TỪ ĐỨC GIO-AN PHAO-LÔ THỨ HAI ĐẾN ĐỨC LÊ-Ô THỨ MƯỜI BỐN: BỐN MƯƠI NĂM TINH THẦN A-XI-DI – Lm. Anmai, CSsR – Suy tư về cầu nguyện, đối thoại, căn tính đức tin và trách nhiệm xây dựng hòa bình.

22

TỪ ĐỨC GIO-AN PHAO-LÔ THỨ HAI ĐẾN ĐỨC LÊ-Ô THỨ MƯỜI BỐN: BỐN MƯƠI NĂM TINH THẦN A-XI-DI

Suy tư về cầu nguyện, đối thoại, căn tính đức tin và trách nhiệm xây dựng hòa bình.

LỜI MỞ ĐẦU. KHI NHÂN LOẠI CẦN HỌC LẠI CÁCH ĐỨNG BÊN NHAU.

Có những ngày đi qua lịch sử bằng tiếng nổ. Có những ngày được ghi nhớ vì một bức tường sụp xuống, một hiệp ước được ký kết, một cuộc chiến bắt đầu hoặc một chế độ chấm dứt. Nhưng cũng có những ngày để lại dấu ấn bằng sự thinh lặng của những con người chấp nhận đứng bên nhau. Họ không nói cùng một thứ tiếng. Họ không cùng tuyên xưng một đức tin. Họ mang trong ký ức những truyền thống khác nhau, những câu chuyện khác nhau, và có khi cả những vết thương do người thuộc cộng đồng của nhau gây ra. Tuy nhiên, họ đã đến. Họ dành cho nhau một chỗ đứng. Họ nhìn nhận rằng giữa những khác biệt rất thật, vẫn có một trách nhiệm không thể trao cho ai khác: bảo vệ con người và cùng nhau tìm kiếm hòa bình.

Ngày hai mươi bảy tháng mười năm một nghìn chín trăm tám mươi sáu, tại thành A-xi-di của nước Ý, Đức Giáo hoàng Gio-an Phao-lô thứ Hai đã mở ra một cuộc gặp gỡ như thế. Bốn mươi năm sau, khi nhìn lại, điều đáng suy nghĩ không chỉ là có bao nhiêu người đã hiện diện, những ai đã phát biểu, hoặc bức ảnh nào đã trở nên nổi tiếng. Điều đáng suy nghĩ hơn là một câu hỏi vẫn còn ở lại: sau bốn mươi năm, những người có tôn giáo đã làm được gì để người khác bớt sợ hãi nhau? Những lời cầu nguyện của chúng ta đã giúp bàn tay mình bớt nắm chặt vì giận dữ chưa? Những giờ phút ở trước Thiên Chúa có làm chúng ta kiên nhẫn hơn trước một người khác mình chưa? Và khi thấy một người thuộc tôn giáo khác bị đối xử bất công, chúng ta có nhận ra phẩm giá đang bị xúc phạm ấy cũng là điều mình có trách nhiệm bảo vệ không?

Tinh thần A-xi-di đi vào những câu hỏi rất gần như thế. Nó không chỉ thuộc về các hội nghị quốc tế, các vị lãnh đạo tôn giáo, các cuộc gặp được chuẩn bị công phu. Nó chạm đến cách một người cha nói về người hàng xóm khác đạo trước mặt con. Nó chạm đến cách một giáo dân tiếp đón người chưa biết Chúa bước vào khuôn viên nhà thờ. Nó chạm đến cách chúng ta đọc một thông tin gây phẫn nộ trên mạng, cách chúng ta kể lại một biến cố đau buồn, và cách chúng ta có thể vô tình gieo vào lòng người trẻ sự nghi ngờ cả một cộng đồng chỉ vì lỗi của một vài cá nhân. Hòa bình thế giới có những vấn đề vượt quá khả năng của mỗi người. Nhưng sự thù ghét cũng thường tìm đường vào thế giới qua những lời nói rất nhỏ mà mỗi người hoàn toàn có thể chịu trách nhiệm.

