TRƯỚC KHI NÓI VỀ CHÚA, HÃY ĐỂ CHÚA NÓI VỚI LÒNG MÌNH
Có lẽ một trong những cám dỗ lớn nhất của người được trao trách nhiệm loan báo Tin Mừng hôm nay là tưởng rằng điều quan trọng nhất nằm ở chỗ mình phải nói được bao nhiêu, viết được bao nhiêu, xuất hiện ở đâu, có bao nhiêu người lắng nghe, bao nhiêu người theo dõi, bao nhiêu lượt xem, bao nhiêu lượt chia sẻ và lời mình nói có đủ sức tạo ảnh hưởng hay không. Thời đại kỹ thuật số khiến việc truyền thông trở nên nhanh chưa từng có. Một câu nói có thể đi rất xa chỉ trong vài phút. Một đoạn phim ngắn có thể đến với hàng chục ngàn người. Một bài suy niệm có thể vượt qua biên giới quốc gia mà người viết chưa từng bước chân đến. Một lời chứng có thể chạm vào một người đang tuyệt vọng ở cách chúng ta nửa vòng trái đất. Đó là một khả năng kỳ diệu mà các thế hệ trước khó lòng hình dung. Nhưng chính vì phương tiện truyền thông mạnh đến như thế, câu hỏi quan trọng nhất đối với người loan báo Tin Mừng lại càng không phải là: “Tôi phải nói thế nào để người ta nghe tôi?”, nhưng phải là: “Tôi đã nghe Chúa chưa?” Không phải trước tiên là: “Tôi nên đăng điều gì?”, mà là: “Điều gì đang diễn ra giữa tôi với Đức Kitô?” Không phải: “Làm sao tôi có thể tác động đến người khác?”, nhưng là: “Tôi đã để Đức Kitô tác động đến tôi đến mức nào?” Bởi vì người loan báo Tin Mừng Kitô giáo không phải là một chuyên viên quảng bá một hệ tư tưởng. Người ấy không phải người bán một sản phẩm tôn giáo. Người ấy cũng không phải một nhà bình luận đứng ngoài Tin Mừng để trình bày cho người khác một số quan niệm đạo đức đẹp đẽ. Người loan báo Tin Mừng trước hết phải là người đã bị Tin Mừng đánh động, bị Tin Mừng chất vấn, bị Tin Mừng làm cho đau, được Tin Mừng chữa lành, được Tin Mừng vực dậy, và từng ngày vẫn đang để cho Tin Mừng hoán cải chính cuộc đời mình. Vì thế, có một trật tự không được phép đảo ngược: **trước khi nói, chúng ta phải lắng nghe; trước khi đăng tải, chúng ta phải cầu nguyện; trước khi muốn biến đổi người khác, chúng ta phải để Đức Kitô biến đổi mình.**
Điều này nghe có vẻ rất đơn giản, nhưng lại chạm tới tận căn tính của sứ vụ truyền giáo. Bởi người ta có thể nói về Chúa rất nhiều mà lại dành rất ít thời gian ở với Chúa. Người ta có thể giảng về cầu nguyện mà đời sống cầu nguyện của chính mình ngày càng khô cạn. Người ta có thể nói về lòng thương xót mà trong lòng lại nuôi những cay đắng không chịu buông. Người ta có thể viết rất hay về khiêm nhường trong khi âm thầm khát khao được chú ý. Người ta có thể lên tiếng bênh vực chân lý nhưng cách mình đối xử với người bất đồng lại chẳng có chút dịu dàng nào của Đức Kitô. Người ta có thể bảo người khác phải yêu thương nhau trong khi chính mình lại bị ám ảnh bởi việc ai ủng hộ và ai chống đối mình. Người ta có thể nói về thập giá nhưng lại không chấp nhận một lời phê bình; có thể nói về từ bỏ nhưng lại không chịu buông danh tiếng; có thể nói về nghèo khó nhưng lại không chịu từ bỏ nhu cầu được người ta nhìn nhận; có thể nói về sự thật nhưng trong sâu thẳm lại tìm cách bảo vệ hình ảnh của chính mình hơn là bảo vệ sự thật. Khi đó, lời nói vẫn có thể rất đúng, thậm chí rất chính xác về tín lý, nhưng trong lời ấy thiếu một điều rất khó diễn tả: **hơi ấm của một người đã thực sự gặp Chúa.** Và con người hôm nay, dù sống trong một thế giới tràn ngập thông tin, lại cực kỳ nhạy cảm trước sự giả tạo. Họ có thể không biết thần học nhiều, nhưng họ cảm nhận được khi một người đang nói từ kinh nghiệm sống hay chỉ nói từ kiến thức; khi một người đang nói vì yêu thương hay chỉ muốn thắng một cuộc tranh luận; khi một người thực sự muốn đưa họ đến với Đức Kitô hay chỉ muốn đưa họ về phía mình.
Vì thế, trước khi mở miệng nói về Tin Mừng, người môn đệ cần học lại nghệ thuật im lặng. Đây không phải là sự im lặng của sợ hãi, cũng không phải sự im lặng của người không có gì để nói, nhưng là sự im lặng của người biết rằng Lời quan trọng nhất không phát xuất từ mình. Trong Kinh Thánh, lời của các ngôn sứ bao giờ cũng bắt đầu bằng việc họ đã nghe. “Có lời Đức Chúa phán với tôi.” Trước khi họ nói với dân, Thiên Chúa đã nói với họ. Trước khi họ chất vấn người khác, Thiên Chúa đã chất vấn chính họ. Trước khi họ mang lửa đến cho dân, chính họ đã bị lửa ấy thiêu đốt. Ngôn sứ không phải là người nghĩ ra một thông điệp hấp dẫn; họ là người đã được một Lời chiếm lấy. Gioan Tẩy Giả không xuất hiện từ một chiến dịch truyền thông được chuẩn bị công phu. Ông đi ra từ hoang địa. Và hoang địa chính là nơi con người học rằng mình không phải trung tâm. Ở hoang địa không có đám đông vỗ tay, không có tiếng khen, không có sân khấu, không có những con số giúp người ta đo lường sự thành công. Chỉ có Thiên Chúa và con người. Chỉ có sự thật. Chỉ có một trái tim đứng trần trụi trước Đấng đã gọi mình. Chính từ sự im lặng ấy, một tiếng nói mới có thể vang lên với sức mạnh. Có lẽ Hội Thánh hôm nay không thiếu những người nói; điều Hội Thánh cần hơn là những người đã biết im lặng đủ lâu trước Thiên Chúa để lời họ nói không còn chỉ là tiếng của bản thân mình.
