BẢN TIN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO THỨ HAI NGÀY 26 THÁNG 10 NĂM 2026 – Lm. Anmai, CSsR tổng hợp
Phụng vụ Lời Chúa – Lời nguyện – Suy niệm (Youtube & bản văn) Thứ Hai tuần XXXX TN – Lm. Anmai, CSsR
Thứ 2 tuần XXX TN ĐỨNG THẲNG TRONG TÌNH YÊU VÀ LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA – Lm. Anmai, CSsR
Thứ 2 tuần XXX TN HÀNH TRÌNH VƯỢT QUA SỰ GỤC NGÃ VÀ NHỮNG VẾT THƯƠNG THẦM LẶNG – Lm. Anmai, CSsR
LẠY CHÚA, XIN NÂNG CON ĐỨNG THẲNG LÊN
Lạy Chúa Giêsu, con đến trước mặt Chúa với những gánh nặng không phải lúc nào con cũng nói được thành lời. Có những ngày thân xác con vẫn đứng thẳng, nhưng tâm hồn đã còng xuống vì lo âu, thất vọng và tổn thương. Con vẫn đi làm, vẫn gặp gỡ, vẫn mỉm cười, nhưng bên trong là một trái tim mỏi mệt. Có những chuyện đã qua rất lâu mà mỗi lần nhớ lại, con vẫn thấy đau. Có những lỗi lầm đã được tha thứ mà con vẫn dùng để kết án chính mình. Có những nỗi sợ khiến con chỉ nhìn xuống những bất hạnh của đời mình, quên ngước lên để nhận ra Chúa vẫn đang ở đó. Xin thương nhìn đến con như Chúa đã nhìn người phụ nữ còng lưng trong hội đường năm ấy.
Lạy Chúa, mười tám năm là biết bao buổi sáng thức dậy trong đau đớn, biết bao đêm nằm xuống với một ước mong chưa thành. Người phụ nữ ấy đã mang thân phận cong xuống giữa những người có thể đứng thẳng. Có lẽ bà đã quen với việc không được nhìn thấy khuôn mặt người khác, quen với những ánh mắt thương hại, quen với sự bất lực của mình. Nhưng Chúa đã thấy bà. Giữa đám đông, Chúa nhận ra một người đang đau khổ. Xin cho con tin rằng giữa bao tiếng nói của cuộc đời, Chúa vẫn nghe tiếng thở dài của con; giữa bao khuôn mặt, Chúa vẫn nhận ra con; giữa những ngày con thấy mình vô nghĩa, con vẫn là người được Chúa yêu thương.
Xin cho lời Chúa gọi đủ sức đưa con ra khỏi nơi con đã khép mình quá lâu. Xin giúp con bước đến gần Chúa với cả sự yếu đuối, những điều đáng xấu hổ và những vết thương chưa lành. Con không muốn tiếp tục che giấu nỗi đau bằng vẻ bình thản, cũng không muốn lấy sự bận rộn để tránh gặp chính mình. Xin đặt bàn tay dịu dàng của Chúa trên cuộc đời con. Xin tháo cởi những ràng buộc của oán giận, ghen tương, ích kỷ và mặc cảm. Xin nâng con đứng thẳng trong phẩm giá của một người con được yêu, để con có thể nhìn người khác bằng đôi mắt hiền hòa và nhìn ngày mai bằng lòng hy vọng.
Lạy Chúa Giêsu, xin tha thứ cho những lần con giống ông trưởng hội đường: thấy một người được chữa lành mà lòng lại khó chịu; thấy người khác được nâng đỡ mà chỉ muốn xét xem họ có xứng đáng hay không. Có khi con giữ rất kỹ những điều phải làm, nhưng lại bỏ quên người đang cần được yêu thương. Con dễ nhận ra lỗi của người khác mà chậm nhận ra nước mắt của họ. Con có thể nói đúng, nhưng nói bằng một giọng khiến người nghe càng đau hơn. Xin chữa lành sự khô cứng trong lòng con. Xin đừng để việc đạo đức trở thành nơi con ẩn mình khỏi bổn phận yêu thương.
Xin cho con biết dừng lại trước một người đang đau khổ. Xin giữ con khỏi câu nói lạnh lùng: “Để hôm khác”, khi một người đang cần được lắng nghe hôm nay. Xin cho con đủ kiên nhẫn với người già chậm chạp, đủ dịu dàng với người bệnh lâu năm, đủ tế nhị với người mang mặc cảm, đủ quảng đại với người đã nhiều lần làm con thất vọng. Trong gia đình, xin giúp con nhận ra những gánh nặng âm thầm trên vai cha mẹ, người bạn đời và con cái. Có người không xin giúp đỡ vì sợ làm phiền; có người im lặng vì đã nhiều lần không được lắng nghe. Xin cho con đến bên họ bằng sự hiện diện chân thành, bằng một lời hỏi han và một việc làm cụ thể.
Con xin phó dâng cho Chúa những người đang bị bệnh tật, nghèo khó, nghiện ngập và cô đơn trói buộc. Xin nâng đỡ những người chăm sóc bệnh nhân đã kiệt sức, những người sống giữa bạo lực mà chưa tìm được nơi an toàn, những người cầu nguyện lâu ngày vẫn chưa thấy nỗi đau vơi bớt. Xin cho họ gặp được người biết bảo vệ, đồng hành và giúp đỡ. Khi sự chữa lành chưa đến như lòng mong đợi, xin gìn giữ họ trong niềm tin, để họ không phải chịu đựng một mình.
Lạy Chúa, khi được nâng dậy, xin cho con biết tôn vinh Chúa bằng chính cách sống của mình. Xin biến đôi tay từng khép lại thành đôi tay biết nâng đỡ; biến trái tim từng chất chứa cay đắng thành trái tim biết cảm thông. Hôm nay, xin cho con bớt một lời phán xét, thêm một lời an ủi; bớt một lần quay đi, thêm một lần ở lại. Và khi con lại yếu lòng, lại cúi xuống dưới sức nặng cuộc đời, xin nhắc con nhớ bàn tay Chúa vẫn gần bên. Xin nâng con dậy, để con tiếp tục sống, tiếp tục yêu thương và giúp một người khác đứng lên. Amen.
Lm. Anmai, CSsR.
Ca nhập lễ
Tâm hồn những ai tìm Chúa, hãy mừng vui. Hãy coi trọng Chúa và quyền năng của Người, hãy luôn luôn tìm kiếm thiên nhan Chúa.
Lời nguyện nhập lễ
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin cho chúng con được thêm lòng tin cậy mến và biết yêu chuộng những điều Chúa truyền dạy, hầu đáng hưởng những gì Chúa hứa ban. Chúng con cầu xin…
Bài Ðọc : Ep 4, 32 – 5, 8
“Anh em hãy sống trong tình thương như Ðức Kitô”.
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gửi tín hữu Êphêxô.
Anh em thân mến, anh em hãy ăn ở hiền hậu với nhau, hãy thương xót và tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Ðức Kitô.
Vậy anh em hãy bắt chước Thiên Chúa, như con cái rất yêu dấu của Người: hãy sống trong tình thương, như Ðức Kitô đã yêu thương chúng ta và phó mình làm của dâng và lễ tế thơm tho ngọt ngào dâng lên Thiên Chúa vì chúng ta.
Còn như tội tà dâm và mọi thứ tội ô uế hay là gian tham, thì dù nhắc đến tên chúng cũng đừng nói tới nơi anh em, như thế mới xứng hợp với các thánh. Cả những chuyện hoa tình, tục tĩu và giễu cợt, tất cả những cái đó đều bất xứng. Tốt hơn là hãy nói những lời cảm tạ Chúa.
Bởi chưng anh em hãy biết rõ điều này là: tất cả những kẻ tà dâm, ô uế hay tham lam, là một thứ nô lệ thần tượng, đều không được hưởng phần gia nghiệp trong nước của Ðức Kitô và Thiên Chúa. Ðừng để ai lấy hão huyền mà phỉnh gạt anh em, vì những điều ấy mà cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đổ xuống trên những con cái ngỗ nghịch. Vậy anh em chớ thông đồng với những kẻ ấy. Xưa kia anh em là sự tối tăm, nhưng hiện nay anh em là sự sáng trong Chúa. Anh em hãy ăn ở như con cái sự sáng.
Ðó là lời Chúa.
Ðáp Ca: Tv 1, 1-2. 3. 4 và 6
Ðáp: Anh em hãy bắt chước Thiên Chúa, như con cái rất yêu dấu của Người (c. Ep 5, 1).
Xướng: Phúc cho ai không theo mưu toan kẻ gian ác, không đứng trong đường lối những tội nhân, không ngồi chung với những quân nhạo báng. Nhưng vui thoả trong lề luật Chúa, và suy ngắm luật Chúa đêm ngày.
Xướng: Họ như cây trồng bên suối nước, trổ sinh hoa trái đúng mùa: lá cây không bao giờ tàn úa. Tất cả công việc họ làm đều thịnh đạt.
Xướng: Kẻ gian ác không được như vậy; họ như vỏ trấu bị gió cuốn đi, vì Chúa canh giữ đường người công chính, và đường kẻ gian ác dẫn tới diệt vong.
Alleluia: Tv 94, 8ab
Alleluia, alleluia! – Ước chi hôm nay các bạn nghe tiếng Chúa và đừng cứng lòng. – Alleluia.
Phúc Âm: Lc 13, 10-17
“Chớ thì không nên tháo xiềng xích buộc người con gái của Abraham này trong ngày Sabbat sao?”
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, nhân ngày Sabbat, Chúa Giêsu giảng dạy trong một hội đường. Và đây có một người đàn bà bị quỷ ám làm cho bà đau yếu đã mười tám năm. Bà bị khòm lưng, hoàn toàn không thể trông lên được. Khi Chúa Giêsu xem thấy bà, Người liền gọi bà đến mà bảo rằng: “Hỡi bà kia, bà được khỏi tật của bà”. Rồi Người đặt tay trên bà ấy, tức thì bà đứng thẳng lên và tôn vinh Thiên Chúa.
Nhưng viên trưởng hội đường tức giận, vì Chúa Giêsu chữa bệnh trong ngày Sabbat, nên ông cất tiếng bảo dân chúng rằng: “Có sáu ngày người ta phải làm việc: vậy thì các người hãy đến xin chữa bệnh trong ngày đó, chớ đừng đến trong ngày Sabbat”.
Chúa trả lời và bảo ông ta rằng: “Hỡi những kẻ giả hình, chớ thì trong ngày Sabbat, mỗi người trong các ông không thả bò hay lừa của mình ra khỏi chuồng mà dẫn nó đi uống nước sao? Phương chi người con gái của Abraham này, Satan cột trói nó đã mười tám năm nay, chớ thì không nên tháo xiềng xích buộc nó trong ngày Sabbat sao?”
Khi Người nói thế, tất cả những kẻ chống đối Người đều hổ thẹn, và toàn dân vui mừng vì những việc lạ lùng Người đã thực hiện.
Ðó là lời Chúa.
Lời nguyện tiến lễ
Lạy Chúa, xin nhìn đến lễ vật chúng con dâng để tỏ lòng kính tôn thần phục và xin cho lễ tạ ơn này góp phần làm vinh danh Chúa. Chúng con cầu xin…
Ca hiệp lễ
Xin cho chúng tôi được hân hoan mừng Chúa chiến thắng, và nhân danh Thiên Chúa, chúng tôi nâng cao ngọn cờ.
Hoặc đọc:
Đức Kitô đã yêu thương chúng ta, và đã phó mình làm của lễ tế thơm tho ngọt ngào dâng lên Thiên Chúa vì chúng ta.
