PHÍA NGOÀI VÙNG NƯỚC QUEN Lm. Anmai, CSsR.

3

PHÍA NGOÀI VÙNG NƯỚC QUEN Lm. Anmai, CSsR.

Có một câu chuyện kể rằng, một con cá sống lâu ngày trong chiếc bể nhỏ. Mỗi buổi sáng, khi ánh sáng lọt qua thành kính, nó lại bắt đầu vòng bơi quen thuộc của mình. Bơi một đoạn, gặp thành bể, quay lại. Bơi sang phía khác, gặp thành bể, lại quay về. Những vòng bơi nối tiếp nhau, ngày này qua ngày khác, đến mức nó không còn phải dò đường, không còn phải thử sức, cũng chẳng cần biết phía trước có gì. Chiếc bể nhỏ trở thành toàn bộ thế giới mà nó hiểu. Rồi một ngày, người ta chuyển nó sang một chiếc bể rộng hơn. Nước nhiều hơn, khoảng trống lớn hơn, những nơi có thể khám phá cũng nhiều hơn. Nhưng con cá vẫn bơi theo vòng cũ. Nó vẫn đổi hướng ở khoảng cách trước kia từng có thành kính, dù nơi ấy bây giờ chẳng còn vật gì ngăn cản. Câu chuyện ấy có thể được đọc như một hình ảnh gợi suy nghĩ về đời sống con người: có những giới hạn đã được tháo bỏ bên ngoài, nhưng vẫn còn nguyên bên trong; có những cánh cửa đã mở, nhưng người đứng trước cửa chưa tin rằng mình có thể bước qua; có những khoảng trời rộng đang chờ, nhưng đôi chân vẫn đo cuộc đời bằng chiều dài của một lối đi đã thuộc. Điều đáng suy nghĩ không chỉ là chiếc bể từng quá nhỏ. Điều đáng suy nghĩ hơn là khi chiếc bể đã rộng ra, con cá vẫn sống như thể nó chưa từng được trao thêm một cơ hội.

Chúng ta cũng có những vùng nước quen như thế. Đó có thể là một công việc đã làm suốt nhiều năm, một cách giải quyết vấn đề đã sử dụng quá lâu, một kiểu giao tiếp đã thành phản xạ, một nhận định về người khác đã đóng đinh trong đầu, một cách tổ chức gia đình khiến mọi người mệt mỏi nhưng chẳng ai muốn thay đổi. Vùng nước quen đôi khi là một nếp sống dễ chịu, nhưng đôi khi lại là một nỗi buồn đã ở cùng ta lâu đến mức ta xem nó như một phần không thể thiếu của bản thân. Có người quen bị coi thường nên khi gặp một người đối xử tử tế, họ nghi ngờ. Có người quen thất bại nên khi một cơ hội đến, họ tự rút lui trước khi thử. Có người quen sống trong xung đột nên khi gia đình bắt đầu yên ổn, họ lại lo có chuyện gì bất thường. Có người quen gồng gánh nên khi được mời nghỉ ngơi, họ thấy có lỗi. Có người quen làm mọi việc một mình nên khi người khác muốn chia sẻ trách nhiệm, họ không thể giao phó. Ta thường nghĩ vùng nước quen là nơi sung sướng, nhưng thật ra nó có thể là nơi ta đã học cách chịu đựng. Điều làm một nơi trở nên quen thuộc không nhất thiết là hạnh phúc; nhiều khi chỉ là ta đã biết cách tồn tại ở đó, biết phải im lặng lúc nào, né tránh điều gì, co mình ra sao để không bị đau thêm.

Vì thế, bước ra khỏi vùng nước quen không phải lúc nào cũng là câu chuyện của tham vọng, của thành công lớn hơn, của thu nhập cao hơn hay một vị trí nổi bật hơn. Đôi khi đó là hành trình rất âm thầm của một người tập tin rằng mình có quyền được tôn trọng; của một người cha tập nói lời xin lỗi với con; của một người mẹ tập cho mình một giờ nghỉ mà không tự kết án; của một người trẻ tập hỏi điều mình chưa hiểu thay vì giả vờ biết hết; của một người đã lớn tuổi tập sử dụng một phương tiện mới để liên lạc với con cháu; của một người từng thất vọng trong đời sống đức tin tập trở lại nhà thờ, ngồi ở hàng ghế cuối và thưa với Chúa bằng một câu thật nhỏ. Có những bước đi nhìn từ bên ngoài chẳng đáng kể, nhưng đối với người đang thực hiện, đó là lần đầu họ đi qua một ranh giới từng khiến mình sợ hãi suốt nhiều năm. Ta không nên đo sự can đảm của người khác chỉ bằng độ lớn của việc họ làm. Một người đứng lên trước đám đông có thể rất tự nhiên, trong khi một người khác cần gom hết sức mình mới dám nói: “Tôi cần được giúp đỡ.” Có người dễ dàng đổi nghề, nhưng rất khó thừa nhận mình sai. Có người đi qua nhiều quốc gia, nhưng chưa từng đi qua thành kiến đang ngăn họ hiểu người sống cùng một nhà.

Câu chuyện của Kodak giúp ta nhìn rõ hơn sự phức tạp của việc thay đổi. Trong thế kỷ XX, Kodak là một tên tuổi lớn của ngành nhiếp ảnh. Năm 1975, kỹ sư Steven Sasson, khi làm việc tại Kodak, chế tạo một nguyên mẫu máy ảnh kỹ thuật số tiên phong. Kodak về sau cũng tham gia sâu vào nhiếp ảnh kỹ thuật số và từng giữ vị trí dẫn đầu thị trường máy ảnh kỹ thuật số tại Hoa Kỳ vào giữa thập niên 2000. Tuy vậy, hãng không xây dựng được một sự chuyển đổi kinh doanh đủ thành công để bù đắp cho sự suy giảm của hoạt động truyền thống; đến tháng 1 năm 2012, Kodak nộp đơn xin bảo hộ phá sản theo Chương 11 tại Hoa Kỳ. Bởi thế, sẽ quá đơn giản nếu kể câu chuyện này như chuyện một doanh nghiệp hoàn toàn không thấy công nghệ mới hoặc không làm gì trước sự thay đổi. Kodak đã thấy, đã nghiên cứu, đã đầu tư, đã có sản phẩm; nhưng nhìn thấy một tương lai và tổ chức được cả doanh nghiệp để sống trong tương lai ấy là hai việc rất khác nhau.