Đức Giêsu cũng cho chúng ta thấy trật tự ấy. Người bắt đầu sứ vụ công khai không phải bằng việc lập tức tìm đám đông, nhưng bằng bốn mươi ngày trong hoang địa. Người thường xuyên rút vào nơi thanh vắng để cầu nguyện. Có những lúc đám đông đang tìm Người, nhưng Người vẫn lui vào nơi vắng vẻ. Có những quyết định lớn, Người cầu nguyện trước. Trước cuộc thương khó, Người vào Ghếtsêmani. Trên thập giá, những lời cuối cùng của Người vẫn là lời hướng về Chúa Cha. Nghĩa là toàn bộ sứ vụ của Đức Giêsu tuôn ra từ mối tương quan của Người với Cha. Người không sống bằng phản ứng đối với đám đông. Người không thay đổi căn tính theo dư luận. Khi người ta muốn tôn Người làm vua, Người rút đi. Khi người ta bỏ Người vì lời Người khó nghe, Người không chạy theo để sửa thông điệp cho dễ chấp nhận hơn. Khi người ta tung hô, Người không bị lời tung hô làm cho say. Khi người ta kết án, Người cũng không để sự kết án ấy quyết định Người là ai. Bí mật của sự tự do ấy nằm ở chỗ Người biết mình đến từ đâu và đi về đâu. Người biết mình là Con yêu dấu của Chúa Cha. Và đó cũng là điều người loan báo Tin Mừng hôm nay phải học lại: nếu căn tính của chúng ta tùy thuộc vào phản ứng của người nghe, chúng ta sẽ rất dễ biến Tin Mừng thành một phương tiện tìm kiếm sự công nhận.
Thời đại mạng xã hội làm cho cám dỗ này trở nên đặc biệt tinh vi. Người truyền giáo có thể bắt đầu với một ý hướng rất đẹp: dùng phương tiện hiện đại để đem Tin Mừng đến với nhiều người hơn. Nhưng dần dần, nếu không tỉnh thức, một sự thay đổi rất nhỏ có thể xảy ra trong tâm hồn. Ban đầu ta hỏi: “Điều gì giúp người ta đến gần Chúa?” Sau đó ta bắt đầu hỏi: “Điều gì khiến người ta thích nội dung của tôi?” Ban đầu ta vui vì có nhiều người nghe Tin Mừng; dần dần ta vui vì có nhiều người nghe **mình**. Ban đầu ta đau khi người ta xa Chúa; dần dần ta đau khi người ta không chú ý đến mình. Ban đầu ta muốn Đức Kitô được biết đến; dần dần ta muốn tên của mình được biết đến cùng với Đức Kitô. Sự chuyển dịch ấy rất khó nhận ra bởi bên ngoài mọi thứ vẫn có thể mang ngôn ngữ rất đạo đức. Và đây là lý do tại sao cầu nguyện trước khi truyền thông không phải là một việc phụ thuộc, nhưng là một hình thức thanh luyện động cơ. Trước Thánh Thể, trước Thánh Giá, trước Lời Chúa, những câu hỏi sâu hơn bắt đầu xuất hiện: Tôi đang tìm vinh quang của ai? Tôi đang phục vụ ai? Tôi đang muốn xây dựng Nước Chúa hay xây dựng thương hiệu của mình? Tôi có vui nếu một linh hồn đến gần Chúa nhờ một người khác thay vì nhờ tôi không? Tôi có bình an nếu điều mình viết chẳng ai biết đến nhưng Chúa biết không? Tôi có tiếp tục nói điều cần nói nếu nó không đem lại cho tôi sự nổi tiếng không? Tôi có đủ tự do để im lặng khi sự im lặng là điều khôn ngoan hơn việc lên tiếng không?
Cầu nguyện giúp người loan báo Tin Mừng nhớ rằng mình chỉ là người đưa đường, không phải là đích đến. Gioan Tẩy Giả đã hiểu điều ấy rất rõ: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Đó có lẽ là một trong những nguyên tắc căn bản nhất cho mọi hoạt động truyền giáo. Thành công thật sự của người rao giảng không phải là làm cho người khác phụ thuộc vào mình, mà là giúp họ gặp được Đức Kitô đến mức một ngày kia họ có thể bước đi với Người ngay cả khi không còn chúng ta ở bên. Người mục tử chân thật không gom đoàn chiên quanh cá tính của mình nhưng quy tụ họ quanh Đức Kitô. Người giảng thuyết chân thật không làm cho cộng đoàn say mê người giảng nhưng đánh thức trong họ cơn đói Lời Chúa. Người làm truyền thông Công giáo chân thật không tạo ra một cộng đồng của những người hâm mộ mình mà giúp hình thành một cộng đoàn những môn đệ của Đức Giêsu. Nếu sau nhiều năm truyền giáo, người ta biết rất nhiều về chúng ta nhưng biết rất ít về Đức Kitô, có lẽ cần phải tự hỏi lại: chúng ta thực sự đã loan báo ai?
