai thực sự ý thức mình đã được Thiên Chúa yêu thương sẽ dần dần không còn muốn giữ mọi thứ cho riêng mình. Người ấy sẽ tự nhiên muốn đáp lại. Không phải để trả nợ Thiên Chúa, vì ân sủng không thể mua bán và cũng không thể trả hết; nhưng vì lòng biết ơn tự nhiên muốn trở thành hành động. Maria Mácđala đã được giải thoát. Gioanna đã được chạm đến bởi Đức Giêsu. Những người phụ nữ khác cũng đã kinh nghiệm lòng thương xót. Và chính kinh nghiệm ấy biến họ thành những người phục vụ.
Có lẽ trong đời mình, mỗi người chúng ta cũng đang sống được là nhờ rất nhiều “Gioanna” mà đôi khi chúng ta chưa bao giờ gọi tên. Có thể đó là cha mẹ. Bao nhiêu năm chúng ta lớn lên mà chẳng bao giờ nghĩ kỹ rằng có biết bao điều cha mẹ âm thầm làm cho mình. Một bữa cơm có mặt trên bàn không tự nhiên mà có. Một bộ quần áo sạch không tự nhiên mà có. Một kỳ học được đóng tiền không tự nhiên mà có. Những đêm con đau cha mẹ thức trắng, những lần con thất bại cha mẹ buồn nhưng không nói, những đồng tiền dành dụm để con có cơ hội tiến xa hơn, những lời cầu nguyện âm thầm chẳng bao giờ con nghe thấy: tất cả là những sự nâng đỡ lặng lẽ. Có thể “Gioanna” trong đời ta là một người bạn từng ở bên khi ta suy sụp, không nói những lời triết lý cao siêu, chỉ ngồi đó nghe ta khóc. Có thể là một ân nhân đã giúp ta lúc khó khăn rồi không bao giờ nhắc lại. Có thể là một người thầy đã khuyến khích ta vào đúng lúc ta muốn bỏ cuộc. Có thể là một linh mục đã âm thầm cầu nguyện, đồng hành, nâng đỡ đời sống thiêng liêng của ta mà ta chẳng bao giờ hiểu hết những hy sinh phía sau. Có thể là một người trong cộng đoàn luôn đến sớm, về trễ, nhận phần việc chẳng ai muốn làm. Có thể là một người đang âm thầm trả tiền điện cho một điểm truyền giáo, mua gạo cho một cộng đoàn khó khăn, tài trợ học phí cho một em nghèo, gửi tiền thuốc cho một bệnh nhân, mà tên tuổi họ không hề được công bố. Nếu bình tâm nhìn lại cuộc đời, có lẽ chúng ta sẽ nhận ra chẳng ai trưởng thành một mình. Phía sau mỗi người luôn có biết bao bàn tay đỡ nâng. Thế nhưng con người có một nhược điểm là rất dễ nhận những điều tốt như thể đó là chuyện đương nhiên. Ta quen với sự hy sinh của cha mẹ đến mức không còn cảm ơn. Ta quen với sự phục vụ của người khác đến mức chỉ cần một hôm họ không làm là ta khó chịu. Ta quen nhà thờ sạch sẽ mà chẳng hỏi ai quét. Ta quen có hoa trên bàn thờ mà chẳng biết ai chuẩn bị. Ta quen có âm thanh tốt mà chẳng biết ai đã đến từ sớm. Ta quen có người chở mình đi mà chẳng nghĩ đến tiền xăng. Ta quen được người khác phục vụ rồi từ từ tưởng rằng đó là bổn phận của họ. Tin Mừng hôm nay mời chúng ta mở mắt ra để nhận thấy những con người âm thầm ấy và học nói lời cảm ơn khi còn có thể. Đừng chờ người ta qua đời rồi mới kể công lao của họ. Đừng chờ một người nghỉ phục vụ rồi mới thấy họ quan trọng. Đừng chờ cha mẹ mất rồi mới tiếc rằng ngày xưa mình chưa từng nói: “Con cảm ơn cha mẹ.” Đừng chờ một người rời khỏi cộng đoàn rồi mới nhận ra những việc họ từng âm thầm làm. Một câu cảm ơn chân thành đôi khi chẳng tốn gì, nhưng có thể trở thành nguồn động viên rất lớn cho một người đang phục vụ trong lặng lẽ. Đồng thời, Tin Mừng cũng hỏi chúng ta một câu khó hơn: ta có sẵn sàng trở thành một “Gioanna” cho người khác không? Hay ta chỉ thích được người khác làm “Gioanna” cho mình? Ta có sẵn sàng nâng đỡ mà không cần được biết ơn? Có sẵn sàng cho đi mà không cần khắc tên? Có sẵn sàng giúp một công việc thành công dù người khác đứng phía trước và được tán thưởng? Đây mới là thử thách của lòng quảng đại. Có nhiều khi người ta sẵn sàng làm việc nếu được đứng tên, nhưng không muốn làm nếu phải ở phía sau. Sẵn sàng đóng góp nếu được công bố, nhưng không muốn nếu chẳng ai biết. Sẵn sàng phục vụ nếu người khác cảm ơn, nhưng rất mau chán nếu không ai ghi nhận. Trong khi đó, Đức Giêsu lại dạy một con đường khác: Cha trên trời nhìn thấy điều kín đáo. Thiên Chúa nhìn thấy điều không ai thấy. Chính cái nhìn của Người phải là phần thưởng sâu xa nhất của người phục vụ.
Điều đẹp nhất nơi những phụ nữ đi theo Đức Giêsu còn nằm ở chỗ họ cho chúng ta thấy sứ vụ của Giáo Hội chưa bao giờ chỉ là công việc của hàng giáo sĩ hay của một vài người “chuyên nghiệp”. Ngay từ đầu, quanh Đức Giêsu đã có một cộng đoàn rất phong phú. Có Nhóm Mười Hai, có các phụ nữ, có những gia đình mở cửa đón Người, có những người cho Người dùng thuyền, có những người chuẩn bị phòng tiệc, có những người chôn cất Người, có những người âm thầm cung cấp những gì cần thiết. Mỗi người tham dự vào sứ vụ theo một cách khác nhau. Giáo Hội hôm nay cũng thế. Một linh mục không thể một mình làm nên một giáo xứ. Một giám mục không thể một mình xây dựng giáo phận. Một nhà truyền giáo không thể một mình thực hiện cả sứ vụ. Người giảng cần người cầu nguyện. Người đi truyền giáo cần người nâng đỡ. Người phục vụ người nghèo cần người đóng góp. Người dạy giáo lý cần cha mẹ tiếp tục giáo dục con cái tại nhà. Người làm truyền thông cần người cung cấp nội dung, kỹ thuật và phương tiện. Người điều hành cần người cộng tác. Nếu mỗi người chỉ hỏi: “Tôi được gì?” thì sứ vụ sẽ chết. Nhưng nếu mỗi người hỏi: “Tôi có thể đóng góp gì?” thì cộng đoàn sẽ sống. Giáo Hội đẹp nhất không phải khi có những cá nhân thật nổi bật, nhưng khi có hàng ngàn con người bình thường cùng trung thành làm phần việc của mình vì Đức Kitô. Một ngọn nến rất nhỏ không thể chiếu sáng cả thế giới, nhưng hàng triệu ngọn nến có thể đẩy lùi một vùng tối lớn. Một giọt nước chẳng đáng gì, nhưng vô số giọt nước làm nên dòng sông. Một hạt lúa thì nhỏ, nhưng cả cánh đồng được tạo thành từ những hạt lúa nhỏ. Thiên Chúa thích làm những điều lớn lao bằng những con người bé nhỏ. Bêlem nhỏ bé trở thành nơi Con Thiên Chúa giáng sinh. Nazareth vô danh trở thành nơi Ngôi Lời lớn lên. Một vài chiếc bánh và mấy con cá trong tay một em nhỏ trở thành bữa ăn cho đám đông. Hai đồng xu của bà góa trở thành bài học cho muôn thế hệ. Và chút của cải những người phụ nữ dâng lên đã trở thành phần nâng đỡ cuộc hành trình rao giảng Nước Trời. Bởi vậy, đừng bao giờ nói: “Tôi chẳng có gì để cho.” Hãy nhìn kỹ lại. Ta còn thời gian không? Ta có thể dành một giờ cho người đang cô đơn không? Ta còn đôi tai không? Ta có thể nghe một người đang đau khổ không? Ta có đôi tay không? Ta có thể giúp một người già không? Ta có kiến thức không? Ta có thể dạy một em nhỏ không? Ta có tiền bạc không, dù chẳng nhiều? Ta có thể chia một chút cho người thiếu thốn hơn không? Ta có điện thoại không? Ta có thể gọi hỏi thăm một người bệnh không? Ta có mạng xã hội không? Ta có thể dùng nó để gieo một lời tử tế thay vì gieo chia rẽ không? Ta có thể cầu nguyện không? Ta có thể mang một người đang đau khổ vào trong lời kinh không? Thiên Chúa không hỏi ta về những gì ta không có. Người hỏi ta về những gì Người đã trao cho ta. Và cuối cùng, có lẽ điều quan trọng nhất của Tin Mừng hôm nay chính là học sống trước mặt Thiên Chúa hơn là trước mặt người đời. Chúng ta đang sống trong một thời đại mà mọi thứ đều muốn được nhìn thấy: một bữa ăn cũng chụp hình, một chuyến đi cũng đăng lên, một việc thiện đôi khi cũng cần được công bố. Điều đó không phải lúc nào cũng xấu, nhưng nó có thể khiến chúng ta dần dần lệ thuộc vào ánh mắt người khác. Nếu không có ai “thích”, ta cảm thấy việc mình làm chẳng đáng giá. Nếu không ai khen, ta mất động lực. Nếu không được nhắc tên, ta buồn. Nếu người khác được ghi nhận còn mình không được, ta ganh tị. Tin Mừng mời chúng ta tìm lại tự do của người phục vụ vì Chúa. Làm điều tốt vì điều tốt đáng được làm. Yêu vì đã được Thiên Chúa yêu. Cho đi vì biết mọi sự mình có trước hết là quà tặng. Phục vụ vì Đức Kitô đã phục vụ chúng ta trước. Và dù chẳng ai biết, Cha trên trời vẫn biết. Đó là đủ. Ngày hôm nay, xin mỗi người chúng ta thử nhớ đến một vài “Gioanna” đã đi ngang đời mình. Hãy nhớ tên họ. Hãy nhớ những điều họ đã làm. Nếu họ còn sống, hãy cảm ơn họ. Nếu họ đã về với Chúa, hãy cầu nguyện cho họ. Rồi hãy nhìn vào chính đôi tay mình và hỏi: “Lạy Chúa, con có gì mà có thể đặt vào sứ vụ của Chúa hôm nay?” Có thể câu trả lời chẳng lớn lao. Có thể chỉ là một giờ thời gian, một khoản tiền nhỏ, một bữa cơm, một chuyến xe, một cuộc điện thoại, một việc âm thầm, một lời cầu nguyện. Nhưng nếu được trao bằng tình yêu, điều rất nhỏ ấy có thể trở thành một phần của một công trình lớn hơn ta rất nhiều. Biết đâu một người tiếp tục được đứng vững nhờ lời động viên của ta. Biết đâu một em nhỏ tiếp tục được đi học nhờ sự giúp đỡ rất nhỏ của ta. Biết đâu một sứ vụ tiếp tục tồn tại nhờ đóng góp chẳng ai biết tên của ta. Biết đâu một người không bỏ cuộc chỉ vì ngày hôm ấy ta đã chịu ngồi xuống và lắng nghe họ. Chúng ta không cần trở thành người nổi tiếng để cuộc đời có ý nghĩa. Chúng ta chỉ cần trở thành con người biết trao ban. Không cần đứng dưới ánh đèn để có giá trị. Chỉ cần ở đúng nơi Chúa muốn và làm điều Chúa trao với tình yêu. Maria Mácđala, Gioanna, Susanna và bao phụ nữ vô danh trong Tin Mừng hôm nay nhắc chúng ta rằng phía sau những công trình lớn của Thiên Chúa thường có những con người rất âm thầm. Tên của họ có thể không được ghi trên bia đá, nhưng được ghi trong lòng Thiên Chúa. Người đời có thể không biết họ đã làm gì, nhưng Chúa biết từng hy sinh. Không một ly nước nào trao vì danh Đức Kitô bị quên lãng. Không một lời cầu nguyện chân thành nào bị mất đi. Không một đồng tiền nhỏ nào được trao bằng tình yêu trở nên vô nghĩa. Không một bước chân âm thầm nào trên con đường phục vụ bị Thiên Chúa bỏ sót. Xin Chúa cho chúng ta đừng chỉ ao ước làm những điều lớn, nhưng biết làm những điều nhỏ với một tình yêu lớn; đừng chỉ thích được người khác nâng đỡ, nhưng biết trở thành người nâng đỡ; đừng chỉ tìm những vị trí được nhìn thấy, nhưng biết vui với những chỗ đứng âm thầm; đừng chỉ hỏi cuộc đời và Giáo Hội có thể cho mình điều gì, nhưng biết hỏi mình có thể trao gì cho cuộc đời và Giáo Hội. Và nhất là xin cho chúng ta hiểu rằng trong Nước Thiên Chúa, không có tình yêu chân thành nào là nhỏ bé, không có hy sinh nào là vô ích, không có người phục vụ âm thầm nào là vô danh trước mặt Chúa. Có thể thế giới sẽ chẳng nhớ tên chúng ta. Điều đó không quan trọng. Chỉ cần Thiên Chúa biết tên ta, biết tình yêu ta đã trao, biết những điều nhỏ bé ta đã làm vì Người và vì anh chị em mình, thế là một đời người đã đủ đẹp rồi.