Lời nguyện hiệp lễ
Lạy Chúa, xin cho chúng con được hưởng nhờ trọn vẹn ơn thiêng của bí tích chúng con vừa cử hành để nhờ thánh lễ tưởng niệm Ðức kitô chịu thương khó, chúng con được sống lại với Người. Người hằng sống và hiển trị muôn đời…
HÀNH TRÌNH VƯƠN LÊN TỪ ĐẤT BỤI: NƠI THẦN KHÍ GIẢI THOÁT VÀ SỰ SỐNG ĐÍCH THỰC
Kính thưa quý cộng đoàn, trong chiều kích sâu thẳm của đời sống đức tin, mỗi chúng ta đều mang theo những gánh nặng, những vết thương và cả những khoảng tối của tâm hồn. Cuộc đời trần thế này đôi khi giống như một hành trình dài dằng dặc của những áp lực, khiến con người ta dần cúi gằm mặt xuống, bị bóp nghẹt bởi những lo toan, tội lỗi và sự yếu đuối của bản thân. Có những nỗi đau kéo dài âm ỉ suốt nhiều năm tháng, giống như người phụ nữ trong Tin Mừng bị còng lưng suốt mười tám năm trời, chẳng thể ngẩng đầu lên để nhìn nhận bầu trời cao rộng, chẳng thể chiêm ngắm ánh sáng của hy vọng và tình yêu. Thế nhưng, giữa chốn âm u và ngột ngạt ấy, Thiên Chúa vẫn luôn dõi theo từng bước chân, từng nhịp đập thổn thức của nhân loại để ra tay cứu độ. Ngài không đành lòng nhìn thấy tạo vật mà Ngài yêu thương phải cúi đầu làm nô lệ cho sự dữ, cho bệnh tật hay cho những xiềng xích của trần gian. Ngài đến để bẻ gãy những gông cùm ấy, nâng cằm chúng ta lên, để chúng ta được đứng thẳng hiên ngang như những người con tự do của nước trời.
Câu chuyện về người phụ nữ bị còng lưng trong hội đường vào ngày sa-bát mang một ý nghĩa biểu trưng vô cùng mạnh mẽ cho toàn thể nhân loại chúng ta. Mười tám năm ròng rã sống trong cảnh bị kìm kẹp, bà không thể tự mình đứng thẳng lên được. Sức mạnh của sự dữ đã đè nặng lên thân xác và tâm hồn bà, biến một người đáng lẽ ra được quyền ngẩng cao đầu trước tôn nhan Thiên Chúa thành một kẻ lúc nào cũng chỉ nhìn thấy bụi đất dưới chân mình. Hình ảnh đó phản ánh chính xác thực trạng của con người khi xa rời ơn thánh, khi để cho lòng kiêu ngạo, ích kỷ và tội lỗi làm cho tâm hồn trở nên méo mó, chai lì. Chúng ta thường dễ dàng cúi đầu trước những cám dỗ vật chất, trước những áp lực xã hội, trước sự bất an của thời đại, và vô tình quên mất rằng mình đã được dựng nên với hình ảnh và ơn gọi cao quý biết bao. Sự cúi gằm ấy không chỉ là sự mệt mỏi của thể xác mà còn là sự bất lực của nội tâm, nơi con người tự giam hãm mình trong những nỗi sợ hãi và tuyệt vọng.
Tuy nhiên, điều kỳ diệu là người phụ nữ ấy dù đau đớn, dù còng cược, vẫn quyết tâm bước chân vào hội đường. Bà không chọn ở nhà để chìm đắm trong sự thương thân trách phận. Bà vẫn hướng về nơi thánh thiêng, vẫn khao khát được kết nối với cộng đoàn và với Thiên Chúa. Sự hiện diện của bà trong hội đường chính là một hành động đức tin âm thầm nhưng mãnh liệt. Và Chúa Giêsu, Đấng thấu suốt mọi tâm can, đã nhìn thấy bà. Ngài không chờ bà phải cất tiếng kêu xin, không đợi bà phải giãi bày hoàn cảnh. Ánh mắt nhân ái của Chúa đã xuyên thấu qua lớp bụi thời gian và nỗi đau đớn tột cùng để chạm đến tâm hồn bà. Ngài gọi bà lại và ban cho một lời quyền năng: “Này bà, bà được giải thoát khỏi tật nguyền của bà.” Hành động đặt tay của Chúa Giêsu không chỉ là một cử chỉ chữa lành y khoa, mà là một sự tái tạo toàn diện, một dòng suối ơn thánh tràn ngập tuôn đổ vào cơ thể đang khô héo và tâm hồn đang rã rời. Ngay lập tức, bà đứng thẳng lên được và cất lời ngợi khen Thiên Chúa. Từ một người bị đè nặng sát mặt đất, giờ đây bà đã có thể nhìn thẳng lên trời cao, nhìn vào gương mặt của Đấng Cứu Độ để dâng lời cảm tạ.
Phản ứng của vị trưởng hội đường sau đó lại mở ra một chiều kích suy tư sâu sắc khác về thái độ của con người trước lòng thương xót của Thiên Chúa. Thay vì cùng chung vui, cùng hòa chung niềm khao khát tạ ơn với người phụ nữ vừa được cứu chữa, ông ta lại chìm đắm trong sự câu nệ luật pháp hình thức, trong sự kiêu ngạo của một kẻ giữ đạo theo bề ngoài. Đối với ông ta, lề luật quan trọng hơn con người, hình thức câu nệ quan trọng hơn tình thương cứu độ. Ông ta tức giận vì Chúa Giêsu chữa bệnh vào ngày sa-bát, ngày mà lẽ ra phải là ngày con người được nghỉ ngơi trong tình yêu và sự quan phòng của Thiên Chúa, thì lại bị biến thành một thứ gông cùm trói buộc con người trong sự vô cảm. Sự cứng cỏi và kiêu ngạo của vị trưởng hội đường cùng những kẻ chống đối đã bị lu mờ hoàn toàn trước lý luận sắc bén và tình thương xót hải hà của Chúa Giêsu. Ngài dùng chính logic của lòng nhân ái để vạch trần sự giả hình của họ: nếu một con vật còn được tháo củi mở xiềng để dẫn đi uống nước vào ngày sa-bát, thì hà cớ gì một người con gái của Abraham, bị Satan trói buộc suốt mười năm tháng dài, lại không được giải thoát ngay trong ngày linh thánh ấy?
Qua cách lập luận này, Chúa Giêsu không chỉ đánh đổ sự ngụy biện của những kẻ tuân thủ lề luật một cách máy móc, mà còn khẳng định một chân lý nền tảng: Thiên Chúa luôn đứng về phía sự sống, sự tự do và phẩm giá của con người. Lề luật được ban cho con người để phục vụ sự sống chứ không phải để tiêu diệt hay đè bẹp con người. Sự kiêu ngạo của những kẻ quyền thế, tự cho mình là đạo đức trong câu chuyện đã bị hạ nhục, trong khi đám đông thì vui mừng khôn tả trước những việc lớn lao mà Chúa đã thực hiện. Đây chính là quy luật đảo ngược của ơn cứu độ: những ai tự cao tự đại, cậy dựa vào công trạng hình thức của mình sẽ bị hạ xuống, còn những ai biết khiêm tốn nhận ra sự bất toàn và yếu đuối của bản thân để mở lòng đón nhận ơn cứu chữa sẽ được Thiên Chúa nâng lên cao.
Nhìn lại đời sống thiêng liêng của mỗi người chúng ta hôm nay, câu hỏi đặt ra là chúng ta đang sống theo Thần Khí hay theo xác thịt? Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Rôma đã nhắc nhở chúng ta một thực tế vô cùng quan trọng rằng: mặc dù chúng ta đã lãnh nhận ơn thánh của Thần Khí, chúng ta vẫn mang bản tính mỏng giòn và luôn phải đối diện với những cám dỗ sống theo những ước muốn tầm thường của xác thịt. Sống theo xác thịt không chỉ là vướng vào những tội lỗi lớn lao, mà đôi khi là việc rơi vào cái bẫy của sự kiêu ngạo tinh thần, sự tự mãn, sự vô cảm trước nỗi đau của anh chị em đồng loại, hay sự cứng nhắc trong lề luật mà đánh mất đi lòng trắc ẩn. Khi chúng ta tự cao tự đại, khi chúng ta nghĩ rằng mình đạo đức, mình hiểu biết hơn người khác và nhìn đời bằng nửa con mắt, ấy chính là lúc tâm hồn chúng ta đang bị còng xuống, bị trói buộc bởi thứ tha hóa tinh vi nhất của sự dữ. Ngược lại, khi chúng ta biết khiêm tốn thừa nhận những giới hạn của bản thân, biết khao khát ơn cứu độ và để cho Thần Khí của Chúa canh tân đổi mới, chúng ta mới thực sự được đứng thẳng trong ơn nghĩa của Ngài.
Hành trình hoán cải là một tiến trình liên tục, đòi hỏi chúng ta phải từ bỏ những thói hư tật xấu, những ích kỷ và cái tôi quá lớn. Đôi khi, chúng ta quen thuộc với những vết thương của mình đến mức chúng ta sợ hãi sự tự do. Có những người đã quá quen với việc cúi đầu trước tội lỗi, quen với việc sống trong bóng tối đến nỗi khi ánh sáng của Chúa chiếu rọi, họ lại cảm thấy chói mắt và muốn lùi về vùng an toàn tăm tối của sự thỏa hiệp. Nhưng Thiên Chúa không muốn chúng ta tiếp tục sống trong cảnh cúi đầu như thế. Ngài gọi tên mỗi người chúng ta giữa hội đường của cuộc đời, giữa những bộn bề lo toan, để dắt đưa chúng ta bước ra khỏi vũng lầy của sự yếu đuối. Việc chữa lành của Chúa đòi hỏi sự cộng tác tự do từ phía chúng ta: chúng ta phải có can đảm bước đến với Ngài, có can đảm mở lòng ra để đón nhận đôi tay nhân ái đang chạm đến những vết thương sâu kín nhất trong tâm hồn.
Sự tự do mà Chúa Kitô mang lại cho chúng ta không phải là sự tự do buông tuồng để sống theo ý thích ích kỷ của bản thân, mà là sự tự do đích thực của con cái Chúa, được hướng dẫn bởi tình yêu và Thần Khí sự sống. Khi được giải thoát khỏi những gông cùm của tội lỗi và sự kiêu ngạo, chúng ta được mời gọi để sống một cuộc đời mới dâng hiến cho tha nhân. Một người đã được Chúa chữa lành không thể tiếp tục sống dửng dưng trước nỗi đau của người khác. Họ phải trở thành hiện thân của lòng thương xót, đem ánh sáng và sự tự do ấy chia sẻ cho những ai vẫn đang bị giam cầm trong bóng tối của sự tuyệt vọng. Hội thánh của Chúa trong thế giới hôm nay cũng được mời gọi trở thành một hội đường sống động, nơi không có chỗ cho sự phán xét lạnh lùng hay những lề luật cứng nhắc bóp nghẹt lòng người, mà phải là không gian của sự chữa lành, của sự cảm thông và của niềm vui cứu độ.
Trong đời sống cầu nguyện hằng ngày, chúng ta hãy xin Chúa ban cho ơn biết ơn và sự khiêm nhường sâu thẳm. Hãy xin Ngài bẻ gãy sự kiêu ngạo còn ẩn giấu trong tâm hồn, giúp chúng ta nhìn nhận rằng tất cả những gì tốt đẹp chúng ta có đều là hồng ân phát xuất từ lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa. Khi đối diện với những yếu đuối, những vấp ngã hay những thói quen xấu cứ lặp đi lặp lại khiến chúng ta mệt mỏi, đừng bao giờ buông xuôi hay tuyệt vọng. Hãy nhớ rằng Chúa Giêsu vẫn luôn đứng đó, kiên nhẫn chờ đợi và sẵn sàng đưa tay kéo chúng ta đứng thẳng lên. Ngài thấu hiểu sức nặng của những năm tháng chúng ta phải chịu đựng dưới ách nô lệ của tội lỗi, và Ngài có đủ quyền năng để giải thoát chúng ta ngay trong khoảnh khắc chúng ta hướng lòng về Ngài với trọn vẹn niềm tin tưởng.
