Phụng vụ Thánh Lễ – Lời nguyện – Chia sẻ (Youtube & văn bản) Thánh Co-nê-li-ô, giáo hoàng, tử đạo và thánh Síp-ri-a-nô, giám mục, tử đạo – Lm. Anmai, CSsR

15

Thứ Tư tuần 24 TN HÃY TRỞ THÀNH DẤU CHỈ SỐNG ĐỘNG CỦA ĐỨC KITÔ – Lm. Anmai, CSsR

Thứ tư tuần 24 TN XIN CHO TẤT CẢ NÊN MỘT – HIỆP NHẤT KHÔNG PHẢI LÀ … Lm. Anmai, CSsR

LỜI NGUYỆN SÁNG – KÍNH THÁNH CO-NÊ-LI-Ô, GIÁO HOÀNG, TỬ ĐẠO VÀ THÁNH SÍP-RI-A-NÔ, GIÁM MỤC, TỬ ĐẠO
Lạy Chúa Giêsu, trong buổi sáng hôm nay, khi Hội Thánh hân hoan kính nhớ Thánh Co-nê-li-ô, giáo hoàng, tử đạo và Thánh Síp-ri-a-nô, giám mục, tử đạo, chúng con được nghe lại lời cầu nguyện tha thiết của Chúa dâng lên Chúa Cha trước giờ bước vào cuộc Thương Khó: “Lạy Cha chí thánh, xin gìn giữ các môn đệ trong danh Cha… để họ nên một như chúng ta.” Lạy Chúa, lời cầu nguyện ấy đã trải qua bao thế kỷ nhưng vẫn còn vang vọng giữa lòng Hội Thánh hôm nay. Chúa không xin Chúa Cha cất các môn đệ ra khỏi một thế giới đầy thử thách, chống đối và bóng tối; Chúa chỉ xin Cha gìn giữ họ khỏi sự dữ, gìn giữ họ trong chân lý, gìn giữ họ trong tình yêu và hiệp nhất. Chính trong lời cầu nguyện ấy, chúng con nhận ra con đường mà hai thánh tử đạo Co-nê-li-ô và Síp-ri-a-nô đã bước đi: giữa bách hại, chia rẽ, hiểu lầm và những thử thách nặng nề của Hội Thánh sơ khai, các ngài đã không tìm sự an toàn cho riêng mình, nhưng trung thành gìn giữ đoàn chiên, bảo vệ sự hiệp nhất và làm chứng cho Đức Kitô bằng chính mạng sống.
Lạy Chúa, xin cho chúng con hiểu rằng thuộc về Chúa không có nghĩa là chạy trốn khỏi thế gian, nhưng là sống giữa thế gian với một trái tim không thuộc về tinh thần thế gian. Xin gìn giữ chúng con khỏi sự ích kỷ, kiêu căng, hơn thua, xét đoán và chia rẽ; khỏi những lời nói làm tổn thương tình hiệp thông; khỏi những lựa chọn chỉ tìm lợi ích cho bản thân mà quên mất anh chị em. Xin lấy sự thật mà thánh hiến chúng con, bởi Lời Chúa là sự thật. Xin cho chúng con biết yêu mến chân lý hơn danh dự, yêu sự hiệp nhất hơn ý riêng, yêu Hội Thánh hơn những thành kiến và sở thích cá nhân của mình. Nhờ lời chuyển cầu của Thánh Co-nê-li-ô và Thánh Síp-ri-a-nô, xin ban cho Đức Giáo Hoàng, các giám mục, linh mục và mọi thành phần Dân Chúa lòng can đảm gìn giữ đức tin tông truyền, sự khôn ngoan trong những lúc khó khăn và trái tim của người mục tử không bỏ rơi đoàn chiên khi gặp thử thách.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã nói: “Như Cha đã sai con đến thế gian, thì con cũng sai họ đến thế gian.” Hôm nay, xin lại sai chúng con đi. Xin cho mỗi công việc, mỗi cuộc gặp gỡ, mỗi lời nói và mỗi hy sinh âm thầm trong ngày sống của chúng con trở thành một chứng tá nhỏ bé cho Tin Mừng. Khi phải chịu hiểu lầm, xin cho chúng con biết hiền hòa; khi bị chống đối, xin cho chúng con biết kiên trì; khi đau khổ, xin cho chúng con không mất niềm tin; khi đứng trước những chọn lựa khó khăn, xin cho chúng con luôn chọn điều đẹp lòng Chúa. Xin cho chúng con biết thánh hiến chính mình mỗi ngày bằng việc trung thành với bổn phận, yêu thương những người khó yêu, tha thứ những người làm mình đau và can đảm làm điều đúng dù phải trả giá.
Lạy Cha chí thánh, xin gìn giữ chúng con trong danh Cha. Xin cho gia đình chúng con được hiệp nhất, cộng đoàn chúng con được hiệp nhất và toàn thể Hội Thánh được nên một trong Đức Kitô. Xin cho máu các thánh tử đạo tiếp tục trở thành hạt giống làm nảy sinh đức tin, lòng trung thành và tình bác ái giữa thế giới hôm nay. Xin cho chúng con, sau một ngày sống giữa biết bao bận rộn và thử thách, vẫn có thể trở về với Chúa với tâm hồn bình an và thưa rằng: con đã cố gắng sống trong sự thật, con đã cố gắng giữ gìn tình hiệp nhất, con đã cố gắng không thuộc về tinh thần thế gian nhưng thuộc trọn về Chúa. Và khi hành trình trần thế kết thúc, xin đón chúng con vào niềm vui viên mãn mà Chúa đã cầu xin cho các môn đệ: niềm vui được ở lại đời đời trong tình yêu của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Amen.
Lm. Anmai, CSsR

: Ngày 16/9: Thánh Co-nê-li-ô – Giáo hoàng và Thánh Síp-ri-a-nô – Giám mục, Tử đạo
Ca nhập lễ
Vị thánh này đã chiến đấu đến chết vì lề luật Chúa, và không sợ hãi lời đe dọa của những kẻ gian ác, vì người đã được xây dựng trên tảng đá vững chắc.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Chúa, Chúa đã ban cho dân Chúa hai vị mục tử nhiệt thành và cũng là những chứng nhân bất khuất là thánh Co-nê-li-ô và thánh Síp-ri-a-nô. Xin nhận lời hai thánh chuyển cầu, cho chúng con can trường giữ vững đức tin và không ngừng hoạt động cho Giáo Hội được hiệp nhất. Chúng con cầu xin…
Bài đọc
Bài đọc 1
Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giê-su.
Bài trích thư thứ hai của thánh Phao-lô tông đồ gửi tín hữu Cô-rin-tô.
7 Thưa anh em, chúng tôi mang sứ vụ tông đồ nơi mình như chứa đựng kho tàng trong những bình sành, để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi. 8 Chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp ; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng ; 9 bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi ; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt. 10 Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giê-su, để sự sống của Đức Giê-su cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi. 11 Thật vậy, tuy sống, chúng tôi hằng bị cái chết đe doạ vì Đức Giê-su, để sự sống của Đức Giê-su cũng được biểu lộ nơi thân xác phải chết của chúng tôi. 12 Như thế, sự chết hoạt động nơi chúng tôi, còn sự sống thì lại hoạt động nơi anh em.
13 Vì có được cùng một lòng tin, như đã chép : Tôi đã tin, nên tôi mới nói, thì chúng tôi cũng tin, nên chúng tôi mới nói. 14 Quả thật, chúng tôi biết rằng Đấng đã làm cho Chúa Giê-su trỗi dậy cũng sẽ làm cho chúng tôi được trỗi dậy với Chúa Giê-su, và đặt chúng tôi bên hữu Người cùng với anh em. 15 Thật vậy, tất cả những điều ấy xảy ra là vì anh em. Như thế, ân sủng càng dồi dào, thì càng có đông người hơn dâng lên Thiên Chúa muôn ngàn lời cảm tạ, để tôn vinh Người.
Đáp ca
Đ.Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống,
mùa gặt mai sau khấp khởi mừng.
1Khi Chúa dẫn tù nhân Xi-on trở về,
ta tưởng mình như giữa giấc mơ.2abVang vang ngoài miệng câu cười nói,
rộn rã trên môi khúc nhạc mừng.
Đ.Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống,
mùa gặt mai sau khấp khởi mừng.
2cdBấy giờ trong dân ngoại, người ta bàn tán :
“Việc Chúa làm cho họ, vĩ đại thay !”3Việc Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại !
Ta thấy mình chan chứa một niềm vui.
Đ.Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống,
mùa gặt mai sau khấp khởi mừng.
4Lạy Chúa, xin dẫn tù nhân chúng con về,
như mưa dẫn nước về suối cạn miền Nam.5Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống,
mùa gặt mai sau khấp khởi mừng.
Đ.Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống,
mùa gặt mai sau khấp khởi mừng.
6Họ ra đi, đi mà nức nở,
mang hạt giống vãi gieo ;
lúc trở về, về reo hớn hở,
vai nặng gánh lúa vàng.
Đ.Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống,
mùa gặt mai sau khấp khởi mừng.
Tung hô Tin Mừng
Ha-lê-lui-a. Ha-lê-lui-a. Chúc tụng Thiên Chúa là Cha giàu lòng từ bi lân ái, và là Thiên Chúa hằng sẵn sàng nâng đỡ ủi an. Người luôn nâng đỡ ủi an chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách. Ha-lê-lui-a.
Tin Mừng
Thế gian đã ghét họ.
✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Gio-an.
11b Khi ấy, Đức Giê-su ngước mắt lên trời và cầu nguyện rằng : “Lạy Cha chí thánh, xin gìn giữ các môn đệ trong danh Cha mà Cha đã ban cho con, để họ nên một như chúng ta. 12 Khi còn ở với họ, con đã gìn giữ họ trong danh Cha mà Cha đã ban cho con. Con đã canh giữ, và không một ai trong họ phải hư mất, trừ đứa con hư hỏng, để ứng nghiệm lời Kinh Thánh. 13 Bây giờ, con đến cùng Cha, và con nói những điều này lúc còn ở thế gian, để họ được hưởng trọn vẹn niềm vui của con. 14 Con đã truyền lại cho họ lời của Cha, và thế gian đã ghét họ, vì họ không thuộc về thế gian, cũng như con đây không thuộc về thế gian. 15 Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần. 16 Họ không thuộc về thế gian cũng như con đây không thuộc về thế gian. 17 Xin Cha lấy sự thật mà thánh hiến họ. Lời Cha là sự thật. 18 Như Cha đã sai con đến thế gian, thì con cũng sai họ đến thế gian. 19 Vì họ, con xin thánh hiến chính mình con, để nhờ sự thật, họ cũng được thánh hiến.”

Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin chấp nhận của lễ chúng con dâng tiến, để kính nhớ ngày các chứng nhân của Chúa chịu tử hình. Chính của lễ này, xưa đã làm cho các thánh Co-nê-li-ô, và Síp-ri-a-nô nên can trường trong cơn bách hại, nay xin cũng làm cho chúng con vững lòng bền chí những khi gặp thử thách gian nan. Chúng con cầu xin…
Lời Tiền Tụng

Lạy Chúa là Cha chí thánh, là Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con tạ ơn Chúa mọi nơi mọi lúc, thật là chính đáng, phải đạo và đem lại ơn cứu độ cho chúng con.
Vì Chúa được các thánh của Chúa dâng lời ca ngợi, và những gì liên quan tới cuộc khổ nạn của các ngài, đều là công trình kỳ diệu của quyền năng Chúa là Ðấng ban cho các ngài được cháy lửa đức tin, thôi thúc các ngài bền đỗ đến cùng, và ban tặng vinh thắng trong cuộc chiến của các ngài, nhờ Ðức Ki-tô, Chúa chúng con.
Bởi đó, mọi loài trên trời dưới đất hát bài ca mới thờ lạy Chúa, và cùng với toàn thể đạo binh các Thiên thần, chúng con không ngừng tung hô Chúa rằng:
Thánh! Thánh! Thánh!…

Ca hiệp lễ
Chúa phán: Nếu ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình đi, và vác thập giá mình mà theo Thầy.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, Chúa vừa cho chúng con tham dự bí tích Thánh Thể. Xin cũng ban cho chúng con biết noi gương hai thánh Co-nê-li-ô và Síp-ri-a-nô mà nên mạnh mẽ nhờ sức mạnh của Thần Khí để làm chứng cho chân lý Tin Mừng. Chúng con cầu xin…


ĐỂ TẤT CẢ NÊN MỘT – HIỆP NHẤT KHÔNG PHẢI LÀ GIỐNG NHAU, NHƯNG LÀ CÙNG THUỘC VỀ ĐỨC KITÔ
Có lẽ một trong những lời cầu nguyện cảm động nhất của Đức Giêsu không phải là lời Người cầu xin cho chính mình thoát khỏi đau khổ, cũng không phải là lời Người xin Chúa Cha làm cho các môn đệ thành công, nổi tiếng hay được thế gian kính trọng, nhưng là lời cầu nguyện được thốt lên vào chính đêm trước cuộc thương khó: “Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào Con, để tất cả nên một.” Khi đọc lại lời cầu nguyện ấy, chúng ta phải dừng lại thật lâu, bởi vì trong lời cầu nguyện của Đức Giêsu hôm đó có tên của từng người chúng ta. Người đã nghĩ đến Hội Thánh của nhiều thế kỷ sau. Người đã nghĩ đến những cộng đoàn Kitô hữu còn chưa hình thành. Người đã nghĩ đến những linh mục, tu sĩ, giáo lý viên, những người cha người mẹ, những người trẻ, những người già, những người sẽ tin nhờ lời chứng của những thế hệ đi trước. Đức Giêsu đã nghĩ đến chúng ta trước khi chúng ta xuất hiện trên đời. Và điều Người tha thiết xin cho chúng ta là: xin cho họ nên một. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã đặt chính lời nguyện này ở trung tâm bài giảng của ngài tại Los Angeles ngày 16 tháng 9 năm 1987, khi ngài nhắc rằng mỗi thế hệ môn đệ đều được bao gồm trong lời cầu nguyện tư tế của Đức Kitô.
Điều đó thật đáng suy nghĩ. Trước giờ chịu chết, Đức Giêsu không để lại cho Hội Thánh một chiến lược quảng bá, một mô hình quản trị, một bí quyết để trở thành tổ chức mạnh nhất thế giới. Người để lại cho Hội Thánh một lời cầu nguyện về hiệp nhất. Bởi vì Người biết rất rõ một Hội Thánh có thể có những nhà thờ thật lớn, những cơ sở thật đẹp, những chương trình thật hoành tráng, những phương tiện truyền thông thật hiện đại, những con người thật tài giỏi, nhưng nếu bên trong chia rẽ, nghi kỵ, ganh tị, phe phái, tranh quyền và loại trừ nhau, thì Hội Thánh ấy sẽ mất đi sức mạnh của chứng tá. Chúng ta có thể nói về tình yêu rất hay mà không yêu được người sống bên cạnh mình. Chúng ta có thể giảng về tha thứ rất hùng hồn mà giữ mãi một mối hận trong lòng. Chúng ta có thể tổ chức rất nhiều hoạt động mục vụ nhân danh Chúa nhưng lại không chịu cộng tác với nhau chỉ vì tự ái, vì khác quan điểm, vì khác thế hệ, vì khác vùng miền, vì không cùng một nhóm. Chính vì thế, trước khi bước vào cuộc thương khó, Đức Giêsu đã cầu nguyện: “Lạy Cha, xin cho họ nên một.”
Nhưng “nên một” không có nghĩa là tất cả phải giống nhau. Đây là điều rất quan trọng. Hiệp nhất không phải đồng phục. Hiệp nhất không phải là mọi người phải nói giống nhau, nghĩ giống nhau trong tất cả những vấn đề phụ thuộc, có cùng tính cách, cùng sở thích, cùng cách làm việc, cùng một lịch sử, cùng một văn hóa. Nếu Thiên Chúa muốn mọi người giống hệt nhau, Người đã chẳng dựng nên nhân loại với bao khuôn mặt, ngôn ngữ, khả năng, tính khí và lịch sử khác nhau. Chính Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nhấn mạnh rằng sự hiệp nhất của Hội Thánh không xóa bỏ sự đa dạng nhưng làm cho sự đa dạng được phát triển, bởi cùng một Thánh Thần vừa là nguồn mạch của hiệp nhất vừa ban phát nhiều đặc sủng, ơn gọi và tác vụ khác nhau trong một Thân Thể Đức Kitô. Đây là một chân lý rất đẹp: người khác tôi không nhất thiết là người chống lại tôi. Người suy nghĩ khác tôi không đương nhiên là kẻ thù của tôi. Người có một cách phục vụ khác tôi không có nghĩa là người ấy đang phá hoại công việc của tôi. Trong Hội Thánh, điều quan trọng không phải là mọi người trở thành bản sao của nhau, nhưng là tất cả cùng để Đức Kitô trở thành trung tâm.
Một dàn hợp xướng không hay vì tất cả mọi người hát cùng một bè. Chính nhờ có nhiều bè khác nhau mà bản nhạc trở nên phong phú. Nhưng dù nhiều bè, tất cả đều phải theo cùng một bản nhạc, cùng một nhịp, cùng một người điều khiển. Hội Thánh cũng vậy. Người này có khả năng giảng dạy; người kia âm thầm phục vụ. Người này năng động; người kia trầm lặng. Người này hoạt động bác ái; người kia chuyên lo cầu nguyện. Người này làm việc với giới trẻ; người kia đồng hành với người già. Người này có khả năng tổ chức; người kia có khả năng lắng nghe những tâm hồn đau khổ. Không ai có tất cả. Không ai là tất cả. Nhưng mỗi người đều có thể trao phần nhỏ bé của mình để xây dựng Thân Thể Đức Kitô. Tai không cần trở thành mắt. Tay không cần trách chân rằng tại sao chân không làm được việc của tay. Khi mỗi phần tử biết mình thuộc về cùng một Thân Thể, sự khác biệt không còn là đe dọa mà trở thành quà tặng.
Bi kịch bắt đầu khi chúng ta biến sự khác biệt thành cạnh tranh. Khi ấy người phục vụ không còn nhìn người khác như anh chị em, nhưng như đối thủ. Một người thành công thì người khác buồn. Một người được khen thì người khác khó chịu. Một nhóm phát triển thì nhóm khác cảm thấy bị đe dọa. Một người được giao trách nhiệm thì người khác tìm lỗi. Có khi chúng ta không nói ra, nhưng tận sâu trong lòng lại có một thứ ganh tị rất tinh vi: “Tại sao lại là người ấy mà không phải tôi?” Chính trong những khoảnh khắc ấy chúng ta cần trở lại Nhà Tiệc Ly và nghe Đức Giêsu đang cầu nguyện: “Xin cho họ nên một.” Người không xin chúng ta chiến thắng nhau. Người xin chúng ta yêu nhau. Người không xin chúng ta chứng minh ai quan trọng hơn. Người xin chúng ta cùng nhau làm cho Chúa Cha được nhận biết.
Có một chi tiết thật sâu sắc trong lời nguyện của Đức Giêsu: Người không chỉ cầu xin cho các môn đệ hiệp nhất để họ sống với nhau dễ chịu hơn. Người còn nói: “để thế gian tin rằng Cha đã sai Con.” Như thế, sự hiệp nhất của Kitô hữu có liên hệ trực tiếp với việc loan báo Tin Mừng. Thế giới có thể không đọc Kinh Thánh. Rất nhiều người không bao giờ mở một cuốn giáo lý. Có người sẽ không bước chân vào nhà thờ. Nhưng họ quan sát cách những người mang danh Kitô hữu đối xử với nhau. Họ nhìn gia đình Công giáo sống thế nào. Họ nhìn linh mục đối xử với giáo dân ra sao. Họ nhìn những người làm việc trong giáo xứ có tôn trọng nhau không. Họ nhìn xem người Công giáo có biết tha thứ không, có biết nâng người sa ngã dậy không, có biết đón nhận người khác biệt không. Và nhiều khi trước khi nghe một bài giảng, người ta đã “đọc” Hội Thánh qua đời sống của chúng ta.
Một cộng đoàn biết yêu nhau là một bài giảng không cần micro. Một gia đình biết tha thứ là một bài giáo lý sống động. Một giáo xứ trong đó người già và người trẻ biết kính trọng nhau là một chứng từ. Một linh mục biết cộng tác với anh em linh mục khác là một lời loan báo Tin Mừng. Một người Công giáo biết đối xử tử tế với người không cùng quan điểm với mình là một trang Tin Mừng đang mở. Ngược lại, những cuộc chia rẽ, nói xấu, phe nhóm, đấu đá và loại trừ trong cộng đoàn có thể phá hủy trong vài phút những gì chúng ta mất nhiều năm để xây dựng.
Chính vì thế, hiệp nhất không phải chuyện trang trí. Hiệp nhất thuộc về căn tính của Hội Thánh. Hội Thánh không hiệp nhất chỉ vì một tổ chức cần đoàn kết để hoạt động hiệu quả. Hội Thánh hiệp nhất bởi nguồn gốc của mình nằm trong chính sự hiệp thông của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Đức Giêsu cầu xin: “Như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, xin cho họ cũng ở trong chúng ta.” Mẫu mực của hiệp nhất Kitô giáo chính là Ba Ngôi Thiên Chúa. Ba Ngôi không lẫn lộn nhưng không phân chia. Chúa Cha không phải Chúa Con. Chúa Con không phải Chúa Thánh Thần. Mỗi Ngôi vị là chính mình trọn vẹn, nhưng tất cả sống trong một sự trao ban tình yêu tuyệt đối. Vì thế, càng tiến gần Thiên Chúa, con người càng phải tiến gần nhau. Nếu đời sống đạo của chúng ta càng lâu mà lòng mình càng hẹp, càng khó tha thứ, càng hay kết án, càng muốn loại trừ người khác, thì cần tự hỏi: mình đang tiến gần Thiên Chúa hay chỉ đang tiến gần một hình ảnh Thiên Chúa do chính mình tạo ra?
Các thánh Cornêliô và Cyprianô mà Hội Thánh kính nhớ là một minh họa tuyệt đẹp cho điều ấy. Hai vị sống trong thế kỷ thứ ba, trong một giai đoạn Hội Thánh vừa bị bách hại từ bên ngoài vừa đau đớn vì chia rẽ bên trong. Đức Giáo hoàng Cornêliô mang trách nhiệm mục tử của Hội Thánh hoàn vũ; thánh Cyprianô là Giám mục Carthage, chăm sóc một Giáo hội địa phương. Hai con người khác nhau về bối cảnh, trách nhiệm và tính khí, nhưng cùng yêu một Hội Thánh và cùng thao thức bảo vệ sự hiệp nhất đức tin. Đức Gioan Phaolô II đã dùng chính chứng tá của hai vị để nhấn mạnh mối dây giữa sự hiệp thông của các Giáo hội địa phương và sự hiệp thông với người kế vị thánh Phêrô.
