Phụng vụ Thánh Lễ – Lời nguyện – Chia sẻ (Youtube & bản văn) Thứ Hai tuần XXVI TN – Lm. Anmai, CSsR

5

Tim hiểu Tin Mừng theo Thánh Máccô : TÁC GIẢ, NIÊN ĐẠI, NƠI VIẾT VÀ ĐỘC GIẢ – Lm. Anmai, CSsR

BẢN TIN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO — 5. 10 .2026 – Lm. Anmai, CSsR tổng hợp
https://youtu.be/SSAcE49qnSg

Phụng vụ Thánh Lễ – Lời nguyện – Chia sẻ (Youtube & bản văn) Thứ Hai tuần XXVI TN – Lm. Anmai, CSsR

Phụng vụ Thánh Lễ – Lời nguyện – Chia sẻ (Youtube & bản văn) Thứ Hai tuần XXVI TN – Lm. Anmai, CSsR

Thứ 2 tuần 27 thường niên ĐỪNG ĐI QUA PHÍA BÊN KIA – Lm. Anmai, CSsR

Thứ 2 tuần 27 tn AI LÀ NGƯỜI THÂN CẬN CỦA TÔI – Lm. Anmai, CSsR

LỜI NGUYỆN SÁNG
Lạy Chúa Giêsu, qua dụ ngôn người Sa-ma-ri nhân hậu, Chúa dạy chúng con rằng yêu mến Chúa phải được thể hiện bằng lòng thương xót đối với anh chị em. Xin tha thứ cho chúng con vì những lần nhìn thấy người đau khổ mà vẫn bước qua, nghe tiếng kêu cứu mà giả vờ không biết, có khả năng giúp đỡ nhưng lại tìm lý do để tránh né. Nhiều khi chúng con chăm lo cho sự thuận tiện của mình hơn sự sống của người khác, giữ những việc đạo đức bên ngoài nhưng lại thiếu một trái tim biết cảm thương. Xin Chúa đánh thức lòng chúng con, mở đôi mắt để chúng con nhận ra những vết thương đang hiện diện quanh mình: nỗi cô đơn của người già, sự tủi thân của trẻ nhỏ, gánh nặng của người nghèo, nỗi đau của người bệnh và sự tuyệt vọng của những người bị bỏ rơi.
Lạy Chúa, xin ban cho chúng con một trái tim biết động lòng thương và đôi tay sẵn sàng phục vụ. Xin cho chúng con biết dừng lại giữa những vội vã, biết đến gần thay vì giữ khoảng cách, biết lắng nghe thay vì xét đoán, biết nâng đỡ thay vì chỉ nói những lời an ủi qua loa. Xin giúp chúng con vượt qua những thành kiến về tôn giáo, hoàn cảnh, quê quán và địa vị, để nhận ra nơi mỗi người phẩm giá của một người được Chúa yêu thương. Xin cho chúng con quảng đại chia sẻ thời gian, sức lực và những gì mình có; biết giúp đỡ với lòng tôn trọng, không làm người đang khó khăn thêm mặc cảm, không tìm lời khen hay sự đáp trả. Trong gia đình, xin cho chúng con biết chăm sóc nhau bằng những việc nhỏ mỗi ngày; trong cộng đoàn, xin cho chúng con quan tâm đến những người âm thầm chịu đựng; ngoài xã hội, xin cho chúng con can đảm bảo vệ người yếu thế và góp phần chữa lành những tổn thương. Xin thương nâng đỡ những ai đang bị bạo lực, bất công, bệnh tật và nghèo đói; xin gửi đến bên họ những người sẵn lòng đồng hành. Lạy Chúa, xin cho Lời Chúa hôm nay trở thành hành động trong đời chúng con, để mỗi ngày chúng con biết trở nên người thân cận của những ai cần được yêu thương, và cùng nhau bước trên con đường dẫn đến sự sống đời đời. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.

Ca nhập lễ
Lạy Chúa, Chúa đã tác tạo mọi sự theo thánh ý Chúa, và không ai có thể chống lại thánh ý Chúa. Vì Chúa đã tạo thành mọi sự trên trời dưới đất, và cả những gì trong bầu trời; Chúa là Chúa tể mọi loài.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, tình thương Chúa thật là cao cả, vượt xa mọi công trạng và ước muốn của con người, xin rộng tình tha thứ những lỗi lầm cắt rứt lương tâm chúng con, và thương ban những ơn trọng đại, lòng chúng con chẳng dám mơ tưởng bao giờ. Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc : Gl 1, 6-12
“Tin Mừng do tôi rao giảng không phải thuộc về loài người, nhưng là do Ðức Giêsu Kitô mạc khải”.
Trích thư Thánh Phalô Tông đồ gửi tín hữu Galata.
Anh em thân mến, tôi ngạc nhiên thấy anh em thay lòng đổi dạ chóng như thế đối với Ðấng đã kêu gọi anh em thông phần vào ân sủng của Ðức Kitô, để anh em quay sang một tin mừng khác: Tin mừng khác làm gì có, chỉ có những kẻ phá rối anh em và muốn anh em đảo lộn Tin Mừng của Ðức Kitô. Nhưng cho dù chúng tôi, hay một thiên thần nào từ trời đến giảng tin mừng khác với Tin Mừng chúng tôi đã rao giảng cho anh em, thì người đó bị chúc dữ. Như chúng tôi đã nói trước, và giờ đây tôi xin nói lại rằng: Nếu ai trong anh em rao giảng cho anh em Tin Mừng khác hơn điều anh em đã lãnh nhận, thì người đó bị chúc dữ.
Giờ đây, tôi phải làm vừa lòng người ta hay là Thiên Chúa? Nào có phải tôi tìm cách làm vừa lòng người ta sao? Nếu tôi còn làm vừa lòng thiên hạ, thì tôi không phải là đầy tớ của Ðức Kitô.
Anh em thân mến, tôi cho anh em biết rằng Tin Mừng do tôi rao giảng không phải thuộc về loài người, vì tôi không nhận cũng không học với loài người, nhưng là do Ðức Giêsu Kitô mạc khải.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 110, 1-2. 7-8. 9 và 10c
Ðáp: Cho tới muôn đời Chúa vẫn nhớ lời minh ước (c. 5b).
Xướng: Tôi sẽ ca tụng Chúa hết lòng, trong nhóm hiền nhân và trong Công hội. Vĩ đại thay công cuộc của Chúa tôi, thực đáng cho những người mến yêu quan tâm học hỏi.
Xướng: Công cuộc tay Chúa làm ra đều chân thật và công chính, mọi giới răn của Người đều đáng cậy tin. Những giới răn đó được lập ra cho đến muôn ngàn đời, được ban hành một cách chân thành và đoan chính.
Xướng: Chúa đã gửi tặng ơn giải phóng cho dân Người, để thiết lập lời minh ước tới muôn đời. Danh Người thực là thánh thiện và khả úy. Lời khen ngợi Chúa còn tồn tại tới muôn đời.
Alleluia: 1 Sm 3, 9; Ga 6, 69
Alleluia, alleluia! – Lạy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe; Chúa có lời ban sự sống đời đời. – Alleluia.
Phúc Âm: Lc 10, 25-37
“Ai là anh em của tôi?”
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, có một người thông luật đúng dậy hỏi thử Chúa Giêsu rằng: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời?” Người nói với ông: “Trong Lề luật đã chép như thế nào? Ông đọc thấy gì trong đó?” Ông trả lời: “Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết sức và hết trí khôn ngươi, và hãy thương mến anh em như chính mình”. Chúa Giêsu nói: “Ông trả lời đúng, hãy làm như vậy và ông sẽ được sống”. Nhưng người đó muốn bào chữa mình, nên thưa cùng Chúa Giêsu rằng: “Nhưng ai là anh em của tôi?”
Chúa Giêsu nói tiếp: “Một người đi từ Giêrusalem xuống Giêricô, và rơi vào tay bọn cướp; chúng bóc lột người ấy, đánh nhừ tử rồi bỏ đi, để người ấy nửa sống nửa chết. Tình cờ một tư tế cũng đi qua đường đó, trông thấy nạn nhân, ông liền đi qua. Cũng vậy, một trợ tế khi đi đến đó, trông thấy nạn nhân, cũng đi qua. Nhưng một người xứ Samaria đi đường đến gần người ấy, trông thấy và động lòng thương. Người đó lại gần, băng bó những vết thương, xức dầu và rượu, rồi đỡ nạn nhân lên lừa của mình, đưa về quán trọ săn sóc. Hôm sau, lấy ra hai quan tiền, ông trao cho ông chủ quán mà bảo rằng: “Ông hãy săn sóc người ấy, và ngoài ra còn tốn phí hơn bao nhiêu, khi trở về tôi sẽ trả lại ông”.
“Theo ông nghĩ, ai trong ba người đó là anh em của người bị rơi vào tay bọn cướp?” Người thông luật trả lời: “Kẻ đã tỏ lòng thương xót với người ấy”. Và Chúa Giêsu bảo ông: “Ông cũng hãy đi và làm như vậy”.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, chính Chúa đã thiết lập lễ tế này để chúng con dâng lên mà tỏ lòng thần phục tôn kính; xin Chúa thương chấp nhận và thánh hoá chúng con, xin cho chúng con được hưởng dồi dào ơn cứu chuộc. Chúng con cầu xin…
Ca hiệp lễ
Chúa nhân lành đối với những ai trông cậy vào Người, và đối với tâm hồn kiếm tìm Người.
Hoặc đọc:
Chỉ có một tấm bánh, nên tuy nhiều, chúng ta cũng chỉ là một thân thể, vì hết thảy chúng ta thông phần cùng một tấm bánh, và cùng một chén rượu
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, chúng con vừa lãnh nhận Mình và Máu Ðức Kitô, xin cho chúng con được nên một với Người và no say tình Chúa. Chúng con cầu xin…

ĐỪNG ĐỂ MỘT NGƯỜI ĐAU KHỔ PHẢI CHỜ ĐẾN KHI TA HẾT BẬN
Có những con đường chúng ta đi qua mỗi ngày mà tưởng rằng mình đã thuộc hết mọi khúc quanh, mọi ngã rẽ, mọi khuôn mặt. Con đường từ nhà đến nhà thờ, từ nhà đến chỗ làm, từ phòng khách vào phòng ngủ, từ bàn ăn đến chiếc điện thoại, từ một cuộc gặp đến một cuộc gặp khác. Nhưng có thể chính trên những con đường quen thuộc ấy, chúng ta lại bỏ sót những con người đang cần mình nhất. Một người mẹ vẫn dọn cơm đều đặn nhưng đã lâu không còn được ai hỏi xem mẹ có mệt không. Một người cha ít nói, ngồi lặng lẽ cuối ngày, mang trong lòng nỗi lo mà không biết chia sẻ cùng ai. Một người trẻ vẫn cười trên mạng xã hội nhưng đêm xuống lại thấy cuộc đời mình không có chỗ tựa. Một người hàng xóm vừa trải qua tang chế, cửa nhà vẫn mở mà lòng thì khép lại vì chẳng còn ai để đợi. Một người trong cộng đoàn bắt đầu vắng mặt, ban đầu một tuần, rồi một tháng, rồi mất hút, trong khi chúng ta chỉ nhận xét rằng họ nguội lạnh mà không nghĩ đến chuyện tìm hiểu điều gì đã xảy ra. Chúng ta thường hình dung người cần được cứu giúp là một người nằm ngoài đường, có vết thương nhìn thấy được, có tiếng kêu nghe thấy được. Nhưng rất nhiều người đang nằm bên vệ đường của cuộc sống ngay giữa một căn nhà đầy đủ tiện nghi, ngay giữa một giáo xứ đông đúc, ngay giữa những mối quan hệ tưởng như thân thiết. Họ chưa ngã xuống bằng thân xác, nhưng lòng họ đã kiệt sức. Họ chưa đưa tay xin, nhưng sự im lặng của họ có thể là lời cầu cứu. Và điều đáng suy nghĩ là chúng ta không nhất thiết không nhìn thấy họ. Có khi chúng ta thấy, hiểu phần nào, rồi vẫn tiếp tục bước đi vì hôm nay quá nhiều việc, vì không biết nói gì, vì sợ phiền, vì nghĩ rằng chắc sẽ có người khác quan tâm. Chính tại chỗ ấy, Tin Mừng chạm vào đời sống chúng ta: ở khoảng cách rất nhỏ giữa việc nhận ra một nỗi đau và việc chịu dừng lại trước nỗi đau đó.
Đoạn Tin Mừng về người gặp nạn trên đường từ Giêrusalem xuống Giêricô bắt đầu bằng một vấn đề rất lớn: sự sống đời đời. Con người muốn biết mình phải làm gì để cuộc đời không kết thúc trong hư vô, để những tháng năm hữu hạn được mở vào sự sống của Thiên Chúa. Đó là một thao thức cao quý, bởi ai cũng cần biết mình sống để làm gì, đi về đâu, đâu là điều có giá trị sau cùng. Nhưng câu trả lời không đưa người hỏi vào một hệ thống kiến thức phức tạp, cũng không dẫn họ đến một thành tích phi thường. Con đường được mở ra qua lòng yêu mến Thiên Chúa và tình yêu dành cho con người. Điều này không có nghĩa là đời sống đức tin đơn giản đến mức không cần học hỏi, không cần phân định, không cần trưởng thành. Nó có nghĩa rằng mọi sự học hỏi và trưởng thành ấy phải giúp chúng ta biết yêu hơn. Nếu hiểu biết càng nhiều mà lòng càng khép kín, nếu sinh hoạt đạo càng dày đặc mà thái độ đối với người yếu thế càng lạnh lùng, nếu lời cầu nguyện càng dài mà sự kiên nhẫn đối với người trong nhà càng ngắn, thì chúng ta cần bình tâm nhìn lại hướng đi của mình. Không ai tự mua được sự sống đời đời bằng một số việc tốt, bởi ơn cứu độ trước hết là ân huệ của Thiên Chúa. Nhưng người đón nhận ân huệ ấy không thể mãi sống như thể mình chưa từng được yêu thương. Ơn Chúa khi được tiếp nhận thật sự sẽ dần dần làm thay đổi cách ta nhìn, cách ta nói, cách ta sử dụng thời giờ, của cải và sức lực. Đức tin sống động không chỉ giúp ta nghĩ đúng về Thiên Chúa; đức tin ấy còn làm cho một người khác bớt cô độc khi gặp ta.
Điều khiến câu chuyện trở nên gần gũi với chúng ta là người thông luật đã biết câu trả lời. Ông có thể trình bày đúng điều cốt yếu, nhưng từ việc biết đến việc sống vẫn còn một khoảng cách. Đó cũng là khoảng cách chúng ta gặp mỗi ngày. Chúng ta biết phải tha thứ, nhưng khi lòng tự ái bị tổn thương thì muốn người khác phải chịu đau trước đã. Chúng ta biết phải quan tâm người nghèo, nhưng khi tiền bạc có hạn thì sự quảng đại dễ bị đẩy xuống cuối danh sách. Chúng ta biết phải kính trọng cha mẹ, nhưng lúc mệt mỏi lại thấy những câu hỏi lặp đi lặp lại của các ngài thật khó chịu. Chúng ta biết phải tránh làm tổn thương người khác, nhưng vẫn có thể dùng một lời châm chọc để bảo vệ vị trí của mình trong một cuộc tranh luận. Kiến thức giúp chúng ta nhận ra con đường, nhưng không thay thế đôi chân. Một bản đồ chính xác không tự đưa ai về nhà. Một lời giải thích sâu sắc về lòng thương xót không tự băng bó được vết thương nào. Vì thế, Tin Mừng không chỉ đặt ra câu hỏi chúng ta hiểu gì, mà còn hỏi sự hiểu biết ấy đã làm thay đổi điều gì trong đời sống. Có người không diễn đạt được những ý tưởng thần học cao sâu nhưng lại biết thức đêm bên người bệnh, biết nhường phần ngon cho người già, biết giữ kín điều riêng tư mà người khác đã tin tưởng chia sẻ. Có người nói rất hay về tình yêu nhưng người sống gần họ luôn phải dè chừng. Điều cần thiết không phải là hạ thấp việc học hỏi, mà là trả việc học hỏi về đúng mục đích: giúp con người thuộc về Thiên Chúa hơn và trở nên có ích cho anh chị em hơn.
Người gặp nạn trong dụ ngôn được giới thiệu hết sức đơn sơ. Không có tên tuổi, nghề nghiệp, thành tích hay lý lịch để người đi đường cân nhắc. Trước mắt họ là một con người bị đánh đập, bị lấy mất những gì mình có và đang ở trong tình trạng nguy kịch. Sự giản dị ấy khiến chúng ta không thể trốn sau những tiêu chuẩn quen thuộc. Người ấy có thuộc nhóm của mình không, có cùng niềm tin với mình không, có từng cư xử tốt với mình không, có đáng để mình giúp không? Những câu hỏi ấy thường xuất hiện rất nhanh trong lòng, nhanh đến mức chúng ta tưởng đó là sự thận trọng cần thiết trong mọi trường hợp. Dĩ nhiên, khi giúp đỡ ai, ta cần phân định hoàn cảnh và cách thức phù hợp. Nhưng phân định khác với việc bắt người đau khổ phải chứng minh mình xứng đáng được quan tâm. Một người đói không cần có một quá khứ hoàn hảo mới được ăn. Một người bị bạo hành không cần giải thích trọn vẹn mọi quyết định trong đời mới được bảo vệ. Một người từng sa ngã không vì thế mà mất phẩm giá con người. Có những việc làm sai cần được sửa chữa, có những trách nhiệm cần được thực hiện, nhưng lòng thương xót không đợi mọi vấn đề được giải quyết xong mới bắt đầu. Nó đến trong lúc con người đang rối ren, yếu đuối, thậm chí chưa biết phải đứng dậy thế nào. Nếu chúng ta chỉ yêu những người dễ yêu, chỉ giúp những người không bao giờ làm mình thất vọng, chỉ đồng hành với những người tiến bộ đúng tốc độ mình mong muốn, thì rất nhiều người sẽ mãi nằm lại bên đường.
Hai người đi trước đều nhìn thấy nạn nhân, rồi tránh sang một bên. Bản văn không giải thích đầy đủ động cơ của họ, vì thế chúng ta không cần tự gán cho họ một lý do chắc chắn. Tuy nhiên, hành động của họ đủ để làm chúng ta xét mình. Có một kiểu tránh né không gây tiếng động, không để lại lời xúc phạm, không trực tiếp làm cho người khác bị thương thêm, nhưng vẫn để họ một mình trong nỗi đau. Ta có thể giữ vẻ lịch sự mà không thật sự quan tâm. Ta có thể trả lời rất nhẹ nhàng để kết thúc một cuộc trò chuyện mà người kia đã phải lấy hết can đảm mới bắt đầu. Ta có thể hứa cầu nguyện rồi quên mất, hứa ghé thăm rồi không bao giờ sắp xếp, hứa sẽ xem lại rồi để lời hứa chìm vào những việc khác. Không phải mọi lần thiếu sót đều có cùng mức độ, cũng không ai có thể đáp ứng hết mọi nhu cầu quanh mình. Nhưng có những lần chúng ta biết mình có thể làm một điều cụ thể mà vẫn cố tình tránh đi. Điều ấy cần được nhìn nhận thành thật. Sự vô cảm không phải lúc nào cũng xuất hiện dưới hình thức tàn nhẫn. Nó có thể mang hình thức của một lịch trình hợp lý, một câu trả lời gọn gàng, một thái độ không muốn dính vào chuyện người khác. Và nếu lặp lại lâu ngày, việc tránh né trở thành thói quen; chúng ta vẫn đi qua đời sống đạo đều đặn nhưng không còn để nỗi đau của ai làm mình chậm lại.
Người Samari cũng đang đi đường. Ông không xuất hiện như một người không có việc gì làm, không có điểm đến, không có trách nhiệm riêng. Điều khác biệt là khi gặp người bị thương, ông để cuộc gặp ấy tác động đến hành trình của mình. Ông đến gần, chăm sóc những vết thương, đưa người gặp nạn đến nơi có thể được tiếp tục chăm sóc và dành tiền bạc cho việc ấy. Tình thương của ông có những động tác cụ thể, có sự tiếp xúc với thực tế, có một giá phải trả. Chúng ta dễ xúc động trước một câu chuyện buồn, nhưng xúc động không tự động trở thành bác ái. Có những hình ảnh khiến ta dừng ngón tay trên màn hình vài giây, rồi lại tiếp tục xem điều khác. Có những hoàn cảnh khiến ta thở dài thương quá, nhưng chưa bao giờ bước vào lịch sinh hoạt của mình. Dụ ngôn mời ta tiến thêm một bước: điều gì trong khả năng của tôi có thể đáp ứng nhu cầu này? Có thể tôi không có nhiều tiền, nhưng có thể đưa một người đến bệnh viện. Có thể tôi không có chuyên môn, nhưng biết người có chuyên môn và giúp kết nối. Có thể tôi không giải quyết được cuộc khủng hoảng của một gia đình, nhưng có thể ngồi nghe mà không đổ thêm dầu vào sự bất hòa. Có thể tôi không thay đổi được toàn bộ đời sống của một người trẻ, nhưng có thể trở thành một người lớn đáng tin cậy để em không phải chịu đựng một mình. Bác ái trở nên thật khi người đang cần giúp nhận được một điều có ích, chứ không chỉ khi chúng ta cảm thấy mình là người có lòng tốt.
Đến gần người khác thường là phần khó nhất. Từ xa, chúng ta có thể nghĩ rằng mình hiểu họ. Khi đến gần, những nhận xét đơn giản bắt đầu không còn đủ. Người bị gọi là khó tính có thể đang sống nhiều năm với một nỗi đau không được chữa lành. Người bị cho là lười biếng có thể đang kiệt sức hoặc thiếu những điều kiện cơ bản để bắt đầu lại. Người hay nổi nóng có thể chưa từng học được cách nói về sự sợ hãi của mình. Những điều ấy không biến mọi hành vi sai thành đúng, nhưng giúp chúng ta đáp lại bằng sự công bằng và lòng nhân hậu hơn. Đến gần cũng có nghĩa là chấp nhận nghe một câu chuyện không giống điều mình đã dự đoán. Ta phải bỏ bớt nhu cầu kết luận nhanh, bớt ý muốn đưa ngay một bài học, bớt thói quen dùng kinh nghiệm của mình làm khuôn cho cuộc đời người khác. Có người vừa nói được vài câu về nỗi buồn thì đã bị ngắt lời bằng hàng loạt lời khuyên. Có người kể một chuyện đau lòng thì nhận lại một lời trách móc rằng tại sao không làm thế này, tại sao lại chọn thế kia. Sau cuộc gặp, họ mang về thêm cảm giác mình là gánh nặng. Lòng thương xót cần một sự kiên nhẫn khác: nghe đủ để hiểu mình đang đứng trước ai, điều gì đang làm họ đau và điều gì thực sự cần thiết lúc này. Đôi khi một khoảng lặng có sự hiện diện còn giúp ích hơn một lời giải thích đúng nhưng vội vàng.
Trong đời sống gia đình, con đường của người Samari nhân hậu không ở đâu xa. Nó có thể bắt đầu ngay tại bữa cơm chiều. Một người vợ không chỉ cần chồng biết rằng mình đã làm nhiều việc, mà cần được chia sẻ những việc ấy. Một người chồng không chỉ cần nghe rằng mình phải mạnh mẽ, mà cần có một nơi được nói thật về sự mệt mỏi mà không bị coi thường. Một đứa con không chỉ cần học phí, quần áo và những yêu cầu phải ngoan, mà cần biết rằng khi thất bại vẫn có thể trở về nói chuyện với cha mẹ. Một người già không chỉ cần thuốc men, mà cần được lắng nghe như một con người còn có ký ức, sở thích, tâm tư và phẩm giá. Chúng ta có thể chu cấp đầy đủ mà vẫn để người thân thiếu thốn sự hiện diện. Có thể sống chung nhiều năm mà chỉ trao đổi những điều cần thiết cho công việc trong nhà. Có thể biết mật khẩu điện thoại của nhau nhưng không biết người bên cạnh đang sợ điều gì. Vì thế, thực hành Tin Mừng đôi khi rất cụ thể: đặt điện thoại xuống khi người thân đang nói, hỏi một câu rồi chờ câu trả lời, nhận một phần việc mà lâu nay mình mặc nhiên để người khác gánh, xin lỗi về một lời nặng nề mà mình đã biện minh bằng sự mệt mỏi. Những việc ấy không gây chú ý bên ngoài, nhưng có thể cứu một mối quan hệ khỏi lạnh đi từng ngày. Một gia đình biết yêu không phải là gia đình chẳng bao giờ có căng thẳng; đó là gia đình trong đó người bị tổn thương không bị bỏ mặc và người có lỗi còn được giúp để sửa đổi.
Có những vết thương trong gia đình rất sâu, không thể chỉ dùng một lời khuyên hãy nhịn đi để giải quyết. Lòng thương xót cần biết bảo vệ người đang bị làm hại. Nếu một người bị bạo hành, giúp họ không thể chỉ là yêu cầu họ chịu đựng thêm để giữ vẻ yên ổn cho căn nhà. Nếu một đứa trẻ đang bị tổn thương, sự an toàn của em phải được coi trọng. Nếu một người có hành vi gây hại kéo dài, yêu thương họ cũng bao gồm việc giúp họ đối diện với sự thật, nhận trách nhiệm và tìm sự trợ giúp cần thiết. Bác ái không đồng nghĩa với việc làm ngơ trước điều sai trái. Người Samari chăm sóc vết thương; ông không phủ nhận rằng vết thương tồn tại. Trong những hoàn cảnh phức tạp, chúng ta cần tìm người có khả năng hỗ trợ, những người đồng hành đáng tin cậy và cách hành động phù hợp. Một người thân không phải gánh mọi việc một mình; một linh mục cũng không thể thay thế mọi chuyên môn; một người có thiện chí cần biết giới hạn của mình để việc giúp đỡ thật sự có ích. Sự khiêm tốn ấy không làm tình yêu yếu đi. Nó giúp tình yêu bớt chủ quan. Đôi khi hành động quảng đại nhất không phải là tự nhận mình có thể giải quyết tất cả, mà là kiên trì đưa người gặp nạn đến nơi họ có thể nhận được sự chăm sóc đúng đắn.