Bước vào một tuần lễ mới với bao nhiêu thử thách và cơ hội, chúng ta hãy tự hỏi bản thân xem mình đang sống theo Thần Khí hay theo xác thịt. Trong những mối quan hệ gia đình, công sở và xã hội, chúng ta đã đem lại sự sống, sự giải thoát và niềm vui cho người khác, hay chúng ta lại vô tình trở thành những kẻ đặt ra những lề luật nặng nề đè bẹp anh chị em mình? Chúng ta có dám khiêm tốn bước qua cái tôi to lớn để xin lỗi, để tha thứ và để yêu thương không? Những chọn lựa nhỏ bé hằng ngày đó chính là thước đo cho thấy chúng ta có thực sự là những người con được sống trong sự tự do của Thần Khí hay không. Hãy để Chúa thanh luyện tâm hồn chúng ta, uốn nắn những góc cạnh cứng nhắc, và ban cho chúng ta một trái tim biết mềm mại trước ơn thánh.
Nguyện xin ơn trên tiếp tục tuôn đổ xuống trên từng người trong chúng ta, để qua lời chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria và các thánh, chúng ta luôn giữ được thân hình thẳng thắn trong đức tin, tâm hồn rộng mở trong đức cậy và cuộc đời tràn ngập trong đức mến. Xin cho mỗi chúng ta, sau khi đã được Chúa nâng dậy từ bụi đất của sự khốn cùng, biết dùng trọn vẹn quãng đời còn lại để ngợi khen Thiên Chúa, làm chứng nhân cho tình yêu cứu độ của Ngài giữa một thế giới đang rất cần sự chữa lành và bình an đích thực. Để rồi, khi hành trình trần thế này khép lại, chúng ta được Chúa gọi vào hưởng niềm vui vĩnh cửu trong ngày nghỉ ngơi đời đời, nơi không còn đau khổ, không còn còng cược, mà chỉ có sự sống viên mãn trong ánh quang minh của Thiên Chúa Ba Ngôi muôn đời hiển trị.
Lm. Anmai, CSsR
ĐỨNG THẲNG TRONG TÌNH YÊU VÀ LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THIÊN CHÚA
Khi bước vào cử hành phụng vụ thánh thiêng, tâm hồn chúng ta thường hướng về những chiều kích cao cả của đức tin, về luật lệ, về những lề thói tôn giáo được truyền tụng qua bao thế hệ. Chúng ta tìm kiếm sự an ủi nơi lời Chúa, nơi những lời giảng dạy hùng hồn và những cấu trúc đạo đức vững chãi giúp con người định hướng cuộc đời. Tuy nhiên, Tin Mừng hôm nay lại dẫn dắt chúng ta đi xuyên qua những lớp lang của hình thức bên ngoài để chạm đến một cốt lõi vô cùng rúng động, đó là trái tim từ bi, nhạy cảm và đầy quyền năng chữa lành của Đức Giê-su Ki-tô.
Hình ảnh trung tâm của đoạn Tin Mừng là một người phụ nữ bị còng lưng suốt mười tám năm trời. Mười tám năm là một khoảng thời gian dài đằng đẵng của đau khổ, tủi nhục và bất lực. Cơn bệnh quái ác, hay nói theo ngôn ngữ Kinh Thánh là bị kìm kẹp bởi một tinh thần u ám, đã bóp méo hình hài của chị, khiến chị không bao giờ có thể ngước mặt lên nhìn trời cao, không thể nhìn thẳng vào đồng loại bằng ánh mắt tự do và bình đẳng của một con người. Chị sống trong cảnh cúi gằm mặt xuống đất, nơi chỉ có bụi mù, bóng tối và những bước chân lầm lũi của tha nhân qua lại. Thế nhưng, trong một ngày Sabát bình thường tại hội đường, nơi mọi người tề tựu để nghe lời Chúa và tuân giữ luật lệ nghỉ ngơi thánh thiêng, Đức Giê-su đang giảng dạy.
Giữa đám đông đang chăm chú lắng nghe Ngài, ánh mắt sắc sảo của tình yêu thương đã dừng lại ở góc khuất nơi người phụ nữ khốn khổ ấy đang đứng. Ngài không tiếp tục bài giảng theo thói quen. Ngài không để cho nhịp điệu quen thuộc của nghi thức tôn giáo làm tê liệt sự nhạy cảm của trái tim trước nỗi đau khổ nhân loại. Đức Giê-su dừng lại hoàn toàn việc giảng dạy của mình, chủ động gọi người phụ nữ ấy tiến lại gần, đặt đôi bàn tay đầy ân sủng và quyền năng của Ngài lên con người đau khổ ấy. Ngay lập tức, một phép lạ vĩ đại diễn ra: người phụ nữ đứng thẳng người lên, và tiếng đầu tiên cũng như hành động đầu tiên của chị sau mười tám năm đè nặng là cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa.
Hành động này của Đức Giê-su lập tức chạm trán với bức tường dày đặc của lề luật cứng nhắc. Viên trưởng hội đường, với cái đầu đầy những quy tắc chi li và trái tim nguội lạnh bởi sự kiêu ngạo tôn giáo, đã tức giận vì Đức Giê-su chữa bệnh vào ngày Sabát. Đối với ông ta, sáu ngày trong tuần là quá đủ để con người giải quyết những nhu cầu trần thế, còn ngày Sabát phải là ngày tuyệt đối tuân thủ sự nghỉ ngơi hình thức, bất chấp việc con người đang quằn quại trong đau khổ. Sự giận dữ của viên trưởng hội đường bộc lộ một căn bệnh nguy hiểm hơn nhiều so với căn bệnh thể lý của người phụ nữ: đó là căn bệnh còng lưng về tâm linh, nơi linh hồn con người bị bóp méo bởi sự ích kỷ, sự vô cảm và sự sùng đạo mù quáng, chỉ biết bám lấy chữ nghĩa của luật lệ mà đánh mất đi tinh thần cốt lõi của tình yêu Thiên Chúa.
Đức Giê-su đã quở trách thái độ giả hình ấy bằng một luận điểm không thể chối cãi. Ngài chỉ ra rằng ngay cả những người chỉ trích Ngài cũng chẳng ngần ngại cởi trói cho con bò hay con lừa của mình dẫn đi uống nước vào ngày Sabát. Nếu một con vật vô tri còn được xót thương và chăm sóc nhu cầu sinh tồn cơ bản trong ngày thánh, thì huống chi người phụ nữ này, một “con gái của Abraham”, người đã bị Satan trói buộc suốt mười tám năm dài, lại không đáng được tháo cũi sổ lồng vào chính ngày của Chúa sao? Câu trả lời của Đức Giê-su làm cho những kẻ chống đối phải xấu hổ, trong khi đám đông thì vui mừng khôn tả trước những việc uy quyền đầy lòng xót thương mà Ngài đã thực hiện.
Câu chuyện này mở ra cho chúng ta những suy tư sâu sắc về bản chất của đời sống đạo, về cách chúng ta đối diện với tha nhân và với chính Thiên Chúa trong cuộc sống thường nhật. Cuộc đời của mỗi người chúng ta đôi khi cũng mang những nét tương đồng kỳ lạ với người phụ nữ bị còng lưng trong Tin Mừng. Chúng ta có thể không bị còng lưng về mặt thể lý đến mức không nhìn thấy mặt đất, nhưng tâm hồn và trí tuệ của chúng ta biết bao lần đã bị quỵ lụy, bị cúi gằm xuống bởi những gánh nặng của cuộc đời, của tội lỗi, của những tổn thương quá khứ, của nỗi sợ hãi, sự lo âu và lòng ích kỷ cá nhân.
Có những người bị còng lưng bởi gánh nặng của công danh tài lộc, suốt đời chỉ biết cúi mặt nhìn vào những tính toán thiệt hơn, tiền tài danh vọng, mà quên mất ngước nhìn lên bầu trời cao xanh của ơn nghĩa trời cao và vẻ đẹp của tình hiệp thông huynh đệ. Có những người bị còng lưng bởi những vết thương lòng, những sự giận hờn, cay đắng không thể tha thứ, khiến họ mãi mãi sống trong bóng tối của quá khứ, không thể mở rộng lòng mình ra để đón nhận ánh sáng bình an. Có những người lại bị còng lưng bởi những mặc cảm tự ti, bởi những áp lực xã hội đè nặng lên đôi vai gầy guộc, khiến họ đánh mất đi phẩm giá cao quý của một người con Chúa được dựng nên theo hình ảnh Ngài. Khi một con người bị cúi gằm xuống như thế, thế giới thu hẹp lại trong vòng tròn chật hẹp của cái tôi đau khổ. Họ không thể nhìn thấy anh chị em xung quanh đang cần đến một ánh mắt cảm thông, một lời động viên hay một bàn tay cứu giúp. Họ cũng không thể ngước lên nhìn Thiên Chúa với trọn vẹn sự tín thác và tình yêu mến.
Điều kỳ diệu là Đức Giê-su không đứng nhìn từ đằng xa để chờ chúng ta tự đứng lên. Ngài bước đến, chủ động gọi chúng ta và đặt đôi bàn tay thánh thiện của Ngài lên cuộc đời chúng ta. Trong đời sống Giáo Hội, đôi khi chúng ta dễ rơi vào cạm bẫy của sự phán xét giống như viên trưởng hội đường. Chúng ta nhìn tha nhân qua lăng kính của những quy luật cứng nhắc, của những chuẩn mực đạo đức hình thức mà quên đi lòng trắc ẩn. Chúng ta dễ dàng nổi giận khi thấy trật tự bị xáo trộn, khi thấy những lề thói quen thuộc bị thay đổi bởi tình yêu thương mục vụ đầy sáng tạo. Chúng ta quên mất rằng ưu tiên hàng đầu của Thiên Chúa chưa bao giờ là sự tuân thủ máy móc cácề luật vô hồn, mà chính là sự sống, phẩm giá và ơn cứu độ của con người. Một tôn giáo chân chính phải là tôn giáo giải thoát con người khỏi những xiềng xích của đau khổ và tội lỗi, chứ không phải là thứ áp đặt thêm những gánh nặng đè bẹp con người xuống.
Hình ảnh vị linh mục trong một câu chuyện thực tế khi đang giảng thuyết chợt dừng lại vì một người tham dự bất ngờ ngất xỉu, rồi ngài lao xuống tận nơi để chăm sóc, đo mạch và cứu giúp với tư cách là một bác sĩ, là một minh chứng tuyệt vời cho Tin Mừng sống động. Bài giảng vĩ đại nhất không chỉ nằm ở những lời hoa mỹ phát ra từ bục giảng, mà đôi khi nằm chính ở sự ngắt quãng đầy yêu thương ấy. Giảng đạo bằng lời nói là quan trọng, nhưng giảng đạo bằng hành động xót thương, bằng việc sẵn sàng bỏ dở những nghi thức hình thức để cứu lấy một sinh mạng, để ôm lấy một con người đang tổn thương, đó mới là bài giảng thuần khiết nhất phản chiếu khuôn mặt đích thực của Thiên Chúa. Đức Giê-su đã dừng lại bài giảng của Ngài để chữa lành cho người phụ nữ, bởi vì đối với Ngài, con người sống động đang quằn quại trước mặt chính là đền thờ vinh hiển nhất của Thiên Chúa, là ưu tiên không thể chối cãi của tình yêu thương.
