Giờ thứ ba, giờ thứ sáu, giờ thứ mười một
Lm. Anmai, CSsR
GIỜ THỨ BA, GIỜ THỨ SÁU, GIỜ THỨ MƯỜI MỘT
Thời khắc trong Kinh Thánh và lòng nhân hậu của ông chủ vườn nho
Lm. Anmai, CSsR
.
Thưa quý ông bà anh chị em,
Có những câu Tin Mừng ta nghe đã quen, đến mức tưởng mình đã hiểu, cho đến khi một chữ nhỏ trong câu ấy buộc ta phải dừng lại. Chúa nhật 25 Thường niên, năm A, chữ ấy không phải là “vườn nho”, cũng không phải là “một đồng”. Chữ ấy là giờ. Giờ thứ ba. Giờ thứ sáu. Giờ thứ chín. Giờ thứ mười một. Đức Giê-su không kể một câu chuyện về năng suất lao động. Người kể một câu chuyện về thời gian, và về một ông chủ không đo lòng người bằng thời gian.
Ông chủ ấy ra chợ năm lần trong một ngày. Lần đầu lúc tảng sáng. Rồi giờ thứ ba. Rồi giờ thứ sáu. Rồi giờ thứ chín. Và lần cuối, khi ngày đã gần tàn, giờ thứ mười một. Ai nghe dụ ngôn bằng tai người Ga-li-lê thế kỷ thứ nhất thì thấy ngay năm lần ấy. Ai nghe bằng tai người hôm nay, với đồng hồ đeo tay chia ngày thành hai mươi bốn giờ bằng nhau, rất dễ trượt. Ta tưởng giờ thứ ba là ba giờ sáng. Ta tưởng giờ thứ mười một là mười một giờ đêm. Và nếu đã trượt ở chỗ đếm giờ, ta cũng dễ trượt ở chỗ Đức Giê-su muốn nói: Nước Trời không trả công theo đồng hồ.
Nhiều người đã đặt câu hỏi đúng chỗ: cách tính thời gian trong dụ ngôn này có giống cách tính của chúng ta không? Câu trả lời ngắn là không. Câu trả lời dài buộc ta đi hết một nền niên lịch: tháng, tuần, ngày, canh, giờ. Rồi từ nền niên lịch ấy, Tân Ước còn mở một cửa thứ hai. Không phải chỉ có thời gian để đếm. Còn có thời gian để đón. Hy-lạp gọi cái thứ nhất là chronos. Cái thứ hai là kairos. Dụ ngôn bắt đầu bằng chronos. Dụ ngôn kết bằng kairos. Và giữa hai chữ ấy là cả Tin Mừng về lòng nhân hậu.
Chia sẻ này muốn đi chậm. Chậm như người Do-thái nhìn ba ngôi sao đầu tiên để biết một ngày đã sang. Chậm như ông chủ còn ra chợ lúc năm giờ chiều, khi người khác đã về. Không phải để phô kiến thức niên lịch. Niên lịch chỉ là ngưỡng cửa. Bên trong ngưỡng cửa là câu hỏi của mỗi đời: giờ này của tôi là giờ nào, và ông chủ còn gọi không?
I. Dụ ngôn không bắt đầu từ đồng lương
Muốn hiểu giờ, phải đọc lại cả đoạn, không cắt câu trả công ra khỏi câu gọi người.
Mat-thêu đặt dụ ngôn ngay sau cuộc gặp người thanh niên giàu có. Anh ấy đã giữ các điều răn từ thuở nhỏ, nhưng khi nghe “hãy đi bán của cải, rồi đến theo tôi”, anh buồn rầu bỏ đi, vì có nhiều của (Mt 19,16-22). Các môn đệ sửng sốt. Phê-rô nói thay nỗi lòng những người đã bỏ mọi sự: “Chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy. Vậy chúng con sẽ được gì?” (Mt 19,27). Đức Giê-su không phủ nhận phần thưởng. Người hứa gấp trăm, hứa sự sống đời đời, hứa mười hai ngai. Rồi Người thêm một câu làm đảo mọi thứ tự: “Nhưng nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót, và nhiều kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu” (Mt 19,30). Dụ ngôn vườn nho là lời giải thích câu ấy. Và câu ấy được lập lại đúng ở cuối dụ ngôn: “Thế là những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót” (Mt 20,16).
Khung của dụ ngôn không phải kinh tế. Khung của dụ ngôn là thứ tự Nước Trời. Ai tưởng mình đứng đầu vì đã theo sớm, vì đã làm nhiều, vì đã chịu nắng từ tảng sáng, sẽ nghe một câu khó chịu. Ai tưởng mình đứng chót vì đến muộn, vì lỡ cả buổi sáng ở ngoài chợ, sẽ nghe một câu không dám tin. Cả hai đều được trả một đồng. Cả hai đều được gọi là thợ. Khác nhau là giờ được gọi. Không khác nhau là lòng của người gọi.
Ông chủ nhà kia vừa tảng sáng đã ra mướn thợ vào làm vườn nho. Tảng sáng, trong cách nói của Tin Mừng, là giờ thứ nhất, khoảng sáu giờ, lúc mặt trời mọc, lúc ngày lao động của xứ nóng bắt đầu trước khi nắng gắt. Ông thỏa thuận với họ một quan tiền một ngày, rồi sai vào vườn. Quan tiền ấy là đồng đơ-na-ri-on, lương nhật thông thường của một người thợ thời ấy: đủ ăn một ngày cho một miệng, không phải gia tài, cũng không phải bố thí nhục nhã. Thỏa thuận đã rõ. Sáng sớm vào, chiều về, lãnh một đồng. Đến đây chưa có gì lạ.
Khoảng giờ thứ ba, ông lại ra, thấy có những người khác đứng không ở chợ. Ông bảo: “Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho, tôi sẽ trả cho các anh hợp lẽ công bằng.” Họ đi. Khoảng giờ thứ sáu và giờ thứ chín, ông lại ra và cũng làm y như vậy. Khoảng giờ thứ mười một, ông còn ra nữa, thấy còn có những người đứng đó, liền hỏi: “Sao các anh đứng đây suốt ngày không làm gì hết?” Họ đáp: “Vì không ai mướn chúng tôi.” Ông bảo: “Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho.”
Câu “vì không ai mướn chúng tôi” đáng được nghe chậm. Họ không khai mình lười. Họ khai mình không được gọi. Suốt ngày đứng ở chợ, chỗ người ta đến tìm thợ, mà không một ông chủ nào dừng lại. Giờ thứ mười một không phải giờ của kẻ cố tình đến trễ. Trong miệng những người ấy, đó là giờ của kẻ không ai thèm mướn, cho đến khi ông này còn ra.
Chiều đến, ông chủ bảo người quản lý: “Hãy gọi thợ lại mà trả công cho họ, bắt đầu từ những người vào làm sau chót tới những người vào làm trước nhất.” Những người mới vào làm lúc giờ thứ mười một tiến lại, và lãnh được mỗi người một quan tiền. Đến lượt những người vào làm trước, họ tưởng mình sẽ được nhiều hơn, thế nhưng cũng chỉ lãnh được mỗi người một quan. Họ vừa lãnh vừa cằn nhằn: những kẻ sau chót chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi, là những người đã phải làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt. Ông chủ trả lời một người trong bọn: “Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thỏa thuận với tôi là một quan tiền sao? Cầm lấy phần của bạn mà đi. Tôi muốn cho người vào làm sau chót này cũng được bằng bạn. Chẳng lẽ tôi lại không có quyền tùy ý định đoạt về những gì là của tôi sao? Hay vì thấy tôi tốt bụng mà bạn đâm ra ghen tức?”
Câu cuối của ông chủ mới là mũi nhọn. Không phải “tôi công bằng”. Ông đã công bằng với người làm từ sáng: đúng một đồng đã thỏa thuận. Mũi nhọn là: “hay vì thấy tôi tốt bụng mà bạn đâm ra ghen tức?” Tiếng Hy-lạp còn sắc hơn: con mắt của anh trở nên gian ác vì tôi là người tốt. Công bình không bị phá. Lòng tốt mới bị kiện. Và người kiện không phải kẻ bị trả thiếu. Người kiện là kẻ được trả đủ, nhưng không chịu nổi cảnh người khác cũng được đủ.
Muốn thấy mũi nhọn ấy cắm vào đâu, phải biết giờ thứ mười một là mấy giờ, và một ngày của người Do-thái bắt đầu lúc nào. Không biết, ta sẽ biến dụ ngôn thành bài học luân lý về sự ghen tương, rồi bỏ mất cả nền thời gian mà Đức Giê-su đang đứng ở trong.
II. Hai niên lịch, như hai cách đứng trong cùng một đời
Người Ít-ra-en xưa không sống với một lịch. Họ sống với hai. Lịch dân sự và lịch đạo. Việc ấy không xa lạ với Ki-tô giáo. Ta cũng vừa dùng dương lịch để sinh hoạt, vừa dùng lịch phụng vụ để cử hành. Năm dương lịch mở vào tháng giêng. Năm phụng vụ mở từ Chúa nhật thứ nhất Mùa Vọng, cuối tháng mười một hoặc đầu tháng mười hai. Hai năm ấy chênh nhau, và chính chỗ chênh ấy dạy rằng đời người không chỉ có một đầu năm.
Lịch đạo của Ít-ra-en bắt đầu năm mới vào khoảng tháng ba, tháng tư dương lịch. Lịch dân sự bắt đầu vào khoảng tháng chín, tháng mười. Hai lịch chênh nhau đến sáu tháng. Không phải sơ suất. Đó là hai cửa ngõ của cùng một dân. Cửa đạo nhìn về biến cố cứu độ: Xuất Hành, Vượt Qua, tháng đứng đầu các tháng. Cửa dân sự nhìn về mùa màng, về năm nông nghiệp, về tiếng tù và đầu năm. Một dân vừa là dân của giao ước, vừa là dân của ruộng đất. Cả hai đều thật. Không cửa nào xóa cửa kia.
Ki-tô hữu cũng vậy. Có ngày sinh trên giấy khai sinh, và có ngày được rửa tội. Có tuổi đời, và có tuổi ơn gọi. Có người vào vườn nho từ tấm bé, lịch đạo của họ gần như trùng với lịch đời. Có người lịch đời đã đi được một đoạn dài, rồi lịch đạo mới mở. Ông chủ không bắt mọi người phải có cùng một đầu năm. Ông chỉ bắt ai được gọi thì vào.
Sự chênh sáu tháng giữa hai lịch còn là một hình ảnh mục vụ. Có những gia đình mừng Tết dương lịch và Tết Nguyên đán, rồi mới mừng năm phụng vụ mà không để ý năm phụng vụ đã mở từ Mùa Vọng. Có những cộng đoàn rất đúng giờ đồng hồ, nhưng trễ giờ của Thiên Chúa. Biết có hai lịch là biết đừng lấy một thước đo mà xử mọi sự. Giờ thứ mười một trên lịch lao động có thể là giờ thứ nhất trên lịch cứu độ.
III. Tháng: vòng trăng, và tháng đứng đầu các tháng
Lịch Do-thái đếm tháng theo mặt trăng. Mỗi tháng bắt đầu vào ngày trăng mới, tức mồng một. Mười hai tháng một năm, và vì mười hai vòng trăng ngắn hơn một năm mặt trời, nên từng kỳ phải thêm tháng để các mùa không chạy. Chi tiết nhuận tháng không cần cho dụ ngôn, nhưng cần để ta đừng tưởng lịch xưa là một cái máy chính xác như lịch điện thoại. Lịch ấy nhìn trời. Trăng non xuất hiện là tháng mới. Mưa chưa về đúng kỳ là năm được đọc lại. Thời gian, với dân này, là cái được quan sát, không phải cái được sản xuất.
Tháng đầu của lịch đạo là tháng Ni-xan, cũng gọi là tháng A-víp. A-víp nghĩa là lúa chín tới, lúa còn xanh trong gié. Tháng ấy rơi vào khoảng tháng ba, tháng tư dương lịch. Sách Xuất hành ghi chỉ thị của Chúa ngay trước đêm ra khỏi Ai-cập: “Tháng này, các ngươi phải kể là tháng đứng đầu các tháng, tháng thứ nhất trong năm. Hãy nói với toàn thể cộng đồng Ít-ra-en: Mồng mười tháng này, ai nấy phải bắt một con chiên cho gia đình mình, mỗi nhà một con. Phải nhốt nó cho tới ngày mười bốn tháng này, rồi toàn thể đại hội cộng đồng Ít-ra-en đem sát tế vào lúc xế chiều, lấy máu bôi lên khung cửa những nhà có ăn thịt chiên. Còn thịt, sẽ ăn ngay đêm ấy, nướng lên, ăn với bánh không men và rau đắng” (Xh 12,2-8).