Trong giáo xứ, dụ ngôn này cũng đặt ra những câu hỏi rất cụ thể. Chúng ta biết ai đang phụ trách đoàn thể, biết lịch lễ, biết những dịp cần chuẩn bị, biết ai thường đóng góp, nhưng có biết ai đang cô độc không? Có biết gia đình nào vừa mất việc, người nào đã lâu không thể đến nhà thờ vì bệnh tật, người nào đang chăm một người thân nằm liệt và gần như không còn thời giờ cho chính mình không? Một cộng đoàn đông người vẫn có thể để một thành viên cảm thấy mình hoàn toàn vô hình. Người mới đến có thể đứng giữa sân nhà thờ nhiều lần mà chưa được ai chào hỏi. Người nghèo có thể ngại tham dự một sinh hoạt vì sợ không có phần đóng góp. Người từng mắc lỗi có thể muốn trở lại nhưng không chịu nổi ánh nhìn của những người luôn nhắc chuyện cũ. Nếu cửa nhà thờ mở mà lòng chúng ta đóng, người tìm đến vẫn có thể không tìm được nơi nương tựa. Một giáo xứ biết chăm sóc không đòi mỗi người phải làm những việc vượt sức, nhưng cần tạo một nếp sống trong đó việc quan tâm trở thành trách nhiệm chung. Một cuộc gọi thăm hỏi, một chuyến ghé nhà, một nhóm nhỏ luân phiên giúp người bệnh, một sự hỗ trợ kín đáo cho gia đình thiếu thốn, một cách đón tiếp tôn trọng đối với người đang lúng túng: những việc ấy làm cho cộng đoàn trở thành một nơi người ta có thể sống đức tin bằng cả cuộc đời mình.
Người Samari không giữ người bị thương như một sở hữu của lòng tốt mình. Ông đưa người ấy đến quán trọ và nhờ người khác tiếp tục chăm sóc. Chi tiết ấy gợi cho chúng ta một cách thực hành bác ái có sự cộng tác. Nhiều khi một người có thể nhận ra nhu cầu, một người khác có phương tiện, người khác nữa có chuyên môn hoặc thời giờ. Khi những khả năng ấy được nối lại, việc giúp đỡ trở nên bền vững hơn. Có người chăm sóc rất tận tình nhưng rồi kiệt sức vì không biết nhờ ai chia sẻ. Có người muốn giúp mà không biết bắt đầu từ đâu. Có người đang cần trợ giúp nhưng không dám nói vì sợ bị bàn tán. Một cộng đoàn trưởng thành phải tạo được sự tin tưởng để các nhu cầu thật có thể được nhận biết và đáp ứng với sự kín đáo. Không phải nỗi đau nào cũng cần được công bố trước đám đông. Không phải sự quảng đại nào cũng cần có hình ảnh để chứng minh. Người được giúp cần được giữ phẩm giá, quyền riêng tư và sự chủ động trong đời sống của mình. Họ không phải một câu chuyện để người khác xây dựng danh tiếng. Họ là anh chị em. Khi tình thương được thực hiện với sự tế nhị ấy, người đang yếu có thể nhận trợ giúp mà không bị làm cho thấy mình nhỏ bé hơn.
Câu chuyện còn mời chúng ta nhìn lại những ranh giới mình dựng lên. Người ta dễ quan tâm đến người quen, người cùng nhóm, người dễ giao tiếp, người có thể đáp lại bằng lòng biết ơn. Nhưng đời sống luôn đưa đến những người không giống mình. Một người có quan điểm khác, một người thuộc truyền thống tôn giáo khác, một người từng có mâu thuẫn với gia đình mình, một người mang những thói quen khiến mình khó chịu. Đối diện với họ, chúng ta không cần giả vờ rằng mọi khác biệt đã biến mất. Có những bất đồng cần được trao đổi, có những vấn đề phải được phân định. Tuy nhiên, sự khác biệt không hủy bỏ nghĩa vụ tôn trọng con người và đáp lại một nhu cầu cấp thiết. Khi một người đang đau, ta có thể giúp mà không yêu cầu họ phải trở thành giống mình trước. Khi một người đang bị đối xử bất công, ta có thể bảo vệ phẩm giá của họ mà không cần đồng ý với mọi điều họ nghĩ. Đây là một việc khó, vì trong lòng chúng ta thường có một danh sách kín đáo về những người mình sẵn sàng giúp và những người mình không muốn liên quan. Tin Mừng đưa ánh sáng vào chính danh sách ấy. Nó không chỉ hỏi ta đã làm được bao nhiêu việc tốt, mà còn hỏi tại sao có những người luôn bị loại khỏi lòng tốt của ta.
Trong thế giới số, người gặp nạn có thể hiện diện qua một lời đăng ngắn ngủi, một tin nhắn lúc khuya, một sự im lặng khác thường hoặc một cuộc tấn công bằng lời nói trên mạng. Chúng ta có thêm nhiều cơ hội để nhận ra nhu cầu của người khác, nhưng cũng có thêm nhiều cách để lướt qua. Một người đang bị chế giễu có thể trở thành đề tài giải trí. Một sai lầm có thể bị chia sẻ vô số lần đến mức người có lỗi không còn được nhìn như một con người có khả năng sửa đổi. Một hoàn cảnh đau thương có thể bị biến thành hình ảnh gây xúc động rồi nhanh chóng bị quên. Thực hành bác ái trên mạng bắt đầu từ việc không tiếp tay làm sâu thêm vết thương. Trước khi chia sẻ một điều bất lợi về ai, cần biết mình có đủ cơ sở không và việc chia sẻ ấy nhằm mục đích gì. Trước khi bình luận, cần nghĩ đến con người sẽ đọc những lời đó. Khi nhận ra một người quen có dấu hiệu khủng hoảng, một tin nhắn riêng đầy tôn trọng có thể hữu ích hơn một lời khuyên công khai khiến họ khó xử. Khi thấy ai bị làm nhục, chúng ta có thể từ chối tham gia, tìm cách hỗ trợ họ và sử dụng những phương tiện phù hợp để hạn chế sự gây hại. Một người Kitô hữu không chỉ được nhận ra qua những nội dung đạo đức mình đăng, mà còn qua cách mình đối xử với người khác trong những lúc đám đông đang mất kiên nhẫn và trở nên khắc nghiệt.
Một trở ngại lớn của tình thương là nhu cầu phải được người khác đánh giá tốt. Có khi chúng ta không dừng lại vì sợ bị hiểu lầm, sợ bị cho là lo chuyện bao đồng, sợ sự quan tâm của mình trở nên vụng về. Cũng có khi chúng ta chỉ muốn giúp trong những hoàn cảnh mà người khác nhìn thấy và đánh giá cao. Cả hai thái độ đều đặt cái nhìn của đám đông lên trên nhu cầu của người đang cần. Muốn sống bác ái, ta phải học chịu một chút bất tiện trong lòng: có thể không nói được câu thật hay, có thể không được cảm ơn như mong đợi, có thể phải giải thích một sự thay đổi trong kế hoạch, có thể làm một việc âm thầm mà chẳng ai biết. Điều ấy không có nghĩa là hành động hấp tấp hoặc bỏ qua mọi trách nhiệm. Nó có nghĩa là không để sự ngại ngùng quyết định toàn bộ cách mình sống. Có những lời thăm hỏi rất vụng về nhưng chân thành đã mở một cánh cửa. Có những lần ghé thăm không mang theo món quà nào đáng kể nhưng giúp người bệnh biết mình còn được nhớ đến. Có những lời xin lỗi không trau chuốt nhưng cứu được một mối quan hệ. Nếu cứ đợi đến khi mình có đủ tự tin, đủ khéo léo và đủ điều kiện thuận lợi, rất nhiều người sẽ phải chờ quá lâu.
Lòng thương xót cũng cần thời gian. Chúng ta thích những việc có kết quả rõ ràng, giúp xong là thấy người khác vui, khuyên một lần là họ thay đổi, hỗ trợ một đợt là mọi khó khăn chấm dứt. Nhưng con người không hồi phục theo một lịch trình được đặt sẵn. Người đang chịu tang có thể hôm nay bình tĩnh mà ngày mai lại bật khóc. Người muốn thoát khỏi một thói quen xấu có thể đã cố gắng rồi vẫn vấp ngã. Người bị tổn thương trong các mối quan hệ có thể cần rất lâu mới dám tin một người mới. Đồng hành với họ đòi một sự kiên nhẫn có phân định. Ta không cổ vũ điều sai, không thay họ làm mọi việc, không hứa những điều mình không thể thực hiện, nhưng cũng không vội kết luận rằng mọi cố gắng đều vô ích chỉ vì tiến bộ còn chậm. Có những hạt giống cần được chăm sóc qua nhiều mùa. Có những người bắt đầu đứng dậy chính nhờ biết rằng sau một lần thất bại, họ vẫn còn một nơi có thể trở về và nói thật. Khi giúp đỡ, chúng ta cần nhớ mình không phải chủ nhân của sự thay đổi nơi người khác. Ta góp một phần, khích lệ một bước, tạo một điều kiện, rồi tôn trọng tự do và nhịp trưởng thành của họ. Tình thương bền vững không chiếm lấy cuộc đời người được giúp.
Nhưng trước khi chỉ nhìn mình như người có thể cứu giúp, chúng ta cũng cần nhận ra có những lúc chính mình là người nằm bên đường. Chúng ta có thể bị thương bởi mất mát, bởi một sự phản bội, bởi điều sai trái mình đã làm, bởi những năm tháng cố gắng mà không được ai hiểu. Có người mang trách nhiệm chăm sóc nhiều người đến mức không cho phép mình yếu đuối. Có người quen làm chỗ dựa nên khi cần được đỡ nâng lại thấy xấu hổ. Có người sống lâu trong vai trò phục vụ nhưng lòng đã khô cạn, chỉ còn tiếp tục vì nghĩa vụ. Dụ ngôn không yêu cầu ta đóng vai người mạnh trong mọi hoàn cảnh. Có những ngày cần can đảm để giúp, và có những ngày cần can đảm để nhận giúp đỡ. Đón nhận một lời hỏi thăm, nói thật rằng mình đang mệt, tìm người đồng hành, trở về với bí tích Hòa giải, dành thời gian nghỉ ngơi cần thiết: đó cũng có thể là những bước của sự khiêm tốn. Khi biết mình từng được nâng dậy, ta sẽ bớt coi thường người đang yếu. Khi nhớ rằng mình sống nhờ biết bao bàn tay âm thầm, ta sẽ bớt nghĩ lòng tốt là một thành tích riêng. Người có lòng thương xót không nhất thiết là người chưa từng đổ vỡ. Nhiều khi chính người đã được chăm sóc trong đổ vỡ lại biết chăm sóc người khác cách sâu sắc hơn.
Trong ánh sáng đức tin, chúng ta nhận ra nơi Đức Giêsu sự gần gũi của Thiên Chúa với nhân loại bị thương. Người không đứng ngoài cuộc sống để chỉ đưa ra lời hướng dẫn. Người bước vào thân phận con người, đến với những người bị bỏ quên, chạm đến những nỗi đau, đón nhận những người đang tìm đường trở về. Trên thập giá, tình yêu của Người đi đến tận cùng trong việc trao ban chính mình. Vì thế, sống lòng thương xót không chỉ là làm theo một mẫu gương đạo đức đẹp. Đó còn là đáp lại tình yêu mà mình đã nhận. Chúng ta yêu được vì đã được yêu trước; chúng ta học nâng người khác dậy vì chính mình được Thiên Chúa nâng đỡ. Khi cầu nguyện, ta cần để sự thật ấy đi sâu vào lòng. Nếu chỉ nhìn những việc phải làm, ta dễ kiệt sức hoặc tự mãn. Nếu ở lại trong tình yêu của Chúa, ta học phục vụ với sự biết ơn và tự do hơn. Ta không cần trở thành người cứu được mọi người; ta cần trung thành với phần trách nhiệm được trao. Ta không cần làm cho người khác lệ thuộc vào mình; ta cần giúp họ đứng lên, tìm lại phẩm giá và nhận ra họ được Thiên Chúa yêu thương. Chính sự gắn bó với Chúa giữ cho bác ái khỏi trở thành một cuộc tìm kiếm sự công nhận cho bản thân.
Thánh lễ đặt cuộc sống chúng ta trong chuyển động trao ban ấy. Chúng ta đến với những lo toan, những thiếu sót, những nhu cầu của mình và của người thân. Chúng ta được nghe Lời Chúa, được mời sám hối, được nuôi dưỡng bằng sự hiện diện của Đức Kitô. Rồi chúng ta trở về giữa đời thường với một trách nhiệm mới mẻ: để điều đã lãnh nhận có thể sinh hoa trái trong các mối quan hệ. Sau khi hiệp lễ, bàn tay ta vẫn phải mở cửa nhà, cầm điện thoại, làm việc, chăm người thân; nhưng những việc ấy có thể được thực hiện với một lòng yêu mến sâu hơn. Một buổi cử hành sốt sắng cần được nối với một ngày sống có sự tế nhị. Người phục vụ bàn thờ cần biết kính trọng người cộng tác. Người đọc Lời Chúa cần gìn giữ lời nói của mình khỏi làm nhục người khác. Người tham gia đoàn thể cần biết quan tâm đến thành viên yếu hơn, khó hòa nhập hơn, ít được chú ý hơn. Không ai thực hiện điều ấy hoàn hảo ngay lập tức. Nhưng nếu Thánh lễ trở thành nguồn sống thật, chúng ta sẽ dần thấy những chỗ mình cần thay đổi và có can đảm bắt đầu. Thiên Chúa không chỉ gặp ta trong những phút ta thấy mình đạo đức nhất; Người còn đợi ta ở một cuộc gặp khó khăn, một sự nhường nhịn cần thiết, một nỗi đau ta có thể góp phần xoa dịu.
Để bắt đầu, có lẽ mỗi người nên nhớ đến một khuôn mặt cụ thể. Đừng chỉ nghĩ chung rằng mình cần yêu thương nhiều hơn, vì một ý định chung rất dễ tan đi khi ngày sống trở nên bận rộn. Hãy nghĩ đến người đã lâu mình không hỏi thăm, người mình thường né tránh, người đang gánh một việc nặng mà mình có thể chia sẻ, người mình đã làm tổn thương nhưng chưa đủ khiêm tốn để xin lỗi. Rồi chọn một việc vừa sức và thực hiện. Gọi điện, ghé thăm, giúp một khoản cần thiết trong khả năng, giới thiệu một nơi hỗ trợ, dành một buổi để lắng nghe, làm một phần việc trong nhà, ngừng kể lại câu chuyện riêng tư của họ. Không phải việc nào cũng lớn, nhưng cần thật. Và khi đã làm một bước, hãy tiếp tục học xem bước ấy có đáp ứng đúng nhu cầu không. Có lúc điều mình muốn cho không phải điều người kia cần. Có lúc sự hiện diện cần đi cùng một trợ giúp cụ thể. Có lúc tiền bạc cần đi cùng sự tôn trọng. Có lúc cần nói một lời rõ ràng để ngăn điều gây hại. Bác ái trưởng thành nhờ sự chú ý ấy: chú ý đến con người thực, hoàn cảnh thực và khả năng thực của mình. Một việc nhỏ được làm đúng lúc có thể mở ra nhiều điều mà ta không nhìn thấy ngay.
Ngày nào chúng ta cũng phải lựa chọn cách đi qua đời sống. Có thể đi thật nhanh để hoàn tất mọi việc của mình, cũng có thể học nhận ra những lúc cần chậm lại. Có thể giữ khoảng cách an toàn với mọi nỗi đau, cũng có thể mở lòng đón nhận phần trách nhiệm thuộc về mình. Không ai được yêu cầu dừng trước mọi nhu cầu trên thế giới, nhưng mỗi người đều có những cuộc gặp không nên tiếp tục bỏ qua. Đó có thể là người sống cùng nhà, người ngồi cạnh trong nhà thờ, người làm việc với mình, người âm thầm phục vụ mà hiếm khi được cảm ơn. Khi những cuộc gặp ấy được đón nhận với lòng thương xót, đời sống không chỉ có thêm một việc tốt; nó có thêm một mối liên hệ được chữa lành, một phẩm giá được nâng đỡ, một niềm tin được khơi lại. Chúng ta không biết một hành động chân thành sẽ đi xa đến đâu trong lòng người khác. Một người được đối xử tử tế giữa lúc tuyệt vọng có thể nhờ đó mà đủ sức bước tiếp. Một đứa trẻ được lắng nghe có thể giữ được niềm tin rằng mình đáng được yêu. Một người già được nhớ đến có thể trải qua những ngày cuối đời với sự bình an hơn. Đó là những điều lớn lao thường được thực hiện bằng những cử chỉ rất bình thường.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con một trái tim biết chú ý. Xin đừng để những bận rộn cần thiết làm chúng con quên những con người Chúa đặt gần mình. Khi chúng con đã quen nhận xét, xin dạy chúng con lắng nghe; khi chúng con chỉ muốn giữ phần thuận lợi, xin cho chúng con can đảm chia sẻ một phần thời giờ và sức lực; khi chúng con sợ bị làm phiền, xin giúp chúng con nhận ra đâu là lời mời gọi cần đáp lại. Xin chữa lành những vết thương khiến chúng con trở nên khép kín và giúp chúng con đón nhận sự nâng đỡ với lòng khiêm tốn. Xin gìn giữ những người đang đau khổ mà chúng con chưa biết đến, những người đang chờ một cuộc gọi, một lời xin lỗi, một bàn tay trợ giúp, một nơi an toàn để trở về. Xin cho gia đình chúng con biết chăm sóc nhau bằng những việc nhỏ hằng ngày; cho cộng đoàn chúng con biết nhận ra người yếu thế; cho những người đang phục vụ được thêm sức để tiếp tục yêu thương cách khôn ngoan và bền bỉ. Và ngay hôm nay, xin chỉ cho chúng con một việc cụ thể có thể làm, một người cụ thể có thể đến gần, một bước cụ thể có thể bắt đầu. Xin cho chúng con đừng để người ấy phải chờ mãi đến khi chúng con hết bận, bởi tình yêu Chúa vẫn đang tìm đường đến với họ qua cuộc đời chúng con. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.

ĐỪNG ĐỂ MỘT NGƯỜI PHẢI NẰM LẠI BÊN ĐƯỜNG VÌ TRÁI TIM CHÚNG TA QUÁ BẬN
Có những con đường chúng ta đi qua mỗi ngày đến mức không còn nhìn thấy những người đang hiện diện trên đó. Con đường từ nhà đến nơi làm việc, từ phòng riêng đến bàn ăn, từ cổng nhà thờ đến chỗ ngồi quen thuộc, từ một cuộc hẹn đến một cuộc hẹn khác. Chúng ta nhớ những chỗ thường kẹt xe, những quán ăn tiện ghé, những đoạn đường cần đi nhanh, nhưng lại không nhớ khuôn mặt của người ngồi lặng lẽ bên vệ đường. Chúng ta nhận ra một cửa hàng vừa thay bảng hiệu mà không nhận ra người hàng xóm đã nhiều ngày không mở cửa. Chúng ta biết chiếc điện thoại của mình sắp hết pin nhưng không biết người đang sống cùng nhà đã gần cạn sức. Cuộc sống vẫn tiếp tục, công việc vẫn hoàn thành, lịch sinh hoạt vẫn đầy đủ, trong khi đâu đó, rất gần chúng ta, một người đang nằm lại bên đường. Họ có thể không nằm trên mặt đất. Họ đang nằm lại trong một cuộc hôn nhân đầy tổn thương, một căn phòng trọ thiếu tiếng người, một giường bệnh không có ai thăm, một tuổi già bị xem như gánh nặng, một lỗi lầm khiến họ không còn dám ngẩng đầu. Tin Mừng về người Samari nhân hậu đưa chúng ta đến trước những con người ấy và đặt ra một câu hỏi không dễ né tránh: khi gặp một người đang cần được cứu giúp, tôi sẽ làm gì? Tôi có thể tiếp tục bước đi với những lý do nghe rất hợp lý. Tôi cũng có thể dừng lại, để cuộc đời của người ấy trở thành một phần trách nhiệm của mình. Giữa hai lựa chọn đó, đức tin bắt đầu bộc lộ khuôn mặt thật của nó.
Người thông luật đến gặp Đức Giêsu với câu hỏi về sự sống đời đời. Đó là một câu hỏi lớn, chạm đến điều sâu xa nhất của kiếp người. Sau tất cả những năm tháng lao động, kiếm sống, vun đắp, tranh đấu, thành công và thất bại, đời tôi sẽ đi về đâu? Những gì tôi đang làm có đưa tôi đến sự sống hay chỉ khiến tôi bận rộn hơn? Tôi có thể sở hữu nhiều thứ mà vẫn đánh mất chính mình không? Tôi có thể sống lâu mà chưa từng sống sâu không? Câu hỏi về sự sống đời đời không chỉ thuộc về lúc cuối đời, khi tóc đã bạc và sức khỏe suy giảm. Nó nằm trong từng quyết định hôm nay, trong cách chúng ta đối xử với cha mẹ, trong sự trung thực khi làm việc, trong thái độ đối với một người yếu thế, trong việc chúng ta sử dụng quyền lực, tiền bạc và thời gian. Đức Giêsu đưa người thông luật trở về với điều ông đã biết: yêu mến Thiên Chúa bằng toàn thể con người và yêu người thân cận như chính mình. Ông biết câu trả lời. Nhưng hiểu đúng về tình yêu chưa có nghĩa là đã sống trong tình yêu. Có người nói rất rõ về lòng nhân ái mà người nhà vẫn sợ tiếng chân họ trở về. Có người giải thích rất hay về tha thứ mà nhiều năm chưa chịu chào một người từng làm mình buồn. Có người am hiểu đời sống đạo nhưng lại khiến một người đang yếu đức tin càng cảm thấy mình không có chỗ trong cộng đoàn. Khoảng cách giữa điều chúng ta biết và điều chúng ta sống có thể rất lớn. Tin Mừng đi vào chính khoảng cách ấy, để một điều đúng trên môi trở thành một cách sống trong đời.
Chúng ta thường muốn biết mình phải yêu ai, phải giúp đến đâu, phải chịu trách nhiệm đến mức nào. Những câu hỏi ấy có thể xuất phát từ sự khôn ngoan cần thiết, bởi không ai có thể một mình giải quyết mọi đau khổ trên thế giới. Nhưng đôi khi, phía sau việc tìm hiểu giới hạn lại là mong muốn giữ lòng mình khỏi bị chạm đến. Chúng ta muốn một danh sách rõ ràng: người này thuộc trách nhiệm của tôi, người kia thuộc trách nhiệm của người khác; hoàn cảnh này đáng giúp, hoàn cảnh kia nên để mặc; người này biết điều, người kia từng làm điều sai trái. Nếu tình yêu chỉ được trao sau khi người đau khổ vượt qua tất cả những điều kiện do chúng ta đặt ra, sẽ có rất nhiều người chết trong lúc chờ được công nhận là đáng thương. Đức Giêsu kể một câu chuyện, và giữa câu chuyện ấy là một con người bị đánh đập, bị tước đoạt, bị bỏ lại. Người ấy cần được chăm sóc trước khi có thể kể rõ mình là ai. Nỗi đau của họ đến trước hồ sơ của họ. Sự sống đang bị đe dọa của họ đến trước những giải thích về quá khứ. Đây là một điều rất cần cho đời sống chúng ta: người đang đau không phải lúc nào cũng có đủ bình tĩnh để trình bày hoàn cảnh cho mạch lạc, người đang hoảng loạn không phải lúc nào cũng biết xin giúp đỡ cho đúng cách, người đã chịu nhiều tổn thương không phải lúc nào cũng dễ chịu và biết cảm ơn. Nếu chúng ta chỉ sẵn lòng giúp những người biết nói năng hợp ý mình, lòng thương xót sẽ trở nên quá hẹp.
Người bị nạn trong dụ ngôn không có tên. Sự vô danh ấy khiến chúng ta có thể nhận ra rất nhiều khuôn mặt trong một thân người nằm bên đường. Đó là người cha vừa mất việc nhưng vẫn cố giữ vẻ bình thường trước các con; người mẹ thức suốt đêm chăm con bệnh rồi sáng hôm sau tiếp tục đi làm; một thiếu niên bị chế giễu đến mức không còn muốn đến trường; một người di dân sống giữa thành phố đông đúc mà không biết tìm ai khi đau ốm; một người từng vấp ngã đang cố làm lại cuộc đời nhưng ở đâu cũng bị nhắc đến quá khứ; một người có nhà cửa đầy đủ mà mỗi ngày phải chịu những lời xúc phạm; một người phục vụ cộng đoàn nhiều năm đang kiệt sức nhưng không dám nói vì sợ bị đánh giá là thiếu nhiệt thành. Có những vết thương nhìn thấy được, có những vết thương chỉ lộ ra qua một câu nói nhỏ, một ánh mắt tránh né, một sự im lặng kéo dài. Không phải ai đang cười cũng bình an. Không phải ai còn làm việc được cũng đủ sức chịu đựng. Không phải ai chưa xin giúp đỡ cũng không cần một bàn tay. Điều đó không có nghĩa chúng ta phải đoán biết mọi điều đang diễn ra trong lòng người khác. Nó mời chúng ta quan tâm đủ để hỏi, đủ để nghe, đủ để nhận ra một thay đổi bất thường. Một cuộc gọi không vội vàng, một lời hỏi thăm chân thành, một buổi ghé thăm có thể mở ra điều mà nhiều tháng người ấy chưa biết nói cùng ai.