Từ câu chuyện ấy, ta có thể suy nghĩ về một nghịch lý thường gặp: chính điều từng giúp ta thành công có thể khiến ta khó thay đổi nhất. Một cách làm đem lại kết quả suốt nhiều năm dễ trở thành một niềm tin gần như bất khả xâm phạm. Người đã có uy tín thường khó chịu hơn khi phải trở lại vị trí học hỏi. Người đã có kinh nghiệm dễ nghĩ rằng những gì mình từng chứng kiến đủ để giải thích những gì đang xảy ra. Một tập thể từng được khen vì làm việc hiệu quả có thể không còn muốn nghe lời góp ý về những bất cập mới. Một gia đình từng tự hào vì con cái ngoan ngoãn có thể không nhận ra rằng sự im lặng hiện tại của con không còn là vâng lời, mà là không muốn chia sẻ nữa. Một người từng được quý mến vì tính thẳng thắn có thể tiếp tục nói những lời gây tổn thương mà không thấy rằng cách nói ấy cần được điều chỉnh. Thành công có thể làm ta biết ơn, nhưng cũng có thể làm ta mất khả năng tự xét lại. Khi một phương pháp được dùng đủ lâu, ta dễ quên rằng nó chỉ là phương pháp. Ta bắt đầu bảo vệ nó như bảo vệ chính căn tính của mình. Ai góp ý về cách làm ấy, ta cảm thấy họ đang phủ nhận con người mình. Ai đề nghị một hướng khác, ta nghe như họ muốn xóa bỏ những năm tháng mình đã cống hiến.

Có lẽ điều khó nhất trong thay đổi là chấp nhận một khoảng thời gian mình không còn giỏi như trước. Khi làm điều quen thuộc, ta biết bắt đầu từ đâu, tránh lỗi thế nào, làm sao để được công nhận. Khi học một việc mới, ta lại vụng về. Ta phải hỏi những câu người khác cho là đơn giản. Ta làm chậm. Ta sửa đi sửa lại. Ta có thể bị một người trẻ hơn hướng dẫn. Ta có thể mất đi cảm giác chủ động vốn khiến mình yên tâm. Vì vậy, có người không từ chối thay đổi vì họ không hiểu lợi ích của nó; họ từ chối vì không chịu nổi cảm giác trở thành người mới bắt đầu. Họ sợ một lỗi nhỏ làm lu mờ cả một quá khứ giỏi giang. Họ sợ người khác nhìn mình với ánh mắt khác. Họ sợ phát hiện rằng điều mình từng rất tự hào nay không còn đủ. Nhưng không ai lớn lên mà chưa từng đi qua những ngày lúng túng. Một đứa trẻ tập đi phải chấp nhận những bước chưa vững. Một người học nói ngoại ngữ phải chấp nhận phát âm sai. Một người tập sống dịu dàng phải có lúc nhận ra mình vừa phản ứng theo thói quen cũ. Nếu cứ đòi phải thành thạo trước khi bắt đầu, ta sẽ chẳng bao giờ bắt đầu được. **Có những khả năng chỉ xuất hiện sau khi ta chịu đi qua giai đoạn chưa có khả năng ấy.**

Trong công việc, vùng nước quen thường được bảo vệ bằng những câu nói nghe rất hợp lý: “Từ trước đến giờ vẫn làm như vậy.” “Cách này đã chạy tốt nhiều năm.” “Khách hàng của chúng ta không thích thay đổi.” “Đợi khi nào có thời gian.” “Đợi khi nào đủ người.” “Đợi khi nào tình hình ổn hơn.” Có lúc những câu ấy phản ánh một cân nhắc cần thiết. Không phải đề xuất nào cũng phù hợp, không phải công nghệ nào cũng đáng đầu tư, không phải sự mới mẻ nào cũng mang lại giá trị. Tuy nhiên, khi mọi đề xuất đều bị chặn bằng cùng một nhóm lý do, ta cần tự hỏi mình đang thận trọng hay đang tránh né. Thận trọng sẽ tìm cách đánh giá, thử nghiệm, điều chỉnh và quyết định. Tránh né chỉ kéo dài thời gian, để vấn đề nằm đó và hy vọng nó tự biến mất. Thận trọng có thể nói: “Chúng ta thử với một nhóm nhỏ trong một tháng, xem có cải thiện thật không.” Tránh né thường nói: “Để sau đã”, rồi không bao giờ xác định “sau” là khi nào. Một tổ chức có thể có rất nhiều cuộc họp bàn về đổi mới mà không tạo ra một cơ hội thực tế nào cho người muốn thử. Ý tưởng được lắng nghe, được ghi nhận, được khen là thú vị, rồi được đặt vào một ngăn kéo lịch sự. Người đề xuất chờ đợi vài lần, sau đó cũng học được rằng tốt nhất cứ bơi theo vòng cũ.

Điều này không chỉ diễn ra trong doanh nghiệp. Nó có thể xuất hiện trong một trường học, một hội đoàn, một cộng đoàn tu trì, một giáo xứ. Ta có thể tiếp tục tổ chức một hoạt động chỉ vì lịch năm ngoái có hoạt động ấy, tiếp tục dùng một cách truyền đạt vì trước đây người nghe từng hưởng ứng, tiếp tục giao việc cho cùng một số người vì “họ làm quen rồi”, trong khi những người mới không có cơ hội tham gia và những người cũ ngày càng kiệt sức. Ta có thể tự hào vì chương trình vẫn đông, nhưng chưa hỏi những người tham dự đã được giúp điều gì. Ta có thể thấy mọi nghi thức vẫn diễn ra đúng giờ, mọi việc vẫn hoàn tất, mọi báo cáo vẫn đẹp, nhưng bỏ sót những người đang âm thầm rời xa. Một người trẻ không còn đến có thể bị nhận xét là thiếu nhiệt tình, trước khi có ai hỏi em đang trải qua chuyện gì. Một gia đình ít tham gia sinh hoạt có thể bị xem là hờ hững, trước khi cộng đoàn biết họ phải chăm người bệnh, làm việc theo ca hoặc đang gặp khó khăn không tiện nói ra. Vùng nước quen khiến ta dùng một lời giải thích cũ cho tất cả những hoàn cảnh mới. Muốn đi xa hơn, có khi việc đầu tiên chẳng phải mua thiết bị hay thêm chương trình; chỉ cần bắt đầu lắng nghe kỹ hơn những người lâu nay chưa được hỏi.