Đoạn này đáng đọc như một nền của mọi thời khắc sau. Tháng được gọi là đứng đầu không phải vì nó là tháng đẹp nhất, mà vì trong tháng ấy Thiên Chúa đưa dân ra khỏi nhà nô lệ. Thời gian được thánh hóa bằng biến cố, không bằng số thứ tự tự nhiên. Mồng mười bắt chiên. Ngày mười bốn sát tế lúc xế chiều. Đêm ấy ăn. Ngày của lễ đã bắt đầu từ chiều, đúng cách đếm ngày của dân này. Máu trên khung cửa. Thịt nướng. Bánh không men. Rau đắng. Mỗi chi tiết là một mốc thời gian được gắn vào một hành vi cứu độ.
Vì lễ Vượt Qua cử hành ngày mười bốn tháng Ni-xan, Ki-tô giáo mừng Phục Sinh vào khoảng tháng ba, tháng tư dương lịch, sau ngày phân xuân, Chúa nhật đầu tiên sau trăng tròn ấy. Không phải trùng hợp lịch sử. Đó là Giáo Hội cố ý đứng trong tháng đứng đầu các tháng của dân được cứu, rồi đọc biến cố ấy nơi Đức Ki-tô, Chiên vượt qua của ta, đã bị sát tế và đã sống lại. Giờ xế chiều của ngày mười bốn tháng Ni-xan, trên đồi Gôn-gô-tha, là giờ mà mọi giờ khác trong dụ ngôn phải được đọc lại.
Lịch dân sự lại mở bằng tháng Tít-ri, cũng gọi là Ê-tha-nim, tháng thứ bảy của lịch đạo, khoảng tháng chín, tháng mười dương lịch. Sách các Vua nhắc tháng Ê-tha-nim khi Salômôn khánh thành Đền Thờ (1 V 8,2). Sách Lê-vi truyền: “Tháng thứ bảy, ngày mồng một, đối với các ngươi sẽ là một ngày nghỉ, một ngày tưởng niệm giữa tiếng reo hò, và họp nhau để thờ phượng Ta” (Lv 23,24). Ngày ấy là Rô-sơ Ha-sa-na, Đầu Năm, cũng gọi là Ngày Reo Hò (Ds 29,1). Tiếng tù và. Ngày nghỉ. Tưởng niệm. Một năm dân sự không mở bằng tính sổ, mà bằng tiếng kêu lên trước nhan Thiên Chúa.
Tháng cuối của lịch đạo là tháng A-đa, khoảng tháng hai, tháng ba dương lịch. Tháng cuối của lịch dân sự là tháng Ê-lun, khoảng tháng tám, tháng chín (x. Nkm 6,15). Nơ-khe-mi-a ghi tường thành hoàn tất ngày hai mươi lăm tháng Ê-lun, sau năm mươi hai ngày xây. Một tháng cuối có thể là tháng của việc hoàn tất. Giờ thứ mười một, theo nghĩa ấy, không phải giờ bỏ đi. Có những việc chỉ hoàn tất khi ngày gần hết.
Đọc dụ ngôn sau khi đã nghe tháng Ni-xan và tháng Tít-ri, ta bớt thói quen lấy một đầu năm của mình làm chuẩn cho mọi đời. Có người đầu năm là ngày rửa tội lúc sơ sinh. Có người đầu năm là một buổi tối đã lớn, đứng ở nhà thờ vì đám tang, vì cưới hỏi, vì con cái xin học giáo lý. Tháng đứng đầu các tháng, với họ, không phải tháng họ sinh ra. Tháng ấy là tháng họ được đưa ra khỏi nhà nô lệ của mình.
IV. Tuần, và ngày được gọi bằng tên thánh
Lịch Do-thái có tuần bảy ngày, như trình thuật sáng tạo. Sáu ngày đầu không có tên riêng. Ngày thứ nhất, ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, ngày thứ sáu. Chỉ ngày thứ bảy được gọi bằng tên: sa-bát. Tiếng Híp-ri là sabbat, hoặc sabbatôn. Qua Hy-lạp vẫn là sabbaton. Nghĩa là ngưng, nghỉ, dừng lại.
Sách Xuất hành nói rõ: “Sáu ngày người ta sẽ làm việc, nhưng ngày thứ bảy là một ngày sa-bát, một ngày nghỉ hoàn toàn, dâng Đức Chúa. Kẻ nào làm việc trong ngày sa-bát sẽ bị xử tử” (Xh 31,15). Câu ấy nghe nặng nếu ta chỉ nghe bằng tai kỷ luật. Nghe bằng tai giao ước, đó là hàng rào bảo vệ một sự thật: thời gian không thuộc về người làm chủ công việc. Ngày thứ bảy được rút khỏi tay Pha-ra-ô, khỏi tay năng suất, khỏi tay chính mình, để trả về cho Đấng đã dựng nên sáu ngày kia. Sa-bát là lời tuyên xưng rằng tôi không phải là chủ của giờ.
Trong dụ ngôn, ngày lao động kết thúc trước sa-bát của nó, vào lúc chiều, khi ông chủ trả công. Nhưng bóng của sa-bát đã ở trong cách trả. Ông chủ không để thợ nào ra về tay không. Lề luật còn truyền đừng giữ lương của người nghèo qua đêm (Lv 19,13; Đnl 24,15). Trả công chiều hôm ấy là công bình. Trả cho người chỉ làm một giờ cũng một đồng là cái gì hơn công bình, nhưng không phá công bình của người đã thỏa thuận. Sa-bát và đồng lương gặp nhau ở chỗ này: cả hai đều nhắc rằng sức lao động của con người không phải thước cuối cùng. Có một phần của ngày, và một phần của công, thuộc về lòng thương xót.
Ki-tô giáo không giữ sa-bát thứ bảy như điều kiện giao ước cũ, nhưng không vứt ý nghĩa ấy. Chúa nhật, ngày thứ nhất, ngày Phục Sinh, là ngày được trả lại cho Chúa. Giờ kinh, ngày lễ, ngày kiêng việc xác, đều là những sa-bát nhỏ, những chỗ thời gian bị rút khỏi tay ta để ta nhớ mình không sở hữu nó. Ai làm việc từ giờ thứ nhất mà không bao giờ dừng, rất dễ trở thành người cằn nhằn cuối dụ ngôn: tôi đã cực hơn, vậy tôi phải được hơn. Sa-bát là liều thuốc cho căn bệnh ấy. Nghỉ, không phải vì hết việc, mà vì việc không phải là chúa.
V. Ngày bắt đầu từ hoàng hôn
Đây là chỗ người thời nay dễ trượt nhất.
Với ta, ngày là khoảng hai mươi bốn giờ bắt đầu từ nửa đêm. Nửa đêm là một quy ước của đồng hồ, không phải một biến cố của trời. Với người Do-thái, ngày là khoảng giữa hai buổi hoàng hôn. Trình thuật sáng tạo nhắc đi nhắc lại, như một điệp khúc: “Qua một buổi chiều và một buổi sáng: đó là ngày thứ nhất.” Rồi ngày thứ hai, ngày thứ ba, cho đến ngày thứ sáu (St 1,5tt). Chiều đứng trước sáng. Ngày không mở bằng ánh sáng. Ngày mở bằng phía bên kia của ánh sáng.
Để biết lúc nào một ngày đã sang, họ không lấy đúng phút mặt trời lặn. Hoàng hôn, theo cách xác định được giữ trong truyền thống, là lúc ba ngôi sao đầu tiên xuất hiện, trong đó Sao Hôm, Kim tinh, sáng nhất. Mặt trời đã khuất mà Sao Hôm chưa lên thì vẫn còn là ngày cũ. Có một khoảng mỏng giữa hai ngày, khoảng không thuộc hẳn về bên nào, khoảng phải ngước nhìn mới biết. Thời gian, ở ngưỡng ấy, đòi con mắt, không chỉ đòi kim đồng hồ.
Dấu vết còn rõ trong phụng vụ. Lễ vọng không phải lễ diễn tập. Lễ vọng là cửa của ngày lễ, mở từ chiều hôm trước. Kinh Chiều I của Chúa nhật và của lễ trọng không phải Kinh Chiều của ngày cũ được hát sớm. Đó là giờ kinh đầu tiên của ngày mới. Thánh lễ Chúa nhật chiều thứ bảy là thánh lễ Chúa nhật, không phải thánh lễ bù. Giáo Hội vẫn bước vào ngày của Chúa từ phía hoàng hôn, như dân cũ bước vào ngày mới khi sao bắt đầu hiện.
Với dụ ngôn, điều này đổi cách ta nghe chữ “chiều đến”. Chiều đến, ông chủ trả công, là lúc ngày lao động ngả về phía kết, và cũng là lúc một ngày khác sắp mở. Người vào giờ thứ mười một không bị trả công trong một ngày đã chết. Họ được trả ở ngưỡng. Và người làm từ sáng cũng lãnh ở ngưỡng ấy. Mọi thợ, sớm hay muộn, đều đứng cùng một buổi chiều trước mặt ông chủ. Thứ tự được đảo: người vào sau lãnh trước. Buổi chiều của Nước Trời không giữ hàng ngũ của buổi sáng.
Mục vụ chiều hôm cũng nên được đọc lại từ đây. Nhiều người chỉ vào nhà thờ được lúc chiều, sau một ngày chợ, một ngày ruộng, một ngày bệnh viện. Ta dễ coi họ là người đến phụ, người dự lễ cho có. Phụng vụ không nói vậy. Chiều có thể là cửa ngày mới. Một người xưng tội lúc chiều thứ bảy, rước lễ sáng Chúa nhật, đã bước qua hoàng hôn của một đời cũ. Đừng gọi đó là trễ. Hãy gọi đó là ngày đã bắt đầu.
VI. Đêm không có năm canh
Ta quen nói “đêm năm canh, ngày sáu khắc”. Đó là cách đếm của ta, đẹp, đã vào thơ, nhưng không phải cách đếm của Kinh Thánh. Đêm của Ít-ra-en thời xưa chỉ ba canh. Canh đầu hôm lúc chập tối. Canh hai lúc nửa đêm. Canh sáng lúc trời gần sáng. Sách Ai-ca nói đến canh đầu (Ac 2,19). Sách Thủ lãnh kể Ghít-ôn đánh vào lúc canh hai, khi lính vừa đổi gác (Tl 7,19). Sách Xuất hành kể Chúa nhìn trại Ai-cập từ cột lửa và mây vào lúc canh sáng (Xh 14,24). Ba canh, không phải năm. Đêm ngắn hơn câu thành ngữ của ta, và mỗi canh vì thế dài, nặng, dễ buồn ngủ.
Về sau, người Do-thái theo cách Rô-ma, chia đêm thành bốn canh, mỗi canh khoảng ba giờ. Canh một từ hoàng hôn đến khoảng chín giờ tối. Canh hai từ chín giờ đến nửa đêm. Canh ba từ nửa đêm đến khoảng ba giờ sáng. Canh tư từ ba giờ sáng đến lúc mặt trời mọc. Tân Ước đứng ở giai đoạn này. Đức Giê-su nói: “Nếu canh hai hoặc canh ba ông chủ mới về, mà còn thấy các đầy tớ tỉnh thức như vậy, thì thật là phúc cho họ” (Lc 12,38). Phúc không dành cho người đoán đúng canh. Phúc dành cho người canh nào cũng tỉnh. “Vào khoảng canh tư, Đức Giê-su đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ” (Mt 14,25). Canh tư là canh mệt nhất, canh người ta tưởng đêm còn dài, và cũng là canh Người đến.
Mác-cô diễn tả bốn canh bằng bốn hình ảnh đời thường, không bằng số: “Anh em phải canh thức, vì anh em không biết khi nào chủ nhà đến: lúc chập tối hay nửa đêm, lúc gà gáy hay tảng sáng” (Mc 13,35). Chập tối là canh một. Nửa đêm là canh hai. Lúc gà gáy là canh ba. Tảng sáng là canh tư. Bốn cửa của đêm. Không cửa nào được phép tắt đèn.
Dụ ngôn vườn nho là chuyện ban ngày, nhưng không tách khỏi lệnh canh thức ấy. Ông chủ của ngày và chủ nhà của đêm là một. Ban ngày ông đi tìm người đứng không ở chợ. Ban đêm ông có thể trở về bất cứ canh nào. Ai chỉ tỉnh vào giờ mình thích sẽ ngủ mất giờ Người đến. Người thợ giờ thứ mười một, nếu đọc cùng với Mác-cô, là hình của kẻ còn thức khi người khác tưởng ngày đã hết việc. Người làm từ sáng, nếu đọc cùng với Lu-ca, là hình của đầy tớ phải còn tỉnh lúc canh ba, đừng lấy công buổi sáng mà mua quyền ngủ buổi tối.
