KHI LINH MỤC KHÔNG CÒN GÌ ĐỂ KHOE – Lm. Anmai, CSsR

10

KHI LINH MỤC KHÔNG CÒN GÌ ĐỂ KHOE – Lm. Anmai, CSsR

Người ta nói nhiều về sự cô đơn của các linh mục. Có người nghĩ rằng một linh mục thì làm sao cô đơn được: ngày nào cũng gặp giáo dân, đứng giữa cộng đoàn, được mời đến nhà này nhà khác, có người chào hỏi, có người xin gặp, có người gọi điện bất kể giờ giấc. Nhưng cô đơn không đơn giản là thiếu người ở bên. Có một thứ cô đơn nảy sinh ngay giữa đám đông, khi người ta biết mình qua chức vụ, qua những việc mình làm, qua bài giảng, qua cách điều hành giáo xứ, nhưng chẳng mấy ai biết mình đang đau ở đâu. Linh mục có thể dành cả ngày lắng nghe những cuộc hôn nhân rạn vỡ, những đứa con bỏ nhà đi, những người bệnh sợ chết, những người trẻ mất hướng sống; rồi trở về phòng riêng và nhận ra chính mình cũng có một nỗi buồn chưa biết nói với ai. Có những buổi tối, sau khi đã giúp người khác tin rằng Chúa không bỏ rơi họ, ngài vẫn phải ngồi rất lâu trong thinh lặng để xin Chúa giúp mình tin điều ấy cho chính mình. Sự cô đơn ấy không nhất thiết có nghĩa là ngài thiếu đức tin. Nó có thể là dấu vết của một con người đã sống gần nỗi đau của người khác quá lâu mà chưa có nơi để đặt xuống nỗi đau của mình.

Có những thất bại trong đời linh mục không ai nhìn thấy. Một người được ngài kiên nhẫn đồng hành nhiều năm rồi vẫn bỏ đi. Một gia đình ngài cố gắng hòa giải vẫn tan vỡ. Một người trẻ từng rất sốt sắng dần xa Hội Thánh. Một bài giảng được chuẩn bị bằng tất cả sự chân thành lại không chạm được đến ai, ít nhất là theo những gì ngài có thể thấy. Một sáng kiến mục vụ từng được kỳ vọng đem lại sức sống mới kết thúc trong sự thờ ơ. Có khi đau hơn cả là nhận ra mình đã nói một lời thiếu dịu dàng, đã không đủ hiện diện cho người cần mình, đã xử lý một chuyện bằng sự nóng nảy hoặc tự ái. Linh mục cũng có thể thất bại vì giới hạn của chính mình. Ngài phải xin lỗi, phải học lại, phải chịu hậu quả của một quyết định sai. Nhưng đời sống mục vụ hiếm khi dành cho ngài nhiều thời gian để dừng lại. Chuông nhà thờ vẫn đổ. Người bệnh vẫn chờ được xức dầu. Một đám tang vẫn cần có người đến an ủi. Và thế là ngài lại mặc áo lễ, lại đứng trước cộng đoàn, trong khi điều đang diễn ra bên trong mình còn chưa kịp gọi thành tên.