Bởi vậy, nhìn lại bốn mươi năm tinh thần A-xi-di là dịp để trở về với chính đời sống đức tin. Chúng ta muốn biết các vị giáo hoàng đã nói gì, nhưng cũng cần hỏi mình đã nghe thế nào. Chúng ta muốn hiểu Giáo hội mở cửa đối thoại ra sao, nhưng cũng phải nhìn xem lòng mình có đang đóng cửa trước người khác hay không. Một sự kiện lịch sử chỉ thực sự sinh hoa trái khi nó giúp thay đổi những quyết định trong hiện tại. Nếu cuối cùng chúng ta chỉ biết thêm một ngày tháng, thêm một tên văn kiện, mà vẫn tiếp tục làm đau người khác bằng sự khinh miệt, thì ký ức ấy chưa đi vào đời sống. Còn nếu từ ký ức ấy, một người bắt đầu thôi chế giễu niềm tin của hàng xóm, một gia đình bắt đầu dạy con biết kính trọng người khác đạo, một cộng đoàn bắt đầu hợp tác để chăm sóc người nghèo, thì điều đã diễn ra tại A-xi-di vẫn đang tiếp tục có sức sống.

PHẦN MỘT. MỘT CUỘC GẶP GỠ ĐÃ MỞ RA NHỮNG CÂU HỎI LỚN.

Chương một. Trước khi có đối thoại, phải có can đảm gặp mặt.

Chúng ta thường tưởng gặp nhau là việc dễ dàng. Chỉ cần gửi lời mời, chuẩn bị chỗ ngồi, sắp xếp thời gian. Nhưng với những người đến từ các truyền thống tôn giáo khác nhau, gặp gỡ còn bao hàm một sự vượt qua bên trong. Phải vượt qua nỗi sợ bị hiểu lầm. Phải vượt qua định kiến đã được nghe từ nhỏ. Phải vượt qua tâm lý cho rằng sự hiện diện của mình bên cạnh người khác sẽ khiến người ta nghi ngờ lòng trung thành của mình. Có người muốn gặp nhưng sợ cộng đồng phản đối. Có người muốn nghe nhưng sợ mình sẽ bị xem là yếu đuối. Có người giữ khoảng cách lâu đến mức việc bước sang thăm nhau đã trở thành một hành động cần rất nhiều can đảm.

Chính trong hoàn cảnh ấy, một cử chỉ của người lãnh đạo có thể mở ra không gian mới. Đức Gio-an Phao-lô thứ Hai đã chọn gặp gỡ. Ngài không yêu cầu các đại diện tôn giáo giải quyết xong những khác biệt rồi mới cùng hiện diện vì hòa bình. Những khác biệt vẫn còn đó. Các niềm xác tín vẫn cần được diễn tả trung thực. Nhưng có một điều không thể đợi đến khi mọi cuộc thảo luận thần học kết thúc: trẻ em vẫn cần được sống, người dân vẫn cần được bảo vệ, các dân tộc vẫn cần học cách cùng tồn tại. Con người không thể bị bỏ mặc trong khi những người có trách nhiệm chờ đợi một sự đồng thuận toàn diện chưa biết bao giờ mới đến.

Kinh nghiệm ấy cũng giúp chúng ta suy nghĩ về những mâu thuẫn rất nhỏ. Nhiều gia đình không nói chuyện với nhau vì ai cũng muốn người kia nhận lỗi trước. Nhiều nhóm trong một cộng đoàn không thể hợp tác vì đều muốn được nhìn nhận là bên đúng. Có những mối bất hòa kéo dài đến mức người ta quên cả chuyện ban đầu, chỉ còn nhớ mình không được phép làm hòa quá dễ. Khi ấy, gặp lại nhau đã là một bước quan trọng. Ngồi cùng một bàn chưa có nghĩa mọi vấn đề được giải quyết, nhưng tạo cơ hội để vấn đề được giải quyết bằng lời nói thay vì tiếp tục lớn lên trong sự tưởng tượng.