Trong gia đình, những thành kính vô hình thường được dựng lên bằng các vai trò đã cố định. Người cha cho rằng mình phải luôn đúng vì mình là cha. Người mẹ nghĩ mọi việc trong nhà chỉ có mình làm được. Người con đã bị gọi là bướng bỉnh thì dù cố gắng thế nào cũng tiếp tục bị nhìn bằng cái nhãn ấy. Một người trong nhà luôn bị xem là yếu đuối, một người khác luôn bị mặc định là ích kỷ, một người nữa bị giao vai trò chịu đựng và hòa giải mọi xung đột. Rồi cả gia đình sống theo những kết luận cũ như thể không ai còn có thể thay đổi. Người cha muốn gần con hơn nhưng không biết mở lời, vì giữa hai người đã có quá nhiều năm chỉ nói chuyện bằng mệnh lệnh. Người con muốn kể một nỗi buồn nhưng ngại nghe câu: “Có thế mà cũng buồn.” Người mẹ muốn được chia sẻ nhưng đã quen làm thay, đến mức khi người khác bắt tay vào, bà lại sửa từng chi tiết và cuối cùng nhận hết về mình. Những người ấy có thể thương nhau thật lòng, nhưng tình thương bị mắc kẹt trong những lối diễn đạt làm người nhận thấy nặng nề. Họ không thiếu ý muốn tốt. Họ thiếu một lần đủ khiêm tốn để hỏi: “Cách tôi đang yêu thương có thật sự giúp người kia cảm nhận được tình thương không?”

Một mái nhà có thể bắt đầu rộng hơn từ câu hỏi ấy. Người cha có thể tập ngồi nghe con nói mà chưa vội kết luận. Người mẹ có thể giao một việc và cho người khác làm theo cách của họ, miễn là việc ấy được thực hiện có trách nhiệm. Người con có thể nói điều mình nghĩ bằng sự tôn trọng, thay vì im lặng rồi tích tụ giận dữ. Vợ chồng có thể dành một cuộc trò chuyện để hiểu nhau, không mang tất cả những lỗi cũ ra làm bằng chứng. Có những gia đình mỗi lần nói chuyện là mỗi lần mở lại hồ sơ của mười năm trước. Chuyện hôm nay chưa kịp giải quyết đã bị chôn dưới những chuyện từng xảy ra. Người kia vừa nói một câu, ta đã biết mình sẽ phản bác bằng điều gì. Ta nghe để chuẩn bị đáp trả, chẳng còn nghe để hiểu. Vòng bơi ấy rất quen: trách móc, tự vệ, lớn tiếng, im lặng, rồi tạm yên cho đến lần sau. Muốn đổi hướng, một người cần dừng lại ở chỗ mình vẫn thường tăng tốc. Khi muốn nói lời cay nghiệt, thử xin vài phút bình tĩnh. Khi muốn bỏ đi, thử nói rõ mình cần tạm dừng và sẽ trở lại cuộc trò chuyện. Khi muốn chứng minh người kia sai, thử hỏi xem điều gì khiến họ cảm thấy tổn thương. Sự thay đổi trong gia đình thường bắt đầu bằng những hành vi cụ thể như thế, chứ không chỉ bằng lời hứa chung chung rằng từ nay sẽ khác.

Ta cũng cần nhìn vùng nước quen trong cách đánh giá bản thân. Có những người mang theo một bản án rất lâu: “Tôi không có năng khiếu.” “Tôi không biết nói chuyện.” “Tôi học chậm.” “Tôi không làm được việc lớn.” “Tôi chẳng có gì đáng quý.” Những câu ấy có thể bắt nguồn từ một lần thất bại, một lời chê thời thơ ấu, một sự so sánh trong gia đình hoặc một giai đoạn khó khăn. Nhưng khi được lặp lại nhiều năm, chúng biến thành tiếng nói quen thuộc bên trong. Trước khi cơ hội thật sự thử thách ta, tiếng nói ấy đã quyết định kết quả. Trước khi người khác từ chối, ta đã tự loại mình. Trước khi bắt tay vào học, ta đã kết luận không thể học. Dĩ nhiên, mỗi người có những giới hạn thực tế; ta không cần tự thuyết phục rằng mình làm được mọi chuyện. Nhưng giữa việc biết giới hạn hiện tại và việc đóng cửa mọi khả năng tương lai có một khoảng cách rất lớn. “Tôi chưa biết làm” vẫn còn một con đường. “Tôi không bao giờ làm được” thì khóa con đường ấy lại. “Tôi cần thêm thời gian” cho phép ta tiến từng bước. “Tôi vốn là người như thế” có thể trở thành nơi ẩn náu để ta khỏi phải đối diện với điều cần sửa. Có những thành kính được dựng bằng lời của người khác, rồi được chính ta bảo trì mỗi ngày.