Lối sống định lượng làm những nỗi đau ấy nặng thêm. Chúng ta đã quen hỏi một công việc đạt được bao nhiêu, thu hút được bao nhiêu, xây dựng được gì, mở rộng đến đâu. Đó là những câu hỏi có chỗ đứng của chúng; giáo xứ cần quản lý tiền bạc minh bạch, cần biết một chương trình có phục vụ con người thật hay không, cần nhìn thẳng vào những việc chưa hiệu quả. Nhưng nếu mọi câu hỏi về đời linh mục đều kết thúc ở những con số, chúng ta sẽ bỏ sót điều cốt yếu. Bao nhiêu người tham dự chưa cho biết người đang ngồi ở hàng ghế cuối có được lắng nghe không. Một nhà thờ đông chưa nói hết liệu những người yếu thế có tìm được chỗ trong cộng đoàn không. Một công trình khang trang không trả lời được câu hỏi người linh mục phụ trách nó còn biết cầu nguyện trong sự thật hay chỉ đang kiệt sức giữ cho mọi thứ tiếp tục vận hành. Và một năm không có thành tựu dễ kể lại cũng không có nghĩa là một năm vô ích. Có thể trong năm ấy, ngài đã ở bên một người hấp hối cho đến phút cuối, đã trở lại gõ cửa một gia đình tưởng như không còn muốn gặp mình, đã âm thầm sửa một thói quen làm tổn thương người khác, đã giữ lời hứa với Chúa qua những ngày chẳng thấy chút an ủi nào. Những việc ấy không dễ đưa vào báo cáo. Chúng vẫn có thật.

Khi thành quả trở thành thước đo phẩm giá, một linh mục rất dễ thấy mình hụt hẫng vào những giai đoạn ít “kết quả”. Ngài bắt đầu so sánh giáo xứ mình với giáo xứ khác, bài giảng mình với bài giảng khác, số người đến với các sinh hoạt mình tổ chức với số người nơi khác. Ban đầu chỉ là một thoáng chạnh lòng. Rồi ngài thấy ngại kể về những khó khăn đang gặp, ngại thừa nhận một chương trình không thành, ngại nói rằng mình mệt. Người ta thường bảo linh mục hãy tin tưởng vào Chúa; điều ấy đúng, nhưng lời nhắc ấy có thể trở nên quá dễ dàng khi được nói từ bên ngoài. Bởi chính người linh mục cũng biết những lời ấy, cũng đã giảng những lời ấy, và vẫn có lúc phải chiến đấu để sống được điều mình giảng. Có lúc ngài cần một người anh em ngồi lại và nghe hết câu chuyện, không vội biến nỗi buồn của ngài thành một bài học đạo đức.

Đáng buồn là ngay cả những cuộc gặp gỡ giữa các linh mục cũng có thể bị lối đo đếm ấy chi phối. Một người kể về số đoàn thể trong giáo xứ, người khác kể về công trình vừa hoàn thành, người khác nữa kể về một chương trình có đông người tham dự. Niềm vui trước việc tốt của anh em là điều đáng quý. Nhưng đôi khi, đằng sau những câu chuyện thành công ấy là nỗi sợ phải nói thật: “Tôi đang gặp khó khăn”; “Tôi thấy mình không còn gần gũi với giáo dân như trước”; “Tôi không biết phải làm gì với một thất bại này”; “Tôi cầu nguyện mà lòng khô cạn”; “Tôi cần anh giúp.” Ta gặp nhau, cười nói rất nhiều, rồi ai về phòng nấy cùng với điều nặng nhất vẫn chưa được thốt ra. Những cuộc gặp ấy có lúc giống một nhóm trẻ con so xem ai có nhiều thứ hơn, ai được công nhận hơn, ai có một câu chuyện đáng tự hào hơn. Nói thế không phải để chế giễu các linh mục. Người lớn nào cũng có thể cư xử như thế khi sợ người khác nhìn thấy sự mong manh của mình. Nhưng nếu tình huynh đệ linh mục không đủ an toàn để một người được nói “tôi đang buồn” mà không thấy mình thấp kém, thì tình huynh đệ ấy đang thiếu một điều rất quan trọng.