Lm. Anmai, CSsR
ĐƯỢC CHÚA CHỮA LÀNH ĐỂ CÙNG CHÚA LÊN ĐƯỜNG
Tin Mừng theo thánh Luca 8,1-3 chỉ gồm vài câu rất ngắn, nhưng nếu dừng lại thật lâu trước những câu chữ tưởng như chỉ có tính tường thuật ấy, chúng ta sẽ khám phá ra một bức tranh vô cùng đẹp về Đức Giêsu, về cộng đoàn môn đệ đầu tiên, về ơn gọi Kitô hữu, về lòng biết ơn, về sự chữa lành, về tinh thần phục vụ và đặc biệt về một chân lý hết sức quan trọng: một khi con người thật sự được Đức Giêsu chạm đến, chữa lành, tha thứ và biến đổi, người ấy không thể tiếp tục sống như trước nữa, nhưng sẽ muốn bước theo Người, ở lại với Người, góp phần vào sứ mạng của Người và biến chính cuộc đời mình thành một lời đáp trả tình yêu. Thánh Luca kể rằng Đức Giêsu “rảo qua các thành phố, làng mạc, rao giảng và loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa”. Cùng đi với Người có Nhóm Mười Hai và một số phụ nữ đã được chữa khỏi bệnh tật và giải thoát khỏi thần dữ, trong đó có bà Maria Mácđala, bà Gioanna, bà Susanna và nhiều bà khác; các bà đã dùng của cải mình mà giúp đỡ Đức Giêsu và các môn đệ. Bài suy niệm từ Catholic Readings nhấn mạnh rất rõ hai chuyển động nối tiếp nhau: trước hết là để Đức Giêsu chạm đến, chữa lành, tha thứ và biến đổi mình; sau đó là đáp trả ân sủng ấy bằng một quyết định cụ thể là bước theo Người. Hai chuyển động ấy thực ra là toàn bộ hành trình của đời sống Kitô hữu: được yêu rồi học yêu; được tha thứ rồi học tha thứ; được cứu rồi trở thành người cộng tác với công trình cứu độ; được chữa lành rồi dùng chính những vết thương đã được chữa lành của mình để cảm thông với những người đang đau khổ; được Chúa tìm thấy rồi bắt đầu cùng Chúa đi tìm những người còn đang thất lạc.
Điều đầu tiên rất đáng để chúng ta chiêm ngắm chính là hình ảnh Đức Giêsu “rảo qua các thành phố, làng mạc”. Người không ngồi một nơi để chờ người ta tìm đến. Người lên đường. Người đi. Người bước vào những con đường bụi bặm của Galilê. Người đến với các thành thị đông đúc nhưng cũng không bỏ quên những làng quê nhỏ bé. Tin Mừng không bị đóng khung trong một nơi chốn. Nước Thiên Chúa không dành riêng cho một tầng lớp. Tình yêu của Thiên Chúa không có vùng ngoại lệ. Đức Giêsu đi từ nơi này sang nơi khác bởi vì trái tim Người luôn hướng về con người. Chỗ nào có người đau khổ, chỗ đó là điểm đến của Người. Chỗ nào có người tội lỗi đang khát một cơ hội làm lại cuộc đời, chỗ đó Người muốn hiện diện. Chỗ nào có những tâm hồn bị bỏ quên, bị loại trừ, bị kết án, bị coi thường, chỗ đó bước chân của Người hướng tới. Chúa Giêsu không rao giảng một Tin Mừng đứng yên; Người loan báo một Tin Mừng đang chuyển động. Và bởi thế, Hội Thánh cũng không thể là một Hội Thánh chỉ đứng yên bên trong những bức tường an toàn của mình. Người Kitô hữu cũng không thể chỉ giữ đạo bằng cách bảo toàn một số thói quen đạo đức riêng tư. Tin Mừng tự bản chất luôn thúc đẩy người đã gặp Chúa phải lên đường.
Nhưng Đức Giêsu lên đường để làm gì? Thánh Luca dùng hai động từ: rao giảng và loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Người không đi để xây dựng danh tiếng cho mình, không đi để tìm quyền lực, không đi để lập một đế chế trần gian, cũng không đi để gom người thành một nhóm nhằm đề cao bản thân. Người đi để nói cho con người biết rằng Thiên Chúa đang đến gần họ, rằng họ không bị bỏ rơi, rằng lịch sử của họ không vô nghĩa, rằng tội lỗi không phải lời cuối cùng, rằng đau khổ không có quyền quyết định ý nghĩa chung cuộc của đời người, rằng ngay cả cái chết cũng không thể khóa chặt tương lai của những ai thuộc về Thiên Chúa. Tin Mừng mà Đức Giêsu loan báo trước hết không phải là một bộ luật, nhưng là một biến cố: Thiên Chúa đang đến gần con người. Nước Thiên Chúa đang hiện diện nơi chính Đức Giêsu. Trong Người, người mù được thấy, người què được đi, người phong hủi được sạch, người tội lỗi được tha, người thất vọng được trao lại hy vọng, người bị xã hội loại ra ngoài được đưa trở về giữa cộng đoàn. Vì thế, khi bước theo Đức Giêsu, chúng ta không chỉ theo một vị thầy đạo đức; chúng ta bước theo Đấng đang đem cả lòng thương xót của Thiên Chúa vào những vùng tối nhất của nhân loại.
Một nét rất đẹp trong đoạn Tin Mừng là Đức Giêsu không đi một mình. Người hoàn toàn có thể thi hành sứ mạng một mình. Người không cần con người để trở thành Con Thiên Chúa. Người không cần Nhóm Mười Hai để lời Người có quyền năng. Người không cần những người phụ nữ trong Tin Mừng để phép lạ xảy ra. Thế nhưng Người muốn có họ bên cạnh. Người gọi Nhóm Mười Hai. Người chấp nhận sự đồng hành của những phụ nữ đã được Người chữa lành. Người cho phép con người tham dự vào sứ mạng của mình. Đó là điều kỳ diệu của ơn gọi Kitô hữu: Thiên Chúa có thể làm mọi sự mà không cần chúng ta, nhưng Người lại muốn làm nhiều điều cùng với chúng ta. Người không coi chúng ta như những khán giả đứng bên đường nhìn công trình cứu độ đi ngang qua; Người gọi chúng ta vào trong công trình ấy. Người trao cho mỗi người một phần việc. Có người rao giảng. Có người phục vụ. Có người cầu nguyện. Có người âm thầm hy sinh. Có người dùng tài sản của mình. Có người dùng kiến thức. Có người dùng thời giờ. Có người đem đến một nụ cười. Có người chỉ đơn giản hiện diện bên cạnh một người đang đau khổ. Nhưng tất cả đều có thể trở thành những người đồng hành với Đức Giêsu trên hành trình loan báo Tin Mừng.
Đáng chú ý hơn nữa là những người phụ nữ được thánh Luca kể tên không phải những con người hoàn toàn xa lạ với đau khổ. Họ là những người đã được chữa lành, đã từng mang thương tích, đã từng trải qua sự đổ vỡ nào đó trong cuộc đời. Tin Mừng nhắc đặc biệt đến Maria Mácđala, người đã được giải thoát khỏi bảy quỷ. Bất kể chúng ta hiểu con số ấy theo khía cạnh nào, điều rõ ràng là Maria đã kinh nghiệm rất sâu sắc quyền năng giải thoát của Đức Giêsu. Chị không bước theo Chúa từ một đời sống chưa từng biết đau khổ. Chị bước theo Chúa từ một cuộc đời đã được kéo ra khỏi bóng tối. Chị biết thế nào là bị trói buộc và cũng biết thế nào là được giải thoát. Chị biết thế nào là tuyệt vọng và cũng biết thế nào là được trao lại sự sống. Chính vì đã được cứu mà chị theo Người. Chính vì đã nhận quá nhiều mà chị muốn trao lại tất cả.
Đây cũng chính là điểm mà bài suy niệm từ Catholic Readings đặc biệt nhấn mạnh: khi chúng ta thật sự để Đức Giêsu chạm đến đời mình, chữa lành, tha thứ và biến đổi mình, thì tự bên trong sẽ nảy sinh một khát vọng muốn theo Người. Mối dây nối kết người môn đệ với Đức Kitô không chỉ là xúc cảm nhất thời nhưng sâu xa hơn nhiều: đó là mối dây được sinh ra từ ân sủng và ơn cứu độ. Điều này rất quan trọng, bởi đôi khi chúng ta tưởng đời sống đạo chủ yếu là bổn phận. Ta phải đọc kinh. Ta phải đi lễ. Ta phải giữ điều răn. Ta phải làm việc lành. Tất cả những điều ấy đều quan trọng, nhưng nếu đời sống Kitô hữu chỉ dừng ở chữ “phải”, nó rất dễ trở thành nặng nề. Cội nguồn thật sự của đời sống Kitô hữu là chữ “được”: tôi được yêu, được tha, được cứu, được tìm thấy, được Chúa kiên nhẫn, được Chúa chịu đựng, được Chúa cho cơ hội bắt đầu lại biết bao lần. Khi thấy được mình đã “được” nhiều đến mức nào, chữ “phải” sẽ dần biến thành chữ “muốn”: tôi muốn cầu nguyện vì tôi muốn ở với Người; tôi muốn tham dự Thánh lễ vì tôi khao khát gặp Người; tôi muốn phục vụ vì tôi đã được Người phục vụ; tôi muốn yêu người khác vì tôi đã được yêu trước; tôi muốn tha thứ bởi tôi biết chính mình sống được đến hôm nay là nhờ lòng tha thứ của Chúa.
Đời sống đức tin sẽ thay đổi rất nhiều khi ta bắt đầu nhìn mọi sự từ ân sủng. Người biết mình được cứu sẽ không còn phục vụ để chứng minh rằng mình tốt. Người biết mình được yêu sẽ không cần tranh giành để được người khác công nhận. Người biết mình được Chúa tha sẽ bớt khắc nghiệt khi nhìn lỗi lầm người khác. Người biết mình từng yếu đuối sẽ không dễ dàng chế giễu người đang vấp ngã. Người biết mình từng khóc sẽ biết ngồi bên người đang khóc. Người từng đi qua đêm tối sẽ không coi thường người chưa tìm được lối ra. Đó là lý do những người đã được chữa lành có thể trở thành những người phục vụ tuyệt vời nhất, nếu họ biết để ân sủng biến đổi những vết thương của mình thành lòng thương cảm.