Một người từng trải qua tổn thương lại có thể dựng lên những giới hạn để bảo vệ mình. Ta cần đối xử với điều đó bằng sự cảm thông. Không thể chỉ đứng bên ngoài và giục: “Cứ mạnh dạn lên”, như thể nỗi sợ sẽ biến mất khi nghe một lời khuyên. Người từng bị phản bội có thể cần thời gian để tin trở lại. Người từng bị chế giễu có thể cần một môi trường an toàn trước khi dám phát biểu. Người từng bị kiểm soát có thể khó đưa ra lựa chọn cho riêng mình. Những thói quen phòng vệ từng giúp họ đi qua một thời gian khó khăn. Vì vậy, bước ra khỏi vùng nước quen ở đây cần sự kiên nhẫn, sự đồng hành và đôi khi cần đến sự giúp đỡ chuyên môn phù hợp. Không nên đòi một người phải kể hết chuyện riêng để chứng minh họ đang tiến bộ. Không nên ép họ hòa giải vội vàng với người vẫn tiếp tục gây hại. Không nên dùng đức tin để bắt họ phủ nhận nỗi đau. Một bước tiến có thể đơn giản là biết đặt một giới hạn rõ ràng, tìm một người đáng tin để trò chuyện, hoặc nhận ra mình không có nghĩa vụ chấp nhận mọi cách đối xử. Nước rộng hơn cần là nơi người ta có thể sống tốt hơn, chứ không phải một khoảng trống khiến họ thêm hoang mang.

Trong đời sống đức tin, hình ảnh vùng nước quen còn chạm đến những điều sâu kín hơn. Ta có thể quen với việc đi lễ, đọc kinh, tham dự sinh hoạt và giữ một số bổn phận, nhưng lại chưa để Lời Chúa bước vào cách mình sử dụng tiền bạc, đối xử với người thân, nói về người vắng mặt hoặc hành xử khi quyền lợi bị đụng chạm. Ta biết giờ lễ, biết các lời kinh, biết nhiều câu giáo lý, nhưng khi gặp một người khó thương, ta vẫn phản ứng như trước; khi gặp một lời góp ý, ta vẫn khép cửa; khi có cơ hội giúp đỡ, ta vẫn tìm lý do để khỏi liên quan. Nếp sống đạo là một điều quý giá, vì những thực hành đều đặn nâng đỡ con người qua cả những ngày không còn cảm xúc sốt sắng. Nhưng chính trong nếp sống ấy, ta cần để Chúa tiếp tục chất vấn mình. Cầu nguyện lâu năm không làm ta hết cần học cầu nguyện. Làm việc nhà Chúa nhiều năm không làm ta hết cần hoán cải. Có thể ta rất quen đến với Chúa bằng những điều mình xin, nhưng chưa quen ở lại để nghe điều Người muốn. Có thể ta xin Chúa thay đổi hoàn cảnh, trong khi tránh mọi lời mời gọi thay đổi cách sống của chính mình.

Trong Tin Mừng Luca, sau một đêm vất vả mà không bắt được cá, ông Simon được Đức Giê-su mời đưa thuyền ra chỗ nước sâu và thả lưới (x. Lc 5,1-11). Đọc trình thuật ấy, ta gặp sự mệt mỏi rất thật của một người đã cố gắng, sự giới hạn rất thật của kinh nghiệm, và quyết định tín thác giữa lúc chưa nhìn thấy kết quả. Simon không bước vào câu chuyện với đôi tay chưa từng làm việc. Ông đã lao động cả đêm. Ông có lý do để nản. Ông có kinh nghiệm nghề nghiệp. Nhưng ông vẫn để một lời của Chúa mở ra một hành động tiếp theo. Đối với chúng ta, chỗ nước sâu có thể là nơi phải sống thật hơn với điều mình tuyên xưng. Một người đọc kinh xin được tha thứ có thể được mời bước sâu hơn bằng cách ngừng nuôi một lời cay độc. Một người cầu nguyện cho gia đình có thể được mời bước sâu hơn bằng cách dành thời gian cho người nhà. Một người xin Chúa ban bình an có thể phải nhìn lại sự hơn thua mình đang mang vào mọi cuộc trò chuyện. Một người nói yêu Hội Thánh có thể phải học phục vụ trong một công việc ít được chú ý. Chúa có thể mời ta đi xa hơn ngay trong những bổn phận đang có, bằng một trái tim bớt giữ lại cho mình.

Tuy nhiên, không nên biến hình ảnh “ra chỗ nước sâu” thành một lời cổ vũ liều lĩnh. Đức tin không miễn cho ta việc suy nghĩ, học hỏi, tham khảo và chịu trách nhiệm. Một người có gia đình không thể nhân danh can đảm để đặt sinh kế của cả nhà vào một quyết định thiếu cân nhắc. Một người có trách nhiệm trong cộng đoàn không thể xem mọi ý kiến khác với mình là sự cản trở tiếng Chúa. Một người đang mệt mỏi không cần chứng minh lòng tín thác bằng cách nhận thêm mọi việc. Việc phân định đòi ta nhìn cả khả năng, giới hạn, bổn phận và tác động của quyết định đối với những người liên quan. Có lúc bước ra là nhận một công việc mới. Có lúc bước ra là từ chối một công việc để có thể làm tốt trách nhiệm đã nhận. Có lúc tiến lên là nói. Có lúc tiến lên là nghe. Có lúc điều mới cần học là một kỹ năng. Có lúc điều mới cần học là biết nghỉ ngơi. Sự trưởng thành không được đo bằng số thay đổi ta tạo ra, mà bằng việc những thay đổi ấy có giúp ta sống chân thật, có trách nhiệm và yêu thương hơn hay không.

Điều này giúp ta phân biệt giữa sự ổn định và sự trì trệ. Một người giữ trung thành với gia đình, với lời khấn, với ơn gọi, với công việc phục vụ có thể sống một đời rất sâu sắc dù bề ngoài ít thay đổi. Sự lặp lại cũng có thể là một hình thức của tình yêu: ngày nào cũng chăm người bệnh, tuần nào cũng chuẩn bị một buổi học cho trẻ, tháng nào cũng dành một phần thu nhập cho người cần giúp, năm nào cũng giữ một lời hứa dù không còn được ai nhắc đến. Những điều ấy không cần bị phá bỏ chỉ vì chúng đã quen. Vấn đề là trong sự lặp lại, ta còn hiện diện bằng một tấm lòng sống động hay chỉ vận hành theo quán tính. Người chăm bệnh nhân có thể giữ nguyên công việc nhưng học một cách nâng đỡ khiến người bệnh bớt đau. Người dạy giáo lý có thể tiếp tục trung thành với nội dung đức tin nhưng tìm cách giúp trẻ hiểu bằng những ví dụ gần gũi hơn. Vợ chồng vẫn cùng một mái nhà, nhưng có thể học một cách trò chuyện khác. Trung thành có sức sống khi biết chăm sóc điều mình được trao. Còn trì trệ thường đòi mọi người và mọi hoàn cảnh phải thích nghi với cách ta đã quen, bất kể cách ấy còn phục vụ được ai hay không.