Cuộc đời các ngài cũng cho chúng ta hiểu một điều rất thực tế: bảo vệ sự hiệp nhất đôi khi đau hơn chịu bách hại. Kẻ thù ở bên ngoài thường dễ nhận diện; những rạn nứt trong lòng cộng đoàn mới khó chữa lành. Thời Cornêliô và Cyprianô, một trong những vấn đề gay gắt là thái độ đối với những Kitô hữu vì sợ hãi trong thời bách hại đã chối bỏ hoặc thỏa hiệp đức tin rồi sau đó muốn trở về. Phải xử lý thế nào? Quá nghiêm khắc thì đóng cửa lòng thương xót. Quá dễ dãi thì xem nhẹ sự trung tín. Hội Thánh phải tìm con đường vừa giữ sự thật vừa mở cửa cho người thống hối. Đó cũng là thách đố của Hội Thánh mọi thời: làm sao trung thành mà không khắc nghiệt; làm sao thương xót mà không biến thương xót thành dễ dãi; làm sao bảo vệ giáo lý mà vẫn cúi xuống với con người đang bị thương.
Đó là bài học chúng ta đặc biệt cần trong một thời đại rất dễ phân cực. Ngày nay người ta có thể vì một khác biệt rất nhỏ mà chia nhau thành hai chiến tuyến. Mạng xã hội càng làm tình trạng ấy mạnh hơn. Một câu nói có thể bị cắt khỏi bối cảnh. Một hình ảnh có thể làm bùng lên tranh cãi. Một ý kiến khác biệt có thể nhanh chóng biến người anh em thành kẻ đối đầu. Người ta không còn hỏi: “Điều người ấy nói đúng hay sai ở điểm nào?” nhưng lập tức hỏi: “Người ấy thuộc phe nào?” Và khi đã dán nhãn một người vào một phe, chúng ta gần như không còn muốn lắng nghe nữa. Điều nguy hiểm là tinh thần ấy có thể len vào cả cộng đoàn Hội Thánh. Chúng ta có thể vô tình đem cách tranh giành của thế gian vào Nhà Chúa.
Đức Giêsu không lập Hội Thánh thành một câu lạc bộ của những người giống nhau. Hội Thánh là mái nhà của những con người rất khác nhau được cứu chuộc bởi cùng một Máu. Trong nhà ấy có Phêrô nóng nảy, Gioan sâu sắc, Tôma hay đặt câu hỏi, Mátthêu từng là người thu thuế, Simon thuộc nhóm nhiệt thành. Chúa không loại tất cả những khác biệt ấy rồi mới lập Nhóm Mười Hai. Người gọi chính những con người khác nhau ấy và dạy họ trở thành anh em. Và điều kỳ diệu nhất của Hội Thánh không phải là trong Hội Thánh không có khác biệt. Điều kỳ diệu là những con người vốn rất khác nhau có thể quỳ bên nhau trước cùng một bàn thờ, cùng đọc một Kinh Lạy Cha, cùng lãnh nhận một Tấm Bánh, cùng gọi Thiên Chúa là Cha.
Thánh Thể vì thế là trường học tuyệt vời nhất của hiệp nhất. Chúng ta không đến bàn tiệc Thánh Thể với tư cách những cá nhân biệt lập. Chúng ta đến như một thân thể. Tấm Bánh được bẻ ra nhưng làm cho những người đang phân tán trở thành một. Thật nghịch lý nếu một người lãnh nhận Thân Mình Đức Kitô nhưng lại muốn xé nát Thân Thể Đức Kitô bằng lời nói, bằng thành kiến, bằng sự căm ghét anh em. Không thể nói “Amen” trước Mình Thánh Chúa rồi bước ra ngoài và nói “không” với người anh em. Mỗi Thánh lễ đều đặt trước lương tâm chúng ta một câu hỏi: ta có thực sự muốn trở thành điều ta vừa lãnh nhận không? Ta lãnh nhận Thân Mình Đức Kitô, vậy ta có sẵn sàng xây dựng Thân Thể Đức Kitô không?
Có những lúc xây dựng hiệp nhất đòi người ta phải chấp nhận mình thua một chút. Thua một câu nói. Thua một cuộc tranh luận. Thua một phần danh dự. Thậm chí phải chịu bị hiểu lầm. Nhiều người nghĩ rằng muốn bảo vệ chân lý thì nhất định phải thắng. Nhưng trong Tin Mừng, Đức Giêsu đã cứu thế giới không bằng cách thắng một cuộc tranh luận mà bằng cách chấp nhận bị treo trên thập giá. Đôi khi trong đời sống cộng đoàn, câu hỏi không phải là “ai đúng hoàn toàn?” mà còn là “đâu là cách hành xử giúp người anh em được cứu, giúp cộng đoàn được chữa lành và giúp Đức Kitô được nhận biết?”
Dĩ nhiên hiệp nhất không có nghĩa là im lặng trước sai trái. Đức Gioan Phaolô II nhấn mạnh rất rõ rằng khi loan báo Tin Mừng cho những nền văn hóa khác nhau, Hội Thánh phải biết dùng ngôn ngữ và những hình thức người ta có thể hiểu, nhưng không bao giờ được phản bội nội dung thiết yếu của Tin Mừng. Hội nhập văn hóa không phải pha loãng Tin Mừng cho hợp khẩu vị thời đại. Tin Mừng cần mặc chiếc áo của từng nền văn hóa, nhưng trái tim bên trong phải vẫn là trái tim của Đức Kitô.
Điều này đặc biệt quan trọng trong thế giới hôm nay. Có một cám dỗ rất lớn là chỉ giảng những gì người ta thích nghe. Nói về yêu thương nhưng tránh nói về hoán cải. Nói về lòng thương xót nhưng tránh nói về tội lỗi. Nói về Thiên Chúa chúc lành nhưng ít nói về thập giá. Nói về tự do nhưng quên trách nhiệm. Nói về hạnh phúc mà không nói đến hy sinh. Nếu làm như vậy, chúng ta không còn loan báo Tin Mừng nữa mà chỉ đang làm cho Tin Mừng trở thành một sản phẩm dễ tiêu thụ.
Đức Gioan Phaolô II đã cảnh báo về những nền văn hóa bị cuốn vào chủ nghĩa tiêu thụ và não trạng tìm kiếm khoái lạc, nơi hiệu năng, ích lợi và hưởng thụ được tôn cao còn Thiên Chúa và luật của Người bị lãng quên. Trong những hoàn cảnh ấy, ngài nói, chứng tá của Hội Thánh đôi lúc phải chấp nhận trở thành không được ưa thích. Đây là một lời rất mạnh. Kitô hữu không được gọi để trở thành người luôn được mọi người vỗ tay. Đức Giêsu đã nói rõ rằng nếu thế gian ghét Thầy thì cũng có thể ghét môn đệ. Điều quan trọng không phải là làm cho mọi người hài lòng, nhưng là trung thành với sự thật trong tình yêu.
Tuy nhiên, nói sự thật không đồng nghĩa với làm người khác bị thương. Có những người nhân danh chân lý để làm nhục người khác. Có những người nhân danh bảo vệ đức tin để nói những lời thiếu bác ái. Đó không phải đường của Đức Kitô. Người phụ nữ ngoại tình được đưa tới trước mặt Đức Giêsu. Chúa không nói rằng tội lỗi của bà chẳng có vấn đề gì. Người nói: “Từ nay đừng phạm tội nữa.” Nhưng trước khi nói câu ấy, Người đã cứu bà khỏi những viên đá của đám đông. Chân lý và lòng thương xót gặp nhau nơi Đức Giêsu. Nếu chỉ có sự thật mà không có tình yêu, người ta có thể trở nên lạnh lùng. Nếu chỉ có thứ tình yêu không cần sự thật, người ta có thể trở nên dễ dãi. Chỉ nơi Đức Kitô, chân lý và tình yêu mới hôn nhau.
Bởi vậy, một Hội Thánh hiệp nhất không phải là một Hội Thánh không bao giờ có vấn đề. Hội Thánh ấy vẫn có những căng thẳng, khác biệt và yếu đuối. Nhưng đó là Hội Thánh biết giải quyết những khác biệt của mình theo Tin Mừng. Biết nói trực tiếp thay vì nói sau lưng. Biết cầu nguyện trước khi phản ứng. Biết phân biệt giữa con người và hành vi của họ. Biết sửa lỗi mà không hạ nhục. Biết xin lỗi khi mình sai. Biết tha thứ khi người khác thật lòng trở về. Và trên hết, biết đặt ích chung của Thân Thể Đức Kitô cao hơn cái tôi của mình.
Nhiều đổ vỡ trong cộng đoàn không bắt đầu từ những vấn đề thần học lớn lao. Chúng bắt đầu từ những chuyện rất nhỏ: một lời chào không được đáp lại, một lần không được mời, một nhiệm vụ không được giao, một câu nói vô tình, một cảm giác bị xem thường. Những điều ấy nếu được cầu nguyện và đối thoại có thể nhanh chóng qua đi. Nhưng nếu ta giữ chúng lại, kể cho người này, thêm thắt với người kia, suy diễn ý xấu cho nhau, vết thương nhỏ dần trở thành bức tường. Có khi hai người từng cùng phục vụ Chúa rồi nhiều năm không nhìn mặt nhau chỉ vì một chuyện mà sau này chính họ cũng không nhớ rõ đã bắt đầu thế nào.
Trong tình cảnh ấy, Tin Mừng hỏi chúng ta một câu rất khó: Tôi muốn đúng, hay tôi muốn được hòa giải? Có những lúc mình đúng thật. Nhưng người đúng cũng có thể bước bước đầu tiên. Người không có lỗi vẫn có thể đưa tay trước. Trên thập giá, Đức Giêsu đâu phải người có lỗi. Nhưng chính Người lại là Đấng đi bước trước để hòa giải con người với Thiên Chúa. Kitô hữu không chờ người kia xứng đáng mới yêu. Chúng ta yêu bởi vì chính mình đã được Thiên Chúa yêu khi còn là tội nhân.
Sự hiệp nhất mà Đức Giêsu cầu xin còn vượt khỏi biên giới của giáo xứ, cộng đoàn hay quốc gia. Đức Gioan Phaolô II nhìn Hội Thánh tại Los Angeles năm ấy với rất nhiều sắc dân: người Mỹ gốc Âu, người Hispanic, người Hoa, người da đen, người Việt, người Ireland, người Hàn, người Ý, người Nhật, người Philippines và nhiều cộng đồng khác. Ngài nhấn mạnh rằng trong tất cả những con người ấy vẫn chỉ có một Đức Kitô Phục Sinh, một Chúa và một Đấng Cứu Độ, và tất cả những ai đã đón nhận Lời Chúa và được thanh tẩy đều thuộc về một Thân Thể.
Điều ấy vẫn vang lên mạnh mẽ với chúng ta hôm nay. Hội Thánh không thuộc sở hữu riêng của một dân tộc, một giai cấp, một thế hệ hay một nhóm người. Chữ “Công giáo” đã mang trong mình chiều kích phổ quát. Bất cứ nơi đâu Thánh Thể được cử hành trong hiệp thông với Hội Thánh, nơi đó là nhà của chúng ta. Một người Công giáo Việt Nam bước vào một nhà thờ ở Phi châu, Mỹ châu hay châu Âu có thể không hiểu ngôn ngữ, nhưng vẫn nhận ra cùng dấu Thánh Giá, cùng bàn thờ, cùng Lời Chúa, cùng bánh và rượu, cùng lời “Amen”. Đó là một phép lạ âm thầm của Hội Thánh.
Vì vậy, kỳ thị chủng tộc, khinh miệt người nghèo, coi thường người di dân hay người khác văn hóa không thể có chỗ trong trái tim người môn đệ Đức Kitô. Đức Gioan Phaolô II trong chính bài giảng ấy đã đặc biệt nhắc đến người di dân và người tị nạn, đồng thời liên kết việc đón tiếp họ với lời Đức Giêsu trong Tin Mừng: “Ta là khách lạ, các ngươi đã đón tiếp.” Chúng ta không thể yêu Chúa hiện diện trong Nhà Tạm mà dửng dưng với Chúa đang run rẩy trong thân phận người lạ, người nghèo, người bị bỏ rơi.
Có những người đến với chúng ta không mang theo gì ngoài một câu chuyện đau thương. Có người phải rời quê vì chiến tranh. Có người rời nhà vì nghèo đói. Có người đến thành phố lớn để làm thuê và sống trong những căn phòng chật chội. Có người mang trong lòng nỗi cô đơn mà không ai biết. Nếu cộng đoàn Kitô hữu chỉ là nơi dành cho những người quen biết nhau, còn người lạ bước vào không ai chào, thì chúng ta cần xét lại. Một giáo xứ thực sự Công giáo phải là nơi người giàu không được ưu ái hơn người nghèo, người có địa vị không có phẩm giá cao hơn người vô danh, người mới đến không cảm thấy mình là khách lạ.
Chúng ta hãy thử hình dung một người đang đau khổ bước vào nhà thờ. Người ấy không cần trước tiên một bài thần học thật dài. Có khi họ chỉ cần một ánh mắt không phán xét, một lời chào, một chỗ ngồi, một người chịu lắng nghe. Đó đã là Tin Mừng. Rất nhiều người gặp Chúa lần đầu tiên không phải vì một lý luận thần học nhưng vì gặp một Kitô hữu có lòng nhân hậu.
Nhưng để làm được như thế, chúng ta phải để Chúa chữa căn bệnh sâu nhất trong con người: căn bệnh lấy mình làm trung tâm. Chia rẽ bắt đầu từ đó. Tôi muốn ý tôi được thực hiện. Tôi muốn người ta công nhận tôi. Tôi muốn mình được nhắc tên. Tôi muốn công việc mang dấu ấn của tôi. Tôi muốn người khác phải hiểu tôi, nhưng tôi lại ít cố gắng hiểu họ. Cái tôi càng lớn thì chỗ dành cho người khác càng nhỏ. Và cuối cùng, ngay cả Chúa cũng chỉ còn được dùng để bảo vệ cái tôi của mình.
Đường dẫn tới hiệp nhất vì thế không bắt đầu bằng việc bắt người khác thay đổi. Nó bắt đầu từ sự hoán cải của chính tôi. Trước khi hỏi “tại sao người ấy không chịu hiểu tôi?”, hãy hỏi “tôi đã thật sự lắng nghe người ấy chưa?” Trước khi nói “họ làm cộng đoàn chia rẽ”, hãy hỏi “có điều gì trong lời nói và thái độ của tôi đang làm vết thương sâu thêm không?” Trước khi yêu cầu người khác xin lỗi, hãy hỏi “tôi có phần trách nhiệm nào cần nhận không?” Đây là một cuộc xét mình rất đau nhưng rất cần.
Có một điều kỳ lạ: ta thường thấy lỗi của người khác rất rõ và lỗi của mình rất mờ. Ta nhớ từng lời người khác đã làm mình đau nhưng quên những lời mình từng làm người khác tổn thương. Ta muốn người khác thông cảm với hoàn cảnh của mình nhưng lại dễ kết luận về động cơ của họ. Bởi vậy, cầu nguyện cho hiệp nhất trước hết là xin Chúa thay trái tim của mình.
“Lạy Chúa, xin cho mọi người nên một” rất dễ đọc. Nhưng lời nguyện ấy sẽ trở nên nguy hiểm nếu chúng ta thực sự để Chúa trả lời. Vì Chúa có thể nói: “Được, Ta sẽ bắt đầu sự hiệp nhất từ con. Con hãy đi làm hòa trước.” Khi ấy chúng ta có thể muốn rút lại lời cầu nguyện! Chúng ta muốn Chúa tạo hiệp nhất bằng cách sửa người khác. Chúa lại muốn tạo hiệp nhất bằng cách biến đổi chính chúng ta.
Đức Giêsu không chỉ cầu nguyện cho sự hiệp nhất; Người trả giá cho sự hiệp nhất bằng chính Máu mình. Thập giá là nơi những bức tường bị phá vỡ. Trên thập giá, hai cánh tay Đức Giêsu dang ra như muốn ôm lấy những con người đứng ở hai phía đối nghịch. Người chết để quy tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác. Bởi vậy, không thể nói về hiệp nhất mà không nói về thập giá. Hiệp nhất luôn phải trả giá: giá của lòng khiêm nhường, giá của sự nhẫn nại, giá của tha thứ, giá của việc chấp nhận người khác không giống mình, giá của sự từ bỏ ý riêng khi cần thiết.
Trong gia đình cũng vậy. Vợ chồng không thể sống hiệp nhất nếu ai cũng nhất định mình phải thắng. Cha mẹ và con cái không thể gần nhau nếu không ai chịu lắng nghe. Anh chị em ruột thịt có thể sống xa cách cả đời vì tiền bạc, đất đai hoặc một chuyện tranh chấp. Có những gia đình cùng đọc Kinh Lạy Cha nhưng nhiều năm anh em không nói với nhau. Đây là một nỗi đau lớn. Mỗi khi đọc: “Xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con,” chúng ta đang xin Chúa dùng chính thước đo tha thứ của mình để đo cho mình. Đó là một lời kinh đáng sợ nếu ta cố tình giữ hận.
Có thể hôm nay Chúa không yêu cầu chúng ta giải quyết mọi chuyện ngay lập tức. Có những vết thương cần thời gian. Có những tương quan độc hại đòi những ranh giới lành mạnh. Tha thứ không có nghĩa là cho phép người khác tiếp tục làm điều xấu. Hòa giải trọn vẹn cũng cần sự thật và hoán cải từ hai phía. Nhưng dù chưa thể khôi phục một tương quan như trước, người Kitô hữu vẫn được mời gọi đừng nuôi dưỡng lòng căm thù. Ta có thể chưa nói chuyện được với một người, nhưng có thể bắt đầu cầu nguyện cho họ. Ta có thể chưa quên được vết thương, nhưng có thể xin Chúa giúp mình không mong điều xấu xảy đến cho người đã làm mình đau. Đó đã là bước đầu của tự do.
Một câu khác của thánh Phaolô được Đức Gioan Phaolô II nhắc lại rất đẹp: “Chỉ có một thân thể, một Thần Khí, một niềm hy vọng… một Chúa, một đức tin, một phép rửa, một Thiên Chúa và là Cha của mọi người.” Bao nhiêu chữ “một”! Điều căn bản nối kết chúng ta lớn hơn những điều chia cách chúng ta. Chúng ta có thể khác nhau về tuổi tác, học vấn, địa vị, vùng miền, khuynh hướng, sở thích; nhưng chỉ có một Chúa chịu đóng đinh vì tất cả chúng ta. Không ai được cứu bởi một Máu khác. Không người nào được ban một phép rửa cao cấp hơn người khác. Không có bàn Thánh Thể hạng nhất và hạng hai.
Nếu thực sự tin như thế, cách chúng ta nhìn nhau phải thay đổi. Người ngồi bên cạnh tôi trong Thánh lễ không chỉ là “người ấy”. Đó là một người mà Đức Kitô đã đổ Máu vì họ. Người tôi đang bực mình cũng là người được Chúa yêu. Người mà tôi thấy khó chịu cũng là một phần của Thân Thể mà tôi thuộc về. Tôi có thể không đồng ý với họ, nhưng không được phép phủ nhận phẩm giá của họ.
Thế giới hôm nay đang đầy những bức tường. Bức tường chính trị, sắc tộc, kinh tế, thế hệ, ý thức hệ, tôn giáo. Người ta ngày càng có nhiều phương tiện để kết nối nhưng paradox thay, cũng có thể ngày càng cô đơn và chia rẽ. Chúng ta có thể nói chuyện với người ở nửa kia thế giới trong vài giây nhưng nhiều khi không thể trò chuyện bình an với người ngồi cùng bàn. Công nghệ có thể nối các thiết bị nhưng chỉ tình yêu mới nối được trái tim.
Trong một thế giới như vậy, sứ mạng của Hội Thánh vô cùng lớn: trở thành dấu chỉ của một nhân loại có thể hòa giải. Hội Thánh không thể chữa mọi chia rẽ của thế giới bằng quyền lực, bởi Hội Thánh không được trao quyền lực ấy. Nhưng Hội Thánh có thể cho thế giới thấy một cách sống khác. Trong một thế giới thích trả đũa, Hội Thánh có thể tha thứ. Trong một thế giới thích loại trừ, Hội Thánh có thể đón nhận. Trong một thế giới đo người ta bằng tiền và thành tích, Hội Thánh có thể tuyên bố mỗi con người đều có phẩm giá vì được Thiên Chúa yêu. Trong một thế giới coi kẻ yếu là gánh nặng, Hội Thánh có thể cúi xuống phục vụ.
Nhưng lời chứng ấy chỉ có sức thuyết phục khi chúng ta sống điều mình giảng. Thế giới không đòi Kitô hữu hoàn hảo. Nhưng thế giới có quyền mong Kitô hữu chân thành. Khi sai, biết nhận sai. Khi có lỗi, biết xin lỗi. Khi bị tổn thương, biết tìm con đường tha thứ. Khi bất đồng, vẫn tôn trọng nhau. Đó chính là những phép lạ nhỏ có sức loan báo Tin Mừng rất lớn.
Có lẽ một trong những cuộc hoán cải khó nhất là học cách vui khi người khác làm được điều tốt. Khi một người khác được Chúa sử dụng, thay vì cảm thấy mình bị lu mờ, hãy cảm tạ Chúa. Khi một nhóm khác có sáng kiến hay, thay vì tìm khuyết điểm, hãy cầu chúc. Khi người trẻ làm điều khác cách người già vẫn làm, hãy thử xem Thánh Thần có đang mở một con đường mới không. Khi người già bảo vệ một truyền thống quý giá, người trẻ cũng cần biết trân trọng kho tàng mình đã nhận.
Hội Thánh không bắt đầu với chúng ta và cũng không kết thúc nơi chúng ta. Trước ta đã có bao thế hệ giữ đức tin bằng mồ hôi, nước mắt và máu. Sau ta sẽ còn những thế hệ khác. Điều chúng ta đang cầm trong tay là một ngọn đuốc đã được trao lại. Đừng biến ngọn đuốc ấy thành tài sản cá nhân. Nhiệm vụ của chúng ta là giữ cho lửa cháy và trao lại.
Các thánh Cornêliô và Cyprianô cuối cùng đều đổ máu vì Đức Kitô. Các ngài đã hiểu rằng Hội Thánh không phải của mình. Chính vì không coi Hội Thánh là tài sản riêng, các ngài mới có thể hy sinh cho sự hiệp nhất của Hội Thánh. Có lẽ đây là điều các mục tử và mọi người phục vụ cần thường xuyên ghi nhớ: giáo xứ này không phải của tôi; hội đoàn này không phải của tôi; nhóm này không phải của tôi; công việc này không phải của tôi. Tất cả là của Chúa. Khi mình còn phục vụ được, hãy phục vụ hết lòng. Khi Chúa muốn giao cho người khác, hãy biết vui vẻ trao lại.