Nhưng có một điều chúng ta cần hết sức phân định: được Chúa chữa lành không có nghĩa là tất cả những ký ức đau buồn của đời ta lập tức biến mất. Được Chúa chữa lành cũng không có nghĩa là ta từ đó không còn đau đớn, không còn yếu đuối, không còn cám dỗ, không còn những ngày tâm hồn mệt mỏi. Chữa lành theo Tin Mừng sâu hơn thế. Đó là khi quá khứ không còn có quyền định nghĩa ta. Ta có thể vẫn nhớ điều đã xảy ra, nhưng điều đó không còn nói cho ta biết ta là ai. Người khác có thể nhớ lỗi lầm của ta, nhưng trước mặt Thiên Chúa, ta không chỉ là tổng số những lỗi lầm ấy. Ta là người được yêu. Ta là người đã được gọi tên. Ta là người mà Chúa Giêsu đã nhìn bằng ánh mắt thương xót. Maria Mácđala có một quá khứ, nhưng quá khứ ấy không ngăn chị trở thành môn đệ trung thành. Trái lại, chính kinh nghiệm được giải thoát làm tình yêu của chị đối với Đức Giêsu thêm mãnh liệt.
Biết bao người trong chúng ta vẫn đang sống như thể quá khứ là một bản án không thể xóa. Một lần thất bại, ta tự gọi mình là kẻ thất bại. Một lần phạm tội nặng, ta nghĩ cả đời mình chỉ còn là tội lỗi. Một cuộc hôn nhân đổ vỡ, một đứa con sa ngã, một lần làm ăn phá sản, một quyết định sai lầm, một biến cố đau buồn, một vết thương trong gia đình, một thời kỳ sống xa Chúa, đôi khi trở thành cái nhãn chúng ta dán lên chính mình. Nhưng Tin Mừng hôm nay cho thấy những người bước bên cạnh Đức Giêsu không phải là một đoàn người không có quá khứ. Họ là những người có quá khứ đã được ân sủng chạm đến. Và đó là sự khác biệt. Kitô giáo không nói rằng quá khứ chưa từng xảy ra; Kitô giáo nói rằng trong Đức Kitô, quá khứ không còn nắm quyền tuyệt đối trên tương lai.
Nếu hôm nay chúng ta hỏi Maria Mácđala điều gì khiến chị theo Đức Giêsu, có lẽ chị không cần trình bày một bài thần học dài. Chị chỉ cần nói: “Tôi biết tôi đã từng là ai, và tôi biết Người đã làm gì cho tôi.” Có lẽ đó cũng phải là nền tảng của chứng tá Kitô hữu. Không nhất thiết ai trong chúng ta cũng có khả năng nói những điều sâu sắc về thần học. Không phải ai cũng đứng trên bục giảng. Không phải ai cũng viết sách hay giảng tĩnh tâm. Nhưng mỗi người đã gặp Đức Kitô đều có một câu chuyện. Câu chuyện ấy có thể rất bình thường: đã có lúc tôi mất hy vọng, nhưng Chúa nâng tôi lên; đã có lúc tôi oán giận, nhưng Chúa dạy tôi tha thứ; đã có lúc tôi xa Người, nhưng Người không bỏ tôi; đã có lúc tôi nghĩ đời mình không còn ý nghĩa, nhưng rồi một ngày tôi nhận ra Người vẫn ở đó; đã có lúc gia đình tôi tưởng như tan vỡ, nhưng nhờ cầu nguyện và sự nâng đỡ của cộng đoàn, chúng tôi học lại cách bước đi với nhau. Đó chính là những trang Tin Mừng đang tiếp tục được viết bằng đời sống.
Tin Mừng hôm nay cũng cho thấy một chi tiết rất thực tế: các phụ nữ “lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giêsu và các môn đệ”. Điều này nhắc chúng ta rằng yêu Chúa không chỉ là cảm xúc đạo đức. Lòng biết ơn luôn tìm một hình thức cụ thể để diễn tả. Những người phụ nữ ấy không chỉ nói: “Lạy Thầy, chúng con biết ơn Thầy.” Họ biến lòng biết ơn thành sự phục vụ. Họ sử dụng những gì họ có cho sứ mạng của Chúa. Đây là một bài học rất lớn. Có những người muốn yêu Chúa bằng lời nhưng chưa bao giờ để tình yêu ấy chạm vào thời giờ, tài năng, sức lực, tài chính hay những chọn lựa thực tế của mình. Nhưng tình yêu đích thực bao giờ cũng trở nên cụ thể. Nếu tôi thật sự yêu một người, tình yêu ấy sẽ đi vào lịch sống của tôi, vào cách tôi sử dụng tiền bạc, vào những ưu tiên của tôi, vào những hy sinh tôi sẵn sàng thực hiện. Với Thiên Chúa cũng vậy.
Câu hỏi vì thế không đơn giản là: “Tôi có yêu Chúa không?” bởi phần lớn chúng ta sẽ trả lời là có. Câu hỏi sâu hơn là: “Điều gì trong cuộc sống của tôi cho thấy tôi yêu Chúa?” Thời gian của tôi có nói điều đó không? Cách tôi sử dụng của cải có nói điều đó không? Cách tôi đối xử với người yếu thế có nói điều đó không? Cách tôi sống trong gia đình có nói điều đó không? Cách tôi nói về người khác khi họ vắng mặt có nói điều đó không? Cách tôi phản ứng khi bị tổn thương có nói điều đó không? Đức tin không chỉ được đo bằng những giây phút xúc động trong nhà thờ mà còn bằng vô số quyết định rất bình thường ngoài nhà thờ.
Có một vẻ đẹp khác trong cộng đoàn đi theo Đức Giêsu: mỗi người phục vụ theo cách khác nhau. Nhóm Mười Hai có một ơn gọi. Các phụ nữ có một cách đóng góp khác. Không ai cần trở thành bản sao của người khác. Điều quan trọng không phải ai làm việc nổi bật hơn nhưng là ai trung thành với điều Chúa trao. Trong Hội Thánh hôm nay cũng vậy. Có người được gọi làm linh mục, có người sống đời thánh hiến, có người xây dựng gia đình, có người dạy giáo lý, có người phục vụ người nghèo, có người làm bác sĩ, giáo viên, công nhân, nông dân, kỹ sư, doanh nhân; có người cả đời chỉ âm thầm chăm sóc cha mẹ già hoặc một người thân bệnh tật. Không phải mọi sự phục vụ đều xuất hiện trên bục cao. Có những phục vụ gần như không ai nhìn thấy nhưng trước mặt Thiên Chúa lại vô cùng quý giá.
Thật ra, Tin Mừng được nâng đỡ bằng rất nhiều hy sinh âm thầm mà lịch sử không bao giờ ghi lại. Có biết bao người mẹ thức khuya dậy sớm để con cái có thể lớn lên trong đức tin. Có biết bao người cha nhọc nhằn lao động, dành phần tốt nhất cho gia đình mà chẳng bao giờ kể công. Có biết bao người giáo dân âm thầm quét nhà thờ, cắm hoa, chăm người bệnh, đưa người già đi lễ, dạy giáo lý, giúp một gia đình nghèo đóng học phí cho con. Có những cụ già không thể làm gì ngoài lần chuỗi, nhưng chính những tràng hạt ấy có thể đang nâng đỡ một linh mục, một nhà truyền giáo, một gia đình đang khủng hoảng mà các cụ chưa từng gặp. Nước Thiên Chúa lớn lên bằng rất nhiều hạt giống vô danh như thế.
Vì vậy, đừng nghĩ rằng chỉ những ai đứng trước đám đông mới đang loan báo Tin Mừng. Người mẹ kiên nhẫn với đứa con khó tính đang loan báo Tin Mừng. Người chồng quyết định không buông một lời làm tổn thương vợ trong lúc nóng giận đang loan báo Tin Mừng. Người vợ chăm sóc người chồng đau yếu nhiều năm đang loan báo Tin Mừng. Một người con hiếu thảo với cha mẹ già đang loan báo Tin Mừng. Một người trẻ dám sống trung thực giữa môi trường đầy gian dối đang loan báo Tin Mừng. Một người chủ trả lương công bằng cho công nhân đang loan báo Tin Mừng. Một người bị xúc phạm nhưng từ chối trả thù đang loan báo Tin Mừng. Một người có điều kiện nhưng âm thầm chia sẻ với người khó khăn đang loan báo Tin Mừng. Loan báo Tin Mừng trước hết không phải là nói nhiều về Chúa, nhưng là để cho cách mình sống khiến người khác có thể nhận ra một chút dung mạo của Chúa.
Một điều nữa cần được nhấn mạnh: Đức Giêsu để cho người khác giúp đỡ Người. Điều này nghe có vẻ bình thường nhưng thật ra rất sâu sắc. Người là Con Thiên Chúa, nhưng trong mầu nhiệm Nhập Thể, Người chấp nhận sống sự lệ thuộc rất con người. Người cần chỗ ở. Người cần thức ăn. Người chấp nhận lòng quảng đại của người khác. Người không biến mình thành một nhân vật bất khả tiếp cận, không cần ai. Điều đó cũng dạy chúng ta nghệ thuật khiêm nhường để đón nhận. Có những người sẵn lòng cho nhưng lại rất khó nhận. Ta thích đóng vai người mạnh, người cứu giúp, người có khả năng, nhưng lại ngại để người khác thấy mình yếu đuối hoặc cần giúp đỡ. Thế nhưng cộng đoàn Kitô hữu không phải nơi chỉ có những người mạnh giúp những người yếu. Đó là nơi tất cả đều học cách vừa trao vừa nhận. Hôm nay tôi nâng bạn; ngày mai có thể bạn nâng tôi. Hôm nay tôi an ủi một người; một ngày khác chính tôi cần người đó ngồi bên mình. Không ai tự đủ. Chỉ Thiên Chúa là nguồn mạch tuyệt đối. Còn chúng ta được tạo dựng để sống trong tương quan.
Có lẽ một trong những căn bệnh tinh thần lớn nhất của thời đại là cảm giác con người phải tự mình giải quyết mọi thứ. Ta được dạy phải mạnh, phải độc lập, phải tự chủ, phải không để ai biết mình đang yếu. Nhưng Đức Giêsu cho chúng ta một con đường khác. Người lập một cộng đoàn. Người có Nhóm Mười Hai. Người có những phụ nữ đồng hành. Người đến nhà Bêtania. Người có những người bạn. Người không coi việc đón nhận lòng tốt của người khác là điều làm giảm phẩm giá. Vì thế, khi chúng ta để người khác yêu thương mình, đôi khi chính đó cũng là một hành vi khiêm nhường. Khi dám nói “xin cầu nguyện cho tôi”, ta đang sống sự thật. Khi dám nói “tôi đang mệt”, ta đang sống sự thật. Khi dám tìm sự trợ giúp thích hợp trong lúc khủng hoảng, ta không yếu đức tin; trái lại, có khi đó chính là cách Thiên Chúa đang đưa tay nâng ta qua cộng đoàn.