Bởi vậy, loan báo Tin Mừng không chỉ là truyền đạt thông tin tôn giáo. Nếu Tin Mừng chỉ là một lượng thông tin, thì chỉ cần chuyển giao kiến thức chính xác là đủ. Nhưng Kitô giáo trước hết là một cuộc gặp gỡ. Người ta có thể học thuộc tín điều mà chưa gặp Chúa. Người ta có thể biết các điều răn mà chưa yêu Chúa. Người ta có thể hiểu cấu trúc của Thánh lễ mà chưa bao giờ để Thánh lễ biến đổi đời mình. Người ta có thể biết lịch sử Hội Thánh mà vẫn chưa khám phá rằng Đức Giêsu đang gọi chính tên mình. Đức tin Kitô giáo chắc chắn có nội dung phải được học, có chân lý phải được hiểu, có giáo lý phải được truyền đạt; nhưng tất cả những điều ấy dẫn tới một điều sâu xa hơn: **mối tương quan sống động với Đức Giêsu Kitô.** Chúng ta không loan báo một học thuyết lạnh lùng mà loan báo một Con Người đang sống. Không chỉ nói rằng có một Thiên Chúa yêu thương nhân loại, nhưng giúp một người khám phá rằng: “Thiên Chúa yêu chính tôi.” Không chỉ nói rằng Đức Kitô đã chết cho thế giới, nhưng giúp họ kinh ngạc nhận ra: “Người đã yêu tôi và hiến mạng vì tôi.” Không chỉ nói rằng có sự tha thứ, nhưng mở ra một con đường để người tội lỗi dám quay về. Không chỉ nói rằng có sự sống đời đời, nhưng giúp con người sống hôm nay với một niềm hy vọng không bị cái chết nghiền nát.
Điều ấy thay đổi hoàn toàn cung cách truyền giáo. Nếu mục tiêu chỉ là chuyển giao thông tin, chúng ta chỉ cần nói chính xác. Nhưng nếu mục tiêu là mời một người bước vào tương quan với Đức Kitô, chúng ta phải yêu họ. Không ai được dẫn đến một tương quan tình yêu bằng sự khinh miệt. Không ai dễ mở lòng với Đức Kitô nếu họ cảm thấy người đại diện cho Người đang coi thường mình. Chân lý không cần phải yếu đi để trở nên đầy tình yêu; trái lại, chính tình yêu giúp chân lý được đón nhận như ánh sáng chứ không như vũ khí. Đức Giêsu có thể nói những lời rất mạnh, nhưng ngay cả những lời mạnh mẽ nhất của Người cũng xuất phát từ ước muốn cứu độ. Người nhìn người thanh niên giàu có và “đem lòng yêu mến anh.” Người không phủ nhận sự thật về những gì anh còn thiếu, nhưng sự thật ấy được nói trong ánh nhìn yêu thương. Người nói với người phụ nữ ngoại tình: “Tôi cũng không lên án chị,” rồi ngay sau đó: “Từ nay đừng phạm tội nữa.” Không dung túng tội lỗi, nhưng cũng không nghiền nát người tội lỗi. Không hạ thấp đòi hỏi, nhưng cũng không khép cánh cửa hy vọng. Đó là nghệ thuật của Tin Mừng.
Người loan báo Tin Mừng vì thế cần học nhìn người khác bằng ánh mắt của Đức Kitô trước khi nói với họ bằng những lời về Đức Kitô. Có một khác biệt rất lớn giữa việc nhìn một người như “đối tượng cần thuyết phục” và nhìn họ như một người anh chị em được Thiên Chúa yêu thương. Khi chỉ nhìn người khác như đối tượng truyền giáo, ta rất dễ biến họ thành dự án. Ta tính toán phải nói gì để thắng họ, phải đưa lý luận nào để họ không thể phản bác, phải làm gì để kéo họ về phía mình. Nhưng Đức Giêsu không gặp con người như những dự án. Người gặp từng người bằng tên, bằng câu chuyện, bằng vết thương của họ. Với ông Nicôđêmô, Người trò chuyện trong đêm. Với người phụ nữ Samaria, Người bắt đầu từ một ngụm nước. Với Dakêu, Người nhìn lên cây và gọi tên ông. Với hai môn đệ Emmau, Người đi cùng họ một quãng đường dài và hỏi: “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy?” Điều đáng kinh ngạc là Đấng biết mọi sự vẫn đặt câu hỏi. Đấng có câu trả lời vẫn lắng nghe. Đấng là Lời vẫn cho con người được nói.
Đó là một bài học rất lớn cho chúng ta: **trước khi nói, hãy lắng nghe.** Lắng nghe không có nghĩa là đồng ý với mọi điều người khác nói. Lắng nghe cũng không có nghĩa là từ bỏ chân lý. Lắng nghe đơn giản là nhìn nhận rằng người đang đứng trước mặt mình là một con người, chứ không phải một ý kiến cần bị đánh bại. Họ có một lịch sử mà ta chưa biết, những vết thương ta chưa thấy, những câu hỏi có thể đã âm ỉ rất lâu, những thất vọng đối với tôn giáo mà ta chưa hiểu, những kinh nghiệm đau đớn với người trong Hội Thánh mà ta chưa được nghe. Có người nói họ không tin Thiên Chúa, nhưng sâu xa hơn có thể họ đang giận một hình ảnh sai lạc về Thiên Chúa. Có người chống đối Hội Thánh không phải vì ghét Đức Kitô, nhưng vì họ từng bị một người nhân danh tôn giáo làm tổn thương. Có người sống xa Tin Mừng không phải vì họ cố tình chọn điều xấu, nhưng vì chưa từng được ai trình bày cho họ vẻ đẹp của điều thiện. Có người phản ứng gay gắt với chúng ta bởi họ đang mang một nỗi đau mà ta không biết. Nếu chúng ta vội trả lời khi chưa thực sự nghe câu hỏi, rất có thể chúng ta đang chữa một căn bệnh mà người ấy không mắc.