Một ngày nào đó chẳng còn ai nhớ chúng ta đã giữ chức vụ gì, đã tổ chức bao nhiêu sự kiện, được bao nhiêu người theo dõi. Nhưng nếu nhờ sự hiện diện của chúng ta mà một người đến gần Chúa hơn, một gia đình được hòa giải, một người tuyệt vọng tìm lại hy vọng, một cộng đoàn bớt chia rẽ, thì đời mình đã không vô ích.
Và cuối cùng, sự hiệp nhất Kitô giáo không phải một giấc mơ lãng mạn của con người. Nó là công trình của Chúa Thánh Thần. Chính vì thế chúng ta không được thất vọng khi thấy Hội Thánh vẫn còn những yếu đuối. Đức Giêsu đã biết tất cả những yếu đuối ấy trước khi Người cầu nguyện. Người biết Phêrô sẽ chối Người. Người biết các môn đệ sẽ bỏ chạy. Người biết lịch sử Hội Thánh sẽ có những trang đau buồn. Nhưng Người vẫn cầu: “Xin cho họ nên một.” Lời cầu của Con Thiên Chúa không thể là một lời vô ích.
Vì thế chúng ta có quyền hy vọng. Hy vọng rằng những vết thương có thể được chữa lành. Hy vọng rằng người từng xa nhau có thể một ngày tìm lại nhau. Hy vọng rằng một cộng đoàn đang chia rẽ có thể được Chúa Thánh Thần đổi mới. Hy vọng rằng những khác biệt không nhất thiết dẫn đến đổ vỡ. Hy vọng rằng Hội Thánh, bất chấp những yếu đuối của con người, vẫn có thể trở thành dấu chỉ và khí cụ của sự hiệp thông giữa Thiên Chúa với nhân loại và giữa con người với nhau.
Nhưng hy vọng ấy đòi chúng ta cộng tác. Hôm nay, thay vì hỏi ai là người cần thay đổi để Hội Thánh hiệp nhất hơn, hãy hỏi: “Lạy Chúa, con phải thay đổi điều gì?” Thay vì hỏi ai phải xin lỗi trước, hãy hỏi: “Con có thể bước một bước nào trước?” Thay vì hỏi ai đang phá cộng đoàn, hãy hỏi: “Con đang xây dựng cộng đoàn bằng điều gì?”
Có thể chỉ cần bớt một lời nói xấu. Có thể chỉ cần một tin nhắn hỏi thăm. Có thể chỉ cần thôi kể lại một câu chuyện làm người khác mất danh dự. Có thể chỉ cần nhìn một người mình không thích với lòng thương xót hơn. Có thể chỉ cần một lần dám nói: “Tôi xin lỗi.” Có thể chỉ cần một lời cầu nguyện cho người mình từng coi là đối thủ.
Những việc ấy rất nhỏ. Nhưng Nước Thiên Chúa thường bắt đầu từ những hạt rất nhỏ.
Và mỗi khi bước vào Thánh lễ, chúng ta hãy nhớ rằng mình đang bước vào lời cầu nguyện của chính Đức Giêsu. Trước bàn thờ không còn “phe tôi” và “phe anh”, không còn người quan trọng và người vô danh, không còn giàu nghèo, sang hèn. Chỉ còn những người tội lỗi được cùng một Chúa thương xót, cùng đói khát một Tấm Bánh, cùng cần một ơn cứu độ.
Khi linh mục nâng Mình Thánh Chúa lên và chúng ta thưa Amen, xin cho tiếng Amen ấy không chỉ có nghĩa: “Con tin đây là Mình Đức Kitô.” Xin nó còn có nghĩa: “Con chấp nhận thuộc về Thân Thể này. Con chấp nhận những anh chị em Chúa đã đặt bên đời con. Con sẽ không cố tình làm rách Thân Thể Chúa bằng hận thù, thành kiến và chia rẽ. Con xin để Chúa dùng đời con như một sợi chỉ nhỏ nối lại những gì đang rách.”
Và rồi, giữa một thế giới đầy tiếng nói chia rẽ, xin Hội Thánh vẫn lặng lẽ hát một bài ca khác: bài ca của tha thứ, của hiệp thông, của đón nhận và của tình huynh đệ.
Giữa một thế giới thích dựng tường, xin chúng ta mở cửa.
Giữa một thế giới thích phân chia con người thành “chúng ta” và “họ”, xin chúng ta nhớ rằng tất cả đều được dựng nên bởi một Thiên Chúa và Đức Kitô đã chết cho mọi người.
Giữa một thế giới trong đó người ta dễ dàng loại bỏ người khác chỉ vì khác mình, xin người môn đệ Đức Kitô đủ can đảm ngồi xuống, lắng nghe và yêu thương.
Và trong những lúc chúng ta thấy điều ấy quá khó, hãy trở lại Nhà Tiệc Ly. Hãy nghe Đức Giêsu đang cầu nguyện. Không phải chỉ cho Phêrô, Gioan, Giacôbê ngày xưa. Người đang cầu cho tôi. Cho bạn. Cho gia đình chúng ta. Cho cộng đoàn chúng ta. Cho Hội Thánh hôm nay.
“Lạy Cha, xin cho tất cả nên một.”
Xin cho chúng ta đừng bao giờ biến lời cầu ấy của Đức Giêsu thành một khẩu hiệu đẹp nhưng xa đời sống. Xin cho lời ấy trở thành cách chúng ta nhìn nhau, nói với nhau, phục vụ nhau và tha thứ cho nhau. Xin cho sự khác biệt không còn là lý do để xa nhau nhưng trở thành những sắc màu làm nên vẻ đẹp của một Thân Thể duy nhất. Xin cho những người nhìn vào Hội Thánh, dù họ chưa hiểu hết giáo lý của chúng ta, vẫn có thể nhận ra một điều: những người này thật sự cố gắng yêu thương nhau.
Và nếu một ngày nào đó thế giới hỏi tại sao những con người khác biệt đến thế lại có thể gọi nhau là anh chị em, xin chúng ta có thể chỉ vào Đức Kitô chịu đóng đinh và thưa rằng:
Bởi vì Người đã chết cho tất cả chúng tôi.
Bởi vì Máu Người đã phá đổ những bức tường.
Bởi vì chúng tôi có một Chúa, một đức tin, một phép rửa, một niềm hy vọng.
Bởi vì chúng tôi cùng có một Cha trên trời.
Và bởi vì trong đêm cuối cùng trước khi chết, Người đã cầu xin cho chúng tôi điều này:
“XIN CHO TẤT CẢ NÊN MỘT.”
Lm. Anmai, CSsR

HÃY TRỞ THÀNH DẤU CHỈ SỐNG ĐỘNG CỦA ĐỨC KITÔ
Có những lời của Thánh Kinh đọc lên rồi đi qua rất nhanh, nhưng cũng có những lời một khi đã nghe thì cứ ở lại, cứ âm thầm gõ vào cánh cửa lương tâm, khiến người ta không thể sống bình thản như trước nữa. “Anh em hãy chăn dắt đoàn chiên Thiên Chúa đã giao phó cho anh em… hãy nêu gương sáng cho đoàn chiên.” Lời của Thánh Phêrô không chỉ là một lời khuyên dành cho các vị lãnh đạo Hội Thánh ở một thời xa xưa, nhưng là một lời gọi xuyên qua mọi thế kỷ, chạm đến từng giám mục, từng linh mục, từng người được trao trách nhiệm chăm sóc người khác, và cuối cùng cũng chạm đến mỗi Kitô hữu, bởi bất cứ ai đã nhận biết Đức Kitô đều được mời gọi trở thành một dấu chỉ nào đó của Người giữa thế gian. Đặc biệt trong ngày kính hai thánh Cornêliô, giáo hoàng tử đạo, và Cyprianô, giám mục tử đạo, chúng ta càng hiểu sâu hơn rằng chăn dắt đoàn chiên không phải là nắm giữ một chức vụ, bảo vệ một địa vị hay điều hành một cơ cấu, nhưng là trao chính đời mình cho Đức Kitô để Người có thể tiếp tục yêu thương dân Người qua đôi tay, ánh mắt, lời nói, sự hiện diện và cả những hy sinh âm thầm của chúng ta.
Thánh Gioan Phaolô II, khi suy niệm về lời Thánh Phêrô, đã hướng cái nhìn về chính con người Phêrô. Đó là một chi tiết rất đáng để chúng ta dừng lại. Phêrô gọi mình là chứng nhân những đau khổ của Đức Kitô, là người sẽ được thông phần vinh quang sắp tỏ hiện. Nhưng người chứng nhân ấy không phải là một con người chưa bao giờ vấp ngã. Trái lại, chính Phêrô đã từng run sợ trước một người tớ gái. Chính ông đã ba lần chối rằng mình không biết Đức Giêsu. Chính ông đã từng hứa rất nhiều nhưng rồi bỏ chạy khi Thầy bị bắt. Chính ông đã từng nghĩ rằng mình mạnh mẽ hơn thực tế. Vậy mà cũng chính con người ấy về sau lại có thể đứng lên làm chứng cho Đức Kitô, có thể chịu đau khổ vì Người, có thể nâng đỡ anh em mình và cuối cùng trao mạng sống vì Tin Mừng. Điều gì đã làm nên cuộc biến đổi ấy? Không phải vì Phêrô tự nhiên trở nên gan dạ hơn. Không phải vì ông học được những kỹ thuật lãnh đạo tốt hơn. Không phải vì thời gian đã xóa đi quá khứ. Nhưng vì ông đã gặp lòng thương xót của Đức Kitô. Ông đã kinh nghiệm rằng tình yêu mạnh hơn nỗi sợ, lòng thương xót mạnh hơn sự phản bội, ơn tha thứ mạnh hơn quá khứ của con người.
Đây có lẽ là điểm đầu tiên chúng ta cần mang về cho đời sống mình: Thiên Chúa không chỉ dùng những người chưa bao giờ ngã. Thiên Chúa dùng những người đã ngã nhưng biết để Người nâng dậy. Hội Thánh không được xây dựng trên những con người tự cho mình hoàn hảo, nhưng trên những tội nhân đã để lòng thương xót biến đổi. Phêrô không thể trở thành người chăn dắt đoàn chiên nếu ông chưa từng khóc vì sự yếu đuối của mình. Một mục tử chưa bao giờ ý thức mình yếu đuối rất dễ trở nên cứng cỏi với sự yếu đuối của người khác. Một người chưa từng nhận ra mình cần được tha thứ rất dễ trở thành quan tòa của anh em. Một người nghĩ mình luôn đúng rất khó trở thành nhịp cầu của lòng thương xót. Nhưng khi một người từng biết thế nào là thất bại, từng biết thế nào là xấu hổ vì chính mình, từng biết thế nào là được Đức Giêsu nhìn bằng ánh mắt không kết án nhưng chữa lành, người ấy có thể bắt đầu học cách chăn dắt bằng trái tim của Đức Kitô.
Thánh Phêrô đã đi một con đường rất dài từ sân dinh thượng tế, nơi ông chối Thầy, đến ngày ông dám làm chứng cho Thầy bằng chính mạng sống. Con đường ấy cũng là con đường của tất cả chúng ta. Đời sống Kitô hữu không phải là một đường thẳng không có vấp ngã. Đời sống linh mục cũng không phải là một hành trình mà trong đó con người mỗi ngày đều mạnh mẽ, sốt sắng và hoàn hảo như nhau. Có những ngày chúng ta hăng hái. Có những ngày chúng ta mệt mỏi. Có những ngày cầu nguyện thật sốt sắng. Có những ngày đứng trước Chúa mà không biết nói gì. Có những lúc yêu thương đoàn chiên rất nhiều. Cũng có những lúc bị tổn thương, hiểu lầm, phê bình, chống đối đến mức trái tim muốn khép lại. Có những lúc người mục tử cảm thấy mình đang trao ban không ngừng mà dường như chẳng ai hiểu. Nhưng chính trong những lúc ấy, Đức Kitô không hỏi chúng ta trước hết: “Con có thành công không?” Người hỏi: “Con có còn yêu Thầy không?” Đó là câu hỏi Người đã hỏi Phêrô sau Phục Sinh. Và mỗi lần Phêrô thưa: “Thầy biết con yêu mến Thầy”, Đức Giêsu lại nói: “Hãy chăm sóc chiên của Thầy.” Không thể tách tình yêu Đức Kitô khỏi việc chăm sóc đoàn chiên. Và cũng không thể chăm sóc đoàn chiên lâu dài nếu không trở về với tình yêu Đức Kitô.
Người mục tử Kitô giáo không phải là người sở hữu đoàn chiên. Đoàn chiên thuộc về Thiên Chúa. Giáo xứ không phải của cha xứ. Hội đoàn không phải của người trưởng. Cộng đoàn không phải của người sáng lập. Những con người được trao cho chúng ta không phải tài sản để chúng ta kiểm soát, nhưng là những người con mà Thiên Chúa yêu và tạm giao cho ta chăm sóc. Vì thế, quyền bính trong Hội Thánh nếu tách khỏi phục vụ sẽ biến dạng. Chức vụ nếu tách khỏi tình yêu sẽ trở thành gánh nặng cho người khác. Một người mục tử có thể nói những điều hoàn toàn đúng nhưng vẫn làm người khác tổn thương nếu lời nói ấy không đi qua trái tim của Đức Kitô. Người ta có thể rất giỏi tổ chức nhưng lại không biết lắng nghe một người đang đau khổ. Có thể điều hành một giáo xứ rất quy củ nhưng lại để một người nghèo bước ra mà cảm thấy mình không được nhìn thấy. Có thể giảng hàng ngàn bài nhưng nếu đời sống không phản chiếu Tin Mừng, những lời ấy rồi cũng bay đi.
Vì thế, lời “hãy nêu gương sáng cho đoàn chiên” thật đáng sợ và cũng thật đẹp. Đáng sợ vì người mục tử không thể chỉ nói: “Anh chị em hãy cầu nguyện”, nếu chính mình không cầu nguyện. Không thể bảo người ta sống đơn sơ nếu mình quá bám víu vào tiện nghi. Không thể kêu gọi giáo dân tha thứ trong khi chính mình giữ mãi một mối hận. Không thể giảng về khiêm nhường mà luôn muốn được công nhận. Không thể nói về lòng thương xót mà đối xử nghiệt ngã với những người yếu đuối. Nhưng lời ấy cũng thật đẹp, bởi Thiên Chúa không đòi người mục tử trở thành một siêu nhân. Người chỉ mời họ để cho Đức Kitô sống trong mình đến mức người khác nhìn vào cuộc đời họ có thể nhận ra một chút khuôn mặt của Chúa.
Thánh Gioan Phaolô II đã đưa ra một hình ảnh rất sâu sắc: người mục tử được mời gọi trở thành một dấu chỉ sống động của Đức Kitô. Không phải một bức tượng của Đức Kitô, không phải một người chỉ nói về Đức Kitô, không phải một chuyên viên nghiên cứu Đức Kitô, nhưng là một dấu chỉ sống động. Nghĩa là qua người ấy, người khác có thể gặp được một điều gì thuộc về Chúa. Khi họ đau khổ, họ tìm thấy một ánh mắt cảm thông. Khi họ phạm tội, họ gặp một lời mời gọi hoán cải nhưng không bị nghiền nát bởi sự kết án. Khi họ hoang mang, họ gặp một người có thể chỉ cho họ con đường. Khi họ cô đơn, họ gặp một người sẵn lòng ngồi bên cạnh. Khi họ mất niềm tin, họ gặp một người vẫn tin thay họ một thời gian cho đến khi họ có thể đứng dậy. Đó là mục tử.
Trước hết, người mục tử phải là dấu chỉ của Đức Kitô cầu nguyện. Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, trong những năm thi hành sứ vụ, đã nhiều lần rút vào nơi thanh vắng để cầu nguyện với Chúa Cha. Người cầu nguyện trước những quyết định lớn. Người cầu nguyện trước khi chọn Nhóm Mười Hai. Người cầu nguyện sau khi phục vụ đám đông. Người cầu nguyện trong Vườn Cây Dầu. Người cầu nguyện ngay trên thập giá. Nếu chính Đức Giêsu còn dành thời gian ở với Chúa Cha, thì người môn đệ của Người càng không thể nghĩ mình đủ sức phục vụ chỉ bằng tài năng và thiện chí của mình.
Một trong những cám dỗ nguy hiểm nhất của đời sống mục vụ là làm rất nhiều việc cho Chúa nhưng không còn thời gian ở với Chúa. Lịch làm việc có thể kín từ sáng đến tối. Điện thoại có thể reo liên tục. Tin nhắn, cuộc hẹn, giấy tờ, hội họp, xây dựng, bệnh nhân, tang lễ, hôn phối, giáo lý, bài giảng… tất cả đều có lý do chính đáng. Nhưng nếu người mục tử không còn ngồi trước Nhà Tạm, không còn những phút im lặng để Chúa soi lại trái tim mình, từ từ người ấy sẽ phục vụ bằng sức riêng. Và khi phục vụ bằng sức riêng, sớm hay muộn người ấy sẽ mệt, dễ nóng giận, dễ thất vọng, dễ cảm thấy người khác không biết ơn mình. Cầu nguyện không làm ta mất thời gian phục vụ; cầu nguyện giữ cho việc phục vụ khỏi mất linh hồn.
Một linh mục quỳ trước Nhà Tạm có thể không tạo ra một con số nào trong báo cáo mục vụ, nhưng chính nơi đó có thể đang diễn ra điều quan trọng nhất của ngày hôm ấy: một trái tim đang được Chúa làm mềm lại. Có thể trước khi vào nhà nguyện, cha đang giận một người. Sau nửa giờ với Chúa, cơn giận không hoàn toàn biến mất, nhưng cha thấy người ấy bằng một ánh mắt khác. Có thể cha đang nản lòng về cộng đoàn. Nhưng trong cầu nguyện, cha nhớ rằng đây là đoàn chiên của Chúa, không phải công trình riêng của mình. Có thể cha đang tự hào về một thành công nào đó. Trước Thánh Thể, mọi thành công trở nên nhỏ bé và cha nhớ rằng không có Chúa, mình chẳng làm gì được. Đó là lý do người mục tử phải cầu nguyện: không phải để trốn khỏi đoàn chiên, nhưng để khi trở lại với đoàn chiên, trái tim mình giống trái tim Đức Giêsu hơn.
Thứ đến, người mục tử phải là dấu chỉ của Đức Kitô đầy lòng thương xót. Tin Mừng cho chúng ta thấy Đức Giêsu luôn bị thu hút bởi những con người bị thương. Người thấy người phong cùi mà xã hội tránh xa. Người thấy bà góa khóc con. Người thấy người mù bên vệ đường. Người thấy người phụ nữ tội lỗi bị người ta khinh miệt. Người thấy Giakêu trên cây. Người thấy người trộm lành trong những giây phút cuối đời. Người không bao giờ coi con người như một “trường hợp”. Với Đức Giêsu, không có “ca khó”, không có “người phiền phức”, không có “thành phần vô vọng”. Chỉ có những người con đang cần được cứu.
Một cộng đoàn Kitô giáo sẽ đánh mất khuôn mặt Đức Kitô khi chỉ dành chỗ cho những người “đàng hoàng”. Nếu người ly dị sợ bước vào nhà thờ vì cảm thấy mọi ánh mắt đều phán xét mình; nếu người trẻ đang nghiện ngập không biết tìm ai để nói chuyện; nếu người nghèo cảm thấy xấu hổ vì quần áo mình không đẹp; nếu một người vừa phạm một sai lầm lớn cảm thấy trong Hội Thánh không còn chỗ cho mình, thì chúng ta cần tự hỏi: chúng ta đang phản chiếu khuôn mặt nào của Thiên Chúa?
Lòng thương xót không có nghĩa là gọi điều sai thành điều đúng. Đức Giêsu tha thứ nhưng cũng nói: “Đừng phạm tội nữa.” Lòng thương xót thật luôn đi cùng sự thật. Nhưng sự thật Kitô giáo không phải là một hòn đá để ném vào người khác. Sự thật là ánh sáng giúp một người nhìn thấy con đường trở về. Người mục tử phải học nghệ thuật rất khó này: nói sự thật mà người nghe vẫn cảm thấy mình được yêu. Sửa sai mà không làm nhục. Mời gọi hoán cải mà không đẩy người tội lỗi vào tuyệt vọng.
Người mục tử cũng phải là dấu chỉ của một tình yêu mạnh hơn tội lỗi và sự chết. Đây là trái tim của Tin Mừng. Kitô giáo không phải trước hết là một hệ thống luân lý. Kitô giáo là tin vui rằng tình yêu Thiên Chúa đã chiến thắng tội lỗi nơi thập giá và chiến thắng sự chết trong ngày Phục Sinh. Vì thế, nơi nào một linh mục hiện diện, ở đó phải có hy vọng. Không phải thứ hy vọng dễ dãi rằng “mọi chuyện rồi sẽ ổn”, nhưng là niềm hy vọng sâu hơn: cho dù mọi chuyện bên ngoài không ổn, Thiên Chúa vẫn không bỏ chúng ta.
Khi người mục tử đứng bên giường một bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối, có thể cha không thể chữa bệnh cho họ. Khi cha đến với một gia đình vừa mất con, có những đau đớn không lời nào giải thích được. Khi cha gặp một người đã phá hỏng cuộc đời vì những lựa chọn sai lầm, quá khứ không thể quay lại. Nhưng người mục tử có thể mang vào những nơi ấy một điều mà thế gian không thể cho: niềm xác tín rằng sự chết không có tiếng nói cuối cùng, rằng tội lỗi không lớn hơn lòng thương xót, rằng bóng tối không thể nuốt được ánh sáng của Đức Kitô.
Có những lúc người ta không cần chúng ta giảng nhiều. Một bàn tay đặt nhẹ trên vai, một vài phút im lặng, một lời kinh đọc chậm, một ánh mắt không tránh né nỗi đau của họ có thể trở thành một bài giảng mạnh hơn rất nhiều lời hùng biện. Người mục tử không được mời gọi giải thích mọi đau khổ, nhưng được mời gọi hiện diện trong đau khổ như Đức Maria đứng dưới chân thập giá: không bỏ đi.