Đoạn Tin Mừng cũng đặt trước mặt chúng ta câu hỏi về trung tâm đời mình. Những người phụ nữ ấy, sau khi gặp Đức Giêsu, đã để Người trở thành trung tâm mới của cuộc sống. Bài suy niệm gốc diễn tả điều này như một hoa trái của ân sủng: khi ân sủng biến đổi họ, họ sẵn sàng đặt Đức Giêsu vào trung tâm và theo Người bất cứ nơi đâu Người đi. Đây là câu hỏi quan trọng đối với chúng ta: điều gì đang thật sự ở trung tâm cuộc đời tôi? Ta có thể nói “Chúa là số một”, nhưng thứ ở trung tâm thường được nhận ra qua điều chiếm nhiều nhất sự lo lắng, năng lượng và lựa chọn của ta. Có thể tiền bạc đang ở trung tâm. Có thể danh dự. Có thể một người nào đó. Có thể công việc. Có thể nỗi sợ. Có thể một vết thương. Có thể chính cái tôi. Có những người đi lễ hằng ngày nhưng trung tâm cuộc sống vẫn là cái tôi; mọi chuyện đều được đo bằng việc “người khác nghĩ gì về tôi”, “tôi được gì”, “tại sao họ không tôn trọng tôi”, “tại sao tôi không được công nhận”. Khi Đức Kitô thật sự trở lại trung tâm, nhiều thứ khác sẽ tự động trở về đúng chỗ.
Đặt Đức Giêsu ở trung tâm không có nghĩa là bỏ bê gia đình hay công việc để chỉ làm những việc đạo đức. Ngược lại, khi Chúa ở trung tâm, ta sẽ yêu gia đình đúng hơn, làm việc chân thành hơn, sử dụng tiền bạc khôn ngoan hơn, đối xử với người khác nhân hậu hơn. Chúa không cạnh tranh với những tình yêu chân chính của con người. Người thanh luyện và hoàn thiện chúng. Một người cha càng gần Chúa thì càng phải trở thành người cha tốt hơn. Một người mẹ càng yêu Chúa thì càng học kiên nhẫn hơn với gia đình. Một linh mục càng cầu nguyện thì càng phải trở thành người mục tử biết lắng nghe hơn. Một người làm kinh doanh càng sống Tin Mừng thì càng phải công bằng hơn. Một người có trách nhiệm xã hội càng thuộc về Đức Kitô thì càng phải tôn trọng phẩm giá con người hơn.
Theo Đức Giêsu “bất cứ nơi đâu Người đi” là điều rất đẹp để nói nhưng không dễ để sống. Có những nơi Chúa dẫn ta đến mà ta rất vui: thành công, bình an, sức khỏe, được yêu mến, công việc thuận lợi. Nhưng có những đoạn đường ta không muốn đi: bệnh tật, thất bại, hiểu lầm, tuổi già, mất mát, thập giá. Theo Chúa không phải chỉ đi cùng Người khi đường bằng phẳng. Maria Mácđala và những người phụ nữ đã không chỉ theo Đức Giêsu trong những ngày đám đông tung hô; Tin Mừng sẽ dẫn họ đến gần thập giá. Đó là phép thử của tình yêu. Có thứ tình yêu chỉ tồn tại khi được hưởng lợi. Nhưng tình yêu môn đệ trưởng thành khi có thể nói: “Lạy Chúa, con không hiểu con đường này, nhưng con vẫn muốn đi với Chúa.”
Đời sống đức tin có những giai đoạn chúng ta cảm thấy Chúa thật gần. Cầu nguyện rất dễ. Thánh lễ rất sốt sắng. Lời Chúa như nói trực tiếp với mình. Nhưng cũng có những thời kỳ khô khan. Ta cầu nguyện mà không cảm được gì. Ta xin mãi mà dường như không nhận được câu trả lời. Có những người đau khổ nhiều năm. Có gia đình cầu nguyện cho một người con nhưng chưa thấy thay đổi. Có người mang bệnh tật rất lâu. Có người làm việc thiện nhưng bị hiểu lầm. Chính những lúc ấy mới rõ chúng ta theo Chúa vì điều gì: vì những an ủi Chúa cho hay vì chính Chúa?
Đi theo Đức Giêsu không đảm bảo chúng ta sẽ luôn hiểu Người. Nhóm Mười Hai đã nhiều lần không hiểu. Đi theo Người cũng không đảm bảo cuộc đời sẽ không có bão tố. Chính các môn đệ ở trên thuyền với Người mà bão vẫn xảy ra. Đi theo Chúa không có nghĩa là tránh được thập giá; nhiều khi chính việc trung thành sẽ dẫn chúng ta đến thập giá. Nhưng khác biệt là ta không còn đi một mình. Đó là điều quyết định. Kitô hữu không phải là người không đau khổ. Kitô hữu là người trong đau khổ vẫn có Đấng cùng đi. Kitô hữu không phải người luôn có câu trả lời. Kitô hữu là người khi chưa có câu trả lời vẫn biết mình đang ở trong tay ai.
Đồng thời, Tin Mừng hôm nay mời chúng ta xét lại thái độ đối với sự phục vụ. Những phụ nữ này phục vụ Đức Giêsu từ “của cải mình”. Nghĩa là họ không phục vụ bằng cái gì tưởng tượng nhưng bằng điều thực tế đang có. Đây là một nguyên tắc rất hữu ích trong đời sống thiêng liêng. Nhiều khi ta trì hoãn việc thiện vì nghĩ mình chưa đủ điều kiện. Ta nói: khi nào có nhiều tiền hơn tôi sẽ giúp người nghèo; khi nào rảnh hơn tôi sẽ phục vụ; khi nào giỏi hơn tôi sẽ dạy giáo lý; khi nào sống thánh thiện hơn tôi mới làm chứng cho Chúa. Nhưng Chúa thường hỏi: “Con đang có gì?” Có năm chiếc bánh và hai con cá thì đem năm chiếc bánh và hai con cá. Có một giờ thì trao một giờ. Có khả năng lắng nghe thì dùng khả năng ấy. Có chiếc xe thì đôi khi chở một người già đi bệnh viện. Có kiến thức thì giúp một em nhỏ học. Có tiền thì chia sẻ. Không có tiền vẫn có thể trao thời gian. Không có nhiều sức khỏe vẫn có thể cầu nguyện. Không thể đi xa vẫn có thể nâng đỡ người ở ngay bên cạnh.
Đức Giêsu không đòi ta trao cái ta không có. Người hỏi ta về cái đang nằm trong tay mình. Vấn đề không phải số lượng mà là trái tim. Người góa phụ chỉ có hai đồng tiền nhỏ nhưng Chúa nhìn thấy tất cả tấm lòng. Một ly nước lã trao vì danh Người cũng không mất phần thưởng. Những hành động nhỏ khi được thực hiện bằng tình yêu có một trọng lượng vĩnh cửu mà mắt trần không thấy.
Nhìn sâu hơn nữa, những người phụ nữ trong Tin Mừng còn cho ta thấy một thứ tự thiêng liêng rất đẹp: nhận lãnh trước, phục vụ sau. Họ đã được chữa lành rồi mới phục vụ. Đây là một lời cảnh tỉnh cho những ai hoạt động tông đồ quá nhiều mà không để chính mình được Chúa chăm sóc. Ta có thể làm rất nhiều việc cho Chúa mà lại ít ở với Chúa. Ta có thể nói cho người khác về cầu nguyện nhưng chính mình cầu nguyện rất ít. Ta có thể khuyên người khác tin tưởng nhưng bên trong mình lại cạn kiệt. Ta có thể phục vụ đến kiệt sức bởi vì âm thầm nghĩ mọi việc phụ thuộc vào mình. Khi đó việc tông đồ có nguy cơ không còn phát xuất từ ân sủng mà từ áp lực.
Trước khi các môn đệ được sai đi, họ đã được gọi “ở với Người”. Đời tông đồ luôn phát xuất từ sự ở lại. Nếu chúng ta không để Chúa yêu mình, việc phục vụ sẽ dần trở thành gánh nặng. Nếu không để Chúa chữa lành những vết thương bên trong, ta có thể vô tình đem những vết thương ấy vào trong cách phục vụ người khác. Người bị tổn thương mà chưa được chữa lành đôi khi dễ làm người khác tổn thương. Người đang khát được công nhận có thể dùng việc tông đồ để tìm lời khen. Người đang mang mặc cảm quyền lực có thể biến trách nhiệm thành kiểm soát. Vì vậy, điều quan trọng không chỉ là “tôi đang làm gì cho Chúa?” mà còn là “tôi đang để Chúa làm gì trong tôi?”
Mỗi ngày, Chúa muốn chạm đến những tầng sâu trong tâm hồn chúng ta. Có những vết thương ta giấu rất kỹ. Có những giận dữ nhiều năm không ai biết. Có những mặc cảm từ thời thơ ấu. Có những lời người khác nói cách đây hàng chục năm nhưng vẫn còn vang trong đầu. Có những thất bại ta chưa tha thứ cho chính mình. Có những người ta nói đã tha thứ nhưng chỉ cần nhắc tên là lòng vẫn sôi lên. Đức Giêsu không chỉ muốn chúng ta hoạt động cho Người; Người muốn chúng ta được tự do. Không phải thứ tự do giả tạo của việc quên hết quá khứ, mà là tự do của một người có thể nhớ lại quá khứ mà không còn bị nó điều khiển.
Bài suy niệm gốc kết thúc bằng hai câu hỏi rất đáng mang vào giờ cầu nguyện: chúng ta có thật sự để Đức Giêsu tuôn đổ ân sủng vào đời mình, chạm đến, thay đổi, tha thứ và chữa lành mình hay chưa; và nếu đã nhận được ân sủng ấy, chúng ta đã đáp lại bằng quyết định theo Người hay chưa? Hai câu hỏi ấy không chỉ dành cho người mới theo đạo. Một người đã sống đời Kitô hữu năm mươi năm vẫn phải hỏi. Một linh mục nhiều năm sứ vụ vẫn phải hỏi. Một tu sĩ đã khấn trọn vẫn phải hỏi. Bởi vì ta có thể ở gần những điều thánh mà lòng lại dần xa Đấng Thánh. Ta có thể làm việc cho Chúa nhưng không còn bước với Chúa. Ta có thể nói về Đức Giêsu cho người khác nhưng chính mình không còn ngạc nhiên trước lòng thương xót của Người.
Có lẽ mỗi người cần trở lại với câu hỏi rất đơn sơ: Chúa đã làm gì cho tôi? Không cần tìm những phép lạ lớn lao. Hãy nhìn lại đường đời. Có bao nhiêu lần ta tưởng không thể vượt qua nhưng cuối cùng vẫn đứng dậy? Có bao nhiêu lần ta sai lầm mà vẫn được cho cơ hội? Có bao nhiêu người tốt Chúa đã gửi đến đúng lúc? Có bao nhiêu nguy hiểm ta không hề biết mình đã được gìn giữ khỏi? Có bao nhiêu lần ta phạm tội, đến tòa giải tội, và nghe những lời tuyệt vời: “Cha tha tội cho con”? Chúng ta quen với bí tích Hòa Giải đến mức đôi khi không còn kinh ngạc. Nhưng nếu hiểu thật sự điều xảy ra, có lẽ ta phải khóc vì biết ơn. Thiên Chúa không chỉ dung thứ; Người trả lại tương lai.
Thánh Thể cũng vậy. Mỗi Thánh lễ là một lời tuyên bố rằng Đức Giêsu vẫn tiếp tục trao chính mình cho chúng ta. Người không chỉ cho giáo huấn; Người trao Mình và Máu. Khi rước lễ, ta không nhận một biểu tượng trống rỗng; ta được mời vào sự hiệp thông với chính Đức Kitô. Nếu thật sự ý thức điều đó, không ai có thể bước ra khỏi nhà thờ rồi sống hoàn toàn như trước. Người đã nhận Mình Đức Kitô được gọi trở thành thân mình của tình yêu giữa đời. Người đã rước lấy Đấng bẻ mình ra vì nhân loại cũng được mời học cách bẻ đời mình ra vì người khác.