Thời đại của chúng ta rất nhiều tiếng nói nhưng lại rất thiếu người lắng nghe. Ai cũng muốn phản hồi thật nhanh. Một sự kiện vừa xảy ra, lập tức mọi người bình luận. Một câu nói vừa xuất hiện, lập tức người ta chia phe. Một người vừa phát biểu, chỉ vài giây sau người ta đã phán quyết họ tốt hay xấu, đúng hay sai, đáng yêu hay đáng ghét. Mạng xã hội huấn luyện con người phản ứng nhanh hơn suy nghĩ. Nhưng người môn đệ Đức Kitô phải có một nhịp sống khác. Không phải mọi điều đều cần phản ứng ngay. Không phải mọi cuộc tranh luận đều cần tham dự. Không phải mọi lời chỉ trích đều cần đáp trả. Không phải mọi khiêu khích đều xứng đáng với năng lượng của chúng ta. Có khi chứng tá Kitô giáo mạnh nhất không phải là một câu trả lời sắc bén mà là sự bình an của một người không để mình bị lôi vào vòng xoáy giận dữ. Có khi việc truyền giáo bắt đầu không phải bằng việc nói thêm mà bằng việc tạo ra một khoảng không đủ yên tĩnh để người kia có thể nói ra điều thật sự đang ở trong lòng họ.
“Trước khi đăng tải, chúng ta phải cầu nguyện.” Đây là một kỷ luật rất cần thiết trong thời đại mà chỉ một cái chạm tay có thể đưa lời của chúng ta đến hàng ngàn người. Ngày xưa một lời nói thiếu suy nghĩ có thể làm tổn thương vài người đang đứng gần. Ngày nay một dòng viết trong lúc nóng giận có thể tồn tại rất lâu, bị chụp lại, lan truyền và làm tổn thương rất nhiều người. Vì thế, tốc độ của công nghệ càng nhanh, đời sống nội tâm của người môn đệ càng phải chậm. Trước khi nhấn nút “đăng”, đôi khi cần tự hỏi: điều tôi sắp nói có đúng không? Có cần thiết không? Có bác ái không? Tôi đang viết trong bình an hay trong tức giận? Tôi muốn giúp người đọc đến gần chân lý hay tôi chỉ muốn chứng minh mình đúng? Nếu người tôi đang nói đến ngồi trước mặt tôi, tôi có dùng những lời này không? Nếu Đức Giêsu đứng bên cạnh nhìn tôi viết, tôi có tiếp tục viết theo cách ấy không? Nếu bài này lan đến một người đang yếu đuối, liệu nó giúp họ đến gần Chúa hay khiến họ xa Chúa hơn? Và sâu hơn nữa: tôi đã cầu nguyện cho người mà tôi đang phê bình chưa?
Đây có lẽ là một câu hỏi khiến nhiều cuộc tranh luận tôn giáo phải thay đổi: **tôi đã cầu nguyện cho người mà tôi sắp nói về họ chưa?** Rất dễ nói về một người; khó hơn nhiều là cầu nguyện cho họ. Rất dễ tức giận trước lỗi lầm của người khác; khó hơn là mang họ đến trước lòng thương xót Chúa. Rất dễ viết một bài làm người ta bẽ mặt; khó hơn là nói sự thật theo cách vẫn mở ra cho họ một con đường trở về. Khi cầu nguyện cho một người, điều gì đó thay đổi trong ta. Có thể ta vẫn phải nói sự thật. Có thể thậm chí ta phải nói rất rõ. Nhưng ta không còn nói với khoái cảm của người muốn hạ đối thủ xuống. Ta bắt đầu đau vì sự dữ thay vì chỉ tức giận với người làm điều dữ. Ta bắt đầu ước mong họ được cứu hơn là mong họ bị đánh bại. Đó là lúc việc bảo vệ chân lý trở nên thực sự Kitô giáo.
Trước khi muốn ảnh hưởng đến người khác, chúng ta phải để Đức Kitô hoán cải chính mình. Đây có lẽ là điều khó nhất, bởi con người thường thích sửa người khác hơn sửa mình. Chúng ta nhìn rất rõ những sai lầm của thế giới, nhưng thường mù trước những hỗn loạn trong trái tim mình. Ta có thể dành hàng giờ phân tích khủng hoảng của xã hội nhưng không dành mười phút hỏi xem điều gì đang làm trái tim mình xa Chúa. Ta biết phải nói gì với người khác nhưng lại không biết Chúa đang muốn nói gì với mình. Tin Mừng trở thành một chiếc kính viễn vọng để nhìn lỗi người khác thay vì tấm gương để nhìn chính mình. Nhưng Đức Giêsu không cho phép điều đó. Người nói đến cái xà trong mắt ta trước khi nói đến cái rác trong mắt anh em. Người nhắc rằng cây tốt mới sinh quả tốt. Điều quan trọng không chỉ là những gì đi ra từ miệng mà là kho tàng trong lòng, bởi miệng nói ra những điều đầy ứ trong tim.
Điều này đặc biệt quan trọng đối với linh mục, tu sĩ, giáo lý viên, người làm truyền thông Công giáo, người giảng dạy, người điều hành các trang mạng tôn giáo và bất cứ ai được người khác nhìn như một tiếng nói của đức tin. Càng được nhiều người lắng nghe, chúng ta càng cần phải chăm sóc nơi không ai nhìn thấy. Sứ vụ công khai chỉ bền vững khi được nuôi bằng một đời sống âm thầm. Nếu không, con người bên ngoài cứ lớn lên trong khi con người bên trong teo lại. Hoạt động tăng nhưng cầu nguyện giảm. Lịch trình đầy nhưng trái tim rỗng. Ta trở nên hữu ích cho nhiều người mà lại ngày càng xa chính linh hồn mình. Một ngày nào đó, nguy hiểm lớn nhất không phải là ta không còn gì để nói; nguy hiểm là ta vẫn nói rất hay trong khi bên trong đã cạn. Vì thế cần có những giờ không đăng gì, không chuẩn bị gì, không sản xuất nội dung gì, chỉ đơn giản ở với Chúa. Cần có những trang Tin Mừng đọc không phải để tìm ý giảng mà để Chúa nói với mình. Cần có những giờ chầu không nhằm chuẩn bị một bài chia sẻ mà chỉ để cho ánh mắt Đức Kitô nhìn mình. Cần có những lần xưng tội nơi người rao giảng thôi là người dạy và trở lại làm một tội nhân cần lòng thương xót. Cần có những lúc thừa nhận: “Lạy Chúa, con đang nói rất nhiều về Ngài, nhưng con sợ rằng con đang ít ở với Ngài hơn trước.”