Thánh Gioan Phaolô II còn nói người mục tử phải là dấu chỉ của lòng trung tín của Đức Kitô, và vì thế cũng trở thành một dấu chỉ bị chống đối. Đây là một thực tế khó chấp nhận. Chúng ta thường muốn vừa trung thành với Tin Mừng vừa được tất cả mọi người yêu mến. Nhưng điều đó không phải lúc nào cũng có thể. Đức Giêsu yêu tất cả mọi người, nhưng không phải tất cả mọi người đều yêu Người. Người chữa lành, tha thứ, làm điều thiện, nhưng cuối cùng vẫn bị đóng đinh.
Nếu một người mục tử trung thành với Tin Mừng, sẽ có những lúc phải nói những điều không được ưa thích. Có lúc phải bảo vệ người yếu thế khi số đông muốn im lặng. Có lúc phải bảo vệ phẩm giá sự sống. Có lúc phải nói về sự công bằng khi người giàu thấy khó chịu. Có lúc phải nói về lòng thương xót khi những người “đạo đức” muốn kết án. Có lúc phải nhắc cộng đoàn đừng biến giáo xứ thành nơi tranh giành quyền lực. Có lúc phải từ chối điều khiến lương tâm không bình an. Người mục tử không được cố ý tạo xung đột, nhưng cũng không thể bán sự thật để mua sự bình an giả tạo.
Hai thánh Cornêliô và Cyprianô chính là những chứng nhân mạnh mẽ của sự trung tín ấy. Các ngài sống trong một thời Hội Thánh chịu bách hại và cũng phải đối diện với những chia rẽ nội bộ về cách đối xử với những Kitô hữu đã yếu đuối chối đạo trong cơn bách hại rồi muốn quay về. Một bên muốn quá nghiêm khắc; một bên muốn quá dễ dãi. Trong hoàn cảnh ấy, Hội Thánh phải học cách vừa bảo vệ sự thánh thiện của đức tin vừa mở cửa cho người thống hối. Đó cũng chính là bài học mục vụ của mọi thời: làm sao vừa trung thành với chân lý vừa không đóng cửa lòng thương xót.
Điều rất đẹp nơi Cornêliô và Cyprianô là sự hiệp thông. Một vị là giáo hoàng Rôma, một vị là giám mục Carthage. Các ngài thuộc những vùng đất khác nhau nhưng cùng mang một đức tin, cùng bảo vệ sự hiệp nhất của Hội Thánh, cùng chịu tử đạo. Máu của các ngài trở thành lời chứng rằng Hội Thánh không được xây dựng bằng những phe nhóm nhưng bằng sự hiệp thông trong Đức Kitô.
Ngày nay chúng ta cũng cần bài học ấy biết bao. Thế giới rất dễ chia phe. Mạng xã hội càng làm người ta quen với việc dán nhãn cho nhau: người này thuộc nhóm này, người kia thuộc nhóm kia; người này bảo thủ, người kia cấp tiến; người này thế này, người kia thế nọ. Nếu tinh thần ấy đi vào Hội Thánh, chúng ta có thể vẫn đọc cùng một kinh Tin Kính mà trái tim lại xa nhau.
Hiệp nhất không có nghĩa là mọi người phải giống nhau. Hiệp nhất có nghĩa là giữa những khác biệt, chúng ta vẫn nhận nhau là anh chị em trong Đức Kitô. Có thể khác nhau về tuổi tác, tính cách, phương pháp mục vụ, mức độ hiểu biết, văn hóa, thói quen, nhưng chúng ta chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép rửa.
Người mục tử phải là người xây cầu chứ không xây tường. Một linh mục bước vào cộng đoàn không phải để tạo “phe của cha”, nhưng để mọi người thuộc về Đức Kitô. Mục tử trưởng thành không vui khi giáo dân nói: “Con theo cha này, con không thích cha kia.” Người mục tử thật phải giúp họ nói: “Chúng ta thuộc về Chúa.”
Và rồi Thánh Gioan Phaolô II đưa chúng ta đến hình ảnh cuối cùng: Đức Kitô Mục Tử Nhân Lành, Đấng đến không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ. Đây chính là tiêu chuẩn sau cùng của mọi quyền bính trong Hội Thánh.
Một người có thể mặc phẩm phục đẹp nhưng nếu không phục vụ thì chưa giống Đức Giêsu. Một người có thể có rất nhiều danh xưng nhưng nếu thích được trọng vọng hơn là cúi xuống với người bé nhỏ thì vẫn còn xa trái tim Tin Mừng. Đức Giêsu trong Bữa Tiệc Ly đã cởi áo ngoài, thắt khăn và quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Đấng mà Phêrô gọi là “Thầy và Chúa” đã quỳ dưới chân học trò mình.
Hình ảnh ấy phải mãi mãi ám ảnh mọi người có quyền trong Hội Thánh. Càng có trách nhiệm lớn, càng phải cúi thấp. Càng được kính trọng, càng phải khiêm nhường. Càng được trao nhiều quyền, càng phải nhớ quyền ấy được trao để phục vụ.
Có lẽ một trong những cuộc hoán cải khó nhất của người làm mục vụ là từ bỏ nhu cầu được người khác biết ơn. Chúng ta phục vụ rồi mong người khác ghi nhận. Hy sinh rồi mong người ta hiểu. Làm điều tốt rồi mong có lời cảm ơn. Nhưng người mục tử càng trưởng thành càng học cách trao ban mà không tính toán. Có những hạt giống mình gieo sẽ không bao giờ nhìn thấy ngày gặt. Có những người mình giúp rồi họ quên mình. Có những hy sinh chẳng ai biết. Nhưng Cha trên trời biết.
Và có lẽ đó là đủ.
Thưa anh chị em, bài học của hai thánh Cornêliô và Cyprianô, cũng như lời nhắn gửi của Thánh Phêrô về việc chăm sóc đoàn chiên, cuối cùng không chỉ dành cho giám mục hay linh mục. Cha mẹ cũng là mục tử trong gia đình. Một người cha phải chăn dắt con mình không chỉ bằng lời dạy mà bằng gương sống. Một người mẹ có thể giảng bài giảng đầu tiên về Thiên Chúa cho con không phải bằng lời nhưng bằng sự dịu dàng, nhẫn nại và cầu nguyện. Người giáo lý viên là mục tử của những em được trao phó. Người trưởng hội đoàn là mục tử. Người chủ doanh nghiệp có thể trở thành mục tử khi nhìn nhân viên không chỉ như sức lao động nhưng như con người có phẩm giá. Mỗi Kitô hữu, trong phạm vi đời mình, đều được mời gọi trở thành một dấu chỉ sống động của Đức Kitô.
Hãy thử hỏi chính mình: người khác gặp tôi thì họ gặp được điều gì của Đức Giêsu? Họ gặp một người biết lắng nghe hay một người luôn muốn nói? Họ gặp lòng thương xót hay sự xét đoán? Họ gặp bình an hay căng thẳng? Họ gặp sự khiêm nhường hay nhu cầu chứng minh mình đúng? Họ gặp hy vọng hay chỉ nghe tôi than phiền?
Chúng ta không cần phải làm những điều phi thường để trở thành dấu chỉ của Đức Kitô. Đôi khi chỉ cần bớt một lời làm người khác đau. Bớt một lần nổi nóng. Dành thêm năm phút để nghe một người cô đơn. Gọi điện cho một người bệnh. Tha thứ cho một người đã làm mình tổn thương. Cầu nguyện cho một người mình không thích. Đó đều có thể là những dấu chỉ nhỏ của Đức Kitô giữa thế giới.
Cuối cùng, điều quyết định không phải chúng ta đã làm được bao nhiêu, nhưng Đức Kitô đã sống trong chúng ta bao nhiêu. Người mục tử tốt không phải người khiến người ta nhớ mãi đến mình, nhưng là người giúp người ta nhớ đến Chúa. Người giảng hay nhất không phải người khiến người ta thán phục tài nói, nhưng là người khiến họ muốn trở về cầu nguyện. Người phục vụ tốt nhất không phải người trở thành trung tâm của cộng đoàn, nhưng là người âm thầm chỉ mọi người về Đức Kitô.
Xin hai thánh Cornêliô và Cyprianô chuyển cầu cho Hội Thánh hôm nay. Xin cho các giám mục biết chăn dắt đoàn chiên bằng sự khôn ngoan và lòng can đảm. Xin cho các linh mục biết sống gần Chúa để có thể ở gần dân. Xin cho những người đang mệt mỏi trong sứ vụ được nâng đỡ. Xin cho những người đang bị tổn thương trong đời sống mục vụ tìm lại niềm vui ban đầu. Xin cho những ai đã từng vấp ngã như Phêrô đừng tuyệt vọng, nhưng nhớ rằng tình yêu mạnh hơn nỗi sợ và lòng thương xót của Chúa lớn hơn quá khứ của chúng ta.
Và xin cho mỗi chúng ta, khi một ngày đời mình khép lại, không nhất thiết được nhớ đến vì những công trình lớn lao, nhưng được Chúa nhìn và nói rằng: con đã cố gắng yêu đoàn chiên của Ta; con đã cúi xuống với người bé nhỏ; con đã ở lại khi người khác bỏ đi; con đã tha thứ khi lòng con bị thương; con đã giữ đức tin giữa những ngày tăm tối; con đã không hoàn hảo, nhưng con đã để Ta biến đổi con.
Khi ấy, có lẽ chúng ta mới hiểu trọn vẹn rằng tất cả hành trình Kitô hữu chỉ là hành trình để một con người mỗi ngày nhỏ lại một chút, hầu Đức Kitô lớn lên trong mình; để cuối cùng, khi người khác nhìn vào đời ta, họ không dừng lại nơi chúng ta nhưng có thể nhận ra khuôn mặt của Người: khuôn mặt của Đấng cầu nguyện, Đấng thương xót, Đấng trung tín, Đấng chịu đóng đinh và phục sinh, Đấng Mục Tử Nhân Lành đã đến không phải để được phục vụ nhưng để phục vụ và hiến mạng sống mình cho đoàn chiên.
Lm. Anmai, CSsR

ĐƯỢC XÓT THƯƠNG ĐỂ TRỞ NÊN CHỨNG NHÂN – SUY NIỆM LỄ THÁNH CÔNÊLIÔ VÀ THÁNH CYPRIANÔ, TỬ ĐẠO
Có những vị thánh bước vào lịch sử Hội Thánh bằng những công trình vĩ đại, những trước tác đồ sộ, những cuộc truyền giáo vang danh hay những phép lạ khiến người ta kinh ngạc; nhưng cũng có những vị thánh mà chính cuộc đời của các ngài là một bài giảng, chính sự trung thành của các ngài là một cuốn sách thần học, chính máu các ngài đổ xuống là lời tuyên xưng đức tin mạnh hơn bất cứ lời nói nào. Thánh Cornêliô, giáo hoàng tử đạo, và thánh Cyprianô, giám mục tử đạo, là những con người như thế. Hai vị sống trong thế kỷ thứ ba, một thời đại mà làm Kitô hữu không phải là mang một danh xưng dễ chịu, càng không phải là một thứ trang sức tôn giáo cho cuộc sống, nhưng có thể đồng nghĩa với tù đày, tra tấn, mất tài sản, mất địa vị, bị xã hội khinh miệt và cuối cùng phải trả bằng chính mạng sống. Thế nhưng thử thách của Hội Thánh lúc ấy không chỉ đến từ bên ngoài. Nguy hiểm còn đến từ bên trong, khi cộng đoàn bị chia rẽ, khi người này kết án người kia, khi những vấn đề liên quan đến những Kitô hữu đã yếu đuối chối đạo trong thời bách hại trở thành nguyên nhân của tranh luận, chia rẽ và những thái độ cực đoan. Chính trong hoàn cảnh ấy, Cornêliô và Cyprianô đã trở thành những mục tử vừa kiên định với chân lý, vừa rộng mở với lòng thương xót; vừa không coi nhẹ tội lỗi, vừa không đóng cửa Hội Thánh trước người tội lỗi biết sám hối; vừa trung thành với đức tin, vừa biết rằng Hội Thánh không phải là một cộng đoàn của những người hoàn hảo nhưng là mái nhà của những người được Đức Kitô cứu chuộc. Và cuối cùng, các ngài đã đóng ấn tất cả những điều mình giảng dạy bằng chính máu tử đạo.
Điểm khởi đầu của đời sống Kitô hữu không phải là câu nói: “Tôi tốt hơn người khác”, nhưng là lời thú nhận: “Tôi là người đã được Thiên Chúa xót thương.” Đây là một sự khác biệt rất lớn. Một người nghĩ mình tốt hơn người khác sẽ dễ dàng trở thành quan tòa; một người biết mình đã được thương xót sẽ học làm anh em. Một người chỉ nhìn thấy công trạng của mình thường rất khó bao dung những yếu đuối của người khác; còn một người đã từng quỳ xuống trước Thiên Chúa với trái tim tan vỡ và nhận ra rằng nếu không có ân sủng mình chẳng là gì, người ấy sẽ biết cúi xuống nâng người khác dậy. Thánh Phaolô, sau một cuộc đời từng hăng say bắt bớ Hội Thánh, đã không che giấu quá khứ của mình. Ngài không xây dựng uy tín tông đồ bằng cách xóa đi trang đen của đời mình. Ngược lại, ngài nhìn vào đó để nhận ra chiều sâu của lòng thương xót Thiên Chúa. Chính ở nơi tưởng như đáng xấu hổ nhất trong cuộc đời Phaolô, ngài lại khám phá ra một điều kỳ diệu nhất: Đức Kitô không chỉ tha thứ cho ngài, nhưng còn gọi chính con người từng bắt bớ Hội Thánh ấy trở thành tông đồ loan báo Tin Mừng. Đó là nghịch lý của ân sủng. Thiên Chúa không đợi chúng ta hoàn hảo rồi mới yêu. Ngài yêu để biến đổi chúng ta. Ngài không chỉ nhìn thấy chúng ta là ai trong hiện tại; Ngài còn nhìn thấy chúng ta có thể trở thành ai nếu để cho ân sủng của Ngài chạm đến.
Bởi thế, điều nguy hiểm nhất trong đời sống đạo đôi khi không phải là biết mình yếu đuối, nhưng là quên rằng mình yếu đuối. Khi một người quên rằng chính mình cũng là kẻ tội lỗi được tha thứ, họ có thể giữ đạo rất nghiêm mà trái tim lại trở nên cứng. Họ có thể thuộc rất nhiều điều giáo lý nhưng không còn lòng thương xót. Họ có thể bảo vệ chân lý bằng một thái độ khiến người khác không còn nhìn thấy vẻ đẹp của chân lý. Họ có thể nhân danh Thiên Chúa để xét đoán người khác, trong khi quên rằng chính mình mỗi ngày vẫn phải sống nhờ lòng thương xót của Thiên Chúa. Một Kitô hữu thật sự trưởng thành không phải là người càng sống lâu càng thấy mình tốt hơn mọi người; trái lại, càng đến gần ánh sáng của Thiên Chúa, họ càng nhận ra những bóng tối còn tồn tại trong lòng mình, và chính nhận thức ấy làm họ khiêm nhường hơn, hiền lành hơn, nhân hậu hơn. Các thánh không phải là những người không bao giờ thấy tội lỗi của mình. Các thánh là những người càng thánh càng thấy rõ mình cần Chúa biết bao.
Vì thế, mỗi buổi sáng của người Kitô hữu lẽ ra phải bắt đầu bằng lòng biết ơn và tâm tình sám hối: “Lạy Chúa, hôm nay con còn được sống không phải vì con xứng đáng, nhưng vì Chúa thương con. Xin đừng để con bước vào ngày mới chỉ với những kế hoạch của con, những lo lắng của con, những thành công của con, nhưng xin cho con bước vào ngày mới như một người đang được Chúa thương xót.” Và khi ngày khép lại, chúng ta cũng cần đủ can đảm nhìn lại đời mình. Hôm nay tôi đã nói lời nào làm ai đó tổn thương? Tôi đã vô tình bỏ qua một người cần được lắng nghe? Tôi đã nóng giận, tự ái, ích kỷ, ganh tị hay khinh thường ai? Tôi có sử dụng lời nói, quyền lực, tiền bạc, kiến thức hay vị trí của mình để nâng người khác lên hay để làm họ nhỏ bé đi? Tôi đã làm gì với những người khó thương nhất Chúa đặt bên cạnh mình? Một đời sống không bao giờ xét mình sẽ rất dễ tích tụ bụi bặm trong tâm hồn. Cũng như một căn phòng nếu nhiều tháng không được quét dọn sẽ dần trở nên ngột ngạt, tâm hồn con người nếu không bao giờ đứng trước ánh sáng Thiên Chúa cũng sẽ dần mất khả năng nhận biết điều gì đang diễn ra bên trong mình.
Đức Giêsu dùng một hình ảnh rất đơn sơ: cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu. Người ta có thể trang trí một cái cây thật đẹp, treo lên đó đủ thứ màu sắc, nhưng cuối cùng điều chứng minh sức sống của cây vẫn là trái. Đời sống đức tin cũng vậy. Chúng ta có thể nói nhiều về Thiên Chúa, có thể mang nhiều danh hiệu, có thể hiện diện trong rất nhiều sinh hoạt đạo đức, có thể giữ những vai trò quan trọng trong giáo xứ hay cộng đoàn, nhưng Đức Giêsu vẫn mời chúng ta nhìn vào “quả”. Những người sống gần tôi có cảm nhận được bình an hơn vì tôi không? Gia đình tôi có cảm thấy được yêu thương hơn vì tôi là người tin Chúa không? Người nghèo có được tôn trọng hơn vì sự hiện diện của tôi không? Người đau khổ có được an ủi không? Người lầm lạc có tìm được một con đường trở về không? Người thất vọng có tìm thấy một chút hy vọng không? Người yếu đuối có dám đến gần tôi hay họ phải tránh xa vì sợ bị xét đoán? Nếu một đời sống đạo không tạo ra những hoa trái ấy, chúng ta cần thành thật hỏi lại: tôi đang theo Đức Kitô hay chỉ đang theo một hình ảnh về chính mình?
Có những thứ quả xấu rất dễ nhận ra: gian dối, tham lam, bạo lực, ngoại tình, bất công. Nhưng cũng có những thứ quả xấu được che phủ bằng lớp áo đạo đức. Một lời nói nhân danh “bảo vệ chân lý” nhưng cố ý làm nhục người khác vẫn có thể là quả xấu. Một thái độ nhân danh “kỷ luật” nhưng không còn tình người có thể là quả xấu. Một việc bác ái được thực hiện chỉ để được chụp hình và ca ngợi cũng có nguy cơ trở thành quả xấu. Một sứ vụ được thực hiện bằng cái tôi khổng lồ, bằng sự cạnh tranh, ganh tị, phe nhóm, nói xấu hay loại trừ nhau, dù bên ngoài có vẻ thành công, vẫn không phải là hoa trái mà Đức Kitô mong muốn. Chúa không chỉ hỏi chúng ta đã làm được bao nhiêu việc. Ngài còn hỏi chúng ta đã trở thành loại người nào khi làm những việc ấy.
Một mục tử có thể xây được nhà thờ nhưng lại làm tổn thương rất nhiều tâm hồn. Một người phục vụ có thể tổ chức được nhiều chương trình nhưng gia đình mình lại lạnh lẽo. Một người có thể rất hăng hái bảo vệ đạo nhưng không thể tha thứ cho người thân. Một người có thể cầu nguyện thật lâu nhưng lại nói về người khác bằng những lời thiếu bác ái. Đó là những nghịch lý đáng sợ, vì nó cho thấy hoạt động tôn giáo không tự động làm một con người nên thánh. Chỉ khi hoạt động bên ngoài phát xuất từ một trái tim được Đức Kitô biến đổi thì nó mới trở thành sứ vụ. Nếu không, chúng ta có thể làm việc của Chúa mà dần dần quên mất Chúa của công việc.
Bởi thế đời sống cầu nguyện không phải là một phần phụ thêm cho sứ vụ. Cầu nguyện là bộ rễ. Người ta có thể nhìn thấy cành cây, hoa trái, tán lá nhưng không nhìn thấy rễ. Tuy nhiên chính phần không ai nhìn thấy ấy quyết định sự sống còn của toàn bộ cái cây. Cũng vậy, một người phục vụ có thể được nhiều người biết đến nhưng phần quan trọng nhất của họ lại diễn ra trong thinh lặng: những giờ quỳ trước Thánh Thể, những lần xét mình, những giọt nước mắt sám hối, những cuộc chiến âm thầm với cái tôi, những lần phải xin Chúa tha thứ, những quyết định nhỏ bé để sống trung thành khi chẳng ai nhìn thấy. Nếu rễ không còn hút được nước, cây sớm muộn cũng khô. Nếu người phục vụ không còn kín múc sức sống từ Đức Kitô, sứ vụ rồi cũng trở thành công việc thuần túy, và rất dễ biến thành sân khấu của bản thân.
Thánh Cornêliô và thánh Cyprianô nhắc chúng ta rằng đời sống Hội Thánh chưa bao giờ là một hành trình không có khủng hoảng. Chúng ta đôi khi lý tưởng hóa quá khứ và tưởng rằng ngày xưa Hội Thánh bình an, mọi tín hữu đồng lòng, chỉ thời đại hôm nay mới nhiều chia rẽ. Thực tế hoàn toàn không phải thế. Ngay từ những thế kỷ đầu tiên đã có tranh luận, ly khai, những quan điểm cực đoan và những cuộc xung đột dữ dội. Vấn đề khiến Cornêliô và Cyprianô phải đối diện là câu hỏi: phải làm gì với những Kitô hữu đã chối đạo trong thời bách hại nhưng nay muốn quay về? Có người chủ trương gần như đóng cửa hoàn toàn: ai đã phản bội đức tin thì không còn đường trở lại. Nhưng cũng có nguy cơ ngược lại: coi chuyện chối đạo như không có gì đáng kể. Con đường của Hội Thánh, và cũng là con đường mà hai vị thánh đã bảo vệ, không phải là một trong hai thái cực ấy. Tội lỗi là nghiêm trọng, vì tình yêu nghiêm túc. Nhưng lòng thương xót cũng là thật, vì Đức Kitô đã chết cho người tội lỗi. Người ngã xuống cần sám hối, nhưng sau khi sám hối, họ phải có một cánh cửa để trở về.
Đó là điều vô cùng quan trọng cho Hội Thánh hôm nay. Chúng ta phải giữ chân lý, nhưng không được dùng chân lý như hòn đá ném vào người khác. Chúng ta phải nói về tội, nhưng đừng bao giờ nói về tội theo cách khiến người tội lỗi tin rằng họ không còn hy vọng. Đức Giêsu không bao giờ gọi bóng tối là ánh sáng; Ngài không bao giờ bảo tội lỗi không quan trọng. Nhưng điều kỳ lạ là những người tội lỗi vẫn muốn đến gần Ngài. Người phụ nữ ngoại tình không chạy trốn Ngài. Giakêu muốn nhìn thấy Ngài. Matthêu dám rời bàn thu thuế để theo Ngài. Người trộm lành, trong những phút cuối cùng của đời mình, dám quay sang xin Ngài nhớ đến mình. Có điều gì đó trong cách Đức Giêsu nhìn con người khiến họ biết rằng Ngài nhìn thấy tội của họ mà vẫn không khước từ họ. Đó chính là điều Hội Thánh phải học.