Hai người đầu tiên đi qua đều nhìn thấy người bị nạn, nhưng họ tiếp tục đi. Dụ ngôn không cho chúng ta biết đầy đủ suy nghĩ của họ, và chúng ta không cần tự đặt vào lòng họ những động cơ mà bản văn không nói. Điều đáng suy nghĩ nằm ngay trong hành động: họ thấy mà không đến gần. Chúng ta cũng có thể làm như thế. Chúng ta nhìn thấy một người cần giúp, cảm thấy hơi áy náy, rồi tiếp tục bước đi. Đến cuối ngày, cảm giác áy náy đã nhẹ hơn, và đến hôm sau, chúng ta gần như quên hẳn. Không phải mọi sự bỏ mặc đều bắt đầu từ lòng độc ác. Nhiều sự bỏ mặc bắt đầu từ một trái tim đã quen trì hoãn điều tốt. Để lúc khác hỏi thăm. Để tuần sau ghé nhà. Để khi rảnh sẽ giúp. Để một người có điều kiện hơn lo việc ấy. Nhưng người đang đau không phải lúc nào cũng có thể chờ đến khi lịch của chúng ta trống. Một cụ già có thể qua đời trước chuyến thăm cứ bị dời lại. Một đứa trẻ có thể đóng lòng trước cuộc trò chuyện cha mẹ cứ hẹn hôm khác. Một người đang tuyệt vọng có thể mất niềm tin trong những ngày chúng ta tưởng rằng sự im lặng của họ là dấu hiệu mọi chuyện đã ổn. Chúng ta không chịu trách nhiệm về tất cả những gì mình không biết, nhưng cần thành thật trước những điều đã biết mà vẫn cố tình tránh né. Có những việc tốt rất nhỏ, trong khả năng của mình, và điều duy nhất ngăn chúng ta thực hiện là không muốn bị gián đoạn.
Người Samari cũng đang đi đường. Anh có việc của anh, có nơi cần đến, có những dự định chưa hoàn thành. Cuộc gặp gỡ với người bị nạn không nằm trong lịch trình. Chính điều ấy làm cho hành động của anh trở nên gần gũi với chúng ta. Lòng thương xót thường xuất hiện giữa lúc ta đang bận, chứ ít khi chờ đến một buổi chiều hoàn toàn rảnh rỗi. Một người bệnh cần đưa đi khám vào ngày chúng ta có nhiều việc. Một người trẻ cần được lắng nghe khi chúng ta đang mệt. Một hoàn cảnh khó khăn được báo đến lúc tiền bạc trong nhà cũng phải tính toán. Dừng lại luôn có một cái giá, dù là thời gian, sức lực, sự bất tiện hay việc phải thay đổi dự định. Người Samari chấp nhận để nỗi đau trước mắt điều chỉnh bước chân mình. Anh không giải quyết mọi bất hạnh trên con đường ấy, nhưng anh không bỏ mặc người đã gặp. Đây là một hướng đi rất thực tế cho đời sống đức tin. Chúng ta không cần chờ đến khi có khả năng làm những điều lớn lao mới bắt đầu sống bác ái. Có thể hôm nay ta chỉ đủ sức nấu thêm một phần cơm, chở ai đó một đoạn đường, ngồi bên một bệnh nhân một giờ, đóng góp một khoản nhỏ, hoặc giới thiệu một người đến nơi có thể giúp họ. Một việc nhỏ được làm đúng lúc có thể đem lại sự nâng đỡ rất lớn. Điều cần là đừng dùng sự nhỏ bé của khả năng để biện minh cho việc không làm gì.
Đến gần là bước đầu tiên rất quan trọng. Từ xa, chúng ta dễ nói về người nghèo như một nhóm người, về người bệnh như một con số, về gia đình đổ vỡ như một vấn đề, về người lầm lỡ như một loại người cần đề phòng. Khi đến gần, chúng ta gặp một người có tên, có khuôn mặt, có ký ức, có những điều họ yêu quý và những điều họ sợ. Chúng ta nghe được sự khó khăn cụ thể của một ngày sống. Có người không thiếu cơm nhưng thiếu người đưa đi bệnh viện. Có người cần tiền đóng học cho con hơn là một món quà được chọn theo ý người trao. Có người đang cần được bảo vệ khỏi bạo lực hơn là nghe thêm lời khuyên chịu đựng. Có người cần một cơ hội làm việc để giữ lòng tự trọng. Có người chỉ cần được giải thích kiên nhẫn một thủ tục mà họ không hiểu. Đến gần giúp chúng ta bớt áp đặt hình dung của mình lên nhu cầu của người khác. Bác ái đòi một trái tim ấm áp và một sự chú ý nghiêm túc. Một sự giúp đỡ có thể rất thiện chí nhưng vẫn không thích hợp nếu chúng ta không lắng nghe. Thương một người còn là tôn trọng tiếng nói của họ, hỏi họ cần gì, xem họ có thể tự làm được điều gì, cùng họ tìm một bước đi vừa sức. Nhờ vậy, người được giúp không trở thành một đối tượng thụ động, nhưng vẫn được nhìn nhận là người có phẩm giá và có khả năng tham gia vào việc hồi phục của chính mình.
Người Samari chăm sóc những vết thương bằng những gì anh có. Anh không đứng đó diễn thuyết về nguyên nhân của đau khổ. Anh bắt đầu từ một việc cần làm ngay. Trong nhiều hoàn cảnh, chúng ta cũng phải học thứ tự ấy. Một người đói cần được ăn trước khi nghe lời nhắc về cách quản lý tiền bạc. Một người vừa trải qua biến cố cần được ổn định trước khi có thể suy nghĩ về những quyết định dài hạn. Một người đang bị thương cần sự an toàn, chăm sóc và nâng đỡ trước khi đủ sức giải thích toàn bộ câu chuyện. Điều này không loại bỏ việc giáo dục, sửa sai hay khuyên bảo. Nó giúp chúng ta đặt những điều ấy vào thời điểm thích hợp. Lời nói đúng mà đến sai lúc có thể trở thành gánh nặng. Có người đã đủ đau vì điều mình làm, nhưng chúng ta lại nghĩ rằng phải nhắc thêm thật nhiều để họ nhớ. Có người biết rất rõ sai lầm của mình mà chưa biết tìm đường ra, trong khi những người chung quanh chỉ tiếp tục mô tả cái hố họ đang rơi vào. Lòng thương xót cần một đôi tay biết đỡ dậy. Khi một người đã được nâng đỡ, họ có thể bình tĩnh nhìn lại, nhận trách nhiệm và bắt đầu thay đổi. Sự thật được nói trong tình yêu giúp người ta trưởng thành; sự thật bị dùng như một thứ vũ khí dễ khiến họ co lại trong sợ hãi và tự vệ.
Một điều rất đẹp trong dụ ngôn là người Samari không dừng ở phút xúc động đầu tiên. Anh đưa người bị nạn đến nơi có thể tiếp tục được chăm sóc. Anh dành nguồn lực cho việc ấy và nghĩ đến những nhu cầu có thể phát sinh. Nhiều khi chúng ta dễ nhiệt tình trước một hoàn cảnh vừa biết, nhưng khó giữ sự quan tâm sau vài tuần. Một lời kêu gọi ban đầu có thể nhận được nhiều đáp ứng, rồi người bệnh vẫn phải tiếp tục điều trị, người nghèo vẫn phải tìm sinh kế, đứa trẻ vẫn cần đến trường, gia đình vừa trải qua tang chế vẫn phải sống những ngày không còn người thân. Lòng thương xót trưởng thành học cách đi đường dài. Đó là sự trung tín của người chăm cha mẹ già, ngày này qua ngày khác; sự bền bỉ của người giúp một học sinh vượt qua việc bỏ học; sự kiên nhẫn của người đồng hành với một người đang cai nghiện; sự âm thầm của người thăm một bệnh nhân đã nhiều tháng chưa có chuyển biến. Những việc ấy không luôn đem lại cảm giác phấn khởi. Có khi chúng lặp lại, mệt mỏi và ít được ai biết đến. Nhưng chính sự lặp lại của tình yêu đem đến cho người yếu đau một điều rất quý: họ biết rằng mình sẽ không bị quên khi câu chuyện không còn mới. Một người được chăm sóc lâu dài có thể tìm lại niềm tin từ sự hiện diện đều đặn của người khác, ngay cả trước khi hoàn cảnh của họ thay đổi.
Trong gia đình, chúng ta có rất nhiều cơ hội sống như người Samari, và cũng có rất nhiều cơ hội đi qua người mình yêu. Hai vợ chồng có thể thuộc lòng lịch làm việc của nhau mà không còn biết những lo âu của nhau. Cha mẹ có thể kiểm tra bài vở của con mỗi ngày nhưng không nhận ra con đang bị cô lập. Con cái có thể gửi tiền đều đặn cho cha mẹ mà nhiều tuần không hỏi một câu đủ chậm để nghe câu trả lời. Cả nhà có thể ăn cùng một bàn nhưng mỗi người sống trong một thế giới riêng, và những lời cần nói cứ mắc lại giữa cổ họng. Có người chỉ được chú ý khi mắc lỗi. Có người chỉ được gọi đến khi cần làm việc. Có người bệnh vẫn cố gắng phục vụ cả nhà vì sợ làm phiền. Một mái nhà cần nhiều hơn việc chu toàn chức năng. Nó cần sự quan tâm đến con người cụ thể đang sống ở đó. Vợ chồng cần có lúc hỏi nhau về những điều đang khiến lòng mình nặng. Cha mẹ cần biết lắng nghe mà chưa vội kết luận. Con cái cần nhớ rằng cha mẹ già cũng có sự cô đơn, sợ hãi và nhu cầu được tôn trọng. Một lời xin lỗi có thể chữa lành nhiều hơn một món quà. Một lần đặt điện thoại xuống có thể mở đầu một cuộc trò chuyện đã bị trì hoãn quá lâu. Một buổi tối cùng chia sẻ việc nhà có thể khiến người mệt mỏi cảm thấy mình có người đồng hành. Gia đình trở nên nơi nuôi dưỡng đức tin khi từng người học cách nhận ra và chăm sóc những vết thương gần mình nhất.
Trong giáo xứ, tình yêu cần được nhận biết qua cách cộng đoàn đối xử với những người ít có tiếng nói. Một người mới đến có tìm được ai hướng dẫn không? Một người nghèo có dám trình bày hoàn cảnh mà không sợ bị làm cho xấu hổ không? Một người từng xa nhà thờ có cảm thấy mình được đón nhận khi trở lại không? Một gia đình đang rạn nứt có tìm thấy sự nâng đỡ hay chỉ nghe thêm những lời bàn tán? Một em nhỏ chậm tiếp thu có được dạy với sự kiên nhẫn không? Một người già đi đứng khó khăn có được quan tâm trong những việc rất cụ thể không? Những câu hỏi ấy chạm đến chất lượng đời sống cộng đoàn. Chúng ta có thể tổ chức nhiều chương trình mà vẫn bỏ sót người đang cần một chuyến thăm. Chúng ta có thể dành nhiều công sức cho một buổi lễ mà chưa dành đủ sự chú ý cho người phục vụ đang âm thầm kiệt sức. Điều đó không làm những chương trình và buổi lễ mất ý nghĩa; nó nhắc chúng ta giữ con người ở trong sự quan tâm của mình. Một cộng đoàn trưởng thành cần những người làm việc giỏi, đồng thời cần những người biết lắng nghe, biết giữ kín chuyện riêng, biết giúp đỡ mà không khiến người nhận mang mặc cảm. Người phục vụ có thể làm cho một người tìm lại hy vọng bằng một thái độ hiền hòa. Họ cũng có thể khiến người ấy đóng cửa lòng bằng một lời thiếu tôn trọng. Vì thế, mọi việc mục vụ đều cần được thấm bằng lòng thương xót, ngay từ cách chào hỏi, hướng dẫn và tiếp nhận một lời xin giúp đỡ.
Có những người bị bỏ lại bên đường vì một lỗi lầm đã trở thành cái tên duy nhất mà cộng đồng dùng để gọi họ. Dù họ đã cố gắng thay đổi, người khác vẫn nhắc lại chuyện cũ. Dù họ đã trả giá, họ vẫn bị nhìn như thể không thể sống khác. Lòng thương xót không xóa trách nhiệm và không coi nhẹ hậu quả của điều sai. Người gây tổn thương cần nhận lỗi, sửa chữa trong khả năng của mình và chấp nhận những bước cần thiết để bảo vệ người bị hại. Nhưng một con người không chỉ là lỗi lầm của họ. Nếu chúng ta tin vào khả năng hoán cải, chúng ta cũng phải tạo chỗ cho sự hoán cải trong cách đối xử hằng ngày. Một người đã thành thật muốn làm lại cần được hướng dẫn và cần một cơ hội phù hợp. Một người vừa trở về với đời sống đạo cần được đồng hành, thay vì bị dò xét xem sự trở về ấy có đáng tin hay không. Một người đang tập sống ngay thẳng có thể còn vụng về, còn phải sửa nhiều thói quen, nhưng sự vụng về ấy không phải lý do để chúng ta làm họ nhụt chí. Có những tiến bộ chỉ lớn lên được trong một môi trường có sự kiên nhẫn. Khi người khác biết rằng mình vẫn được nhìn nhận như một con người có tương lai, họ có thêm sức để bước tiếp. Sự nâng đỡ của chúng ta không bảo đảm họ sẽ không bao giờ vấp ngã, nhưng có thể giúp họ biết tìm đến đâu để đứng dậy và tiếp tục chịu trách nhiệm về đời mình.
Lòng thương xót còn cần đi cùng sự khôn ngoan. Có những hoàn cảnh vượt quá hiểu biết và khả năng của chúng ta. Một người bị thương cần nhân viên y tế. Một người đang chịu bạo lực cần được đưa đến nơi an toàn và có sự hỗ trợ thích hợp. Một người có những dấu hiệu suy sụp nghiêm trọng cần sự đồng hành chuyên môn. Một gia đình gặp khó khăn pháp lý cần người có hiểu biết để hướng dẫn. Chúng ta không yêu thương hơn bằng cách tự nhận mình có thể giải quyết tất cả. Người Samari trong dụ ngôn đã đưa người bị nạn đến một nơi khác và nhờ thêm người chăm sóc. Anh làm phần của mình, rồi kết nối với sự trợ giúp cần thiết. Chúng ta cũng có thể sống bác ái bằng cách nhận ra giới hạn, tìm người phù hợp, cùng chia sẻ trách nhiệm. Người đã chăm sóc bệnh nhân suốt nhiều tháng cần được nghỉ. Người đang gánh việc gia đình cần được đỡ bớt. Người phục vụ cộng đoàn cần có người lắng nghe chính họ. Nếu chỉ chờ một vài người tận tụy làm mọi việc, chúng ta sẽ dần làm cạn sức những người ấy. Một cộng đoàn biết thương xót còn biết chăm sóc người đang chăm sóc người khác. Sự phân công công bằng, một lời hỏi thăm và một sự thay thế đúng lúc giúp việc phục vụ được bền vững. Tình yêu có thể rất quảng đại mà vẫn cần nhịp nghỉ ngơi, cần sự nâng đỡ và cần những giới hạn lành mạnh để tiếp tục trao đi.
Có khi chính chúng ta là người đang nằm bên đường. Điều này không dễ thừa nhận, nhất là với người đã quen giúp đỡ người khác. Chúng ta có thể biết chăm sóc mọi người mà không biết nói mình đang mệt. Chúng ta có thể khuyên người khác cầu nguyện, nghỉ ngơi, tìm sự nâng đỡ, nhưng lại xem nhu cầu ấy nơi mình là dấu hiệu yếu đuối. Có người đã lâu không có một cuộc trò chuyện thật lòng. Có người mang nỗi buồn mà chỉ nói chung chung rằng mình vẫn ổn. Có người tiếp tục làm việc để khỏi phải đối diện với sự trống trải bên trong. Có người cảm thấy mình không được phép dừng lại vì quá nhiều người đang trông cậy. Nhưng chúng ta cũng là những con người cần được yêu thương, cần được chăm sóc và có giới hạn. Đón nhận sự giúp đỡ đòi một sự khiêm tốn sâu sắc. Nó cho phép người khác bước vào cuộc đời mình, cho phép mình không luôn mạnh mẽ, cho phép một tình yêu đến với mình mà không phải lập tức trả lại bằng thành tích. Nếu đang bị thương, chúng ta cần can đảm gọi tên điều ấy và tìm một người đáng tin để chia sẻ. Nếu đã kiệt sức, chúng ta cần một bước nghỉ ngơi thích hợp. Nếu đang mang một tội lỗi, chúng ta cần mở lòng trở về với Chúa và đón nhận ơn tha thứ. Người biết mình từng được nâng dậy thường học được cách đỡ người khác dịu dàng hơn, bởi họ hiểu sự mong manh của một con người.
Trong ánh sáng đức tin, chúng ta nhận ra nơi Đức Giêsu tình yêu đã chủ động đến gần nhân loại. Người bước vào đời sống con người với tất cả những gì cụ thể của nó: đói khát, lao động, mệt nhọc, tình bạn, nước mắt, sự phản bội và cái chết. Người gặp những người bị loại trừ, những người bệnh, những người mang mặc cảm tội lỗi, những người chưa biết tìm đường về. Tình yêu của Người mở cho họ một tương lai. Khi chiêm ngắm Đức Giêsu, chúng ta không chỉ học một khuôn mẫu hành động; chúng ta đón nhận Đấng có thể chữa lành trái tim mình. Bởi có những lúc chúng ta thật sự muốn yêu nhưng lại bị ngăn bởi một vết thương cũ, một nỗi sợ, một sự mệt mỏi hoặc một thói quen tự bảo vệ. Chúng ta cần ơn Chúa để không biến nỗi đau của mình thành sự lạnh lùng đối với người khác. Chúng ta cần được tha thứ để không dùng việc kết án người khác làm cách che giấu sự yếu đuối của mình. Chúng ta cần được Chúa kiên nhẫn với mình để biết kiên nhẫn với những người đang thay đổi chậm chạp. Đời sống bác ái vì thế gắn chặt với cầu nguyện. Trong cầu nguyện, chúng ta có thể đặt trước mặt Chúa những người mình thấy khó thương, những hoàn cảnh mình chưa biết giúp thế nào, những giới hạn mình không muốn chấp nhận. Chúa có thể không cất đi mọi khó khăn, nhưng Người giúp chúng ta tìm một bước yêu thương thật, vừa sức và trung tín.
Thánh lễ đưa chúng ta đến gần Đức Kitô, Đấng trao ban chính mình. Khi tham dự bàn tiệc Thánh Thể, chúng ta được nuôi dưỡng để tiếp tục sống một đời biết trao đi. Sự kết hợp với Chúa cần dần đi vào lời nói, lựa chọn và cách đối xử của chúng ta. Sau thánh lễ, người ta vẫn phải trở về với một gia đình có nhiều việc chưa giải quyết, một nơi làm việc có những mối quan hệ khó khăn, một người hàng xóm khiến mình không dễ chịu, một cộng đoàn có những khác biệt. Chính ở đó, điều chúng ta đã đón nhận cần được đem ra sống. Có thể một người bắt đầu bằng việc ngừng nói lời làm tổn thương vợ con. Một người khác quyết định trả công công bằng cho người làm. Một người khác tập không chế giễu sự chậm chạp của cha mẹ già. Một người khác dành thời gian thăm người bệnh mà mình đã quên. Những việc ấy rất đời thường, nhưng chúng cho thấy tình yêu của Chúa đang tác động đến đời sống. Chúng ta không nên nản khi thấy mình còn nhiều thiếu sót. Mỗi lần thành thật nhận ra một sự vô tâm và sửa lại một hành động, chúng ta đang để ân sủng dẫn mình đi thêm một bước. Sự thánh thiện được nuôi dưỡng trong những bước như thế: âm thầm, cụ thể, có khi khó nhọc, nhưng thật.
Trong đời sống hôm nay, chúng ta còn đi qua nhau bằng lời nói trên mạng. Một con người có thể bị thương nặng vì một hình ảnh bị chia sẻ, một chuyện riêng bị phơi bày, một lời đồn được thêm thắt, một câu chế giễu khiến nhiều người cùng cười. Khoảng cách của màn hình dễ làm chúng ta quên rằng phía bên kia là một con người có gia đình, có tâm hồn và có khả năng chịu đau. Chúng ta có thể không đánh ai bằng tay mà vẫn góp phần làm một người không còn dám xuất hiện. Chúng ta có thể không biết đầy đủ sự việc mà vẫn đưa ra những lời kết luận rất nặng. Lòng thương xót cần hiện diện ngay trước khi ta bấm gửi. Điều mình viết có đúng không? Có cần thiết không? Có làm lộ điều riêng tư của người khác không? Có giúp sửa một điều sai hay chỉ khiến sự nhục nhã lan rộng? Một người phạm lỗi vẫn có phẩm giá. Một người bị hại cần được bảo vệ, chứ không cần nỗi đau của mình trở thành chuyện để thiên hạ bàn tán. Một người được giúp đỡ có quyền giữ kín khuôn mặt và hoàn cảnh của mình. Bác ái trên mạng có thể bắt đầu bằng việc không chia sẻ một nội dung gây tổn thương, không hùa theo đám đông, không biến sự thiếu hiểu biết thành lời phán xét. Cũng có lúc chúng ta cần lên tiếng để bảo vệ người yếu thế, nhưng sự lên tiếng ấy phải dựa trên sự thật và hướng đến việc giúp đỡ cụ thể.
Dụ ngôn còn khiến chúng ta nghĩ đến những con đường đã có quá nhiều người bị thương. Chăm sóc người bị nạn là việc cần làm ngay, và sau đó, chúng ta cũng phải quan tâm đến những điều khiến con người tiếp tục bị đẩy vào đau khổ. Nếu một người lao động luôn bị trả công bất công, họ cần được giúp trong lúc túng thiếu và cần được bảo vệ quyền lợi. Nếu một đứa trẻ liên tục bị bắt nạt, em cần sự an ủi và cần môi trường sống được thay đổi. Nếu một người già cứ bị bỏ mặc, những người trong gia đình cần cùng nhận trách nhiệm. Nếu một người đang chịu bạo lực, việc khuyên họ cố chịu thêm không thể thay thế việc tìm cách bảo vệ họ. Lòng thương xót chân thật có thể đòi chúng ta lên tiếng, sửa một cách làm, thay một thói quen hoặc chấm dứt một sự bất công trong chính phạm vi mình có trách nhiệm. Có những điều chúng ta không thể thay đổi ngay, nhưng có những điều nằm trong tay mình: cách trả lương, cách quản lý người làm, cách giáo dục con, cách giải quyết xung đột, cách sử dụng quyền hạn, cách bảo vệ người không đủ sức tự bảo vệ. Một hành vi bác ái sẽ sâu hơn khi chúng ta đồng thời xét xem mình có đang góp phần tạo ra hoàn cảnh cần được cứu giúp hay không. Chúng ta cần đôi tay biết chăm sóc và một lương tâm sẵn sàng sửa điều sai.
Yêu thương đôi khi khó nhất khi người cần giúp là người đã làm chúng ta tổn thương. Ký ức có thể trở lại rất nhanh, khiến lòng chúng ta khép lại ngay trước nhu cầu của họ. Chúng ta không cần giả vờ rằng vết thương cũ không có thật. Tha thứ có thể cần thời gian, và việc xây dựng lại lòng tin cần những dấu hiệu thay đổi cụ thể. Trong những hoàn cảnh có sự nguy hiểm, chúng ta phải giữ sự an toàn và những giới hạn cần thiết. Tuy nhiên, chúng ta vẫn có thể xin Chúa giúp mình không vui trước đau khổ của người khác, không mong họ bị hủy hoại, không cố tình làm họ khổ thêm. Có khi việc yêu thương phù hợp nhất là nhờ một người khác giúp họ, trong khi mình giữ khoảng cách cần thiết. Có khi chúng ta có thể thực hiện một việc nhỏ mà không phải trở lại mối quan hệ cũ. Có khi bước đầu tiên chỉ là ngừng nuôi dưỡng ý muốn trả thù trong lòng. Những bước ấy không ồn ào nhưng rất khó, vì chúng chạm đến nơi bị thương của chính mình. Chúa biết sự khó khăn đó. Người không đòi chúng ta mang vẻ hiền hòa bên ngoài trong khi âm thầm tiếp tục bị hủy hoại. Người dẫn chúng ta đến một tình yêu có sự thật, có sự tự do và có khả năng bảo vệ sự sống. Từng chút một, lòng chúng ta có thể được giải thoát khỏi việc để nỗi đau cũ quyết định tất cả những hành động hôm nay.