Nếu không thường xuyên trở về nơi ấy, sứ vụ có thể trở thành chiếc mặt nạ che giấu sự trống rỗng. Ta dùng công việc của Chúa để tránh gặp chính Chúa. Ta bận rộn chăm sóc linh hồn người khác đến mức bỏ bê linh hồn mình. Ta chuẩn bị bàn tiệc cho mọi người mà chính mình không ăn. Ta đưa người khác đến nguồn nước mà chính mình chết khát bên bờ. Đây không phải là lời kết án bất cứ ai, nhưng là một nguy cơ rất thật đối với tất cả những ai phục vụ. Bởi phục vụ điều thánh không tự động làm cho người phục vụ trở nên thánh. Có thể chạm đến những điều thánh mỗi ngày mà trái tim vẫn trở nên chai cứng. Có thể đọc Tin Mừng mỗi ngày vì công việc mà lại thôi để Tin Mừng đọc chính mình. Có thể cử hành những mầu nhiệm lớn lao mà đời sống bên trong dần trở nên máy móc. Chính vì vậy, việc hoán cải không phải là điều người rao giảng chỉ nói với người nghe. Hoán cải là công việc hằng ngày của chính người rao giảng.
Người loan báo Tin Mừng chỉ có thể mời người khác đến với Đức Kitô một cách thuyết phục nếu chính mình đang bước về phía Người. Không cần phải hoàn hảo mới được truyền giáo; nếu đợi hoàn hảo thì chẳng ai có thể lên đường. Các Tông đồ đều yếu đuối. Phêrô từng chối Chúa. Phaolô mang trong mình một cái dằm. Tôma từng nghi ngờ. Các thánh cũng không phải những người chưa bao giờ chiến đấu. Điều làm chứng tá của họ có sức mạnh không phải là họ không có vết thương, nhưng là họ để ân sủng đi qua những vết thương ấy. Vì thế người truyền giáo không cần trình diễn một hình ảnh hoàn hảo. Thế giới không cần thêm những con người cố tỏ ra hoàn hảo. Thế giới cần những chứng nhân biết mình là người được thương xót. Có một sự khác biệt lớn giữa người nói: “Hãy sống như tôi vì tôi đúng” và người nói: “Hãy đến với Đức Kitô; chính tôi cũng đang cần Người từng ngày.” Lời thứ hai chứa nhiều khiêm nhường hơn, và vì vậy có thể mở được những cánh cửa mà thái độ tự mãn không bao giờ mở được.
Thật ra, người loan báo Tin Mừng hiệu quả nhất không phải lúc nào cũng là người có tài nói nhất. Đôi khi đó là một người mẹ âm thầm cầu nguyện cho con mình suốt nhiều năm. Là một người cha sống ngay thẳng giữa môi trường đầy gian dối. Là một bác sĩ đối xử với bệnh nhân bằng sự tôn trọng lạ thường. Là một người trẻ không hùa theo việc chế nhạo người khác trên mạng. Là một nữ tu chăm sóc người già mà không ai biết tên. Là một linh mục ngồi hàng giờ nghe một người đau khổ mà không nhìn đồng hồ. Là một người bị xúc phạm nhưng không trả thù. Là một gia đình giữa rất nhiều khó khăn vẫn giữ bàn ăn như một nơi của tha thứ và hiệp thông. Những con người ấy đang loan báo Tin Mừng ngay cả khi họ không cầm micro. Bởi Tin Mừng cuối cùng phải trở thành xác thịt. Đức Kitô là Ngôi Lời đã trở thành người. Vì thế lời chúng ta cũng phải trở thành đời sống. Nếu miệng nói một điều mà đời sống nói điều ngược lại, người ta thường tin đời sống hơn.
Loan báo Tin Mừng còn là mời con người bước vào tương quan với nhau. Điều này hết sức quan trọng. Đức Kitô không chỉ gọi các môn đệ đến với Người như những cá nhân biệt lập. Người tạo thành một cộng đoàn. Người dạy họ gọi Thiên Chúa là “Cha chúng con,” chứ không chỉ là “Cha của riêng con.” Người sai các môn đệ đi từng hai người. Người để lại một dấu chỉ nhận biết rất rõ: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau.” Như vậy, một Hội Thánh nói rất hay về Tin Mừng nhưng sống trong chia rẽ, cay nghiệt và đấu đá sẽ làm cho lời loan báo mất đi sức thuyết phục. Người ta có quyền hỏi: Tin Mừng mà các anh nói có sức hòa giải không? Nếu có, tại sao các anh đối xử với nhau như thế? Đức Giêsu mà các anh rao giảng có dạy tha thứ không? Nếu có, tại sao cộng đoàn của các anh đầy những mối hận kéo dài? Chúa mà các anh thờ là Thiên Chúa của hiệp nhất, vậy tại sao các anh chia thành phe nhóm và coi những người không thuộc phe mình như kẻ thù?
