KHI CON NGƯỜI ĐI TÌM NGƯỜI DẪN ĐƯỜNG TRONG THẾ GIỚI CỦA NHỮNG NGƯỜI CÓ ẢNH HƯỞNG – Lm. Anmai, CSsR

2

KHI CON NGƯỜI ĐI TÌM NGƯỜI DẪN ĐƯỜNG TRONG THẾ GIỚI CỦA NHỮNG NGƯỜI CÓ ẢNH HƯỞNG – Lm. Anmai, CSsR
Có một nghịch lý rất đáng suy nghĩ trong xã hội hôm nay: chưa bao giờ con người có trong tay nhiều thông tin đến thế, nhưng cũng có lẽ chưa bao giờ con người lại hoang mang đến thế trước câu hỏi mình phải sống như thế nào. Chỉ cần một chiếc điện thoại nhỏ trong lòng bàn tay, người ta có thể biết chuyện đang xảy ra ở một nơi cách mình nửa vòng trái đất; người ta có thể xem hàng ngàn bài giảng, hàng triệu video, đọc vô số lời khuyên về hôn nhân, giáo dục, sức khỏe, tài chính, tình yêu, nghề nghiệp, tâm lý, triết lý sống và tôn giáo. Chưa bao giờ tri thức lại ở gần như thế, nhưng điều lạ lùng là giữa biển thông tin ấy, rất nhiều người vẫn không biết đâu là bờ. Họ biết rất nhiều điều nhưng không biết điều gì đáng để sống; họ nghe rất nhiều tiếng nói nhưng không biết tiếng nói nào đáng tin; họ có rất nhiều lựa chọn nhưng lại không biết mình nên chọn con đường nào; họ kết nối với hàng trăm, hàng ngàn người nhưng nhiều khi chẳng có nổi một người có thể ngồi xuống, nhìn vào mắt họ và nói với họ bằng tất cả sự chân thành: “Tôi hiểu điều anh đang trải qua. Anh đừng sợ. Cuộc đời anh vẫn còn ý nghĩa. Hãy đi con đường này.” Chính trong khoảng trống ấy, con người bắt đầu đi tìm những người có khả năng dẫn đường. Họ tìm kiếm ai đó có thể trao cho họ sự chỉ dẫn và niềm hy vọng; họ khao khát một người có thể nói cho họ biết điều gì là đúng, điều gì là sai, điều gì đáng tin, điều gì đáng hy vọng, điều gì đáng để hy sinh đời mình. Nỗi khao khát ấy không phải là một hiện tượng mới của thời đại kỹ thuật số. Nó nằm rất sâu trong cấu trúc của con người. Con người không chỉ cần cơm bánh để sống; con người còn cần một ý nghĩa để sống. Con người không chỉ cần bản đồ để biết mình đang ở đâu; con người còn cần một phương hướng để biết mình phải đi về đâu. Và có lẽ một trong những bi kịch lớn của xã hội hiện đại là chúng ta tạo ra vô số phương tiện giúp con người đi nhanh hơn, nhưng lại không giúp họ đủ nhiều để biết đâu là điểm đến.
Ngày xưa, người ta thường tìm sự hướng dẫn nơi gia đình, nơi cha mẹ, ông bà, thầy cô, các bậc cao niên, những người có uy tín trong làng xóm, nơi linh mục, tu sĩ, mục tử, những nhà giáo dục hoặc những truyền thống đạo đức đã được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Những người ấy không hoàn hảo, các cơ cấu ấy cũng không hoàn hảo, nhưng ít nhất chúng tạo nên những không gian tương đối ổn định để một người trẻ có thể học cách phân biệt đúng sai, học cách chịu trách nhiệm, học cách bước vào đời. Ngày nay, nhiều nơi trong số những không gian truyền thống ấy đang suy yếu. Gia đình có thể sống cùng một mái nhà nhưng mỗi người nhìn vào một màn hình khác nhau. Cha mẹ nhiều khi bận đến mức không còn đủ thời gian để nghe con kể hết một câu chuyện. Con cái lại cảm thấy cha mẹ không hiểu thế giới của mình. Nhà trường truyền đạt rất nhiều kiến thức nhưng đôi khi lại có quá ít thời gian để đồng hành với những khủng hoảng sâu kín của học sinh. Các tổ chức tôn giáo có khi vẫn còn đó, nhà thờ vẫn mở cửa, các giờ lễ vẫn diễn ra, các bài giảng vẫn được nói, nhưng người trẻ có thể cảm thấy những câu hỏi nóng bỏng nhất của mình chưa được chạm đến. Họ hỏi về cô đơn, chúng ta đôi khi chỉ đưa cho họ một công thức; họ hỏi về thất bại, chúng ta có khi chỉ bảo họ phải cố gắng; họ hỏi về ý nghĩa của đời mình, chúng ta có thể trả lời bằng những mệnh đề đúng về giáo lý nhưng chưa chắc đã làm cho họ cảm thấy mình được lắng nghe. Khi những nơi truyền thống không còn đủ khả năng làm người ta cảm thấy được nhìn thấy, được nghe thấy và được đồng hành, con người không ngừng tìm kiếm; họ chỉ chuyển sang tìm kiếm ở nơi khác.