Canh còn là ngôn ngữ của những người thức vì người khác. Lính đổi canh. Mục tử thức. Người nhà có bệnh ngồi suốt canh hai. Bà mẹ nghe tiếng con ho vào canh tư. Giáo Hội có một dòng kinh đêm, Kinh Sách, giờ của những người nhận đêm không phải để sợ, mà để đọc Lời cho đến sáng. Không phải ai cũng được gọi vào dòng ấy. Nhưng mọi môn đệ đều được gọi đừng khinh đêm. Đêm ba canh hay bốn canh, đêm vẫn là phần của ngày thuộc về Chúa.
VII. Giờ ban ngày: một phần mười hai của ánh sáng
Đến đây mới đúng chỗ dụ ngôn.
Theo lịch Do-thái, giờ là đơn vị của ban ngày, và không phải khoảng cố định sáu mươi phút. Giờ là một phần mười hai khoảng sáng, từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn. Mùa đông, ngày ngắn, một giờ Do-thái ngắn hơn sáu mươi phút. Mùa hè, ngày dài, một giờ dài hơn. Ở Giê-ru-sa-lem, khoảng chênh ấy có thật: ngày đông ngắn, ngày hè dài, nên cùng một chữ “giờ thứ ba” không rơi đúng vào một phút của đồng hồ hiện đại suốt bốn mùa. Khi Tin Mừng nói “khoảng giờ thứ ba”, chữ “khoảng” rất trung thực. Đó là ước lượng theo mặt trời, không phải theo kim giây.
Ước lượng quen dùng, và đủ để nghe dụ ngôn, là thế này. Giờ thứ nhất, lúc mặt trời mọc, khoảng sáu giờ sáng. Giờ thứ ba, khoảng chín giờ sáng. Giờ thứ sáu, khoảng mười hai giờ trưa. Giờ thứ chín, khoảng ba giờ chiều. Giờ thứ mười một, khoảng năm giờ chiều. Ông chủ ra mướn thợ từ lúc vừa tảng sáng, tức giờ thứ nhất, rồi vào các giờ thứ ba, thứ sáu, thứ chín và thứ mười một. Năm lần. Không phải ba lần như tựa một số bài chỉ nhắc ba giờ. Tin Mừng có đủ năm. Bài học hỏi nhắc cả giờ thứ chín. Tựa bài nêu ba giờ tiêu biểu, vì ba giờ ấy đủ để thấy ngày được gọi từ sớm đến muộn. Nhưng đừng bỏ giờ thứ chín. Giờ thứ chín, trong ngày Thương Khó, là giờ của tiếng kêu lớn.
Tại sao người ta chia ngày thành mười hai giờ, đêm thành các canh, mà không chia đều hai mươi bốn giờ như ta? Vì đời họ nhìn thấy. Họ nhìn mặt trời. Họ nhìn sao. Họ nghe gà. Họ cảm nắng. Giờ không phải sản phẩm của đồng hồ cơ khí, thứ mãi sau này mới có. Giờ là phần của ánh sáng được chia cho công việc. Khi ánh sáng dài, giờ dài. Khi ánh sáng ngắn, giờ ngắn. Thời gian dính vào trời, không dính vào máy.
Ở xứ nắng như Ga-li-lê, giờ thứ ba đã bắt đầu nóng. Giờ thứ sáu là nắng đỉnh, giờ người ta tìm bóng, giờ các môn đệ trong trường hợp khác đi mua thức ăn, giờ bóng tối sẽ bao phủ trong ngày Thương Khó. Giờ thứ chín là nắng đã nghiêng, nhưng người làm từ sáng đã kiệt. Giờ thứ mười một là ngày gần xong. Còn khoảng một giờ sáng nữa là thợ về. Ai được gọi vào giờ ấy mà còn đi, là đi vào một ngày không còn bao nhiêu để chứng tỏ mình. Họ không kịp lập công trạng. Họ chỉ kịp vâng lời.
Câu ông chủ hỏi họ cần được nghe trong nắng ấy: “Sao các anh đứng đây suốt ngày không làm gì hết?” Suốt ngày, từ giờ thứ nhất đến giờ thứ mười một, họ đứng ở chợ. Chợ là chỗ chờ được chọn. Đứng suốt ngày không làm gì, trong mắt người làm từ sáng, là cảnh đáng khinh. Trong miệng họ, là cảnh không ai mướn. Hai cách đọc cùng một buổi đứng. Dụ ngôn không đứng về cách đọc thứ nhất. Ông chủ cũng không. Ông không xét lý lịch. Ông nói: cả các anh nữa, hãy đi vào vườn.
Một giờ làm, nếu là giờ thứ mười một, vẫn là một giờ trong vườn của ông. Và khi chiều đến, một giờ ấy được trả như một ngày. Không phải vì một giờ bằng một ngày theo chronos. Vì người gọi họ muốn một giờ ấy thành ngày của lòng tốt.
VIII. Các giờ ấy trong Tân Ước: không phải chi tiết trang trí
Tân Ước dùng cách đếm này như cách đếm nhà, không như kiến thức đông phương để chú thích. Vài nơi đủ để thấy giờ là xương của trình thuật, không phải da.
Gio-an kể hai môn đệ của Gio-an Tẩy Giả đi theo Đức Giê-su. Người quay lại hỏi: “Các anh tìm gì?” Họ hỏi lại: “Thưa Thầy, Thầy ở đâu?” Người bảo: “Đến mà xem.” Họ đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy. “Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười” (Ga 1,39). Giờ thứ mười, khoảng bốn giờ chiều. Không phải giờ thứ mười một của dụ ngôn, nhưng cùng một vùng xế. Một buổi chiều còn lại của ngày đã đủ để An-rê gặp ông Simon và nói: chúng tôi đã gặp Đấng Mê-si-a. Đời tông đồ của một người có thể bắt đầu lúc bốn giờ chiều. Đừng ai giảng rằng ơn gọi chỉ thật nếu bắt đầu từ giờ thứ nhất.
Mác-cô ghi cuộc Thương Khó bằng chính các giờ này. “Lúc đó là giờ thứ ba, và họ đóng đinh Người” (Mc 15,25). Khoảng chín giờ sáng. Ngày đã lên. Phiên tòa đêm đã xong từ canh gà gáy. Đoàn lính đã nhạo. Thập giá được dựng khi ngày lao động của thành đang bắt đầu, giờ mà ngoài vườn nho kia người ta đã làm được ba giờ. “Vào giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ khắp mặt đất mãi đến giờ thứ chín” (Mc 15,33). Từ khoảng mười hai giờ trưa đến khoảng ba giờ chiều, ba giờ đồng hồ của ngày bị rút mất mặt trời. Giờ thứ sáu, giờ nắng phải đỉnh, lại là giờ tối. “Vào giờ thứ chín, Đức Giê-su kêu lớn tiếng: Ê-lô-i, Ê-lô-i, la-ma xa-bác-tha-ni, nghĩa là: Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con? Rồi một người chạy đi lấy bọt biển thấm đầy dấm, cắm vào đầu cây sậy và đưa lên cho Người uống. Đức Giê-su kêu một tiếng lớn, rồi tắt thở” (Mc 15,34-37).
Ba giờ ấy của ngày thứ sáu không phải lịch cho có. Giờ thứ ba: Người bị đóng đinh đúng giờ ngày bắt đầu nặng. Giờ thứ sáu: trời tối giữa trưa, ngày bị bẻ. Giờ thứ chín: tiếng kêu, hơi thở cuối, bức màn trong đền thờ xé đôi. Ai đọc dụ ngôn vườn nho mà quên ngày Thương Khó sẽ chỉ thấy một ông chủ rộng rãi. Ai đọc cùng với Mác-cô sẽ thấy đồng lương một quan kia được trả bằng chính giờ thứ ba, giờ thứ sáu, giờ thứ chín của Người. Lòng tốt mà người thợ sớm ghen tức không phải lòng tốt rẻ. Đó là lòng tốt đã đứng trên thập giá từ giờ thứ ba đến giờ thứ chín.
Công vụ dùng giờ thứ ba theo hướng khác, hướng của ngày mới. Sau lời rao giảng của các Tông Đồ ngày lễ Ngũ Tuần, có kẻ chế: “Mấy ông này say rượu rồi” (Cv 2,13). Phê-rô đứng lên với nhóm Mười Một: “Không, những người này không say rượu như anh em nghĩ, vì bây giờ mới là giờ thứ ba” (Cv 2,15). Chín giờ sáng. Giờ kinh ở Đền Thờ. Giờ chưa ai chè chén. Giờ Thần Khí được tuôn, giờ Phê-rô cắt nghĩa Gio-en, giờ ba ngàn người được nhận vào. Cùng một giờ thứ ba. Trên đồi, giờ đóng đinh. Ở Giê-ru-sa-lem năm mươi ngày sau, giờ Giáo Hội bắt đầu nói được mọi thứ tiếng. Giờ không tự nó thánh hay tục. Giờ thành gì là tùy Đấng làm chủ giờ ấy đến làm gì.
Còn những giờ khác, rải trong Tân Ước, cùng một thước. Giờ thứ chín, Phê-rô và Gio-an lên Đền Thờ cầu nguyện, gặp người què ở Cửa Đẹp (Cv 3,1). Giờ thứ sáu, Phê-rô lên sân thượng cầu nguyện, thấy khăn đầy thú vật, và cửa dân ngoại bắt đầu mở (Cv 10,9). Co-nê-li-ô thấy thị kiến vào khoảng giờ thứ chín (Cv 10,3). Giờ kinh và giờ mặc khải trùng nhau. Không phải vì các ngài chọn giờ đẹp. Vì các ngài có mặt ở giờ ấy, và Thiên Chúa dùng giờ ấy.
Một chi tiết nữa của Gio-an thường bị đem ra đối chiếu với Mác-cô. Gio-an nói Phi-la-tô giao Người cho họ đóng đinh vào khoảng giờ thứ sáu (Ga 19,14), trong khi Mác-cô nói giờ thứ ba họ đóng đinh. Các nhà chú giải đã bàn lâu: khác cách đếm, khác cách ước lượng, khác điểm nhấn, giờ Rô-ma hay giờ Do-thái. Không cần giải xong mới được giảng. Điều chắc là cả hai đều đóng khung cuộc Thương Khó vào các giờ công khai của ngày, giữa trời, giữa chợ người, không phải trong một góc đêm. Thập giá xảy ra trong chronos mọi người đều thấy. Và chronos ấy trở thành kairos của cả lịch sử.
IX. Hai hạn từ, không phải hai thời gian
Tân Ước dùng hai chữ Hy-lạp mà ta không được nhập làm một.
Chữ thứ nhất, chronos. Tương đương trong tiếng Híp-ri thường gặp là eth. Chronos là thời gian lượng số, thời gian có trường độ, đếm được, nối nhau. Giây, giờ, ngày, năm. “Vào độ này sang năm, Ta sẽ trở lại thăm ngươi, và bà Xa-ra sẽ có một con trai” (St 18,14). “Đừng sợ chúng, vì ngày mai cũng vào giờ này, Ta sẽ nộp thây của tất cả bọn chúng cho Ít-ra-en” (Gs 11,6). “Tôi còn ở lại với các ông ít thời gian nữa thôi” (Ga 7,33). “Trong thời gian chừng bốn mươi năm, Người đã dưỡng nuôi họ trong sa mạc” (Cv 13,18). Bốn mươi năm sa mạc là chronos dài. Một năm nữa bà Xa-ra sẽ có con là chronos được hứa. Ít thời gian nữa Đức Giê-su còn ở lại là chronos ngắn. Cả ba đều đếm được, và cả ba đều nằm trong tay Chúa, nhưng chữ đang dùng là chữ đếm.
Năm lần ông chủ ra chợ là chronos. Tảng sáng, giờ thứ ba, giờ thứ sáu, giờ thứ chín, giờ thứ mười một. Khoảng sáu giờ, chín giờ, mười hai giờ, ba giờ, năm giờ. Giờ này đến sau giờ kia. Người làm từ sáng có nhiều chronos hơn. Người vào lúc năm giờ có ít chronos hơn. Nếu Nước Trời trả theo chronos, người cằn nhằn đã đúng. Họ đã có nhiều giờ hơn, nhiều nắng hơn, nhiều mệt hơn. Một đồng cho một giờ là phá bảng lương.
Chữ thứ hai, kairos. Tương đương thường được nêu là zeman. Kairos là thời buổi, thời cơ, thời đúng, thời của một ý nghĩa. Không đo bằng dài ngắn. Đo bằng đã đến chưa, và đến để làm gì. Ma quỷ kêu với Đức Giê-su: “Hỡi Con Thiên Chúa, chuyện chúng tôi can gì đến ông? Chưa tới lúc mà ông đã đến đây làm khổ chúng tôi sao?” (Mt 8,29). Chúng đếm và thấy chưa tới chronos của phán xét cuối. Chúng không thấy kairos của Nước Trời đã đụng vào địa hạt của chúng ngay trong một cuộc trừ quỷ ở Ga-đa-ra. Phao-lô viết, và đây là câu bài học hỏi đặt ở cửa ra: “Đây là thời Thiên Chúa thi ân, đây là ngày Thiên Chúa cứu độ” (2 Cr 6,2). Chữ thời ở đây là kairos. Không phải mọi ngày đều như nhau vì đồng hồ chạy đều. Có ngày là ngày cứu độ, vì Thiên Chúa đã quyết định ngày ấy thành cửa.