Trong mục vụ, điều cần giữ và điều cần thay đổi phải được phân định cẩn thận. Đức tin không trở nên sâu sắc nhờ chạy theo mọi trào lưu. Đồng thời, lòng trung thành cũng không được chứng minh bằng việc từ chối mọi phương tiện mới. Một linh mục có thể giữ vững nội dung Tin Mừng và học cách trình bày để người đang sống giữa nhiều áp lực hiểu được. Một giáo lý viên có thể truyền đạt giáo huấn của Hội Thánh chính xác và vẫn tạo không gian cho học viên đặt câu hỏi. Một cộng đoàn có thể trân trọng những hình thức đạo đức đã nuôi dưỡng nhiều thế hệ, đồng thời tìm cách đồng hành với những gia đình không còn có cùng nhịp sống như trước. Có người làm việc ban đêm, có người di cư, có người phải một mình chăm con, có người lớn lên trong môi trường ít được tiếp xúc với đức tin. Nếu chỉ yêu cầu tất cả đến với một khuôn tổ chức đã có, ta có thể bỏ lỡ rất nhiều người đang cần được gặp gỡ. Bước ra khỏi vùng nước quen trong mục vụ có khi là đi thăm một gia đình lâu ngày vắng mặt, mở một cuộc trò chuyện không bắt đầu bằng trách móc, hoặc chấp nhận rằng trước khi nói được điều mình muốn nói, ta cần hiểu điều người kia đang mang trong lòng.

Có một vùng nước quen đặc biệt khó rời: vùng nước của quyền lực và sự công nhận. Khi đã quen được lắng nghe, ta dễ thấy khó chịu lúc người khác không đồng ý. Khi đã quen quyết định, ta dễ gọi sự tham gia của người khác là gây rắc rối. Khi đã quen đứng ở trung tâm, ta dễ cảm thấy mình bị bỏ quên nếu công việc vẫn chạy tốt lúc mình vắng mặt. Bởi vậy, người lãnh đạo cần một sự can đảm rất khác: can đảm để người khác lớn lên. Người cha cần cho con tập quyết định trong phạm vi phù hợp. Người phụ trách cần giao việc thật, thay vì chỉ giao tên công việc rồi kiểm soát mọi bước. Người có kinh nghiệm cần chia sẻ điều mình biết mà không khiến người học phải phụ thuộc mãi. Một cộng đoàn trưởng thành không chỉ nhờ có một người làm được nhiều việc, mà còn nhờ có nhiều người được chuẩn bị để cùng gánh trách nhiệm. Nếu ta giữ mọi việc vì sợ mất vai trò, ta có thể làm công việc hôm nay chạy nhanh nhưng khiến ngày mai trở nên mong manh. Trao quyền có trách nhiệm là một cách yêu thương tương lai của tập thể. Nó đòi ta chấp nhận rằng người kế tiếp có thể làm khác mình, và trong những điểm khác ấy có thể có điều đáng học.

Ngược lại, người trẻ cũng có vùng nước quen của mình. Tuổi trẻ không tự động đồng nghĩa với cởi mở. Một người trẻ có thể sử dụng công nghệ rất nhanh nhưng không chịu nghe lời góp ý. Có thể đổi thiết bị liên tục nhưng giữ nguyên thành kiến. Có thể tiếp cận rất nhiều thông tin nhưng chỉ đọc những gì củng cố ý kiến sẵn có. Có thể nói nhiều về tự do nhưng tránh mọi trách nhiệm dài hạn. Có thể muốn được tin tưởng nhưng không chịu đi qua những công việc nhỏ cần thiết để xây dựng lòng tin. Vì thế, sự học hỏi cần đi cả hai chiều. Người lớn tuổi có thể học một phương tiện mới từ người trẻ; người trẻ có thể học sự kiên trì, tính cẩn trọng và khả năng nhìn hậu quả từ người có kinh nghiệm. Không ai sở hữu toàn bộ chiếc bể. Không một thế hệ nào đủ hiểu biết để khỏi cần thế hệ khác. Khi người già chỉ bảo vệ quá khứ và người trẻ chỉ chế giễu quá khứ, cả hai đều bỏ lỡ cơ hội cùng tạo nên một tương lai tốt hơn. Một cuộc đối thoại có thể mở rộng vùng nước của cả hai bên nếu mỗi người chịu mang đến điều mình biết và thừa nhận điều mình chưa biết.

Đời sống trên mạng cũng có những thành kính khó nhìn thấy. Mỗi ngày ta có thể gặp vô số khuôn mặt, câu chuyện và ý kiến, nhưng vẫn chỉ ở trong một vòng rất hẹp nếu luôn chọn những điều khiến mình dễ chịu. Ta quen nghe người đồng quan điểm, quen giận cùng một nhóm, quen chia sẻ những nội dung xác nhận rằng phía mình đúng. Một người sống cách ta rất xa có thể được ta quan tâm từng giờ, còn người ở phòng bên lại không được hỏi một câu. Ta biết chuyện của người nổi tiếng nhưng không biết hôm nay cha mẹ có mệt không. Ta trả lời nhanh một bình luận của người lạ nhưng để tin nhắn của người thân chờ rất lâu. Ta nhìn thấy nhiều hình ảnh về cuộc đời mà ít có mặt trong cuộc đời cụ thể mình được trao. Muốn đổi hướng trong hoàn cảnh ấy, có thể cần một việc rất đơn giản: đặt điện thoại xuống khi có người đang nói; dành một bữa ăn không kiểm tra thông báo; đọc trọn một bài có lập luận khác với mình; kiểm chứng trước khi chia sẻ; gặp trực tiếp một người mình đã lâu chỉ liên lạc qua màn hình. Khoảng rộng hơn đôi khi nằm ngay trước mắt, nơi có một con người thật đang cần sự chú ý thật của ta.