Và một trong những nơi ấy là mạng xã hội. Ở đó xuất hiện những con người mà chúng ta gọi là “người có ảnh hưởng”. Họ có thể là diễn viên, ca sĩ, doanh nhân, chuyên gia, vận động viên, nhà hoạt động xã hội, người sáng tạo nội dung, nhà truyền thông, diễn giả, giáo viên, bác sĩ, nhà tâm lý, linh mục, tu sĩ, mục sư, người chia sẻ đời sống đức tin, hoặc chỉ đơn giản là một người bình thường có khả năng kể câu chuyện đời mình theo một cách đặc biệt hấp dẫn. Điều khiến họ trở thành “người có ảnh hưởng” không nhất thiết là chức vụ chính thức, bằng cấp, tuổi tác hay vị trí xã hội. Đôi khi điều làm cho họ trở nên có sức hút chính là khả năng tạo ra một cảm giác gần gũi. Người theo dõi có cảm giác: người này hiểu mình; người này nói thứ ngôn ngữ của mình; người này dám nói điều mà mình đang nghĩ nhưng không biết diễn tả; người này đã trải qua điều mình đang trải qua; người này cho mình hy vọng rằng nếu họ vượt qua được thì có lẽ mình cũng vượt qua được. Chính ở điểm ấy, chúng ta cần nhìn hiện tượng “người có ảnh hưởng” cách công bằng. Không phải tất cả đều xấu. Không phải bất cứ người nào có đông người theo dõi cũng là người ham danh. Không phải mọi ảnh hưởng trên mạng đều là thao túng. Có những con người dùng sự hiện diện của mình để khích lệ người khác sống tử tế hơn, chăm sóc sức khỏe tâm thần, bảo vệ người yếu thế, học tập nghiêm túc, sống có trách nhiệm, tha thứ, làm hòa, yêu thương gia đình, bảo vệ môi trường, chăm sóc người nghèo, tìm lại đời sống cầu nguyện. Có những người đã thật sự trở thành một tiếng nói nâng đỡ những tâm hồn đang tuyệt vọng. Có những lời chia sẻ rất đơn sơ trên mạng nhưng đã giữ một người nào đó lại bên này của sự tuyệt vọng. Có những chứng từ đã đưa một người trở lại với gia đình. Có những video giúp một người đang xa Chúa nhớ rằng vẫn còn một cánh cửa mở cho mình trở về. Vì thế, vấn đề không nằm ở chuyện “có ảnh hưởng” hay “không có ảnh hưởng”; vấn đề nằm ở câu hỏi: ảnh hưởng điều gì, ảnh hưởng bằng cách nào và dẫn người ta đến đâu?
Trong nền văn hóa kỹ thuật số, sự ảnh hưởng có thể được đo bằng những con số rất cụ thể: lượt theo dõi, lượt xem, lượt thích, lượt chia sẻ, số bình luận, tỷ lệ tương tác. Và đây chính là nơi một cám dỗ rất tinh vi bắt đầu xuất hiện: người ta có thể từ từ đồng nhất giá trị của một con người với khả năng thu hút sự chú ý. Một người có một triệu người theo dõi được mặc nhiên xem là quan trọng hơn một người có một ngàn người theo dõi. Một bài viết hàng trăm ngàn lượt thích dễ được coi là có giá trị hơn một bài chỉ có vài chục người đọc. Một video “viral” có vẻ thành công hơn một lời nói âm thầm chỉ chạm đến một con người. Nhưng Tin Mừng đặt trước mắt chúng ta một hệ quy chiếu hoàn toàn khác. Đức Giêsu không bao giờ đo giá trị con người bằng số người theo dõi. Có lúc đám đông chen chúc quanh Người, nhưng Người dừng lại vì một người đàn bà đau khổ đã chạm vào áo Người. Có lúc hàng ngàn người nghe Người giảng, nhưng Người vẫn dành thời gian ngồi bên giếng nói chuyện với một phụ nữ Samari mà xã hội đương thời có thể chẳng coi trọng. Có lúc đám đông tung hô Người vào thành Giêrusalem, nhưng chỉ vài ngày sau chính đám đông ấy có thể biến thành tiếng la: “Đóng đinh nó vào thập giá!” Đức Giêsu biết rất rõ rằng đám đông không phải lúc nào cũng là dấu chỉ của sự thật. Sự nổi tiếng không đồng nghĩa với sự thánh thiện. Khả năng thu hút không đồng nghĩa với khả năng cứu độ. Lượt theo dõi không phải là thước đo của chân lý.
Điều ấy đặc biệt quan trọng cho những ai đang hiện diện trong truyền thông Kitô giáo. Chúng ta phải rất tỉnh táo trước một cơn cám dỗ có thể khoác áo rất đạo đức: dùng danh nghĩa loan báo Tin Mừng để âm thầm xây dựng chính mình. Ban đầu một người có thể thật lòng muốn chia sẻ Lời Chúa. Người ấy viết vì muốn nâng đỡ người khác, làm video vì muốn đem Tin Mừng đến gần giới trẻ, mở một trang truyền thông vì muốn kết nối cộng đoàn. Nhưng rồi những con số bắt đầu xuất hiện. Một ngàn người theo dõi. Mười ngàn. Một trăm ngàn. Một triệu. Một bài được chia sẻ rất nhiều, bài khác ít hơn. Và từ từ, nếu không có đời sống nội tâm đủ sâu, con người có thể bắt đầu thay đổi. Ban đầu ta hỏi: “Điều gì Chúa muốn tôi nói?” Sau đó ta hỏi: “Điều gì người ta muốn nghe?” Ban đầu ta muốn trung thành với sự thật; sau đó ta muốn duy trì tương tác. Ban đầu ta sẵn sàng nói một điều khó nghe nếu nó cần thiết cho phần rỗi người khác; sau đó ta tránh mọi điều có thể làm người theo dõi bỏ đi. Ban đầu ta muốn người ta gặp Chúa qua mình; sau đó ta vô thức muốn người ta gặp mình, nhớ mình, khen mình, cần mình. Khi ấy, người loan báo Tin Mừng có thể vẫn nói rất nhiều về Chúa nhưng trung tâm thực sự đã từ từ chuyển khỏi Chúa để đặt vào chính mình.
Đây là một trong những câu hỏi nghiêm túc nhất mà bất cứ ai có một mức độ ảnh hưởng nào cũng phải đặt ra: Tôi đang đưa người ta đến với Chúa hay đang khiến người ta lệ thuộc vào tôi? Nếu một linh mục giảng rất hay nhưng người nghe chỉ say mê vị linh mục mà không yêu mến Đức Kitô hơn, cần phải đặt câu hỏi. Nếu một người làm nội dung Công giáo có hàng trăm ngàn người theo dõi nhưng người ta chỉ tranh luận bảo vệ thần tượng của mình, lập phe phái, công kích người khác, thì cần phải đặt câu hỏi. Nếu một cộng đoàn truyền thông càng nổi tiếng lại càng thích gây chiến, càng thích chứng minh mình đúng, càng coi thường những người khác, thì sự nổi tiếng ấy đang phục vụ Tin Mừng hay đang phục vụ cái tôi tập thể? Chúa Giêsu từng nói về Gioan Tẩy Giả: ông là ngọn đèn cháy sáng. Nhưng Gioan biết giới hạn của ngọn đèn. Ông không nhận mình là ánh sáng. Ông chỉ làm chứng cho ánh sáng. Câu nói đẹp nhất của Gioan có lẽ cũng là một trong những nguyên tắc sâu xa nhất cho mọi người có ảnh hưởng Kitô giáo: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.” Người có ảnh hưởng theo tinh thần Tin Mừng không dùng ảnh hưởng để làm mình ngày càng lớn; họ dùng ảnh hưởng để Đức Kitô ngày càng lớn trong lòng người khác.