Không có hai thứ thời gian song song, như hai dòng sông. Có một dòng, và hai cách đứng trong dòng ấy. Chronos không xấu. Chronos là điều kiện để có lịch sử, có kiên nhẫn, có lớn lên, có sa-bát, có mùa. Kairos không phải thái độ khinh giờ giấc. Kairos là chronos được nhận như cửa. Một giờ thứ mười một vẫn là một giờ, đếm được, ngắn. Nhưng nếu ông chủ gọi trong giờ ấy, giờ ngắn trở thành thời cơ. Người làm từ sáng có nhiều chronos, và chronos ấy cũng là kairos, nếu họ nhận một đồng cuối ngày như lòng tốt chứ không như công nợ. Họ đánh mất kairos không phải vì họ đến sớm. Họ đánh mất vì họ biến giờ sớm thành lý do để mắt trở nên gian ác.
Thánh vịnh 90 đứng đúng giữa hai chữ. “Ngàn năm Chúa kể là gì, tựa hôm qua đã qua đi mất rồi, khác nào một trống canh thôi.” Ngàn năm, với Chúa, co lại bằng một ngày đã qua, bằng một canh đêm. Đó là chronos của ta bị đặt trước mặt Đấng không bị chronos cầm. Rồi hình cỏ: sáng nở, chiều ủ. Tuổi thọ bảy mươi, mạnh được tám mươi, phần lớn là gian lao khốn khổ, rồi khuất. Đó là chronos của một đời người, nói không thương tiếc. Lời xin sau cùng mới là lời của kairos: “Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống, ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan.” Đếm, là chronos. Đếm để được khôn ngoan, là chronos mở thành kairos. Người khôn không phải người đếm được nhiều ngày. Người khôn là người biết những ngày ấy đang là cửa nào.
X. Khi lượng số bị lòng nhân hậu đảo
Trở lại cuối ngày làm việc. Ông chủ trả mỗi người một đồng, bất kể giờ được mướn. Khó hiểu hơn, người vào lúc năm giờ chiều lãnh trước. Thứ tự bị đảo đúng như câu Mat-thêu đã đặt trước và sau dụ ngôn: đứng chót được lên hàng đầu, đứng đầu phải xuống hàng chót.
Đảo thứ tự trả công không phải tiểu xảo văn chương. Nếu trả người sớm trước, họ lãnh một đồng rồi về, không thấy người muộn cũng lãnh một đồng, thì cơn ghen không bật ra, và mũi nhọn không cắm. Ông chủ cố ý cho họ thấy. Lòng tốt của ông phải được nhìn, không được giấu. Và khi bị nhìn, lòng tốt ấy bị kiện. “Ông coi họ ngang hàng với chúng tôi.” Câu ấy thú nhận điều dụ ngôn muốn phơi: vấn đề không phải túi tiền. Vấn đề là ngang hàng. Người làm một giờ được đặt cùng hàng với người làm cả ngày. Đẳng cấp thâm niên bị ông chủ gạt bằng một đồng như nhau.
Ông chủ không bảo người sớm rằng công của họ vô ích. Ông gọi họ là bạn. Ông nhắc thỏa thuận. Ông bảo cầm phần của mình mà đi. Phần ấy là đủ, là công bình, là điều họ đã gật đầu lúc tảng sáng khi chưa biết sẽ có người đến sau. Cơn giận của họ sinh sau, khi xuất hiện một nhóm khác. Ghen không đến từ thiếu. Ghen đến từ so. Và so là bệnh của người chỉ có chronos, không có kairos. Họ đếm giờ của mình, đếm giờ của kẻ khác, trừ đi, và thấy bất công. Họ không đếm lần ông chủ đã ra chợ. Họ không nghe câu “không ai mướn chúng tôi”. Họ không thấy một đồng của người đến sau cũng là một đồng của lòng tốt, cùng một lòng tốt đã mướn họ lúc sáng, khi họ cũng đang đứng chờ ở chợ.
Bởi vì người giờ thứ nhất cũng đã từng là người đứng ở chợ. Tảng sáng hôm ấy, nếu không ai ra mướn, họ cũng đứng không. Họ được gọi trước, không phải vì họ đáng hơn. Vì ông ra trước. Công của họ là thật. Nắng của họ là thật. Nhưng cửa vào vườn không do họ mở. Quên điều ấy là bắt đầu cằn nhằn.
Ý nghĩa thời gian, như bài học hỏi nói, đã đổi từ số lượng nhiều ít thành cơ hội cho mọi người có thể vào vườn và lãnh phần do lòng nhân hậu. Câu ấy cần được giữ, không được pha loãng thành “làm ít cũng được thưởng nhiều, nên khỏi cần làm”. Dụ ngôn không khen chuyện đứng không. Dụ ngôn khen chuyện vào khi được gọi. Người giờ thứ mười một không được khen vì đã lãng phí buổi sáng. Họ được nhận vì khi cửa còn mở, họ bước. Người giờ thứ nhất không bị phạt vì đã làm nhiều. Họ bị đặt trước câu hỏi về con mắt của mình. Cả hai bài học cùng đứng. Bỏ bài nào cũng hỏng.
Trong đời mục vụ, cả hai bệnh đều có mặt. Bệnh thứ nhất: tôi đã phục vụ lâu, tôi phải được phần hơn, ghế hơn, tiếng hơn, và tôi khó chịu khi người trở lại muộn được vui, được tin, được giao việc. Bệnh thứ hai: đã muộn rồi, vào cũng chẳng kịp, thôi đứng ngoài cho xong. Ông chủ của dụ ngôn chữa cả hai. Với người sớm, ông cho thấy lòng tốt của ông không phải của riêng họ. Với người muộn, ông còn ra chợ. “Không ai mướn chúng tôi” không phải câu kết. Câu kết là “cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho”.
XI. Giờ kinh: Giáo Hội vẫn gọi tên các giờ ấy
Một linh mục, một tu sĩ, một cộng đoàn đọc Các Giờ Kinh, không nghe các giờ này như chuyện khảo cổ. Giáo Hội đã lấy chính tên ấy mà đặt giờ cầu nguyện.
Giờ Ba, Terce, là giờ thứ ba. Khoảng chín giờ sáng. Giờ của Ngũ Tuần được nhớ lại. Nhiều cộng đoàn đọc Giờ Ba để xin Thánh Thần, vì “bây giờ mới là giờ thứ ba” không phải câu chữa mình say, mà là câu mở ngày làm việc dưới bóng Đấng đã được tuôn đổ. Giờ Sáu, Sext, giữa ngày, giờ nắng, giờ bóng tối đã bao phủ trong ngày thứ sáu Tuần Thánh. Đọc Giờ Sáu là đứng giữa công việc và nhớ trời đã có lần tắt giữa trưa vì Người. Giờ Chín, None, khoảng ba giờ chiều, giờ Người tắt thở, giờ Phê-rô lên Đền Thờ, giờ Co-nê-li-ô được thăm. Kinh Chiều đẩy ngày về phía hoàng hôn, đúng cửa ngày mới của dân cũ. Kinh Tối đóng cửa nhà. Kinh Sách giữ canh.
Không phải mọi giáo dân đều đọc đủ các giờ. Nhưng biết các giờ ấy còn được Giáo Hội gọi tên là biết dụ ngôn không chỉ nằm trong quá khứ Pa-lét-tin. Mỗi ngày, có người đang đọc Giờ Ba khi thành phố vào giờ làm. Có người đọc Giờ Chín khi xứ đã nghiêng nắng. Các giờ kinh không thêm công trạng để đòi thêm đồng. Các giờ kinh là cách ở trong chronos mà không để chronos thành chủ. Đọc đúng giờ là kỷ luật. Đọc vì ngày ấy là ngày cứu độ là kairos. Thiếu vế trước, kinh dễ thành cảm hứng bất chợt. Thiếu vế sau, kinh dễ thành bảng chấm công, và người giữ bảng chấm công rất gần người cằn nhằn cuối ngày.
Với anh em trong dòng, điều này còn sát hơn. Giờ cộng tu là giờ không được tư hữu. Tôi không chọn giờ thứ ba vì hôm ấy tôi tỉnh. Giờ ấy đến, cộng đoàn vào. Có ngày vào giờ ấy với lòng ngay. Có ngày vào với mệt, với chuyện chưa giải quyết, với cơn ghen nhỏ vì một anh em khác được giao việc mình tưởng của mình. Chính giờ ấy, Giờ Ba hay Giờ Chín, là chỗ dụ ngôn được đọc không phải bằng mắt, mà bằng cách đứng trong nhà nguyện. Ông chủ không hỏi hôm nay anh cảm thấy có ơn không. Ông hỏi anh có vào vườn không.
XII. Đọc chậm thánh vịnh 90
Bài học hỏi khép bằng thánh vịnh 90, và khép đúng. Thánh vịnh này là lời cầu của người đã đếm thời gian và thấy mình không cầm được nó.
“Ngàn năm Chúa kể là gì, tựa hôm qua đã qua đi mất rồi, khác nào một trống canh thôi.” Một trống canh, trong đêm ba canh hoặc bốn canh, là một phần tư hoặc một phần ba của đêm. Ngàn năm bằng khoảng ấy trước mặt Chúa. Không phải Chúa khinh lịch sử. Lịch sử cứu độ dài và cụ thể: tháng Ni-xan, bốn mươi năm sa mạc, giờ thứ chín trên đồi. Nhưng trường độ mà ta thấy vô tận thì với Người như một canh đã qua. Lời này hạ kiêu ngạo của những người tính sự nghiệp bằng thập niên, và cũng an ủi những người tưởng giờ thứ mười một của mình quá ngắn nên không đáng kể. Với Chúa, ngắn dài của ta không phải thước Người dùng để yêu.
“Ngài cuốn đi, chúng chỉ là giấc mộng, như cỏ đồng trổi mọc ban mai, nở hoa vươn mạnh sớm ngày, chiều về ủ rũ tàn phai chẳng còn.” Sáng và chiều trong một câu. Đúng cấu trúc một ngày Do-thái, và đúng cấu trúc dụ ngôn. Cỏ giờ thứ nhất rất đẹp. Cỏ giờ thứ mười một đã gần ủ. Cả hai đều là cỏ. Cả hai đều không tự cầm được mình đến ngày sau. Hình ảnh này không để ta khinh công việc. Để ta khỏi thờ công việc. Nắng thiêu đốt cả ngày là thật, như lời người thợ sớm. Nhưng nắng ấy không biến cỏ thành đá. Chiều vẫn đến. Ông chủ vẫn là người cầm đồng lương, không phải nắng.
“Tính tuổi thọ, trong ngoài bảy chục, mạnh giỏi chăng là được tám mươi, mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khổ, cuộc đời thấm thoát, chúng con đã khuất rồi.” Bảy mươi, tám mươi: chronos trung thực, không tô. Gian lao khốn khổ: không văn chương hóa sự mệt. Người làm vườn nho từ tảng sáng có quyền nói mình đã bị nắng thiêu. Thánh vịnh không bảo họ tưởng tượng cho đời nhẹ. Thánh vịnh bảo đừng tưởng bảy mươi năm nắng sẽ mua được một chỗ đứng trên Chúa. Rồi câu mà cả dụ ngôn có thể coi như tiếng amen: “Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống, ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan.”
Đếm tháng ngày là việc của người biết mình hữu hạn. Khôn ngoan là trái của việc đếm ấy, nếu việc đếm đưa về Chúa chứ không đưa về lo âu. Người khôn ngoan trong thánh vịnh này không phải người lập được nhiều công trước giờ thứ chín. Người khôn ngoan là người biết ngày của mình đang được Chúa đếm cách khác. Một trống canh. Một buổi chiều. Một đồng. Và đồng ấy là chính Người muốn cho.
Có thể cầu thánh vịnh này vào Giờ Chín, khi nắng đã nghiêng, khi việc trong ngày lộ ra những chỗ chưa xong. Cũng có thể cầu vào giờ thứ mười một của một đời: tuổi đã cao, sức đã giảm, tưởng không còn gì để vào vườn. Thánh vịnh không hứa thêm hai mươi năm. Thánh vịnh hứa một trái tim khôn, nếu chịu để Chúa dạy cách đếm.
XIII. Những giờ thứ mười một của Kinh Thánh
Dụ ngôn không đứng một mình. Kinh Thánh có cả một hàng người vào lúc ngày gần hết, hoặc lúc đời gần hết, và hàng ấy bảo vệ người đến muộn khỏi nỗi hổ thẹn giả.