Ta cũng dễ mắc kẹt trong vùng nước của bận rộn. Có người ngày nào cũng chạy, nhưng chạy trong cùng một vòng: thức dậy trong vội vàng, giải quyết việc gấp, đáp ứng yêu cầu của mọi người, đến tối kiệt sức, rồi tự nhủ hôm sau sẽ sống khác. Họ có thể rất tận tụy, nhưng lâu dần không còn biết việc nào thật sự cần mình, việc nào có thể giao, việc nào nên dừng. Sự bận rộn trở thành một bằng chứng để họ cảm thấy mình có giá trị. Khi không có ai cần, họ bối rối. Khi có một khoảng trống, họ lập tức lấp vào bằng thêm công việc. Đối với người ấy, bước ra khỏi vùng nước quen có thể là chịu ngồi yên và đối diện với câu hỏi: “Tôi đang sống vì điều gì? Những người tôi nói rằng mình yêu đang nhận được phần nào của tôi? Tôi còn đủ sức để hiện diện với họ không?” Những câu hỏi ấy không dễ trả lời, vì chúng có thể cho thấy ta đã dùng công việc để tránh một nỗi trống vắng hoặc một mối tương quan đang khó khăn. Nhưng nếu không dừng lại để nhìn, ta có thể dành nhiều năm rất năng động mà vẫn không tiến gần hơn đến điều thật sự quan trọng.

Một vùng nước khác là nỗi giận quen thuộc. Có người giữ một chuyện cũ như giữ một món đồ luôn sẵn để lấy ra mỗi khi cần chứng minh mình bị đối xử bất công. Họ có lý do để đau, nhưng nỗi đau dần chiếm cả cách nhìn cuộc đời. Người mới được đánh giá bằng lỗi của người cũ. Một thiện ý được đọc như một âm mưu. Một cuộc trò chuyện bị chặn bởi điều từng xảy ra rất lâu. Tha thứ trong hoàn cảnh ấy không phải chuyện đơn giản, và không thể bị thúc ép bằng vài câu đạo đức. Tuy nhiên, ta có thể từng bước ngừng để người gây tổn thương tiếp tục quyết định toàn bộ tương lai mình. Có thể bắt đầu bằng việc không kể đi kể lại câu chuyện ấy trong mọi cuộc gặp. Có thể chọn một người đủ tin cậy để cùng nhìn lại nỗi đau. Có thể cầu nguyện bằng những lời rất thật, kể cả khi chưa có khả năng chúc điều tốt cho người kia. Có thể đặt giới hạn cần thiết và dành sức cho những mối tương quan lành mạnh. Một người chưa quên được vẫn có thể bắt đầu sống rộng hơn. Quá khứ có thể tiếp tục là một phần của câu chuyện, nhưng dần dần không còn là người viết mọi chương tiếp theo.

Muốn thay đổi, ta cần biết mình đang quay đầu ở đâu. Trong câu chuyện con cá, điều đáng chú ý là nó đổi hướng tại chỗ từng có thành kính. Trong đời mình cũng có những điểm như vậy: vừa nghĩ đến việc học thì nhớ tuổi tác và dừng lại; vừa định góp ý thì sợ mất lòng và im lặng; vừa muốn xin lỗi thì tự ái nổi lên; vừa có ý tưởng thì nghĩ chắc người khác sẽ cười; vừa muốn cầu nguyện thì nhớ những lần khô khan và bỏ qua. Những điểm quay đầu ấy thường diễn ra rất nhanh, đến mức ta tưởng quyết định của mình là tự nhiên. Nhưng nếu chịu quan sát, ta có thể nhận ra một quy luật. Mình luôn tránh cùng một loại cuộc trò chuyện. Mình luôn hoãn cùng một việc cần thiết. Mình luôn nổi nóng khi nghe cùng một điều. Mình luôn thu mình trước cùng một kiểu người. Việc nhận ra không lập tức giải quyết mọi chuyện, nhưng nó giúp ta thôi sống hoàn toàn theo phản xạ. Ta có thể hỏi: “Điều tôi sợ đang thật sự hiện diện hôm nay hay chỉ là ký ức? Nguy cơ này lớn đến mức nào? Tôi có thể chuẩn bị gì? Ai có thể giúp? Có một bước nhỏ nào đủ an toàn để thử không?” Khi câu hỏi cụ thể xuất hiện, một bức tường mơ hồ bắt đầu có những điểm có thể đi qua.

Bởi vậy, thay đổi thường cần được đặt vào một việc rõ ràng. “Tôi sẽ sống tốt hơn” là một mong muốn đẹp, nhưng khó thực hiện nếu không có hình hài. “Tối nay tôi sẽ nghe con nói mười lăm phút mà không cầm điện thoại” là một hành động có thể làm. “Tôi sẽ đổi mới công việc” còn quá rộng; “tuần này tôi sẽ chọn một việc đang mất nhiều thời gian, hỏi người thực hiện và thử một cách đơn giản hơn” thì cụ thể. “Tôi sẽ chăm đời sống thiêng liêng” cần được nối với một giờ có thể giữ, một đoạn Tin Mừng có thể đọc, một khoảng thinh lặng có thể dành. “Tôi sẽ bớt nóng” có thể bắt đầu bằng việc nhận ra dấu hiệu mình sắp lớn tiếng và xin tạm dừng trước khi làm người khác tổn thương. Một bước nhỏ có giá trị khi nó thật sự chạm vào thói quen cần thay đổi. Ta có thể đọc rất nhiều bài về lòng can đảm mà vẫn tránh một cuộc nói chuyện cần thiết. Ta có thể mua nhiều sách về quản lý mà không chịu giao một việc. Ta có thể nghe nhiều bài giảng về yêu thương mà vẫn không chịu nói lời xin lỗi. Kiến thức trở nên hữu ích khi được đưa vào một hành vi mà hôm qua ta chưa làm được.