Sự khác biệt giữa một “influencer” theo logic thị trường và một chứng nhân theo logic Tin Mừng nằm chính ở đây. Logic thị trường thường hỏi: Làm thế nào để giữ người ta ở lại với tôi? Logic Tin Mừng hỏi: Làm thế nào để người ta được tự do để đi với Chúa? Logic thị trường muốn tạo ra sự lệ thuộc vì sự lệ thuộc duy trì lượng tương tác. Tin Mừng muốn tạo ra những con người trưởng thành, biết phân định, biết cầu nguyện, biết chịu trách nhiệm trước lương tâm và Thiên Chúa. Một người hướng dẫn tâm linh đích thực không muốn người khác mãi mãi phải hỏi mình mọi thứ. Họ muốn đến một ngày người ấy có thể đứng trước Chúa, lắng nghe lương tâm được đào luyện và tự mình chọn điều thiện. Một nhà giáo dục giỏi không giữ học trò mãi ở dưới chân mình; họ vui mừng khi học trò trưởng thành và có thể đi xa hơn mình. Một người cha người mẹ tốt không nuôi con để con lệ thuộc mãi vào mình; họ nuôi con để một ngày con có thể sống có trách nhiệm. Người môn đệ của Đức Kitô cũng vậy: ta không thu góp những người theo mình; ta chuẩn bị những con người có khả năng theo Chúa.
Có lẽ vì vậy mà cần phân biệt rất rõ giữa nổi tiếng và có thẩm quyền tinh thần. Nổi tiếng có thể xuất hiện rất nhanh. Một video vài chục giây có thể khiến một người trở nên nổi danh chỉ sau một đêm. Nhưng thẩm quyền tinh thần không hình thành trong một đêm. Nó được trả giá bằng năm tháng sống thật, cầu nguyện thật, đau khổ thật, phục vụ thật, thất bại thật, đứng dậy thật. Người có thẩm quyền tinh thần không nhất thiết nói hay nhất; đôi khi họ nói rất ít. Nhưng khi họ nói, người khác cảm nhận phía sau lời nói ấy có một cuộc đời. Chúng ta đều từng gặp những người như thế. Có thể đó là một bà mẹ quê ít chữ nhưng một câu bà nói về lòng tín thác khiến ta nhớ cả đời. Có thể đó là một linh mục già giảng rất chậm, chẳng có kỹ thuật truyền thông nào đặc biệt, nhưng cách ngài sống với người nghèo khiến mỗi lời ngài nói có sức nặng. Có thể đó là một tu sĩ không có tài khoản nổi tiếng nào, nhưng người ta tìm đến vì nơi người ấy có sự bình an. Có thể đó là một người cha không bao giờ lên mạng giảng dạy ai nhưng ba mươi năm trung thành với gia đình đã là một bài giảng. Có thể đó là một người bệnh nằm trên giường, chẳng làm được điều gì được xã hội xem là “năng suất”, nhưng cách họ đón nhận đau khổ khiến cả gia đình thay đổi. Những con người ấy có thể không phải là “influencer” theo thuật toán, nhưng họ là những người có ảnh hưởng theo nghĩa sâu nhất của Tin Mừng.
Một nguy cơ khác của thời đại chúng ta là đồng nhất khả năng nói hay với sự khôn ngoan. Một người nói trôi chảy, có ngoại hình thu hút, biết kể chuyện, biết dựng video, biết sử dụng âm nhạc và hình ảnh, biết đánh trúng tâm lý người nghe có thể tạo ra một cảm giác rất thuyết phục. Nhưng cảm giác bị thuyết phục không luôn đồng nghĩa với việc điều mình nghe là đúng. Đây chính là lý do tại sao người sử dụng mạng xã hội hôm nay cần một nhân đức rất quan trọng: khả năng phân định. Không phải ai truyền cảm hứng cho tôi cũng xứng đáng dẫn đường cho tôi. Không phải điều làm tôi xúc động cũng là điều đúng. Không phải nội dung có hàng triệu lượt xem cũng đáng tin. Không phải người có vẻ tự tin nhất là người hiểu vấn đề nhất. Không phải người nói một cách chắc chắn nhất là người đang nói sự thật. Trên mạng xã hội, đôi khi sự chắc chắn được thưởng nhiều hơn sự cẩn trọng, cực đoan được chú ý nhiều hơn quân bình, giận dữ lan nhanh hơn bình an, scandal lan nhanh hơn sự tử tế, một lời kết án có thể được chia sẻ hàng ngàn lần trong khi một lời hòa giải đi rất chậm. Thuật toán không có lương tâm. Thuật toán chỉ học xem thứ gì giữ chúng ta trên màn hình lâu hơn. Nếu giận dữ giữ chúng ta lâu hơn, giận dữ sẽ được đẩy lên. Nếu tò mò về đời tư người khác khiến chúng ta nhấp nhiều hơn, scandal sẽ tràn ngập bảng tin. Nếu sự sợ hãi làm chúng ta quay lại nhiều hơn, chúng ta sẽ được cho xem thêm những điều khiến mình sợ. Vì vậy, nếu người Kitô hữu không có đời sống nội tâm đủ vững, chiếc điện thoại không chỉ là một công cụ trong tay ta; từ từ chính ta trở thành đối tượng bị công cụ định hình.