Người trộm lành không có giờ thứ nhất. Anh có một khoảng rất ngắn trên thập giá, bên cạnh Người, khi Người đang ở trong giờ thứ chín của mình. Anh không kịp lập một bảng công. Anh kịp một câu nhận mình, một câu nhận Người, một câu xin được nhớ đến. Và anh nghe: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng” (Lc 23,43). Hôm nay. Không phải sau một mùa thử thách dài cho đủ thâm niên. Kairos của anh là một chiều thứ sáu, chồng lên kairos của thập giá. Ai giảng dụ ngôn mà quên người trộm lành sẽ vô tình đứng về phía người cằn nhằn: anh ta chỉ có một giờ, sao lại được ngang?
Người thợ giờ thứ mười một của dụ ngôn và người trộm lành không phải một. Nhưng lòng của chủ thì một. Ông không rút lại lời với người đã thỏa thuận từ sáng. Ông cũng không bắt người đến sau phải giả bộ đã có mặt từ sáng. Mỗi người được nhận trong giờ của mình, bằng lòng tốt của cùng một chủ.
Gia-kêu cũng không phải người của giờ thứ nhất. Ông trưởng thu thuế, giàu, thấp, trèo sung. Đức Giê-su đi qua thành ấy một lần, và nói: “Hôm nay tôi phải ở lại nhà ông” (Lc 19,5). Hôm nay, lại hôm nay. Chronos của một buổi chiều Giê-ri-khô thành ngày cứu độ của một nhà. Dân chúng xầm xì vì Người vào nhà người tội lỗi. Xầm xì ấy cùng họ với cằn nhằn của người làm từ sáng. Lòng tốt bị kiện, ở vườn nho cũng như ở dưới gốc sung.
Người con trai cả trong dụ ngôn người cha nhân hậu đứng ngoài, không chịu vào, vì em được bê béo (Lc 15,25-32). Anh đã ở với cha từ giờ thứ nhất của đời mình, chưa hề trái lệnh, và chính vì thế anh không chịu nổi tiệc của đứa em giờ thứ mười một. Cha ra ngoài năn nỉ. Câu của cha gần câu của ông chủ vườn: “Tất cả những gì của cha đều là của con.” Anh không bị lấy mất phần. Anh bị mời đổi con mắt. Dụ ngôn người cha không kể anh đã vào chưa. Dụ ngôn vườn nho cũng không kể người thợ sớm đã hết ghen chưa. Cả hai đều để cửa mở về phía người nghe. Người nghe phải tự trả lời, bằng cách mình nhìn người đến sau.
Ngược lại, Kinh Thánh cũng có những người đứng ở giờ thứ nhất mà hỏng, không phải vì đến sớm, mà vì không ở lại. Giu-đa ở trong nhóm từ đầu. Giờ của anh không thiếu. Kairos của anh bị bán. Người thanh niên giàu có ngay trước dụ ngôn cũng đang đứng ở một giờ rất tốt, giờ được chính Đức Giê-su mời. Anh bỏ đi. Có giờ đẹp mà không vào, và có giờ muộn mà vào. Dụ ngôn không thần thánh hóa sự muộn. Dụ ngôn thần thánh hóa lời gọi, và sự đáp lại khi lời gọi còn vang.
XIV. Áp dụng cho cộng đoàn, cho gia đình, cho người mệt
Nếu đem dụ ngôn vào một giáo xứ, sẽ thấy đủ năm lần ông chủ ra chợ.
Có những cụ đã đi lễ từ khi nhà thờ còn mái tranh, thuộc kinh, thuộc lễ, nắng nhiều. Họ là người giờ thứ nhất, và Giáo Hội đứng được một phần vì họ. Điều họ cần nghe không phải là công của họ vô ích. Điều họ cần nghe là một đồng của họ rất thật, và một đồng của người mới trở lại cũng rất thật, cùng một lòng tốt. Giáo xứ bệnh khi người thâm niên biến nhà thờ thành chỗ giữ chỗ. Giáo xứ mạnh khi người thâm niên còn vui vì ông chủ vẫn ra chợ.
Có những người đến lúc đã lập gia đình, nhờ vợ, nhờ chồng, nhờ một đám tang. Giờ thứ ba, giờ thứ sáu. Họ hay mặc cảm giáo lý kém, hát kém, không thuộc câu đáp. Ông chủ không hỏi họ thuộc. Ông đã thỏa thuận trả hợp lẽ công bằng, rồi sau đó còn trả hơn cả điều họ dám chờ. Việc của cộng đoàn là đừng bắt họ phải giả làm người giờ thứ nhất mới được ngồi. Việc của họ là vào vườn thật, đừng đứng mãi ở cửa vì xấu hổ.
Có những người chỉ kịp giờ thứ mười một. Bệnh nặng. Tuổi cao. Một đời ở xa Giáo Hội, nay xin xưng tội. Đây là chỗ dụ ngôn phải được giảng rõ, kẻo người ta giảng một thứ công bình khiến hối nhân hết dám vào. Giáo Hội có bí tích Hòa giải chính vì ông chủ còn ra chợ lúc năm giờ. Không phải để khuyến khích đứng không suốt ngày. Để khi có người nói “không ai mướn tôi”, hoặc nói thật hơn “tôi đã trốn những lần được mướn”, vẫn còn câu “cả anh nữa, hãy vào”. Linh mục ngồi tòa giải tội lúc chiều là người quản lý được sai gọi thợ lại mà trả công, bắt đầu từ những người vào sau. Đừng đảo thứ tự ấy bằng thái độ của người làm từ sáng.
Với gia đình, dụ ngôn chữa một thói so đo rất gần. Con cả chịu khó, con út được cha mẹ dễ hơn, và con cả cằn nhằn. Có khi con cả đúng về chronos: nó thật sự đã làm nhiều hơn. Cha mẹ khôn không phải cha mẹ chối điều ấy. Cha mẹ khôn là cha mẹ không để công của con cả thành lý do để mắt nó gian ác với em. Và cũng không để sự dễ dãi với con út thành chuyện không bao giờ gọi nó vào vườn. Cả hai đứa đều phải được gọi làm, mỗi đứa vào giờ của nó. Nhân hậu không phải là bỏ vườn không ai làm.
Với người trẻ đang ở giờ thứ ba của đời, dụ ngôn không phải giấy phép trì hoãn. Ông chủ ra từ tảng sáng. Ai nghe lúc sáng mà cứ đứng, thì đang khinh lần gọi ấy. Giờ thứ mười một là lòng thương cho kẻ chưa được gọi, hoặc đã lỡ, không phải kế hoạch của kẻ cố tình chờ cho đỡ nắng. Phao-lô không nói “còn nhiều ngày cứu độ sau”. Ông nói đây là thời, đây là ngày. Kẻ nào biến kairos thành cái sẽ tính sau, đã đổi kairos lại thành chronos rỗng.
Với người mệt giữa giờ thứ sáu, giữa trưa của một ơn gọi, của một hôn nhân, của một trách nhiệm, bóng tối của ngày Thương Khó là bạn đồng hành chứ không phải đe dọa. Có những giờ thứ sáu trời tắt giữa ban ngày: bệnh, mất người, công việc đổ, cộng đoàn lạnh. Không phải mọi bóng tối đều là giờ thứ sáu của Gôn-gô-tha. Nhưng không bóng tối nào của môn đệ nằm ngoài khả năng được Người đứng chung. Ở lại đến giờ thứ chín, trong dụ ngôn, vẫn là ở lại trong vườn. Đừng bỏ vườn giữa trưa rồi gọi đó là nghỉ sa-bát. Sa-bát là nghỉ trước mặt Chúa. Bỏ cuộc là đứng không, mà lần này là tự mình đứng không.
XV. Lòng tốt bị kiện, và cách đứng cho khỏi kiện
Câu sắc nhất của đoạn Tin Mừng không phải câu về đồng lương. Câu sắc nhất là câu về con mắt: hay vì thấy tôi tốt bụng mà bạn đâm ra ghen tức? Dụ ngôn kết bằng một cuộc chẩn bệnh. Bệnh không ở chân, dù chân đã đứng cả ngày. Bệnh ở mắt. Mắt nhìn người anh em lãnh một đồng, rồi đọc sự lãnh ấy như một mất mát của mình.
Muốn đứng cho khỏi kiện ông chủ, có vài cách rất cụ thể.
Cách thứ nhất: nhớ mình cũng đã từng đứng ở chợ. Không ai tự mở được cửa vườn nho. Rửa tội lúc sơ sinh là được mướn lúc tảng sáng, không phải bằng công của em bé. Ơn gọi linh mục, ơn gọi tu sĩ, hôn nhân bí tích, một lần trở lại, đều là lần được gọi. Kể công mà quên lần được gọi là bắt đầu lệch.
Cách thứ hai: đừng giám sát đồng của người khác. Ông chủ sai quản lý trả công. Người thợ không được giao việc ấy. Nhiều mệt mỏi cộng đoàn bắt đầu từ chỗ tôi biết người kia được bao nhiêu: được khen, được đi, được tin, được nghỉ. Biết để mừng thì mắt còn lành. Biết để trừ thì mắt đã gian.
Cách thứ ba: làm thật việc của giờ mình. Người giờ thứ nhất tôn trọng thỏa thuận bằng cách ở lại đến chiều, không bỏ giữa giờ thứ sáu. Người giờ thứ mười một tôn trọng lời gọi bằng cách vào ngay, không đứng thêm một giờ nữa cho đủ mặc cảm. Cả hai đều làm. Dụ ngôn không có nhóm thứ ba được trả công vì đã đứng nhìn.
Cách thứ tư: tập vui vì ông chủ còn ra chợ. Một người trở lại, một đứa bé được rửa tội, một cụ xin xưng tội sau bốn mươi năm, là tin ông chủ chưa về. Giáo xứ nào hết vui trước những lần trở lại ấy là giáo xứ đã bắt đầu cằn nhằn, dù giờ kinh vẫn đều.
Cách thứ năm: để giờ kinh, giờ lễ, ngày sa-bát của mình chữa bệnh đếm. Mỗi lần dừng việc vì Chúa, ta tập lại cái biết rằng thời gian không phải của ta. Giờ Ba giữa buổi sáng bận là một sa-bát nhỏ. Không có những sa-bát nhỏ, cả ngày sẽ thành một vụ kiện.
XVI. Thời gian là hồng ân, và hồng ân muốn thành cửa
Bài học hỏi kết bằng một câu có thể lấy làm kết của cả luận này. Thời gian là hồng ân Thiên Chúa ban, và Người muốn thời gian ấy thành những cơ may được cứu độ. Phao-lô đã viết câu ấy bằng chữ của một người biết chronos của mình không còn dài: đây là thời Thiên Chúa thi ân, đây là ngày Thiên Chúa cứu độ.
Hồng ân mà chỉ được tích trữ sẽ ôi. Hồng ân giờ là hồng ân phải được bước vào. Tháng Ni-xan là hồng ân vì trong tháng ấy có một đêm được đưa ra khỏi Ai-cập, không phải vì tháng ấy đứng số một trên lịch. Ngày sa-bát là hồng ân vì được trả về cho Chúa, không phải vì được nghỉ cho khỏe để mai làm nhiều hơn. Giờ thứ chín là hồng ân, dù là giờ tắt thở, vì trong giờ ấy Con Một đã phó thác. Giờ thứ ba của Ngũ Tuần là hồng ân vì Thần Khí đã có thể làm cho người Ga-li-lê nói được tiếng của người khác. Giờ thứ mười một là hồng ân vì vẫn còn là giờ.
Với mỗi người đang nghe, câu hỏi không còn là câu khảo cổ: người Do-thái đếm giờ thế nào? Câu hỏi là: tôi đang đứng ở giờ nào, và tôi đang đếm giờ ấy bằng chronos hay bằng kairos? Nếu là giờ thứ nhất, tôi có ở lại không, và mắt tôi có còn lành khi thấy người khác cũng được một đồng? Nếu là giờ thứ sáu, tôi có bỏ vườn giữa nắng không? Nếu là giờ thứ mười một, tôi có còn tin ông chủ chưa đóng cổng? Nếu là đêm, tôi đang ở canh nào, và đèn còn cháy không?
Sao Hôm có thể đã gần hiện. Ngày cũ gần sang. Phụng vụ vẫn mở ngày mới từ phía chiều. Ông chủ vẫn có thói ra chợ vào giờ người khác tưởng hết việc. Một đồng vẫn là một đồng. Và một đồng ấy, đọc đến cùng trong ánh sáng giờ thứ ba, giờ thứ sáu, giờ thứ chín của ngày thứ sáu, chính là Người đã trao, không phải Người đã thiếu.
Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống, ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan. Xin đừng để con mắt chúng con trở nên gian ác vì thấy Chúa tốt bụng. Xin cho ai đang đứng ngoài chợ, dù đã suốt ngày, còn nghe được câu: cả anh nữa, cả chị nữa, hãy đi vào vườn nho.
Amen.