Đây là thách đố lớn của việc truyền giáo trong kỷ nguyên kỹ thuật số. Các thuật toán thường thưởng cho những nội dung gây phẫn nộ, gây tranh cãi, tạo đối đầu, bởi điều khiến người ta giận dữ thường giữ họ trên màn hình lâu hơn. Nhưng Tin Mừng không thể để logic ấy định hình cách chúng ta giao tiếp. Người Kitô hữu không được trở thành người buôn bán cơn giận. Chúng ta không thể dùng sự phẫn nộ như nhiên liệu để tăng tương tác rồi tự an ủi rằng mình đang bảo vệ đức tin. Có những lúc phải lên tiếng mạnh mẽ trước bất công, sai lạc và sự dữ; nhưng sức mạnh Tin Mừng khác với sự hung hăng. Một người có thể rất cương quyết mà không độc ác, rất rõ ràng mà không nhục mạ, rất xác tín mà không khinh người. Đức Kitô trên thập giá cho thấy quyền năng kỳ lạ ấy: Người nói sự thật về tội lỗi của thế giới bằng chính việc mang lấy tội lỗi ấy, và câu trả lời cuối cùng của Người trước sự thù ghét là: “Lạy Cha, xin tha cho họ.”
Chúng ta cũng phải thận trọng với ảo tưởng rằng “ảnh hưởng” đồng nghĩa với “hoa trái.” Trong thế giới kỹ thuật số, mọi thứ đều được đo: lượt xem, lượt thích, lượt chia sẻ, số người theo dõi. Những con số ấy có thể hữu ích để hiểu cách thông tin được tiếp nhận, nhưng chúng không thể đo được hoạt động của ân sủng. Một bài viết chỉ có vài chục người đọc có thể cứu một người khỏi tuyệt vọng. Một bài giảng không ai vỗ tay có thể gieo một hạt giống nảy mầm sau hai mươi năm. Một cuộc trò chuyện riêng tư không được ghi hình có thể đưa một người trở về với Bí tích Hòa giải sau nhiều năm xa cách. Hạt cải rất nhỏ. Men trong bột hầu như vô hình. Hạt giống mọc lên ban đêm trong khi người gieo ngủ. Tin Mừng thường vận hành theo logic ấy. Vì vậy người truyền giáo phải học trung thành mà không nghiện kết quả. Gieo điều phải gieo, tưới điều cần tưới, rồi để Thiên Chúa làm phần còn lại.
Điều đó cũng giải phóng chúng ta khỏi nỗi sợ thất bại. Nếu sứ vụ là của tôi, tôi phải làm nó thành công. Nếu Hội Thánh là của tôi, tôi phải cứu Hội Thánh. Nếu tương lai Tin Mừng tùy thuộc vào tôi, tôi phải kiểm soát mọi thứ. Nhưng nếu sứ vụ là của Đức Kitô, tôi được gọi trước hết để trung thành. Chúa không yêu cầu tôi làm Đấng Cứu Thế; vị trí ấy đã có người đảm nhận. Người chỉ yêu cầu tôi làm môn đệ. Một môn đệ cầu nguyện, lắng nghe, lên đường, yêu thương, làm chứng, nói sự thật và để kết quả trong tay Thiên Chúa. Bao nhiêu mệt mỏi của những người làm mục vụ phát xuất từ việc họ âm thầm nhận lấy một gánh nặng mà Chúa không đặt lên vai họ: cảm tưởng rằng mọi sự sẽ sụp đổ nếu mình dừng lại. Nhưng đôi khi việc dừng lại để cầu nguyện chính là một hành vi đức tin. Nó nói rằng: “Lạy Chúa, Hội Thánh này là của Ngài. Những con người này là của Ngài. Sứ vụ này là của Ngài. Con chỉ là người đầy tớ.”
Và chính từ nơi đó xuất hiện một hình thức truyền giáo rất khác: ít căng thẳng hơn nhưng sâu hơn, ít phô trương hơn nhưng có sức sống hơn, ít bị ám ảnh bởi việc phải chiến thắng nhưng lại có sức thuyết phục lớn hơn. Người truyền giáo bắt đầu có khả năng hiện diện. Họ không chỉ nghĩ về điều tiếp theo mình sẽ nói trong khi người khác đang nói. Họ nghe. Họ nhìn. Họ nhận ra. Họ biết khi nào nên lên tiếng và khi nào nên im lặng. Họ hiểu rằng đôi lúc một người không cần thêm một bài giảng mà cần một người ngồi bên cạnh. Có những giây phút thần học đúng nhất lại là một cái nắm tay. Có những lúc lời rao giảng mạnh nhất là một bát cơm, một cuộc viếng thăm, một lời xin lỗi, một sự tha thứ, một đêm thức bên giường bệnh. Bởi Thiên Chúa mà chúng ta loan báo là Đấng đã không cứu thế giới từ xa. Người đã đến ở giữa chúng ta.
Đây cũng là lý do người loan báo Tin Mừng phải thường xuyên trở lại với Thánh Thể. Nơi đó, Đức Giêsu dạy chúng ta cách truyền giáo bằng chính cách Người hiện diện: khiêm tốn, âm thầm, tự hiến, kiên nhẫn. Trong Thánh Thể không có sự ồn ào của quảng bá, nhưng có sức mạnh biến đổi con người suốt hai ngàn năm. Đức Kitô ẩn mình dưới những hình thức rất bé nhỏ, như muốn dạy rằng quyền năng Thiên Chúa không cần phải gây ấn tượng. Người trao chính mình làm của ăn. Có lẽ mọi người loan báo Tin Mừng cần thường xuyên hỏi trước Thánh Thể: Tôi có đang trao chính mình hay chỉ đang trao những lời của mình? Tôi có yêu những người nghe tôi đủ để chịu hy sinh vì họ không? Tôi có sẵn sàng bị quên đi để Đức Kitô được nhớ đến không? Tôi có chấp nhận nhỏ lại để Người lớn lên không?