Mỗi ngày, chúng ta có thể dành ít phút xét lại con đường mình đã đi. Hôm nay tôi đã gặp ai? Có người nào đang cần một điều mà tôi đủ sức trao không? Tôi đã nghe một lời cầu cứu nào mà vội coi như lời than phiền? Tôi đã làm ai buồn bằng giọng nói, thái độ hay sự thiếu quan tâm? Tôi có một việc tốt nào cứ trì hoãn, dù biết nó cần thiết? Việc xét mình ấy không nhằm làm chúng ta chìm trong mặc cảm. Nó giúp tình yêu trở nên cụ thể. Nếu nhận ra một người mình đã bỏ quên, ta có thể gọi điện. Nếu nhận ra một lời mình nói quá nặng, ta có thể xin lỗi. Nếu thấy một nhu cầu mình không thể đáp ứng, ta có thể tìm người có khả năng. Nếu biết mình đã quá mệt để tiếp tục giúp đỡ tử tế, ta có thể xin được chia sẻ trách nhiệm. Sự thay đổi thường bắt đầu từ một việc rõ ràng như thế. Chúng ta không cần chờ mình có một trái tim hoàn hảo mới hành động. Nhiều khi, chính việc bước đến giúp một người khiến trái tim chúng ta được mở ra. Chính việc lắng nghe làm chúng ta hiểu hơn. Chính việc kiên nhẫn ở lại khiến tình thương bớt hời hợt. Điều quan trọng là đừng để suy niệm trở thành nơi chúng ta xúc động thật nhiều nhưng cuối cùng vẫn không thay đổi một điều gì trong đời sống.
Có những việc yêu thương sẽ không được cảm ơn. Có những người được giúp vẫn cư xử vụng về, có những cố gắng chưa đem lại kết quả, có những lần chúng ta phải nhìn một người mình đã nâng đỡ lại vấp ngã. Những điều ấy có thể khiến lòng ta mệt. Chúng ta cần nhìn lại cách giúp đỡ, điều chỉnh khi cần, học sự khôn ngoan và tránh những việc làm không còn ích lợi. Nhưng cũng đừng vội kết luận rằng mọi cố gắng đều vô nghĩa chỉ vì chưa thấy kết quả mình mong. Một người đang hồi phục có thể tiến rất chậm. Một gia đình đang sửa lại cách sống cần nhiều lần tập lại. Một đứa trẻ đã quen bị chê trách cần thời gian mới tin vào lời động viên. Tình yêu không làm chúng ta có quyền điều khiển sự đáp lại của người khác. Chúng ta có thể trao một sự nâng đỡ chân thành, còn con đường của họ vẫn cần sự tự do, trách nhiệm và cố gắng của chính họ. Giữ điều ấy trong lòng giúp chúng ta vừa quảng đại vừa khiêm tốn. Ta không xem mình là người cứu được mọi hoàn cảnh, cũng không đánh giá toàn bộ giá trị của một hành động bằng một kết quả tức thời. Có những hạt giống cần thời gian dài mới nảy mầm, và người đã gieo có thể không được nhìn thấy ngày ấy. Điều ta có thể làm hôm nay là trao điều tốt một cách ngay thẳng, thích hợp và không lấy sự giúp đỡ làm lý do để đòi người khác thuộc về mình.
Cuối cùng, câu chuyện người Samari nhân hậu đưa chúng ta trở lại với một quyết định rất gần: có sẵn lòng trở thành người thân cận của ai đó hay không. Người thân cận không chỉ là người ở gần nhà, cùng họ hàng, cùng cộng đoàn hay cùng quan điểm. Chúng ta trở thành người thân cận khi chịu đến gần, nhận ra nỗi đau và thực hiện một hành động yêu thương. Có những khoảng cách địa lý rất ngắn mà tình người vẫn xa. Có những con người không quen biết nhưng nhờ một lần dừng lại đã trở thành chỗ dựa của nhau. Trong một thế giới nhiều mệt mỏi, sự hiện diện tử tế có sức nâng đỡ lớn hơn chúng ta tưởng. Một người có thể đi tiếp vì biết rằng vẫn có ai quan tâm. Một người có thể dám trở về vì biết rằng vẫn có nơi đón mình. Một người có thể không còn cảm thấy hoàn toàn bị bỏ rơi vì có ai đó chịu ở lại. Ước gì sau khi nghe Tin Mừng, chúng ta biết gọi tên một người cần được đến thăm, nhớ một việc cần làm và can đảm thực hiện. Ước gì gia đình chúng ta có thêm những cuộc trò chuyện chân thành, giáo xứ chúng ta có thêm những bàn tay âm thầm, nơi làm việc của chúng ta có thêm sự công bằng, và những lời chúng ta nói có thêm sự dịu dàng. Đừng để một người phải nằm lại bên đường chỉ vì chúng ta nghĩ rằng sẽ có người khác dừng lại. Hôm nay, có thể Chúa đang trao người ấy cho chính sự quan tâm của chúng ta.
Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con nhìn thấy những người đang đau khổ trên con đường mình đi. Xin chữa lành sự vô tâm đã trở thành thói quen, sự bận rộn khiến chúng con không còn biết lắng nghe, và nỗi sợ khiến chúng con luôn tìm lý do để tránh đến gần. Xin dạy chúng con yêu thương bằng những việc có thể làm hôm nay: một lời hỏi thăm, một chuyến thăm, một bàn tay đỡ dậy, một sự bảo vệ cần thiết, một lời xin lỗi thành thật. Xin ban cho chúng con sự khôn ngoan để giúp đúng cách, sự khiêm tốn để nhận ra giới hạn và sự bền bỉ để không quên người yếu đau sau phút xúc động ban đầu. Khi chính chúng con bị thương, xin cho chúng con biết tìm đến Chúa và đón nhận sự nâng đỡ của những người Chúa gửi đến. Xin làm cho mái nhà của chúng con trở thành nơi người mệt mỏi được nghỉ, người mắc lỗi được hướng dẫn để sửa mình, người già được tôn trọng và trẻ nhỏ được lớn lên trong bình an. Xin cho cộng đoàn chúng con biết quan tâm đến người ít được chú ý, giữ gìn phẩm giá của người nghèo và mở một lối về cho người đang tìm lại đức tin. Xin giúp chúng con đừng chỉ hiểu lòng thương xót, nhưng sống lòng thương xót bằng cả trái tim, đôi tay và sự trung tín của mình. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.

ĐỪNG ĐỂ MỘT NGƯỜI PHẢI ĐAU KHỔ THÊM VÌ TA ĐÃ ĐI QUA
Có những ngày chúng ta trở về nhà với cảm giác mình đã làm được rất nhiều việc. Công việc được giải quyết, những cuộc hẹn được hoàn thành, những chương trình được tổ chức, những trách nhiệm được chu toàn. Thế nhưng, giữa tất cả những điều tưởng như tốt đẹp ấy, có thể một người đã chờ chúng ta mà không được gặp, một ánh mắt đã tìm chúng ta mà không được đáp lại, một nỗi đau đã ở ngay trước mặt chúng ta mà không được nhận ra. Người ấy có thể là mẹ già ngồi bên cửa, là người bạn vừa trải qua một biến cố, là đứa con im lặng suốt bữa cơm, là người hàng xóm lâu rồi không thấy bước ra khỏi nhà. Chúng ta không làm gì trực tiếp gây tổn thương cho họ. Chúng ta chỉ quá bận, quá vội, quá mệt, quá quen với việc ưu tiên những điều khác. Nhưng có những vết thương không do một lời xúc phạm gây nên; chúng lớn dần trong sự vắng mặt của một người đáng lẽ có thể ở bên. Có những nỗi cô đơn không cần một cánh cửa đóng sầm; chỉ cần nhiều lần gõ cửa mà không được trả lời. Và có những cuộc đời không gục xuống ngay dưới một đòn đánh; họ kiệt sức vì không còn tin rằng ai đó sẽ dừng lại. Bởi vậy, khi bước vào cầu nguyện, điều chúng ta cần xin có khi rất đơn sơ: xin cho mình nhận ra một người đang cần được yêu thương, trước khi ngày hôm nay trôi qua và cơ hội ấy trở thành điều không thể lấy lại.
Chúng ta dễ nghĩ đời sống đạo được đo bằng những việc có thể đếm được. Bao nhiêu lần tham dự Thánh lễ, bao nhiêu kinh đã đọc, bao nhiêu cuộc hành hương đã đi, bao nhiêu công tác đã nhận, bao nhiêu lần đóng góp cho những chương trình của cộng đoàn. Những điều ấy đều có giá trị khi được thực hiện với lòng tin và tình yêu. Tuy nhiên, mỗi người vẫn cần tự hỏi: những việc đạo đức ấy đang làm cho tôi trở thành người như thế nào? Sau khi cầu nguyện, tôi có bớt cay nghiệt với người nhà không? Sau khi tham dự Thánh lễ, tôi có kiên nhẫn hơn với một người yếu đuối không? Sau khi nghe Lời Chúa, tôi có nhận ra tiếng thở dài của người ngồi bên cạnh không? Sau khi phục vụ cộng đoàn, tôi có còn đủ dịu dàng để nói với cha mẹ một câu tử tế không? Một đời sống đạo trưởng thành phải chạm đến cách chúng ta sống với người khác. Nếu mọi sinh hoạt thiêng liêng chỉ dừng lại ở cảm giác an tâm về bản thân, chúng ta có thể vẫn giữ được nhiều thói quen tốt mà trái tim chưa thực sự được biến đổi. Người ta có thể thuộc những lời cầu xin lòng thương xót nhưng lại rất khó tha thứ. Người ta có thể làm việc bác ái ở xa nhưng không chịu lắng nghe người đang sống chung một mái nhà. Người ta có thể nhiệt thành bảo vệ những điều thánh thiêng nhưng đối xử với một con người bằng sự khinh miệt. Những điều ấy không phải để chúng ta kết án nhau; chúng là lời mời xét lại chính mình, để tình yêu Thiên Chúa không chỉ được nhắc đến trên môi mà còn trở thành sự thật trong từng cách cư xử.
Điều đáng sợ của sự vô cảm là nó thường đến rất nhẹ. Ban đầu, chúng ta vẫn thấy thương. Chúng ta đọc một tin buồn và xúc động, nhìn một người khốn khó và ái ngại, nghe một câu chuyện đổ vỡ và cảm thấy xót xa. Nhưng rồi công việc kéo chúng ta đi, những thông báo mới xuất hiện, những mối bận tâm khác chen vào. Nỗi đau của người ấy nhanh chóng bị phủ lấp. Một lần không giúp vì chưa thuận tiện, một lần không hỏi vì chưa biết bắt đầu thế nào, một lần không đến vì nghĩ chắc có người khác đến. Dần dần, chúng ta quen với việc để những nỗi đau đứng ngoài lịch trình của mình. Cuối cùng, ta vẫn nhận ra người khác đang khổ, nhưng sự nhận ra ấy không còn đủ sức lay động ta. Trái tim có thể chai đi mà chính người mang nó không biết. Vì thế, việc giữ cho lòng mình biết thương cũng cần được chăm sóc như việc giữ gìn đức tin. Chúng ta cần những khoảng lặng để nhớ rằng người khác có một cuộc đời thật, một thân thể biết đau, một tâm hồn biết buồn, một gia đình đang lo lắng, một tương lai có thể bị đổ vỡ. Một người không phải là một hình ảnh lướt qua trước mắt. Một nỗi đau không phải là một mẩu tin để đọc rồi quên. Khi nhớ lại điều đó, chúng ta bắt đầu lấy lại khả năng hiện diện.
Có một kiểu sống khiến chúng ta luôn tìm cách xác định trách nhiệm của mình đến đâu để không phải đi xa hơn. Trong công việc, sự rõ ràng về trách nhiệm là cần thiết. Trong đời sống, biết giới hạn cũng là điều khôn ngoan. Nhưng nếu biến tất cả những tương quan thành phép tính về nghĩa vụ tối thiểu, chúng ta sẽ dần đánh mất sự quảng đại. Một người đau khổ không phải lúc nào cũng xuất hiện đúng nơi ta đã dự định giúp đỡ. Một nhu cầu cấp bách không phải lúc nào cũng nằm trong chương trình đã được phê duyệt. Một cuộc gọi cần được trả lời không phải lúc nào cũng đến vào giờ thuận tiện. Tình yêu có những lúc mời chúng ta bước ra khỏi sự sắp đặt của mình. Người cha đang làm việc có thể cần ngừng một lát để nghe con nói. Người mẹ đang lo bữa tối có thể cần nhận ra rằng sự im lặng hôm nay của chồng mang một nỗi lo khác thường. Người phụ trách một nhóm có thể cần dành thời gian cho một thành viên lâu nay bị bỏ quên. Người đang chuẩn bị một buổi sinh hoạt rất đẹp có thể cần nhớ đến người phục vụ âm thầm đang kiệt sức phía sau. Những điều đó không phá hỏng đời sống; chúng làm cho đời sống có chỗ dành cho con người. Nếu kế hoạch nào cũng được bảo vệ bằng cái giá là người khác bị bỏ lại, ta cần xem lại điều gì thực sự quan trọng trong kế hoạch ấy.
Lòng thương xót bắt đầu bằng một cái nhìn không vội đóng khung người khác. Chúng ta thường nhìn một người qua điều khiến mình khó chịu nhất nơi họ. Người ấy hay than phiền, người ấy chậm chạp, người ấy khó tính, người ấy từng sai lầm, người ấy không biết cư xử. Nhưng một con người luôn lớn hơn điều chúng ta đang thấy. Đằng sau sự nóng nảy có thể là một nỗi sợ chưa được nói ra. Đằng sau vẻ lạnh lùng có thể là nhiều lần bị tổn thương. Đằng sau việc liên tục đòi hỏi có thể là một đời sống quá lâu không được quan tâm. Đằng sau sự vụng về có thể là những giới hạn mà chính người ấy cũng đang khổ sở chống chọi. Hiểu điều đó không có nghĩa là xem mọi hành vi đều đúng. Nó giúp chúng ta sửa sai mà không làm nhục, góp ý mà không chà đạp, giữ nguyên tắc mà vẫn còn tình người. Một lời nhắc nhở có thể làm người khác đứng lên hoặc khiến họ muốn biến mất, tùy vào cách nó được nói. Một thái độ nghiêm túc có thể giúp người khác nhận trách nhiệm hoặc đẩy họ sâu hơn vào sự tự vệ, tùy vào việc họ có cảm thấy mình còn được tôn trọng hay không. Người sống lòng thương xót không từ bỏ sự thật. Họ học cách đem sự thật đến với một người đang yếu bằng đôi tay đủ vững và đủ hiền.
Trong gia đình, chúng ta có thể ở rất gần nhau mà lại không còn thực sự gặp nhau. Cùng một mái nhà, cùng một bàn ăn, cùng một lịch sinh hoạt, nhưng mỗi người mang một thế giới riêng không được ai bước vào. Cha mẹ biết con học trường nào, học thêm giờ nào, điểm số ra sao, nhưng không biết điều gì đang làm con sợ. Con cái biết cha mẹ thích món gì, uống thuốc lúc nào, nhưng không biết những đêm cha mẹ trằn trọc vì lo cho mình. Vợ chồng biết thu nhập, chi tiêu, công việc của nhau, nhưng không biết người kia đã chịu đựng điều gì suốt ngày. Có những gia đình thiếu tình thương không phải vì không ai hy sinh, mà vì sự hy sinh đã mất tiếng nói và mất sự dịu dàng. Người này làm rất nhiều nhưng luôn trách móc; người kia lo rất nhiều nhưng không bao giờ giải thích; mỗi người đều thấy mình thiệt thòi và không ai còn đủ bình tĩnh để nhận ra sự vất vả của người khác. Khi ấy, điều cần thiết có thể không phải một cuộc thay đổi lớn. Có thể chỉ là ngồi xuống, hỏi một câu thật lòng, nghe cho hết một câu trả lời, nhận lỗi về một lời nói đã làm đau nhau, cùng làm một việc nhỏ mà lâu nay ai cũng nghĩ đó là phần của người khác. Tình yêu gia đình được nuôi bằng những điều như thế. Nó cần được thực hành mỗi ngày, ngay trong cách đặt một chén cơm, khép một cánh cửa, trả lời một câu hỏi, chờ một người về muộn.
Một đứa trẻ không chỉ cần được bảo đảm tương lai bằng tiền bạc và học hành. Nó cần biết rằng khi sợ hãi, mình có nơi để chạy về; khi làm sai, mình có người giúp sửa; khi thất bại, mình không bị tước mất tình yêu. Có những người lớn vì quá lo cho con mà chỉ còn nhìn thấy những điều con chưa đạt được. Mỗi cuộc trò chuyện trở thành một cuộc kiểm tra, mỗi bữa cơm trở thành một lần so sánh, mỗi lần con mở miệng trở thành cơ hội để giáo huấn. Đứa trẻ dần học cách im lặng. Nó vẫn ở trong nhà nhưng những điều quan trọng nhất lại đem kể với người khác, hoặc giấu kín đến mức không ai biết. Muốn trở thành người thân cận của con, cha mẹ phải học cách hiện diện trước khi muốn kiểm soát. Cần nghe một câu chuyện có vẻ nhỏ, bởi đằng sau đó có thể là một nhu cầu rất lớn. Cần quan tâm đến một tình bạn, một nỗi buồn, một sự bối rối, bởi đó là những nơi nhân cách đang hình thành. Cần sửa một lỗi lầm mà không khiến con nghĩ mình chỉ là một lỗi lầm. Và đôi khi, cha mẹ cần đủ khiêm tốn để xin lỗi con. Một lời xin lỗi chân thành không làm giảm uy tín của cha mẹ; nó dạy con rằng trách nhiệm và tình yêu có thể ở cùng nhau, rằng người mạnh không phải là người luôn giữ phần đúng cho mình, mà là người đủ can đảm nhìn nhận sự thật.
Người già cũng có những vết thương dễ bị bỏ qua. Họ có thể được chăm sóc đầy đủ về vật chất nhưng vẫn cảm thấy mình không còn có ích. Có thuốc, có thức ăn, có chỗ ngủ, nhưng thiếu một người muốn nghe họ nói. Câu chuyện của họ bị xem là lặp lại, lời nhắc nhở bị xem là phiền phức, sự chậm chạp bị xem là cản trở. Đến một lúc, họ tự thu nhỏ mình để đỡ làm người khác khó chịu. Họ không dám nhờ, không dám hỏi, không dám kể rằng mình đang đau. Tình yêu đối với người già cần sự kiên nhẫn rất cụ thể. Kiên nhẫn đi chậm hơn, nói rõ hơn, nghe một câu chuyện đã nghe nhiều lần, giải thích một điều đã giải thích hôm qua. Nhưng sâu hơn, đó là trả lại cho họ cảm giác mình vẫn thuộc về gia đình. Hỏi ý kiến họ về một việc, nhắc đến một kỷ niệm với lòng biết ơn, để họ tham gia vào những điều vừa sức, giữ cho họ có vị trí trong những cuộc sum họp. Có khi một người già không cần chúng ta giải quyết điều gì; họ chỉ cần cảm thấy rằng sự hiện diện của mình vẫn được đón nhận. Một mái nhà có lòng thương xót là mái nhà trong đó người yếu không phải xin phép mới được có nhu cầu, và người chậm không phải xấu hổ vì không theo kịp người mạnh.
Giữa vợ chồng, lòng thương xót nhiều khi là biết thôi dùng sự gần gũi để làm tổn thương nhau. Vì biết nhau quá rõ, người ta có thể nói trúng điều khiến người kia đau nhất. Vì sống chung quá lâu, người ta có thể coi những hy sinh của nhau là chuyện đương nhiên. Vì mang nhiều mệt mỏi, người ta có thể trút lên người thân những điều không dám nói với người ngoài. Có những người rất lịch sự nơi công sở nhưng trở về nhà lại chỉ còn giọng cáu gắt. Có những người rộng rãi với bạn bè nhưng tính toán từng chút với người bạn đời. Muốn gia đình được chữa lành, mỗi người cần nhìn lại cách mình đang sử dụng lời nói. Một lời chế giễu trước mặt con cái có thể làm tổn thương sâu hơn người nói tưởng. Một câu phủ nhận công sức có thể khiến nhiều năm hy sinh trở nên cay đắng. Một thái độ im lặng để trừng phạt có thể làm người kia sống trong bất an kéo dài. Sự hoán cải bắt đầu khi ta chịu trách nhiệm về những điều ấy. Không đợi người kia hoàn hảo mới thay đổi, không đợi mọi hiểu lầm được giải quyết mới nói một lời tử tế. Có những cuộc hôn nhân cần được giúp đỡ nghiêm túc và lâu dài; nhưng ngay hôm nay, mỗi người vẫn có thể ngừng thêm một lời làm đau, thực hiện một việc đã hứa, nhìn nhận một công sức đã bị quên, mở lại một cuộc đối thoại bằng thái độ chân thành.
Đối với người từng sai lầm, lòng thương xót cần một chiều sâu khác: khả năng nhìn thấy tương lai của họ. Chúng ta dễ nhớ quá khứ của người khác hơn là ghi nhận những cố gắng hiện tại. Một người đã từng thất bại thì mỗi lần vấp lại đều bị xem là bằng chứng rằng họ không thể thay đổi. Một người đã từng mang tai tiếng thì mọi hành vi đều bị nghi ngờ. Một người từng nghiện ngập thì dù đang nỗ lực phục hồi vẫn phải sống dưới ánh mắt đề phòng. Sự cảnh giác trong những hoàn cảnh cần thiết là điều có trách nhiệm, nhưng không nên biến nó thành bản án phủ kín cả cuộc đời. Muốn giúp một người trở lại, cần có những bước đi thực tế, những giới hạn rõ ràng, sự đồng hành phù hợp và thời gian. Cũng cần một thái độ cho phép họ tin rằng cố gắng của mình có ý nghĩa. Người ta khó đứng lên nếu mỗi lần nhấc chân đều nghe lời khẳng định rằng mình chắc chắn sẽ ngã. Một cộng đoàn có lòng thương xót biết bảo vệ những người có thể bị tổn thương, đồng thời tìm đường giúp người sai lầm nhận trách nhiệm và thay đổi. Không dễ làm được điều đó, nhưng sự khó khăn ấy không thể là lý do để chỉ chọn cách đẩy người yếu ra ngoài.
Chúng ta còn phải học một điều rất tế nhị: đừng biến việc giúp đỡ thành cách nắm quyền trên cuộc đời người khác. Một người nhận sự hỗ trợ không vì thế mà mất quyền được tôn trọng. Họ vẫn có sự riêng tư, có những điều chưa sẵn sàng kể, có tiếng nói về cách mình được giúp. Lòng tốt có thể trở nên nặng nề nếu luôn đi kèm yêu cầu phải biết ơn, phải làm theo, phải xuất hiện trước đám đông, phải để câu chuyện đau buồn của mình được sử dụng. Có những người nghèo chịu thêm một sự tổn thương vì cách người khác cho họ. Có những người bệnh mệt mỏi vì phải liên tục chứng minh rằng mình xứng đáng được quan tâm. Có những người được giúp nhưng không dám nói điều mình thực sự cần, vì sợ làm phật ý người giúp. Sống bác ái đòi chúng ta xét lại cả động lực của mình. Ta đang muốn người ấy được tốt hơn, hay muốn cảm thấy mình là người tốt? Ta đang lắng nghe nhu cầu của họ, hay đang áp đặt điều mình muốn làm? Ta có chấp nhận rằng một việc phục vụ rất đẹp có thể không mang lại cho mình lời khen nào không? Sự quảng đại trưởng thành biết vui khi người khác dần tự đứng được, ngay cả khi từ đó họ ít cần đến mình hơn.
Ở nơi làm việc, tình yêu đối với người thân cận thường được diễn tả bằng sự công bằng. Một người chủ trả lương đúng hẹn đang giúp gia đình của người lao động được yên tâm. Một người quản lý biết lắng nghe hoàn cảnh trước khi đưa ra quyết định đang giữ cho quyền lực có khuôn mặt con người. Một đồng nghiệp không đẩy trách nhiệm sang người yếu thế đang thực hành sự ngay thẳng. Một người bán hàng trung thực đang bảo vệ khách hàng khỏi thiệt hại. Một người thợ làm cẩn thận phần việc không ai nhìn thấy đang tôn trọng sự an toàn của người khác. Chúng ta không thể chỉ tìm lòng thương xót trong những hoạt động được gọi là bác ái, trong khi những công việc thường ngày lại gây ra bất công. Đồng tiền có thể được dùng để giúp người nghèo, nhưng cách kiếm ra đồng tiền ấy cũng phải được soi sáng bởi lương tâm. Lời nói có thể rất đạo đức, nhưng cách đối xử với nhân viên, với người làm thuê, với người phục vụ mới cho thấy tình yêu đã đi vào đời sống đến đâu. Một xã hội được nâng đỡ không chỉ bởi những món quà trao đi, mà còn bởi những thiệt hại được ngăn lại, những quyền lợi được tôn trọng, những trách nhiệm được thực hiện đến nơi đến chốn.
Trong giáo xứ, chúng ta có thể bắt đầu bằng việc nhìn lại những người dễ bị khuất khỏi sự chú ý chung. Người mới đến chưa quen ai, người di dân làm việc vào những giờ khó tham gia sinh hoạt, người khuyết tật gặp trở ngại khi đến nhà thờ, người có hoàn cảnh gia đình phức tạp sợ bị đánh giá, người nghèo không đủ điều kiện góp phần như những gia đình khác. Một cộng đoàn có thể tổ chức rất nhiều hoạt động mà những người ấy vẫn đứng ở bên lề. Vì thế, sự nhiệt thành cần đi cùng khả năng quan sát. Ai đang vắng mặt? Ai đã ngừng tham gia? Ai thường đứng một mình? Ai luôn giúp đỡ nhưng chưa từng được hỏi thăm? Ai đang mang gánh nặng mà cộng đoàn chưa biết? Đôi khi, một cuộc gọi thân tình có giá trị hơn một lời nhắc nhở chung. Một sự điều chỉnh nhỏ về giờ giấc có thể mở cửa cho nhiều người. Một cách đón tiếp dịu dàng có thể giúp một người đủ can đảm trở lại sau nhiều năm xa cách. Giáo xứ được xây dựng bằng những công trình, nhưng cũng được xây dựng bằng cảm giác thuộc về. Người ta cần biết rằng trong cộng đoàn này, mình có thể được nhận ra bằng tên, được lắng nghe trong hoàn cảnh thật, được nâng đỡ khi yếu đuối và được mời gọi lớn lên trong đức tin.