Có những lúc người ta rời xa Hội Thánh không hẳn vì họ ghét Chúa, nhưng vì họ từng bị tổn thương bởi những người đại diện cho Chúa. Có người mang trong lòng một vết thương từ nhiều năm vì một lời nói thiếu tế nhị của một mục tử. Có người bỏ xưng tội vì một lần cảm thấy mình bị xúc phạm trong tòa giải tội. Có người rời cộng đoàn vì bị phe nhóm, định kiến hay thành kiến loại trừ. Có người không còn dám quay về vì nghĩ rằng sau những đổ vỡ trong đời mình, Hội Thánh không còn chỗ cho họ. Những người ấy không phải là những con số. Họ là những linh hồn Đức Kitô đã đổ máu để cứu chuộc. Một lời nói của chúng ta có thể trở thành chiếc cầu đưa họ về hoặc một bức tường khiến họ đi xa thêm. Ý thức ấy phải làm chúng ta run sợ mỗi khi nhân danh Chúa để nói với một con người đang đau khổ.
Không ai trong chúng ta biết người đang đứng trước mặt mình đã phải trải qua những gì. Đằng sau một thái độ khó chịu có thể là cả một tuổi thơ đầy tổn thương. Đằng sau một người lạnh lùng có thể là một trái tim đã từng tin tưởng quá nhiều và bị phản bội quá sâu. Đằng sau một người xa rời đạo có thể là một câu hỏi mà nhiều năm không ai chịu lắng nghe. Đằng sau một người đang sống sai có thể là một cuộc chiến nội tâm mà họ đã thất bại hàng trăm lần nhưng vẫn đang cố đứng lên. Điều đó không có nghĩa là phủ nhận đúng sai. Điều đó chỉ có nghĩa rằng trước khi lên án một người, hãy nhớ rằng Đức Kitô đã chết cho họ. Nếu Thập Giá không làm chúng ta mềm lòng hơn trước người tội lỗi, có lẽ chúng ta chưa thật sự đứng đủ lâu dưới chân Thập Giá.
Thánh Cornêliô và Cyprianô cũng dạy chúng ta một bài học khó khác: hiệp nhất không có nghĩa là không bao giờ có khác biệt. Hiệp nhất Kitô giáo không phải là mọi người có cùng tính cách, cùng quan điểm, cùng sở thích hay cùng cách giải quyết mọi vấn đề. Hiệp nhất là dù khác biệt, chúng ta vẫn ở lại trong Đức Kitô; dù tranh luận, chúng ta không biến nhau thành kẻ thù; dù bất đồng, chúng ta vẫn nhận ra nhau là anh chị em. Một trong những chiến thắng lớn nhất của sự dữ không phải chỉ là làm con người phạm một tội nào đó, mà là làm những người thuộc về Đức Kitô quay sang chống lại nhau đến mức quên mất rằng họ cùng đứng dưới một Thập Giá và cùng sống nhờ một Máu Cứu Chuộc.
Ngày nay điều này đặc biệt đáng suy nghĩ. Chưa bao giờ con người có nhiều phương tiện để kết nối như hôm nay, nhưng có lẽ cũng chưa bao giờ việc chia phe, kết án và làm tổn thương nhau bằng lời nói lại dễ dàng đến thế. Chỉ cần một chiếc điện thoại, một bình luận nóng giận có thể được gửi đi trong vài giây. Một câu chuyện chưa được kiểm chứng có thể lan tới hàng nghìn người. Một lời nói xấu có thể phá hủy danh dự của một người mà họ không có cơ hội tự bảo vệ. Ngay trong đời sống đạo, chúng ta cũng có thể bị cuốn vào những cuộc tranh luận khiến mình dần đánh mất đức ái. Người ta nhân danh phụng vụ để xúc phạm nhau; nhân danh giáo lý để chế giễu nhau; nhân danh lòng trung thành với Hội Thánh để kết án nhau; nhân danh canh tân để khinh thường truyền thống; nhân danh truyền thống để nghi ngờ bất cứ điều gì mới mẻ. Trong những lúc ấy, ma quỷ có thể rất hài lòng, vì chỉ cần làm cho người Công giáo căm ghét người Công giáo, nó đã đạt được một phần mục tiêu.
Chân lý không cần sự hung dữ để trở thành chân lý. Một người càng xác tín vào chân lý càng có thể bình an. Đức Giêsu trước Philatô không la hét. Ngài biết mình là ai. Ngài biết Chúa Cha là ai. Ngài biết Nước của Ngài không thuộc về thế gian này. Người bất an mới thường cần phải thắng mọi cuộc tranh luận. Người có bình an của Đức Kitô không cần nghiền nát người khác để chứng minh mình đúng. Họ có thể nói “đúng” là đúng, “sai” là sai, nhưng vẫn nhìn người đang sai bằng đôi mắt của một người anh em. Nếu trong lúc bảo vệ chân lý chúng ta đánh mất đức ái, chúng ta đã phản bội chính chân lý mà mình muốn bảo vệ, bởi chân lý Kitô giáo cuối cùng không phải là một ý tưởng nhưng là một Ngôi Vị, và Ngôi Vị ấy là Đức Giêsu Kitô, Đấng đã yêu cho đến cùng.
Các thánh tử đạo đặc biệt giúp chúng ta hiểu điều này. Các ngài không chết vì một ý tưởng trừu tượng. Các ngài chết vì một Người. Nếu đức tin chỉ là tập hợp những điều phải tin, rất khó giải thích tại sao người ta lại có thể hiến mạng sống. Nhưng nếu đức tin là một tương quan tình yêu với Đức Kitô, mọi sự thay đổi. Người tử đạo không nói: “Tôi yêu cái chết.” Họ nói bằng cuộc đời mình: “Có một Đấng tôi yêu hơn cả mạng sống.” Người tử đạo không khinh thường cuộc sống. Chính vì biết cuộc sống quý giá, họ mới có thể biến việc trao ban nó thành một hành vi tình yêu lớn lao. Nếu mạng sống chẳng có giá trị, tử đạo cũng chẳng có giá trị. Chỉ vì sự sống quý giá nên việc trao mạng sống vì Đức Kitô mới trở thành lời chứng tối hậu.
Chúng ta có thể không được gọi chịu tử đạo bằng máu, nhưng mọi Kitô hữu đều được mời gọi bước vào một dạng tử đạo mỗi ngày: chết cho cái tôi. Đôi khi tha thứ khó hơn làm một việc lớn. Im lặng khi có thể trả đũa là một cái chết nhỏ. Xin lỗi khi biết mình sai là một cái chết nhỏ. Không nói xấu người đã làm mình tổn thương là một cái chết nhỏ. Trung thành trong hôn nhân giữa những ngày khô khan là một cái chết nhỏ. Chăm sóc cha mẹ già yếu khi mệt mỏi là một cái chết nhỏ. Nói sự thật khi gian dối đem lại lợi ích là một cái chết nhỏ. Từ chối một khoản lợi bất chính dù mình đang cần tiền là một cái chết nhỏ. Tiếp tục cầu nguyện khi không cảm thấy gì là một cái chết nhỏ. Trung thành với bổn phận khi chẳng ai khen là một cái chết nhỏ. Và hàng ngàn cái chết nhỏ ấy dần làm nên một cuộc đời thuộc trọn về Đức Kitô.
Một cây có thể đứng vững trong những ngày trời đẹp dù bộ rễ không sâu. Chỉ khi bão tới người ta mới biết cây ấy thật sự bám đất đến đâu. Đời sống đức tin cũng thế. Khi mọi sự thuận lợi, thật dễ nói “con tin Chúa”. Nhưng khi bệnh tật đến, khi mất mát đến, khi bị hiểu lầm, khi lời cầu xin dường như không được đáp, khi tương lai mù mịt, khi người mình yêu ra đi, khi những điều mình từng chắc chắn bắt đầu lung lay, lúc đó nền móng mới được thử nghiệm. Đức Giêsu kể về hai người xây nhà: một người trên đá, một người trên cát. Điều đáng chú ý là bão đến với cả hai. Theo Chúa không có nghĩa là được miễn khỏi bão tố. Đức tin không phải là hợp đồng bảo hiểm giúp chúng ta tránh mọi đau khổ. Khác biệt nằm ở chỗ khi bão đến, nhà nào còn đứng.
Nhiều người xây cuộc đời trên những nền móng tưởng rất chắc nhưng thật ra rất mong manh: tiền bạc, sức khỏe, địa vị, sắc đẹp, danh tiếng, lời khen, quyền lực, các mối quan hệ. Không phải những điều ấy xấu. Nhưng chúng không đủ mạnh để làm nền cho toàn bộ cuộc đời. Tiền có thể mất. Sức khỏe có thể suy sụp trong một kết quả xét nghiệm. Địa vị có thể thay đổi sau một quyết định. Danh tiếng có thể bị tổn thương chỉ trong một ngày. Người ta yêu có thể rời đi. Tuổi trẻ qua nhanh. Cái đẹp phai tàn. Nếu căn tính của tôi đặt hoàn toàn trên những thứ ấy, khi chúng mất đi, chính tôi cũng sụp đổ. Chỉ Đức Kitô mới có thể là đá tảng vì Ngài là Đấng không thay đổi khi mọi thứ quanh tôi thay đổi.
Thánh Cornêliô và thánh Cyprianô đã xây đời mình trên tảng đá ấy. Người ngoài nhìn vào cuộc tử đạo của các ngài có thể nghĩ: cuối cùng họ đã thua. Một người bị giết thì còn gì là thành công? Một mục tử chết thì sứ vụ chẳng phải đã kết thúc sao? Nhưng Tin Mừng sử dụng một thứ thước đo khác với thế gian. Thế gian hỏi: anh có bao nhiêu người theo? Tin Mừng hỏi: anh trung thành đến đâu? Thế gian hỏi: anh sở hữu bao nhiêu? Tin Mừng hỏi: anh đã trao ban bao nhiêu? Thế gian hỏi: anh có quyền lực thế nào? Tin Mừng hỏi: anh đã phục vụ thế nào? Thế gian hỏi: anh có thắng không? Tin Mừng hỏi: anh có yêu đến cùng không? Trên đồi Canvê, nếu chỉ nhìn bằng tiêu chuẩn thế gian, Đức Giêsu là một người thất bại hoàn toàn: không quân đội, không quyền lực chính trị, môn đệ bỏ chạy, đám đông chế nhạo, thân xác bị treo trên thập giá. Nhưng chính nơi ấy là giờ Con Người được tôn vinh. Chính nơi tưởng là thất bại lại trở thành chiến thắng lớn nhất lịch sử cứu độ.
Có những người cả đời phục vụ mà không bao giờ nhìn thấy kết quả. Một người mẹ cầu nguyện hàng chục năm cho đứa con bỏ đạo mà chưa thấy nó trở về. Một linh mục gieo hạt trong một cộng đoàn khô khan mà tưởng như chẳng có gì thay đổi. Một giáo lý viên dạy trẻ tuần này qua tuần khác mà không biết những lời mình nói sẽ đi theo chúng bao lâu. Một người chăm sóc bệnh nhân trong âm thầm mà chẳng được ai nhắc tên. Một người sống tử tế trong môi trường đầy gian dối và đôi khi tự hỏi sống ngay thẳng để làm gì. Đừng vội đo hoa trái của đời mình bằng điều mắt thấy. Hạt giống có những mùa nằm sâu dưới đất. Có những lời nói hôm nay tưởng rơi vào quên lãng nhưng hai mươi năm sau lại cứu một linh hồn. Có những lời cầu nguyện chúng ta không bao giờ thấy kết quả trên đời này. Có những giọt nước mắt chỉ Thiên Chúa biết. Người môn đệ không được gọi phải thành công theo tiêu chuẩn thế gian; chúng ta được gọi phải trung thành.
Tuy nhiên, sự trung thành Kitô giáo không phải là cứng nhắc. Hai thánh Cornêliô và Cyprianô là những minh chứng tuyệt đẹp cho sự kết hợp giữa chân lý và lòng thương xót. Đây là điều Hội Thánh cần trong mọi thời đại. Một Hội Thánh chỉ nói về lòng thương xót mà không nói về hoán cải sẽ biến Tin Mừng thành lời an ủi rẻ tiền. Nhưng một Hội Thánh chỉ nói về tội lỗi mà không mở ra con đường trở về sẽ biến Tin Mừng thành bản án. Đức Kitô vừa nói với người phụ nữ ngoại tình: “Tôi không kết án chị”, vừa nói: “Từ nay đừng phạm tội nữa.” Hai câu ấy không chống nhau. Chúng chính là Tin Mừng. “Tôi không kết án chị”: đó là lòng thương xót. “Đừng phạm tội nữa”: đó là lời mời gọi nên thánh. Thiếu câu đầu, chúng ta rơi vào khắc nghiệt. Thiếu câu sau, chúng ta rơi vào dễ dãi. Đức Kitô trao cho chúng ta cả hai.
Chúng ta cần đặc biệt nhớ điều ấy khi gặp những con người đã thất bại. Ai trong đời mà chưa từng thất bại? Có người thất bại công khai nên ai cũng biết; có người thất bại trong bóng tối nên vẫn giữ được vẻ ngoài đàng hoàng. Nhưng trước mặt Thiên Chúa, không ai có quyền tự hào. Một trong những điều đẹp nhất của Kitô giáo là con người không bị định nghĩa vĩnh viễn bởi khoảnh khắc tồi tệ nhất của đời mình. Phêrô không chỉ là người đã chối Thầy ba lần; ông còn là người đã khóc và trở về. Phaolô không chỉ là người bắt bớ Hội Thánh; ngài còn là tông đồ dân ngoại. Augustinô không chỉ là chàng thanh niên lạc lối; ngài còn là vị giám mục và tiến sĩ Hội Thánh. Một người có thể đã ngã rất sâu, nhưng nếu họ quay về, ân sủng còn sâu hơn vực thẳm của họ.
Đó là lý do Hội Thánh tồn tại: không phải để trưng bày những con người hoàn hảo, nhưng để công bố rằng nơi Đức Kitô, con người có thể bắt đầu lại. Tòa giải tội là một trong những nơi kỳ diệu nhất của Hội Thánh vì ở đó quá khứ không được phép có tiếng nói cuối cùng. Có những con người bước vào tòa giải tội với một gánh nặng đè trên vai hàng chục năm và bước ra như một con người khác. Tội vẫn từng xảy ra, hậu quả có thể vẫn còn phải sửa chữa, nhưng mối tương quan với Thiên Chúa được phục hồi. Satan nói: “Mày đã làm điều ấy, mày mãi mãi là con người như thế.” Đức Kitô nói: “Hãy đứng dậy và đi tiếp.” Satan lấy quá khứ để đóng cửa tương lai. Đức Kitô đi vào quá khứ, chữa lành nó và mở một tương lai mới.
Nếu chúng ta thật sự tin vào lòng thương xót ấy, chúng ta cũng phải học trao cơ hội cho nhau. Có những gia đình năm này qua năm khác vẫn nhắc lại một lỗi lầm cũ. Mỗi lần cãi nhau, câu chuyện mười năm trước lại được đào lên. Có những người đã xin lỗi hàng trăm lần nhưng không bao giờ được cho phép trở thành một con người mới trong mắt người khác. Tha thứ không có nghĩa là mất trí nhớ; cũng không phải giả vờ rằng chẳng có gì xảy ra. Nhưng tha thứ nghĩa là tôi từ chối biến vết thương thành căn tính cuối cùng của người đã làm tôi đau. Nếu Thiên Chúa cho phép tôi bắt đầu lại, tại sao tôi lại vĩnh viễn nhốt người khác trong quá khứ của họ?
Tuy nhiên, tha thứ cũng cần đi đôi với sự thật. Có những vết thương cần thời gian. Có những tương quan cần ranh giới lành mạnh. Có những hành vi sai trái phải chịu trách nhiệm. Lòng thương xót không đồng nghĩa với việc dung túng sự dữ. Thánh Cornêliô và Cyprianô không nói rằng những người chối đạo chẳng cần hoán cải. Các ngài bảo vệ con đường sám hối và trở về. Lòng thương xót của Kitô giáo không phải là phủ một tấm khăn lên vết thương mà không chữa trị. Lòng thương xót là bác sĩ mở vết thương ra, làm sạch nó dù đau, để nó thực sự lành.
Một chiều kích khác nơi hai vị tử đạo hôm nay là tình bạn thiêng liêng và sự hiệp thông trong Hội Thánh. Cornêliô là Giám mục Rôma, Cyprianô là Giám mục Carthage. Các ngài ở những nơi khác nhau nhưng cùng gánh một nỗi lo cho Hội Thánh, cùng chiến đấu cho sự hiệp nhất, cùng đối diện với bách hại và cuối cùng cùng nhận triều thiên tử đạo. Điều ấy nhắc chúng ta rằng chẳng ai có thể sống đức tin một mình. Người Kitô hữu không phải là một hòn đảo. Chúa Giêsu không dạy chúng ta cầu nguyện: “Lạy Cha của con”, nhưng “Lạy Cha chúng con”. Ngay trong lời kinh căn bản nhất, Chúa đã đặt tôi vào trong một gia đình.
Có những giai đoạn cuộc đời người ta rất cần một Cornêliô hay một Cyprianô bên cạnh mình: một người đủ tin để nhắc ta đừng bỏ cuộc; một người đủ chân thành để sửa ta khi ta sai; một người đủ yêu để ở bên mà không cần nhiều lời. Chúng ta cần những người bạn có thể hỏi: “Dạo này đời sống cầu nguyện của anh thế nào?” chứ không chỉ hỏi công việc thế nào. Chúng ta cần những người khi mình thành công không nịnh mình, khi mình thất bại không bỏ mình. Đời sống thiêng liêng rất khó bền nếu chỉ sống bằng ý chí cá nhân. Thiên Chúa thường giữ chúng ta qua những con người Ngài đặt bên cạnh.
Có lẽ một trong những cuộc tử đạo âm thầm nhất thời nay là trung thành sống hiệp nhất giữa một thế giới thích chia rẽ. Dễ tìm người đồng ý với mình rồi lập thành nhóm. Khó ngồi lại với người khác mình. Dễ nói về người khác. Khó nói với người khác. Dễ thắng một cuộc tranh luận. Khó cứu một tương quan. Dễ chứng minh mình đúng. Khó cúi xuống xin lỗi. Nhưng chính trong những việc nhỏ ấy, Tin Mừng trở nên hữu hình.
Cuối cùng, câu hỏi lớn nhất ngày lễ hôm nay đặt ra không phải là: “Tôi có đủ can đảm để tử đạo không?” Có lẽ câu hỏi gần hơn là: “Hôm nay tôi có đang sống một đời đáng để tử đạo không?” Bởi tử đạo không phải là một màn anh hùng xuất hiện đột ngột vào cuối đời. Nó là kết quả của hàng nghìn lựa chọn trung thành trước đó. Người có thể nói “xin vâng” trong giờ cuối cùng là người đã tập nói “xin vâng” mỗi ngày. Nếu hôm nay tôi không thể chết cho một chút tự ái, ngày mai rất khó chết cho Đức Kitô. Nếu hôm nay tôi không trung thành trong những điều nhỏ bé, đừng tưởng lúc thử thách lớn đến tôi tự nhiên sẽ trở thành anh hùng.
Hãy bắt đầu từ những điều thật đơn giản. Sáng thức dậy, thay vì cầm điện thoại trước tiên, hãy dành vài phút cho Chúa. Khi bị xúc phạm, đừng trả lời ngay trong nóng giận. Khi nghe chuyện xấu về ai đó, đừng vội chuyển tiếp. Khi thấy một người cô đơn, hãy dừng lại. Khi có thể nói một lời tử tế, đừng tiếc. Khi sai, hãy xin lỗi. Khi có tội, hãy đi xưng tội. Khi ai đó xin tha thứ, hãy nhớ mình cũng sống nhờ ơn tha thứ. Khi mệt mỏi với Hội Thánh vì những bất toàn của con người, hãy nhớ Hội Thánh vẫn là Hiền Thê mà Đức Kitô yêu và đã hiến mình vì Hội Thánh. Khi thất vọng với chính mình, hãy nhìn lên Thập Giá và nhớ rằng giá trị của đời bạn không được đo bằng những thất bại, nhưng bằng giá máu Con Thiên Chúa đã trả cho bạn.
Thánh Cornêliô và thánh Cyprianô đã đi qua một thời đại đen tối nhưng không để bóng tối làm tắt ánh sáng trong lòng mình. Các ngài sống giữa chia rẽ nhưng chọn hiệp nhất; giữa khắc nghiệt và dễ dãi, các ngài chọn chân lý đi cùng lòng thương xót; giữa bách hại, các ngài chọn trung thành; trước cái chết, các ngài chọn Đức Kitô. Chính vì thế, hàng thế kỷ sau, Hội Thánh vẫn gọi tên các ngài. Những kẻ từng bách hại các ngài hầu như đã chìm vào quên lãng, còn tên của những người tử đạo vẫn được đọc lên bên bàn thờ. Thế gian tưởng có thể kết thúc đời các ngài bằng lưỡi gươm, nhưng không biết rằng máu tử đạo không phải là dấu chấm hết; nó là hạt giống.
Và có lẽ đây là lời cuối cùng ngày lễ hôm nay muốn nói với mỗi người chúng ta: đừng sợ một cuộc đời phải cho đi. Chỉ có hạt lúa chịu mục nát mới sinh nhiều bông hạt. Đừng sợ tha thứ vì tưởng mình thua; có những chiến thắng chỉ đạt được khi ta buông vũ khí xuống. Đừng sợ khiêm nhường vì tưởng mình nhỏ bé; chính trong sự khiêm nhường, ân sủng tìm được chỗ để hoạt động. Đừng sợ trung thành khi chẳng ai nhìn thấy; Thiên Chúa nhìn thấy. Đừng sợ khi việc lành chưa sinh hoa trái; mùa gặt thuộc về Chúa. Đừng sợ những lúc phải đi ngược dòng để giữ lương tâm trong sạch. Đừng sợ mang lấy những vết thương vì yêu thương, bởi Đấng Phục Sinh vẫn mang các dấu đinh trên thân thể vinh hiển của Ngài.
Xin thánh Cornêliô và thánh Cyprianô cầu cho chúng ta có một đức tin không chỉ nằm trên môi nhưng bén rễ vào đời sống; một lòng trung thành không cứng cỏi nhưng đầy thương xót; một lòng thương xót không dễ dãi nhưng luôn dẫn con người về sự thật; một đời cầu nguyện đủ sâu để đứng vững khi bão tố đến; một trái tim đủ khiêm nhường để biết rằng mình cũng chỉ là người tội lỗi được cứu; và một tình yêu đủ lớn để không ngừng mở cửa cho những người đang tìm đường trở về.