Điều đáng sợ nhất không phải là chúng ta xem mạng xã hội. Điều đáng sợ là đến một lúc chúng ta không còn nhận ra mạng xã hội đã thay đổi cách mình nhìn thế giới như thế nào. Ta bắt đầu nghĩ một vấn đề nào đó vô cùng quan trọng chỉ vì nó xuất hiện liên tục trên bảng tin. Ta bắt đầu nghĩ mọi người đều đang giận dữ chỉ vì thuật toán cho ta thấy những nội dung giận dữ. Ta bắt đầu nghĩ một quan điểm là phổ biến vì ta đang sống trong một “bong bóng” nơi những người cùng quan điểm với ta liên tục củng cố lẫn nhau. Ta có thể trở nên cực đoan mà vẫn tưởng mình đang rất tỉnh táo. Ta có thể mất lòng thương xót mà vẫn nghĩ mình đang bảo vệ chân lý. Ta có thể xúc phạm người khác rồi tự biện minh rằng mình đang chiến đấu cho điều thiện. Ta có thể biến Tin Mừng thành một thứ vũ khí để hạ người khác thay vì là ánh sáng soi chính lương tâm mình.
Vì thế, điều đầu tiên người Kitô hữu cần làm không phải là hỏi: “Tôi nên theo dõi ai?” nhưng có lẽ phải hỏi sâu hơn: “Ai đang thực sự có ảnh hưởng trên trái tim tôi?” Có những người ta không bao giờ gặp nhưng tiếng nói của họ hiện diện trong đầu ta mỗi ngày. Có những trang mạng âm thầm định hình cảm xúc của ta. Có những bình luận khiến ta mang sự giận dữ suốt cả ngày. Có những hình ảnh làm ta bắt đầu chê bai thân thể mình. Có những người khiến ta lúc nào cũng cảm thấy đời mình thua kém. Có những nội dung khiến ta tham lam hơn, ghen tị hơn, bất mãn hơn mà ta không nhận ra. Nếu sau nhiều giờ xem một người nào đó, ta thấy mình mất bình an, khinh thường người khác, ganh tị, cay đắng, bất mãn với chính mình, có lẽ ta nên tự hỏi: ảnh hưởng này đang đưa tâm hồn mình đi về đâu? Đức Giêsu từng nói: “Cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai.” Nguyên tắc ấy vẫn rất đúng trong thế giới kỹ thuật số. Đừng chỉ nhìn một người nói gì; hãy xem những lời ấy sinh ra thứ hoa quả nào trong đời mình. Nó làm tôi yêu Chúa hơn không? Nó làm tôi yêu người khác hơn không? Nó khiến tôi khiêm nhường hơn hay tự mãn hơn? Nó mở lòng tôi ra hay đóng tôi vào một phe nhóm? Nó giúp tôi đối diện sự thật về chính mình hay chỉ cho tôi một kẻ thù để đổ lỗi? Nó làm tôi trở thành một người tự do hơn hay nghiện ngập hơn? Hoa quả sẽ nói lên rất nhiều điều về cái cây.
Điều này cũng giúp chúng ta hiểu tại sao Đức Giêsu có một cách ảnh hưởng rất khác với logic của thế giới. Người không thao túng. Người không ép buộc. Người có thể nói với người thanh niên giàu có: “Hãy theo tôi”, nhưng khi anh buồn rầu bỏ đi, Đức Giêsu để anh đi. Người không chạy theo để giảm bớt đòi hỏi chỉ nhằm giữ một “follower”. Đức Giêsu yêu con người đủ nhiều để tôn trọng tự do của họ. Người không làm cho thông điệp dễ nghe hơn chỉ để giữ đám đông. Khi nhiều người bỏ đi sau diễn từ về Bánh Hằng Sống, Người quay sang Nhóm Mười Hai và hỏi: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” Đây là một sự tự do đáng kinh ngạc. Đức Giêsu không xây thương hiệu. Người không bảo vệ hình ảnh theo nghĩa chúng ta thường nghĩ. Người sống sự thật, và để con người tự do trước sự thật ấy.
Người Kitô hữu có ảnh hưởng cần học sự tự do này. Nếu một ngày ta nói sự thật trong bác ái và mất một ít người theo dõi, điều đó không nhất thiết là thất bại. Nếu một bài viết âm thầm giúp một người làm hòa với cha mẹ mà chỉ có một trăm lượt xem, bài viết ấy có thể có giá trị hơn một video triệu lượt xem nhưng chỉ tạo thêm tranh cãi. Nếu một lời chia sẻ khiến một người đang tuyệt vọng quyết định tiếp tục sống, ai có thể đo giá trị của nó bằng thuật toán? Trong Nước Thiên Chúa, những con số thường vận hành khác với thế gian. Một con chiên lạc đủ để người mục tử bỏ chín mươi chín con mà đi tìm. Một đồng bạc mất đủ để người phụ nữ thắp đèn quét nhà. Một người con trở về đủ để người cha mở tiệc. Tin Mừng không coi thường đám đông, nhưng Tin Mừng không bao giờ để đám đông che khuất một con người cụ thể.
Đây cũng là điều mà những người làm mục vụ cần suy nghĩ nghiêm túc. Nếu người trẻ đang tìm đến những “người có ảnh hưởng” để hỏi những câu hỏi về tình yêu, giới tính, đau khổ, lựa chọn nghề nghiệp, hôn nhân, thất bại, cô đơn, ý nghĩa đời sống và đức tin, chúng ta không thể chỉ trách họ rằng tại sao không tìm đến nhà thờ. Có lẽ trước hết ta phải hỏi: Khi họ đến nhà thờ, họ có gặp được một người chịu nghe họ không? Khi một người trẻ hỏi một câu vụng về, họ có bị phán xét trước khi được lắng nghe không? Khi một người đang rối bời bước vào cộng đoàn, họ gặp một cánh cửa mở hay gặp một danh sách những điều họ đang làm sai? Khi một người thất bại trong đời sống luân lý muốn trở về, họ có nghe được tiếng của người cha trong dụ ngôn: “Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu” hay chỉ nghe thấy tiếng của người anh cả đang kể lại tội lỗi của họ? Nếu Giáo hội muốn trở thành một tiếng nói đáng tin trong thời đại của những người có ảnh hưởng, Giáo hội không thể chỉ nói to hơn; Giáo hội phải yêu sâu hơn.