Thế giới hôm nay không thiếu những lời nói nhưng thiếu những cuộc đời có sức thuyết phục. Người ta có thể không đọc Kinh Thánh nhưng họ đọc đời sống người Công giáo. Họ nhìn cách chúng ta cư xử trong gia đình. Họ nhìn cách chúng ta làm ăn. Họ nhìn cách chúng ta đối xử với người không cùng quan điểm. Họ nhìn cách chúng ta nói về một người đã làm mình tổn thương. Nếu miệng chúng ta nói về Tin Mừng nhưng đời sống lại đầy gian dối, kiêu căng, chia rẽ, người khác sẽ không tin. Nhưng nếu họ gặp một người bình an giữa thử thách, công bằng giữa môi trường gian dối, nhân hậu giữa một xã hội dễ kết án, biết xin lỗi khi sai, biết tha thứ khi bị xúc phạm, họ sẽ bắt đầu đặt câu hỏi: điều gì làm con người này sống khác?
Tin Mừng không lan rộng trước hết nhờ kỹ thuật truyền thông hoàn hảo, nhưng nhờ những con người được Đức Kitô biến đổi. Phương tiện rất quan trọng. Internet, truyền hình, phát thanh, mạng xã hội có thể trở thành những con đường tuyệt vời để loan báo Tin Mừng. Nhưng không phương tiện nào thay thế được chứng tá. Một bài giảng hay có thể chạm đến tâm trí, nhưng một đời sống thánh thiện có thể chạm tới trái tim. Một câu nói về tình yêu có thể gây xúc động, nhưng một hành động yêu thương cụ thể mới khiến người ta tin rằng tình yêu ấy có thật.
Đặc biệt trong thời đại hôm nay, khi con người dễ hoài nghi mọi thiết chế và lời nói, sự chân thật càng trở thành ngôn ngữ truyền giáo mạnh mẽ. Người ta không đòi Kitô hữu phải hoàn hảo. Nhưng họ có quyền mong Kitô hữu chân thật. Khi sai thì nhận sai. Khi yếu thì biết mình yếu. Khi cần hoán cải thì hoán cải. Không tô son cho khuyết điểm. Không dùng đạo đức để che cái tôi. Chính một Hội Thánh biết mình cũng luôn cần lòng thương xót có thể nói cách đáng tin cậy về lòng thương xót cho thế giới.
Những phụ nữ trong Tin Mừng hôm nay không phải là những con người đứng bên ngoài lịch sử cứu độ. Họ ở ngay trong đoàn người đi với Đức Giêsu. Điều ấy cho chúng ta thấy sự rộng mở rất đẹp nơi cách Đức Giêsu xây dựng cộng đoàn. Người nhìn thấy phẩm giá nơi những người mà xã hội đương thời nhiều khi không trao đủ tiếng nói. Người để họ hiện diện, phục vụ và tham dự vào sứ mạng. Trong Hội Thánh hôm nay cũng vậy, mỗi người đã lãnh nhận phép Rửa đều có phẩm giá và sứ mạng. Không ai chỉ là người tiêu thụ các dịch vụ tôn giáo. Không ai nên nghĩ: “Việc truyền giáo là của linh mục và tu sĩ.” Cha xứ không thể thay cha mẹ dạy con cầu nguyện mỗi tối. Nữ tu không thể thay một người chủ doanh nghiệp sống lương tâm Kitô giáo tại nơi làm việc. Giáo lý viên không thể thay người trẻ làm chứng cho đức tin giữa bạn bè. Mỗi người có một miền truyền giáo riêng.
Miền truyền giáo gần nhất thường không nằm ở một đất nước xa xôi mà ngay trong nhà. Đôi khi người chúng ta cần loan báo Tin Mừng trước tiên là vợ, chồng, con cái, cha mẹ mình; và không phải bằng những bài giảng dài nhưng bằng cách sống. Một đứa trẻ sẽ hiểu lòng thương xót của Thiên Chúa dễ hơn nếu nó đã trải nghiệm lòng thương xót nơi cha mẹ. Một người chồng sẽ dễ tin vào sự dịu dàng của Chúa nếu trong mái nhà có sự dịu dàng. Một người vợ sẽ cảm được sự trung tín nếu chồng trung tín. Một người già sẽ hiểu mình không bị Thiên Chúa bỏ rơi khi con cháu không bỏ rơi họ.
Đôi khi chúng ta muốn cứu cả thế giới nhưng lại thiếu kiên nhẫn với người trong nhà. Muốn phục vụ người nghèo nhưng khó chịu khi một người thân cần mình. Muốn nói về tình yêu nhưng lời nói trong gia đình đầy sắc bén. Tin Mừng hôm nay gọi ta trở lại với sự cụ thể. Đi với Đức Giêsu nghĩa là để bước chân của Người đi vào chính những tương quan gần gũi nhất.
Và có lẽ điều đẹp nhất của việc đi theo Chúa không nằm ở những gì chúng ta làm cho Người mà ở việc chúng ta được ở bên Người. Các môn đệ và những người phụ nữ không chỉ làm việc; họ “cùng đi với Người”. Đó mới là cốt lõi. Thiên đàng cuối cùng cũng chính là được ở với Chúa mãi mãi. Đời Kitô hữu bắt đầu nếm trước thiên đàng khi ta học sống từng ngày trong sự hiện diện của Người. Buổi sáng thức dậy nói: “Lạy Chúa, hôm nay xin cùng đi với con.” Khi bước vào công việc: “Lạy Chúa, xin làm việc cùng con.” Khi gặp người khó chịu: “Lạy Chúa, xin giúp con nhìn họ bằng mắt Chúa.” Khi có tin buồn: “Lạy Chúa, con không hiểu nhưng xin đừng để con rời tay Người.” Khi thành công: “Lạy Chúa, tất cả là hồng ân.” Khi tối đến: “Lạy Chúa, cảm ơn vì hôm nay Người vẫn ở đây.”
Nếu sống như thế, cả cuộc đời trở thành một hành trình Emmaus dài. Có những lúc ta không nhận ra Người, nhưng Người vẫn bước bên cạnh. Có những lúc lòng ta buồn, nhưng Người đang giải thích Kinh Thánh. Có những lúc trời gần tối, ta chỉ cần nói: “Xin ở lại với chúng con.” Và rồi trong việc bẻ bánh, mắt ta có thể mở ra.
Tin Mừng hôm nay cuối cùng mời gọi mỗi người tự hỏi: Tôi là ai trong đoàn người đi với Đức Giêsu? Tôi vẫn còn đứng bên đường nhìn Người đi qua, hay đã thực sự bước vào đoàn? Tôi đang mang theo điều gì có thể phục vụ cho Nước Thiên Chúa? Tôi có đang giữ lại một phần đời không cho Chúa bước vào không? Có vết thương nào tôi chưa để Người chạm tới? Có tội lỗi nào tôi vẫn cố giấu? Có một người nào tôi chưa chịu tha thứ? Có một thói quen nào đang cản bước tôi? Có một lời mời gọi nào tôi biết Chúa đã đặt trong lòng nhưng vẫn trì hoãn?
Chúng ta không cần trả lời tất cả trong một ngày. Chỉ cần đủ thành thật để mở cửa. Đức Giêsu không ép buộc. Người chữa lành nhưng tôn trọng tự do. Người gọi nhưng chờ lời đáp. Người trao ân sủng nhưng không biến chúng ta thành máy móc. Tình yêu chỉ thật sự là tình yêu khi được tự do đáp lại.
Hôm nay, hãy thử nhìn lại cuộc đời không trước hết bằng những điều mình đã mất nhưng bằng những điều mình đã nhận. Có thể chúng ta đã mất nhiều. Có thể đời đã để lại không ít vết thương. Nhưng nếu còn có thể cầu nguyện, còn có thể quay về, còn có thể nói “Lạy Chúa, con đây”, thì câu chuyện vẫn chưa kết thúc. Đức Kitô vẫn đang đi qua những thành phố và làng mạc của thế giới. Người vẫn đang loan báo Nước Thiên Chúa. Người vẫn đang chữa lành. Người vẫn đang giải thoát. Người vẫn đang gọi những con người rất bình thường đi với Người.
Người không hỏi chúng ta quá khứ hoàn hảo đến đâu. Người hỏi ta có muốn bước theo không. Người không hỏi ta có bao nhiêu tài năng. Người hỏi ta có sẵn sàng trao điều mình có không. Người không đòi ta phải hiểu hết con đường. Người chỉ mời ta tin Đấng đang dẫn đường.
Và khi ta thật sự nhận ra mình đã được yêu biết bao, có lẽ điều tự nhiên nhất sẽ là nói: “Lạy Chúa, con muốn đi với Chúa.”
Không phải bởi vì con mạnh.
Không phải bởi vì con tốt.
Không phải bởi vì con xứng đáng.
Nhưng bởi vì Chúa đã tìm thấy con khi con lạc mất; đã nâng con khi con ngã; đã tha thứ khi con phạm tội; đã kiên nhẫn khi con cứng lòng; đã ở lại khi nhiều người bỏ đi; đã ban hy vọng khi con muốn buông xuôi. Con bước theo Chúa vì con biết nếu rời Người, con chẳng biết đi đâu. Con phục vụ không phải để mua tình yêu Chúa, nhưng bởi vì con đã nhận tình yêu ấy nhưng không. Con trao đi không phải để Chúa mắc nợ con, nhưng vì cả đời con đã là một món nợ ân tình không bao giờ trả hết.
Xin cho chúng ta giống Maria Mácđala và những người phụ nữ trong Tin Mừng: để Đức Giêsu thật sự chạm đến những vùng sâu kín nhất của đời mình; để Người chữa lành những gì đang bị thương; giải thoát những gì đang bị trói buộc; tha thứ những gì đang tội lỗi; thanh luyện những gì còn ích kỷ; và rồi, khi đã nhận biết mình được yêu, chúng ta không đứng yên nhưng lên đường. Xin cho đôi chân chúng ta biết bước theo chân Chúa, đôi tay biết phục vụ, đôi mắt biết nhìn thấy người đau khổ, đôi tai biết nghe tiếng khóc âm thầm, miệng biết nói những lời đem lại sự sống, trái tim biết rung động trước nỗi đau của tha nhân. Xin cho tiền bạc, khả năng, thời giờ, sức khỏe, những mối tương quan và cả những đau khổ của chúng ta đều có thể trở thành chất liệu cho Nước Thiên Chúa.
Lạy Chúa Giêsu, xin đừng chỉ cho chúng con biết về Chúa; xin cho chúng con gặp Chúa. Đừng chỉ cho chúng con thuộc những lời Chúa dạy; xin cho những lời ấy đi xuống tận trái tim. Xin tha thứ cho những lần chúng con nhận quá nhiều nhưng biết ơn quá ít, những lần cầu xin rất nhiều nhưng phục vụ quá ít, những lần muốn Chúa theo kế hoạch của chúng con thay vì chúng con bước theo con đường Chúa. Xin chữa lành những vết thương khiến chúng con khép lòng. Xin giải thoát chúng con khỏi những ràng buộc vô hình của tự ái, tiền bạc, danh vọng, ganh tị, giận dữ và sợ hãi. Xin làm cho chúng con được tự do để yêu.
Và khi Chúa lại lên đường đi qua những thành phố và làng mạc của thời đại chúng con, xin đừng để chúng con đứng ngoài nhìn. Xin gọi chúng con. Xin cho chúng con đủ can đảm đứng dậy. Có thể chúng con chẳng có gì nhiều để dâng, nhưng xin nhận lấy những gì chúng con đang có. Có thể chúng con không đi được những con đường lớn, nhưng xin cho chúng con trung thành trên con đường nhỏ. Có thể tên chúng con chẳng bao giờ được ai biết đến, nhưng xin cho cuộc đời chúng con được Chúa biết. Có thể công việc chúng con làm chẳng ai nhớ, nhưng xin cho nó góp một viên đá nhỏ trong công trình Nước Chúa.