Người phục vụ trong Hội Thánh cũng cần được chăm sóc. Có những người luôn có mặt khi cần, luôn nhận phần khó, luôn sẵn sàng ở lại sau cùng. Vì họ ít than phiền, người khác tưởng họ không mệt. Vì họ làm được nhiều việc, người khác tiếp tục giao thêm. Vì họ nhiệt tình, người khác quen với việc dựa vào họ. Đến một lúc, họ kiệt sức mà vẫn thấy có lỗi nếu nghỉ ngơi. Một cộng đoàn sống tình huynh đệ phải nhận ra cả những người như thế. Cần chia sẻ trách nhiệm, tạo điều kiện nghỉ, hỏi về sức khỏe, lắng nghe những giới hạn, không đo lòng đạo đức bằng khả năng làm việc không ngừng. Người phục vụ không phải một nguồn lực vô tận. Họ cũng có gia đình, có bệnh tật, có nỗi buồn, có những ngày không đủ sức. Tình yêu đối với cộng đoàn phải bao gồm tình yêu đối với người đang phục vụ cộng đoàn. Nếu chúng ta chỉ quan tâm đến việc chương trình có thành công hay không mà không quan tâm con người có bị hao mòn hay không, thì chính cách tổ chức cần được hoán cải. Một việc thánh không miễn cho chúng ta trách nhiệm đối xử nhân hậu với nhau.
Lòng thương xót cũng phải được tập luyện trong đời sống số. Một màn hình tạo ra khoảng cách khiến người ta dễ quên rằng phía bên kia là một con người. Một lời bình luận có thể được viết rất nhanh nhưng để lại nỗi đau rất lâu. Một hình ảnh có thể được chia sẻ vì tò mò nhưng làm tổn thương cả một gia đình. Một thông tin chưa được kiểm chứng có thể lan đi chỉ trong vài phút, trong khi người bị ảnh hưởng phải mất nhiều năm để giải thích. Trước khi nhấn nút gửi, chúng ta cần một khoảng dừng của lương tâm. Điều này có đúng không? Có cần thiết không? Có tôn trọng người liên quan không? Tôi có đang tham gia vào việc làm nhục một người chỉ vì thấy đám đông đang làm như thế không? Không phải mọi điều có thể đăng đều nên đăng. Không phải mọi chuyện mình biết đều thuộc quyền mình kể. Không phải sự phẫn nộ nào cũng làm cho lời nói trở nên công chính. Một người sống lòng thương xót có thể góp ý mạnh mẽ, phản đối điều sai, bảo vệ người yếu, nhưng vẫn tránh việc biến một con người thành món đồ cho đám đông tiêu thụ. Có khi việc tốt nhất ta làm được trên mạng là ngừng phát tán một lời đồn, xóa một bình luận cay nghiệt, hoặc trực tiếp hỏi thăm người đang bị công kích.
Đối diện với quá nhiều nhu cầu, chúng ta có thể cảm thấy bất lực. Người cần giúp ở khắp nơi, khả năng của mình thì giới hạn. Có người đang thiếu tiền chữa bệnh, có gia đình thiếu việc làm, có người trẻ lạc hướng, có người già cô đơn, có người mang những tổn thương tinh thần vượt quá khả năng hiểu biết của chúng ta. Nếu nghĩ mình phải giải quyết tất cả, ta sẽ sớm kiệt sức hoặc bỏ cuộc. Vì vậy, lòng thương xót cần đi cùng sự khôn ngoan. Ta có thể làm một phần, kết nối thêm một người, tìm một nơi hỗ trợ phù hợp, cùng người khác gánh trách nhiệm. Có việc cần chuyên môn, có việc cần sự bảo vệ, có việc cần một tiến trình lâu dài. Biết chuyển một người đến sự trợ giúp thích hợp cũng là một cách quan tâm có trách nhiệm. Điều cần tránh là dùng giới hạn của mình để biện minh cho việc không làm bất cứ điều gì. Giữa việc cứu được tất cả và hoàn toàn dửng dưng có rất nhiều hành động nhỏ mà chúng ta có thể thực hiện. Một bữa ăn, một chuyến xe, một thông tin đúng, một lời giới thiệu công việc, một giờ ngồi bên, một sự hỗ trợ để người bệnh đến nơi điều trị. Hôm nay, ta không được mời ôm lấy mọi nỗi khổ của thế giới. Ta được mời trung thành với phần tình yêu đang ở trong tầm tay.
Cũng cần phân biệt sự kiên nhẫn với việc để một tình trạng gây hại tiếp tục. Yêu thương một người không có nghĩa là chấp nhận mọi cách họ đối xử với mình hoặc với người khác. Có những hoàn cảnh cần nói rõ, cần dừng lại, cần tìm sự hỗ trợ, cần bảo vệ người đang chịu tổn thương. Lòng thương xót phải đủ can đảm để làm những điều ấy. Đôi khi, giúp một người là không tiếp tục che giấu hành vi sai của họ. Đôi khi, yêu một gia đình là đưa những vấn đề nghiêm trọng ra ánh sáng để có thể được giải quyết. Đôi khi, bảo vệ người yếu đòi hỏi chúng ta vượt qua nỗi sợ mất lòng. Sự dịu dàng không làm cho sự thật trở nên mờ đi; nó giúp sự thật được thực hiện với mục đích chữa lành. Chúng ta có thể đặt giới hạn mà không thù ghét, yêu cầu trách nhiệm mà không sỉ nhục, từ chối một đòi hỏi sai mà vẫn mong người ấy được tốt hơn. Đây là một việc khó, cần cầu nguyện và phân định. Nhưng nếu tình yêu chỉ luôn nhường bước trước điều gây hại, những người yếu nhất sẽ phải trả giá. Trái tim nhân hậu cũng phải là trái tim biết bảo vệ.
Nhiều người trong chúng ta muốn giúp đỡ người khác nhưng lại không biết đón nhận sự giúp đỡ. Chúng ta quen với việc giữ vẻ mạnh mẽ, quen trả lời rằng mình vẫn ổn, quen giấu mệt mỏi để không làm phiền ai. Có thể vì từng bị thất vọng, có thể vì sợ bị đánh giá, có thể vì nghĩ mình phải tự giải quyết mọi chuyện. Nhưng con người được tạo dựng để sống trong tương quan. Có những gánh nặng cần được chia sẻ, những nỗi buồn cần được nói ra, những tổn thương cần được chăm sóc. Nhận một bàn tay nâng đỡ không làm chúng ta mất phẩm giá. Thừa nhận mình đang yếu không xóa đi những điều tốt đẹp đã làm. Một người cha cũng có thể cần được an ủi. Một người mẹ cũng có thể cần nghỉ ngơi. Một linh mục cũng có thể cần được lắng nghe. Một người phục vụ lâu năm cũng có thể cần ai đó hỏi một câu thật lòng. Khi biết đón nhận, chúng ta học được sự khiêm tốn và trở nên hiểu người khác hơn. Ta nhận ra người cần giúp không nhất thiết là người kém cỏi; có khi họ chỉ đang trải qua một đoạn đường mà không ai nên phải đi một mình.
Đối với người đang cảm thấy mình bị bỏ quên, điều cần giữ lại là niềm tin rằng sự thờ ơ của một số người không xác định giá trị của mình. Bạn có thể đã mở lời mà không được nghe, đã xin giúp mà không được đáp, đã đến một nơi với hy vọng và trở về trong thất vọng. Những kinh nghiệm ấy có thể làm bạn muốn khép lòng. Nhưng bạn vẫn đáng được yêu thương, vẫn có quyền tìm sự hỗ trợ, vẫn có thể bắt đầu lại. Đừng để một cánh cửa đóng khiến mình tin rằng mọi cánh cửa đều đóng. Đừng để một lần bị xem nhẹ khiến mình nghĩ nỗi đau của mình không đáng được quan tâm. Có những người sẵn lòng lắng nghe nhưng chưa biết bạn đang cần. Có những nơi có thể trợ giúp nhưng bạn chưa tìm đến. Trong đức tin, chúng ta được mời đem cả sự mệt mỏi ấy đến với Chúa, không cần che giấu bằng những lời đẹp. Có thể lời cầu nguyện hôm nay chỉ là một sự thở dài, một câu xin nâng đỡ, một quyết tâm nhỏ để tiếp tục sống. Chúa không đòi chúng ta phải trở nên mạnh mẽ rồi mới được đến gần Người. Chính nơi sự yếu đuối được trao phó, ta có thể học lại niềm tin và tìm được sức để bước thêm một bước.
Sự hoán cải của chúng ta sẽ cụ thể hơn nếu mỗi ngày dành vài phút nhìn lại những cuộc gặp. Hôm nay, tôi đã lắng nghe ai? Tôi đã làm người nào nhẹ lòng hơn? Tôi đã bỏ qua một nhu cầu vì thật sự không thể, hay vì không muốn bị phiền? Tôi có nói một lời làm ai đó xấu hổ không? Tôi có nhận ra công sức của người sống bên mình không? Tôi có đang tránh một cuộc trò chuyện cần thiết? Những câu hỏi ấy giúp lương tâm đi vào đời sống thật. Chúng ta không cần biến việc xét mình thành một cuộc kết án kéo dài. Mục đích là nhận ra điều cần sửa và thực hiện một bước. Nếu đã nói nặng, hãy xin lỗi. Nếu đã quên, hãy liên lạc. Nếu đã hứa mà chưa làm, hãy bắt đầu thực hiện. Nếu chưa hiểu một người, hãy hỏi thay vì tiếp tục suy đoán. Nếu không đủ khả năng giúp, hãy tìm người có thể giúp. Có những điều tưởng rất nhỏ nhưng giữ cho trái tim khỏi quen với sự thờ ơ. Một cuộc đời được đổi mới bằng nhiều lần trở về như thế: nhận ra, sửa lại, làm tốt hơn, tiếp tục cầu nguyện để tình yêu được bền bỉ.
Chúng ta cũng cần nhìn lại thời gian của mình. Nhiều khi ta nói không có thời gian, nhưng thật ra thời gian đang bị phân tán vào những điều không nuôi dưỡng đời sống. Một giờ có thể trôi qua trong việc xem những chuyện không liên quan, trong khi cuộc gọi hỏi thăm cha mẹ chỉ cần ít phút. Một buổi tối có thể mất vào những tranh luận không đem lại điều gì, trong khi người bạn đời đang cần một cuộc trò chuyện. Dĩ nhiên, con người cần nghỉ ngơi và giải trí. Nhưng khi những điều ấy chiếm hết chỗ của sự hiện diện, chúng ta phải sắp xếp lại. Tình yêu cần được dành thời gian, chứ không thể mãi chờ phần còn thừa. Gia đình cần những lúc không bị ngắt bởi điện thoại. Người bệnh cần một cuộc thăm viếng không quá vội. Con trẻ cần một khoảng được chú ý trọn vẹn. Người đau buồn cần một người không liên tục nhìn đồng hồ. Có những cuộc gặp không dài nhưng làm người khác cảm thấy mình được trân trọng, vì trong khoảng thời gian ấy, chúng ta thật sự ở đó. Sự hiện diện trọn vẹn là một món quà mà người nhiều tiền hay ít tiền đều có thể học cách trao.
Tuy nhiên, để tiếp tục yêu thương, chúng ta cần giữ một đời sống nội tâm. Người chỉ cho đi mà không được nuôi dưỡng có thể dần trở nên khô cạn. Người luôn tiếp xúc với khó khăn của người khác có thể mang về trong lòng quá nhiều nặng nề. Người nhiệt thành có thể bị thất vọng làm tổn thương khi những cố gắng không đem lại kết quả như mong muốn. Cầu nguyện giúp chúng ta đặt những điều ấy trước Chúa. Trong thinh lặng, ta nhận ra mình không phải chủ nhân của cuộc đời người khác và không có quyền đòi mọi việc phải thành công theo ý mình. Ta được mời phục vụ, gieo điều tốt, trung thành với trách nhiệm, đồng thời phó thác những gì vượt quá sức. Sự phó thác ấy giúp lòng thương xót khỏi biến thành lo âu không ngừng. Nó cũng giúp chúng ta không trở nên cay đắng vì thiếu lời cảm ơn. Có những việc tốt âm thầm, có những tiến bộ rất chậm, có những người chỉ thay đổi sau một thời gian dài. Một trái tim được nuôi bằng cầu nguyện có thể kiên nhẫn hơn với nhịp độ ấy, bởi biết rằng tình yêu không phải lúc nào cũng được đo bằng kết quả thấy ngay trước mắt.
Khi đến với Thánh lễ, chúng ta mang theo cả những cuộc gặp và những thiếu sót của mình. Có gương mặt của người mình đã giúp, có gương mặt của người mình đã làm đau, có người đang mong đợi, có người đã bị quên. Trước Chúa, chúng ta không chỉ xin cho những nhu cầu riêng được giải quyết; chúng ta xin được biến đổi để trở thành một sự hiện diện tốt hơn trong đời sống của người khác. Sự hiệp thông với Chúa mời ta sống hiệp thông với anh chị em. Khi trở về nhà, khi bước vào công việc, khi gặp người phục vụ, khi trả lời một người đang lo lắng, đức tin có cơ hội mang lấy hình dáng cụ thể. Một lời nói được giữ lại vì nhận ra nó sẽ gây đau, một quyết định được sửa vì thấy nó chưa công bằng, một cuộc hẹn được dành cho người lâu nay bị trì hoãn: đó là những nơi đời sống thiêng liêng đi vào thực tế. Chúng ta không thể làm cho mọi hoàn cảnh trở nên dễ dàng, nhưng có thể đem đến đó một trái tim đã được uốn nắn bởi cầu nguyện, một lương tâm muốn sống ngay thẳng, một thái độ biết tôn trọng con người.
Một gia đình sống tinh thần thừa sai có thể bắt đầu chính từ những điều rất gần ấy. Trẻ em học cách yêu thương khi thấy cha mẹ cư xử tử tế với người yếu thế. Chúng học sự công bằng khi thấy người lớn trả công đúng và giữ lời hứa. Chúng học lòng biết ơn khi nghe gia đình nhắc đến những người đã giúp mình. Chúng học sự quảng đại khi được mời chia sẻ một phần điều mình có. Chúng học sự tha thứ khi nhìn thấy người lớn biết xin lỗi và làm hòa. Mỗi bữa cơm, mỗi cuộc trò chuyện, mỗi cách giải quyết bất đồng đều có thể góp phần hình thành một tâm hồn biết yêu. Gia đình cũng có thể cùng nhau quan tâm đến một người hàng xóm, thăm một người bệnh, giúp một em nhỏ khó khăn, đón tiếp một người đang cần. Khi những việc ấy trở thành nếp sống, căn nhà mang một sức lan tỏa âm thầm. Người khác nhận ra đức tin qua cách gia đình ấy giữ tình nghĩa, chăm sóc người già, nâng đỡ người yếu, sống thật trong công việc và mở lòng với những hoàn cảnh khác mình. Lời loan báo bắt đầu có sức nặng khi người nghe có thể chạm vào sự tử tế của người loan báo.
Có lẽ mỗi chúng ta đều nhớ một lần được ai đó đối xử nhân hậu trong lúc mình cần nhất. Một người không làm điều gì lớn lao nhưng đã ở lại. Một người nói một câu khiến ta bớt sợ. Một người không hỏi quá nhiều mà giúp đúng điều đang thiếu. Một người giữ kín câu chuyện của ta. Một người nhìn ta bằng ánh mắt bình thường khi ta đang xấu hổ vì thất bại. Những ký ức ấy cho thấy tình yêu có thể đi rất sâu mà không cần ồn ào. Chúng cũng nhắc ta rằng mình đã sống nhờ lòng tốt của nhiều người. Ta không tự mình đi qua tất cả. Có người đã chờ, đã nhường, đã chịu khó, đã cầu nguyện, đã tin nơi ta khi ta chưa tin nơi mình. Nhớ lại điều ấy làm lòng biết ơn lớn lên và giúp ta bớt khắt khe. Người đã từng được nâng đỡ sẽ hiểu hơn giá trị của một bàn tay đưa ra đúng lúc. Người đã từng được tha thứ sẽ hiểu hơn ý nghĩa của một cơ hội làm lại. Người đã từng được lắng nghe sẽ hiểu hơn sức chữa lành của sự im lặng đầy quan tâm. Từ những điều đã nhận, chúng ta có thể học cách trao.
Ngày hôm nay, có thể Chúa đang mời chúng ta làm một việc rất rõ mà lâu nay mình trì hoãn. Gọi cho một người thân, đến thăm một người bệnh, xin lỗi về một lời nói, thực hiện một trách nhiệm, ngừng một cách cư xử, tìm sự hỗ trợ cho một người đang khổ. Chúng ta thường mong một sự thay đổi lớn trong tâm hồn, nhưng lại tránh hành động nhỏ mở đầu cho sự thay đổi ấy. Có khi ta chờ mình có nhiều thời gian hơn, nhiều tiền hơn, bình an hơn, hiểu biết hơn. Nhưng đời sống vẫn tiếp tục, và người khác vẫn đang cần. Hãy bắt đầu với khả năng hiện có. Một bước chân hôm nay tốt hơn một dự định đẹp mãi nằm trong lòng. Một cuộc gọi thật tốt hơn nhiều lần nghĩ rằng mình nên gọi. Một lời xin lỗi chân thành tốt hơn việc âm thầm mong người kia tự quên. Một việc công bằng được thực hiện tốt hơn những lời nói chung về sự công bằng. Tình yêu lớn lên trong thực hành. Càng tập sống tử tế trong những việc gần, chúng ta càng trở nên nhạy bén trước những nhu cầu xa hơn và khó hơn.
Đến cuối một ngày, điều làm lòng chúng ta bình an không nhất thiết là đã hoàn thành mọi việc. Có thể vẫn còn công việc dang dở, còn vấn đề chưa giải quyết, còn những lo toan phải mang sang ngày mai. Nhưng nếu hôm nay chúng ta đã sống thật hơn, bớt làm đau người khác, biết dừng lại trước một nhu cầu, biết sửa một điều sai, biết hiện diện với một người, thì ngày ấy đã có những hoa trái đáng quý. Con người không chỉ cần một thế giới vận hành nhanh; họ cần một thế giới trong đó mình không bị bỏ quên. Gia đình không chỉ cần những thành viên thành công; họ cần những người có thể tin cậy và ở bên nhau. Giáo xứ không chỉ cần nhiều chương trình; giáo xứ cần những tương quan làm cho người yếu được nâng đỡ. Và mỗi chúng ta không chỉ cần giữ một hình ảnh tốt; chúng ta cần một trái tim thật sự biết yêu. Hãy đem ước muốn ấy vào cầu nguyện, rồi đem lời cầu nguyện ấy vào đời sống. Hãy để một người được nhẹ lòng vì đã gặp chúng ta hôm nay. Hãy để một người còn có thể hy vọng vì chúng ta đã không quay đi.
Lạy Chúa Giêsu, xin mở mắt con để nhận ra những nhu cầu con thường bỏ qua. Xin cho con biết nghe trước khi phán đoán, biết hỏi trước khi kết luận, biết đến gần bằng sự tôn trọng. Xin chữa sự nóng nảy khiến con làm đau người thân, sự kiêu ngạo khiến con khó nhận lỗi, sự sợ phiền khiến con tránh người đang cần. Xin giúp con biết sử dụng thời gian, lời nói, tiền bạc và khả năng của mình với một lương tâm ngay thẳng. Khi con giúp đỡ, xin giữ lòng con khỏi tìm kiếm sự hơn người. Khi con mệt mỏi, xin cho con biết nghỉ ngơi và đón nhận sự nâng đỡ. Khi con bất lực, xin dạy con làm phần việc có thể làm và trao lại cho Chúa những điều vượt quá sức. Xin chúc lành cho các gia đình đang khó khăn, những người bệnh tật, người già cô đơn, người trẻ lạc hướng, những người mang tổn thương mà chưa dám mở lời. Xin gửi đến họ những người biết lắng nghe và biết chăm sóc. Và nếu hôm nay con có thể trở thành một người như thế, xin cho con đủ quảng đại để đáp lại. Xin đừng để một người phải đau khổ thêm vì con đã hờ hững đi qua. Xin cho những cuộc gặp nhỏ trong ngày trở thành nơi tình yêu của Chúa được đón nhận và được trao đi. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.
DỪNG LẠI ĐỂ YÊU THƯƠNG
Có những quãng đường chúng ta đi qua rất nhiều lần nhưng chưa bao giờ thực sự nhìn thấy những con người đang sống bên đường. Có những gương mặt chúng ta gặp mỗi ngày nhưng chưa bao giờ tự hỏi đằng sau sự im lặng ấy là một nỗi đau nào, đằng sau nụ cười ấy là một gánh nặng nào, đằng sau vẻ khó chịu ấy là một vết thương nào chưa được chữa lành. Có những tiếng kêu không phát ra thành lời, những bàn tay không đủ sức giơ lên, những cuộc đời nằm ngay cạnh chúng ta mà vẫn bị bỏ quên như thể ở một nơi rất xa. Chúng ta bước qua họ với công việc của mình, với những lo toan của mình, với những cuộc hẹn của mình, với cả những bổn phận tôn giáo của mình. Đôi khi chúng ta không hề muốn làm điều xấu. Chúng ta chỉ muốn mọi sự diễn ra đúng kế hoạch, muốn hoàn thành điều đã dự định, muốn bảo vệ chút thời giờ ít ỏi của bản thân. Nhưng chính trong những bước chân tưởng chừng vô hại ấy, một câu hỏi lớn đang âm thầm đặt ra cho đời sống đức tin: trái tim chúng ta còn đủ tự do để dừng lại trước một người đang cần được yêu thương hay không? Dụ ngôn người Samari nhân hậu đưa chúng ta đến với câu hỏi ấy. Nó mở ra một con đường rất cụ thể để kiểm chứng tình yêu dành cho Thiên Chúa. Con đường ấy đi ngang một người bị thương. Con đường ấy đòi đôi mắt phải nhìn, trái tim phải rung động, đôi chân phải đến gần, bàn tay phải chạm vào, và cả cuộc sống phải chấp nhận bị thay đổi vì sự hiện diện của người khác.
Người thông luật đến với Đức Giêsu bằng một câu hỏi về sự sống đời đời. Đó là câu hỏi chạm đến niềm khát khao sâu nhất của con người. Dù người ta đang khỏe mạnh hay đau yếu, giàu có hay thiếu thốn, thành công hay thất bại, trong lòng vẫn có một nỗi mong đợi vượt quá những gì đời này có thể trao tặng. Không ai thực sự muốn cuộc đời mình chỉ là một chuỗi ngày làm việc, kiếm sống, tranh giành, tích lũy, rồi biến mất. Chúng ta muốn đời mình có ý nghĩa. Chúng ta muốn tình yêu không trở thành vô ích. Chúng ta muốn những giọt nước mắt đã rơi được đón nhận, những hy sinh âm thầm được gìn giữ, những người mình thương không bị mất đi trong một khoảng tối vô tận. Khát vọng sự sống đời đời vì thế không xa lạ với đời sống thường ngày. Nó hiện diện trong lời cầu nguyện của người mẹ bên giường bệnh của con, trong sự kiên trì của người cha làm việc để nuôi gia đình, trong niềm hy vọng của người già khi sức lực suy giảm, trong lòng người trẻ đang tìm một hướng đi đáng sống. Tuy nhiên, khát vọng ấy cần được thanh luyện. Chúng ta có thể mong đạt đến sự sống đời đời mà vẫn muốn giữ nguyên một lối sống chỉ xoay quanh bản thân. Chúng ta có thể muốn được Thiên Chúa đón nhận mà lại không muốn đón nhận những con người Người đặt trên đường mình. Bởi vậy, Đức Giêsu đưa câu hỏi về đời sau trở về với một lựa chọn ngay trong hôm nay: chúng ta đang yêu như thế nào?
Người thông luật hiểu điều răn. Ông biết rằng con người phải yêu mến Thiên Chúa bằng toàn bộ con người mình và yêu người thân cận như chính bản thân. Nhưng biết điều đúng chưa có nghĩa là đã để điều đúng hướng dẫn cuộc sống. Một người có thể hiểu rất rõ ý nghĩa của sự tha thứ mà vẫn giữ trong lòng một mối hận nhiều năm. Một người có thể nói rất hay về bác ái mà vẫn lạnh lùng trước một người nghèo đứng ngoài cửa. Một người có thể thuộc nhiều lời kinh mà chưa từng chịu lắng nghe người thân đang đau khổ. Một cộng đoàn có thể tổ chức những buổi học giáo lý đầy đủ, những cuộc hội họp nghiêm túc, những chương trình long trọng, nhưng vẫn có những người lặng lẽ rời đi vì không tìm được một chỗ để nói ra nỗi buồn của mình. Khoảng cách giữa hiểu biết và thực hành là nơi đời sống đức tin cần được hoán cải mỗi ngày. Chúng ta không thiếu những lời nhắc về tình yêu. Điều còn thiếu thường là một sự chấp nhận để tình yêu trở thành đòi hỏi cụ thể. Khi tình yêu còn nằm trong một ý tưởng, nó dễ được ca ngợi. Khi tình yêu xuất hiện dưới hình dáng một người cần được chăm sóc, nó bắt đầu đụng đến thời giờ, sức lực, tiền bạc, sự kiên nhẫn và những ưu tiên của chúng ta. Chính lúc ấy, chúng ta mới biết điều mình tin đã đi vào đời sống đến đâu.