Một cuộc gặp chân thành cần sự chuẩn bị. Cần biết mình đến để làm gì. Cần có khả năng nghe điều không vừa ý. Cần tránh biến người đối diện thành khán giả cho bài nói mình đã soạn sẵn. Và cần biết giới hạn: gặp gỡ không buộc người bị tổn thương phải bỏ qua sự thật hoặc chấp nhận nguy hiểm. Có những cuộc đối thoại cần trung gian, cần điều kiện bảo vệ, cần thời gian. Can đảm gặp nhau phải đi cùng sự khôn ngoan. Nhưng sự khôn ngoan ấy không nên bị dùng như một tên gọi đẹp cho việc trì hoãn vô thời hạn. Có lúc điều thiện bắt đầu bằng việc một người dám nói: chúng ta hãy tìm một cách để nghe nhau.

Chương hai. Thành A-xi-di và ký ức về một con người của Tin Mừng.

A-xi-di gắn liền với thánh Phan-xi-cô. Khi chọn thành phố ấy làm nơi gặp gỡ, Đức Gio-an Phao-lô thứ Hai đặt cuộc gặp trong một không gian đã được ghi dấu bởi chứng tá về sự nghèo khó, lòng khiêm nhường và tình huynh đệ. Điều này không có nghĩa một địa danh tự nó làm con người nên hòa thuận. Những bức tường cổ không thể thay thế sự hoán cải. Một quảng trường đẹp không tự động xóa bỏ nghi kỵ. Nhưng ký ức về một đời sống Tin Mừng có thể đặt lại câu hỏi về cách chúng ta sử dụng quyền lực, của cải và niềm xác tín của mình.

Thánh Phan-xi-cô nhắc người Ki-tô hữu rằng bước theo Đức Ki-tô bao gồm việc để mình được giải thoát khỏi nhu cầu chiếm hữu. Chúng ta dễ nghĩ chiếm hữu chỉ liên quan đến tiền bạc. Thực ra, con người còn muốn chiếm hữu danh dự, tiếng nói cuối cùng, quyền được giải thích mọi việc theo cách có lợi cho mình. Trong tranh luận, ta muốn người khác phải thừa nhận mình thông minh hơn. Trong cộng đoàn, ta muốn ý kiến mình luôn được chọn. Trong gia đình, ta muốn sự hy sinh của mình trở thành lý do để mọi người phải nghe theo. Khi những ham muốn ấy được phủ lên bằng ngôn ngữ đạo đức, chúng càng khó bị nhận ra.

Sự nghèo khó Tin Mừng giúp ta đặt bàn tay xuống. Ta không cần nắm mọi thứ mới được bình an. Ta không cần làm người đối diện nhỏ lại để giữ phẩm giá của mình. Ta có thể nói rõ điều mình tin mà không phải đe dọa. Ta có thể giữ sự thật mà không nuôi khoái cảm chiến thắng. Một người có khả năng lắng nghe không vì thế mà mất căn tính. Trái lại, họ cho thấy mình đủ vững để không phải phản ứng với mọi khác biệt như thể đó là một cuộc tấn công vào sự hiện hữu của mình.

Từ đó, thành A-xi-di trở thành một lời nhắc cho những cộng đoàn Ki-tô hữu: muốn nói về hòa bình, trước hết hãy xét lại điều đang làm lòng mình mất bình an. Có phải chúng ta cần được người khác công nhận quá nhiều? Có phải chúng ta giữ những mối thù như một thứ tài sản? Có phải chúng ta quen kể câu chuyện theo cách mình luôn là nạn nhân hoàn toàn vô tội? Những câu hỏi ấy không nhằm phủ nhận những bất công đã xảy ra. Chúng giúp chúng ta nhìn nhận phần tự do còn lại của mình: ngay trong hoàn cảnh bị tổn thương, tôi vẫn cần chọn cách không để sự thù ghét quyết định toàn bộ con người tôi.

Chương ba. Một ngày cầu nguyện giữa một thế giới còn nhiều chia cắt.

Năm một nghìn chín trăm tám mươi sáu vẫn thuộc thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Nhân loại sống dưới những chia cắt chính trị và nỗi lo về sức mạnh có thể hủy diệt chính mình. Trong bối cảnh ấy, ngày cầu nguyện tại A-xi-di làm nổi bật một chiều kích thường bị xem nhẹ: hòa bình cần những quyết định chính trị và những cơ chế công bằng, đồng thời cũng cần sự biến đổi trong lương tâm. Nếu con người vẫn coi dân tộc khác chỉ là mối đe dọa, vẫn xem mạng sống bên kia là ít đáng kể hơn, thì một văn bản được ký kết cũng có thể bị phá bỏ khi tương quan quyền lực thay đổi.