Con người hôm nay không thiếu tiếng nói. Họ thiếu những tiếng nói có thể tin. Không thiếu người nói về tình yêu; thiếu những người đã thực sự học cách yêu. Không thiếu lời khuyên về hạnh phúc; thiếu những người đã đi qua đau khổ mà vẫn giữ được lòng nhân hậu. Không thiếu những bài nói về thành công; thiếu những người đủ can đảm nói về giới hạn, thất bại và sự mong manh. Không thiếu người dạy cách tạo hình ảnh; thiếu người giúp con người hòa giải với chính con người thật của mình. Không thiếu người hứa rằng chỉ cần làm theo năm bước, bảy nguyên tắc, mười thói quen là đời sẽ thay đổi; thiếu những người đủ chân thành để nói rằng cuộc sống đôi khi không có lời giải nhanh, rằng có những vết thương cần nhiều năm chữa lành, rằng có những câu hỏi ta phải mang theo trong cầu nguyện rất lâu, rằng có những thập giá không biến mất nhưng có thể được mang bằng một tình yêu lớn hơn.
Chính ở đây, chứng tá Kitô giáo có thể mang một vẻ đẹp rất đặc biệt. Người môn đệ Đức Kitô không nhất thiết phải có câu trả lời cho mọi câu hỏi, nhưng có thể hiện diện với con người giữa những câu hỏi. Không nhất thiết phải luôn nói điều khôn ngoan, nhưng có thể đủ khiêm tốn để nói: “Tôi chưa biết, nhưng tôi sẵn sàng đi cùng anh.” Không nhất thiết phải trở thành người nổi tiếng, nhưng có thể trở thành người đáng tin. Và có lẽ điều thế giới cần hơn những “influencer” là những người hiện diện. Người hiện diện khi người khác đau. Người hiện diện khi chẳng có máy quay. Người hiện diện khi việc làm tốt không tạo nội dung hấp dẫn. Người hiện diện khi chẳng ai bấm thích. Người hiện diện khi người nghèo không thể giúp tăng hình ảnh của mình. Người hiện diện vì người kia là một con người, không phải là một cơ hội để xây thương hiệu.
Đây là tiêu chuẩn rất quyết liệt để xét lại chính mình: Nếu không có máy ảnh, tôi còn làm việc thiện ấy không? Nếu không ai biết, tôi còn phục vụ không? Nếu tên tôi không xuất hiện, tôi còn vui không? Nếu người khác được khen thay cho tôi, tôi có bình an không? Nếu một việc rất tốt cho Nước Chúa nhưng chẳng giúp gì cho hình ảnh cá nhân của tôi, tôi còn muốn làm không? Những câu hỏi ấy đi thẳng vào căn bệnh sâu xa của thời đại trình diễn. Ta rất dễ sống trước ánh mắt của người khác. Ta chụp món ăn trước khi ăn. Ta chụp chuyến đi trước khi tận hưởng. Ta có thể chụp cả một việc bác ái trước khi thực sự gặp người nghèo. Không phải việc chụp hình là xấu; đôi khi hình ảnh rất cần để truyền thông, gây quỹ, làm chứng, khích lệ điều thiện. Nhưng ta phải luôn hỏi: người nghèo đang là anh chị em của tôi hay đang trở thành phông nền cho sự tử tế của tôi? Chúa Giêsu từng cảnh báo rất mạnh về việc làm việc đạo đức để cho người ta thấy. Vấn đề không nằm ở chuyện việc lành có được nhìn thấy hay không; vấn đề nằm ở ánh mắt nào đang điều khiển trái tim ta.
Một người có ảnh hưởng theo Tin Mừng trước hết phải là một người chịu để Chúa ảnh hưởng mình. Đây có lẽ là điều căn bản nhất. Chúng ta không thể dẫn người khác đi đến nơi mình chưa từng đến. Không thể nói về cầu nguyện nếu chính ta không cầu nguyện. Không thể nói về lòng thương xót nếu ta nuôi cay đắng. Không thể nói về khiêm nhường trong khi nghiện được khen. Không thể nói về thinh lặng nếu ta không chịu nổi vài phút không có điện thoại. Không thể nói về tự do nếu mỗi giờ ta đều kiểm tra xem bài đăng được bao nhiêu lượt thích. Không thể nói rằng “Chúa là đủ” nếu một ngày lượng tương tác giảm xuống là ta mất bình an. Đời sống truyền thông Kitô giáo chỉ là hoa trái nếu nó mọc từ một đời sống ẩn sâu trong Đức Kitô. Nếu rễ không sâu, cây càng lớn càng nguy hiểm, bởi một cơn gió danh vọng đủ mạnh có thể làm nó bật gốc.
Người có ảnh hưởng Kitô giáo vì thế cần những khoảng không ai thấy mình: phòng cầu nguyện, giờ Chầu, tòa giải tội, những giờ đọc Lời Chúa, những cuộc nói chuyện chân thành với người linh hướng, những công việc âm thầm không đăng mạng. Ta cần những nơi mình không phải là “người có ảnh hưởng”, không phải là “cha”, “thầy”, “chuyên gia”, “người sáng tạo”, “người nổi tiếng”, mà chỉ là một con người nghèo đứng trước Thiên Chúa. Nơi ấy rất quan trọng, bởi nếu không, ta có thể bắt đầu tin vào chính hình ảnh mà người khác tạo ra về mình. Người ta nói ta khôn ngoan, ta bắt đầu tưởng mình luôn đúng. Người ta gọi ta thánh thiện, ta quên rằng mình vẫn là kẻ cần lòng thương xót. Người ta tìm đến xin lời khuyên, ta tưởng mình có câu trả lời cho mọi chuyện. Danh vọng, kể cả danh vọng trong lãnh vực tôn giáo, là một chất rất mạnh. Nó có thể làm một người mất khả năng nghe góp ý. Nó có thể khiến người ấy xem mọi phê bình là sự chống đối. Nó có thể khiến người ấy xây quanh mình một nhóm người luôn đồng ý. Và từ đó, sai lầm trở nên rất khó được sửa chữa.