Nhìn lại đời sống cộng đoàn, đời sống gia đình và xã hội của chúng ta hôm nay, biết bao nhiêu lần chúng ta vô tình trở thành những người chặn đứng dòng chảy của lòng thương xót. Chúng ta quá bận rộn với những công việc đạo đức, với những buổi lễ rình rang, với những luật lệ tôn giáo tinh vi, mà vô cảm trước những người đang âm thầm còng lưng gánh chịu những đớn đau trong góc tối của xã hội. Có những người thân cận bên cạnh chúng ta đang khao khát một lời an ủi, một cử chỉ quan tâm chân thành, nhưng chúng ta lại thờ ơ vì mãi theo đuổi những mục tiêu cá nhân ích kỷ. Có những người trẻ đang chới với giữa dòng đời tục hóa, bị trói buộc bởi những cám dỗ và tuyệt vọng, nhưng thay vì đưa tay ra nâng họ dậy như Đức Giê-su, chúng ta lại dùng những lời phán xét nặng nề để đẩy họ ngã quỵ sâu hơn vào sự tuyệt vọng.
Đã đến lúc chúng ta cần phải để cho Đức Giê-su chữa lành căn bệnh còng lưng tâm linh của chính mình. Để có thể nâng đỡ người khác đứng thẳng lên, trước hết đôi vai và tâm hồn chúng ta phải được tháo gỡ khỏi những xiềng xích của tôi đòi tội lỗi. Chúa mời gọi chúng ta hãy ngước mắt lên trời cao, vượt qua những giới hạn chật hẹp của cái tôi tầm thường để nhìn ngắm sự vĩ đại và lòng nhân hậu của Thiên Chúa. Khi một con người được đứng thẳng lên trong ân sủng của Chúa, tư thế sống của họ hoàn toàn thay đổi. Họ không còn nhìn đời với ánh mắt cúi gằm đầy sợ hãi hay nghi kỵ, mà nhìn bằng ánh mắt của niềm hy vọng, của sự bao dung và tình huynh đệ phổ quát.
Sự đứng thẳng ấy còn mang ý nghĩa của sự phục hồi phẩm giá làm con cái Chúa. Trong thư gửi tín hữu Rô-ma, thánh Phao-lô nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta không nhận lấy tinh thần nô lệ để phải sợ hãi nữa, mà nhận lấy Thánh Thần làm nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên rằng: “Áp-ba! Cha ơi!”. Trở thành con cái Thiên Chúa có nghĩa là chúng ta được mời gọi bước đi ngẩng cao đầu trong sự tự do của con cái ánh sáng, không còn bị đè nặng bởi thứ lề luật sợ hãi, mà được hướng dẫn bởi nguồn mạch tình yêu mãnh liệt phát xuất từ trái tim của Đấng Tối Cao. Sự tự do ấy không dẫn đến sự kiêu ngạo hay phóng túng, mà ngược lại, dẫn đến một sự nhạy cảm tinh tế trước nỗi đau của tha nhân, sẵn sàng xả thân phục vụ và yêu thương đến cùng.
Hành trình đức tin của mỗi Ki-tô hữu vì thế là một tiến trình liên tục để cho đôi bàn tay của Chúa chạm đến những góc khuất đau khổ và còng cọc trong tâm hồn chúng ta. Đừng sợ hãi khi phải đối diện với sự yếu đuối của mình trước mặt Chúa. Hãy khiêm tốn để cho Ngài uốn nắn, tháo gỡ và nâng chúng ta đứng thẳng dậy. Khi chúng ta đã trải nghiệm được ơn cứu độ và sự giải thoát kỳ diệu ấy trong cuộc đời mình, chúng ta không thể giữ nó cho riêng mình. Chúng ta phải trở thành những sứ giả của lòng thương xót, đem đôi tay của Chúa để ôm ấp, nâng đỡ những mảnh đời bất hạnh đang còng lưng gánh chịu những giông bão cuộc đời xung quanh chúng ta.
Mỗi thánh lễ chúng ta tham dự, mỗi lời kinh chúng ta nguyện cầu không được phép dừng lại ở sự thỏa mãn thiêng liêng cá nhân hay việc hoàn thành một nghĩa vụ tôn giáo khô khan. Nó phải là động lực mạnh mẽ đẩy chúng ta bước ra khỏi những cánh cửa hội đường kiên cố để đến với những vùng ngoại biên của đau khổ và nghèo đói tinh thần lẫn thể xác. Nơi nào có con người đang bị trói buộc bởi bất công, bởi bệnh tật, bởi sự cô đơn và tuyệt vọng, nơi đó có tiếng gọi khẩn thiết của Đức Giê-su đang chờ đợi chúng ta tiếp nối đôi bàn tay yêu thương của Ngài để xoa dịu và giải thoát họ.
Nguyện xin ơn trên soi sáng để mỗi người chúng ta biết canh tân đời sống nội tâm, từ bỏ những cứng nhắc của lề luật vụ hình thức, để đón lấy tinh thần Tin Mừng của sự sống và tình yêu thương dịu ngọt. Xin cho đôi mắt chúng ta luôn rộng mở trước nỗi đau của tha nhân, xin cho đôi chân chúng ta luôn sẵn sàng bước đến những nơi đau khổ, và xin cho đôi tay chúng ta luôn rộng mở để nâng đỡ mọi người đứng thẳng lên trong phẩm giá cao quý của những người con cái Chúa, để cùng nhau cất vang khúc ca ngợi khen Thiên Chúa suốt cõi đời đời.
Lm. Anmai, CSsR
ĐỨNG THẲNG ĐỂ SỐNG VÀ YÊU: HÀNH TRÌNH GIẢI THOÁT TRONG LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA
Hành trình đức tin của con người trên dương thế luôn là một tiến trình biến đổi khôn ngừng, một cuộc cất bước dài lâu từ nơi tăm tối của những ràng buộc trần gian đến ánh quang rạng rỡ của ơn cứu độ Thiên Chúa. Trong khung cảnh phụng vụ của ngày sống, tâm hồn chúng ta được mời gọi lặng lẽ dừng lại trước một trong những chân dung kỳ diệu và cảm động nhất mà Tin Mừng đã phác họa: hình ảnh người phụ nữ còng lưng suốt mười tám năm trời trong một góc hội đường. Con người ấy không chỉ mang trên mình một gánh nặng bệnh tật về thể lý, mà sâu xa hơn, đó là hiện thân của một kiếp người bị giam hãm, bị quật ngã bởi những sức mạnh tối tăm, cúi gằm mặt xuống đất, hoàn toàn bất lực trước khát vọng vươn lên hướng về cõi vĩnh hằng. Mười tám năm là một khoảng thời gian đủ dài để mòn mỏi, đủ lâu để con người ta chấp nhận sự tuyệt vọng như một định mệnh không thể tránh khỏi. Thế nhưng, giữa chốn hội đường đông đúc nơi con người ta thường tìm kiếm những chuẩn mực luật pháp lạnh lùng, Đấng Cứu Thế đã hiện diện với ánh mắt thấu suốt tâm can và trái tim đầy ắp lòng thương xót. Ngài không chờ đợi người đàn bà khốn khổ ấy phải cất tiếng kêu xin thảm thiết, bởi vì Ngài đã đọc được trong dáng vẻ cúi rạp ấy một tâm hồn nghèo khó, khao khát được cứu độ dẫu bị đè nặng bởi bùn nháp của trần gian. Đức Giêsu chủ động dừng chân, chủ động cất tiếng gọi và đưa tay ra thực hiện một hành động mang tính biểu tượng vô tận cho công cuộc giải thoát toàn diện của Thiên Chúa.
Khi nhìn ngắm khung cảnh này, chúng ta không thể không đối chiếu với thực trạng của chính bản thân mình trong đời sống thiêng liêng. Đã bao nhiêu lần chúng ta cũng rơi vào trạng thái còng lưng như thế? Không hẳn là một thứ bệnh tật về xương khớp, mà là sự còng rạp của nội tâm trước sức nặng của những thói hư tật xấu, những vết thương lòng chưa được hàn gắn, và đặc biệt là những chiếc xiềng xích của tội lỗi cứ kéo cúi đầu chúng ta xuống sát mặt đất. Con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, được ban cho phẩm giá cao quý để hiên ngang ngước nhìn lên bầu trời sao, để chiêm ngắm vẻ đẹp của Đấng Tối Cao và hướng lòng về cõi bất tử. Thế nhưng, qua dòng thời gian của cuộc sống dâu bể, những lo toan vụn vặt, những ham muốn tầm thường, và sự dính bén tinh vi với tội lỗi đã biến chúng ta thành những kẻ còng lưng tinh thần. Chúng ta chỉ biết nhìn xuống đất, chỉ quen quẩn quanh với những lợi lộc mau qua, những giận hờn, ghen ghét, ích kỷ và những nỗi sợ hãi vô hình. Tâm hồn con người vốn dĩ được dựng nên cho cõi vô biên, cho sự bao la của tình yêu thần linh, nay lại tự giam hãm mình trong chiếc hộp chật hẹp của cái tôi ích kỷ. Sự gắn bó với tội lỗi không chỉ làm mất đi vẻ đẹp cao cả của phẩm giá con người, mà còn làm tê liệt hoàn toàn đôi cánh tự do của ân sủng, khiến chúng ta trở thành những kẻ bất lực trước những đòi hỏi cao thượng của Tin Mừng.
Trong bối cảnh u ám của sự giam hãm ấy, hành động của Đức Giêsu Kitô vang lên như một khúc ca khải hoàn của lòng thương xót vô biên. Ngài không đứng từ xa để phán quyết, cũng không dùng những lời khiển trách nặng nề, nhưng Ngài đến gần, cất tiếng gọi đầy trìu mến và đặt bàn tay quyền năng của Ngài lên con người khốn khổ ấy. Sự áp đặt đôi bàn tay thánh thiện của Chúa không phải là một nghi thức hình thức, mà là sự truyền thông trực tiếp sức sống thần linh, là nguồn mạch ân sủng chữa lành tận căn mọi thương tổn của thể xác lẫn tâm hồn. “Hỡi người nữ, ngươi đã được giải thoát khỏi chứng tật nguyền.” Một lời phán duy nhất nhưng mang sức mạnh sáng tạo thuở ban đầu, cắt đứt mọi xiềng xích của ma quỷ và lịch sử đau thương mười tám năm dài đằng đẵng. Ngay lập tức, người phụ nữ đứng thẳng người lên. Khoảnh khắc ấy thật huy hoàng biết bao! Lần đầu tiên sau gần hai thập kỷ, đôi mắt chị không còn phải dán chặt vào những viên gạch lạnh lẽo dưới chân, mà được ngước lên cao, thu trọn vào tầm nhìn khung trời cao rộng và ánh mắt đầy yêu thương dịu dàng của người Thầy Chí Thánh. Đó là khoảnh khắc của sự phục sinh tâm hồn, của sự giải thoát đích thực khi con người được trả lại đúng với phẩm giá con cái Thiên Chúa.
Thế nhưng, mầu nhiệm của lòng thương xót luôn vấp phải bức tường kiên cố của sự khép kín và lòng dạ hẹp hòi. Phản ứng của viên trưởng hội đường trong câu chuyện Tin Mừng chính là hiện thân kinh điển của thứ đạo đức hình thức, nơi lề luật được đặt lên trên con người, nơi sự câu nệ chữ nghĩa làm lu mờ hoàn toàn tinh thần bác ái cốt lõi của tôn giáo. Đối với con người cứng cỏi ấy, ngày sabat là một cái lồng kính bất khả xâm phạm, một thứ trật tự cứng nhắc không được phép lay chuyển bởi bất kỳ nỗi đau khổ nào của tha nhân. Ông ta tỏ ra phẫn nộ khi thấy Đức Giêsu làm phép lạ chữa lành, và lạnh lùng phán rằng con người có sáu ngày để làm việc, hãy quay lại vào những ngày đó chứ đừng phá vỡ sự tôn nghiêm của ngày nghỉ ngơi thánh thiêng. Sự giả hình này phơi bày một thảm kịch sâu xa của tâm hồn con người: dùng tôn giáo và danh nghĩa Thiên Chúa để che đậy sự vô cảm, dùng lề luật làm thứ vũ khí để từ chối xót thương. Viên trưởng hội đường có thể rất cẩn mật trong việc chu toàn các nghi thức bên ngoài, nhưng trái tim ông ta lại khô cằn, băng giá và hoàn toàn mù lòa trước sự biến đổi kỳ diệu đang diễn ra ngay trước mắt. Ông ta quan tâm nhiều hơn đến việc giữ gìn một quy định do con người diễn giải hơn là việc nhìn thấy một người con cái Abraham được cứu thoát khỏi cùm kẹp của Satan.