Xin Chúa cho mỗi chúng ta mỗi ngày biết để Ngài cắt tỉa những gì không thuộc về Ngài, chữa lành những gì bị thương tích, uốn lại những gì cong queo, làm mềm những gì chai cứng, thanh luyện những gì pha tạp, và tưới gội những gì đang khô héo trong tâm hồn. Xin cho đời chúng ta trở thành một cây tốt sinh những trái tốt: trái của yêu thương giữa một thế giới nhiều căm ghét; trái của bình an giữa một xã hội đầy căng thẳng; trái của nhẫn nại giữa một thời đại muốn mọi thứ lập tức; trái của hiền lành giữa một nền văn hóa dễ xúc phạm nhau; trái của trung tín giữa một thời đại dễ bỏ cuộc; trái của lòng thương xót giữa những con người thích kết án; trái của hy vọng giữa những tâm hồn đang mỏi mệt.
Và nếu một ngày nào đó chúng ta phải đứng trước những chọn lựa khó khăn, xin cho lời chứng của hai vị tử đạo hôm nay nhắc chúng ta rằng cuộc đời này rất ngắn, còn Đức Kitô thì đời đời; tiếng vỗ tay của thế gian rất chóng qua, còn lời Chúa thì không bao giờ qua; mất mọi sự mà giữ được Chúa thì vẫn còn tất cả, còn có cả thế gian mà đánh mất Chúa thì cuối cùng chẳng còn gì. Xin cho chúng ta có thể sống sao để vào ngày cuối cùng, khi mọi danh hiệu đã bỏ lại, khi mọi tài sản đã trao cho người khác, khi mọi tiếng khen chê đều im lặng, ta chỉ còn có thể thưa với Chúa một lời đơn sơ: “Lạy Chúa, đời con không hoàn hảo, con đã yếu đuối nhiều, đã ngã nhiều, nhưng nhờ lòng thương xót Chúa, con đã cố gắng ở lại với Chúa. Xin Chúa hoàn tất những gì nơi con còn dang dở.”
Và chắc chắn, nếu chúng ta thật sự biết mình sống nhờ lòng thương xót, biết xây cuộc đời trên đá tảng là Đức Kitô, biết để Lời Chúa biến đổi trái tim và biết trao chính mình trong yêu thương, thì dù cuộc đời có âm thầm đến đâu, nó cũng sẽ không bao giờ là một cuộc đời vô ích. Bởi một đời sống cắm rễ trong Đức Kitô sớm muộn cũng sinh hoa trái. Có thể chúng ta không nhìn thấy mùa gặt. Có thể tên chúng ta không được ai nhớ. Có thể những hy sinh của chúng ta chẳng bao giờ xuất hiện trước mắt thế gian. Nhưng tất cả những gì được làm vì tình yêu đều được giữ lại trong cõi đời đời. Và đến lúc ấy, chúng ta sẽ hiểu rằng không một giọt nước mắt nào dâng cho Chúa bị mất, không một lần tha thứ nào vô ích, không một lời cầu nguyện nào rơi vào khoảng không, không một hy sinh âm thầm nào bị lãng quên và không một cuộc đời nào trao cho Đức Kitô lại có thể là một cuộc đời thất bại.
Lm. Anmai, CSsR

KHI LÒNG THƯƠNG XÓT DỪNG LẠI TRƯỚC NỖI ĐAU CON NGƯỜI
THÁNH CORNÊLIÔ, GIÁO HOÀNG, TỬ ĐẠO VÀ THÁNH CYPRIANÔ, GIÁM MỤC, TỬ ĐẠO
Có những cuộc gặp gỡ trong Tin Mừng diễn ra rất nhanh nhưng đủ sức soi sáng cả một đời người. Có những câu chuyện chỉ vài dòng nhưng nếu dừng lại thật lâu, người ta có thể nghe được tiếng khóc của con người, thấy được ánh mắt của Đức Giêsu, cảm nhận được bàn tay của Thiên Chúa đang chạm vào những vùng tưởng như đã chết trong cuộc đời mình. Trình thuật Đức Giêsu cho người con trai của bà góa thành Nain sống lại là một câu chuyện như thế. Thánh Luca kể rằng Đức Giêsu đang tiến vào thành thì từ trong thành có một đoàn người đi ra. Một đoàn người đi vào và một đoàn người đi ra. Một bên là Đức Giêsu cùng các môn đệ và đông đảo dân chúng. Một bên là một người mẹ góa đang đưa đứa con trai duy nhất của mình ra nghĩa trang, cũng có đông người trong thành đi theo bà. Hai đoàn người gặp nhau ngay tại cửa thành. Một đoàn mang theo sự sống. Một đoàn mang theo cái chết. Một đoàn đi theo Đấng là nguồn sự sống. Một đoàn đang tiễn đưa một con người về nơi chôn cất. Hai con đường tưởng như chẳng liên quan đến nhau, vậy mà đúng tại cửa thành Nain, sự sống đã chặn đường sự chết. Đức Giêsu đã dừng lại. Và có lẽ chính chữ “dừng lại” ấy là một trong những lời quan trọng nhất mà Tin Mừng hôm nay muốn nói với chúng ta.
Con người hôm nay đi rất nhanh. Người ta chạy theo công việc, chạy theo tiền bạc, chạy theo những kế hoạch, chạy theo những cuộc hẹn, chạy theo thành công, chạy theo những bản tin mới, chạy theo mạng xã hội, chạy theo những điều mà chỉ vài ngày sau đã chẳng còn ai nhớ đến. Chúng ta có thể đi ngang qua nhau mỗi ngày mà chẳng thật sự nhìn thấy nhau. Chúng ta có thể sống cùng một mái nhà nhưng không biết người bên cạnh đang đau. Có người chồng không biết vợ mình đã khóc bao nhiêu đêm. Có người vợ không biết chồng mình đang mang một nỗi thất vọng rất lớn. Có cha mẹ không biết đứa con của mình đang cô đơn khủng khiếp. Có những người con không nhận ra cha mẹ đang già đi từng ngày. Trong một cộng đoàn, có người vẫn cười, vẫn chào, vẫn đi lễ, vẫn phục vụ, nhưng bên trong đã kiệt sức. Trong một giáo xứ, có những gia đình đang vật lộn với bệnh tật, nợ nần, đổ vỡ, mất mát. Trong xã hội, có những người nghèo, người già neo đơn, người bị bỏ rơi, những người thất nghiệp, những người mang bệnh tật, những người vừa chôn cất người thân. Họ đi ngang qua đời ta mỗi ngày. Câu hỏi không phải chỉ là: ta có gặp họ hay không. Câu hỏi sâu hơn là: ta có nhìn thấy họ không?
Đức Giêsu nhìn thấy người mẹ góa. Tin Mừng không kể rằng bà chạy đến van xin Chúa. Bà cũng không lên tiếng cầu cứu. Có lẽ lúc ấy bà chẳng còn sức mà xin gì nữa. Khi nỗi đau đã quá lớn, người ta đôi khi chẳng biết cầu nguyện thế nào. Khi một người mẹ đang đi sau quan tài đứa con duy nhất của mình, còn lời nào để nói nữa? Bà đã mất chồng. Bây giờ bà mất luôn người con trai duy nhất. Trong xã hội thời đó, điều ấy không chỉ có nghĩa là mất người thân mà còn có thể đồng nghĩa với mất nơi nương tựa, mất sự bảo đảm về kinh tế và vị thế xã hội. Bà đang chôn đứa con, nhưng có lẽ trong lòng bà cũng đang chôn luôn tương lai của mình. Thế mà bà không xin. Đức Giêsu vẫn hành động. Bởi có những lời cầu nguyện không được thốt ra bằng môi miệng mà được viết bằng nước mắt. Có những tiếng kêu không thành tiếng nhưng vẫn vang tới trời cao. Có những nỗi đau con người chưa kịp nói thì Thiên Chúa đã thấy.
Thánh Luca dùng một diễn tả rất mạnh: Chúa chạnh lòng thương bà. Không phải một chút thương hại từ xa. Không phải một cảm xúc thoáng qua. Trong ngôn ngữ Kinh Thánh, đó là một chuyển động sâu thẳm từ tận lòng. Nỗi đau của người mẹ ấy đã chạm vào trái tim Đức Giêsu. Thiên Chúa của Kitô giáo không phải là một Thiên Chúa đứng ngoài đau khổ của con người rồi bình thản nhìn xuống. Ngài là Thiên Chúa biết chạnh lòng. Ngài nghe tiếng dân Israel bị áp bức bên Ai Cập. Ngài nghe tiếng kêu của người nghèo. Ngài khóc trước mộ Lazarô. Ngài động lòng trước đoàn dân đói khát. Ngài chạm vào người phong cùi bị xã hội xa lánh. Và hôm nay, Ngài dừng chân trước một người mẹ đang khóc. Đó là dung mạo Thiên Chúa mà chúng ta tin: một Thiên Chúa không vô cảm trước nước mắt con người.
Có lẽ nhiều người trong chúng ta đã từng hỏi: “Nếu Chúa thương con, tại sao Chúa để điều này xảy ra?” Đây là một câu hỏi không dễ trả lời. Không một bài giảng nào có thể giải thích hết mầu nhiệm đau khổ. Đứng trước cái chết của một người thân, đôi khi những lời giải thích càng làm người đau khổ thêm đau. Đức Giêsu hôm nay cũng không giảng cho bà góa một bài thần học về sự dữ. Ngài không nói với bà tại sao người con phải chết. Ngài không bảo bà rằng hãy chấp nhận số phận. Ngài chỉ đến gần. Ngài nhìn thấy. Ngài chạnh lòng. Ngài nói: “Bà đừng khóc nữa.” Rồi Ngài chạm vào quan tài.
Đó là một Thiên Chúa rất lạ. Ngài không chỉ đứng bên ngoài sự đau khổ mà bước vào trong nó. Khi Đức Giêsu chạm vào quan tài, Ngài bước đến nơi mà luật thanh sạch Do Thái khiến người ta thường tránh né. Ngài không sợ sự ô uế của cái chết. Ngài không sợ đến gần nơi đau đớn nhất. Đó cũng là điều Thiên Chúa đã làm trong mầu nhiệm Nhập Thể. Con Thiên Chúa không cứu nhân loại từ xa. Ngài sinh vào giữa thân phận chúng ta. Ngài biết đói. Ngài biết mệt. Ngài biết bị hiểu lầm. Ngài biết bị phản bội. Ngài biết cô đơn. Ngài biết nước mắt. Ngài biết bị đóng đinh. Và cuối cùng Ngài bước xuống tận nấm mồ. Kitô giáo không loan báo một vị thần xa lạ với đau khổ; Kitô giáo loan báo Đấng đã mang thương tích trên chính thân thể mình.
Và rồi Đức Giêsu nói với người chết: “Này người thanh niên, tôi bảo anh: hãy trỗi dậy.” Một lời ngắn mà chứa cả quyền năng của Đấng tạo dựng. Ngày xưa Thiên Chúa phán và vũ trụ xuất hiện. Hôm nay Con Thiên Chúa phán và sự sống trở lại. Người chết ngồi dậy và bắt đầu nói. Điều rất đẹp là sau đó Đức Giêsu trao người con lại cho mẹ. Phép lạ không dừng ở việc một xác chết sống lại. Phép lạ còn là việc một tương quan được phục hồi, một gia đình được trả lại cho nhau, một người mẹ nhận lại đứa con, một tương lai tưởng đã đóng lại được mở ra. Đó chính là cách Thiên Chúa cứu độ: Ngài không chỉ cứu những linh hồn trừu tượng; Ngài phục hồi những con người, những tương quan, những gia đình và những cộng đoàn.
Nhưng câu chuyện thành Nain không chỉ là chuyện của một ngày rất xa trong lịch sử. Thành Nain có thể đang ở ngay trong lòng chúng ta. Mỗi người đều có một chiếc quan tài nào đó đang được khiêng qua cuộc đời mình. Có người đang khiêng quan tài của một mối quan hệ đã chết. Có người đang khiêng một cuộc hôn nhân nguội lạnh. Có người khiêng một ước mơ đã vỡ. Có người khiêng sự thất vọng về một đứa con. Có người khiêng ký ức về một lỗi lầm cũ. Có người đang chôn một niềm tin từng rất mạnh nhưng nay đã nguội. Có linh mục có thể vẫn cử hành, vẫn giảng dạy, vẫn phục vụ nhưng bên trong cảm thấy một phần đời thiêng liêng đã khô cạn. Có tu sĩ tiếp tục bổn phận mỗi ngày nhưng không còn niềm vui ban đầu. Có giáo dân vẫn đến nhà thờ nhưng lòng đã xa Chúa vì quá nhiều tổn thương. Có người nghĩ rằng mọi sự đã quá muộn. Tin Mừng hôm nay nói với họ: đừng vội chôn điều Thiên Chúa vẫn có thể làm cho sống lại.
Có những lúc chúng ta tuyên án tử quá sớm cho người khác. Một người đã phạm lỗi thì ta cho rằng họ sẽ mãi là người xấu. Một người đã sa ngã thì ta kết luận họ chẳng thể thay đổi. Một người có quá khứ không tốt thì ta giữ quá khứ ấy trên đầu họ suốt đời. Người ta có thể được Thiên Chúa tha thứ nhưng vẫn bị cộng đoàn đóng đinh bằng ký ức. Người ta đã ăn năn nhưng vẫn bị nhắc mãi về điều đã làm. Người ta muốn trở về nhưng đứng trước cánh cửa Hội Thánh mà cảm thấy chẳng ai muốn đón. Chính tại điểm ấy, lễ kính thánh Cornêliô và thánh Cyprianô trở nên đặc biệt ý nghĩa.
Hội Thánh thế kỷ thứ ba đã trải qua những cuộc bách hại dữ dội. Không phải Kitô hữu nào cũng đủ mạnh để đứng vững. Có những người vì sợ tra tấn và cái chết đã chối bỏ đức tin hay dâng hương cho các thần ngoại giáo. Khi cuộc bách hại qua đi, một câu hỏi nhức nhối xuất hiện: phải đối xử thế nào với những người đã sa ngã nhưng nay muốn trở lại? Có người chủ trương phải đóng cửa thật chặt: họ đã phản bội thì không được trở lại. Nhưng thánh Cornêliô và thánh Cyprianô bảo vệ một con đường khác: con đường của sự thật đi cùng lòng thương xót, của sám hối đi cùng hòa giải. Các ngài không bảo rằng tội lỗi chẳng đáng kể. Không. Tội vẫn là tội. Phản bội vẫn là phản bội. Nhưng các ngài xác tín rằng lòng thương xót của Thiên Chúa lớn hơn sự sa ngã của con người.
Đây là một bài học Hội Thánh phải học trong mọi thời đại. Có hai thái cực rất nguy hiểm. Một bên là biến lòng thương xót thành dễ dãi: coi mọi sự đều như nhau, tội lỗi chẳng còn quan trọng, chân lý bị làm mờ đi. Bên kia là biến chân lý thành một hòn đá để ném người khác: giữ luật rất đúng nhưng trái tim lại không còn chỗ cho người tội lỗi trở về. Đức Giêsu không chọn thái cực nào. Người phụ nữ ngoại tình được Ngài cứu khỏi những viên đá nhưng cũng được bảo: “Đừng phạm tội nữa.” Phêrô đã chối Thầy ba lần nhưng được trao lại sứ mạng chăn chiên. Người trộm lành đã sống một cuộc đời sai lạc nhưng vào giây phút cuối vẫn nghe lời hứa thiên đàng. Thiên Chúa luôn vừa là Chân Lý vừa là Lòng Thương Xót. Chân lý không có tình thương trở thành lạnh lùng. Tình thương không có chân lý trở thành cảm tính. Trong Đức Kitô, hai điều ấy gặp nhau.
Thánh Cornêliô và thánh Cyprianô đã hiểu điều đó. Các ngài bảo vệ sự hiệp nhất của Hội Thánh giữa lúc tranh luận và chia rẽ gay gắt. Các ngài biết rằng làm mục tử không phải chỉ là đứng ở vị trí cao để ra lệnh mà là canh giữ đoàn chiên để không ai bị mất. Một mục tử đúng nghĩa không vui khi loại được một người khỏi đoàn chiên; người ấy đau khi thấy một con chiên đang đi lạc. Một mục tử của Đức Kitô không hỏi trước tiên: “Người này đáng trách đến mức nào?”, nhưng còn hỏi: “Có con đường nào để người này được chữa lành và trở về không?” Chính Đức Giêsu đã nói người mục tử tốt lành để chín mươi chín con chiên lại và đi tìm con bị lạc. Không phải vì con lạc đúng, nhưng vì nó đang gặp nguy hiểm.
Bài đọc từ thư thứ nhất gửi ông Timôthê cũng cho chúng ta một hình ảnh rất sâu sắc về người lãnh đạo trong Hội Thánh. Thánh Phaolô không bắt đầu bằng kỹ năng quản trị, tài hùng biện hay khả năng tổ chức. Ngài nói về nhân cách. Người lãnh đạo phải tiết độ, chừng mực, nhã nhặn, hiếu khách, hiền hòa; người phục vụ phải chân thành, đáng tin cậy và được thử thách. Điều này rất đáng suy nghĩ. Trong thế giới hôm nay, chúng ta dễ đo một nhà lãnh đạo bằng hiệu quả, con số, chương trình, ảnh hưởng, lượng người theo dõi. Nhưng Tin Mừng đặt một câu hỏi khác: người ấy là con người thế nào khi không ai nhìn thấy?
Uy tín Kitô giáo không đến trước hết từ chức vụ mà từ đời sống. Chiếc áo có thể cho người ta một vị trí nhưng không tự động cho người ta sự thánh thiện. Một chức danh có thể đem đến quyền hạn nhưng không tạo ra một trái tim mục tử. Một người có thể nói rất hay về lòng thương xót nhưng lại khắc nghiệt với người sống gần mình. Có thể giảng rất hay về nghèo khó nhưng sống hoàn toàn xa cách người nghèo. Có thể nói nhiều về cầu nguyện nhưng tâm hồn không còn thật sự gặp Chúa. Vì thế Thánh Vịnh nói đến một điều rất đơn giản mà mạnh mẽ: bước đi với tấm lòng ngay thẳng. Một cộng đoàn không cần những con người hoàn hảo tuyệt đối; điều đó không tồn tại. Nhưng cộng đoàn rất cần những người chân thật, những người biết mình yếu, biết sám hối, biết xin lỗi, biết sửa mình và không dùng chức vụ để che giấu sự trống rỗng của đời sống nội tâm.
Lễ hai thánh tử đạo hôm nay càng làm lời ấy trở nên mạnh hơn. Các ngài không chỉ giảng bằng môi miệng mà cuối cùng giảng bằng máu mình. Tử đạo là lúc tất cả những gì chúng ta nói về đức tin được thử nghiệm. Khi đức tin chẳng còn đem lại lợi ích mà bắt đầu phải trả giá, lúc ấy ta mới biết mình tin đến đâu. Cornêliô và Cyprianô không theo Đức Kitô vì điều đó thuận tiện. Các ngài theo Ngài đến tận nơi có thể mất tất cả. Một vị là giáo hoàng. Một vị là giám mục. Nhưng điều làm Hội Thánh nhớ đến các ngài không phải là chức vụ cao mà là sự trung tín.
Ngày nay phần đông chúng ta không được gọi chịu tử đạo bằng máu, nhưng mỗi ngày đều có những cuộc tử đạo âm thầm. Làm người ngay thẳng giữa môi trường đầy gian dối là một hình thức tử đạo. Không nhận đồng tiền bất chính khi mọi người bảo “ai cũng làm thế” là tử đạo. Tha thứ khi có lý do để trả đũa là tử đạo. Giữ lời hứa hôn nhân khi tình cảm trải qua khô khan là tử đạo. Chăm sóc một người bệnh lâu năm mà không bỏ cuộc là tử đạo. Một người mẹ thức đêm chăm con khuyết tật suốt nhiều năm cũng đang trao hiến đời mình. Một người con kiên nhẫn chăm cha mẹ già cũng đang vác thập giá. Một linh mục vẫn trung thành với cầu nguyện, với tòa giải tội, với người nghèo dù chẳng ai biết đến cũng đang sống một sự hiến dâng âm thầm. Tử đạo trước hết nghĩa là làm chứng. Có những chứng tá được viết bằng máu; cũng có những chứng tá được viết bằng sự trung thành từng ngày.
Nhưng có một chi tiết rất đẹp trong Tin Mừng mà chúng ta không nên bỏ qua: phép lạ xảy ra tại cửa thành. Cửa thành là nơi chuyển tiếp. Bên này là thành phố của người sống. Bên kia là nơi mai táng. Chính ở ranh giới giữa sống và chết ấy, Đức Kitô xuất hiện. Và đời mỗi người cũng có rất nhiều “cửa thành” như thế. Đó là những thời điểm chuyển tiếp, mong manh, khi ta không biết tương lai sẽ thế nào: ngày nhận kết quả xét nghiệm bệnh; ngày mất việc; ngày một cuộc hôn nhân đứng bên bờ đổ vỡ; ngày một người thân qua đời; ngày con cái rời gia đình; ngày tuổi già bắt đầu cho ta thấy những giới hạn; ngày ta nhận ra mình không còn khỏe như trước; ngày ta phải đối diện với một thất bại lớn. Đó là những cửa thành của đời người.
Chúng ta thường sợ những cửa thành ấy vì đó là nơi mình không kiểm soát được mọi sự. Nhưng Tin Mừng hôm nay nói: chính tại cửa thành, Chúa đang đi đến. Có những lúc ta tưởng mình đang bước ra nghĩa trang thì Đức Kitô đang bước về phía mình. Có những ngày ta nghĩ mọi chuyện đã kết thúc thì Chúa bắt đầu một điều ta chưa hề tưởng tượng. Người mẹ thành Nain sáng hôm ấy chắc chắn không thức dậy với hy vọng rằng cuối ngày mình sẽ ôm lại đứa con còn sống. Bà chỉ biết đi theo quan tài. Nhưng Chúa đã đến trên con đường bà chẳng còn hy vọng gì.
Đó là lý do Kitô hữu không bao giờ tuyệt vọng hoàn toàn. Chúng ta buồn, nhưng không buồn như người không có hy vọng. Chúng ta khóc, nhưng nước mắt không phải là lời cuối cùng. Chúng ta chôn cất người thân, nhưng đứng bên mộ vẫn tuyên xưng: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại.” Đức tin Kitô giáo không phủ nhận cái chết; nó nhìn thẳng vào cái chết nhưng tuyên bố rằng cái chết không phải là ông chủ cuối cùng của con người. Trên đồi Golgotha, người ta tưởng sự chết đã thắng. Người ta đóng kín mộ và lăn một tảng đá lớn. Nhưng sáng ngày thứ nhất trong tuần, tảng đá đã bị lăn ra. Từ đó, mọi nghĩa trang của Kitô hữu đều mang một lời hứa.