Một dấu hiệu của người hướng dẫn đáng tin là họ có thể nói: “Tôi đã sai.” Một dấu hiệu của người có thẩm quyền thực sự là họ không cần giả vờ mình không bao giờ sai. Người càng trưởng thành càng biết giới hạn của mình. Một bác sĩ có đạo đức biết lúc nào phải chuyển bệnh nhân sang chuyên khoa khác. Một linh mục có trách nhiệm biết lúc nào một vấn đề tâm lý cần chuyên gia tâm lý, lúc nào vấn đề y khoa cần bác sĩ, lúc nào vấn đề pháp lý cần luật sư. Người có ảnh hưởng nguy hiểm nhất không hẳn là người cố tình lừa dối; đôi khi đó là người không biết mình không biết. Vì đã quen được nghe, họ bắt đầu phát biểu về mọi thứ. Từ đức tin sang y khoa, từ y khoa sang chính trị, từ kinh tế sang tâm lý, từ tâm lý sang khoa học. Một lượng người theo dõi lớn không biến một con người thành chuyên gia của mọi lĩnh vực. Khi một người được tin tưởng, trách nhiệm của họ càng lớn để phân biệt rõ đâu là điều mình biết, đâu là ý kiến, đâu là lĩnh vực mình không có thẩm quyền.
Thánh Giacôbê viết rằng ai làm thầy sẽ bị xét xử nghiêm khắc hơn. Lời ấy có thể áp dụng rất mạnh cho thời đại mạng xã hội. Ngày xưa một lời sai có thể chỉ được nghe bởi vài chục người. Hôm nay một thông tin sai có thể đến với hàng triệu người trong vài giờ. Một lời vu khống có thể phá hủy danh dự của một con người trước khi sự thật kịp mang giày. Một lời tư vấn thiếu trách nhiệm có thể khiến người khác đưa ra quyết định nguy hiểm. Một hình ảnh bị cắt khỏi bối cảnh có thể kích động cả một đám đông. Quyền lực truyền thông vì thế là một dạng quyền lực thật, và mọi quyền lực đều cần lương tâm.
Nhưng cũng cần nói điều này với những người theo dõi: đừng trao lương tâm của mình cho bất kỳ ai. Không ai được quyền sống thay bạn trước mặt Thiên Chúa. Có những người vì quá ngưỡng mộ một nhân vật mà từ từ không còn phân định. Nhân vật ấy nói gì cũng đúng, làm gì cũng được bênh vực, ai phê bình nhân vật ấy đều bị xem là kẻ thù. Khi điều đó xảy ra, sự ngưỡng mộ đã vượt qua giới hạn lành mạnh để trở thành một dạng thần tượng hóa. Trong đức tin Kitô giáo, chỉ có một Đấng xứng đáng nhận sự phó thác tuyệt đối: Thiên Chúa. Mọi người khác, kể cả giáo sĩ, tu sĩ, thần học gia, diễn giả, người có ảnh hưởng, đều là những con người có giới hạn. Có thể kính trọng mà không thần tượng hóa. Có thể học hỏi mà vẫn phân định. Có thể yêu mến mà vẫn nhìn thấy khuyết điểm. Tình yêu trưởng thành không cần bịt mắt.
Có lẽ một trong những việc cấp thiết nhất trong giáo dục đức tin hôm nay là giúp người trẻ phát triển “sức đề kháng tinh thần” trước nền kinh tế chú ý. Chúng ta cần dạy họ rằng sự chú ý của họ là một tài sản quý. Mỗi lần họ dừng lại trước một video, mỗi lần họ bấm thích, bình luận, chia sẻ, họ đang góp phần nuôi lớn một loại nội dung. Họ không hoàn toàn bất lực trước thuật toán. Chính lựa chọn hằng ngày của họ cũng huấn luyện thuật toán về điều họ muốn thấy. Nếu ta chỉ dừng lại trước scandal, ta sẽ nhận thêm scandal. Nếu ta dành thời gian cho những nội dung sâu sắc, có thể dần dần môi trường của mình cũng thay đổi. Nhưng sâu hơn, ta cần học khả năng tắt máy. Một người không thể tự do nếu không có khả năng rời khỏi thứ đang thu hút mình. Nếu ta không thể để điện thoại xuống trong một giờ cầu nguyện, nếu bữa cơm gia đình liên tục bị ngắt bởi thông báo, nếu phút đầu tiên sau khi thức dậy và phút cuối cùng trước khi ngủ đều thuộc về màn hình, ta cần thành thật hỏi: ai đang làm chủ ai?
Kitô giáo có một kho tàng rất mạnh để chữa căn bệnh phân tán của thời đại: thinh lặng. Thinh lặng không phải là khoảng trống vô nghĩa. Trong thinh lặng, ta lấy lại khả năng nghe tiếng nói nhỏ bé mà những tiếng ồn của thế giới thường che lấp. Trong thinh lặng, ta bắt đầu nhận ra bao nhiêu suy nghĩ của mình thực ra không phải của mình, mà là những tiếng nói ta đã hấp thụ từ người khác. Trong thinh lặng, ta có thể hỏi: Tôi thực sự muốn gì? Tôi đang sợ điều gì? Tại sao lời bình luận kia lại làm tôi đau như vậy? Tại sao tôi cần người ta khen mình đến thế? Tại sao tôi phải chứng minh mình đúng? Trong thinh lặng trước Chúa, những chiếc mặt nạ từ từ rơi xuống. Và đó là nơi một người có thể trở lại với căn tính sâu xa nhất của mình: không phải là số lượt theo dõi, không phải danh tiếng, không phải thành công, không phải thất bại, mà là một người con được Thiên Chúa yêu.
Khi căn tính ấy vững, ta có thể sử dụng mạng xã hội mà không bị mạng xã hội sử dụng. Ta có thể có nhiều người theo dõi mà không phải sống bằng lời khen của họ. Ta có thể bị hiểu lầm mà không tan vỡ. Ta có thể bị chỉ trích và vẫn phân định xem phần nào đúng để sửa, phần nào sai để bỏ qua. Ta có thể làm điều tốt mà không cần được nhìn thấy. Ta có thể vui khi người khác thành công. Ta có thể chia sẻ ánh sáng của mình mà không cần tắt ánh sáng của người khác.