Yêu mến Thiên Chúa bằng cả trái tim không chỉ là có những phút xúc động trong cầu nguyện. Tình yêu ấy cần chạm đến cách chúng ta sử dụng trí khôn, cách chúng ta làm việc, cách chúng ta đối xử với người yếu thế, cách chúng ta phản ứng khi bị làm phiền. Một trái tim thuộc về Chúa không thể mãi bằng lòng với sự bình an được xây dựng trên việc tránh né nỗi đau của người khác. Một trí khôn được dâng cho Chúa phải biết tìm phương cách giúp đỡ, biết phân định điều gì thực sự có ích, biết dùng khả năng của mình để bảo vệ con người. Một sức lực được dâng cho Chúa phải có lúc được dùng để nâng đỡ người mệt mỏi, phục vụ người đau yếu, gánh một phần công việc cho người đang quá tải. Tình yêu dành cho Thiên Chúa có thể hiện diện trong một giờ chầu sốt sắng, và cũng có thể hiện diện trong việc kiên nhẫn giúp một người già ăn hết bữa cơm. Nó có thể lớn lên trong một thánh lễ được tham dự với lòng tin, và tiếp tục sinh hoa trái khi chúng ta trở về nhà, nói một lời dịu dàng với người mà hôm qua mình đã làm tổn thương. Những điều ấy liên kết với nhau trong cùng một đời sống. Người thật sự đến gần Thiên Chúa dần học được cách đến gần con người, bởi càng đón nhận lòng thương xót của Chúa, chúng ta càng nhận ra mình không có quyền giữ lòng thương xót ấy cho riêng mình.
Thế nhưng, người thông luật còn muốn xác định ai là người thân cận. Câu hỏi ấy rất quen thuộc, bởi chúng ta cũng thường đặt ra những giới hạn cho tình yêu. Người cùng gia đình thì dễ được ưu tiên hơn người ngoài. Người cùng cộng đoàn thì dễ được quan tâm hơn người khác cộng đoàn. Người có lối sống giống mình thì dễ được cảm thông hơn người sống khác mình. Người biết cảm ơn thì dễ được giúp đỡ hơn người có thái độ khó chịu. Người có một câu chuyện khiến mình xúc động thì dễ nhận được sự chú ý hơn người đau khổ trong âm thầm. Có những giới hạn xuất phát từ trách nhiệm thực tế: chúng ta có bổn phận với gia đình, có khả năng hữu hạn, không thể một mình giải quyết mọi nỗi đau. Nhưng cũng có những giới hạn chỉ nhằm giữ cho bản thân khỏi phải thay đổi. Chúng ta muốn biết phải yêu đến đâu để sau giới hạn ấy có thể yên tâm quay đi. Chúng ta muốn một danh sách rõ ràng để phân biệt người đáng được quan tâm với người có thể bị bỏ qua. Đức Giêsu kể một câu chuyện khiến những hàng rào ấy trở nên chật hẹp. Trước một con người đang bị thương, câu hỏi đầu tiên của tình yêu phải là điều gì có thể giúp người ấy sống, điều gì có thể bảo vệ phẩm giá của người ấy, điều gì mình có thể thực hiện ngay lúc này.
Người bị nạn trong dụ ngôn không được giới thiệu bằng tên tuổi, nghề nghiệp hay địa vị. Chúng ta không được biết người ấy thuộc nhóm nào, đã sống tốt hay chưa, có đáng kính hay không, có thể trả ơn hay không. Điều được đặt trước mắt chúng ta là một con người bị đánh đập, bị lấy mất những gì đang có, bị bỏ lại trong tình trạng nguy kịch. Sự thiếu vắng các chi tiết ấy giúp chúng ta nhìn thẳng vào điều căn bản: trước khi là người quen hay người lạ, người cùng đạo hay khác đạo, người được yêu mến hay bị nghi ngờ, người ấy là một con người. Phẩm giá của họ không bắt đầu từ sự đồng thuận của chúng ta. Quyền được cứu giúp của họ không tùy thuộc vào việc họ có thuộc về nhóm chúng ta hay không. Một người đang đau không cần phải chứng minh rằng mình đủ đáng thương để được thương. Một người đang bị xúc phạm không cần phải trình bày một tiểu sử hoàn hảo để được bảo vệ. Một người đang rơi vào khủng hoảng vẫn có quyền được đối xử bằng sự tôn trọng, ngay cả khi trong quá khứ họ đã có những quyết định sai lầm. Lòng thương xót bắt đầu khi chúng ta thôi dùng toàn bộ đời sống của người khác như một hồ sơ để xét xem mình có nên đến gần hay không, và nhận ra trước mặt mình là một sự sống đang cần được gìn giữ.
Con đường có người bị thương cũng là con đường chúng ta đang đi trong đời sống. Có người bị thương vì bệnh tật, vì tai nạn, vì tuổi già. Có người bị thương vì mất việc, vì nợ nần, vì không biết ngày mai sẽ nuôi con bằng cách nào. Có người bị thương vì bị phản bội, bị bỏ rơi, bị coi thường trong chính gia đình mình. Có người bị thương vì một lời chế giễu đã bám theo họ từ tuổi nhỏ, khiến họ luôn nghĩ mình không có giá trị. Có người mang vết thương của một đời sống đổ vỡ, một mối quan hệ sai lầm, một sự lệ thuộc chưa thể thoát ra. Có người vẫn ăn mặc chỉnh tề, vẫn đi làm đúng giờ, vẫn trả lời mọi tin nhắn, nhưng tâm hồn đã kiệt sức. Có người ngồi trong nhà thờ mỗi tuần mà không biết phải tìm ai để xin giúp đỡ. Chúng ta thường dễ nhận ra một vết thương có máu hơn một vết thương có sự im lặng. Chúng ta dễ xúc động trước một tai nạn bất ngờ hơn trước một cuộc đời đang hao mòn từng ngày. Nhưng tình yêu trưởng thành cần một cái nhìn sâu hơn. Nó học cách nhận ra người đang cố gắng giữ vẻ bình thường để không làm phiền ai, người luôn nói mình ổn vì đã quá nhiều lần không được lắng nghe, người trở nên nóng nảy vì không còn biết cách diễn tả sự bất lực. Đến gần những con người ấy đòi chúng ta biết chậm lại, quan sát, lắng nghe và kiên nhẫn.
Trong dụ ngôn, có những người nhìn thấy người bị thương rồi đi qua. Chi tiết nhìn thấy làm chúng ta phải suy nghĩ. Nhiều khi vấn đề của chúng ta không phải là thiếu thông tin. Chúng ta biết có người đang khổ. Chúng ta biết một gia đình đang rạn nứt. Chúng ta biết một cụ già nhiều ngày không có ai thăm. Chúng ta biết một người trẻ đang mất phương hướng. Chúng ta biết những lời mình nói có thể làm ai đó đau. Nhưng từ biết đến hành động còn có một khoảng cách. Khoảng cách ấy thường được lấp đầy bằng những lý do nghe rất hợp lý: mình đang bận, mình không đủ khả năng, chuyện ấy đã có người khác lo, can thiệp có khi lại rắc rối, người ta chưa chắc muốn được giúp. Có những lý do cần được cân nhắc thật sự, nhưng cũng có những lý do chỉ là cách bảo vệ sự thuận tiện của mình. Một lương tâm trưởng thành cần thành thật nhận diện điều đó. Chúng ta không thể làm mọi việc, nhưng không vì thế mà kết luận mình chẳng cần làm việc nào. Chúng ta không thể cứu cả thế giới, nhưng có thể gọi một cuộc điện thoại, hỏi một câu chân thành, báo cho người có trách nhiệm, chia sẻ một bữa ăn, giúp tìm một nơi hỗ trợ phù hợp. Điều nhỏ bé được thực hiện đúng lúc có thể mở đầu cho một sự thay đổi rất lớn.
Sự hiện diện của thầy tư tế và thầy Lêvi trong câu chuyện khiến người có đời sống đạo càng phải xét mình. Một chức vụ, một trách nhiệm, một thói quen đạo đức không tự động bảo đảm rằng trái tim luôn rộng mở. Chúng ta có thể phục vụ những công việc thánh mà dần đánh mất sự nhạy cảm trước con người cụ thể. Chúng ta có thể quá chú ý đến việc chương trình có diễn ra đúng giờ, buổi lễ có trang trọng, mọi sự có đúng quy định, mà chưa nhận ra một người đang đứng bên lề với nỗi đau không biết bày tỏ cùng ai. Các công việc ấy đều cần thiết và đáng được thực hiện chu đáo. Nhưng trong khi thực hiện, chúng ta cần nhớ mục đích của việc phục vụ là giúp con người gặp Chúa và lớn lên trong tình yêu. Nếu một người đến với cộng đoàn chỉ gặp sự lạnh lùng, nếu người yếu thế luôn cảm thấy mình gây phiền toái, nếu người từng vấp ngã chỉ nhận được những ánh mắt nghi ngờ, chúng ta phải tự hỏi lòng thương xót đang được thể hiện ở đâu. Câu chuyện không cho phép chúng ta tự mãn vì danh xưng đạo đức của mình. Nó mời gọi mỗi người trở về với sự thật rất đơn sơ: trong những lần gặp người đang cần giúp đỡ, tôi đã làm gì?
Người Samari xuất hiện và thực hiện một điều đầu tiên vô cùng quan trọng: để nỗi đau của người kia chạm đến lòng mình. Nếu không có sự rung động ấy, mọi phương tiện đều có thể trở nên vô dụng. Một người có nhiều tiền vẫn có thể không muốn cho đi. Một người có chuyên môn vẫn có thể không muốn giúp. Một người có thời gian vẫn có thể không muốn lắng nghe. Một người biết rất rõ điều răn vẫn có thể giữ khoảng cách. Lòng thương xót làm cho những khả năng vốn nằm yên trong cuộc sống trở thành sức mạnh phục vụ. Nó khiến chúng ta nhận ra rằng việc mình đang làm không phải là toàn bộ ý nghĩa của ngày hôm nay; có thể một con người vừa xuất hiện đang đặt trước mình một bổn phận mới. Nó khiến chúng ta biết điều chỉnh kế hoạch, biết dành chỗ cho điều không dự tính, biết chấp nhận một sự bất tiện vì người khác đang cần. Không phải lúc nào chúng ta cũng có những cảm xúc mạnh mẽ. Có ngày lòng mình khô khan, mệt mỏi, không còn dễ xúc động. Khi ấy, lòng thương xót vẫn có thể được thực hiện bằng một lựa chọn có ý thức: dù hôm nay tôi không cảm thấy nhiều, tôi vẫn sẽ đối xử tử tế; dù tôi đang mệt, tôi vẫn sẽ không làm người yếu đuối thêm đau; dù tôi chưa hiểu hết câu chuyện, tôi vẫn sẽ lắng nghe trước khi xét đoán.
Người Samari đến gần người bị thương. Đến gần là bước chân quyết định, bởi từ xa chúng ta dễ giữ được một cái nhìn đơn giản về cuộc đời người khác. Từ xa, người nghèo có thể chỉ là người không biết cố gắng, người nghiện có thể chỉ là người thiếu ý chí, người ly tán có thể chỉ là người không biết giữ gia đình, người nóng giận có thể chỉ là người khó chịu. Khi đến gần, chúng ta bắt đầu thấy những điều mình chưa biết: một tuổi thơ thiếu sự che chở, một bệnh tật kéo dài, một công việc bấp bênh, một sự tổn thương lặp đi lặp lại, một nỗi sợ khiến người ta không thể nói thật. Đến gần không buộc chúng ta phải gọi mọi hành vi là đúng. Nó giúp chúng ta hiểu rằng sửa chữa một con người cần nhiều hơn việc chỉ ra lỗi của họ. Một người đang sa ngã có thể cần được giúp chịu trách nhiệm, nhưng đồng thời cũng cần một bàn tay nâng đỡ để có sức bắt đầu lại. Một người gây tổn thương có thể cần được ngăn chặn, nhưng chúng ta vẫn có thể mong họ hoán cải. Sự thật và lòng thương xót gặp nhau trong thái độ ấy: bảo vệ điều thiện, nhìn nhận điều sai, và kiên trì tìm một con đường giúp con người được chữa lành.
Băng bó vết thương là một hành động rất cụ thể. Nó đòi người cứu giúp phải chú ý đến điều người bị thương đang cần, thay vì chỉ làm điều khiến bản thân cảm thấy mình tốt. Trong đời sống, chúng ta đôi khi trao một lời khuyên khi người kia trước hết cần được lắng nghe. Chúng ta có thể nói về sự kiên cường với một người đã kiệt sức, nói về sự biết ơn với một người chưa có đủ cơm ăn, nói về việc quên đi với một người chưa từng được thừa nhận nỗi đau. Những lời ấy có thể chứa điều đúng, nhưng nếu thiếu sự hiểu biết về tình trạng cụ thể, chúng vẫn có thể làm người khác cảm thấy bị bỏ rơi. Băng bó một vết thương có nghĩa là tìm cách phục vụ sự sống của người ấy. Có lúc cần một lời an ủi. Có lúc cần một bữa ăn. Có lúc cần giúp họ tiếp cận việc chăm sóc chuyên môn. Có lúc cần bảo vệ họ khỏi một hoàn cảnh đang tiếp tục gây tổn thương. Có lúc điều cần thiết nhất là ngồi bên cạnh, không thúc ép, không hỏi dồn, không vội đưa ra kết luận. Tình yêu biết học hỏi. Nó khiêm tốn nhìn nhận giới hạn của mình và tìm sự cộng tác khi cần. Nó không xem việc nhờ người có khả năng hỗ trợ là thất bại, bởi điều quan trọng là người bị thương được giúp đỡ thực sự.
Người Samari đặt người bị nạn lên phương tiện của mình. Tình yêu lúc ấy chạm đến sự thuận tiện cá nhân. Một chỗ vốn dành cho mình được nhường cho người khác. Một hành trình vốn có thể đi nhanh phải chậm lại. Một việc vốn có thể hoàn thành trong thời gian dự tính phải được sắp xếp lại. Đây là điều rất gần với đời sống gia đình. Cha mẹ nhường giấc ngủ cho đứa con đang sốt. Người chồng điều chỉnh công việc để chăm sóc vợ đau. Người vợ dành sự kiên nhẫn cho chồng đang trải qua thất bại. Con cái dành một phần thu nhập để cha mẹ già được chăm sóc. Anh chị em trong nhà nhận thêm một trách nhiệm khi một người đang gặp khó khăn. Tình yêu có giá phải trả, và giá ấy thường được trả bằng những điều rất bình thường. Không cần những hành động nổi bật mới có thể sống Tin Mừng. Một người âm thầm chăm sóc người thân nhiều năm đang thực hiện một sự trung tín đáng quý. Một người vẫn giữ lời nói hiền hòa trong những ngày áp lực đang bảo vệ bình an của mái nhà. Một người chịu dừng lại để nghe con kể về một nỗi buồn tưởng như nhỏ đang giúp con hiểu rằng mình có giá trị. Những điều ấy có thể không được ai biết, nhưng chúng làm nên chất lượng thật của một đời sống yêu thương.
Dụ ngôn còn dẫn chúng ta đến một quán trọ, một nơi người bị thương có thể được tiếp tục chăm sóc. Chi tiết này giúp chúng ta nhận ra rằng lòng thương xót cần sự bền bỉ. Có những người rất dễ xúc động trước nỗi đau ban đầu, nhưng nhanh chóng rời đi khi việc giúp đỡ kéo dài. Chúng ta có thể nhiệt tình trong ngày đầu biết tin một người bệnh, rồi quên họ khi bệnh tình chưa chấm dứt. Chúng ta có thể sẵn sàng chia sẻ lúc một gia đình gặp biến cố, rồi mất kiên nhẫn khi họ chưa thể ổn định sau vài tuần. Nhưng nhiều vết thương cần thời gian. Một người vừa mất người thân không thể trở lại bình thường chỉ vì đã được an ủi một lần. Một người vừa thoát khỏi hoàn cảnh đổ vỡ có thể còn sợ hãi rất lâu. Một người muốn sửa đổi cuộc sống có thể cần nhiều lần được nâng đỡ, và hành trình ấy có thể có những bước lùi. Sự bền bỉ của lòng thương xót không có nghĩa là một người phải gánh toàn bộ mọi trách nhiệm. Nó có thể được tổ chức bằng sự cộng tác, bằng việc chia sẻ công việc, bằng những giới hạn rõ ràng và phù hợp. Điều cần tránh là biến một con người thành đối tượng của một phút xúc động rồi bỏ quên họ khi cảm xúc qua đi.
Mỗi gia đình Công giáo được mời gọi trở thành một nơi người ta có thể tìm thấy sự chăm sóc ấy. Một mái nhà có bàn thờ, có ảnh thánh, có giờ kinh là điều quý giá. Nhưng điều làm cho những dấu chỉ ấy đi vào đời sống là cách các thành viên đón nhận nhau. Con có dám nói với cha mẹ rằng con đang sợ không? Vợ có dám nói với chồng rằng mình đang mệt không? Chồng có dám thừa nhận với vợ rằng mình đã thất bại không? Cha mẹ già có cảm thấy mình được kính trọng khi không còn làm được nhiều việc không? Một người trong nhà khi mắc lỗi có được giúp sửa sai bằng sự kiên nhẫn, hay chỉ được nhắc đi nhắc lại rằng mình là nguyên nhân của mọi bất hạnh? Có những gia đình không thiếu tiện nghi nhưng thiếu một nơi để tâm hồn nghỉ ngơi. Có những mái nhà mọi người ở rất gần nhau về khoảng cách nhưng rất xa nhau trong sự cảm thông. Sống tinh thần người Samari ngay trong gia đình có thể bắt đầu bằng việc ngừng một lời cay nghiệt, đặt điện thoại xuống khi người thân đang nói, nhận ra sự mệt mỏi của người vẫn âm thầm làm việc, chủ động xin lỗi sau một cuộc cãi vã. Một gia đình biết chăm sóc vết thương của nhau đang loan báo rằng tình yêu của Thiên Chúa có thể hiện diện trong những điều bình thường nhất.
Cộng đoàn giáo xứ cũng cần trở thành một nơi người bị thương có thể được đón nhận bằng sự tôn trọng. Có những người bước qua cửa nhà thờ mang theo rất nhiều điều chưa nói: một đứa con bỏ đạo, một cuộc hôn nhân khủng hoảng, một người thân đang vướng vào tệ nạn, một khoản nợ khiến họ mất ngủ, một cảm giác tội lỗi kéo dài. Họ cần được hướng dẫn trong sự thật, nhưng cũng cần biết rằng mình có thể mở lời mà không lập tức trở thành đề tài cho những cuộc bàn tán. Sự kín đáo là một hình thức bác ái. Bảo vệ danh dự của người đang cần giúp đỡ là một phần của việc chữa lành. Nếu một người sợ rằng khi xin hỗ trợ, câu chuyện của mình sẽ được kể khắp nơi, họ có thể tiếp tục chịu đựng trong cô độc. Một cộng đoàn biết thương xót cần xây dựng sự tin cậy bằng cách lắng nghe cẩn trọng, sử dụng thông tin đúng trách nhiệm, tránh những lời phán xét dễ dãi, và tìm cách giúp đỡ phù hợp với khả năng của mình. Người phục vụ trong cộng đoàn cần nhớ rằng người đến xin giúp không chỉ có một nhu cầu; họ có một phẩm giá, một lịch sử, một sự nhạy cảm, và đôi khi phải vượt qua rất nhiều mặc cảm mới đủ can đảm gõ cửa.
Lòng thương xót cũng đưa chúng ta ra khỏi những nhóm quen thuộc. Trong khu phố, trong nơi làm việc, trong trường học, có những người không cùng niềm tin với chúng ta nhưng vẫn đang mang những gánh nặng rất thật. Một gia đình mới chuyển đến có thể cần sự chỉ dẫn. Một người lao động xa quê có thể cần một mối tương quan đáng tin. Một người khác tôn giáo có thể cần được giúp trong lúc hoạn nạn. Một người từng có bất đồng với chúng ta vẫn có thể đang cần được bảo vệ trước một sự bất công. Tình yêu Kitô giáo có sức làm chứng khi nó được trao bằng sự chân thành, khi người nhận không bị buộc phải đáp lại bằng việc thuộc về chúng ta. Chúng ta có thể chia sẻ niềm tin của mình với lòng kính trọng, nhưng sự giúp đỡ cần được thực hiện vì người ấy đang cần, vì họ đáng được đối xử tử tế. Một hành động bác ái không nên trở thành món nợ khiến người nhận mất tự do. Khi tình yêu được trao cách nhưng không, người ta có thể nhận ra một vẻ đẹp của đức tin trước cả khi hiểu được những lời giải thích về đức tin. Một người hàng xóm được chăm sóc trong lúc đau bệnh, một người lao động được trả công công bằng, một người yếu thế được bênh vực có thể cảm nhận rất rõ rằng niềm tin của chúng ta đang trở thành sự tốt lành cho họ.
Trong đời sống số, con đường có người bị thương hiện diện ngay trên màn hình. Một người có thể bị làm nhục bởi những lời bình luận, bị tổn thương bởi hình ảnh riêng tư bị phát tán, bị kết án bởi những thông tin chưa được kiểm chứng. Chúng ta dễ nghĩ rằng một lần chia sẻ không gây hậu quả lớn, một câu đùa không đáng kể, một lời mỉa mai chỉ là cách giải trí. Nhưng phía bên kia màn hình có một con người, có một gia đình, có những người thân phải chịu đau vì điều đang lan truyền. Dừng lại để yêu thương trong hoàn cảnh ấy có thể là từ chối tham gia chế giễu, không tiếp tục phát tán điều làm nhục người khác, kiểm tra thông tin trước khi chia sẻ, bảo vệ người đang bị công kích bằng một lời có trách nhiệm. Có khi điều bác ái nhất là không đăng một điều mình có quyền đăng. Có khi sự trưởng thành của đức tin được thể hiện ở khả năng giữ im lặng trước một câu chuyện chưa rõ, thay vì dùng nó để thu hút sự chú ý. Chúng ta không thể nói mình muốn băng bó vết thương ngoài đời mà lại tiếp tục tạo vết thương bằng những lời thiếu suy nghĩ trên mạng. Cùng một trái tim đang hoạt động trong cả hai nơi ấy, và cùng một lòng thương xót cần hướng dẫn cách chúng ta hiện diện.
Tuy nhiên, khi suy niệm câu chuyện này, chúng ta cũng cần nhận ra có những lúc chính mình là người nằm bên đường. Chúng ta không luôn mạnh mẽ, không luôn đủ sáng suốt, không luôn có khả năng giúp đỡ. Có lúc một tội lỗi làm chúng ta xấu hổ đến mức không dám ngẩng đầu. Có lúc một thất bại khiến chúng ta nghĩ mọi cố gắng đều vô ích. Có lúc sự mệt mỏi kéo dài làm trái tim trở nên khô cứng. Có lúc chúng ta đã bị tổn thương quá nhiều nên không còn tin ai. Nhận ra tình trạng ấy không làm chúng ta mất phẩm giá. Nó giúp chúng ta sống trong sự thật. Người bị thương cần được cứu giúp, và chúng ta cũng cần đón nhận sự trợ giúp của Thiên Chúa qua lời cầu nguyện, qua các bí tích, qua những người đáng tin, qua sự đồng hành phù hợp. Đôi khi điều ngăn cản việc chữa lành là một lòng tự ái không muốn thừa nhận mình đang đau. Chúng ta cố chứng minh mình ổn, cố giữ một hình ảnh mạnh mẽ, cố tự giải quyết mọi sự, rồi kiệt sức trong cô độc. Khi biết mở lòng đón nhận sự chăm sóc, chúng ta học được một sự khiêm nhường rất quý: sự sống của mình cũng được nâng đỡ bằng tình yêu của người khác.
Đức Giêsu đến với những vết thương ấy bằng sự gần gũi. Người không chờ chúng ta tự chữa lành rồi mới cho phép đến với Người. Người đón nhận chúng ta trong tình trạng thật, đồng thời dẫn chúng ta vào một hành trình đổi mới. Lòng thương xót của Người cho ta can đảm nhìn nhận tội lỗi mà không rơi vào tuyệt vọng, nhìn nhận yếu đuối mà không khinh ghét bản thân, nhìn nhận điều cần sửa mà không nghĩ đời mình đã hết giá trị. Trong bí tích Hòa Giải, chúng ta được mời gọi trở về với sự thật và đón nhận ơn tha thứ. Trong Thánh Thể, chúng ta được nuôi dưỡng để có sức tiếp tục bước đi. Trong cầu nguyện, chúng ta tập đặt những điều không thể tự gánh nổi vào trong bàn tay Chúa. Khi đã được thương xót, chúng ta có một kinh nghiệm mới để đến với người khác. Chúng ta biết rằng một người đang sa ngã vẫn có thể đứng dậy, một người đang xa cách vẫn có thể trở về, một người đang khô khan vẫn có thể học lại cách yêu. Người từng được nâng dậy có thể giúp người khác bằng một sự dịu dàng sâu sắc, bởi họ hiểu từ bên trong rằng được đối xử bằng lòng thương xót là điều cần thiết biết bao.