Lm. Anmai, CSsR ## XVII. Đọc sát từng câu của Mt 20,1-16
Một luận về giờ sẽ vẫn còn ở ngoài vườn nếu không chịu đi theo từng câu. Mat-thêu mở: “Nước Trời giống như chuyện gia chủ kia, vừa tảng sáng đã ra mướn thợ vào làm trong vườn nho của mình.” Nước Trời không giống một bảng lương. Nước Trời giống một chuyện. Chuyện có giờ, có chợ, có nắng, có cằn nhằn, có một câu hỏi cuối không ai trả lời hộ. Gia chủ, không phải quản lý, là người ra mướn. Việc gọi không được ủy thác hết. Chính ông đi. Năm lần. Chi tiết này chống lại hình ảnh một Thiên Chúa chỉ ra lệnh từ xa rồi khoán cho người khác đếm công. Ông chủ của Nước Trời là người ra chợ.
“Vừa tảng sáng.” Tiếng Hy-lạp mang ý sớm, vừa hừng đông, cùng vùng nghĩa với giờ đầu tiên của ngày lao động. Ở xứ ấy, thợ đứng chờ từ khi còn mát. Ai có vườn cần người sẽ ra sớm để chọn. Ông này ra sớm, nhưng không chỉ ra sớm. Sự lạ không phải lần thứ nhất. Sự lạ là còn lần thứ năm.
“Sau khi đã thỏa thuận với thợ là một quan tiền một ngày, ông sai họ vào vườn nho của ông.” Thỏa thuận được ghi trước, để cuối ngày không ai nói ông nuốt lời. Một quan, một đơ-na-ri-on, là mức người ta chờ cho một ngày công. Ông không hứa núi. Ông hứa đủ. Mọi điều ông sẽ làm thêm cho người đến sau không rút lại điều đã hứa cho người đến trước. Nhân hậu đứng trên công bình, không đứng thay công bình. Đây là điểm phải giữ khi giảng, kẻo người nghe tưởng Thiên Chúa bất công với kẻ trung tín lâu năm. Không. Phần của họ còn đó. Cầm lấy mà đi. Câu ấy không phải câu đuổi. Câu ấy là câu trả đủ.
“Khoảng giờ thứ ba, ông lại ra, thấy những người khác đứng không ngoài chợ.” Chữ đứng không, argos, là đứng vô công, chưa được việc, không phải đang nghỉ có lương. Chợ là nơi công khai. Ơn gọi trong dụ ngôn không xảy ra trong phòng kín. Xảy ra giữa chỗ mọi người thấy ai đang chờ. Mục vụ cũng thế. Nhiều người đứng ở chợ của giáo xứ: sân nhà thờ, đám tang, lớp giáo lý của con, một lần vào vì xã giao. Họ đứng không, theo nghĩa chưa được ai gọi đích danh. Thấy họ mà không gọi là để họ thành cớ cho câu “không ai mướn chúng tôi”.
“Cả các anh nữa, hãy đi vào vườn nho, tôi sẽ trả cho các anh hợp lẽ công bằng.” Lần này không nói sẵn một quan. Nói hợp lẽ công bằng. Họ vẫn đi. Họ tin miệng ông chủ hơn là tin một con số. Đến cuối, hợp lẽ công bằng của ông hóa ra là một quan, tức ngang người đã thỏa thuận cả ngày. Công bình của ông rộng hơn công bình của sổ. Nhưng ông không lừa. Ông đã báo sẽ trả công bằng. Họ không bị ép ký một hợp đồng mơ hồ để rồi bị thiếu.
“Khoảng giờ thứ sáu và giờ thứ chín, ông lại ra và cũng làm y như vậy.” Mat-thêu nhập hai lần ra thành một câu. Giữa trưa và xế chiều, cùng một cử chỉ. Không giảm lời gọi vì ngày đã qua đỉnh. Ông không nói “muộn rồi, chỉ nhận người nào thật giỏi”. Ông làm y như vậy. Sự đều đặn này là nét của lòng thương xót. Lòng thương xót không phải cơn hứng buổi sáng. Lòng thương xót còn ra đường lúc nắng đứng bóng.
“Khoảng giờ thứ mười một, ông lại ra và thấy còn có những người khác đứng đó.” Lại ra. Chữ lại đáng gạch. Bốn lần trước chưa làm ông thôi. Thấy còn có người đứng đó. Con mắt ông vẫn tìm người chưa có việc, không tìm người đã có thành tích. Câu hỏi của ông có thể nghe như trách: “Sao các anh đứng đây suốt ngày không làm gì hết?” Trong mạch cả ngày ông đi tìm, câu ấy là câu đau với họ, không phải câu kết án. Suốt ngày. Ông biết họ đã đứng từ sáng. Ông không giả bộ mới thấy.
“Họ đáp: Vì không ai mướn chúng tôi.” Một câu không biện hộ, không khoe, không kiện xã hội dài dòng. Chỉ kể sự thật của buổi đứng. Giảng viên phải giữ câu này khỏi hai cực. Cực thứ nhất: biến họ thành nạn nhân hoàn toàn, như thể không ai phải đáp lại lần gọi nào. Cực thứ hai: biến câu này thành lời nói dối của kẻ lười, như thể ông chủ sẽ không thèm nghe. Trong dụ ngôn, ông nghe, và ông mướn. Với mục vụ, có những lời “không ai mướn tôi” là thật: gia đình không ai đưa đến nhà thờ, xứ không có lớp, tuổi trẻ không được một linh mục nào nhìn. Cũng có những lời ấy là lớp che của kẻ đã được gọi nhiều lần. Tòa trong và tòa ngoài phân biệt được, nếu có kiên nhẫn. Dụ ngôn không giao ta việc điều tra. Dụ ngôn giao ta việc gọi.
“Chiều đến, ông chủ vườn nho bảo người quản lý: Anh gọi thợ lại mà trả công cho họ, bắt đầu từ những người vào làm sau chót tới những người vào làm trước nhất.” Quản lý xuất hiện lúc trả, không lúc gọi. Gọi là việc của chủ. Trả theo thứ tự chủ định cũng là việc chủ ra lệnh. Giáo Hội, trong vai quản lý, không được tự ý đảo lại cho người thâm niên lãnh trước để khỏi mất lòng. Thứ tự của chủ là người sau được thấy mình được nhận, và người trước được thấy lòng tốt. Đảo thứ tự ấy vì sợ phản ứng là cắt mất bài học.
“Những người mới vào làm lúc giờ thứ mười một tiến lại, và lãnh được mỗi người một quan tiền.” Một câu trần thuật, không kèn. Họ không xin một quan. Họ được đặt vào tay một quan. Ơn không do lượng của lời xin. Ơn do lượng của người trao.
“Đến phiên những người vào làm trước nhất, họ tưởng sẽ được lãnh nhiều hơn.” Tưởng. Bệnh bắt đầu ở tưởng, trước khi ra miệng. Họ lấy đồng của người đến sau làm đơn vị đo, rồi nhân với số giờ của mình. Toán ấy đúng nếu ông chủ là quán công. Toán ấy sai vì ông chủ đã thỏa thuận với họ từ sáng, và đã giữ đúng. Sự tưởng làm hỏng sự thật đã ký.
“Họ vừa lãnh vừa cằn nhằn ông chủ: Những người sau chót này chỉ làm có một giờ, thế mà ông lại coi họ ngang hàng với chúng tôi, những người đã làm việc nặng nhọc cả ngày, lại còn bị nắng nôi thiêu đốt.” Họ nói thật về mình. Nặng nhọc thật. Nắng thật. Một giờ của kẻ kia cũng thật. Chỗ sai không phải chỗ mô tả. Chỗ sai là chữ ngang hàng được đọc như một sỉ nhục. Trong Nước Trời, ngang hàng trước lòng tốt của chủ không phải sỉ nhục. Đó là tin mừng. Họ đã biến tin mừng thành đơn kiện.
“Ông trả lời cho một người trong bọn ấy: Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn.” Bạn. Ông không gọi là kẻ vô ơn, không gọi là mắt gian, ở câu đầu. Ông gọi bạn. Rồi mới chỉ ra bất công không ở phía ông. “Bạn đã chẳng thỏa thuận với tôi là một quan tiền sao? Cầm phần của bạn mà đi. Tôi muốn cho người vào làm sau chót này cũng được bằng bạn đó.” Muốn. Động từ của tự do. Lòng tốt là muốn, không phải sơ suất kế toán. “Chẳng lẽ tôi lại không được phép tùy ý định đoạt về những gì là của tôi sao?” Đồng là của ông. Vườn là của ông. Giờ cũng là của ông, vì chính ông đã chia ngày thành những lần ra chợ. “Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ra ghen tức?” Câu hỏi không có câu trả lời trong đoạn. Người nghe phải trả lời bằng đời mình.
Câu 16 đóng khung: “Thế là những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót.” Không phải xuống hàng chót vì bị lấy mất đồng. Xuống hàng chót vì cách đứng. Ai cầm một đồng mà mắt còn lành thì vẫn ở hàng của bạn hữu ông chủ. Ai cầm một đồng mà kiện lòng tốt thì tự đứng xuống, dù đã vào từ tảng sáng.
XVIII. Đồng bạc, nắng, và những thứ không mua được chỗ
Đơ-na-ri-on là lương một ngày của người lính, của người thợ, mức người ta nhắc khi muốn nói đến một khoản vừa đủ, không phải khoản để khoe. Dụ ngôn cố ý chọn mức ấy. Nếu ông chủ trả mười đồng, câu chuyện sẽ thành chuyện giàu có bất thường, và người nghe bàn về số. Một đồng buộc người nghe bàn về sự bằng nhau. Mọi thợ đều có cái đủ để sống ngày ấy. Không ai bị ông chủ để đói. Người làm một giờ không bị trả một phần mười hai đồng, mức toán học của chronos. Người làm mười hai giờ không bị trả dưới mức đã hứa. Đủ cho người sớm. Đủ cho người muộn. Sự đủ ấy làm bật cơn ghen, vì cơn ghen không chịu nổi sự đủ của người khác.
Nắng nôi thiêu đốt là luận cứ mạnh nhất của người cằn nhằn, và phải được tôn trọng. Ga-li-lê giữa trưa không phải khí hậu để ví von cho sang. Người đội nắng từ giờ thứ ba đến giờ thứ chín là người thật sự mệt. Đức Giê-su không để ông chủ bảo “các anh có cực gì đâu”. Ông chủ không tranh về nắng. Ông chủ chuyển mặt trận: nắng không phải đơn vị tiền tệ của Nước Trời. Nắng được nhận, được biết, không được đổi thành đặc quyền. Đây là chỗ nhiều người phục vụ lâu năm cần được nghe với lòng kính trọng. Công của họ không bị phủ nhận. Công của họ không được phép thành ngai.
Trong linh đạo, có những thứ trông giống nắng: năm khấn, năm chức, số giờ tòa giải tội, số bài giảng, số cây số đi mục vụ. Các thứ ấy là thật, như nắng là thật. Không thứ nào mua được quyền coi người đến sau là kẻ ngang hàng một cách bất công. Đồng của Nước Trời là chính sự được ở trong vườn, được gọi là bạn, được lãnh từ tay ông chủ. Ai đã có đồng ấy mà còn đòi đồng khác để hơn anh em, đã bắt đầu đổi Nước Trời thành chợ.
XIX. Mười hai tháng, để khỏi đọc dụ ngôn như một ngày treo
Dụ ngôn chỉ diễn ra trong một ngày, nhưng ngày ấy thuộc về một năm có tháng. Biết tên tháng không phải để thuộc cho có. Để thấy thời gian Kinh Thánh luôn được gọi tên bằng biến cố, bằng mùa, bằng lễ, chứ không bằng số trống.
Tháng Ni-xan, tháng A-víp, tháng của lúa ngậm sữa và của Vượt Qua, tháng đứng đầu lịch đạo. Mọi giờ trong dụ ngôn, nếu muốn đọc theo năm phụng vụ Ki-tô giáo, cuối cùng đều bị kéo về tuần này: tuần lúa chín của lịch cũ, tuần Thập giá và Phục Sinh của lịch mới. Giờ thứ chín của một ngày thường và giờ thứ chín của ngày thứ sáu Tuần Thánh không cùng nặng. Nhưng giờ thường được đọc nhờ giờ ấy.
Tháng I-gia, tháng thứ hai, khoảng tháng tư, tháng năm. Sách các Vua nhắc tháng xây Đền Thờ. Có những giờ thứ ba của một đời là giờ đặt móng, không phải giờ khánh thành.
Tháng Xi-van, tháng thứ ba, lễ Ngũ Tuần của lịch cũ rơi vào tháng này, bảy tuần sau Vượt Qua. Giờ thứ ba của Công vụ chương 2 đứng trong tháng này. Dụ ngôn về thợ và biến cố về Thần Khí không cùng một trang, nhưng cùng một dân. Người được mướn vào vườn, đến Ngũ Tuần, mới hiểu sức làm việc trong vườn không phải sức riêng.