Đó chính là nét đẹp của một cộng đoàn Kitô giáo đích thực trong thế giới của những người có ảnh hưởng: chúng ta không cạnh tranh xem ai nổi hơn; chúng ta giúp nhau làm cho Đức Kitô được nhận biết hơn. Nếu một người khác giảng hay hơn tôi, tạ ơn Chúa. Nếu một trang khác giúp được nhiều người hơn, tạ ơn Chúa. Nếu một linh mục khác được giới trẻ yêu mến, tạ ơn Chúa. Nếu người khác có những tài năng tôi không có, điều ấy không làm tôi nhỏ lại; nó làm Thân Thể Đức Kitô phong phú hơn. Chỉ khi cái tôi quá lớn, thành công của người khác mới trở thành mối đe dọa. Khi ta thực sự biết mình là một chi thể trong Thân Thể Đức Kitô, ta vui vì ân sủng nơi người khác.
Thế giới hôm nay quả thật đang tìm người dẫn đường. Nhưng có lẽ thế giới không cần thêm những thần tượng. Thế giới cần những chứng nhân. Thần tượng khiến người khác nhìn vào mình; chứng nhân chỉ cho người khác thấy một thực tại lớn hơn mình. Thần tượng phải bảo vệ hình ảnh; chứng nhân có thể thú nhận yếu đuối. Thần tượng cần đám đông; chứng nhân có thể trung thành ngay cả khi chỉ còn một mình. Thần tượng sống bằng sự chú ý; chứng nhân sống bằng một lời gọi. Thần tượng hỏi: “Người ta nghĩ gì về tôi?” Chứng nhân hỏi: “Thiên Chúa muốn gì nơi tôi?” Thần tượng sợ bị quên lãng; chứng nhân chấp nhận biến mất nếu hạt giống đã được gieo.
Đức Maria là một hình ảnh tuyệt đẹp của kiểu ảnh hưởng này. Mẹ không có những diễn từ lớn. Tin Mừng ghi lại rất ít lời của Mẹ. Nhưng ảnh hưởng của Mẹ đi qua hai ngàn năm lịch sử Hội Thánh. Vì sao? Vì đời Mẹ hoàn toàn trong suốt trước Thiên Chúa. Mẹ không nói: “Hãy nhìn tôi”, nhưng nói: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo.” Đó có thể được xem như nguyên tắc vàng cho bất cứ người Kitô hữu nào có ảnh hưởng: đừng giữ ánh mắt người khác trên mình; hãy nhẹ nhàng chuyển ánh mắt ấy về Đức Kitô.
Gioan Tẩy Giả cũng thế. Đám đông đến với ông. Người ta hỏi ông có phải Đấng Mêsia không. Một cơ hội tuyệt vời để xây dựng vị thế. Nhưng Gioan nói: “Tôi không phải.” Có lẽ ba chữ “tôi không phải” ấy là một trong những liều thuốc quan trọng nhất cho thời đại của thương hiệu cá nhân. Tôi không phải Đấng Cứu Thế. Tôi không phải câu trả lời cho mọi vấn đề. Tôi không phải trung tâm. Tôi không phải người mà thế giới phải xoay quanh. Tôi chỉ là một tiếng kêu. Tôi chỉ là người chỉ đường. Tôi chỉ là một đầy tớ. Và sau khi hoàn thành phần việc của mình, tôi có thể lui vào bóng tối.
Các Tông đồ cũng vậy. Phêrô sau khi chữa người què không nói: “Hãy xem quyền năng của tôi.” Ông hỏi tại sao người ta lại nhìn ông như thể nhờ sức riêng mà ông làm được điều ấy, rồi lập tức hướng họ về Đức Giêsu. Đó là phẩm chất của một người có ảnh hưởng theo Tin Mừng: mỗi thành công trở thành cơ hội để chuyển vinh quang về Thiên Chúa. Càng được chú ý, càng phải nhớ mình chỉ là chiếc bình sành chứa một kho tàng không thuộc về mình.
Và có lẽ đây là điều cần nói với bất cứ ai đang có một cộng đồng theo dõi: đằng sau mỗi con số là một con người. Mười ngàn lượt xem không phải là mười ngàn đơn vị dữ liệu; đó là mười ngàn cuộc đời, mỗi người mang một câu chuyện riêng. Một người có thể đang nghe ta trong bệnh viện. Một người đang nghe trong căn phòng nơi họ vừa khóc cả đêm. Một người đang nghe sau khi hôn nhân đổ vỡ. Một người trẻ đang nghe và cố quyết định xem cuộc đời có đáng sống không. Một người đã rời Giáo hội nhiều năm vô tình dừng lại trước một video. Một người đang giận Chúa. Một người muốn trở về mà không biết bắt đầu từ đâu. Khi nhớ như thế, ta không còn muốn tạo nội dung chỉ để “tăng tương tác”. Ta muốn từng lời mình nói có trách nhiệm với linh hồn của người nghe.
Điều ấy không có nghĩa truyền thông Kitô giáo phải buồn tẻ. Trái lại, Tin Mừng chứa một vẻ đẹp đủ lớn để đánh thức trí tưởng tượng của nhân loại. Chúng ta cần sáng tạo. Cần học kỹ năng kể chuyện. Cần hiểu ngôn ngữ mới. Cần sử dụng video, âm nhạc, hình ảnh, đồ họa, podcast, mạng xã hội và những công nghệ mới. Chúa không được tôn vinh bởi sự cẩu thả. Một thông điệp quý giá xứng đáng được chuyển tải bằng sự chăm chút. Nhưng kỹ thuật phải là người phục vụ chứ không được trở thành ông chủ. Câu hỏi cuối cùng không phải là video có đẹp không mà là nó có thật không; không phải có viral không mà là có đem lại sự sống không; không phải bao nhiêu người theo dõi mà là những người theo dõi ấy đang được dẫn về đâu.