Đức Giêsu đã đập tan lớp mặt nạ đạo đức giả ấy bằng một lập luận sắc bén và đầy tình mẫu tử nhân bản. Ngài gọi họ là những kẻ giả hình, đồng thời đưa ra một so sánh thực tế không thể chối cãi: ngay cả một người chủ gia đình dù nghiêm khắc đến đâu, vào ngày sabat vẫn phải dỡ bỏ dây buộc để dẫn bò hay lừa đi uống nước, bởi vì đó là nhu cầu sinh tồn cơ bản của loài vật. Lẽ nào một con vật vô tri lại đáng được xót thương chăm sóc trong ngày sabat, còn một người phụ nữ – một người con gái chính cống của Abraham, người đã bị Satan xiềng xích suốt mười tám năm ròng rã – lại không đáng được tháo cũi sổ lồng ngay trong chính ngày thánh này hay sao? Lập luận ấy không chỉ đánh gục sự ngụy biện của đối thủ, mà còn làm bừng sáng bản chất đích thực của lề luật Thiên Chúa: luật pháp được ban ra là vì con người chứ không phải con người vì lề luật; đỉnh cao của mọi giới răn chính là tình yêu thương và lòng thương xót. Trước câu trả lời đanh thép và đầy tình người ấy, những kẻ chống đối ngượng ngùng cúi mặt trong sự hổ thẹn, trong khi toàn thể đám đông bừng lên niềm vui sướng khôn tả vì được chứng kiến những công trình kỳ diệu mà bàn tay từ ái của Thiên Chúa đang thực hiện giữa trần gian.
Sự kiện lịch sử trong hội đường ngày xưa ấy không dừng lại ở một trang Kinh Thánh đã khép lại, mà nó tiếp tục vang vọng mạnh mẽ trong đời sống của Hội Thánh hôm nay, đặc biệt qua các bí tích thánh thiêng. Khi Đức Giêsu đặt tay trên người phụ nữ còng lưng để giải thoát chị, Ngài đã thiết lập nên hình ảnh nguyên tuyền của hai bí tích chan chứa lòng thương xót: Bí tích Thánh Thể và Bí tích Hòa Giải. Trong mỗi cử hành phụng vụ, khi chúng ta tiến lên lãnh nhận Mình và Máu Thánh Chúa, hay khi chúng ta khiêm tốn quỳ gối trong tòa giải tội để thú nhận những bất toàn yếu đuối, đó chính là lúc Đấng Cứu Thế đang thực hiện lại hành động đặt tay chữa lành xưa kia. Bàn tay của linh mục đại diện cho Đức Giêsu đặt trên đầu người hối cải không phải là bàn tay của sự phán xét hay kết án, mà là bàn tay của sự tha thứ, của sức mạnh phục hồi phẩm giá. Trong bí tích Hòa Giải, những chiếc xiềng xích vô hình của tội lỗi, những mặc cảm tội lỗi đè nặng tâm hồn khiến chúng ta còng rạp xuống, đều bị đứt tung nhờ quyền năng của lòng thương xót hải hà. Thiên Chúa không đếm xỉa đến quá khứ lầm lạc của chúng ta, Ngài chỉ nhìn vào khát vọng muốn đứng thẳng lên để trở về bên Ngài.
Trải nghiệm được tha thứ và giải thoát mang lại một niềm vui sâu thẳm không thể diễn tả bằng lời. Cũng như người phụ nữ trong Tin Mừng sau khi được chữa lành đã ngước mắt lên nhìn Chúa và cất tiếng ngợi khen Người, tâm hồn người Kitô hữu sau khi kinh nghiệm được ơn tha thứ cũng bừng lên một thứ ánh sáng mới. Chúng ta không còn phải sống trong nỗi sợ hãi hay sự cúi gằm của kẻ tôi đòi tội lỗi, mà được mời gọi bước đi ngẩng cao đầu với tư cách là những người con yêu dấu của Cha trên trời. Niềm vui ấy không phải là thứ hân hoan hời hợt của trần thế, mà là sự an bình sâu thẳm phát xuất từ cõi lòng đã được thanh luyện, từ sự tái lập trọn vẹn mối tương quan mật thiết giữa thụ tạo và Đấng Tạo Hóa. Tuy nhiên, con người chúng ta rất mong manh và yếu đuối. Sức nặng của thói tục và những cạm bẫy của thế gian luôn rình rập để kéo chúng ta trở lại tư thế còng rạp quen thuộc. Đã bao nhiêu lần sau khi được giải thoát, chúng ta lại tự ý cúi đầu xuống, lại tìm cách trói buộc mình vào những đam mê thấp hèn và những toan tính ích kỷ? Chính vì thế, cuộc hành trình đức tin đòi hỏi sự tỉnh thức liên tục, một sự quyết tâm kiên trì hướng về ánh sáng để không bao giờ bị chìm đắm trở lại trong bóng tối của sự lãng quên.
Một trong những cạm bẫy tinh vi nhất mà ma quỷ thường dùng để ngăn cản chúng ta tiến bước chính là sự gắn bó ngấm ngầm với tội lỗi. Đôi khi, chúng ta quen thuộc với những xiềng xích của mình đến mức cảm thấy sợ hãi sự tự do. Giống như những người tù nhân sống quá lâu trong ngục tối, khi ánh sáng chói lọi của tự do chiếu vào, họ lại thấy chói mắt và muốn quay về với góc tối quen thuộc của mình. Sự gắn bó với tội lỗi tạo ra một thứ văn hóa khép kín, nơi con người tự giam mình trong chiếc vỏ bọc của cái tôi, từ chối sự đụng chạm cứu độ của Thiên Chúa vì sợ phải thay đổi lối sống. Khi một người chấp nhận sống chung với tội lỗi, tầm nhìn của họ bị bóp méo trầm trọng: chân trời cuộc đời bị thu hẹp lại chỉ bằng những nhu cầu vật chất trước mắt, những khát vọng vô biên về cõi vĩnh hằng bị dập tắt, và những tài năng cao quý mà Chúa ban tặng bị phung phí vào những nỗ lực xây dựng những lâu đài cát trên bờ biển cuộc đời. Những lâu đài ấy trông có vẻ lộng lẫy và kiêu hãnh trong chốc lát, nhưng rồi sẽ nhanh chóng sụp đổ hoàn toàn khi những con sóng thử thách của cuộc đời ập đến, để lại sau lưng một sự hoang tàn trống rỗng khôn cùng.
Để vượt qua cạm bẫy này, chúng ta cần phải nuôi dưỡng trong tâm hồn những khát vọng đích thực, những ước mơ lớn lao mà chỉ có Thiên Chúa mới có thể lấp đầy. Trái tim con người được sinh ra từ cõi vô hạn, vì thế nó sẽ không bao giờ cảm thấy thỏa mãn với những niềm vui chóng qua của thế gian. Bất cứ sự cố gắng nào nhằm tìm kiếm hạnh phúc ngoài Thiên Chúa đều chỉ là một vòng quay luẩn quẩn, đưa con người đi trong vô định mà không bao giờ tới đích. Khi chúng ta hướng trọn vẹn cõi lòng về phía Đấng Tối Cao, khi chúng ta cho phép lòng thương xót của Ngài đập tan mọi xiềng xích cũ kỹ, tư thế của chúng ta sẽ hoàn toàn thay đổi. Chúng ta không còn là những kẻ cúi mặt trong tuyệt vọng, mà trở thành những chứng nhân của niềm hy vọng, những người lữ hành hân hoan bước đi trên con đường hướng về Vương Quốc ánh sáng. Sống đời sống Kitô hữu vì thế không phải là một chuỗi những cấm cách nặng nề hay những luật lệ khô khan theo kiểu của viên trưởng hội đường, mà là một cuộc phiêu lưu tuyệt vời của tình yêu, nơi mỗi bước đi đều được dẫn dắt bởi ơn sủng và mỗi nhịp đập của trái tim đều vang lên khúc ca cảm tạ hồng ân cứu độ.
Nhìn lại lịch sử cứu độ cũng như hành trình của từng cá nhân, chúng ta thấy rõ bàn tay quan providenz (quan phòng) của Thiên Chúa luôn hoạt động một cách kỳ diệu. Ngài không chịu đứng nhìn con cái mình phải quằn quại dưới ách nô lệ của sự dữ. Sự kiện Đức Giêsu chữa lành người phụ nữ còng lưng ngay trong ngày sabat là một tuyên ngôn mạnh mẽ về quyền tối thượng của tình yêu Thiên Chúa trên mọi lề luật hình thức. Đối với Thiên Chúa, con người luôn là trung tâm của mọi chương trình cứu độ. Mọi nghi lễ, mọi đền thờ, mọi hình thức tôn thờ suy tôn Ngài sẽ trở nên vô nghĩa nếu thiếu đi lòng thương cảm thực sự đối với nỗi đau khổ của đồng loại. Bài học này vang lên như một lời cảnh tỉnh nghiêm khắc cho mọi thế hệ Kitô hữu: chúng ta không thể gọi mình là môn đệ của Đấng Giêsu nếu chúng ta sống dửng dưng trước những nỗi thống khổ, những gánh nặng đè oằn vai của anh chị em xung quanh. Sứ mạng của Hội Thánh giữa lòng thế giới hôm nay chính là tiếp nối đôi bàn tay chữa lành của Chúa Kitô, đem ơn giải thoát đến cho những ai đang bị giam cầm trong ngục tối của sự cô đơn, đói nghèo, bệnh tật và tội lỗi.
Để có thể trở thành những cánh tay nối dài của lòng thương xót Chúa, trước hết mỗi chúng ta phải để cho chính mình được Ngài chữa lành. Không ai có thể trao ban thứ mà mình không có. Nếu tâm hồn chúng ta vẫn đang bị còng rạp bởi sự ích kỷ, giận hờn hay những định kiến hẹp hòi, chúng ta sẽ không thể nâng đỡ được ai khác. Việc canh tân đời sống thiêng liêng đòi hỏi một sự dũng cảm phi thường: dũng cảm đối diện với những góc tối của bản thân, dũng cảm đưa những vết thương ra trước ánh sáng của lòng thương xót Chúa qua bí tích hòa giải, và dũng cảm từ bỏ những thói quen xấu đã bám rễ sâu xa trong tâm hồn. Đó là tiến trình lột xác đau đớn nhưng vô cùng cần thiết để mỗi người chúng ta có thể đứng thẳng dậy, ngẩng cao đầu bước đi trong sự tự do đích thực của con cái Chúa. Sự tự do ấy không cho phép chúng ta buông thả theo những dục vọng thấp hèn, nhưng là nguồn sức mạnh nội tâm giúp chúng ta hiên ngang sống trọn vẹn giới răn yêu thương, dấn thân phục vụ anh chị em với một trái tim rộng mở và quảng đại.
Con đường theo Chúa chưa bao giờ là một con đường bằng phẳng, trải đầy hoa hồng. Thế giới chung quanh chúng ta vẫn đầy rẫy những cám dỗ muốn kéo chúng ta cúi rạp xuống, vẫn có những thứ “lề luật giả hình” muốn bóp nghẹt lòng trắc ẩn và sự tự do trong tinh thần Tin Mừng. Đôi khi, việc sống trung thành với những giá trị cao cả của Chúa sẽ vấp phải sự hiểu lầm, sự chống đối hay thậm chí là sự chế nhạo từ một xã hội đang ngày càng tục hóa và dửng dưng với các giá trị thiêng liêng. Trong những hoàn cảnh ấy, hình ảnh người phụ nữ ngước mắt lên nhìn Chúa sau khi được chữa lành phải trở thành ngọn hải đăng soi sáng cho bước chân chúng ta. Dù thế giới chung quanh có ra sao, dù những áp lực của cuộc sống có nặng nề đến đâu, chúng ta hãy luôn giữ vững tư thế của người được cứu độ: đứng thẳng, ngẩng cao đầu và hướng trọn niềm tin tưởng về phía Đức Kitô – Đấng là nguồn mạch sự sống và là cùng đích của mọi khát vọng con người.