Xin cho đến ngày kết thúc hành trình trần thế, chúng con có thể nhìn lại và nhận ra rằng điều đẹp nhất trong cuộc đời không phải là đã có bao nhiêu của cải, được bao nhiêu người biết đến hay thành công đến mức nào, nhưng là đã từng được Chúa chạm đến, được Chúa chữa lành, được Chúa gọi tên và được bước một quãng đường dài bên cạnh Người. Và khi ngày cuối cùng đến, xin cho lời mời gọi đầu tiên “Hãy theo Thầy” được hoàn tất bằng lời mời cuối cùng đầy yêu thương: “Hãy vào hưởng niềm vui của Chủ anh.”
Lm. Anmai, CSsR
NHỮNG CON NGƯỜI ÂM THẦM ĐI CÙNG CHÚA
Tin Mừng theo thánh Luca chỉ dành ba câu rất ngắn để kể cho chúng ta một chi tiết tưởng như rất bình thường trên hành trình rao giảng của Đức Giêsu: Người đi qua các thành phố, làng mạc, loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa; cùng đi với Người có Nhóm Mười Hai và một số phụ nữ đã được chữa lành, được giải thoát khỏi những quyền lực làm họ đau khổ; trong số đó có Maria Mácđala, Gioanna, Susanna và nhiều người khác, và “các bà này đã lấy của cải mình mà giúp đỡ Đức Giêsu và các môn đệ”. Chỉ ba câu thôi, không có phép lạ ngoạn mục, không có một bài giảng dài, không có cuộc tranh luận gay gắt với người Pharisêu, không có một người chết được sống lại, cũng chẳng có đám đông kinh ngạc tung hô. Nhưng nếu chúng ta chậm lại trước ba câu Tin Mừng này, chúng ta sẽ nhận ra phía sau sự đơn sơ ấy là cả một thế giới của lòng biết ơn, của sự cộng tác, của tình yêu được biến thành phục vụ, của những con người không đứng trên bục cao nhưng âm thầm làm cho Tin Mừng có thể tiếp tục lên đường. Và có lẽ chính ở đây Chúa muốn nói với chúng ta một điều rất quan trọng: Nước Thiên Chúa không chỉ được xây dựng bằng những việc lớn lao mà người đời nhìn thấy; Nước Thiên Chúa còn được nâng đỡ từng ngày bằng biết bao bàn tay âm thầm, bằng những hy sinh không ai biết, bằng những đồng tiền nhỏ bé, những bữa cơm được chuẩn bị, những bước chân đi cùng nhau, những lời cầu nguyện kín đáo, những giọt mồ hôi của những người chẳng bao giờ được nhắc tên trước công chúng. Trong lịch sử cứu độ, có những người đứng ở tiền tuyến rao giảng, nhưng cũng có biết bao người đứng phía sau để cho người rao giảng có thể tiếp tục bước đi. Có người cất tiếng nói, có người âm thầm nâng đỡ người đang cất tiếng nói. Có người bước lên cung thánh, có người lặng lẽ lau dọn nhà thờ khi mọi người đã về hết. Có người giảng một bài giảng được hàng ngàn người nghe, nhưng cũng có một bà mẹ già âm thầm lần chuỗi cầu nguyện cho người giảng ấy. Có một linh mục lên đường phục vụ giáo dân, nhưng phía sau ngài có thể là biết bao ân nhân âm thầm, những người nấu cho ngài một bữa cơm, sửa giúp một chiếc xe, chuẩn bị một căn phòng, đưa một người bệnh đến gặp ngài, đóng góp một khoản tiền rất nhỏ cho một công việc mục vụ. Có một nhà truyền giáo đi đến vùng xa, nhưng phía sau chuyến đi ấy là bao người đã cầu nguyện, hy sinh, góp gạo, góp tiền, góp công sức. Thiên Chúa thấy tất cả. Và Tin Mừng hôm nay như mở một cánh cửa nhỏ cho chúng ta nhìn vào phần khuất của sứ vụ Đức Giêsu để hiểu rằng chẳng có công trình nào của Thiên Chúa được xây dựng bởi một người duy nhất.
Điều đầu tiên khiến chúng ta xúc động là Đức Giêsu không đi một mình. Người có thể làm mọi sự. Người là Con Thiên Chúa. Người chẳng cần tiền bạc của ai để quyền năng Thiên Chúa được thể hiện. Người đã từng hóa bánh ra nhiều nuôi hàng ngàn người. Người có thể làm cho nước hóa thành rượu. Người có thể bảo Phêrô thả câu và tìm thấy đồng tiền trong miệng cá. Nhưng khi bước vào đời sống bình thường của sứ mạng, Đức Giêsu lại chấp nhận cần đến sự cộng tác của con người. Đây là một mầu nhiệm rất đẹp của Thiên Chúa. Thiên Chúa toàn năng nhưng lại muốn con người cộng tác với Người. Thiên Chúa có thể cứu thế giới mà không cần chúng ta, nhưng Người lại muốn chúng ta có phần trong công trình cứu độ. Thiên Chúa có thể làm cho Tin Mừng vang lên bằng một phép lạ từ trời, nhưng Người lại muốn dùng tiếng nói yếu ớt của một con người. Thiên Chúa có thể nuôi người nghèo bằng manna từ trời, nhưng Người lại muốn người có bánh biết chia bánh cho người đang đói. Thiên Chúa có thể an ủi người đau khổ bằng một luồng ánh sáng siêu nhiên, nhưng Người thường muốn dùng bàn tay của chúng ta để đặt lên vai một người đang khóc. Thiên Chúa có thể đến thăm một bệnh nhân bằng quyền năng trực tiếp của Người, nhưng Người lại hỏi chúng ta: “Con có thể đến thăm họ thay cho Ta không?” Thiên Chúa có thể chăm sóc một người cô đơn, nhưng Người lại muốn trái tim chúng ta trở thành trái tim của Người, đôi chân chúng ta trở thành đôi chân của Người, bàn tay chúng ta trở thành bàn tay của Người. Đó chính là phẩm giá lớn lao của người Kitô hữu: chúng ta không chỉ là những người đứng bên ngoài nhìn Thiên Chúa hành động, nhưng được mời bước vào công trình của Người.
Tin Mừng còn nói rõ tên của một số phụ nữ: Maria gọi là Mácđala, Gioanna vợ ông Khuđa, Susanna và nhiều bà khác. Thật cảm động khi thánh Luca không nói đơn giản rằng “có một số phụ nữ”, nhưng ghi lại tên của họ. Trong Thánh Kinh, được gọi tên không phải là chuyện nhỏ. Được gọi tên nghĩa là một con người được nhìn nhận trong phẩm giá riêng của mình. Trước mặt Thiên Chúa, không ai chỉ là một con số. Không ai chỉ là “một người trong đám đông”. Mỗi người có một khuôn mặt, một câu chuyện, một vết thương, một cuộc đời và một tên gọi. Maria Mácđala không phải chỉ là “một phụ nữ”; chị là Maria. Gioanna không phải chỉ là “vợ của một người quản lý”; chị là Gioanna. Susanna cũng không bị chìm vào một tập thể vô danh; chị được Tin Mừng nhớ tên. Điều ấy nói với chúng ta rằng trong trái tim Thiên Chúa không có người vô danh. Người đời có thể quên ta. Những gì ta làm có thể không được ghi vào sử sách. Những hy sinh của ta có thể chẳng được ai tuyên dương. Có khi cả một đời người mẹ phục vụ gia đình mà con cái vẫn xem đó là điều đương nhiên. Có khi một người cha vất vả mấy chục năm nhưng chưa bao giờ nghe được một lời cảm ơn. Có những giáo dân âm thầm đóng góp cho giáo xứ từ năm này sang năm khác mà chẳng ai biết tên. Có người âm thầm quét nhà thờ lúc sáng sớm, thay hoa trên bàn thờ, mang Mình Thánh cho người bệnh, đưa đón trẻ em học giáo lý, giúp một gia đình nghèo, thăm một người đau yếu, chăm sóc một linh mục già, đóng góp cho một chủng sinh nghèo, hay mỗi tối quỳ trước tượng Đức Mẹ cầu nguyện cho Giáo Hội. Có thể chẳng ai biết. Nhưng Thiên Chúa biết tên họ. Điều thế gian bỏ qua, Thiên Chúa ghi nhớ. Điều thế gian không vỗ tay, Thiên Chúa nhìn thấy. Điều con người coi là nhỏ, Thiên Chúa có thể nhìn bằng đôi mắt của tình yêu và thấy nó rất lớn.
Một chi tiết nữa thật đáng suy nghĩ: những người phụ nữ này đi theo Đức Giêsu sau khi đã được Người chữa lành hoặc giải thoát. Nghĩa là phục vụ của họ bắt đầu từ kinh nghiệm được yêu thương. Đây là nền tảng sâu xa của đời sống Kitô hữu. Chúng ta không phục vụ để Thiên Chúa yêu chúng ta; chúng ta phục vụ vì đã được Thiên Chúa yêu. Chúng ta không làm việc thiện để mua tình thương của Chúa; chúng ta làm việc thiện bởi vì đã được tình thương ấy chạm đến. Maria Mácđala đã được giải thoát khỏi bảy quỷ. Chúng ta không nhất thiết phải hiểu con số ấy theo nghĩa đơn giản như một hồ sơ bệnh lý; điều Tin Mừng muốn cho thấy là chị từng trải qua một tình trạng đau khổ sâu xa, và Đức Giêsu đã đưa chị ra khỏi bóng tối. Một con người từng bị bóng tối chiếm giữ nay bước theo Đấng là Ánh Sáng. Một con người từng bị giam hãm nay trở thành người tự do. Một người từng cần được cứu nay trở thành người phục vụ sứ mạng cứu độ. Đó chính là điều ân sủng thực hiện. Chúa không chỉ kéo ta ra khỏi vực sâu rồi để ta đứng đó. Người chữa lành để ta có thể lên đường. Người tha thứ để ta có thể yêu. Người giải thoát để ta có thể phục vụ. Người nâng ta dậy để một ngày nào đó ta biết cúi xuống nâng người khác lên.
Có lẽ mỗi chúng ta cũng cần nhìn lại lịch sử cuộc đời mình và hỏi: “Chúa đã làm gì cho tôi?” Không phải để kể công của Chúa, nhưng để đánh thức lòng biết ơn. Biết đâu ta đã đi qua những ngày tưởng như không thể đi qua. Biết đâu đã có những lúc bệnh tật, thất bại, phản bội, cô đơn, hiểu lầm, mất mát tưởng như nghiền nát cuộc đời ta, nhưng rồi bằng một cách nào đó Chúa đã dẫn ta ra khỏi. Có lúc ta tưởng một cánh cửa đóng lại là hết, nhưng sau đó mới hiểu chính cánh cửa ấy cứu ta khỏi một con đường sai. Có khi ta cầu xin một điều mà Chúa không ban, ta buồn và trách Chúa, mãi nhiều năm sau mới hiểu nếu ngày ấy Chúa làm đúng điều ta xin thì có lẽ đời ta đã khác theo hướng tệ hơn. Có lúc Chúa cứu ta qua một người bạn. Có lúc qua một bác sĩ. Có lúc qua một linh mục. Có lúc qua một câu Kinh Thánh. Có lúc qua một lời nói rất bình thường. Có lúc Người không cất thập giá khỏi vai ta nhưng cho ta sức mạnh để mang thập giá. Và rồi khi nhìn lại, ta mới nhận ra những dấu chân của Chúa đã đi xuyên suốt cuộc đời mình. Người đã cứu ta nhiều hơn ta tưởng. Người đã gìn giữ ta nhiều hơn ta biết. Người đã tha thứ ta nhiều hơn ta nhớ. Nếu thực sự nhận ra điều đó, lòng biết ơn sẽ không cho phép ta sống ích kỷ.