Khi thử một cách mới, cũng cần chấp nhận rằng kết quả có thể chưa tốt ngay. Một buổi trò chuyện gia đình có thể lúng túng. Một người con lâu ngày không được lắng nghe có thể chưa muốn nói. Một nhân viên quen bị bác bỏ ý kiến có thể không lập tức tin rằng lần này mình được tham gia thật. Một người đã nhiều lần thất hứa phải cần thời gian để xây lại uy tín. Ta không nên dùng phản ứng đầu tiên của người khác làm bằng chứng rằng cố gắng của mình vô ích. Những vòng bơi được hình thành trong nhiều năm khó đổi hẳn sau một buổi tối. Người khác cũng cần học cách đón nhận một phiên bản mới của ta. Nếu trước đây ta hay trách móc, một lời hỏi thăm có thể khiến họ dè chừng. Nếu trước đây ta kiểm soát, một lời giao việc có thể khiến họ nghi ngờ. Sự nhất quán sẽ giúp họ hiểu dần. Cứ giữ lời hứa nhỏ. Cứ lắng nghe thêm một lần. Cứ làm điều đã nói. Cứ nhận trách nhiệm khi lỡ quay về cách cũ. Có những cánh cửa mở bằng sự kiên trì của nhiều ngày, không mở bằng một lời giải thích thật hay.

Với một tập thể, muốn mọi người dám đi xa hơn thì người có trách nhiệm phải tạo điều kiện thật. Không thể kêu gọi sáng kiến rồi làm nhục người mắc lỗi trong một thử nghiệm đã được cho phép. Không thể yêu cầu mọi người thẳng thắn rồi nổi giận khi nghe điều bất tiện. Không thể khuyến khích học hỏi mà không dành thời gian để học. Không thể mời người mới tham gia rồi giữ họ mãi ở ngoài những quyết định có liên quan đến công việc được giao. Một thử nghiệm có trách nhiệm cần mục tiêu, phạm vi, nguồn lực và thời điểm nhìn lại. Người thực hiện cần biết điều gì được phép điều chỉnh, điều gì phải bảo đảm, khi nào nên dừng. Sau đó, tập thể cần đánh giá bằng điều đã xảy ra, không bằng việc đề xuất xuất phát từ người mình thích hay không thích. Nếu kết quả chưa đạt, có thể hỏi: “Chúng ta học được gì? Phần nào cần sửa? Có nên thử tiếp không?” Cách đối xử ấy giúp người ta vừa can đảm vừa có trách nhiệm. Một người được tôn trọng sẽ dễ nói sớm về khó khăn. Một người sợ bị kết án có thể che giấu khó khăn cho đến khi nó lớn hơn nhiều.

Ta cần những người đồng hành trong hành trình này. Có một người biết nghe, một người dám góp ý, một người có kinh nghiệm, một người nhắc ta giữ điều quan trọng có thể giúp việc đổi hướng bớt đơn độc. Tuy nhiên, người đồng hành tốt cũng phải tôn trọng nhịp bước của ta. Họ có thể khích lệ mà không giục ép, chỉ ra giới hạn mà không làm ta xấu hổ, nhắc về trách nhiệm mà không lấy quyền quyết định thay ta. Trong đời sống đức tin, một cuộc trò chuyện chân thành với người hướng dẫn, một nhóm nhỏ cùng cầu nguyện, một cộng đoàn biết nâng đỡ có thể giúp ta nhận ra những điều khi ở một mình ta khó nhìn. Nhưng ta cũng cần tránh tìm người đồng hành chỉ để được xác nhận rằng mình luôn đúng. Nếu mọi người được ta chọn đều không bao giờ chất vấn ta, có thể ta chỉ mở rộng vòng bơi bằng cách mang thêm người vào cùng chiếc bể cũ. Một tình bạn trưởng thành cho phép cả sự an ủi lẫn sự thật. Người yêu quý ta có thể nói: “Tôi hiểu vì sao bạn sợ, nhưng điều này cần được đối diện.” Khi lời ấy được nói trong sự tôn trọng, nó có thể trở thành một bàn tay giúp ta bước qua nơi mình vẫn dừng.

Trong tất cả những suy nghĩ về thay đổi, ta cũng cần dành chỗ cho lòng biết ơn quá khứ. Vùng nước quen từng nuôi ta. Có những thói quen do cha mẹ để lại, những phương pháp người đi trước đã vất vả xây dựng, những cách sống giúp ta đi qua thiếu thốn. Ta không cần khinh thường chúng để có thể lớn lên. Một người học cách quản lý mới vẫn có thể biết ơn kinh nghiệm của người thầy cũ. Một gia đình điều chỉnh nếp sinh hoạt vẫn có thể giữ lòng quý trọng những năm tháng ông bà đã gây dựng. Một giáo xứ tìm phương thức đồng hành mới vẫn có thể trân trọng những người đã âm thầm phục vụ nhiều thập niên. Việc một cách làm cần thay đổi hôm nay không có nghĩa nó vô ích hôm qua. Hoàn cảnh khác đi, nhu cầu khác đi, khả năng cũng khác đi. Lòng biết ơn giúp ta thay đổi mà không tàn nhẫn. Sự tỉnh táo giúp ta biết ơn mà không đóng băng hiện tại. Ta có thể nói với người đi trước: “Nhờ những điều quý giá đã được trao, chúng con có nền tảng để tiếp tục.” Một di sản được sống thường tiếp tục sinh hoa trái trong những cách diễn đạt mới, phù hợp với người đang cần được phục vụ.