Khi suy ngắm về cuộc đời mình dưới ánh sáng của mầu nhiệm cứu độ, chúng ta nhận ra rằng mỗi ngày sống đều là một cơ hội mới mà Thiên Chúa ban tặng để chúng ta canh tân tâm hồn. Không có sự còng rạp nào là vĩnh viễn nếu chúng ta mở lòng đón nhận ơn sủng của Chúa. Những vấp ngã trong quá khứ, những yếu đuối của hiện tại không bao giờ đủ sức giam hãm chúng ta mãi mãi trong tuyệt vọng, bởi vì quyền năng của lòng thương xót Chúa lớn hơn bất kỳ tội lỗi hay giới hạn nào của con người. Điều quan trọng nhất là chúng ta có dám khiêm tốn bước đến với Ngài, có dám để cho bàn tay từ ái của Ngài chạm đến những vết thương lòng sâu kín nhất hay không. Một khi chúng ta chịu để cho Chúa giải thoát, toàn bộ cảnh trí cuộc đời sẽ thay đổi hoàn toàn: từ một cõi trần gian chật hẹp, u ám và đầy những lo toan vụn vặt, chúng ta bước vào một không gian bao la của tình yêu thần linh, nơi mọi đau khổ đều được nâng niu và mọi giọt nước mắt đều được lau khô bởi chính bàn tay dịu hiền của Cha trên trời.
Hành trình đức tin của chúng ta vì thế là một tiến trình không ngừng vươn lên cao, từ bỏ những thấp hèn để hướng về những giá trị cao cả vĩnh cửu. Chúng ta được mời gọi trở thành những con người đứng thẳng – những con người không cúi đầu trước bất kỳ quyền lực tăm tối nào của trần gian, không khom lưng trước những cám dỗ của vật chất và quyền lực, nhưng luôn hiên ngang bước đi trong ánh sáng của chân lý và tình yêu. Tư thế đứng thẳng ấy chính là lời chứng hùng hồn nhất về một tâm hồn đã được cứu chuộc, một minh chứng sống động cho thấy quyền năng của Thiên Chúa vẫn đang hoạt động mạnh mẽ giữa dòng đời hôm nay. Khi chúng ta sống với tư thế ấy, cuộc sống của chúng ta sẽ trở thành một bài ca ngợi khen chúc tụng Thiên Chúa không ngừng, giống như người phụ nữ trong hội đường xưa sau khi được chữa lành đã cất tiếng tung hô vinh quang Người trước mặt mọi người.
Trong tâm tình phó thác và ngập tràn lòng biết ơn trước những hồng ân hải hà mà Thiên Chúa không ngừng tuôn đổ xuống trên cuộc đời mỗi người chúng ta, hãy để cho tâm hồn mình được lắng đọng sâu xa trong sự hiện diện đầy yêu thương của Ngài. Xin Chúa chúc lành cho những bước chân lữ hành của chúng ta, xin Ngài nâng đỡ những yếu đuối bấp bênh của phận người, và xin bàn tay từ ái của Ngài luôn đặt trên cuộc đời chúng ta để giải thoát chúng ta khỏi mọi xiềng xích của sự dữ. Ngõ hầu, qua mỗi chặng đường đời, dẫu phải đối mặt với muôn vàn giông bão thử thách, chúng ta vẫn luôn giữ vững tư thế của những người con cái ánh sáng, hiên ngang ngẩng cao đầu hướng về quê hương vĩnh cửu, nơi tình yêu và lòng xót thương của Thiên Chúa bao trùm muôn thuở muôn đời.
Lm. Anmai, CSsR
SỨC MẠNH CỦA SỰ THỜ PHƯỢNG ĐÍCH THỰC VÀ TÌNH YÊU CHỮA LÀNH
TRONG ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI GIAN VÀ KHÔNG GIAN THÁNH THIỆNG
Cuộc sống con người từ ngàn xưa cho đến nay luôn bị chi phối bởi những nhịp điệu tự nhiên và siêu nhiên, trong đó thời gian và không gian đóng vai trò là những khung cửa mở ra chiều kích vĩnh cửu. Khi bước chân vào một ngôi thánh đường, không gian ấy không chỉ đơn thuần là gạch đá, gỗ lợp hay những bức tranh kính màu lộng lẫy phản chiếu ánh sáng mặt trời, mà là một không gian được thánh hiến, nơi trời và đất giao hòa, nơi con người yếu đuối và giới hạn được mời gọi bước vào cuộc đối thoại mật thiết với Đấng Tạo Hóa. Trong không gian ấy, thời gian dường như ngưng đọng lại, không còn bị cuốn theo dòng chảy hối hả của toan tính, lo âu, cơm áo gạo tiền hay những áp lực dồn dập của thế giới hiện đại. Ngày nghỉ ngơi, ngày thánh hiến, ngày của sự kết hiệp trọn vẹn với Thiên Chúa được đặt ra không phải để ràng buộc con người trong những luật lệ cứng nhắc, mà là để giải phóng họ khỏi những gánh nặng đè nát phẩm giá và tương lai của chính mình.
Tuy nhiên, trải qua các thời đại, tâm thức con người thường có xu hướng biến những quy định thiêng liêng thành những chiếc xích xiềng nặng nề. Thay vì nhìn thấy tình yêu và lòng thương xót là cốt lõi của mọi lề luật, người ta lại dễ rơi vào cái bẫy của sự câu nệ hình thức, nơi mà lề luật trở thành thần tượng và con người lại trở thành nạn nhân của chính những thể chế do mình đặt ra. Sự lệch lạc này không chỉ làm phai mờ dung mạo nhân hậu của Thiên Chúa, mà còn biến tôn giáo thành một thứ quyền lực áp đặt, bóp nghẹt sự sống và làm tê liệt niềm hy vọng của những mảnh đời bất hạnh. Đứng trước thực trạng đó, tiếng gọi canh tân và trở về với tinh thần cốt lõi của Tin Mừng luôn là một nhu cầu cấp bách cho mọi thế hệ Kitô hữu. Đó là tiếng gọi phá vỡ bức tường của sự giả hình, vượt qua những rào cản của định kiến xã hội và tôn giáo để chạm đến tận cùng nỗi đau của con người bằng một tình yêu đích thực và hành động cứu độ mang tính giải phóng toàn diện.
HÀNH TRÌNH VƯỢT QUA SỰ GỤC NGÃ VÀ NHỮNG VẾT THƯƠNG THẦM LẶNG
Nhìn sâu vào bức tranh nhân thế, mỗi con người chúng ta đều mang trong mình ít nhiều những vết thương, những gánh nặng vô hình khiến cuộc đời không thể vươn lên trọn vẹn theo thánh ý Thiên Chúa. Có những nỗi đau thể xác hành hạ ngày đêm, nhưng cũng có những nỗi đau tinh thần, những sự tổn thương tâm lý sâu sắc do năm tháng đè nặng lên tâm hồn, biến con người thành những thực thể gục ngã, cúi mặt xuống đất và hoàn toàn bất lực trước tương lai của chính mình. Hình ảnh người phụ nữ bị còng cược suốt mười tám năm trời trong khung cảnh hội đường là biểu tượng sống động và chân thực nhất cho tình trạng hiện sinh của nhân loại sa ngã. Mười tám năm là một khoảng thời gian dài đằng đẵng, đủ để bào mòn mọi sức lực, mọi niềm tin và hy vọng, biến một thụ tạo được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa trở thành kẻ chỉ biết nhìn xuống mặt đất, bị trói buộc bởi một sức mạnh tối tăm vô hình.
Điều bi đát hơn nữa là sự hiện diện của người phụ nữ ấy giữa cộng đoàn thánh thiện đôi khi lại chỉ nhận lại sự dửng dưng, quen thuộc đến lạnh lùng. Người ta đã quá quen với hình bóng còng cược ấy đến mức coi đó là một phần hiển nhiên của cảnh ngộ, hoặc thậm chí là sự trừng phạt, là điều không đáng để bận tâm trong những giờ phút sinh hoạt tôn giáo trang nghiêm. Sự vô cảm của cộng đồng đôi khi còn nhẫn tâm hơn cả căn bệnh thể lý, bởi nó đẩy con người vào một sự cô đơn tuyệt đối ngay giữa chốn đông người. Thế nhưng, giữa không gian ngột ngạt và đầy định kiến ấy, sự hiện diện của Đức Giêsu đã làm đảo lộn mọi trật tự giả tạo. Ngài không làm ngơ trước nỗi đau âm ỉ đó. Ánh mắt của Ngài không quét qua với sự thương hại hời hợt, nhưng là một cái nhìn thấu suốt tâm can, một cái nhìn đầy trắc ẩn và quyền năng. Ngài chủ động phá vỡ bầu không gian im lặng nặng nề, cất tiếng gọi chị ra khỏi sự vô hình của đám đông, bước vào ánh sáng của sự chú ý và tình yêu thương trọn vẹn.
SỰ CHẠM ĐẾN CỦA TÌNH YÊU THẦN LINH VÀ PHẨM GIÁ ĐƯỢC PHỤC HỒI
Hành động của Đức Giêsu đối với người phụ nữ còng cược mang một ý nghĩa thần học và nhân antropologique vô cùng sâu sắc. Khi Ngài đặt tay trên người phụ nữ ấy, đó không chỉ đơn thuần là một cử chỉ chữa lành y khoa, mà là một sự truyền thông sinh lực thần linh, một dòng chảy ân sủng xóa tan đi bóng tối của sự dữ đã giam hãm con người trong suốt gần hai thập kỷ. Đặt tay là hành động của sự hiệp thông, của sự chia sẻ và đón nhận. Đức Giêsu không sợ bị ô uế bởi sự bệnh tật hay bởi những định luật thanh tẩy hình thức của thời đại; Ngài sẵn sàng bước qua ranh giới của sự cấm kỵ để chạm vào nỗi đau đớn tận cùng của con người. Khoảnh khắc đôi bàn tay đầy quyền năng và dịu hiền ấy chạm vào tấm lưng còng cược cũng chính là khoảnh khắc lịch sử của một cuộc đời được tái sinh từ đống tro tàn của sự tuyệt vọng.
Ngay lập tức, điều kỳ diệu đã xảy ra: người phụ nữ ấy đứng thẳng lên được. Sự kiện đứng thẳng không đơn thuần là cột sống được duỗi thẳng sau nhiều năm co quắp, mà là sự phục hồi phẩm giá của một “người con gái của Abraham”. Ngài đã trả lại cho chị tư thế đứng thẳng đích thực của một con người tự do, tư thế của kẻ ngẩng cao đầu hướng về trời cao, hướng về Thiên Chúa là Cha nhân hậu chứ không còn phải cúi mặt nhìn xuống đất đen của sự tự ti và đau khổ. Phản ứng đầu tiên của người phụ nữ ấy không phải là sự ngỡ ngàng hay vui sướng ích kỷ cho bản thân, mà là “ngợi khen Thiên Chúa”. Điều này cho thấy sự chữa lành của Đức Giêsu đã chạm đến tận gốc rễ tâm linh của con người, đánh thức nơi sâu thẳm cõi lòng sự biết ơn vô biên và lòng kính thờ chân chính. Sự phục hồi thể lý và tâm linh hòa quyện làm một, mở ra một chương mới cho cuộc đời vốn dĩ đã bị chôn vùi trong bóng tối. Qua hành động này, Thiên Chúa mạc khải ý định tối hậu của Ngài: Ngài không muốn con người bị đè nặng bởi bất kỳ ách nô lệ nào, dù là bệnh tật, tội lỗi hay những lề luật sai lạc bóp nghẹt sự sống.