Người đã được tha nhiều sẽ biết yêu nhiều. Người thực sự biết mình đã được Chúa thương sẽ không tính toán từng chút khi phục vụ Chúa. Bởi vậy, đời sống Kitô hữu không thể chỉ dừng lại ở chuyện “đi lễ cho đủ”, “đọc kinh cho xong”, “giữ luật khỏi phạm tội”. Tất cả những điều ấy quý giá, nhưng Tin Mừng còn đưa chúng ta xa hơn: người môn đệ là người bước theo Đức Giêsu và cùng Người phục vụ Nước Thiên Chúa. Đi lễ không phải để hoàn thành một nghĩa vụ rồi trở về tiếp tục sống ích kỷ. Thánh lễ phải biến chúng ta thành những con người được bẻ ra như tấm bánh cho anh chị em. Rước Mình Thánh Chúa có nghĩa là đón lấy một Đấng đã trao ban chính mình, để rồi ta học cách trao ban chính mình. Cầu nguyện không phải để ta trốn thế giới, nhưng để sau khi ở với Chúa, ta có trái tim của Chúa mà trở lại giữa thế giới. Đọc Tin Mừng không chỉ để biết thêm một câu chuyện, nhưng để câu chuyện của Đức Giêsu trở thành câu chuyện của đời ta.
Thánh Luca nói các bà “lấy của cải mình mà giúp đỡ” Đức Giêsu và các môn đệ. Cụm từ rất đơn giản nhưng đụng đến một điểm thực tế: tình yêu luôn có cái giá của nó. Yêu bằng lời thì dễ. Phục vụ khi không mất gì thì dễ. Nhưng yêu thật sự luôn đòi một phần đời sống của ta: thời gian, sức khỏe, tiền bạc, sự thuận tiện, danh dự, cái tôi, sự kiên nhẫn. Các phụ nữ ấy không chỉ đứng từ xa nói: “Thưa Thầy, chúng con rất quý Thầy, chúc Thầy lên đường bình an.” Họ đặt tài sản của mình vào sứ vụ. Tình yêu của họ có hình hài cụ thể. Đó cũng là câu hỏi dành cho chúng ta: đức tin của tôi có hình hài cụ thể nào không? Tôi nói yêu Chúa, vậy thời gian của tôi dành cho Chúa bao nhiêu? Tôi nói yêu người nghèo, vậy trong thu nhập của tôi có phần nào được dành cho người nghèo không? Tôi nói quan tâm đến Giáo Hội, vậy tôi có góp công, góp sức, góp lời cầu nguyện hay chỉ góp ý kiến? Tôi nói thương cha mẹ, vậy tôi có thời gian ngồi bên cha mẹ không? Tôi nói thương người đau khổ, vậy tôi đã từng bước vào căn nhà của họ chưa? Tôi nói tha thứ, vậy khi gặp người làm tôi tổn thương, tôi có thôi kể lại lỗi của họ với người khác không?
Một trong những cám dỗ của đời sống đạo là chúng ta có thể nói rất nhiều về tình yêu mà không thực sự yêu ai. Chúng ta có thể đọc rất nhiều kinh mà vẫn làm tổn thương người sống cạnh mình. Chúng ta có thể bàn luận rất hăng về Giáo Hội nhưng lại chẳng chịu giúp một người trong cộng đoàn. Chúng ta có thể nói nhiều về truyền giáo nhưng chưa từng mời một người nguội lạnh trở lại nhà thờ. Chúng ta có thể có hàng ngàn suy nghĩ đạo đức nhưng không dành mười phút ngồi nghe một người già cô đơn. Tin Mừng hôm nay kéo chúng ta về với sự cụ thể: những phụ nữ ấy dùng chính những gì họ có để phục vụ. Ai có tiền thì chia sẻ tiền. Ai có thời gian thì trao thời gian. Ai có tài năng thì trao tài năng. Ai biết hát thì hát cho cộng đoàn. Ai biết dạy thì dạy giáo lý. Ai biết sửa chữa thì sửa giúp. Ai biết công nghệ thì phục vụ truyền thông. Ai có khả năng lắng nghe thì đồng hành với người đang đau khổ. Ai chỉ còn sức để cầu nguyện thì hãy cầu nguyện. Không ai nghèo đến mức không có gì để trao. Một người già nằm trên giường bệnh tưởng mình vô dụng vẫn có thể dâng đau đớn và lời cầu nguyện cho Giáo Hội. Một em bé có thể trao một nụ cười. Một người nghèo có thể chia nửa ổ bánh. Một người bệnh có thể nói một lời động viên với người bệnh nằm giường bên cạnh. Một người không thể làm việc lớn vẫn có thể làm một việc nhỏ với tình yêu lớn.
Tin Mừng hôm nay cũng khiến chúng ta phải thay đổi cách nhìn về những con người được gọi là “phía sau”. Trong xã hội, chúng ta thường bị hấp dẫn bởi sân khấu. Ai đứng trước ống kính thì được biết. Ai có tiếng nói lớn thì được nghe. Ai có chức vụ thì được nhớ tên. Nhưng logic Nước Trời khác. Đức Giêsu từng nói Cha trên trời thấy những gì kín đáo. Trong Giáo Hội cũng vậy, đôi khi công trình lớn nhất lại được nâng bởi những người ít ai nhìn thấy nhất. Một vị linh mục có thể giảng một bài rất hay, nhưng bài giảng ấy được sinh ra từ biết bao lời cầu nguyện của những người khác. Một giáo xứ có thể có nhiều sinh hoạt, nhưng phía sau là những người lặng lẽ dọn dẹp, chuẩn bị, nấu ăn, đưa đón, giữ xe, sắp ghế, trang trí, kiểm tra âm thanh, làm sổ sách. Một cộng đoàn tu trì có thể có người đi giảng khắp nơi, nhưng sứ vụ ấy cũng đứng trên sự hy sinh của những người ở nhà âm thầm nấu ăn, chăm người bệnh, làm những công việc không ai biết. Trong thân thể Đức Kitô, không bộ phận nào vô nghĩa. Con mắt không thể bảo bàn tay: “Tôi không cần anh.” Người đứng trên không thể nói với người phía sau: “Anh chẳng quan trọng.” Nếu một người rao giảng nhưng không có ai cầu nguyện, nếu có nhà thờ mà không ai quét dọn, nếu có người đau bệnh mà không ai chăm sóc, nếu có trẻ em mà không ai dạy giáo lý, cộng đoàn sẽ sớm nhận ra giá trị của những công việc tưởng rất nhỏ.
Chúng ta cũng phải học một điều khác nơi Đức Giêsu: biết đón nhận sự giúp đỡ. Có người nghĩ khiêm nhường chỉ có nghĩa là phục vụ người khác, nhưng đôi khi một hình thức khiêm nhường khó hơn lại là chấp nhận cho người khác phục vụ mình. Đức Giêsu chấp nhận sự giúp đỡ của những phụ nữ này. Người không nói: “Ta là Con Thiên Chúa, Ta không cần ai.” Người để cho tình yêu của họ có nơi để thể hiện. Đôi khi vì tự ái, chúng ta không muốn nhận sự giúp đỡ. Chúng ta sợ mang ơn. Chúng ta muốn chứng minh mình mạnh, mình tự lập, mình có thể tự lo mọi sự. Nhưng đời sống Kitô giáo là đời sống hiệp thông. Hôm nay tôi giúp anh; ngày mai có thể tôi phải để anh giúp tôi. Hôm nay tôi nâng một người; ngày mai có thể chính tôi cần một bàn tay. Không ai mạnh mãi. Không ai khỏe mãi. Không ai có đủ mọi thứ. Thiên Chúa muốn chúng ta cần nhau để chúng ta không tự biến mình thành một hòn đảo. Chấp nhận sự giúp đỡ đúng lúc không làm ta nhỏ đi; nó nhắc ta rằng mình là một phần của gia đình nhân loại.
Có một vẻ đẹp đặc biệt trong hình ảnh những người phụ nữ cùng bước đi với Đức Giêsu. Họ không chỉ gửi của cải rồi trở về. Họ “cùng đi”. Đức tin trước hết là một hành trình cùng Đức Giêsu. Không phải chỉ biết về Người, nhưng đi với Người. Đi qua thành phố, qua làng mạc, qua những ngày đông người tung hô và cả những ngày người ta chống đối. Đi khi thấy phép lạ và cũng đi khi không hiểu. Đi khi lòng tràn đầy niềm vui và đi cả khi con đường dẫn về Giêrusalem bắt đầu phủ bóng thập giá. Người môn đệ không chọn chỉ đi với Chúa vào những đoạn đường dễ chịu. Nếu chỉ theo Chúa khi mọi sự thuận lợi, đó chưa chắc là theo Chúa; có thể chỉ là theo cảm giác dễ chịu mà đức tin đem lại. Đi với Chúa thật sự là vẫn bước bên Người khi cầu nguyện khô khan, khi bệnh tật kéo dài, khi gia đình gặp thử thách, khi bị hiểu lầm, khi một lời cầu xin dường như không được trả lời, khi ta chẳng thấy Chúa ở đâu. Đức tin trưởng thành không phải là lúc ta luôn cảm thấy Chúa gần, mà là lúc ngay cả khi chẳng cảm thấy gì, ta vẫn thưa: “Lạy Chúa, con vẫn đi với Ngài.”
Maria Mácđala sẽ còn đi rất xa. Chị sẽ xuất hiện gần thập giá và vào buổi sáng Phục Sinh. Người phụ nữ từng được giải thoát trở thành một trong những nhân chứng đầu tiên của biến cố trung tâm đức tin Kitô giáo. Điều này cho chúng ta một hy vọng lớn lao: quá khứ không quyết định tương lai của ta. Đừng bao giờ nhìn một người đang sa ngã và nói rằng đời họ hết rồi. Đừng bao giờ nhìn chính mình và nói: “Tôi đã phạm quá nhiều sai lầm, Thiên Chúa không còn làm gì được với tôi nữa.” Maria Mácđala là câu trả lời. Chúa có thể lấy một cuộc đời đầy vết thương và viết nên một chương mới. Người không phủ nhận quá khứ, nhưng biến đổi nó. Chính nơi từng bị thương sâu nhất đôi khi lại trở thành nơi ta biết cảm thông nhất với người khác. Người đã từng chìm trong bóng tối thường hiểu giá trị của ánh sáng. Người từng được tha thứ sâu xa thường hiểu thế nào là lòng thương xót. Người đã từng ngã nặng có thể trở thành người nâng đỡ người đang ngã. Đừng để ma quỷ dùng quá khứ để khóa tương lai của chúng ta. Với Chúa, vẫn còn một con đường.
Câu chuyện của Gioanna cũng thật đáng lưu ý. Bà là vợ của Khuđa, một người quản lý của vua Hêrôđê. Nghĩa là bà thuộc một môi trường xã hội khác với Maria Mácđala hay những người khác. Trong nhóm môn đệ Đức Giêsu, những con người có hoàn cảnh khác nhau được đặt bên cạnh nhau bởi một trung tâm duy nhất: Đức Giêsu. Đây là hình ảnh rất đẹp của Giáo Hội. Giáo Hội không phải là câu lạc bộ của những người giống nhau. Trong Giáo Hội có người giàu, người nghèo, người trí thức, người ít học, người thành thị, người thôn quê, người mạnh mẽ, người yếu đuối, người mới trở lại và người đã theo đạo từ nhỏ. Nếu tất cả đều nhìn về Đức Kitô, những khác biệt ấy không nhất thiết chia rẽ mà có thể trở thành sự phong phú. Điều đáng sợ không phải là chúng ta khác nhau; điều đáng sợ là chúng ta đặt cái tôi mình ở trung tâm thay vì đặt Đức Kitô ở trung tâm. Khi Đức Kitô ở trung tâm, người giàu có thể học sự đơn sơ nơi người nghèo; người nghèo có thể nhận sự nâng đỡ của người có điều kiện; người trẻ trao năng lượng; người già trao kinh nghiệm; người học nhiều trao kiến thức; người ít học có thể trao một đức tin mộc mạc mà sâu xa. Mỗi người một ân ban, nhưng cùng một Chúa.