Đối với người có tuổi, điều ấy cũng là một lời mời rất đẹp. Không phải ai cũng cần bắt đầu một công việc lớn hay theo kịp mọi công nghệ. Nhưng mỗi người vẫn có thể giữ một khả năng học hỏi. Học dùng một ứng dụng để gọi cho cháu. Học nghe một câu hỏi khó của người trẻ mà chưa vội buồn. Học kể kinh nghiệm của mình bằng giọng chia sẻ, thay vì buộc người nghe phải sống y hệt. Học để con cái giúp mình mà không cảm thấy mình đã trở nên vô dụng. Học một cách cầu nguyện sâu hơn khi sức khỏe không còn cho phép hoạt động như trước. Có những người về già trở nên rất rộng lòng, vì họ hiểu mình đã đi qua nhiều giai đoạn và không ai có thể nắm chặt mọi điều mãi. Có những người lại co lại trong những phán xét, vì mọi đổi thay đều làm họ cảm thấy vị trí của mình bị đe dọa. Tuổi tác không quyết định hoàn toàn điều đó. Một trái tim chịu học vẫn có thể trẻ trong sự đón nhận. Một người rất trẻ cũng có thể già trong cách nghĩ nếu không còn muốn hiểu điều gì ngoài ý kiến của mình.

Có lẽ một câu hỏi cần thiết cho mỗi ngày là: “Hôm nay, tôi có để cuộc đời dạy mình điều gì không?” Một cuộc gặp có thể cho ta biết mình đã hiểu sai về một người. Một lời góp ý có thể giúp ta nhận ra cách nói của mình đang gây tổn thương. Một khó khăn có thể cho thấy phương pháp cũ cần được điều chỉnh. Một đoạn Tin Mừng có thể làm ta nhìn lại một điều vẫn luôn tự bào chữa. Một người nghèo có thể khiến ta xét lại cách dùng những gì mình có. Một đứa trẻ có thể giúp ta nhớ rằng có những điều rất đơn sơ mình đã bỏ quên. Nếu gặp điều gì cũng lập tức xếp vào những kết luận sẵn có, ta sẽ đi qua rất nhiều sự kiện mà không được biến đổi. Nhưng khi chịu hỏi, chịu nghe, chịu sửa, cuộc sống thường ngày cũng trở thành nơi học hỏi. Ta không cần đợi một biến cố lớn mới bắt đầu. Một câu nói được giữ lại trước khi làm đau người khác, một lời xin lỗi được thưa ra đúng lúc, một giờ học được dành đều đặn, một việc phục vụ được làm kín đáo đều có thể mở thêm một khoảng sống.

Và khi nhìn về đức tin, ta có thể thưa với Chúa rất thật: “Lạy Chúa, con có những điều quen đến mức không còn nhận ra. Con quen phản ứng trước khi lắng nghe. Con quen tự vệ trước khi xét mình. Con quen xin người khác thay đổi mà ít nhìn điều cần đổi nơi con. Con quen tìm sự yên ổn bằng cách tránh điều khó, rồi gọi sự tránh né ấy bằng những lý do nghe có vẻ tốt đẹp. Xin giúp con nhìn rõ. Xin cho con biết quý những điều đã nuôi dưỡng con, biết giữ những gì cần giữ và có can đảm sửa những gì đang khiến con xa Chúa, xa người khác, xa sự thật về chính mình. Xin đừng để con bắt đầu một việc chỉ vì muốn được nhìn nhận, cũng đừng để con bỏ một việc cần thiết chỉ vì sợ mất sự nhìn nhận. Xin cho con đủ khiêm tốn để học, đủ kiên nhẫn để đi chậm khi cần, đủ trách nhiệm để cân nhắc và đủ lòng tin để bước tiếp sau khi đã phân định. Khi con quay lại cách cũ, xin nâng con dậy. Khi người khác tiến chậm, xin cho con biết đồng hành bằng lòng thương xót mà con vẫn mong được nhận.”

Ngoài vùng nước quen, có thể còn những điều ta chưa biết về người khác và về chính mình. Có thể người con ta tưởng lạnh lùng đang đợi một lần được nghe đến cùng. Có thể người đồng nghiệp ta tưởng không có sáng kiến đã ngừng đề xuất vì nhiều lần bị gạt đi. Có thể công việc ta tưởng không thể cải thiện chỉ cần một câu hỏi đúng với người đang làm nó mỗi ngày. Có thể khả năng ta nghĩ mình không có sẽ dần hình thành sau những tháng chịu học. Có thể đời sống cầu nguyện ta tưởng đã cạn khô cần một sự trở về chân thành, một nhịp sống bớt phân tán, một khoảng thinh lặng được gìn giữ. Có thể sự bình an ta đang tìm không nằm trong việc buộc mọi người làm theo ý mình, mà trong việc học hiện diện với họ bằng một lòng bớt sợ hãi. Những khả năng ấy không phải lời bảo đảm rằng mọi thử nghiệm đều thành công. Chúng chỉ nhắc ta rằng kết luận cũ có thể chưa nói hết sự thật. Trước khi quay đầu ở chỗ từng có thành kính, ta có thể dừng một chút, nhìn lại và thử đi thêm một đoạn.

Con cá trong câu chuyện không biết chiếc bể đã rộng hơn. Con người thì có khả năng nhận ra, suy nghĩ, nhờ giúp đỡ và chọn một bước khác. Ta có thể bắt đầu ngay từ điều rất gần: một người cần được nghe, một việc cần được học, một lời cần được xin lỗi, một thói quen cần được xem lại. Không nhất thiết phải có một khởi đầu ngoạn mục. Có khi cả hành trình mới bắt đầu từ việc hôm nay ta không trả lời bằng câu vẫn thường trả lời; không đóng cửa bằng định kiến vẫn thường dùng; không hoãn thêm việc mình biết đã đến lúc phải làm. Rồi từ một bước ấy, ta học bước tiếp. Chiếc bể rộng không làm mất những vòng bơi cũ trong trí nhớ, nhưng từng lần đi xa hơn sẽ giúp ta có thêm kinh nghiệm mới. Ta sẽ có những điểm tựa mới, những hiểu biết mới, những cách yêu thương trưởng thành hơn. Và đến một ngày, nhìn lại chỗ mình từng luôn quay đầu, ta có thể mỉm cười biết ơn: nơi ấy từng là giới hạn của tôi, nhưng tôi đã học được cách đi tiếp. Phía ngoài vùng nước quen vẫn còn một phần cuộc đời cần được sống, một phần tình thương cần được trao, một phần con người mình cần được lớn lên.

Lm. Anmai, CSsR.