Rồi chúng ta trở lại với Thánh Giá. Không một trường đào tạo truyền giáo nào sâu hơn Thánh Giá, bởi ở đó ta thấy Thiên Chúa truyền đạt tình yêu không chỉ bằng lời nhưng bằng chính thân mình. Thập giá nói với thế giới: “Thiên Chúa yêu anh đến mức này.” Và bất cứ lời rao giảng nào không mang hình dáng của thập giá cuối cùng sẽ dễ trở thành lời tự tôn. Loan báo Tin Mừng luôn đòi cái chết của một điều gì đó nơi người loan báo: chết cho nhu cầu được khen, chết cho việc luôn phải đúng trong mắt người khác, chết cho tự ái, chết cho ham muốn kiểm soát, chết cho tham vọng được biết đến. Có những ngày sứ vụ thật đẹp. Có ngày lời mình nói được đón nhận. Nhưng cũng có ngày người ta hiểu lầm, chống đối, thờ ơ. Nếu ta chỉ phục vụ khi được đón nhận, ta đang phục vụ sự công nhận chứ chưa chắc đã phục vụ Đức Kitô. Thập giá thanh luyện người môn đệ khỏi nhu cầu ấy.
Nhưng Thánh Giá không phải là tiếng nói cuối cùng. Đằng sau Thánh Giá là Phục Sinh. Người loan báo Tin Mừng phải là người mang hy vọng. Không phải thứ lạc quan hời hợt phủ nhận bóng tối, nhưng hy vọng đã đi qua bóng tối mà vẫn tin vào bình minh. Thế giới có quá nhiều tiếng nói làm con người sợ. Tin tức liên tục báo cho chúng ta những điều đang đổ vỡ. Mạng xã hội dễ làm chúng ta có cảm giác nhân loại chỉ toàn giận dữ, chia rẽ, suy đồi và nguy hiểm. Người loan báo Tin Mừng không được ngây thơ trước sự dữ, nhưng cũng không được trở thành người chuyên phân phối tuyệt vọng. Tin Mừng nghĩa là “Tin Mừng.” Nếu sau khi nghe chúng ta nói về Kitô giáo, người ta chỉ thấy sợ hãi hơn, căm ghét hơn, thất vọng hơn và khép kín hơn, có lẽ cần tự hỏi liệu chúng ta đã thực sự truyền đạt toàn bộ Tin Mừng hay chưa. Tin Mừng nói rằng tội là thật, nhưng ân sủng còn mạnh hơn. Thập giá là thật, nhưng ngôi mộ trống cũng thật. Con người yếu đuối, nhưng Chúa Thánh Thần vẫn hoạt động. Hội Thánh mang trong mình sự mỏng giòn của con người, nhưng Đức Kitô vẫn không bỏ Hiền Thê của Người.
Do đó, người loan báo Tin Mừng hôm nay phải trở thành những người gìn giữ niềm hy vọng. Họ bước vào những vùng tối mà không trở thành bóng tối. Họ nhìn thấy sự dữ mà không để sự dữ quyết định cách họ nhìn thế giới. Họ biết tội lỗi nhưng còn biết nhiều hơn về lòng thương xót. Họ nhận ra những vết nứt nhưng cũng tìm thấy nơi ánh sáng có thể đi vào. Họ không gọi mọi điều là tốt, nhưng họ tin Thiên Chúa có thể làm điều tốt ngay giữa những gì tưởng như không thể cứu vãn. Người như vậy không cần phải la lớn để thuyết phục. Chính sự bình an nơi họ đã là một câu hỏi. Giữa một thế giới lo âu, một người bình an khiến người khác muốn biết nguồn bình an ấy từ đâu. Giữa một xã hội đầy cay nghiệt, một người biết tha thứ làm người ta kinh ngạc. Giữa nền văn hóa thích phô bày, một người âm thầm phục vụ khiến người khác tự hỏi điều gì đang thúc đẩy họ. Và khi câu hỏi ấy xuất hiện, cánh cửa của Tin Mừng bắt đầu mở.
Cuối cùng, điều thế giới cần không phải chỉ là thêm nhiều tiếng nói nói về Đức Giêsu, nhưng là nhiều con người mang dáng dấp Đức Giêsu. Thế giới cần những người mà sau khi gặp họ, người khác cảm thấy mình được nhìn bằng sự tôn trọng hơn; những người nói sự thật mà không làm người ta tuyệt vọng; những người có niềm xác tín mạnh mẽ nhưng trái tim vẫn mềm; những người không sợ khác biệt nhưng cũng không biến khác biệt thành thù địch; những người sẵn sàng lắng nghe trước khi trả lời; những người cầu nguyện trước khi đăng tải; những người quỳ trước Chúa lâu hơn thời gian họ đứng trước công chúng; những người biết rằng sức mạnh của Tin Mừng không tùy thuộc vào kỹ thuật truyền thông nhưng vào Chúa Thánh Thần.
Có lẽ mỗi ngày, trước khi bắt đầu công việc truyền giáo, chúng ta cần nói với Chúa một lời rất đơn giản: “Lạy Chúa Giêsu, trước khi con nói về Ngài, xin hãy nói với con. Trước khi con đưa người khác đến với Ngài, xin kéo con lại gần Ngài. Trước khi con kêu gọi người khác hoán cải, xin chỉ cho con nơi con cần hoán cải. Trước khi con muốn làm ánh sáng cho ai, xin thanh luyện những bóng tối trong lòng con. Trước khi con viết một lời về tình yêu, xin dạy con yêu người đang làm con khó chịu. Trước khi con nói về tha thứ, xin giúp con tha thứ. Trước khi con rao giảng thập giá, xin cho con biết vác thập giá của mình. Trước khi con nói về Ngài cho thế giới, xin cho thế giới có thể nhìn thấy một chút gì của Ngài nơi cách con sống.”