Và Tin Mừng nói thêm: “nhiều bà khác nữa”. Đây có lẽ là câu đẹp nhất đối với những người không được nhắc tên. Maria, Gioanna và Susanna được ghi tên, nhưng còn “nhiều bà khác”. Họ là ai? Chúng ta không biết. Tên họ không còn trên trang giấy, nhưng việc họ làm đã trở thành một phần của Tin Mừng. Có lẽ đó cũng là hình ảnh của phần đông chúng ta. Không phải ai cũng được lịch sử nhớ. Một trăm năm nữa, rất có thể chẳng ai còn nhớ tên chúng ta. Những gì ta sở hữu hôm nay rồi sẽ thuộc về người khác. Những căn nhà, chiếc xe, danh hiệu, chức vụ, tài khoản, những điều ta từng tự hào rồi sẽ qua đi. Nhưng tình yêu ta đã trao thì không mất. Một đứa trẻ được ta dạy giáo lý có thể lớn lên và sống đức tin, rồi truyền đức tin cho con mình. Một người nghèo được ta giúp trong lúc tuyệt vọng có thể vì đó mà không buông xuôi cuộc đời. Một lời an ủi ta nói hôm nay có thể giúp ai đó vượt qua một đêm tăm tối. Một lời cầu nguyện không ai nghe có thể sinh hoa trái ở nơi ta chẳng bao giờ biết. Ta không cần được lịch sử nhớ; chỉ cần tên ta nằm trong trái tim Thiên Chúa.
Điều quan trọng cuối cùng của Tin Mừng hôm nay là thái độ tự do của Đức Giêsu. Trong bối cảnh xã hội thời ấy, việc các phụ nữ hiện diện trong nhóm những người theo một rabbi lưu động là một chi tiết đáng chú ý. Đức Giêsu nhìn con người trước hết trong phẩm giá mà Thiên Chúa ban cho họ. Người không để những định kiến xã hội ngăn Người gặp gỡ, chữa lành và trao trách nhiệm. Trong Tin Mừng, Người nói chuyện với người phụ nữ Samaria; để một người phụ nữ tội lỗi đến gần; bảo vệ người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội; chữa lành nhiều phụ nữ; khen lòng tin của họ; và các phụ nữ sẽ có mặt trong những thời khắc quyết định của cuộc Thương Khó và Phục Sinh. Người môn đệ Đức Kitô cũng được mời học sự tự do ấy: nhìn một con người không phải qua những nhãn mác ta dán cho họ, nhưng qua ánh mắt của Thiên Chúa. Chúng ta rất dễ đóng khung người khác: người này “khó tính”, người kia “tội lỗi”, người nọ “vô dụng”, người khác “không đạo đức”, rồi từ một vài lỗi lầm ta kết luận cả một cuộc đời. Chúa Giêsu không nhìn như thế. Người nhìn thấy điều một con người có thể trở thành khi được yêu thương. Nơi một người thu thuế, Người thấy một Mátthêu tông đồ. Nơi Simon nóng nảy, Người thấy Phêrô. Nơi người phụ nữ Samaria với một quá khứ rối ren, Người thấy một người có thể chạy về làng loan báo. Nơi Maria Mácđala từng bị bóng tối trói buộc, Người thấy người môn đệ có thể đứng gần thập giá và đi đến mồ lúc trời còn sớm. Nếu Chúa đã nhìn chúng ta bằng ánh mắt hy vọng như vậy, chúng ta cũng phải tập nhìn nhau bằng ánh mắt ấy.
Có lẽ sau khi đọc Tin Mừng hôm nay, mỗi người nên tự hỏi mình ba câu rất đơn giản. Tôi đang đi với Đức Giêsu hay chỉ thỉnh thoảng ghé thăm Người? Tôi đang dùng những gì Chúa ban để phục vụ Nước Thiên Chúa hay chủ yếu dùng chúng cho chính mình? Và trong đời sống đức tin của tôi, có lòng biết ơn hay không? Ba câu hỏi ấy có thể dẫn chúng ta rất xa. Có người đi lễ hàng chục năm nhưng vẫn chưa thực sự “đi với” Chúa, bởi Chúa chỉ xuất hiện trong một giờ ngày Chúa nhật, còn sáu ngày kia những quyết định được thực hiện hoàn toàn theo tính toán cá nhân. Đi với Chúa có nghĩa là mang Chúa vào công việc, cách sử dụng tiền bạc, các mối tương quan, cách nói chuyện trên mạng xã hội, cách ta đối xử với người làm công, với người nghèo, với người trong gia đình. Chúa không muốn chỉ có một góc trong đời ta; Người muốn đồng hành trên mọi nẻo đường.
Còn của cải của tôi thì sao? Tin Mừng không lên án của cải; điều quan trọng là của cải trở thành gì trong tay ta. Một đồng tiền có thể trở thành phương tiện của ích kỷ, cũng có thể trở thành phương tiện của tình yêu. Một căn nhà có thể chỉ là nơi phô trương, cũng có thể trở thành nơi đón tiếp. Một chiếc xe có thể chỉ phục vụ tiện nghi, cũng có thể đưa một người bệnh đến bệnh viện. Một chiếc điện thoại có thể dùng để nói xấu, cũng có thể dùng để gửi Lời Chúa cho người đang cần. Một tài năng có thể dùng để xây danh tiếng cá nhân, cũng có thể được đặt vào việc phục vụ cộng đoàn. Vấn đề không phải trước hết ta có bao nhiêu, nhưng điều ta có đang phục vụ ai. Các phụ nữ trong Tin Mừng cho chúng ta câu trả lời: những gì họ có được đưa vào sứ mạng của Đức Giêsu.
Và lòng biết ơn thì sao? Một Kitô hữu quên lòng biết ơn rất dễ trở thành người phàn nàn. Ta bắt đầu nhìn những gì thiếu thay vì những gì đã nhận. Ta than về căn nhà mà quên mình có mái che. Ta than về công việc mà quên nhiều người đang thất nghiệp. Ta than về gia đình mà quên có người đang cô độc. Ta than về cộng đoàn mà quên biết bao người đang âm thầm phục vụ. Ta than về Giáo Hội mà quên Giáo Hội đã trao cho ta Lời Chúa, các bí tích, đức tin và biết bao chứng nhân thánh thiện. Ta than về cuộc đời mà quên sáng nay mình vẫn còn thở. Lòng biết ơn không có nghĩa là phủ nhận khó khăn, nhưng là nhận ra giữa khó khăn vẫn có ân sủng. Maria Mácđala có quá khứ đau khổ, nhưng chị không bị quá khứ nhốt lại; chị biến đời mình thành lời cảm tạ. Đó là cách đẹp nhất để cảm ơn Thiên Chúa: biến cuộc đời được cứu thành một cuộc đời phục vụ.
Thế giới hôm nay rất cần những con người như thế. Không nhất thiết cần thêm những người nổi tiếng; cần thêm những người trung tín. Không nhất thiết cần những người nói thật lớn; cần những người biết yêu thật sâu. Không nhất thiết cần những việc khiến mọi người kinh ngạc; cần những việc nhỏ được làm bền bỉ vì tình yêu. Một cuộc hôn nhân được gìn giữ bằng sự nhẫn nại mỗi ngày là một chứng tá. Một người con chăm sóc cha mẹ già là một bài giảng. Một người vợ tha thứ và cùng chồng xây lại gia đình là một bài giảng. Một người chồng biết bỏ rượu để trở lại chăm sóc vợ con là một bài giảng. Một người trẻ sống ngay thẳng giữa môi trường gian dối là một bài giảng. Một người làm ăn từ chối kiếm tiền bất chính dù thiệt thòi là một bài giảng. Một người bệnh vẫn cầu nguyện cho người khác là một bài giảng. Một giáo dân âm thầm đóng góp cho người nghèo là một bài giảng. Những bài giảng ấy không cần bục giảng, nhưng Thiên Chúa dùng chúng để loan báo Tin Mừng.
Và rồi đến một ngày, khi hành trình đời ta kết thúc, có lẽ Chúa sẽ không hỏi ta đã nổi tiếng đến đâu, được bao nhiêu người biết đến, có bao nhiêu tài sản hay bao nhiêu bằng cấp. Người sẽ hỏi điều gần với Tin Mừng hơn: những gì Ta trao cho con, con đã làm gì với chúng? Trái tim Ta ban cho con, con đã yêu ai? Đôi tay Ta ban, con đã nâng ai dậy? Tiền bạc Ta cho con quản lý, con đã chia sẻ cho ai? Thời gian Ta cho, con đã dành phần nào cho người khác? Đức tin con nhận được, con đã truyền lại cho ai? Những vết thương Ta chữa lành, chúng có làm con biết cảm thông hơn không? Những lần Ta tha thứ cho con, chúng có làm con biết tha thứ hơn không? Những lần Ta nâng con lên, chúng có khiến con cúi xuống nâng người khác không?
Tin Mừng chỉ có ba câu nhưng đủ để mở ra một con đường sống. Hãy đi với Đức Giêsu. Hãy nhớ những gì Người đã làm cho ta. Hãy dùng những gì mình có để phục vụ. Hãy đừng sợ âm thầm. Hãy đừng tìm phần thưởng nơi tiếng vỗ tay. Hãy đừng nghĩ việc nhỏ là vô nghĩa. Hãy nhớ những người phụ nữ ngày xưa đã lấy của cải mình giúp Đức Giêsu và các môn đệ. Có thể họ chẳng bao giờ tưởng tượng rằng hai ngàn năm sau, tên của một vài người trong số họ vẫn còn được đọc trong Thánh lễ trên khắp thế giới. Họ chỉ đơn giản yêu Chúa, và tình yêu ấy trở thành phục vụ. Chính thế thôi. Nhưng Thiên Chúa đã biến sự đơn giản ấy thành Tin Mừng.
Xin Chúa cho mỗi chúng ta biết trở thành một trong “nhiều người khác nữa” đang âm thầm đi theo Người. Có thể tên chúng ta không được ghi vào bất cứ cuốn sách nào, nhưng xin được ghi trong trái tim Chúa. Có thể chẳng ai biết những hy sinh ta đã làm, nhưng xin Chúa biết là đủ. Có thể chẳng ai cảm ơn, nhưng xin ta vẫn tiếp tục yêu. Có thể công việc của ta rất nhỏ, nhưng nếu nó được làm vì Chúa và cho anh chị em, nó đã chạm đến Nước Trời. Xin cho chúng ta đừng chỉ hỏi Giáo Hội có thể làm gì cho mình, nhưng biết hỏi mình có thể làm gì cho Giáo Hội; đừng chỉ hỏi người khác có yêu mình không, nhưng hỏi hôm nay mình đã yêu ai; đừng chỉ hỏi tại sao Chúa chưa ban điều ta muốn, nhưng biết nhớ bao điều Người đã ban mà ta chưa từng cảm tạ. Và nhất là xin cho chúng ta hiểu rằng một đời sống đẹp không nhất thiết là một đời sống được nhiều người nhìn thấy, nhưng là một đời sống từng ngày bước sau Đức Giêsu, âm thầm trao đi những gì mình có, trung tín trong những việc nhỏ, biết ơn vì đã được chữa lành và kiên trì biến ân sủng mình đã nhận thành tình yêu dành cho người khác. Đến cuối cùng, có lẽ đó chính là điều còn lại: ta đã được yêu, ta đã bước theo Đấng yêu ta, và trên đường bước theo Người, ta đã cố gắng yêu thêm được một vài người. Thế là đủ để một cuộc đời trở thành lời tạ ơn. Thế là đủ để những điều rất nhỏ của chúng ta được đưa vào công trình rất lớn của Thiên Chúa. Thế là đủ để giữa một thế giới quá thích được nhìn thấy, người môn đệ vẫn bình an sống âm thầm trước ánh mắt của Cha, bởi biết rằng những gì được làm vì tình yêu thì không bao giờ mất đi.
Lm. Anmai, CSsR