Tin Mừng hôm nay cũng mời chúng ta trở thành những con người biết dừng lại. Có lẽ phép lạ đầu tiên chúng ta cần thực hiện không phải làm người chết sống lại mà là đừng đi qua nỗi đau của người khác quá nhanh. Khi gặp một người đang đau khổ, đừng vội nói: “Chuyện rồi sẽ qua.” Đừng vội giải thích tại sao Chúa cho phép điều đó. Có khi điều họ cần trước hết chỉ là một người ngồi cạnh. Một cuộc điện thoại. Một bữa cơm. Một bàn tay nắm lấy bàn tay. Một lời: “Tôi ở đây với anh.” Có những người không cần ta giải quyết cuộc đời họ; họ chỉ cần biết rằng họ không phải chịu đựng một mình.
Đức Giêsu nhìn thấy bà góa. Hội Thánh cũng được gọi để nhìn thấy. Hội Thánh không thể chỉ nhìn vào những hàng ghế đầy hay vắng, những công trình lớn nhỏ, những con số thống kê. Hội Thánh phải nhìn thấy những khuôn mặt. Người góa bụa. Người nghèo. Người bệnh. Người trẻ mất hướng. Người già cô đơn. Người vừa ra tù muốn bắt đầu lại. Người hôn nhân đổ vỡ. Người đang mang mặc cảm. Người bị xã hội coi thường. Người đã rời nhà thờ nhiều năm nhưng sâu trong lòng vẫn mong có một cánh cửa mở. Nếu chúng ta chỉ thấy luật mà không thấy người, Tin Mừng đã bị biến thành một hệ thống. Nếu chúng ta chỉ thấy tội mà không thấy người tội lỗi đang cần cứu, chúng ta đã quên Đức Giêsu.
Điều ấy không có nghĩa rằng Hội Thánh không còn nói về chân lý. Chính vì yêu con người mà Hội Thánh phải nói thật về điều dẫn đến sự sống và điều dẫn đến hủy diệt. Nhưng chân lý phải được nói bằng trái tim của Đức Kitô. Khi Chúa sửa dạy, Ngài sửa dạy để cứu. Khi Chúa cảnh cáo, Ngài cảnh cáo để con người quay về. Ngài không tìm niềm vui trong việc kết án. Thập giá là bằng chứng cuối cùng: Đấng có quyền phán xét thế gian lại để mình chịu phán xét, bởi Ngài muốn cứu thế gian.
Chúng ta hãy tự hỏi: có ai quanh tôi đang đi trong một “đoàn tang” mà tôi chưa nhận ra không? Có thể họ chưa mất một người thân, nhưng đang mất hy vọng. Có thể họ chưa khóc trước một quan tài, nhưng trong lòng một điều gì đó đang chết. Một đứa trẻ bị cha mẹ so sánh và bắt đầu tin rằng mình vô dụng. Một thanh niên thất bại và nghĩ đời mình không còn ý nghĩa. Một người già cảm thấy mình trở thành gánh nặng. Một người từng phạm lỗi tin rằng Thiên Chúa cũng đã bỏ mình. Chúa cần chúng ta dừng lại trước những người ấy.
Có khi chỉ một câu nói của ta có thể cứu một người khỏi tuyệt vọng. Cũng có khi chỉ một câu nói thiếu suy nghĩ của ta khiến họ đau thêm nhiều năm. Lời nói có thể giết, và lời nói có thể làm sống. Đức Giêsu nói với chàng thanh niên: “Hãy trỗi dậy.” Chúng ta cũng có thể nói với người bên cạnh những lời giúp họ trỗi dậy: “Tôi tin anh vẫn có thể bắt đầu lại.” “Chuyện đã qua không phải là toàn bộ con người chị.” “Con thất bại lần này nhưng con không phải là một người thất bại.” “Cha mẹ vẫn yêu con.” “Chúa chưa bỏ anh.” Những lời như thế không phải phép thuật, nhưng đôi khi chính qua một lời nhân hậu mà Thiên Chúa chạm vào người khác.
Và rồi hãy nhớ điều đẹp nhất: Đức Giêsu trao người con lại cho mẹ. Mọi ân sủng Chúa ban đều cuối cùng đưa chúng ta trở lại với các tương quan. Người được chữa lành phải trở lại với cộng đoàn. Người được tha thứ phải học tha thứ. Người nhận lòng thương xót phải trở thành người có lòng thương xót. Không ai được cứu chỉ để giữ ơn cứu độ cho riêng mình.
Thánh Cornêliô và thánh Cyprianô đã sống điều ấy. Hai vị mục tử của một Hội Thánh bị bách hại đã cho thấy rằng người lãnh đạo Kitô giáo phải vừa là người canh giữ chân lý vừa là người mở cửa cho sự hòa giải. Các ngài đã đứng tại những “cửa thành” của thời đại mình, nơi Hội Thánh phải chọn giữa trả thù và tha thứ, giữa loại trừ và phục hồi, giữa sợ hãi và trung tín. Các ngài chọn con đường Đức Kitô. Và con đường ấy cuối cùng dẫn tới tử đạo.
Hôm nay, có lẽ Chúa cũng đặt mỗi người chúng ta trước một cửa thành. Có thể đó là cánh cửa của một người ta đang giận. Có thể đó là một người đã lâu ta không nói chuyện. Có thể là một thành kiến ta giữ nhiều năm. Có thể là một vết thương ta không chịu buông. Có thể là một người ta đã đóng dấu “hết hy vọng”. Chúa đang hỏi: con sẽ bước qua cửa ấy như thế nào?
Sẽ có những lúc ta không thể làm cho hoàn cảnh thay đổi. Không phải người bệnh nào cũng được khỏi. Không phải gia đình nào cũng tránh được tang tóc. Không phải mọi cuộc khủng hoảng đều kết thúc theo điều ta muốn. Nhưng một điều chúng ta luôn có thể làm: không để người đau khổ phải đi một mình. Đôi khi phép lạ Chúa thực hiện không phải là cất thập giá đi, nhưng gửi một người đến cùng vác. Không phải lúc nào Ngài cũng dẹp cơn bão ngay, nhưng Ngài bước xuống thuyền.
Nếu Hội Thánh sống được điều đó, Hội Thánh sẽ thật sự trở thành dấu chỉ Đức Kitô. Một giáo xứ nơi người nghèo cảm thấy được đón nhận; một cộng đoàn nơi người sa ngã vẫn tìm thấy con đường trở về; một gia đình nơi con cái biết rằng thất bại không làm chúng mất tình yêu của cha mẹ; một đời linh mục trong đó người ta không chỉ nghe lời giảng mà cảm nhận được một trái tim mục tử — đó chính là những phép lạ thành Nain đang tiếp tục.
Và có lẽ đó cũng là điều hai thánh Cornêliô và Cyprianô muốn nói với Hội Thánh hôm nay: đừng bao giờ tách lòng trung thành với chân lý khỏi lòng thương xót đối với con người. Đừng nghĩ rằng mạnh mẽ nghĩa là cứng cỏi. Đức Giêsu mạnh đến mức có thể gọi người chết sống lại, nhưng Ngài cũng dịu dàng đến mức dừng lại trước nước mắt một bà góa. Đó là sức mạnh của Thiên Chúa: sức mạnh biết cúi xuống.
Cuối cùng, trước khi kết thúc ngày sống, mỗi người có thể tự hỏi ba câu rất đơn giản. Hôm nay tôi đã nhìn thấy ai? Tôi đã dừng lại trước nỗi đau của ai? Và qua tôi, có ai được thêm một chút sức mạnh để trỗi dậy không? Nếu mỗi Kitô hữu sống ba câu hỏi ấy, thế giới có lẽ sẽ thay đổi nhiều hơn chúng ta tưởng.
Xin thánh Cornêliô và thánh Cyprianô cầu thay cho chúng ta, để giữa một thế giới dễ chia phe, chúng ta biết xây cầu; giữa một thế giới mau kết án, chúng ta biết mở đường cho người trở về; giữa một thế giới tôn thờ quyền lực, chúng ta biết chọn quyền lực của phục vụ; giữa một thế giới ngày càng dễ vô cảm, chúng ta giữ được một trái tim biết chạnh lòng thương. Xin cho các mục tử của Hội Thánh không chỉ là những người đứng trên cao nhìn đoàn chiên, nhưng là những người bước xuống đường, nghe được tiếng khóc, nhận ra người bị bỏ quên và dám dừng lại ở những cửa thành nơi sự sống đang vật lộn với cái chết.
Và xin Đức Giêsu, Đấng đã đứng trước quan tài người thanh niên thành Nain, cũng đứng trước những phần đang chết trong mỗi người chúng ta. Xin Người nói lại lời năm xưa: “Hãy trỗi dậy.” Hãy trỗi dậy khỏi thất vọng. Hãy trỗi dậy khỏi tội lỗi. Hãy trỗi dậy khỏi hận thù. Hãy trỗi dậy khỏi sự nguội lạnh. Hãy trỗi dậy khỏi những ngày sống vô nghĩa. Hãy trỗi dậy và bắt đầu lại. Bởi vì nơi nào Đức Kitô xuất hiện, cái chết không còn là lời cuối cùng. Nơi nào lòng thương xót của Người chạm đến, một con đường mới luôn có thể mở ra. Và nơi cửa thành của cuộc đời, khi đoàn người của nước mắt tưởng như đang đi về phía nghĩa trang, Đức Kitô vẫn đang tiến đến từ phía đối diện. Ngài nhìn thấy. Ngài chạnh lòng thương. Ngài dừng lại. Và Ngài vẫn đang nói với thế giới hôm nay: “Ta bảo con, hãy trỗi dậy.”
Lm. Anmai, CSsR

LẠY CHÚA, CON CHẲNG ĐÁNG CHÚA NGỰ VÀO NHÀ CON
Có những lời chúng ta đọc rất nhiều lần đến độ môi vẫn nói mà trái tim không còn rung động; có những lời chúng ta thưa mỗi ngày trong Thánh lễ đến độ chúng trở thành quen thuộc, nhưng nếu một ngày nào đó chúng ta thực sự hiểu điều mình đang nói, có lẽ chúng ta sẽ không thể nói những lời ấy cách hời hợt nữa. Một trong những lời như thế chính là lời chúng ta thưa ngay trước khi rước lễ: “Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con, nhưng xin Chúa phán một lời thì linh hồn con sẽ lành mạnh.” Câu nói ấy bắt nguồn từ cuộc gặp gỡ rất đặc biệt giữa Đức Giêsu và một viên đại đội trưởng ngoại giáo ở Caphácnaum. Điều lạ lùng là người đã để lại cho Hội Thánh một trong những lời cầu nguyện đẹp nhất trước Thánh Thể lại không phải là một kinh sư, không phải là một tư tế Đền Thờ, không phải là một người thuộc nhóm các môn đệ, nhưng là một người ngoại, một sĩ quan của quân đội Rôma. Ông có quyền lực, có thuộc hạ, có địa vị, có tiếng nói; thế nhưng đứng trước Đức Giêsu, tất cả quyền lực ấy trở nên nhỏ bé. Ông không khoe mình là ai. Ông không kể công. Ông không nói rằng mình xứng đáng. Ông chỉ nhận mình bất xứng, rồi trao trọn niềm tin vào quyền năng của một lời từ Đức Kitô: “Xin Ngài cứ nói một lời.” Chính ở điểm ấy, Tin Mừng đặt trước mắt chúng ta một câu hỏi rất sâu: chúng ta đang đến với Chúa bằng thái độ nào? Chúng ta đến để đòi hỏi, hay để tín thác? Chúng ta đến với tâm thế của người nghĩ rằng Chúa phải làm điều gì đó cho mình vì mình đã sống tốt, đã đọc kinh, đã làm việc thiện, đã đi lễ nhiều năm; hay chúng ta đến như một người nghèo đứng trước Đấng là nguồn mạch của mọi ân sủng và chỉ biết thưa: “Lạy Chúa, tất cả đều là hồng ân”?
Tin Mừng kể rằng người đầy tớ mà viên đại đội trưởng quý mến đang đau nặng gần chết. Ông nghe nói về Đức Giêsu và sai những kỳ mục Do Thái đến xin Người cứu người đầy tớ ấy. Những người này lại dùng một thứ ngôn ngữ rất khác với ngôn ngữ của chính viên sĩ quan. Họ nói với Đức Giêsu rằng ông ta “xứng đáng” được Chúa giúp, bởi ông yêu dân Do Thái và đã xây hội đường cho họ. Họ trình bày những công trạng của ông như thể đang đưa ra một hồ sơ để chứng minh rằng phép lạ nên được ban cho người này. Nhưng khi viên đại đội trưởng lên tiếng, ông hoàn toàn không nói đến công trạng. Ông nói điều ngược lại: “Tôi không đáng được Ngài vào nhà tôi.” Những người chung quanh nói: “Ông ấy đáng.” Còn chính ông nói: “Tôi không đáng.” Đó là sự khác biệt giữa cái nhìn của con người và cái nhìn của một tâm hồn đã bắt đầu hiểu Thiên Chúa. Con người thường đếm công. Thiên Chúa ban ân sủng. Con người thường so sánh mình với người khác và tự nhủ: tôi đâu đến nỗi nào, tôi đã làm nhiều việc tốt, tôi sống tử tế hơn nhiều người. Nhưng người thực sự đến gần Thiên Chúa càng nhận ra mình chẳng có gì để khoe. Ánh sáng càng mạnh thì bụi càng hiện rõ; linh hồn càng gần Chúa càng thấy sự nghèo nàn của mình. Khiêm nhường không phải là tự khinh mình, không phải phủ nhận những điều tốt Chúa đã làm nơi mình, nhưng là biết tất cả những gì mình có đều đã nhận lãnh. Ta không mua được tình yêu Thiên Chúa. Ta không kiếm được ơn cứu độ như kiếm một phần thưởng. Ta không thể nói với Chúa: “Con đã làm cho Chúa từng ấy, giờ Chúa phải làm cho con điều này.” Tình yêu mà còn tính toán theo kiểu ấy thì chưa phải là tình yêu của Tin Mừng.
Viên đại đội trưởng còn đi xa hơn nữa. Ông không chỉ nhận mình bất xứng; ông còn tin tuyệt đối vào quyền năng lời Đức Giêsu. Ông hiểu quyền bính bởi chính ông là người có quyền. Ông nói với người lính này: “Đi”, người ấy đi; nói với người khác: “Đến”, người ấy đến. Và từ kinh nghiệm rất đời thường của mình, ông thực hiện một bước nhảy vĩ đại của đức tin: nếu một sĩ quan nhỏ bé như tôi còn có thể ra lệnh và thuộc hạ vâng lời, thì Đấng này chắc chắn có một quyền bính vượt xa mọi quyền lực trần gian. Người không cần bước vào căn nhà. Người không cần đặt tay trên bệnh nhân. Người không cần nhìn thấy người đầy tớ. Người chỉ cần nói. Bệnh tật phải rút lui. Khoảng cách không cản được Người. Không gian không giới hạn được Người. Sự bất lực của con người không giới hạn quyền năng Thiên Chúa. Và Đức Giêsu đã kinh ngạc trước đức tin ấy, đến độ Người nói rằng ngay cả trong Israel Người cũng chưa gặp một đức tin như vậy.
“Xin Ngài cứ nói một lời.” Có lẽ đây cũng phải là lời của chúng ta trong rất nhiều hoàn cảnh của cuộc đời. Khi ta không còn khả năng sửa chữa một gia đình đang rạn nứt: “Lạy Chúa, xin Chúa nói một lời.” Khi một người con đã đi quá xa, mọi lời khuyên của cha mẹ dường như đều bất lực: “Lạy Chúa, xin Chúa nói một lời.” Khi lòng mình mang một vết thương nhiều năm chưa lành, ta đã cố quên nhưng càng cố càng nhớ, đã cố tha thứ nhưng vẫn đau: “Lạy Chúa, xin Chúa nói một lời.” Khi đứng trước bệnh tật, tuổi già, sự chia ly, cái chết của người mình thương, ta nhận ra tiền bạc và quyền lực của mình đều có giới hạn: “Lạy Chúa, xin Chúa nói một lời.” Khi chính ta đã sa vào một thứ tội quen đến mức tưởng không thể thoát ra: “Lạy Chúa, xin Chúa nói một lời.” Đức tin không có nghĩa là Chúa nhất thiết sẽ làm mọi việc đúng theo hình dung của ta. Đức tin là tin rằng lời cuối cùng không thuộc về căn bệnh, không thuộc về thất bại, không thuộc về quá khứ, không thuộc về tội lỗi, không thuộc về nấm mồ. Lời cuối cùng thuộc về Thiên Chúa.
Nhưng câu chuyện viên đại đội trưởng trở nên đặc biệt gần gũi mỗi khi chúng ta tham dự Thánh lễ. Chỉ ít phút trước khi rước lễ, Hội Thánh đặt chính lời của người ngoại giáo ấy trên môi chúng ta. Linh mục nâng Mình Thánh Chúa lên và công bố: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian. Phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa.” Và cả cộng đoàn đáp: “Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con…” Chúng ta nói “nhà con”, nhưng ngôi nhà ấy không còn chỉ là căn nhà bằng gạch đá. Đó là chính con người chúng ta. Chúa sẽ bước vào thân xác này, tâm hồn này, ký ức này, trái tim này. Người mà trời cao không chứa nổi lại muốn đến trong một tấm bánh bé nhỏ. Đấng dựng nên các thiên hà muốn trở thành lương thực của một con người. Đấng được các thiên thần phủ phục tôn thờ lại để cho bàn tay con người cầm lấy. Đấng mà chúng ta chẳng bao giờ có thể với tới bằng sức riêng lại chủ động đến gần và nói: “Hãy cầm lấy mà ăn.” Nếu thực sự ý thức điều ấy, có lẽ chúng ta phải run lên vì kinh ngạc.
Vấn đề là chúng ta đã quá quen với phép lạ. Người Kitô hữu đôi khi đứng trước điều phi thường quá thường xuyên nên cuối cùng coi nó là bình thường. Có người đi lễ cả đời mà chưa bao giờ tự hỏi: tôi đang đi gặp ai? Có người xếp hàng rước lễ như xếp hàng nhận một thứ gì đó vốn đương nhiên thuộc về mình. Có người vừa rước Chúa xong đã nhìn đồng hồ, xem điện thoại, nói chuyện, hoặc để tâm trí chạy ngay sang hàng trăm chuyện khác. Có người bước đến bàn tiệc Thánh Thể nhưng mang theo một tâm hồn chất đầy giận dữ, ganh ghét và cố chấp mà chẳng thấy cần phải thay đổi. Có người vẫn rước lễ đều đặn nhưng đã rất lâu không xét mình xem tương quan của mình với Thiên Chúa và tha nhân đang ở đâu. Điều đáng sợ nhất trong đời sống thiêng liêng không phải lúc nào cũng là chối bỏ Chúa công khai; đôi khi điều đáng sợ hơn là quá quen với Chúa đến mức không còn kinh ngạc vì Người nữa.
Hãy thử tưởng tượng lần đầu tiên trong đời ta được biết rằng Đức Giêsu thật sự hiện diện trong Thánh Thể. Hãy thử tưởng tượng ta chưa từng rước lễ bao giờ và hôm nay mới là lần đầu tiên được nghe: “Con sẽ được đón chính Chúa vào lòng.” Ta sẽ chuẩn bị thế nào? Ta sẽ bước đi thế nào? Ta sẽ thinh lặng thế nào? Ta sẽ rước lễ thế nào? Ta sẽ cảm tạ thế nào? Có khi những người mới trở lại đạo lại làm người đạo gốc phải xấu hổ, bởi họ còn biết ngỡ ngàng trước điều chúng ta đã biến thành thói quen. Bi kịch lớn của đời sống đức tin không hẳn là thiếu những điều thánh thiêng; đôi khi là sống ngay giữa những điều thánh thiêng mà trái tim đã mất khả năng rung động.
Thánh Phaolô đã phải nói rất mạnh với cộng đoàn Côrintô vì chính căn bệnh ấy. Họ vẫn tụ họp. Họ vẫn cử hành Bữa Tiệc của Chúa. Nhưng những buổi tụ họp đáng lẽ phải làm họ nên tốt hơn lại đang làm họ trở nên tệ hơn. Tại sao? Vì trong cộng đoàn xuất hiện chia rẽ, ích kỷ và thái độ khinh thường người nghèo. Người có của ăn uống no say, trong khi người nghèo thiếu thốn. Họ tưởng mình đang “dự lễ”, nhưng thánh Phaolô nói thẳng rằng thái độ ấy phản bội chính ý nghĩa của Bữa Tiệc Thánh Thể. Ngài nhắc lại truyền thống đã nhận được: trong đêm bị trao nộp, Đức Giêsu cầm lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra và nói: “Đây là Mình Thầy, hiến tế vì anh em.” Chén rượu là giao ước mới trong Máu Người. Mỗi khi ăn bánh và uống chén ấy, người tín hữu loan truyền cái chết của Chúa cho tới khi Người lại đến. Nhưng làm sao chúng ta có thể cầm lấy Tấm Bánh bị bẻ ra vì mọi người, rồi sống mà không chịu bị “bẻ ra” cho bất cứ ai? Làm sao uống cùng một Chén giao ước rồi bước ra khỏi nhà thờ và tiếp tục hận nhau? Làm sao tuyên xưng một Chúa, một đức tin, một phép rửa, một bàn tiệc, mà lại chia đời sống thành phe này phe kia? Đó chính là nghịch lý mà thánh Phaolô không thể chấp nhận.
Thánh Thể không chỉ là Chúa Giêsu đến với từng cá nhân như thể mỗi người có một cuộc gặp riêng không liên quan đến ai khác. Thánh Thể còn làm nên Hội Thánh. Chúng ta cùng ăn một Bánh để được biến đổi thành một thân thể. Khi ta thưa “Amen” trước Mình Thánh Chúa, tiếng “Amen” ấy không chỉ có nghĩa: “Con tin đây là Mình Đức Kitô.” Nó còn mang một đòi hỏi sâu xa hơn: “Con chấp nhận để Đức Kitô biến đổi con thành một phần của Thân Thể Người.” Mà nếu cùng thuộc về một Thân Thể, ta không thể vui khi một phần khác đau; không thể ghét người mà Đức Kitô đã chết cho họ; không thể nói mình yêu Đầu là Đức Kitô mà lại khinh thường những chi thể của Người.