Và những người không có hàng ngàn người theo dõi cũng đừng nghĩ mình không có ảnh hưởng. Mỗi con người đều đang ảnh hưởng trên ai đó. Một người cha ảnh hưởng trên con qua cách ông đối xử với mẹ của chúng. Một người mẹ ảnh hưởng trên con qua cách bà nói về người khác sau lưng họ. Một linh mục ảnh hưởng trên giáo dân không chỉ bằng bài giảng mà bằng cách ngài tiếp một người nghèo gõ cửa nhà xứ. Một tu sĩ ảnh hưởng bằng cách sống lời khấn khi chẳng ai nhìn. Một giáo viên ảnh hưởng bằng cách đối xử với học sinh yếu nhất lớp. Một người trẻ ảnh hưởng trên bạn bè bằng những điều mình cười theo, chia sẻ và từ chối chia sẻ. Một bình luận tử tế dưới bài viết của người đang đau có thể ảnh hưởng. Một tin nhắn hỏi “Bạn có ổn không?” có thể ảnh hưởng. Một lần không chia sẻ một tin chưa kiểm chứng cũng là một ảnh hưởng. Một lời xin lỗi cũng ảnh hưởng. Một quyết định không tham gia đám đông ném đá người khác cũng ảnh hưởng. Chúng ta không cần một triệu người theo dõi để trở thành người có ảnh hưởng; chỉ cần có một người nhìn cách ta sống là ảnh hưởng đã bắt đầu.
Bởi vậy, câu hỏi không phải là: “Tôi có phải influencer không?” Câu hỏi là: “Tôi đang ảnh hưởng thế nào trên những người Chúa đặt cạnh tôi?” Sau khi gặp tôi, người ta có bình an hơn không? Có tin vào lòng tốt hơn không? Có cảm thấy mình được tôn trọng hơn không? Hay họ thấy mình bé lại? Trong gia đình, sự hiện diện của tôi làm bầu khí nhẹ hơn hay nặng hơn? Trên mạng xã hội, những điều tôi chia sẻ làm người khác sáng hơn hay tối hơn? Tôi góp phần vào sự thật hay góp phần vào tin đồn? Tôi chữa lành hay khoét sâu? Tôi xây cầu hay xây tường? Tôi mang người ta lại gần nhau hay kích động phe phái? Đây mới là những chỉ số mà Nước Trời quan tâm.
Cuối cùng, thế giới sẽ còn tiếp tục sản sinh những người có ảnh hưởng. Các nền tảng sẽ thay đổi. Hôm nay là mạng xã hội này, ngày mai là mạng khác. Công nghệ sẽ ngày càng tinh vi. Trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra những nhân vật ảo có hàng triệu người theo dõi. Các hình thức tác động tâm lý sẽ ngày càng chính xác. Nhưng cơn khát sâu nhất của con người vẫn sẽ không thay đổi. Người ta vẫn muốn được yêu. Vẫn muốn biết đời mình có ý nghĩa. Vẫn muốn có ai đó nói với họ rằng bóng tối không phải tiếng nói cuối cùng. Vẫn muốn tìm một con đường khi đời mình lạc hướng. Vẫn muốn được tha thứ khi đã sai. Vẫn muốn được bắt đầu lại.
Và ở chính nơi sâu nhất của cơn khát ấy, người Kitô hữu biết rằng chẳng có “người có ảnh hưởng” nào, chẳng có thần tượng nào, chẳng có diễn giả nào, chẳng có nhà tư tưởng nào có thể thay thế Đấng đã nói: “Thầy là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống.” Mọi người hướng dẫn tốt cuối cùng chỉ đáng tin khi họ giúp ta đi gần hơn tới Con Đường ấy. Mọi tiếng nói đáng nghe cuối cùng phải phục vụ Sự Thật ấy. Mọi ảnh hưởng tốt đẹp cuối cùng phải làm cho sự sống trong ta phong phú hơn.
Thế nên giữa thế giới đầy những tiếng gọi “hãy theo tôi”, người Kitô hữu cần học lại cách nghe tiếng gọi ban đầu của Galilê: “Hãy theo Thầy.” Có thể ta vẫn theo dõi nhiều người trên mạng. Có thể ta học nơi họ nhiều điều tốt đẹp. Có thể ta biết ơn những người đã truyền cảm hứng cho mình. Nhưng sâu thẳm nhất, chỉ có một Đấng ta trao trọn cuộc đời. Chỉ có một Đấng đáng để ta đặt bước chân mình vào dấu chân của Người. Chỉ có một Đấng có thể dẫn con người xuyên qua cả sự chết mà tới sự sống.
Và nếu một ngày nào đó Chúa cho chúng ta có ảnh hưởng trên người khác, dù chỉ một người hay một triệu người, xin cho chúng ta đừng bao giờ sử dụng con người để làm mình lớn lên. Xin cho ta dùng mọi khả năng, mọi phương tiện, mọi lời nói và mọi sự chú ý mình nhận được để phục vụ sự thật, chữa lành vết thương, nối lại những gì bị đứt gãy, bảo vệ những người yếu thế và mở một lối nhỏ để người khác gặp Đức Kitô. Xin cho ta đủ khiêm tốn để nhớ rằng một ngày nào đó tên mình có thể bị quên, tài khoản của mình có thể biến mất, những bài viết của mình không còn ai đọc, những video mình từng làm chẳng còn ai xem. Nhưng nếu qua một lời ta nói, một người đã biết tha thứ; nếu qua một việc ta làm, một người đã tìm lại hy vọng; nếu qua cách ta sống, một người đã tin rằng Thiên Chúa vẫn còn yêu họ, thì đời ta đã không vô ích.
Bởi ảnh hưởng đẹp nhất không phải là khiến người khác nhớ đến mình thật lâu. Ảnh hưởng đẹp nhất là sau khi gặp mình, người ta nhớ đến Thiên Chúa nhiều hơn; sau khi nghe mình, người ta yêu sự thật hơn; sau khi đi cùng mình một đoạn đường, người ta đủ mạnh để tiếp tục đi ngay cả khi mình không còn bên cạnh. Và rồi ta có thể lặng lẽ lui vào phía sau như Gioan Tẩy Giả, bình an nói lên lời mà mọi người làm truyền thông Kitô giáo, mọi mục tử, mọi nhà giáo dục, mọi cha mẹ và mọi người đang có ảnh hưởng đều cần khắc sâu vào lòng mình: “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ lại.”
Lm. Anmai, CSsR

Previous articleLAN TỎA ĐIỀU GÌ GIỮA MỘT THẾ GIỚI ĐANG QUÁ NHIỀU TIẾNG ỒN? – Lm. Anmai, CSsR