Có lẽ người linh mục sợ rằng một khi mình bộc lộ nỗi yếu đuối, người khác sẽ nghi ngờ ơn gọi của mình. Ngài sợ một lời tâm sự bị đem kể lại, sợ một khó khăn nhất thời bị biến thành nhãn dán theo mình nhiều năm, sợ người ta chỉ quen thấy mình mạnh mẽ nên không biết làm gì với một con người đang chao đảo. Những nỗi sợ ấy không tự nhiên mà có. Sự kín đáo, lòng trung thành và khả năng lắng nghe cần được xây dựng bằng những hành động cụ thể. Một cuộc gặp gỡ chân thành có thể bắt đầu rất đơn sơ: thay vì chỉ hỏi “Giáo xứ dạo này thế nào?”, hãy hỏi “Còn anh, dạo này anh thế nào?” Và khi người anh em trả lời thật, hãy giữ lấy sự tin cậy ấy. Đừng vội giảng cho anh. Đừng biến tâm sự của anh thành đề tài bên bàn ăn khác. Có khi điều giúp một linh mục đi tiếp không phải là một lời khuyên sắc sảo, mà là kinh nghiệm rằng mình đã được biết đến, được nghe và vẫn được yêu thương.

Ta cũng cần thành thật rằng không phải mọi cô đơn đều được chữa lành bằng vài cuộc gặp gỡ, và không phải mọi kiệt sức đều biến mất sau một kỳ tĩnh tâm. Có linh mục cần nghỉ ngơi; có người cần được giảm bớt gánh nặng; có người cần sự đồng hành thiêng liêng đều đặn; có người cần được hỗ trợ chuyên môn khi những đau khổ trong lòng vượt quá sức mình tự gánh. Tìm kiếm sự giúp đỡ không làm ơn gọi nhỏ đi. Một linh mục biết nhìn nhận giới hạn của mình có thể phục vụ cách bền vững và chân thật hơn. Cộng đoàn cũng có trách nhiệm trong chuyện ấy. Giáo dân yêu mến cha xứ không chỉ bằng cách khen những điều ngài làm được, mà còn bằng cách tôn trọng giờ nghỉ của ngài, cộng tác thay vì đẩy hết mọi việc về phía ngài, góp ý với sự ngay thẳng và lòng bác ái, cầu nguyện cho ngài như cầu nguyện cho một con người đang cần ơn Chúa mỗi ngày. Linh mục không phải một cỗ máy ban phát sự hiện diện vô tận. Ngài cũng cần được nâng đỡ để có thể hiện diện với người khác bằng một trái tim còn sức sống.

Giữa những áp lực ấy, hình ảnh Đức Kitô chịu đóng đinh có thể dần lùi vào phía sau. Ta vẫn đặt thánh giá trên tường, vẫn giảng về thập giá, vẫn làm dấu thánh giá nhiều lần trong ngày; nhưng trong lòng, ta có thể bắt đầu hình dung một đời linh mục tốt đẹp như một chuỗi ngày được đón nhận, được chứng minh là hữu ích, được nhìn thấy kết quả. Khi mọi chuyện thuận lợi, thật dễ tin rằng Chúa đang ở với mình. Còn khi một công việc tan vỡ, một người quay lưng, một cộng đoàn không đáp lại, ta bối rối như thể Chúa đã rời đi. Thập giá nhắc ta nhìn lại điều ấy. Trên thập giá, Đức Giêsu không đứng giữa một đám đông tán thưởng. Người đã trao hiến chính mình, và dưới mắt nhiều người, cuộc đời ấy kết thúc trong thất bại. Những người từng nghe Người giảng dạy bỏ chạy. Người chịu nhạo báng, bị hiểu lầm, bị treo lên trước mắt thiên hạ. Nhưng tình yêu của Người không trở thành vô nghĩa vì thiếu sự công nhận trong giờ phút ấy. Cũng từ chính nơi tưởng như mọi sự đã chấm dứt, Thiên Chúa mở ra con đường sự sống.