SỰ ĐỐI LẬP GIỮA LỀ LUẬT HÌNH THỨC VÀ LÒNG THƯƠNG XÓT SỐNG ĐỘNG
Tuy nhiên, ánh sáng của lòng thương xót luôn vấp phải bóng tối của sự hẹp hòi và lòng dạ chai đá. Phản ứng đầy phẫn nộ và cay đắng của người lãnh đạo hội đường là hiện thân tiêu biểu cho một thứ tôn giáo đã đánh mất linh hồn, chỉ còn lại cái xác khô của những điều luật chết chóc. Đối với vị thủ lãnh ấy, ngày Sabát là một bức tường bất khả xâm phạm, một thứ trật tự hình thức tuyệt đối vượt lên trên cả sinh mạng và phẩm giá của con người. Sự bất bình của ông ta không xuất phát từ lòng nhiệt thành kính mến Thiên Chúa thực sự, mà từ sự kiêu ngạo của kẻ nắm giữ quyền lực tôn giáo, cảm thấy bị đe dọa khi thấy quyền lợi và trật tự quen thuộc của mình bị đảo lộn bởi một vị ngôn sứ mang đến hơi thở tự do đích thực. Ông ta thà nhìn thấy một người con gái của Abraham tiếp tục quằn quại trong đau khổ thêm một ngày, còn hơn là thấy lề luật truyền thống bị “xâm phạm” theo quan điểm hẹp hòi của mình.
Đức Giêsu không ngần ngại vạch trần tận gốc sự giả hình sâu xa ẩn giấu sau vẻ bề ngoài đạo đức giả hiệu đó. Câu trả lời sắc bén và đầy tính giáo dục của Ngài nhắm thẳng vào sự mâu thuẫn trong chính hành xử thường ngày của những kẻ chỉ trích: ngay cả trong ngày Sabát, chính những con người đạo đức giả ấy vẫn sẵn sàng tháo cũi sổ lồng cho con bò hay con lừa để dắt nó đi uống nước, bởi vì điều đó liên quan đến lợi ích vật chất và sự sống còn của tài sản gia đình họ. Vậy mà, khi đứng trước một con người bằng xương bằng thịt, một sinh mệnh linh thiêng mang hình ảnh Thiên Chúa đang oằn mình chịu đựng sự kiềm tỏa của ma quỷ suốt mười tám năm trời, họ lại lớn tiếng lên án việc mang lại sự sống và sự tự do cho người đó. Sự so sánh sắc bén này lột trần toàn bộ sự vô cảm, ích kỷ và tính toán ti tiện của một thứ đạo đức hình thức. Thiên Chúa không bao giờ là kẻ thù của sự sống; Ngài là Chủ tể của sự sống và mọi lề luật chân chính đều phải quy hướng về việc tôn trọng, bảo vệ và thăng tiến con người.
CHIỀU KÍCH CỦA SỰ TỰ DO NỘI TÂM VÀ HƯỚNG ĐI CHO ĐỜI SỐNG KITÔ HỮU
Câu chuyện chữa lành người phụ nữ còng cược không chỉ là một sự kiện lịch sử trong hành trình trần thế của Đức Giêsu, mà còn là một bức thông điệp ngàn đời gửi đến tâm hồn mỗi Kitô hữu trên bước đường lữ hành đức tin. Tất cả chúng ta, trong những mức độ khác nhau, đôi khi cũng mang trong mình những sự “còng cược” thiêng liêng. Đó có thể là sự ích kỷ khiến chúng ta chỉ biết nhìn vào bản thân mình, quy hướng mọi suy nghĩ và hành động vào cái tôi hẹp hòi mà quên đi tha nhân. Đó có thể là những nỗi buồn, sự thất vọng, những vết thương lòng chưa được chữa lành khiến chúng ta mất đi khả năng hy vọng và vươn lên. Đó cũng có thể là những định kiến, những lề thói cũ kỹ, những thói hư tật xấu bủa vây tâm hồn, biến chúng ta thành những nô lệ cho tội lỗi và sự tầm thường. Chúng ta cúi mặt trước những quy luật vật chất của thế gian, trước những áp lực của danh vọng, tiền tài và quyền lực, để rồi quên mất rằng mình được dựng nên để ngẩng đầu nhìn lên trời cao.
Đức Giêsu vẫn đang tiếp tục bước vào những “hội đường” của cuộc đời chúng ta hôm nay, vào những không gian quen thuộc của gia đình, công sở, cộng đoàn xứ đạo, nơi đôi khi chúng ta đang sống trong sự khô khan, nguội lạnh và hình thức. Ngài gọi mỗi người chúng ta ra khỏi sự ẩn náu của sự yếu đuối và giả hình. Ngài muốn đặt tay trên những vết thương lòng sâu kín nhất của chúng ta để truyền ban ơn tha thứ và sự bình an. Đón nhận ơn cứu độ của Đức Giêsu đồng nghĩa với việc can đảm đứng thẳng lên, từ bỏ lối sống cúi mình trước những giá trị tầm thường của trần gian để bước vào tự do của con cái Chúa. Sự tự do ấy không phải là sự phóng túng muốn làm gì thì làm, mà là khả năng tuyệt vời để yêu thương, để tha thứ và để sống trọn vẹn phẩm giá cao quý mà Thiên Chúa đã thương ban từ thuở tạo thiên lập địa.
NIỀM VUI CỦA CỘNG ĐOÀN ĐÍCH THỰC VÀ SỰ BIẾN ĐỔI TÂM HỒN
Phản ứng của đám đông sau khi chứng kiến phép lạ và nghe những lời lẽ đầy uy quyền của Đức Giêsu tạo nên một bức tranh tương phản tuyệt đẹp với thái độ hổ thẹn của những kẻ chống đối. “Tất cả đám đông đều vui mừng vì những việc lẫy lừng Người đã thực hiện.” Sự vui mừng ấy không chỉ là cảm xúc phấn khích trước một hiện tượng kỳ lạ, mà là niềm vui thiêng liêng sâu xa của những con người nhận ra rằng Thiên Chúa đang ở giữa dân Người, một Thiên Chúa gần gũi, xót thương và đầy quyền năng cứu độ. Khi một con người được phục hồi phẩm giá, niềm vui ấy lan tỏa và thấm đượm vào toàn thể cộng đồng. Đó chính là bản chất đích thực của Hội Thánh: một gia đình hiệp thông trong tình yêu, nơi không ai bị bỏ quên trong bóng tối của sự đau khổ hay sự phán xét lạnh lùng, nhưng mọi thành viên đều được nâng đỡ để vươn tới sự trọn lành.
Sự biến đổi tâm hồn đòi hỏi mỗi người chúng ta phải có một cái nhìn mới về tha nhân và về chính bản thân mình. Thay vì đóng vai những người phán xét cay nghiệt như vị thủ lãnh hội đường, chúng ta được mời gọi trở thành những chứng nhân của lòng thương xót. Nhìn ngắm người khác không phải qua lăng kính của lỗi lầm hay định kiến, mà qua ánh mắt yêu thương và thấu cảm của Thiên Chúa. Đó là lời mời gọi từ bỏ sự cứng nhắc trong lề luật để ôm ấp tinh thần của Tin Mừng: tình yêu lớn hơn tất cả, và luật pháp được đặt ra vì con người chứ không phải con người vì luật pháp. Khi tâm hồn được giải thoát khỏi những xiềng xích của sự ích kỷ và hình thức, cuộc sống của chúng ta sẽ trở thành một bản hợp ca ngợi vinh quang Thiên Chúa, giống như người phụ nữ được chữa lành ngày nào đã cất tiếng ngợi khen Ngài ngay giữa hội đường trong sự ngỡ ngàng và hoan hỉ của toàn dân.
Lm. Anmai, CSsR
SỨC MẠNH CỦA ÂN SỰ VÀ SỰ GIẢI THOÁT TRONG TÌNH YÊU THIÊN CHÚA
Cuộc đời của mỗi con người là một chuỗi những bước chân đi tìm kiếm ý nghĩa, hạnh phúc và sự bình an đích thực giữa bao thăng trầm của trần gian. Đôi khi, dọc theo nẻo đường trần thế ấy, chúng ta mang theo những gánh nặng vô hình: sự mệt mỏi của thể xác, những vết thương sâu thẳm trong tâm hồn, và trên hết là sức nặng của tội lỗi hay những thói hư tật xấu cứ mãi kéo cúi gằm tinh thần chúng ta xuống sát mặt đất. Con người trong hoàn cảnh tự nhiên thường dễ rơi vào tình trạng u mê, cằn cỗi và bị trói buộc bởi những định kiến, sợ hãi hoặc sự giam cầm của ích kỷ. Tuy nhiên, Thiên Chúa – Đấng giàu lòng xót thương và đầy quyền năng – không bao giờ dửng dưng đứng nhìn tạo vật của Ngài lầm lũi trong đau khổ. Ngài luôn chủ động bước vào lịch sử nhân loại, bước vào từng không gian hẹp hòi của cuộc đời chúng ta để đem lại ánh sáng, sự tự do và niềm hy vọng mới.
Mỗi dịp suy niệm về mầu nhiệm cứu độ, đặc biệt trong khung cảnh phụng vụ của những tuần lễ thường niên, chúng ta được mời gọi hướng trọn cõi lòng về Đức Giêsu Kitô – Đấng Cứu Độ duy nhất. Ngài không chỉ là một nhân vật lịch sử vang bóng trong quá khứ, nhưng là Đấng đang hiện diện sống động giữa chúng ta hôm nay. Ngài quan sát từng nỗi thống khổ thầm kín của chúng ta, thấu cảm mọi giọt nước mắt nghẹn ngào và thấu hiểu cả những chuỗi ngày dài chúng ta phải cúi mặt đối diện với những nghịch cảnh của cuộc đời. Bài suy niệm này mở ra một chân trời mới, nơi ơn thánh của Thiên Chúa đụng chạm đến những ngóc ngách tăm tối nhất của tâm hồn, mời gọi chúng ta vươn lên, ngẩng cao đầu và bước đi trong tư thế của những người con cái ánh sáng.
Nhìn vào thực tại nhân sinh, chúng ta dễ dàng nhận ra hình ảnh của một nhân loại đang bị đè nặng bởi vô số những xiềng xích tinh thần. Giống như người phụ nữ trong câu chuyện Tin Mừng bị còng lưng suốt mười tám năm trời, không thể nào ngẩng mặt lên nhìn trời cao hay nhìn thẳng vào khuôn mặt của đồng loại, con người hiện đại cũng đang rơi vào tình trạng cong vẹo về mặt tâm linh. Mười tám năm là một khoảng thời gian dài đằng đẵng, đủ để biến sự đau đớn trở thành một thói quen, biến sự cúi gằm thành một tư thế mặc nhiên của cuộc sống. Khi con người xa rời cội nguồn sự sống, khi tâm hồn bị chi phối bởi những lo toan vật chất, sự ghen tị, lòng đố kỵ và những tội lỗi thâm căn cố đế, thì linh hồn cũng dần mất đi sự thẳng thắn, thanh thoát ban đầu.
Sự cúi gằm ấy biểu trưng cho một tâm hồn hướng thượng đã bị đánh gục bởi những sức nặng của trần thế. Chúng ta thường chỉ nhìn thấy bùn đất dưới chân, chỉ thấy những lo lắng cơm áo gạo tiền, những toan tính hơn thua, mà quên mất rằng phía trên kia là bầu trời cao rộng, là tình yêu bao la và sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa. Sự bất lực của con người nằm ở chỗ, dù có cố gắng đến đâu bằng sức riêng của mình, chúng ta cũng không tài nào tự bứt phá ra khỏi những giới hạn tội lỗi và sự yếu đuối đó. Càng cố gắng vẫy vùng, đôi khi chúng ta lại càng cảm thấy mình bị chìm sâu hơn vào vũng lầy của sự thất vọng.