Tình yêu dành cho bản thân cũng cần được hiểu trong ánh sáng ấy. Yêu mình có nghĩa là tôn trọng sự sống Chúa trao, biết chăm sóc sức khỏe, nhìn nhận giới hạn, tìm sự trợ giúp khi cần, và không để mình bị hủy hoại trong những hoàn cảnh gây tổn thương. Người muốn phục vụ lâu dài cần biết nghỉ ngơi và cộng tác. Người đang chăm sóc một bệnh nhân cần được nâng đỡ để không kiệt sức. Người đang ở trong một hoàn cảnh bạo lực cần sự bảo vệ thích hợp. Lòng thương xót đòi chúng ta bảo vệ phẩm giá của cả người được giúp và người giúp. Vì thế, đến gần một người có thể được thực hiện bằng nhiều cách, tùy hoàn cảnh và trách nhiệm. Có khi chúng ta trực tiếp chăm sóc. Có khi chúng ta liên hệ với người có khả năng hỗ trợ. Có khi chúng ta cần giữ một khoảng cách cần thiết để ngăn tổn thương tiếp tục xảy ra, đồng thời tìm một con đường giải quyết có trách nhiệm. Sự phân định ấy giúp tình yêu trở nên bền vững. Chúng ta không cần chứng minh lòng tốt bằng việc làm vượt quá khả năng cho đến khi mọi sự đổ vỡ; chúng ta cần trung tín thực hiện phần việc có thể làm và biết tìm người cùng gánh vác.
Một trong những vết thương khó được chữa lành nhất là vết thương do chính người mình thương gây ra. Giúp một người lạ đôi khi dễ hơn dịu dàng với người trong nhà đã làm mình đau nhiều lần. Chúng ta có thể rộng rãi với người ngoài nhưng trở nên cứng cỏi trước cha mẹ, vợ chồng, anh chị em. Có những ký ức khiến một lời nói nhỏ cũng làm bùng lên cả một nỗi giận cũ. Trong những hoàn cảnh ấy, lòng thương xót cần thời gian và sự kiên trì. Tha thứ không xóa bỏ trách nhiệm, và việc khôi phục sự tin tưởng cần những thay đổi thực sự. Nhưng chúng ta có thể bắt đầu bằng việc không trả thêm một vết thương cho vết thương đã có, không dùng điều yếu đuối của người khác để làm nhục họ, không nuôi dưỡng ý muốn họ phải đau như mình từng đau. Có khi hôm nay chúng ta chưa đủ sức làm hơn thế. Chúng ta vẫn có thể xin Chúa giữ lòng mình khỏi bị hận thù chiếm hết. Có khi bước đầu của sự chữa lành chỉ là một lời cầu nguyện thành thật: con còn rất đau, con chưa biết phải làm gì, xin Chúa giúp con tìm được một con đường đúng. Sự thành thật ấy quý hơn một lời tha thứ nói ra quá sớm trong khi trái tim chưa được chăm sóc.
Sau cùng, dụ ngôn đưa chúng ta đến một sự thay đổi rất sâu trong cách nhìn. Thay vì chỉ xác định người nào nằm trong phạm vi trách nhiệm của mình, chúng ta được mời gọi tự hỏi mình có thể trở nên gần gũi với người đang đau bằng cách nào. Người thân cận được hình thành trong hành động thương xót. Một người xa lạ có thể trở nên gần gũi vì đã dừng lại khi mọi người khác đi qua. Một người không cùng nhóm với mình có thể trở thành người nâng đỡ mình trong lúc cần nhất. Một mối tương quan có thể bắt đầu từ một việc rất nhỏ: một lần đưa đón, một bữa cơm, một cuộc thăm hỏi, một lời bảo vệ trước sự bất công. Điều ấy mở ra một niềm hy vọng cho xã hội và cho Hội Thánh. Chúng ta không cần chờ mọi khác biệt được giải quyết mới có thể đối xử tử tế. Chúng ta có thể bắt đầu xây dựng sự gần gũi bằng những việc phục vụ con người. Khi người này chịu nhìn người kia như một sự sống đáng được chăm sóc, khoảng cách có thể dần thu hẹp. Khi một cộng đoàn biết dừng lại trước người yếu thế, sự hiệp thông được xây dựng từ những hành động thật. Khi một gia đình biết lắng nghe nỗi đau của nhau, mái nhà bắt đầu trở thành nơi chữa lành.
Hôm nay, mỗi người có thể bước vào một cuộc xét mình rất cụ thể. Trong những người tôi gặp, ai đang cần được lắng nghe? Trong gia đình tôi, ai đang gánh quá nhiều mà chưa được chia sẻ? Trong cộng đoàn tôi, ai đang dần biến mất khỏi sự quan tâm của mọi người? Có ai tôi đã chỉ nhớ đến lỗi của họ mà quên rằng họ vẫn đang cần được giúp đứng dậy? Có một lời nói nào tôi cần rút lại, một lời xin lỗi nào tôi đã trì hoãn, một cuộc thăm hỏi nào tôi có thể thực hiện? Những câu hỏi ấy không nhằm làm chúng ta cảm thấy mình phải mang tất cả nỗi khổ của thế gian. Chúng giúp chúng ta nhận ra phần trách nhiệm thật đang nằm trong tầm tay. Có thể hôm nay việc cần làm chỉ là ngồi xuống bên người thân và lắng nghe đến hết. Có thể là gọi cho một người đã lâu không ai hỏi thăm. Có thể là góp một phần nhỏ để người bệnh được chăm sóc. Có thể là thôi dùng một lời cay nghiệt đã trở thành thói quen. Có thể là nhận lỗi và sửa điều mình đã làm sai. Tình yêu lớn lên khi được thực hành, và một việc nhỏ được làm với sự chân thành có thể mở lối cho những việc tiếp theo.
Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con nhìn thấy những con người đang hiện diện trên đường đời mình. Xin đừng để sự bận rộn làm chúng con đánh mất khả năng lắng nghe, đừng để những thành kiến che khuất phẩm giá của người khác, đừng để những tổn thương cũ khiến chúng con khép lòng trước mọi lời xin giúp đỡ. Xin cho chúng con biết dừng lại khi cần dừng lại, biết đến gần bằng sự tôn trọng, biết giúp đỡ bằng việc làm phù hợp, biết kiên trì trong những việc chăm sóc âm thầm. Xin thương những người đang nằm bên đường của cuộc sống: người bệnh tật, người nghèo khó, người cô độc, người bị bỏ rơi, người đang mang nỗi đau mà chưa tìm được ai để nói. Xin gửi đến họ những bàn tay có trách nhiệm, những trái tim biết cảm thông, những nơi an toàn để được nâng đỡ. Xin cũng chữa lành chúng con, bởi chính chúng con nhiều lần đã mệt mỏi, sa ngã và mất phương hướng. Khi đón nhận lòng thương xót của Chúa, xin cho chúng con học được cách thương xót nhau. Xin làm cho gia đình chúng con có chỗ dành cho người yếu đuối, cho cộng đoàn chúng con có sự dịu dàng dành cho người trở về, cho những việc phục vụ của chúng con có sự bền bỉ và khiêm nhường. Và khi ngày sống khép lại, xin cho chúng con có thể nhìn lại với lòng biết ơn vì đã không để một cơ hội yêu thương trôi qua vô ích, vì đã góp một phần nhỏ để một người bớt đau, một tâm hồn bớt cô độc, một sự sống được gìn giữ. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.
ĐỪNG ĐỂ MỘT NGƯỜI PHẢI NẰM LẠI BÊN LỀ CUỘC ĐỜI
Có những buổi chiều, chúng ta trở về nhà với một ngày đầy công việc đã hoàn tất, những cuộc hẹn đã giữ đúng giờ, những bổn phận đã chu toàn, những dự tính đã tiến thêm một bước. Thế nhưng, giữa tất cả những điều tưởng như tốt đẹp ấy, có thể vẫn còn một người bị bỏ lại phía sau: một người đã muốn nói với chúng ta điều gì đó mà chúng ta không đủ kiên nhẫn để nghe; một người đã chờ một lời hỏi thăm mà chúng ta cứ nghĩ có thể để ngày mai; một người đã đứng trước mặt chúng ta với đôi mắt mệt mỏi nhưng chúng ta chỉ nhìn thấy sự phiền phức; một người đã ngã xuống trong lòng từ lâu mà chúng ta vẫn tưởng họ đang sống bình thường. Cuộc đời có những vết thương không chảy máu ra ngoài, có những tiếng kêu không thành âm thanh, có những con người vẫn đi làm, vẫn mỉm cười, vẫn dự lễ, vẫn ngồi chung bàn ăn, nhưng bên trong đang kiệt sức vì không còn cảm thấy mình được ai quan tâm. Bởi vậy, câu hỏi sâu xa dành cho đời sống đức tin không chỉ là chúng ta đã làm được bao nhiêu việc, đã biết được bao nhiêu điều, đã tham dự bao nhiêu sinh hoạt, mà còn là: sau khi chúng ta đi qua, có ai được nâng dậy không? Có ai cảm thấy mình bớt cô độc không? Có ai nhận ra rằng cuộc đời vẫn còn một nơi để nương tựa không? Một ngày có thể rất thành công trong mắt người đời nhưng lại nghèo nàn trước mặt Thiên Chúa nếu trong ngày ấy, chúng ta đã nhiều lần có thể yêu thương mà vẫn chọn quay đi.
Người thông luật đến với Đức Giêsu mang theo một câu hỏi liên quan đến sự sống đời đời. Đó là câu hỏi lớn, chạm tới tận nền tảng của kiếp người. Bởi dù sống trong hoàn cảnh nào, con người cũng không thể hoàn toàn tránh khỏi những thao thức về ý nghĩa cuộc đời, về điều gì sẽ còn lại sau những năm tháng vất vả, về nơi mình sẽ đi đến khi tất cả những điều đang nắm giữ phải buông xuống. Chúng ta có thể dành rất nhiều thời gian để chuẩn bị cho một chuyến đi ngắn, một cuộc thi, một công việc, một căn nhà, một mùa làm ăn; nhưng đôi khi lại dành rất ít thời gian để tự hỏi mình đang chuẩn bị thế nào cho cuộc gặp gỡ cuối cùng với Thiên Chúa. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là câu hỏi về sự sống đời đời không được giải quyết bằng một con đường xa lạ, tách biệt khỏi đời sống thường ngày. Nó dẫn chúng ta trở lại với tình yêu: yêu mến Thiên Chúa và yêu thương con người. Điều vĩnh cửu không ở ngoài những lựa chọn nhỏ bé của hôm nay. Nó đang được đón nhận hay bị khước từ trong cách chúng ta sử dụng thời giờ, trong những lời chúng ta nói, trong thái độ chúng ta dành cho người yếu thế, trong sự thật mà chúng ta bảo vệ, trong bàn tay chúng ta đưa ra hoặc giữ lại. Sự sống đời đời là ân huệ Thiên Chúa ban, chứ không phải món hàng có thể mua bằng một số việc lành; nhưng người thực sự đón nhận ân huệ ấy sẽ dần để cho tình yêu của Thiên Chúa biến đổi cách mình sống. Không thể tha thiết mong được ở với Thiên Chúa mãi mãi mà lại nhất quyết không muốn để Người thay đổi trái tim mình ngay hôm nay.
Người thông luật biết câu trả lời. Ông biết phải yêu mến Thiên Chúa bằng toàn bộ con người mình và phải yêu người thân cận như chính mình. Nhưng biết điều đúng chưa có nghĩa là đã sống điều đúng. Khoảng cách giữa kiến thức và đời sống đôi khi dài hơn chúng ta tưởng. Có người hiểu rất rõ về sự tha thứ nhưng nhiều năm không chịu nói với người nhà một lời hòa giải. Có người giải thích rất hay về lòng bác ái nhưng lại làm cho người phục vụ mình cảm thấy bị coi thường. Có người thuộc nhiều kinh, biết nhiều giáo lý, có thể tranh luận rất sắc bén về những vấn đề đức tin, nhưng khi gặp một người đang đau khổ thì không biết làm gì ngoài việc đưa ra những nhận xét lạnh lùng. Chúng ta không nên coi nhẹ việc học hỏi, bởi đức tin cần được hiểu biết và đào sâu; tuy nhiên, hiểu biết phải trở thành ánh sáng cho hành động. Một ngọn đèn không được thắp lên thì dù được chế tác tinh xảo đến đâu cũng chưa giúp ai đi qua đêm tối. Cũng vậy, một điều tốt chỉ nằm trong trí nhớ mà chưa đi vào cách cư xử thì chưa thể chữa lành một tương quan, chưa thể làm ấm một mái nhà, chưa thể nâng một người ra khỏi sự tuyệt vọng. Điều đáng sợ không phải lúc nào cũng là thiếu hiểu biết. Có khi điều đáng sợ hơn là chúng ta biết rất rõ mình phải làm gì nhưng vẫn tìm được đủ lý do để không làm.
Khi đặt vấn đề ai là người thân cận, con người có thể đang muốn hiểu để yêu thương tốt hơn, nhưng cũng có thể đang âm thầm tìm một giới hạn để khỏi phải yêu thương quá nhiều. Chúng ta thường muốn biết trách nhiệm của mình kết thúc ở đâu. Người này có thuộc gia đình tôi không? Người kia có cùng đạo với tôi không? Người ấy có từng giúp tôi không? Hoàn cảnh của họ có đáng thương thật không? Họ có phải tự chuốc lấy hậu quả không? Nếu tôi giúp, liệu họ có biết ơn không? Những câu hỏi ấy có lúc cần thiết để phân định cách trợ giúp thích hợp, nhưng cũng có lúc trở thành hàng rào bảo vệ sự ích kỷ. Chúng ta có thể đặt hết câu hỏi này đến câu hỏi khác cho đến khi lòng thương xót không còn cơ hội bước ra. Có những người phải chứng minh quá nhiều trước khi được nhận một chút cảm thông. Họ phải chứng minh mình đủ nghèo, đủ đau, đủ ngoan, đủ đáng thương, đủ giống chúng ta. Trong khi đó, tình yêu của Thiên Chúa đến với chúng ta khi chúng ta còn bất toàn, còn yếu đuối, còn nhiều điều cần được chữa lành. Nếu Thiên Chúa chỉ yêu những người đã xứng đáng, liệu chúng ta có còn được đứng trước mặt Người hôm nay không? Chính kinh nghiệm được yêu dù chưa xứng đáng phải làm cho chúng ta bớt khắt khe khi nhìn những người đang cần một cơ hội để bắt đầu lại.
Người bị đánh trọng thương trên đường không được giới thiệu bằng nghề nghiệp, địa vị, tài sản hay thành tích. Người ấy hiện diện trước mắt những người đi qua bằng chính sự mong manh của mình. Trong giờ phút ấy, điều quan trọng nhất không phải là người ấy có thể mang lại lợi ích gì, mà là người ấy đang cần được cứu giúp. Đời sống xã hội thường tập cho chúng ta một thói quen đánh giá con người theo khả năng đóng góp: ai làm được việc thì được chú ý, ai có ảnh hưởng thì được kính nể, ai có tiền thì được phục vụ, ai có tiếng nói thì được lắng nghe. Nhưng khi một người nằm xuống trong yếu đuối, tất cả những tiêu chuẩn ấy trở nên bất lực. Một bệnh nhân không mất phẩm giá vì không còn lao động được. Một người già không trở thành gánh nặng vô nghĩa vì phải nhờ người khác chăm sóc. Một đứa trẻ khuyết tật không có giá trị thấp hơn một đứa trẻ khỏe mạnh. Một người thất nghiệp không mất quyền được tôn trọng. Một người đang suy sụp tinh thần không đáng bị khinh thường chỉ vì họ chưa thể tự đứng dậy. Mỗi người có một phẩm giá không do chúng ta cấp cho và cũng không do chúng ta có quyền thu hồi. Khi nhận ra điều ấy, lòng bác ái không còn là sự ban phát từ một người đứng trên xuống một người đứng dưới, mà trở thành cuộc gặp gỡ giữa những con người cùng cần đến tình thương của Thiên Chúa.
Hai người đầu tiên đi qua đều đã nhìn thấy người bị nạn. Chi tiết ấy khiến chúng ta phải dừng lại lâu hơn. Vấn đề không nằm ở chỗ họ hoàn toàn không biết điều gì đang xảy ra. Họ đã thấy, nhưng cái thấy ấy không trở thành sự hiện diện cứu giúp. Trong đời sống chúng ta cũng vậy, có những lúc đôi mắt vẫn hoạt động rất tốt mà trái tim lại khép kín. Chúng ta nhìn thấy cha mẹ đã già nhưng vẫn tiếp tục nói với các ngài bằng sự nóng nảy. Chúng ta nhìn thấy người bạn đời mệt mỏi nhưng vẫn đòi hỏi họ phải đáp ứng thêm những mong muốn của mình. Chúng ta nhìn thấy con trẻ im lặng khác thường nhưng vẫn cho rằng chỉ cần đóng học phí đầy đủ là đã làm tròn trách nhiệm. Chúng ta nhìn thấy một nhân viên bị đối xử bất công nhưng ngại lên tiếng vì sợ mất lòng người có quyền. Chúng ta nhìn thấy một người bị bêu xấu trên mạng nhưng vẫn chia sẻ câu chuyện như một hình thức giải trí. Có thể chúng ta không tự tay gây ra vết thương, nhưng thái độ đứng ngoài của chúng ta khiến vết thương ấy trở nên cô độc hơn. Một người đau khổ có thể chịu đựng được rất nhiều điều nếu biết vẫn có ai đó ở bên. Nhưng khi họ nhận ra tất cả đều đã thấy mà chẳng ai muốn đến gần, nỗi đau ấy có thể biến thành cảm giác mình không còn đáng được yêu.
Chúng ta dễ xét đoán những người đã bỏ đi trong câu chuyện, nhưng sự hoán cải chỉ bắt đầu khi chúng ta nhận ra hình bóng của mình nơi họ. Có bao nhiêu lần chúng ta đã đi sang phía bên kia của một hoàn cảnh? Chúng ta đổi chủ đề khi ai đó bắt đầu nói về nỗi buồn. Chúng ta tránh một cuộc gọi vì biết người gọi đang cần sự giúp đỡ. Chúng ta chọn một lối đi khác để không phải gặp người đang chờ mình giải quyết một điều khó khăn. Chúng ta viện lý do bận rộn để không thăm một người bệnh, rồi dành hàng giờ cho những việc không thực sự cần thiết. Chúng ta nói rằng mình không đủ khả năng, nhưng chưa từng dành thời gian tìm xem có thể nhờ ai cùng giúp. Chúng ta nói rằng đó là trách nhiệm của người khác, trong khi người khác cũng đang nói đúng câu ấy. Và cuối cùng, một người phải nằm lại giữa những lý do rất hợp lý của nhiều người. Điều này không có nghĩa chúng ta phải giải quyết mọi nỗi đau trên thế giới hoặc nhận hết mọi trách nhiệm về mình. Con người có giới hạn thật sự. Nhưng giữa việc nhìn nhận giới hạn và dùng giới hạn làm tấm bình phong cho sự vô cảm có một khác biệt lớn. Một người biết mình không thể làm tất cả vẫn có thể làm một điều. Một người không thể ở lại lâu vẫn có thể gọi người trợ giúp. Một người không có tiền vẫn có thể lắng nghe, hướng dẫn, kết nối, cầu nguyện và đồng hành. Điều làm cho tình yêu trở nên bất lực thường không phải chỉ là thiếu phương tiện, mà là thiếu sự sẵn lòng.
Người Samari bước vào câu chuyện bằng một thái độ khác. Ông để cho hoàn cảnh của người bị nạn chạm đến mình. Lòng thương xót khởi đi từ sự cho phép ấy. Chúng ta có thể dựng quanh mình một lớp vỏ rất dày để không bị ảnh hưởng bởi nỗi đau của ai khác. Chúng ta gọi đó là mạnh mẽ, thực tế, khôn ngoan, biết giữ khoảng cách. Nhưng có một kiểu mạnh mẽ làm cho con người ngày càng cô độc vì không còn có thể rung động trước bất cứ ai. Trái tim biết yêu không phải là trái tim không bao giờ bị chạm tới; đó là trái tim có thể bị chạm tới mà vẫn tìm được sức mạnh để hành động. Người Samari không chỉ cảm thấy thương. Ông đến gần. Sự đến gần ấy là bước chuyển quan trọng từ một tình cảm thoáng qua sang một quyết định cụ thể. Khi còn đứng xa, chúng ta có thể thương một cách dễ dàng vì chưa phải đụng đến những phiền toái thật sự. Đến gần nghĩa là thấy rõ vết thương, nghe rõ tiếng rên, cảm nhận rõ sự bất lực của người khác, và hiểu rằng sự giúp đỡ sẽ đòi hỏi thời giờ, sức lực, đôi khi cả sự thay đổi kế hoạch. Tình yêu trưởng thành khi sẵn sàng bước vào phần khó khăn ấy của cuộc gặp gỡ.
Người bị nạn cần được chăm sóc bằng những việc rất cụ thể. Những lời tốt đẹp, dù chân thành, cũng không thể thay thế hoàn toàn cho việc băng bó, đưa đến nơi an toàn và sắp xếp người tiếp tục chăm nom. Điều ấy nhắc chúng ta rằng bác ái cần cả trái tim lẫn sự khôn ngoan. Một người đói cần thức ăn thích hợp, một người bệnh cần được điều trị, một người đang bị bạo hành cần được bảo vệ, một người đang hoảng loạn cần sự hiện diện bình tĩnh, một người đang mắc nợ có thể cần được giúp nhìn lại khả năng tài chính và tìm một hướng giải quyết thực tế. Không phải cứ có ý tốt thì bất cứ cách giúp nào cũng tốt. Có khi chúng ta giúp để người khác lệ thuộc hơn. Có khi chúng ta làm thay tất cả khiến người được giúp không còn cơ hội phục hồi khả năng của mình. Có khi chúng ta quá vội vàng nên không nghe được điều họ thực sự cần. Có khi chúng ta đưa ra lời khuyên trước khi hiểu hoàn cảnh. Lòng thương xót biết học hỏi. Nó không tự mãn rằng chỉ cần mình nhiệt tình là đủ. Nó sẵn sàng hỏi, lắng nghe, tìm người có chuyên môn, phối hợp với những người có khả năng, và tôn trọng sự tham gia của người được giúp. Cứu một người là giúp họ tìm lại sự sống và phẩm giá, chứ không biến họ thành bằng chứng cho lòng tốt của chúng ta.
Một điều rất đẹp trong sự giúp đỡ ấy là người Samari chấp nhận để hành trình của mình bị gián đoạn. Ông đang đi đường, nghĩa là ông cũng có điểm đến, công việc và dự tính. Nhưng trước một mạng sống đang bị đe dọa, ông không giữ kế hoạch của mình như một điều bất khả xâm phạm. Đây là chỗ đời sống chúng ta thường gặp thử thách. Chúng ta muốn sống yêu thương, nhưng muốn tình yêu diễn ra vào lúc thuận tiện, với những người dễ mến, trong những hoàn cảnh ít gây phiền. Chúng ta muốn giúp đỡ, nhưng mong sự giúp đỡ không làm mình trễ giờ, không làm hao tiền, không làm mất sức, không ảnh hưởng tới những việc đã sắp xếp. Thế nhưng, những nhu cầu cấp thiết hiếm khi xuất hiện đúng lúc chúng ta đã chuẩn bị sẵn. Một đứa con cần nói chuyện có thể đến khi cha mẹ đang mệt. Một người bệnh có thể trở nặng khi gia đình đã đi ngủ. Một người bạn có thể gọi lúc chúng ta đang muốn nghỉ ngơi. Một người già có thể cần trợ giúp chậm chạp vào lúc chúng ta đang vội. Không phải sự gián đoạn nào cũng buộc chúng ta bỏ mọi việc, nhưng mỗi sự gián đoạn đều mời chúng ta phân định điều gì quan trọng hơn trong thời điểm ấy. Lịch trình được lập ra để phục vụ con người; khi lịch trình khiến chúng ta không còn chỗ cho bất cứ một con người nào, chúng ta cần xem lại cách mình đang sống.
Đặc biệt, chúng ta cần xem lại sự kiên nhẫn dành cho những người gần mình nhất. Có người rất dễ xúc động trước một câu chuyện ở nơi xa nhưng lại khô khan trước nỗi buồn trong chính gia đình. Có người sẵn sàng đóng góp cho một chương trình lớn nhưng không muốn dành mười lăm phút nghe cha mẹ kể chuyện. Có người được nhiều người khen là quảng đại nhưng người bạn đời lại không cảm thấy được nâng đỡ. Có người chăm sóc hình ảnh của mình trước cộng đoàn rất kỹ nhưng không để ý rằng con cái đang sợ sự nóng giận của mình. Người thân cận không phải lúc nào cũng xuất hiện dưới hình thức một người xa lạ cần cứu giúp bên đường. Đôi khi đó là người nằm cùng mái nhà, người đã làm việc bên cạnh mình nhiều năm, người vẫn nấu ăn, giặt giũ, đưa đón, phục vụ, và âm thầm gánh những điều mình chưa từng hỏi đến. Một gia đình có thể có đầy đủ đồ dùng nhưng thiếu một lời dịu dàng. Có thể có nhiều kế hoạch cho tương lai nhưng thiếu sự lắng nghe trong hiện tại. Có thể giữ những giờ kinh đều đặn nhưng sau giờ kinh lại tiếp tục làm nhau tổn thương bằng những lời nặng nề. Gia đình bắt đầu trở thành nơi chữa lành khi từng người bớt coi sự hiện diện và hy sinh của người khác là điều đương nhiên, biết nhận ra mệt mỏi, biết xin lỗi, biết cảm ơn, biết chia sẻ một phần trách nhiệm thay vì chỉ đưa ra yêu cầu.