Tuy nhiên, nhìn lên thập giá không có nghĩa là gọi mọi đau khổ của linh mục là điều phải chịu đựng mãi. Đức Kitô đã mang lấy thập giá; Người không bảo chúng ta làm ngơ trước một người đang bị nghiền nát bởi gánh nặng có thể chia sẻ. Có những thập giá đến từ lòng trung thành với Tin Mừng, từ việc yêu thương mà chưa thấy đáp lại, từ sự hữu hạn không thể tránh của đời người. Nhưng cũng có những nỗi đau nảy sinh vì chúng ta thiếu lắng nghe, vì một cộng đoàn đòi hỏi quá sức, vì những mối quan hệ không lành mạnh, vì người ta tán dương sự tận tụy mà bỏ mặc người tận tụy. Những điều có thể thay đổi thì cần được thay đổi. Không nên dùng hình ảnh Đức Kitô chịu đóng đinh để buộc ai đó im lặng về nỗi khổ của họ. Chính khi ngước nhìn Người, chúng ta càng phải nhận ra và chăm sóc những vết thương đang ở rất gần mình.

Thập giá còn giải thoát linh mục khỏi nhu cầu phải chứng minh rằng mình luôn thành công. Trước Chúa chịu đóng đinh, ngài có thể thôi trình bày một bản báo cáo đẹp về bản thân. Ngài có thể nói: “Con đã cố gắng, nhưng việc ấy không thành”; “Con đã sai và con cần sửa”; “Con đang ghen tị với người anh em của con”; “Con thấy mình cô độc”; “Con không hiểu vì sao lòng con khô cạn”; “Con còn đây, xin Chúa đừng để con khép lòng.” Lời cầu nguyện ấy có thể nghèo nàn, vụng về, thậm chí lẫn nước mắt. Nhưng đó là lời cầu nguyện thật. Đức Kitô không đòi người môn đệ phải mang đến trước mặt Người một hình ảnh đã được chỉnh sửa. Người gọi con người ấy, với cả những điều đẹp đẽ lẫn những vết nứt, đến ở lại với Người. Một linh mục có thể dành nhiều năm nói với giáo dân rằng Chúa thương họ vô điều kiện, rồi một ngày mới dám tin rằng chính mình cũng được thương như vậy: ngay cả khi mệt mỏi, ngay cả khi thất bại, ngay cả khi chẳng có điều gì nổi bật để kể.

Điều ấy không làm cho sự dấn thân trở nên lỏng lẻo. Trái lại, nó giúp linh mục làm việc vì yêu thương thay vì vì nỗi sợ mình vô giá trị. Khi không phải biến mỗi việc mục vụ thành bằng chứng cho sự thành công của bản thân, ngài tự do hơn để quan tâm đến người thật đang đứng trước mặt. Ngài có thể vui khi một sáng kiến của người khác mang lại hoa trái mà không cần giành phần công. Ngài có thể chấp nhận rằng có người mình hết lòng giúp đỡ rồi vẫn ra đi. Ngài có thể sửa một chương trình không hiệu quả mà không xem đó là sự sụp đổ của chính mình. Ngài có thể nhận lỗi trước giáo dân mà không nghĩ rằng mình đã đánh mất hết uy tín. Và ngài có thể nghỉ khi cần nghỉ, bởi giáo xứ thuộc về Chúa; ngài được trao trách nhiệm phục vụ, chứ không được yêu cầu một mình gánh lấy mọi số phận.

Nếu có một điều đáng mong trong những cuộc gặp gỡ linh mục, có lẽ đó là được trở về với sự đơn sơ này. Hãy để một người được kể niềm vui mà không bị nghi là khoe khoang; để một người khác được kể thất bại mà không bị xem thường. Hãy mừng khi anh em làm được việc tốt, và cũng biết ngồi bên anh em khi việc tốt ấy không thành. Hãy hỏi về những người giáo dân mà anh đang thương nhớ, về điều đang làm anh mất ngủ, về niềm vui nhỏ giúp anh đi tiếp. Hãy cầu nguyện cùng nhau mà không cần những lời thật hay. Một bữa ăn huynh đệ sẽ có ý nghĩa hơn nhiều khi sau đó, ít nhất một người bước ra và thấy mình không còn phải giả vờ. Chúng ta cần những người anh em có thể nói với nhau sự thật, cùng nhau chịu trách nhiệm về những lỗi lầm, và nhắc nhau nhớ rằng ơn gọi này bắt đầu từ tiếng Chúa gọi, chứ không bắt đầu từ một bảng thành tích.