Tháng Tam-mút, tháng thứ tư, vào mùa nóng. Tháng Áp, tháng thứ năm, vẫn nóng, tháng mà sau này truyền thống nhớ đền thờ bị phá. Nắng thiêu đốt trong miệng người thợ không phải hình ảnh xa. Có những tháng cả dân phải làm dưới nắng của mất mát.
Tháng Ê-lun, tháng thứ sáu, tháng cuối của lịch dân sự, tháng Nơ-khe-mi-a hoàn tất tường. Việc lớn có thể xong vào tháng cuối. Đừng giảng rằng việc của Thiên Chúa chỉ đáng kể nếu bắt đầu từ tháng đầu.
Tháng Tít-ri, Ê-tha-nim, tháng thứ bảy, đầu năm dân sự, tiếng reo hò, rồi lễ Xá tội, rồi lễ Lều. Một tháng dày lễ. Dân vừa reo, vừa ăn chay, vừa nhớ bốn mươi năm ở lều. Ai chỉ muốn ngày nào cũng là ngày lãnh đồng, không muốn ngày nào là ngày xá tội, chưa đọc hết lịch của dân này. Người thợ cằn nhằn cần một ngày xá tội cho con mắt của mình hơn là cần thêm lương.
Tháng Mác-khét-van, tháng thứ tám. Tháng Kít-lếp, tháng thứ chín, có lễ Cung hiến sau này. Tháng Tê-vết, tháng thứ mười. Tháng Sơ-vát, tháng mười một, mùa mưa, mùa cây bắt đầu nhựa. Tháng A-đa, tháng mười hai, và khi nhuận thì có A-đa thứ hai, tháng của lễ Pu-rim, chuyện dân được cứu vào phút tưởng đã hết cửa. Lễ ấy không nằm trong dụ ngôn, nhưng cùng một hướng: cửa không đóng vào giờ người ta tưởng đã chót. Tháng nhuận, tháng được thêm, còn là hình của giờ được thêm. Năm ngắn hơn vòng mặt trời thì được bù một tháng. Đời ngắn hơn lòng thương xót thì được bù một lần gọi. Không phải lịch nào cũng nói thần học. Nhưng lịch này, vì là lịch của giao ước, nói được.
XX. Từ ba canh đến lệnh thức
Đêm ba canh của thời Thủ lãnh và đêm bốn canh của thời Tân Ước không mâu thuẫn nếu ta hiểu dân này sống trong lịch sử, không trong một sơ đồ đóng. Họ học cách đếm của đế quốc mình đang ở trong, rồi dùng cách đếm ấy để nói về chủ nhà sẽ đến. Đức Giê-su không cần phục hồi cho bằng được đêm ba canh mới nói được về tỉnh thức. Người dùng đêm bốn canh của thính giả. Tin Mừng nhập thể cả trong đơn vị đo.
“Lúc chập tối hay nửa đêm, lúc gà gáy hay tảng sáng” là một hàng rào chống thói đoán giờ. Môn đệ đời nào cũng muốn biết canh nào, để còn ngủ các canh kia. Mác-cô khóa cửa ấy. Bốn khả năng, tức là không khả năng nào được loại. Áp vào dụ ngôn ban ngày: năm lần ra chợ, tức là không lần nào được coi là lần thừa. Người chỉ chuẩn bị lòng cho giờ thứ nhất sẽ ngủ lúc giờ thứ mười một, đúng lúc ông chủ còn đi tìm. Người chỉ cảm động với giờ thứ mười một, coi đó là giờ đẹp của lòng thương xót, rồi khinh giờ thứ nhất là giờ của luật, cũng ngủ mất một phía. Cả ngày và cả đêm đều là của chủ.
Gà gáy, trong cuộc Thương Khó, còn là canh của Phê-rô. Canh ấy không phải canh ông chủ đến trong vinh quang. Canh ấy là canh một môn đệ ngã. Dụ ngôn vườn nho và sân của thượng tế không xa nhau. Người đã được gọi từ giờ thứ nhất, đã bỏ thuyền, đã theo, vẫn có thể chối vào canh gà gáy. Và người đã chối vẫn có thể được nhìn, rồi được gọi lại bên bờ hồ, trong một buổi sáng khác. Giờ thứ nhất không miễn cho ai khỏi canh gà gáy. Canh gà gáy không khóa ai khỏi một buổi sáng được hỏi “con có yêu mến Thầy không?”
XXI. Giờ thứ mười của Gio-an, người ở lại một buổi chiều
Ga 1,39 dễ bị đọc lướt vì nằm trước các bài kêu gọi lớn. Hai môn đệ hỏi Thầy ở đâu. Được trả lời bằng một động từ đi: đến mà xem. Họ ở lại ngày hôm ấy. Giờ thứ mười. Bản văn còn giữ một chi tiết có người cho là dấu của người kể chuyện đã ở đó: ông nhớ khoảng giờ. Ai chỉ nghe kể thì nhớ biến cố. Ai đã ở lại thì nhớ lúc ấy là khoảng giờ nào, vì giờ ấy đã thành cửa đời mình.
Một buổi chiều ở lại. Không phải một khóa học. Không phải một mùa tập. Ở lại. Động từ ấy sẽ trở thành động từ lớn của Gio-an: ở lại trong Thầy, ở lại trong lời, ở lại trong tình yêu. Ơn gọi Gio-an bắt đầu bằng ở lại một buổi xế, rồi cả Tin Mừng thứ tư sẽ giảng cho người ta biết ở lại là gì. Giờ thứ mười một của dụ ngôn và giờ thứ mười của Gio-an cùng dạy một điều: thời gian ngắn vẫn đủ để ở. Không đủ để khoe. Đủ để ở.
Với mục vụ thiếu nhi và dự tòng, đây là tin quan trọng. Một buổi chiều giáo lý, một buổi ở lại sau lễ, một lần được đưa đến xem chỗ cộng đoàn cầu nguyện, có thể là giờ thứ mười của một đời. Đừng đo buổi ấy bằng lượng kiến thức đã nhét. Hãy đo bằng người ấy có được mời ở lại không. An-rê ở lại, rồi đi tìm Simon. Giờ ngắn sinh ra người đi gọi người khác. Đó cũng là một cách trả đồng: không giữ cho riêng buổi chiều của mình.
XXII. Ngày Thương Khó như chiếc đồng hồ của lòng nhân hậu
Muốn khỏi giảng dụ ngôn thành chuyện ông chủ dễ tính, phải đặt chiếc đồng hồ của ngày thứ sáu lên trên chiếc đồng hồ của vườn nho.
Đêm trước, trong các canh, Người đã ở vườn khác: vườn Ghết-sê-ma-ni. Các môn đệ ngủ, không phải ngủ canh hai canh ba của đầy tớ tỉnh thức. Người ở lại một mình với giờ đã đến. Sang sáng, các phiên chất vấn. Giờ thứ ba, theo Mác-cô, thập giá dựng. Từ giờ ấy đến giờ thứ sáu, Người treo giữa dân, giữa lính, giữa bảng viết, giữa hai người cùng bị đóng đinh. Giờ thứ sáu, bóng tối. Không phải mây mùa. Bản văn nói bóng tối bao phủ khắp mặt đất mãi đến giờ thứ chín. Ba giờ. Đúng khoảng một phần tư ngày sáng, nếu ngày có mười hai giờ. Một phần tư ngày bị rút khỏi mặt trời. Giờ thứ chín, tiếng kêu bằng lời thánh vịnh, rồi tắt thở.
Ông chủ vườn nho nói “tôi tốt bụng”. Ngày Thương Khó cho biết tốt bụng ấy đi đến đâu. Đi đến giờ thứ chín. Đi đến câu sao Ngài bỏ rơi con, câu vẫn là câu cầu nguyện, vì vẫn nói với Ngài. Đồng một quan trao cho thợ không rơi từ túi dư. Đồng ấy có giá của một ngày bị tối giữa trưa. Giảng được điều này thì người nghe bớt coi dụ ngôn là chuyện bất công dễ thương. Nhân hậu có giá. Giá không do người thợ trả. Giá đã được trả trước, để mọi giờ, từ tảng sáng đến giờ thứ mười một, đều có thể là giờ vào.
Giờ thứ chín còn có một hệ quả phụng vụ. Nhiều nơi đọc Cuộc Thương Khó, cầu nguyện, đi đàng thánh giá vào đúng vùng giờ ấy của ngày thứ sáu Tuần Thánh. Giáo Hội cố ý đứng vào chronos của biến cố, không phải vì đồng hồ cứu được ai, mà vì thân thể cần được đặt lại vào giờ của Người. Đó là cách chronos phục vụ kairos. Ta đến đúng giờ, để giờ ấy nhớ mình là giờ của ai.
XXIII. Ngũ Tuần: giờ thứ ba của một dân mới
Công vụ 2,15 là câu chống hiểu lầm, nhưng không chỉ là câu chống hiểu lầm. Phê-rô dùng giờ để cắt nghĩa biến cố. Say rượu không xảy ra vào giờ thứ ba. Vậy điều anh em đang nghe phải có nguồn khác. Nguồn ấy là lời Gio-en: những ngày sau hết, Thần Khí được đổ. Giờ thứ ba thành bằng chứng của kairos. Đồng hồ được đưa ra để chỉ một thời buổi.
Ba ngàn người được thêm vào ngày ấy. Họ không phải thợ từ tảng sáng của biến cố Phục Sinh. Họ là dân đang ở Giê-ru-sa-lem, có người từ xa đến dự lễ, được gọi giữa một buổi sáng. Giờ thứ ba của Giáo Hội là giờ đông người vào vườn cùng một lúc. Dụ ngôn có từng tốp nhỏ. Công vụ có một tốp rất lớn. Cùng một ông chủ. Không phải cứ muộn là ít. Có những giờ thứ ba đông hơn cả giờ thứ nhất, nếu giờ ấy là giờ Thần Khí.
Với một xứ, điều này cất nỗi sợ rằng người đến sau sẽ làm loãng người đến trước. Ba ngàn người không làm loãng nhóm Mười Một. Họ làm cho lời nhóm Mười Một có chỗ ở. Người mới được rửa tội ngày Ngũ Tuần không bị các tông đồ kiện vì lãnh cùng một Thần Khí. Nếu có cơn kiện nào, cơn ấy đến từ phía ngoài, phía những người chế là say. Bên trong, cửa mở. Dụ ngôn muốn cộng đoàn giống bên trong ấy.
XXIV. Chronos của sa mạc, kairos của một ngày
Bốn mươi năm trong sa mạc, Công vụ 13 nhắc lại, là chronos dài nhất mà dân nhớ về thời được dưỡng nuôi. Dài, nhưng không phải dài để khoe. Dài vì cứng lòng, và dù cứng lòng vẫn được nuôi. Bên cạnh chronos ấy, có những kairos mỏng: một buổi sáng ma-na, một lần đá văng nước, một lần rắn đồng, một lần núi Xi-nai. Dài và mỏng cùng thuộc về một Thiên Chúa. Người thợ cả ngày và người thợ một giờ cũng vậy. Không bên nào bị bản văn xóa.
Áp-ra-ham chờ một năm trong lời hứa “độ này sang năm”. Một năm ấy là chronos của đức tin, không phải chronos của người đã cầm con trong tay. Có những giáo dân đang ở trong năm ấy: đã được hứa, chưa thấy. Giảng dụ ngôn cho họ không phải để bảo cứ chờ đến giờ thứ mười một rồi sẽ có thưởng. Là để bảo năm đang chờ cũng là năm đang ở trong vườn, nếu họ đã bước vào lời hứa. Không phải mọi sự chưa thấy đều là đứng không ngoài chợ. Có cái chưa thấy mà đã là làm việc: trung tín, cầu nguyện, ở lại.
Đức Giê-su nói với người Do-thái Người còn ở lại ít thời gian nữa. Ít thời gian, chronos ngắn của sứ vụ công khai, lại là kairos dày nhất của lịch sử. Ngắn không đồng nghĩa với mỏng. Giờ thứ mười một cũng vậy. Một giờ có thể dày hơn cả buổi sáng, nếu trong giờ ấy có lời gọi và có bước vào. Ta đừng cân giờ bằng chiều dài. Hãy cân bằng có nghe không.
XXV. Linh đạo lòng thương xót và người đứng ngoài chợ
Dòng Chúa Cứu Thế không được giảng dụ ngôn này như một chuyện xa. Lời khấn, việc truyền giáo, tòa giải tội, các miền bị bỏ quên, đều là những lần được sai ra chợ, không phải để chọn thợ đẹp nhất. Để tìm người đang đứng không. “Không ai mướn chúng tôi” là câu của nhiều miền, nhiều gia đình, nhiều người trẻ, nhiều người già. Có khi thật sự không ai đến. Có khi đã có người đến, nhưng đến như người kiểm tra, không đến như ông chủ mời vào vườn.