Có những vết thương trong gia đình cần được chăm sóc lâu dài. Một cuộc phản bội không thể được chữa lành chỉ bằng lời yêu cầu người bị tổn thương phải quên ngay. Một đứa trẻ bị so sánh và hạ thấp nhiều năm không thể lập tức tự tin chỉ vì nghe một lời động viên. Một người đã nhiều lần bị xúc phạm không thể bình an chỉ nhờ lời nhắc đừng nghĩ nhiều. Một người đang đối diện với nghiện ngập, khủng hoảng hoặc những khó khăn tinh thần có thể cần một hành trình đồng hành có chuyên môn và sự nâng đỡ bền bỉ. Lòng thương xót không đòi nạn nhân phải phục hồi theo tốc độ mà người đứng ngoài mong muốn. Nó không thúc ép một người đang đau phải tỏ ra vui để chúng ta bớt khó chịu. Nó cũng không đồng nghĩa với việc dung túng hành vi gây hại. Có lúc yêu thương cần một lời nói rõ ràng, một giới hạn cần thiết, một quyết định bảo vệ người yếu thế. Tha thứ không có nghĩa là phải đặt mình trở lại trong một hoàn cảnh nguy hiểm. Giúp đỡ người làm sai không có nghĩa là che giấu mọi hậu quả hoặc ngăn cản trách nhiệm cần được thực hiện. Tình yêu chân thật vừa muốn cứu người bị thương, vừa muốn người gây thương tích dừng lại và thay đổi. Nó không hy sinh sự an toàn của một người để duy trì vẻ yên ổn bên ngoài cho cả gia đình.
Trong cộng đoàn đức tin cũng có những người đang nằm bên lề mà chúng ta không nhận ra. Đó có thể là người mới đến một giáo xứ và không biết bắt chuyện với ai; một gia đình di dân phải làm việc vào những giờ ít thuận tiện; một người nghèo ngại tham gia vì sợ không có tiền đóng góp; một người khuyết tật gặp khó khăn khi đến nơi sinh hoạt; một người có quá khứ đổ vỡ luôn cảm thấy mình bị nhìn bằng ánh mắt xét đoán; một người trẻ mang nhiều thắc mắc nhưng không tìm được nơi để hỏi mà không bị trách mắng. Một cộng đoàn có thể tổ chức rất nhiều hoạt động mà vẫn để một số người sống trong cảm giác vô hình. Vì thế, sự trưởng thành của cộng đoàn không chỉ được đo bằng số chương trình, số người tham dự hay vẻ trang trọng của những buổi lễ, mà còn bằng khả năng nhận ra những người ít được chú ý. Ai đang vắng mặt? Ai đã từng đến rồi lặng lẽ rút lui? Ai thường ngồi một mình? Ai chỉ được gọi khi cần đóng góp hoặc làm việc? Ai đang cần một cuộc thăm hỏi? Những câu hỏi ấy giúp cộng đoàn bước ra khỏi sự tự hài lòng để trở thành một mái nhà có chỗ cho những người mệt mỏi. Khi mỗi gia đình biết mở lòng với một gia đình khác, khi mỗi hội đoàn biết quan tâm đến một người ngoài nhóm mình, khi mỗi người biết chủ động chào một người chưa quen, công việc truyền giáo đã có thể bắt đầu bằng một hình thức rất giản dị: làm cho ai đó cảm thấy họ có thể đến gần mà không sợ bị xua đi.
Sự hiện diện của người Samari còn đánh thức chúng ta trước những thành kiến đang âm thầm điều khiển cách mình đối xử với con người. Chúng ta thường nghĩ lòng tốt sẽ đến từ những người quen thuộc, những người cùng quan điểm, cùng môi trường, cùng niềm tin với mình. Nhưng Thiên Chúa có thể làm chúng ta ngạc nhiên qua sự quảng đại của một người mà chúng ta chưa từng đánh giá cao. Có khi một người ít nói về đạo lại chăm sóc cha mẹ rất tận tụy. Có khi một người chúng ta cho là xa lạ lại là người đầu tiên đứng ra giúp trong hoạn nạn. Có khi một người có đời sống chưa hoàn hảo lại biết nâng đỡ người khác bằng sự tế nhị mà chúng ta còn thiếu. Nhận ra điều tốt ấy không làm giảm giá trị đức tin của chúng ta; nó giúp chúng ta sống đức tin khiêm tốn hơn. Chúng ta không sở hữu lòng tốt như một đặc quyền để có thể khinh thường những người ngoài phạm vi của mình. Chúng ta được mời gọi làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa bằng chính cuộc sống, đồng thời biết vui mừng khi tình yêu và sự thiện xuất hiện ở bất cứ đâu. Một trái tim rộng mở có thể học được sự quảng đại từ người khác mà không cảm thấy bị đe dọa. Trái tim ấy biết rằng điều cần quan tâm trước hết là người đau khổ được cứu giúp, chứ không phải nhóm nào sẽ được nhận phần danh dự.
Trong đời sống hôm nay, con đường có người bị thương còn đi xuyên qua những màn hình mà chúng ta sử dụng mỗi ngày. Một lời bình luận có thể làm ai đó mất ngủ. Một thông tin chưa được kiểm chứng có thể phá hủy danh dự của một gia đình. Một hình ảnh đau khổ bị đăng tải thiếu tế nhị có thể khiến người trong cuộc phải chịu thêm sự xấu hổ. Một câu chuyện riêng tư được kể như chuyện vui có thể trở thành gánh nặng kéo dài nhiều năm cho người bị nhắc đến. Bởi vậy, lòng bác ái cũng phải đi vào cách chúng ta hiện diện trên mạng. Không phải điều gì có thể đăng cũng nên đăng. Không phải điều gì khiến nhiều người chú ý cũng đáng được lan truyền. Trước khi chia sẻ một nội dung liên quan đến nỗi đau của ai đó, chúng ta cần nghĩ đến phẩm giá và sự riêng tư của họ. Người gặp nạn cần được cứu giúp trước khi được biến thành một hình ảnh. Người đang khủng hoảng cần được lắng nghe trước khi trở thành đề tài tranh luận. Người đã phạm lỗi cần được đối diện với sự thật và trách nhiệm, nhưng không vì thế mà chúng ta có quyền vui thích trước việc họ bị sỉ nhục. Có những lúc lòng thương xót được thực hiện bằng việc không nhấn nút chia sẻ, không thêm một lời cay độc, không góp mặt vào đám đông đang làm một người tổn thương hơn.
Tuy nhiên, bác ái không chỉ là làm dịu những hậu quả trước mắt. Nếu trên một con đường liên tục có người bị tấn công, chúng ta vừa phải cứu những người đang bị thương, vừa phải tìm cách để con đường ấy bớt nguy hiểm. Nếu một nơi làm việc thường xuyên khiến người lao động kiệt sức vì bị đối xử bất công, việc thăm hỏi họ cần đi cùng với nỗ lực cải thiện cách tổ chức và ứng xử. Nếu những người yếu thế liên tục bị bỏ quên trong một cộng đoàn, chúng ta cần xem lại các điều kiện tham gia và những thói quen đã trở thành rào cản. Nếu trẻ em phải gánh những tổn thương lặp đi lặp lại, người lớn cần thay đổi cách giáo dục và bảo vệ các em. Lòng thương xót có thể bắt đầu bằng một miếng băng, nhưng không nhất thiết phải kết thúc ở đó. Nó có thể dẫn tới những quyết định công bằng hơn, những cơ hội học tập, những điều kiện làm việc tốt hơn, những cách hỗ trợ giúp người nghèo tự đứng vững. Điều này không làm cho việc bác ái nhỏ bé mất ý nghĩa. Trái lại, chính vì quý trọng từng con người cụ thể mà chúng ta muốn bớt đi những hoàn cảnh khiến họ phải chịu đau khổ. Một trái tim biết thương cũng cần một lương tâm biết đặt câu hỏi về những gì mình đang tham gia, những lợi ích mình đang hưởng, và những tổn hại mà lối sống của mình có thể gây ra cho người khác.
Có người muốn giúp nhưng lại sợ rằng sự giúp đỡ của mình quá nhỏ, không thể thay đổi điều gì. Nỗi sợ ấy có thể khiến chúng ta đứng yên trước một nhu cầu rất thật. Nhưng một bữa ăn không giải quyết được tất cả nghèo đói vẫn có thể làm một người bớt đói hôm nay. Một cuộc thăm viếng không chữa khỏi mọi bệnh tật vẫn có thể giúp một bệnh nhân bớt cảm thấy bị bỏ rơi. Một lời xin lỗi không xóa hết quá khứ vẫn có thể mở cánh cửa đầu tiên cho hòa giải. Một khoản hỗ trợ khiêm tốn không thay đổi toàn bộ tương lai vẫn có thể giúp một đứa trẻ tiếp tục đi học trong một giai đoạn khó khăn. Chúng ta không cần phải có quyền năng làm lại cả thế giới mới được bắt đầu làm điều tốt. Chính sự chờ đợi một khả năng lớn lao đôi khi làm chúng ta đánh mất những cơ hội nhỏ mà Thiên Chúa đang trao. Người Samari sử dụng những gì ông có trong lúc ấy và tiếp tục tìm cách để sự chăm sóc được duy trì. Chúng ta cũng có thể bắt đầu bằng những gì đang có: một buổi chiều, một kỹ năng, một phương tiện, một mối liên hệ, một sự kiên nhẫn, một lời cầu nguyện đi kèm với việc làm. Khi nhiều người cùng đóng góp phần nhỏ của mình, một người đau khổ sẽ không còn phải đứng trước một cánh cửa duy nhất.
Việc đưa người bị nạn đến nơi có thể tiếp tục chăm sóc cho thấy lòng bác ái cần sự cộng tác. Không ai được mời gọi trở thành người cứu giúp duy nhất của tất cả mọi người. Một linh mục không thể thay thế mọi chuyên viên, một người thân không thể tự mình đáp ứng mọi nhu cầu chữa trị, một người thiện nguyện không thể gánh toàn bộ những khó khăn của một gia đình. Biết chuyển một trường hợp đến người có khả năng phù hợp không phải là thoái thác nếu việc chuyển ấy được thực hiện với trách nhiệm. Trái lại, đó có thể là một hành vi yêu thương rất đúng đắn. Có những người cần được giúp liên hệ với bệnh viện, tìm sự hỗ trợ tâm lý, được tư vấn pháp lý, được bảo vệ trước bạo lực hoặc được nối kết với những chương trình an sinh. Lòng nhiệt thành sẽ bền hơn khi biết làm việc chung. Người giúp đỡ cũng cần có thời gian nghỉ ngơi và được nâng đỡ, để không bị kiệt sức rồi trở nên cay đắng. Yêu người khác như chính mình cũng đòi chúng ta tôn trọng sự sống và những giới hạn của bản thân. Chăm sóc mình cách lành mạnh giúp chúng ta tiếp tục chăm sóc người khác bằng một trái tim sáng suốt, không mang tâm trạng oán trách rằng mọi người đã lấy đi tất cả của mình.
Nhưng có một điều khác cũng cần được nói đến: nhiều khi chính chúng ta là người đang nằm bên đường. Chúng ta thường quen hình dung mình ở vị trí người có khả năng giúp đỡ, người phải mạnh mẽ, người phải có câu trả lời. Thế rồi một biến cố xảy ra, một cơn bệnh kéo dài, một thất bại bất ngờ, một tương quan đổ vỡ, một nỗi buồn không thể gọi tên khiến chúng ta nhận ra mình không đủ sức đứng dậy. Khi ấy, sự khiêm tốn cần thiết là biết đón nhận trợ giúp. Có người đau rất lâu vì không muốn ai biết mình yếu. Có người tiếp tục làm việc quá sức vì sợ bị coi là vô dụng. Có người khép kín mọi cánh cửa vì nghĩ rằng không ai có thể hiểu. Nhưng để một người khác đến gần không nhất thiết làm chúng ta mất phẩm giá. Chúng ta không được tạo dựng để tự cứu mình trong mọi hoàn cảnh. Biết nói rằng mình đang mệt, đang sợ, đang cần được giúp là một bước can đảm. Và khi đã trải qua kinh nghiệm được ai đó kiên nhẫn nâng đỡ, chúng ta sẽ dễ hiểu hơn giá trị của sự hiện diện. Chúng ta sẽ bớt đưa ra những lời khuyên dễ dãi, bớt đòi người khác mạnh mẽ ngay lập tức, bớt coi sự hồi phục là chuyện chỉ cần cố gắng một chút. Người đã được chăm sóc trong yếu đuối có thể học được một lòng thương xót dịu dàng và sâu sắc hơn.
Trong ánh sáng đức tin, chúng ta còn có thể nhận ra Đức Kitô đang đến gần con người bị thương. Người không đứng ngoài sự mong manh của chúng ta. Người đi vào thân phận con người, mang lấy những đau đớn của đời sống, chạm đến những người bị xa lánh, nâng đỡ những người mất hy vọng, và mở cho tội nhân một con đường trở về. Khi nhìn lên thập giá, chúng ta không gặp một Thiên Chúa thờ ơ trước đau khổ. Chúng ta gặp tình yêu đã đi đến tận cùng sự trao hiến. Điều ấy không làm cho mọi câu hỏi về đau khổ lập tức biến mất, nhưng cho chúng ta một điểm tựa: trong nơi sâu nhất của sự cô độc, chúng ta vẫn có thể hướng về Đấng đã yêu mình. Người không đo giá trị của chúng ta bằng khả năng tự đứng vững. Người không chỉ đến khi chúng ta đã sửa xong cuộc đời. Người đến để cứu và chữa lành, để giúp chúng ta nhận ra sự thật, để mời chúng ta bước ra khỏi những gì đang làm mình và người khác tổn thương. Vì vậy, lòng bác ái Kitô giáo bắt đầu từ việc để mình được Đức Kitô yêu thương. Chúng ta càng ý thức rằng mình đã được đón nhận bằng lòng thương xót, càng khó có thể bình thản khước từ người khác chỉ vì họ bất toàn.
Cầu nguyện giúp chúng ta ở lại trong tình yêu ấy. Nhưng cầu nguyện không nên trở thành nơi chúng ta trú ẩn để khỏi phải nghe tiếng gọi của đời sống. Một giờ cầu nguyện chân thành có thể làm chúng ta nhận ra người mình đã đối xử bất công, công việc mình đã làm thiếu trách nhiệm, lời nói mình cần sửa lại, cuộc thăm viếng mình đã trì hoãn quá lâu. Có những lúc chúng ta mong Thiên Chúa ban bình an, nhưng bình an ấy sẽ không đến bằng việc tránh mãi một bổn phận đang chờ. Chúng ta cần đứng dậy, xin lỗi, trả lại điều không thuộc về mình, giải quyết một sự hiểu lầm, hoặc đến thăm một người đang cần. Khi tham dự Thánh lễ, chúng ta được nuôi dưỡng để bước vào đời sống với khả năng trao ban lớn hơn. Sự hiệp thông với Đức Kitô cần đi vào cách chúng ta sử dụng đôi tay, lời nói và của cải. Một người vừa đón nhận tình yêu của Người được mời gọi đem một phần sự dịu dàng ấy đến nơi mình làm việc, nơi mình trở về và nơi mình gặp người khác. Việc phụng tự và đời sống bác ái nuôi dưỡng nhau: cầu nguyện giúp tình yêu có chiều sâu; phục vụ giúp lời cầu nguyện chạm đến sự thật của cuộc đời.
Tình yêu Thiên Chúa không thể bị thu hẹp thành những cảm xúc sốt sắng trong một vài giờ phút đặc biệt. Yêu mến Người bằng cả lòng, cả sức lực, cả trí khôn và cả con người nghĩa là để Người đi vào những vùng chúng ta còn muốn giữ riêng. Đó có thể là cách tiêu tiền, cách sử dụng quyền lực, cách phản ứng khi bị xúc phạm, cách đối xử với người làm việc cho mình, cách giữ sự trung thực trong một giao dịch. Chúng ta dễ dâng cho Thiên Chúa những điều đẹp đẽ mà không muốn trao cho Người quyền thay đổi những thói quen gây tổn thương. Nhưng tình yêu toàn vẹn đòi một sự thống nhất dần dần giữa điều chúng ta tuyên xưng và điều chúng ta thực hiện. Không ai đạt được sự thống nhất ấy trong một ngày. Chúng ta sẽ còn vấp ngã, còn nóng nảy, còn bỏ lỡ những cơ hội. Điều quan trọng là đừng làm hòa với sự vô cảm như thể đó là điều không thể thay đổi. Mỗi lần nhận ra mình đã đi qua một người mà không quan tâm, chúng ta có thể trở lại. Có những cuộc gọi vẫn còn kịp thực hiện. Có những lời xin lỗi vẫn còn kịp nói. Có những người vẫn đang chờ. Sự hoán cải đôi khi bắt đầu rất đơn giản: hôm nay tôi sẽ không tiếp tục giả vờ rằng mình không thấy.
Chúng ta cũng cần học một cách giúp đỡ không làm người khác xấu hổ. Có thể một món quà rất cần thiết lại trở nên nặng nề nếu đi kèm những lời nhắc công. Có thể một sự trợ giúp đáng quý bị làm mất vẻ đẹp bởi thái độ khoe khoang. Có thể một người đang khó khăn phải chịu thêm đau đớn vì chuyện riêng của họ được kể khắp nơi như thành tích của người giúp. Lòng bác ái tế nhị biết giữ lại những điều không cần phơi bày. Nó không ép người được giúp phải trình diễn lòng biết ơn. Nó không dùng hoàn cảnh của họ để nâng mình lên. Nó sẵn sàng lùi lại khi họ đã có thể tự đứng vững. Điều chúng ta mong muốn là người ấy được sống tốt hơn, chứ không phải họ mãi nhớ mình như một ân nhân không thể quên. Có những hành vi yêu thương lớn nhất diễn ra trong thầm lặng: một người kín đáo trả phần học phí còn thiếu, một người đều đặn đưa bệnh nhân đi khám, một người sửa lại lời đồn sai về người khác mà không đợi được cảm ơn, một người giữ bí mật cho ai đó đang cố gắng làm lại cuộc đời. Những việc ấy có thể không được nhiều người biết đến, nhưng chúng tạo ra một khoảng không gian an toàn để con người phục hồi.
Điều làm cho một người trở nên thân cận không chỉ là khoảng cách địa lý hay quan hệ huyết thống, mà còn là sự lựa chọn đến gần bằng lòng thương xót. Chúng ta có thể sống rất gần nhau mà vẫn xa nhau vì không ai chịu lắng nghe. Chúng ta cũng có thể gặp nhau lần đầu mà đã trở thành điểm tựa cho nhau trong một thời khắc quyết định. Vì thế, thay vì chỉ hỏi ai phải được mình quan tâm, chúng ta cần hỏi mình đang trở thành người thế nào đối với những ai gặp mình. Một người có thể yên tâm nhờ tôi giúp không? Một người làm sai có thể đến gặp tôi để nói thật không? Một người yếu đuối có thể khóc trước mặt tôi mà không sợ bị khinh thường không? Một người nghèo có thể bước vào nhà tôi mà không thấy mình bị hạ thấp không? Một người khác quan điểm có thể được tôi đối xử tử tế không? Những câu hỏi ấy không nhằm khiến chúng ta trở nên dễ dãi với mọi điều. Chúng giúp chúng ta xây dựng một sự hiện diện có lòng nhân hậu, nơi sự thật được nói ra mà con người vẫn được tôn trọng, nơi trách nhiệm được giữ vững mà người yếu thế vẫn có chỗ nương tựa.
Không phải lúc nào lòng tốt cũng được đáp lại bằng lòng biết ơn. Có người chúng ta giúp rồi sẽ quên. Có người hiểu lầm thiện ý. Có người chưa thay đổi như chúng ta mong đợi. Có người quay trở lại với những lựa chọn cũ. Những điều ấy có thể khiến chúng ta mệt mỏi và thất vọng. Chúng ta cần học hỏi từ kinh nghiệm, điều chỉnh cách giúp, giữ những giới hạn cần thiết, nhưng đừng để một lần thất vọng làm mình kết luận rằng chẳng ai đáng được quan tâm nữa. Trái tim có thể trở nên khô cứng khi chúng ta cứ lặp lại những câu chuyện bị phụ lòng mà không cho nó nhìn thấy những điều tốt vẫn đang diễn ra. Tình yêu đòi sự khôn ngoan, nhưng cũng đòi một sự bền bỉ vượt qua nhu cầu phải thấy kết quả ngay. Một người được nâng đỡ hôm nay có thể cần rất lâu mới đủ sức thay đổi. Một lời tử tế có thể được nhớ lại vào lúc chúng ta không còn biết đến. Một việc làm chân thành có thể trở thành điểm tựa âm thầm cho một người qua nhiều năm. Chúng ta không kiểm soát được tất cả hoa trái của điều thiện. Phần của chúng ta là hành động với trách nhiệm, giữ lòng trong sáng, và phó thác những điều vượt quá khả năng mình cho Thiên Chúa.
Khi nhìn lại cuộc đời, có lẽ chúng ta sẽ nhận ra những ký ức ấm áp nhất thường gắn với những người đã có mặt đúng lúc. Một bàn tay đỡ mình trong cơn bệnh. Một người ngồi bên khi mình không biết nói gì. Một người không bỏ đi sau khi nghe những yếu đuối thật sự của mình. Một người nhắc mình rằng thất bại chưa phải là dấu chấm hết. Một người âm thầm giúp khi mình không còn biết phải xoay xở ra sao. Những sự hiện diện ấy có thể không làm thay đổi mọi hoàn cảnh, nhưng đã thay đổi cách chúng ta đi qua hoàn cảnh. Chúng giúp chúng ta không phải đi một mình. Và hôm nay, chính chúng ta có thể trở thành sự hiện diện ấy cho một người khác. Không nhất thiết phải là một việc lớn. Có thể chỉ là đến sớm hơn một chút để giúp người đang tất bật; ở lại lâu hơn một chút để nghe người đang buồn; nói nhẹ hơn một chút với người đang căng thẳng; kiên nhẫn hơn một chút với người già; chủ động hơn một chút trước một hoàn cảnh bị bỏ quên. Những điều nhỏ ấy, khi được thực hiện bằng tình yêu thật, có sức làm cho cuộc sống bớt lạnh.
Rồi sẽ đến ngày những lịch hẹn dày đặc không còn quan trọng, những thành tích không còn đủ sức nâng đỡ chúng ta, những lời khen không còn giữ được, những điều đã sở hữu phải được trao lại. Nhưng tình yêu đã sống không mất đi ý nghĩa. Nó đã đi vào sự sống của những người được nâng đỡ, vào những tương quan được chữa lành, vào những quyết định tốt đẹp được khơi dậy. Vì thế, chuẩn bị cho sự sống đời đời cũng là học cách sống hôm nay với một trái tim có khả năng trao ban. Chúng ta không cứu mình bằng cách tích lũy công trạng, nhưng đáp lại ơn cứu độ bằng một đời sống được mở ra cho Thiên Chúa và tha nhân. Mỗi hành vi bác ái chân thành là một bước để lòng mình bớt bị giam giữ trong ích kỷ. Mỗi lần dám đến gần một người đau khổ là một cơ hội để chúng ta học cách yêu. Mỗi lần chọn sự công bằng thay vì lợi ích bất chính là một cách để tình yêu có hình dạng trong đời sống. Và mỗi lần trở về với Thiên Chúa sau một thiếu sót, chúng ta lại được trao khả năng bắt đầu.
Hôm nay, trước khi nghĩ đến những công việc lớn lao, chúng ta có thể dành một khoảng lặng để nhớ đến một con người cụ thể. Người ấy có thể là cha mẹ đã lâu chưa được thăm, một người thân đang chịu đựng trong im lặng, một người hàng xóm vừa gặp biến cố, một người trong cộng đoàn đã nhiều tuần vắng mặt, một nhân viên đang khó khăn, một người mình từng làm tổn thương. Hãy để khuôn mặt ấy hiện lên rõ ràng trong lòng. Rồi hãy làm một điều có thể thực hiện được: gọi điện, đến thăm, xin lỗi, hỏi xem họ cần gì, hỗ trợ một việc, tìm người cùng giúp, hoặc sắp xếp một cuộc gặp có đủ thời gian để lắng nghe. Đừng để sự xúc động chỉ sống trong vài phút rồi biến mất giữa những bận rộn. Một quyết định cụ thể sẽ giữ cho lòng thương xót không tan đi. Có thể sau việc ấy, mọi vấn đề chưa được giải quyết. Nhưng ít nhất, một người sẽ biết rằng họ không hoàn toàn bị bỏ lại. Và chính chúng ta cũng sẽ bước ra khỏi một phần sự khép kín của mình.
Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con nhận ra những người đang đau khổ trên con đường mỗi ngày chúng con đi qua. Xin cho chúng con đủ khiêm tốn để thú nhận những lần đã thấy mà không muốn đến gần, đã biết mà không muốn hành động, đã có thể giúp mà vẫn giữ lại thời giờ và sức lực cho riêng mình. Xin chữa lành nơi chúng con những thành kiến, sự nóng nảy và thói quen vội vàng xét đoán. Xin dạy chúng con lắng nghe trước khi khuyên bảo, tôn trọng trước khi giúp đỡ, tìm hiểu trước khi kết luận, và hành động khi một người đang cần sự nâng đỡ. Xin cho gia đình chúng con có những lời dịu dàng, những trách nhiệm được chia sẻ, những lời xin lỗi chân thành và những cánh cửa biết mở ra. Xin cho cộng đoàn chúng con biết nhớ đến người vắng mặt, biết đón nhận người xa lạ, biết chăm sóc người yếu thế và biết cùng nhau tìm những cách phục vụ thích hợp. Khi chính chúng con bị thương, xin ban cho chúng con can đảm đón nhận sự trợ giúp và tin rằng mình vẫn được yêu thương. Xin giữ chúng con ở lại trong tình yêu Chúa, để sau mỗi giờ cầu nguyện, chúng con có thể bước vào cuộc sống với đôi tay sẵn sàng hơn và trái tim rộng mở hơn. Và khi gặp một người đang cần được nâng dậy, xin đừng để chúng con chỉ nghĩ đến điều mình sẽ mất nếu dừng lại; xin giúp chúng con nhận ra sự sống đang được trao vào trách nhiệm của mình, rồi làm điều tốt có thể làm ngay hôm nay. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.