Có thể trong một giáo xứ xa xôi, một linh mục đang trải qua một ngày rất bình thường. Ngài cử hành Thánh lễ cho một cộng đoàn nhỏ; ghé thăm người bệnh mà chẳng biết nói gì ngoài việc ngồi lại; giải quyết một chuyện bất đồng chưa có lối ra; trở về ăn cơm muộn; rồi tối đến mở cửa nhà nguyện. Không ai chụp ảnh ngày ấy. Không có gì để kể như một thành tựu. Có thể chính ngài cũng nghĩ mình đã làm được quá ít. Nhưng nếu trong ngày đó, ngài đã cố giữ lòng mình ở lại với Chúa và với những con người Chúa trao, thì ngày ấy có một chiều sâu mà con số không thể đo. Và nếu ngài đã không giữ nổi, nếu ngài chỉ đến nhà nguyện với một tâm hồn rã rời, ngài vẫn có thể bắt đầu lại từ đó. Chúa không chỉ chờ ở cuối một ngày phục vụ tốt đẹp. Người cũng ở đó, giữa một ngày vụng về, để nâng người môn đệ dậy.

Rồi sẽ có lúc mọi linh mục phải buông xuống những điều từng gắn với tên mình: một nhiệm sở, một công trình, một chức vụ, một nhịp sống bận rộn, cả sức khỏe từng cho phép mình làm rất nhiều việc. Nếu suốt đời ngài chỉ biết mình qua những điều đã hoàn thành, giờ phút ấy sẽ rất đau. Nhưng nếu qua năm tháng, ngài học nhận biết mình là người được Đức Kitô yêu thương và sai đi, thì ngay cả khi đôi tay không còn làm được bao nhiêu, phẩm giá của ngài vẫn nguyên vẹn. Người linh mục già yếu ngồi lặng trong nhà nguyện không kém quý giá hơn người đang điều hành một giáo xứ đông đúc. Người đang đau bệnh, đang cần anh em chăm sóc, vẫn thuộc về tình huynh đệ ấy. Có lẽ cách chúng ta đối xử với một linh mục không còn khả năng tạo ra “kết quả” sẽ nói thật về cách chúng ta hiểu chức linh mục và hiểu thập giá hơn mọi lời diễn thuyết.

Sau cùng, khi đứng dưới chân thập giá, chúng ta chẳng còn gì đáng để so bì. Người này có một giáo xứ lớn, người kia có một cộng đoàn nhỏ; người này giảng rất hay, người kia âm thầm thăm viếng; người này đang được tín nhiệm, người kia đang học cách đứng dậy sau một sai lầm. Mỗi người có trách nhiệm sống trung thành với điều đã được trao, và mỗi người đều cần lòng thương xót. Đức Kitô chịu đóng đinh không hỏi các môn đệ ai có hình ảnh rực rỡ hơn. Người nhìn thấy họ như họ là: có tình yêu, có sợ hãi, có lòng quảng đại, có cả sự yếu đuối. Ánh nhìn ấy vừa dịu dàng vừa mời gọi hoán cải. Ước gì các linh mục có thể học nhìn nhau bằng ánh nhìn đó. Ước gì khi gặp nhau, các ngài có thể bớt phải kể mình đã làm nên những gì, để có chỗ nói về Chúa đang dẫn mình đi qua những gì. Và ước gì mỗi khi cảm thấy trống rỗng vì chẳng có thành quả nào để khoe, người linh mục vẫn đủ can đảm ngước lên thập giá và thưa: “Lạy Chúa, hôm nay con đến với Chúa bằng chính con người thật của con. Xin ở lại với con, và dạy con tiếp tục yêu thương.”

Lm. Anmai, CSsR.