Bởi vậy, một trong những cuộc xét mình cần thiết nhất trước Thánh lễ không chỉ là: “Tôi đã phạm điều gì?” mà còn phải là: “Trong lòng tôi đang có ai mà tôi không muốn tha thứ? Có ai tôi mong họ thất bại? Có ai tôi không muốn nhìn mặt? Có người nào tôi đã đóng đinh mãi trong ký ức bằng lỗi lầm quá khứ của họ? Tôi có đang nuôi một cuộc chiến âm thầm trong gia đình, cộng đoàn, giáo xứ, hội đoàn hay không?” Chúng ta có thể rất sốt sắng trước nhà tạm nhưng rất cay nghiệt với con người. Chúng ta có thể cúi mình thật sâu trước Thánh Thể rồi bước ra và dùng lời nói làm tổn thương anh chị em. Chúng ta có thể quỳ rất lâu trước Chúa nhưng nhất định không chịu cúi xuống để xin lỗi một người. Khi ấy lòng đạo đức có nguy cơ trở thành một lớp áo che cho cái tôi.
Đức Giêsu từng nói: nếu đang dâng lễ vật nơi bàn thờ mà nhớ người anh em có điều bất bình với mình, hãy để lễ vật lại, đi làm hòa trước đã rồi trở lại dâng lễ vật. Người không nói như thế vì việc phụng tự không quan trọng, nhưng chính vì phụng tự quá quan trọng nên không thể tách khỏi tình yêu. Bí tích Thánh Thể là bí tích của tình yêu tự hiến. Nếu tôi muốn đón Đấng đã tha thứ cho kẻ đóng đinh mình nhưng tôi lại quyết không tha thứ cho một người làm tổn thương tôi, thì giữa Bí tích tôi lãnh nhận và đời sống tôi đang sống có một sự mâu thuẫn đau đớn. Nếu tôi đón Đấng đã bẻ chính mình ra cho tôi, nhưng tôi không muốn hy sinh chút tiện nghi nào cho người khác, tôi chưa thật sự để Thánh Thể đi vào cuộc sống. Nếu tôi đón Đấng đã rửa chân cho môn đệ nhưng tôi chỉ muốn người khác phục vụ mình, tôi vẫn chưa hiểu Người mà tôi vừa rước.
“Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con.” Có một điều thật đẹp: chúng ta tuyên xưng mình bất xứng, nhưng Chúa vẫn đến. Đó là Tin Mừng. Chúa không đến vì căn nhà đã hoàn hảo. Chúa đến để chữa lành căn nhà. Chúa không chờ đến khi ta hoàn toàn thánh thiện rồi mới yêu ta. Chính tình yêu của Người muốn làm ta nên thánh. Tuy nhiên, sự bất xứng mà phụng vụ dạy chúng ta tuyên xưng không phải là giấy phép để ta sống thế nào cũng được. Khiêm nhường khác với dễ dãi. Nói “con chẳng đáng” không có nghĩa: “Con chẳng cần thay đổi.” Trái lại, chính vì biết mình chẳng đáng mà ta càng khát khao để Chúa thanh tẩy mình. Chúng ta không thể tự làm cho mình xứng đáng với Thiên Chúa theo nghĩa đòi Người phải đến; nhưng chúng ta có trách nhiệm mở lòng để ân sủng Người hoạt động, từ bỏ tội lỗi, hòa giải với Người trong Bí tích Hòa Giải khi cần, và cố gắng sống trong đức ái. Viên đại đội trưởng nói mình không đáng, nhưng ông không bỏ chạy khỏi Chúa. Ông càng khiêm nhường thì càng tin tưởng. Khiêm nhường Kitô giáo không dẫn đến tuyệt vọng mà dẫn đến phó thác.
Đức Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận để lại một minh họa đặc biệt cảm động cho thái độ ấy đối với Thánh Thể. Khi bị giam giữ sau năm 1975, giữa những tháng năm tù đày kéo dài, một trong những băn khoăn lớn nhất của ngài là làm sao có thể cử hành Thánh lễ. Trong hoàn cảnh thiếu thốn, ngài đã xin gia đình gửi chút rượu với lý do làm “thuốc đau bao tử”; gia đình hiểu và gửi rượu lễ cùng bánh lễ. Có những ngày ngài cử hành Thánh lễ với vài giọt rượu và chút bánh trên lòng bàn tay. Không bàn thờ bằng đá. Không chén lễ quý giá. Không áo lễ đẹp. Không tiếng đàn. Không cộng đoàn đông đảo. Không ánh sáng huy hoàng của một thánh đường. Chỉ có một người tù, một chút bánh, vài giọt rượu và mầu nhiệm Núi Sọ hiện diện. Chính trong cái nghèo gần như tuyệt đối ấy, giá trị của Thánh Thể bừng sáng. Bài suy niệm của cha Roger Landry kể lại rằng Đức Hồng y từng coi những Thánh lễ trong hoàn cảnh tù đày ấy như những Thánh lễ đẹp đặc biệt của đời mình; khi được chuyển đến nơi giam đông tù nhân hơn, ngài còn cử hành bí mật vào ban đêm, phân chia những phần Mình Thánh rất nhỏ cho các tín hữu và tìm cách lưu giữ Thánh Thể để các tù nhân có thể chầu Chúa.
Thử hỏi chúng ta: điều mà một vị mục tử trong tù phải đánh đổi rất nhiều để có được, chúng ta đang đón nhận thế nào khi nó ở ngay gần nhà mình? Ngài phải dùng lòng bàn tay làm bàn thờ, còn chúng ta có nhà thờ. Ngài chỉ có vài vụn bánh nhỏ, còn chúng ta có Thánh lễ mỗi ngày. Ngài cử hành trong tối tăm và nguy hiểm, còn chúng ta có chuông, có ánh sáng, có cộng đoàn, có tự do. Vậy mà đôi khi một cơn mưa cũng đủ giữ chúng ta ở nhà. Một chút mệt cũng khiến Thánh lễ trở thành gánh nặng. Một cuộc vui có thể dễ dàng chiếm chỗ của Chúa nhật. Một chuyến đi chơi khiến ta chẳng bận tâm tìm một nhà thờ. Chúng ta không nên nghe những câu chuyện ấy để tự kết án mình, nhưng để tỉnh thức: có những kho báu chỉ khi sắp mất người ta mới hiểu giá trị. Đừng để đến ngày không còn dễ dàng tham dự Thánh lễ ta mới tiếc những ngày đã có thể đến mà không đến.
Điều làm chứng tá của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận đặc biệt không chỉ là việc ngài tìm mọi cách để có Thánh lễ, nhưng còn ở chỗ Thánh Thể dần biến cả cuộc đời ngài thành một Thánh lễ. Một Thánh lễ thật không kết thúc khi linh mục nói: “Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an.” Câu ấy không phải dấu chấm hết mà là lệnh sai đi. Ta đã nhận lấy một Đấng tự hiến; bây giờ ta được sai đi để tự hiến. Ta đã ăn Tấm Bánh bị bẻ ra; bây giờ đời ta cũng phải biết được bẻ ra vì người khác. Ta đã uống Chén của giao ước; bây giờ ta phải sống trung thành với giao ước tình yêu ấy trong gia đình, trong cộng đoàn, nơi làm việc và trong từng tương quan.
Có người hỏi: làm sao biết một Thánh lễ đã thật sự sinh hoa trái trong tôi? Đừng chỉ hỏi tôi có cảm thấy sốt sắng không. Có những Thánh lễ ta rất cảm động mà đời sống không đổi. Có những Thánh lễ ta khô khan nhưng lại âm thầm sinh hoa trái lớn lao. Hãy hỏi sau Thánh lễ tôi có kiên nhẫn hơn không; tôi có bớt ích kỷ hơn không; tôi có dễ tha thứ hơn không; lời nói của tôi có bớt làm người khác đau không; tôi có quan tâm đến người nghèo hơn không; tôi có thấy người bên cạnh là anh chị em hơn không; tôi có biết hy sinh quyền lợi riêng cho lợi ích chung hơn không. Nếu sau hàng ngàn lần rước lễ mà trái tim vẫn khép kín như cũ, chúng ta phải tự hỏi: tôi đang để Chúa đi vào đâu?
Điều này đặc biệt quan trọng đối với người phục vụ trong Hội Thánh. Linh mục có thể cử hành Thánh lễ mỗi ngày nhưng vẫn có nguy cơ quen với những điều thánh. Người giáo dân có thể tham dự nhiều hội đoàn, làm nhiều việc đạo đức nhưng vẫn có thể mang những rạn nứt sâu trong gia đình. Người tu sĩ có thể sống rất gần nhà nguyện nhưng tâm hồn lại xa Chúa. Không ai được miễn khỏi cám dỗ biến cái thánh thành thói quen. Bởi vậy, mỗi lần đứng trước bàn thờ cần trở thành một lần trở lại. Linh mục phải tự hỏi: tôi đang cầm lấy Mình Đức Kitô bằng đôi tay này, vậy đôi tay ấy hôm nay đã làm gì cho những người nghèo? Tôi đang đọc những lời “Này là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con”, vậy chính đời tôi có được trao đi hay đang chỉ bảo vệ sự an toàn của mình? Giáo dân phải tự hỏi: tôi đang rước một Đức Kitô đã yêu đến cùng, vậy tôi có yêu đến cùng người bạn đời, con cái, cha mẹ già, người đồng nghiệp khó chịu, người từng xúc phạm tôi không?
Đôi lúc chúng ta mong một phép lạ lớn, nhưng phép lạ Chúa muốn làm lại âm thầm hơn: biến một trái tim cay đắng thành trái tim biết tha thứ; biến một người chỉ nghĩ đến mình thành người biết nghĩ đến người khác; biến một con người đang tuyệt vọng thành người có thể hy vọng; biến một người kiêu ngạo thành người biết xin lỗi; biến một gia đình lạnh lẽo thành nơi có lời cầu nguyện; biến một cộng đoàn chia rẽ thành cộng đoàn hiệp nhất. Đó chính là những phép lạ của Thánh Thể. Chúng không luôn gây tiếng động nhưng có thể làm thay đổi cả một đời người.
Có một nghịch lý rất đẹp: viên đại đội trưởng tin rằng Đức Giêsu không cần vào nhà mình mà vẫn có thể chữa người đầy tớ. Còn chúng ta, Đức Giêsu không chỉ chữa từ xa; Người thực sự muốn bước vào. Người đi qua ngưỡng cửa sâu nhất của con người, đi vào chính thân thể ta. Đấng mà viên sĩ quan chỉ xin “nói một lời” lại ban cho chúng ta không chỉ lời của Người nhưng chính Thân Mình Người. Chúng ta được nhận nhiều hơn điều viên đại đội trưởng khi ấy dám xin. Vậy chúng ta có đức tin bằng ông không?
Có lẽ hôm nay chúng ta cần học lại cách rước lễ. Không phải trước hết bằng những động tác bên ngoài, dù sự cung kính bên ngoài rất quan trọng, nhưng bằng một hành trình nội tâm. Khi bước vào nhà thờ, hãy ý thức: tôi sắp gặp Chúa. Khi nghe Lời Chúa, đừng chỉ nghe như một bài đọc; hãy để Chúa nói một lời vào chính hoàn cảnh của mình. Khi dâng bánh và rượu, hãy đặt trên bàn thờ công việc, những lo toan, những thất bại, những người ta yêu thương, những người ta chưa thể yêu, cả tội lỗi và sự yếu đuối của mình. Khi linh mục đọc lời truyền phép, hãy để tâm hồn thưa: “Lạy Chúa, xin cũng biến đổi con.” Khi chuẩn bị rước lễ, hãy nói chậm lời viên đại đội trưởng: “Con chẳng đáng…” Và sau khi rước lễ, đừng vội chạy khỏi thinh lặng. Hãy cho Chúa ít phút. Có thể chẳng cần nói gì nhiều. Người đang ở đó. Ta đang mang trong mình Đấng mà cả vũ trụ không thể chứa nổi.
Và nếu lúc ấy trong lòng ta hiện lên một khuôn mặt mà ta đang giận, có thể chính Chúa đang chỉ cho ta nơi Người muốn bắt đầu cuộc chữa lành. Nếu hiện lên một lỗi lầm khiến ta xấu hổ, đừng chạy trốn; hãy để Chúa chạm đến nó. Nếu hiện lên một nỗi sợ, hãy trao cho Người. Nếu hiện lên một người đau khổ, hãy hỏi Chúa: “Sau Thánh lễ này Chúa muốn con làm gì cho họ?” Rước lễ không phải là kéo Chúa vào chương trình của mình. Rước lễ là cho phép Chúa kéo mình vào chương trình của Người.
“Xin Chúa phán một lời thì linh hồn con sẽ lành mạnh.” Chúng ta thường nghĩ mình biết bệnh của mình, nhưng đôi khi Chúa thấy căn bệnh sâu hơn. Ta xin Chúa chữa sự cô đơn, nhưng Chúa muốn chữa tính ích kỷ khiến ta tự cô lập. Ta xin Chúa giải quyết một xung đột, nhưng Chúa muốn chữa lòng kiêu ngạo không chịu xin lỗi. Ta xin Chúa đổi người chồng, người vợ, người con, vị linh mục, người hàng xóm, nhưng Chúa lại bắt đầu bằng việc đổi chính ta. Ta xin Chúa dẹp cây thập giá, còn Chúa muốn dùng thập giá để dẹp một cái tôi đang quá lớn. Ta xin Chúa thay đổi hoàn cảnh, nhưng nhiều khi phép lạ đầu tiên Người muốn làm là thay đổi trái tim ta giữa hoàn cảnh ấy.
Bởi vậy, lời cầu của viên đại đội trưởng không chỉ là lời xin chữa bệnh; đó là lời tuyên xưng quyền tối thượng của Đức Kitô: “Chỉ một lời của Ngài là đủ.” Đời Kitô hữu trưởng thành khi ta đi tới chỗ có thể nói như vậy. Một lời của Chúa đáng tin hơn một ngàn lời trấn an của thế gian. Một lời của Chúa có thể giữ ta đứng vững giữa đêm tối. Một lời “Đừng sợ” có thể mang ta qua bão tố. Một lời “Thầy ở cùng con” có thể biến phòng bệnh thành nơi gặp gỡ. Một lời “Cha tha cho con” có thể mở cửa tương lai cho kẻ tưởng đời mình đã hết. Một lời “Hãy theo Thầy” có thể thay đổi cả hướng đi một đời người.
Và rồi từ lời đó, chúng ta trở về với Thánh Thể. Ở đó Lời đã trở thành xác phàm tiếp tục trao chính mình. Chúa không chỉ nói rằng Người yêu ta. Người trao Mình. Không chỉ nói rằng Người tha thứ. Người đổ Máu. Không chỉ nói rằng Người ở với ta. Người trở nên của ăn. Thánh Thể là câu trả lời tận cùng cho nỗi sợ sâu nhất của con người: “Liệu tôi có bị bỏ lại một mình không?” Chúa trả lời: “Không. Thầy ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế.”
Ngày nào chúng ta hiểu Thánh Thể, ngày ấy chúng ta sẽ không còn thấy Thánh lễ là một nghĩa vụ tối thiểu phải hoàn tất, nhưng là một cuộc gặp gỡ không thể thiếu. Người yêu nhau đâu hỏi: “Tôi buộc phải gặp người mình yêu bao nhiêu lần?” Người ta chỉ hỏi thế khi tình yêu đã nguội. Khi trái tim còn yêu, gặp nhau là niềm vui. Nếu Thánh lễ chỉ còn là luật, hãy xin Chúa cho mình tìm lại tình yêu nằm phía sau luật. Hội Thánh truyền giữ ngày Chúa nhật không phải vì Thiên Chúa cần điểm danh, nhưng vì con người cần Thánh Thể để không chết đói thiêng liêng.
Có những người nhìn bên ngoài tưởng họ mất tất cả nhưng lại có một sự giàu có mà thế gian không hiểu. Một phòng giam có Thánh Thể có thể trở thành một nhà nguyện. Một bàn tay trống không nâng bánh và rượu có thể trở thành bàn thờ. Một con người bị tước tự do bên ngoài vẫn có thể sở hữu một tự do nội tâm không ai cướp được. Còn ngược lại, một người có cả thế giới mà mất Chúa thì vẫn nghèo. Chứng tá của Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận nhắc chúng ta điều ấy một cách đặc biệt mạnh mẽ: niềm hy vọng không nhất thiết sinh ra khi cánh cửa nhà tù mở; niềm hy vọng có thể sinh ra ngay giữa nhà tù khi con người biết mình không bị bỏ rơi.
Vì vậy, điều đáng xin hôm nay không chỉ là: “Lạy Chúa, cho con được rước Chúa.” Hãy xin thêm: “Lạy Chúa, xin cho con biết mình đang rước Ai.” Không chỉ: “Cho con tham dự Thánh lễ.” Nhưng: “Xin cho Thánh lễ đi vào đời con.” Không chỉ: “Cho con lãnh nhận Mình Chúa.” Nhưng: “Xin làm con trở nên thân thể được trao ban cho người khác.” Không chỉ: “Xin chữa con.” Nhưng: “Xin dùng chính con để chữa lành người khác.”
Rồi ngày mai, khi lại đến trước bàn thờ, ta hãy cố nói câu ấy như thể lần đầu tiên trong đời: “Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con.” Hãy nhìn thật kỹ ngôi nhà lòng mình. Có thể căn nhà ấy đang lộn xộn. Có căn phòng ta vẫn khóa. Có ký ức ta không muốn Chúa chạm tới. Có tội lỗi ta che giấu. Có một khuôn mặt ta đã treo biển “không tha thứ”. Có một tham vọng ta nhất định không buông. Có một vết thương ta bảo vệ đến mức nó đã trở thành căn tính của mình. Hãy mở cửa. Chúa biết căn nhà không hoàn hảo. Người vẫn muốn vào.
Và khi Người vào, đừng chỉ xin Người ngồi yên nơi phòng khách đẹp nhất. Hãy đưa Người xuống những tầng hầm của tâm hồn. Những nơi có mùi ẩm mốc của quá khứ. Những ngăn kéo chứa những oán giận lâu năm. Những góc tối ta không muốn ai nhìn thấy. Hãy để Người phán một lời ở đó. Có thể lời ấy là: “Ta tha cho con.” Có thể là: “Con hãy tha cho người ấy.” Có thể là: “Đừng sợ.” Có thể là: “Hãy đứng dậy.” Có thể là: “Hãy bắt đầu lại.” Có thể chỉ là: “Ta ở đây.”
Cuối cùng, giá trị của việc rước lễ sẽ được kiểm chứng không chỉ trong giây phút ta quỳ sau Thánh Thể, nhưng trong cách ta sống sau khi đứng lên khỏi ghế. Người ta phải có thể gặp chút gì của Chúa Giêsu nơi ta sau khi ta vừa rước Người. Một người nóng tính đi lễ phải dần hiền hơn. Một người ích kỷ phải dần quảng đại hơn. Một người hay phán xét phải dần biết cảm thông hơn. Một người sống khép kín phải dần biết mở cửa cho người khác. Một người đang ôm hận phải dần học tha thứ. Không phải trong một ngày, không phải bằng sức riêng, nhưng từng chút một, bởi Đấng ta rước vào lòng không bất lực.
Viên đại đội trưởng chỉ xin một lời và người đầy tớ được chữa lành. Chúng ta nhận cả Lời và Mình Máu Chúa. Vậy chúng ta còn có thể tuyệt vọng về sự biến đổi của mình sao? Đừng nói: “Tính tôi là thế, không đổi được.” Đừng nói: “Tôi đã hận người ấy quá lâu rồi, không tha được.” Đừng nói: “Gia đình tôi hết cứu.” Đừng nói: “Tôi đã phạm quá nhiều tội, Chúa không thể làm gì nữa.” Người có thể chữa một bệnh nhân từ xa bằng một lời cũng có thể chạm vào những nơi xa nhất trong trái tim chúng ta. Điều Người cần là một khe cửa của đức tin.
Hôm nay, hãy mượn chính lời của viên đại đội trưởng làm lời cầu của đời mình: Lạy Chúa, con không xứng đáng, nhưng con tin. Con không mạnh mẽ, nhưng con tin. Con không hiểu hết đường Chúa dẫn, nhưng con tin. Con không thể tự chữa mình, nhưng con tin. Con không thể tự cứu những người con yêu, nhưng con đặt họ trong tay Chúa. Con không có gì để khoe ngoài sự nghèo khó của mình; nhưng chính trong sự nghèo khó ấy, con mở cửa cho Chúa. Xin Chúa cứ nói một lời.
Một lời thôi, lạy Chúa, để trái tim chai đá mềm lại. Một lời thôi để kẻ đang tuyệt vọng tìm được đường về. Một lời thôi để gia đình đang lạnh lẽo biết ôm nhau lần nữa. Một lời thôi để người đang mang mặc cảm tội lỗi biết rằng vẫn còn con đường trở lại. Một lời thôi để linh mục mệt mỏi tìm lại niềm vui bàn thờ. Một lời thôi để người giáo dân đã sống đạo như thói quen tìm lại sự kinh ngạc của buổi ban đầu. Một lời thôi để cộng đoàn đang chia rẽ nhớ rằng tất cả đang ăn cùng một Tấm Bánh. Một lời thôi để chúng con hiểu rằng không ai đến bàn tiệc Thánh Thể như một người xứng đáng đòi quyền lợi, nhưng tất cả đều đến như những người nghèo được mời vào bữa tiệc của lòng thương xót.
Và sau khi Chúa đã nói lời ấy, xin cho chúng con đừng chỉ nghe. Xin cho chúng con để lời ấy trở thành đời sống. Xin cho mỗi Thánh lễ biến đổi chúng con thêm một chút. Xin cho mỗi lần rước Chúa phá vỡ thêm một chút cái tôi ích kỷ. Xin cho mỗi tiếng “Amen” là một lần chúng con trao lại cả cuộc đời mình cho Chúa. Xin cho những người sống cạnh chúng con nhận ra rằng chúng con đã gặp Chúa, không phải vì chúng con nói nhiều về Người, nhưng vì chúng con biết yêu hơn, nhẫn nại hơn, hiền lành hơn, biết tha thứ hơn và biết trao ban hơn.
Để đến một ngày, khi cuộc hành trình trần thế khép lại, chúng con lại được thưa lần cuối: “Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con.” Nhưng khi ấy, chính Chúa sẽ mở cửa Nhà của Người và nói với chúng con: “Hãy vào hưởng niềm vui của Chủ ngươi.” Suốt đời ta đã xin Chúa bước vào căn nhà nhỏ bé của mình. Và cuối cùng, điều kỳ diệu nhất sẽ xảy ra: Chúa đưa ta vào Nhà của Người.
Lm. Anmai, CSsR