Chính trong bối cảnh tối tăm và bế tắc ấy, Đức Giêsu Kitô xuất hiện. Ngài không đứng từ xa để phán xét hay đưa ra những triết lý lạnh lùng về đạo đức. Ngài chủ động đến gần, bước vào hội đường – nơi biểu trưng cho cộng đoàn đức tin, nơi con người tụ họp để tìm kiếm ơn cứu độ – và ánh mắt đầy lòng trắc ẩn của Ngài lập tức dừng lại trên người phụ nữ khốn khổ kia. Chúa không chờ đợi người ta phải hoàn hảo mới đến với Ngài; trái lại, chính sự khốn cùng, bất lực và đau khổ của con người lại là nam châm thu hút lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa.
Khoảnh khắc Đức Giêsu gọi người phụ nữ lại là một bước ngoặt đầy xúc động trong lịch sử ơn cứu độ cá nhân của mỗi người chúng ta. Ngài cất tiếng gọi chị ra khỏi đám đông vô cảm, ra khỏi sự lãng quên của xã hội và ra khỏi chính nỗi mặc cảm tội lỗi của bản thân. Tiếng gọi ấy mang theo sức mạnh sáng tạo thuở ban đầu, tiếng gọi đánh thức phẩm giá cao quý của một người con cái Chúa vốn bị vùi lấp dưới lớp bụi thời gian và đau khổ.
Đức Giêsu không chỉ dừng lại ở lời gọi, Ngài tiến đến và đặt tay trên người phụ nữ ấy. Hành động đặt tay mang ý nghĩa thần học vô cùng sâu sắc. Đó là sự tiếp xúc giữa quyền năng thần linh và sự yếu đuối phàm nhân, giữa tình yêu vô biên và nỗi thống khổ hữu hạn. Qua đôi bàn tay của Chúa Giêsu, ơn thánh truyền qua như dòng điện của sự sống, bẻ gãy mọi xiềng xích của ma quỷ và bệnh tật đã giam cầm con người suốt bao nhiêu năm tháng.
Ngay lập tức, điều kỳ diệu xảy ra: người phụ nữ được đứng thẳng lên. Tư thế đứng thẳng ấy không chỉ đơn thuần là sự phục hồi của xương cốt hay cơ bắp, mà là sự phục hồi trọn vẹn phẩm giá con người. Lần đầu tiên sau mười tám năm đằng đẵng, chị được phép ngước nhìn bầu trời trong xanh, nhìn thấy ánh sáng mặt trời rực rỡ và nhất là được chiêm ngắm khuôn mặt đầy ắp tình yêu thương của Đấng Cứu Thế. Phản ứng đầu tiên của người phụ nữ sau khi được chữa lành chính là ca tụng Thiên Chúa. Sự biết ơn trào dâng từ đáy lòng trở thành khúc ca tạ ơn tuyệt đẹp dâng lên Đấng đã đổi mới cuộc đời chị. Điều này nhắc nhở chúng ta rằng, mỗi ơn lành chúng ta nhận lãnh từ Thiên Chúa, đặc biệt là ơn tha thứ tội lỗi và ơn giải thoát khỏi những u mê tâm linh, đều phải dẫn đưa chúng ta đến thái độ ngợi khen, tạ ơn và tôn vinh danh thánh Ngài trong mọi hoàn cảnh sống.
Tuy nhiên, bức tranh Tin Mừng không chỉ có ánh sáng của lòng thương xót mà còn làm nổi bật những góc tối của lòng người, được thể hiện qua thái độ của viên trưởng hội đường. Khi chứng kiến một phép lạ vĩ đại xảy ra, một sinh mạng được cứu thoát khỏi sự kìm kẹp của đau khổ, thì thay vì chung vui và ngợi khen Thiên Chúa, viên trưởng hội đường lại tỏ ra tức giận, phẫn nộ. Lý do ông ta đưa ra thật vô lý và cứng nhắc: vì đó là ngày Sabát, ngày nghỉ ngơi theo luật lệ, và việc chữa bệnh được coi là vi phạm lề luật.
Đây là căn bệnh trầm kha của chủ nghĩa hình thức cực đoan và lòng dạ hẹp hòi. Khi con người ta đánh mất tình yêu thương, lề luật sẽ trở thành một thứ xiềng xích vô nhân đạo, bóp nghẹt lòng trắc ẩn và biến tôn giáo thành một thứ công cụ để phán xét thay vì cứu độ. Viên trưởng hội đường đại diện cho những ai chỉ biết bám vào chữ nghĩa của luật lệ mà quên mất tinh thần cốt lõi của Lề Luật, đó chính là tình yêu mến Chúa và thương xót tha nhân. Đối với họ, quy tắc thủ tục quan trọng hơn sinh mạng con người, hình thức bên ngoài quan trọng hơn sự biến đổi nội tâm bên trong.
Đức Giêsu đã không ngần ngại vạch trần sự giả hình và tâm địa u tối ấy bằng những lời lẽ sắc bén nhưng tràn đầy tình lý. Ngài gọi họ là những kẻ đạo đức giả, vì ngay cả một con vật như con bò hay con lừa trong ngày Sabát, người ta còn biết tháo chuồng dẫn đi uống nước, huống chi đây là một người con cháu của Abraham đã bị Satan trói buộc suốt mười tám năm trời, lại không được phép giải thoát vào ngày Sabát sao? Lời quở trách của Chúa Giêsu là một tiếng chuông cảnh tỉnh cho mọi thế hệ Kitô hữu: lòng trắc ẩn và tình yêu thương bác ái luôn đứng ở vị trí tối thượng. Bất cứ lề luật hay truyền thống nào cản trở việc cứu giúp con người, cản trở việc thể hiện lòng xót thương đều đi ngược lại với ý muốn ngàn đời của Thiên Chúa.
Suy gẫm về biến cố này, mỗi người chúng ta được mời gọi soi chiếu bản thân vào tấm gương của lịch sử cứu độ. Liệu trong đời sống thiêng liêng của chính mình, chúng ta có đang rơi vào tình trạng bị còng lưng bởi những gánh nặng của thói hư tật xấu, của sự dửng dưng, hay sự ích kỷ cá nhân hay không? Đôi khi chúng ta không bị còng thân xác như người phụ nữ trong Tin Mừng, nhưng tâm hồn chúng ta lại bị trói buộc bởi vô số những sợi dây vô hình: sự giận hờn không muốn tha thứ, lòng tham lam vật chất, sự kiêu ngạo tự phụ hay những nỗi sợ hãi bất an kéo dài.
Chúa Giêsu vẫn đang đi qua cuộc đời chúng ta qua từng thánh lễ, qua các bí tích thánh thiện, đặc biệt là Bí tích Hòa Giải và Bí tích Thánh Thể. Trong Bí tích Hòa Giải, chính là lúc Chúa đặt tay lên tâm hồn chúng ta, lắng nghe những yếu đuối và ban ơn tha thứ để bẻ gãy mọi xiềng xích tội lỗi. Trong Bí tích Thánh Thể, chính là lúc Ngài ban cho chúng ta nguồn sức sống thần linh để nuôi dưỡng ý chí, giúp chúng ta đứng thẳng và bước đi hiên ngang trên con đường nhân đức.
Hoán cải không phải là một sự kiện diễn ra một lần rồi thôi, mà là một tiến trình liên lỉ suốt cả cuộc đời. Đó là sự từ bỏ ngày qua ngày những toan tính thấp hèn để mở rộng cõi lòng đón nhận ánh sáng chân lý. Khi chúng ta để cho lòng thương xót của Chúa biến đổi, chúng ta cũng sẽ nhìn tha nhân bằng ánh mắt của tình yêu thương chứ không phải bằng lăng kính phán xét khắt khe của viên trưởng hội đường. Chúng ta học cách tha thứ cho những kẻ xúc phạm đến mình, học cách san sẻ nhọc nhằn với những mảnh đời bất hạnh xung quanh và biết sống quảng đại trong từng công việc thường nhật nhỏ bé nhất.
Một người đã thực sự được Chúa giải thoát và chữa lành không thể nào giữ niềm vui ấy cho riêng mình. Sự biến đổi nội tâm phải được trổ sinh hoa trái bằng đời sống chứng tá mạnh mẽ giữa lòng xã hội tục hóa hôm nay. Đứng thẳng và ngước nhìn lên trời cao đồng nghĩa với việc chúng ta từ bỏ lối sống thấp hèn, ích kỷ để hướng về các giá trị vĩnh cửu. Cuộc đời của một Kitô hữu phải là một bản trường ca ngợi tạ ơn Thiên Chúa, giống như người phụ nữ trong sách Tin Mừng sau khi được đứng thẳng đã cất lời ca tụng Người.
Chứng tá của niềm vui không đến từ sự sung túc vật chất hay từ việc không bao giờ gặp phải đau khổ, nhưng đến từ xác tín sâu xa rằng: cho dù nghịch cảnh có lớn lao đến đâu, chúng ta vẫn luôn có Đức Giêsu ở bên cạnh. Ngài là Đấng thấu hiểu mọi nỗi niềm, sẵn sàng đưa tay nâng đỡ khi chúng ta vấp ngã và ban cho chúng ta ơn đủ dùng để vượt qua mọi giông bão cuộc đời. Sống tinh thần Tin Mừng là dám lội ngược dòng trước những trào lưu thực dụng, hưởng thụ và vô cảm của thế gian để mang hơi ấm tình thương đến cho những ai đang bị bỏ rơi, những ai đang bị giam cầm trong bóng tối của sự cô đơn và tuyệt vọng.
Đức Mẹ Maria – Mẹ của lòng thương xót và là hình ảnh tuyệt hảo của một tâm hồn luôn mở rộng trọn vẹn trước thánh ý Thiên Chúa – sẽ là người dẫn dắt chúng ta trên bước đường theo chân Chúa. Mẹ đã hằng cất lên bài ca Magnificat ngợi khen quyền năng và lòng xót thương của Thiên Chúa đối với những kẻ khiêm nhường. Xin Mẹ dạy chúng ta biết cúi mình khiêm tốn trước tôn nhan Chúa để rồi được Ngài nâng chúng ta đứng thẳng dậy, sống trọn vẹn phẩm giá làm con cái Chúa và trở thành chứng nhân cho tình yêu cứu độ của Ngài giữa trần gian đau khổ này.
Khép lại bài suy niệm sâu lắng này, chúng ta hãy đặt trọn vẹn niềm tin tưởng và phó thác cuộc đời mình vào trong đôi bàn tay từ mẫu của Thiên Chúa. Quá khứ dẫu có lầm lỗi, hiện tại dẫu có chông gai và tương lai dẫu còn nhiều bất định, tất cả đều nằm trong chương trình yêu thương và quan phòng của Đấng Tối Cao. Tiếng gọi dịu dàng nhưng đầy uy quyền của Chúa Giêsu vẫn đang vang lên trong cõi thâm sâu tâm hồn mỗi người: hãy đứng thẳng lên, hãy buông bỏ những gánh nặng vô nghĩa và bước ra khỏi ngục tù của sự ích kỷ để đón nhận ánh sáng bình an đích thực.
Nguyện xin ơn thánh Chúa biến đổi tâm can chúng ta, đốt cháy lên ngọn lửa nhiệt thành của lòng mến, để từng bước chân chúng ta đi qua mỗi ngày đều là một khúc ca hoan ca ngợi tạ tình thương bao la của Thiên Chúa. Xin cho chúng ta mãi mãi giữ được tư thế của những người con tự do, hiên ngang và đầy hy vọng, hướng về quê hương vĩnh cửu nơi Thiên Chúa đang chờ đón từng người trong vòng tay ôm ấp nhân hậu đời đời.
Lm. Anmai, CSsR
