Bởi cuối cùng, việc loan báo Tin Mừng không khởi đầu từ micro, bục giảng, màn hình hay bàn phím. Nó khởi đầu trong một căn phòng kín, nơi người môn đệ đóng cửa lại và ở một mình với Thiên Chúa. Nó bắt đầu trong sự im lặng. Bắt đầu nơi một trái tim lắng nghe. Bắt đầu nơi một con người nhận ra mình cũng cần được cứu. Từ nơi ấy lời mới sinh ra. Và khi lời sinh ra từ cầu nguyện, nó mang một trọng lượng khác. Khi lời sinh ra từ sự hoán cải, nó có một sức thuyết phục khác. Khi lời sinh ra từ tình yêu, nó chạm tới nơi những lập luận không thể chạm tới.
Vậy nên, trước khi hỏi: “Tôi phải nói gì để thế giới tin?”, có lẽ ta nên hỏi: **“Tôi phải để Đức Kitô làm gì nơi tôi để đời tôi trở thành một lời đáng tin?”** Trước khi tìm chiến lược truyền giáo mới, hãy trở lại với Đấng là nguồn của mọi truyền giáo. Trước khi tìm cách làm Tin Mừng hấp dẫn, hãy để chính mình một lần nữa bị vẻ đẹp của Tin Mừng chinh phục. Trước khi kêu gọi người khác gặp Đức Giêsu, hãy gặp Người hôm nay. Không phải Đức Giêsu trong ý tưởng, không phải Đức Giêsu của bài giảng sắp tới, nhưng Đức Giêsu đang nhìn ta trong thinh lặng và hỏi như đã từng hỏi Phêrô bên bờ hồ: “Con có yêu Thầy không?”
Có lẽ đó là câu hỏi nền tảng nhất của mọi sứ vụ. Không phải: “Con có tài không?” Không phải: “Con có nhiều người nghe không?” Không phải: “Con có nói hay không?” Không phải: “Con có ảnh hưởng không?” Nhưng là: “Con có yêu Thầy không?” Bởi nếu yêu Người, chúng ta sẽ học yêu những người Người trao cho chúng ta. Nếu yêu Người, chúng ta sẽ không dùng Tin Mừng để xây dựng bản thân. Nếu yêu Người, chúng ta sẽ đủ can đảm nói sự thật và đủ dịu dàng để nói sự thật trong tình yêu. Nếu yêu Người, chúng ta sẽ biết lúc nào cần lên tiếng và lúc nào cần im lặng. Nếu yêu Người, chúng ta sẽ không quá sợ việc bị hiểu lầm, không quá say vì được khen ngợi, không quá tuyệt vọng khi không nhìn thấy kết quả. Và nếu yêu Người, có lẽ ngay cả những giới hạn, vụng về và yếu đuối của chúng ta cũng có thể trở thành một khe cửa để ân sủng đi qua.
Thế giới hôm nay chắc chắn cần những nhà truyền giáo. Nhưng trước khi cần những nhà truyền giáo khéo nói, thế giới cần những nhà truyền giáo biết quỳ. Trước khi cần những người có khả năng tạo ảnh hưởng, thế giới cần những người đã để Đức Kitô ảnh hưởng đến tận nơi sâu nhất của lòng mình. Trước khi cần những người đăng tải thật nhiều nội dung Kitô giáo, thế giới cần những con người mà cuộc đời họ đã trở thành nội dung của Tin Mừng. Trước khi cần những tiếng nói lớn, thế giới cần những trái tim sâu. Bởi Tin Mừng không được trao truyền chỉ từ miệng sang tai. Tin Mừng được trao truyền từ một trái tim đã gặp Đức Kitô đến một trái tim đang khát khao Người, đôi khi chính người ấy cũng chưa biết mình đang khát.
Và có lẽ đây là điều chúng ta phải ghi khắc thật sâu: **chúng ta không đem Đức Kitô đến một nơi mà Người hoàn toàn vắng mặt. Người đã đi trước chúng ta. Chúa Thánh Thần đã hoạt động trong những trái tim trước khi chúng ta xuất hiện. Việc của chúng ta không phải là chiếm lấy một con người cho phe mình, nhưng giúp họ nhận ra Đấng đã âm thầm chờ họ từ lâu.** Chính vì vậy, loan báo Tin Mừng phải mang vẻ khiêm nhường của người biết mình chỉ là người giới thiệu hai người vốn thuộc về nhau: một bên là Thiên Chúa đang đi tìm con người, bên kia là trái tim con người được tạo dựng để tìm Thiên Chúa.
Ước gì mỗi người được trao trách nhiệm thông truyền Tin Mừng hôm nay đừng bao giờ quên nguồn mạch ấy. Trước khi nói, hãy lắng nghe. Trước khi đăng tải, hãy cầu nguyện. Trước khi sửa người khác, hãy để Lời Chúa sửa mình. Trước khi muốn người khác yêu Chúa, hãy để chính trái tim mình được đốt nóng lại bởi tình yêu dành cho Người. Và rồi hãy đi. Hãy nói. Hãy viết. Hãy giảng. Hãy sử dụng mọi phương tiện tốt đẹp mà thời đại này trao cho chúng ta. Hãy hiện diện trên những con đường của thế giới thật cũng như thế giới kỹ thuật số. Nhưng dù ở đâu, xin đừng quên rằng Tin Mừng không phải là một thông tin để phát tán; **Tin Mừng là một Người để gặp gỡ.** Người ấy là Đức Giêsu Kitô. Và bất cứ sứ vụ nào không dẫn đến cuộc gặp gỡ ấy, dù vang dội đến đâu, vẫn còn thiếu điều cốt lõi. Còn một lời nhỏ bé, được sinh ra trong cầu nguyện, được nói bằng tình yêu và đưa một con người đến gần Đức Kitô hơn một bước, thì trước mặt Thiên Chúa, lời ấy đã mang trong mình cả một mùa gặt.
Lm. Anmai, CSsR