Lòng thương xót vô biên, nếu không rơi vào giờ cụ thể, sẽ thành khẩu hiệu. Giờ cụ thể là giờ thứ ba của một lớp giáo lý, giờ thứ sáu của một bệnh viện, giờ thứ chín của một nhà có tang, giờ thứ mười một của một người chỉ còn vài tuần. Nhân hậu có địa chỉ. Địa chỉ ấy là chợ, là chỗ công khai người ta chờ được cần đến. Cộng đoàn nào chỉ họp với người đã ở trong vườn từ sáng, chưa ra chợ. Các giờ kinh vẫn đều mà cửa vẫn khép.
Người bị nắng thiêu cả ngày cũng cần lòng thương xót, không chỉ người đến muộn. Cơn ghen của họ là một vết thương, không chỉ là một tội để mắng. Ông chủ gọi bạn trước khi chỉ mắt. Mục vụ với người thâm niên cũng phải gọi bạn trước. Họ đã thật sự cực. Nhiều cụ đã giữ đạo khi giữ là phải chịu. Đồng của họ phải được trao với cả hai tay, không trao vội để quay sang người mới cho có vẻ hiệp hành. Hiệp hành mà bỏ người giờ thứ nhất thì chỉ là đổi phe cằn nhằn. Hiệp hành đúng dụ ngôn là trả đủ cho người sớm, trả đủ cho người muộn, và chữa con mắt.
XXVI. Phụng vụ còn giữ hoàng hôn
Kinh Chiều I không phải thói quen rườm. Đó là cách Giáo Hội từ chối không cho nửa đêm của đồng hồ làm chủ ngày lễ. Chúa nhật bắt đầu khi ánh sáng thứ bảy đang tàn. Lễ trọng bắt đầu từ chiều trước. Vọng Phục Sinh còn đẩy xa hơn: cả một đêm được đọc như cửa, từ tối đến sáng, bốn phần, gần với bốn canh. Giáo Hội ở lại suốt các canh ấy để nghe lịch sử cứu độ, rồi mới đến lửa và nước. Không có vọng nào vội. Kairos của Phục Sinh được bước vào bằng một chronos rất dài, rất có chủ ý.
Giảng Chúa nhật 25 Thường niên mà nhắc được điều này, người nghe sẽ thấy dụ ngôn không nằm ngoài nhà thờ của họ. Tối thứ bảy họ đến lễ, họ đang làm một việc rất Do-thái và rất Ki-tô: mở ngày mới từ chiều. Đừng để họ tưởng mình đi lễ bù vì sáng mai bận. Hãy nói với họ rằng họ đang đứng ở cửa hoàng hôn, nơi sao bắt đầu hiện, nơi ông chủ có thói trả công và mở ngày. Nhiều người giờ thứ mười một của một tuần, những người chỉ rảnh tối thứ bảy, cần được nghe mình không phải hạng phụ.
Giờ kinh trong giáo xứ, nếu chỉ còn Kinh Tối của một nhóm nhỏ, vẫn là một canh được giữ. Không cần lập tức dựng lại đủ các giờ mới dám áp dụng dụ ngôn. Một nhóm đọc Kinh Tối là một nhóm không trao hết đêm cho vô tuyến và lo âu. Từ nhóm ấy, có thể tập Giờ Chín ngày thứ sáu, rất ít lời, chỉ để nhớ ba giờ chiều không phải giờ trống. Những việc nhỏ ấy là cách đưa chronos của xứ vào kairos, không cần diễn văn.
XXVII. Gợi ý để giảng, không để thay bài giảng
Bài giảng Chúa nhật không cần kể hết niên lịch. Cần một cái đinh, rồi một cửa mở. Đinh có thể là câu này: giờ thứ mười một không phải mười một giờ đêm, mà là khoảng năm giờ chiều, lúc ta tưởng ngày đã hết việc. Cửa mở có thể là câu kia: ông chủ vẫn ra chợ, và người làm từ sáng được mời đừng để mắt mình gian ác vì thấy ông tốt.
Một bài có thể đi ba bước. Bước một, kể lại năm lần ra chợ bằng giờ của ta, để mọi người cùng thấy: sáu giờ, chín giờ, mười hai giờ, ba giờ, năm giờ. Bước hai, dừng ở ngày Thương Khó: chín giờ sáng đóng đinh, mười hai giờ trời tối, ba giờ chiều tắt thở. Để đồng lương có giá. Bước ba, một câu hỏi, chỉ một: tôi đang kiện điều gì nơi lòng tốt của Chúa, và ai là người tôi không chịu nổi khi thấy họ được nhận bằng tôi?
Không nên biến bài giảng thành bài khảo cổ về lịch Do-thái. Niên lịch phục vụ dụ ngôn, không ngược lại. Cũng không nên bỏ niên lịch, vì bỏ thì người nghe cứ tưởng giờ thứ ba là ba giờ sáng, và cả đoạn lệch. Vài câu đủ. Muốn đào, có bài học hỏi của Nhóm Phiên Dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ, có các giờ kinh, có thánh vịnh 90.
Với giờ giáo lý thiếu nhi, có thể vẽ một vòng cung mặt trời, chia mười hai, đánh dấu năm lần ông chủ ra. Cho các em đứng vào các mốc. Em đứng ở mốc năm giờ chiều được phát phần thưởng trước. Rồi hỏi em đứng ở mốc sáu giờ sáng thấy gì. Các em sẽ nói thật: không công bằng. Từ chữ ấy mới giảng được. Đừng vội sửa. Hãy để các em đứng vào chỗ người cằn nhằn, vì người lớn cũng đang đứng đó, chỉ ít dám nói hơn.
Với tĩnh tâm, có thể dành một giờ cho chronos và kairos, không cần hai từ Hy-lạp nếu cử tọa không quen. Gọi là giờ đếm và giờ cửa. Liệt kê giờ đếm của mình: tuổi, năm khấn, năm giữ đạo. Rồi hỏi giờ cửa gần nhất là giờ nào: một lần được tha, một lần tha cho người, một lần còn ở lại khi muốn bỏ. Tĩnh tâm hỏng nếu chỉ thêm giờ đếm. Tĩnh tâm thành nếu một giờ đếm được nhận lại như cửa.
XXVIII. Những câu hỏi để ở lại với đoạn Tin Mừng
Tôi có đang đếm công của mình bằng nắng không? Nắng ấy có thật không? Có. Vậy tôi sẽ đặt nắng ấy vào tay ai?
Tôi có đang đứng ngoài chợ mà gọi đó là khiêm tốn không? Khiêm tốn giả là đứng không khi đã được gọi. Khiêm tốn thật là vào làm chỗ được chỉ, dù chỗ ấy không còn đủ giờ để lập công.
Tôi có vui khi người đến sau được nhận trước không? Nếu chưa vui, tôi sẽ xin điều gì: xin họ bớt đồng, hay xin mắt tôi lành?
Ai quanh tôi đang nói, bằng miệng hoặc bằng cách đứng, rằng không ai mướn tôi? Tôi có phải là người được sai ra chợ giờ này không?
Giờ này của cộng đoàn tôi là giờ thứ mấy? Còn cửa nào chưa ai ra?
Tôi có dùng sa-bát, Chúa nhật, giờ kinh, để thôi kiện không? Hay tôi đem đơn kiện vào cả nhà nguyện?
Nếu hôm nay là giờ thứ mười một của một thói quen, một thù, một lần trì hoãn, câu “cả anh nữa hãy vào” đang vang ở cửa nào?
XXIX. Một ngày được kể lại theo giờ, như bài tập của người muốn khôn
Sáng, giờ thứ nhất. Mặt trời mọc. Người thợ đứng ở chợ vì cần ăn ngày ấy. Ông chủ ra. Thỏa thuận một đồng. Vào vườn. Việc bắt đầu trước khi có cớ để khoe.
Giờ thứ ba. Nắng đã rõ. Một nhóm khác vẫn đứng. Ông ra. Họ vào, chưa biết sẽ lãnh bao nhiêu, chỉ biết ông nói công bằng. Trong thành, một ngày kia, cũng vào khoảng giờ này, thập giá được dựng. Hai giờ thứ ba không trùng ngày, nhưng trùng lòng: giờ bắt đầu nặng, và giờ không rút lại lời.
Giờ thứ sáu. Nắng đỉnh. Ông vẫn ra. Trong ngày Thương Khó, giờ này trời tối. Giữa ngày của vườn nho, giờ này vẫn có người được gọi. Giữa ngày của đồi, giờ này mặt trời rút. Cả hai đều là giờ của chủ, không phải giờ của trời. Trời sáng hay trời tối không quyết định ông có ra chợ không.
Giờ thứ chín. Nắng nghiêng. Người làm từ sáng đã kiệt. Ông vẫn ra, y như các lần trước. Trên đồi, giờ này có một tiếng kêu lớn và một hơi thở cuối. Giờ thứ chín không phải giờ bỏ đi của lịch. Đó là giờ được Thánh Kinh nhớ nhất trong ngày ấy.
Giờ thứ mười một. Còn một khoảng ngắn. Chợ gần tan. Còn người đứng. Câu hỏi. Câu đáp. Lời mời không kèm số. Họ vào. Họ không kịp trở thành thợ kỳ cựu. Họ kịp trở thành người được gọi.
Chiều. Sao chưa cần hiện cũng đã biết ngày lao động ngả. Quản lý được lệnh. Người sau lãnh trước. Một đồng. Người trước lãnh sau. Một đồng. Tưởng. Cằn nhằn. Bạn. Thỏa thuận. Muốn. Được phép. Mắt. Câu hỏi bỏ ngỏ. Rồi câu về đứng chót và đứng đầu, câu đã nghe từ chương trước, nay có thịt có nắng.
Tối. Nếu là chiều thứ bảy, ngày mới của Chúa nhật đã mở từ phía này. Kinh Chiều I. Không phải ngày cũ kéo dài. Ngày của Chúa bắt đầu khi việc của ta vừa xong. Ông chủ trả công vào đúng vùng giờ ấy. Giáo Hội mở cửa lễ vào đúng vùng giờ ấy. Ai chỉ biết ngày bắt đầu lúc nửa đêm sẽ trễ cả hai.
XXX. Khôn ngoan là đếm được, rồi buông thước
Thánh vịnh 90 xin được dạy đếm. Không xin được dạy quên. Người không đếm sẽ phung phí, sẽ để giờ thứ ba trôi, sẽ ngủ canh gà gáy, sẽ không biết mình đã bảy mươi hay mới mười bảy. Đếm là việc của kẻ biết mình là cỏ. Nhưng đếm xong mà không buông thước, sẽ thành người mang thước vào vườn nho để đo anh em. Thước ấy không đo được lòng ông chủ. Thước ấy chỉ đo được khoảng cách giữa ta và niềm vui.
Khôn ngoan của thánh vịnh là khôn ngoan của kẻ đếm tháng ngày mình, không phải đếm tháng ngày người khác. Câu xin không phải “xin dạy con đếm tháng ngày của kẻ vào sau con”. Là đếm tháng ngày mình. Biết mình hữu hạn thì bớt kiện. Biết ngày mình là hồng ân thì bớt coi ngày ấy là vốn tự có. Người giờ thứ nhất được khôn khi đếm được rằng tảng sáng hôm ấy mình cũng đang đứng chờ, và ông đã ra. Người giờ thứ mười một được khôn khi đếm được rằng một giờ còn lại không phải giờ bỏ, và ông đã ra.
Ngàn năm như một trống canh. Không phải để ta khinh công việc của bảy mươi năm. Để ta khỏi sợ khi mình chỉ còn một canh. Chúa không thiếu giờ. Ta mới thiếu. Và vì ta thiếu, Người đi ra chợ nhiều lần trong một ngày, như không muốn để một khoảng trống nào của ngày ấy không có lời mời.
Cỏ sáng nở chiều ủ. Nên chiều là giờ phải tính, không phải giờ để khinh. Ai cũng đến chiều. Người thợ sớm cũng đến chiều. Ở chiều ấy, mọi người đứng cùng một phía trước người phát lương. Thứ tự bị đảo chỉ để mọi người thấy cùng một tay đang phát. Tay ấy không run khi phát cho người chỉ có một giờ. Tay ấy không rút lại khi phát cho người đã có cả ngày. Tay ấy là tay đã mở ra trên thập giá từ giờ thứ ba đến giờ thứ chín. Vì tay ấy đã mở, không giờ nào của ta còn bị coi là quá muộn để vào.
Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống, ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan. Xin cho chúng con nhận ra giờ này đang là cửa. Xin đừng để chúng con đổi cửa ấy thành đơn kiện. Và xin cho ai còn đứng ngoài, dù đã suốt ngày, còn được một người đến nói thay ông chủ: cả anh nữa, hãy đi vào vườn nho.
Amen.
Lm. Anmai, CSsR