Cầu nguyện đưa người tín hữu trở về với sự thật về giới hạn của mình. Tôi không làm chủ lịch sử. Tôi không có toàn bộ hiểu biết. Nỗi sợ của tôi không tự động trở thành lý do chính đáng để làm hại người khác. Sự đau khổ của cộng đồng tôi có thật, nhưng không xóa được đau khổ của cộng đồng khác. Đặt mình trước Thiên Chúa, người ta được mời gọi nhận rằng mọi con người đều lớn hơn những nhãn dán mà mình đặt lên họ. Một dân tộc không thể bị giản lược thành chính quyền của họ. Một người dân không thể bị coi là mục tiêu chỉ vì nơi họ được sinh ra.

Tuy nhiên, cầu nguyện không miễn cho chúng ta trách nhiệm tìm hiểu và hành động. Nếu vừa cầu xin hòa bình vừa cố tình làm ngơ trước sự thật, ta đang khiến lời cầu nguyện xa rời đời sống. Nếu xin cho người nghèo được nâng đỡ nhưng không trả công công bằng cho người làm việc với mình, ta đang bỏ qua điều nằm ngay trong khả năng. Nếu xin cho bạo lực chấm dứt nhưng lại thích chia sẻ những lời kích động, ta cần dừng lại để xét mình. Lời cầu nguyện chân thành giúp ta nhận ra những điều ấy, rồi thúc đẩy ta thay đổi.

Cũng không nên xem một ngày cầu nguyện như chiếc công tắc có thể lập tức dừng mọi cuộc chiến. Một lời cầu xin không biến con người thành công cụ bị điều khiển. Những lựa chọn tự do, những cơ cấu bất công, những lợi ích và nỗi sợ vẫn cần được đối diện. Giá trị của cầu nguyện không chỉ được đo bằng một kết quả tức thời mà ta có thể nhìn thấy. Nó còn nằm ở việc giữ cho lương tâm không đầu hàng, giữ cho người ta có khả năng hy vọng, và giúp những người xây dựng hòa bình tiếp tục làm điều đúng khi thành quả còn rất xa.

Chương bốn. Ở bên nhau mà vẫn trung thực với niềm tin của mình.

Một nguyên tắc cần được hiểu rõ ngay từ đầu: cuộc gặp liên tôn tại A-xi-di không thiết lập một tôn giáo mới. Các truyền thống không bị trộn vào một nghi thức chung được tạo ra bằng cách lấy mỗi nơi một ít. Người Ki-tô hữu không được yêu cầu tạm ngưng niềm tin vào Đức Giê-su Ki-tô. Những người thuộc tôn giáo khác cũng không bị yêu cầu che giấu điều họ thật sự tuyên xưng. Mọi người hiện diện trong sự tôn trọng, với những hình thức cầu nguyện thuộc truyền thống của mình. Sự gần gũi không được xây bằng việc làm cho những khác biệt có vẻ như chưa từng tồn tại.

Điều này quan trọng vì có hai cách hiểu sai trái ngược nhau. Một phía nghĩ rằng muốn sống hòa thuận thì phải coi mọi điều các tôn giáo dạy đều giống nhau. Phía khác nghĩ rằng chỉ cần đứng bên người khác đạo đã là phản bội đức tin. Cả hai đều khiến cuộc gặp khó trở thành chân thật. Nếu phủ nhận khác biệt, ta sẽ không hiểu người đối diện. Nếu coi khác biệt là lý do để xa lánh, ta sẽ không có cơ hội hiểu họ. Đối thoại cần cả sự rõ ràng lẫn lòng kính trọng. Hai điều ấy giúp nhau, miễn là chúng ta không biến sự rõ ràng thành cứng cỏi và không biến lòng kính trọng thành né tránh sự thật.

Trong gia đình có người khác đạo, nguyên tắc ấy rất thiết thực. Vợ chồng cần nói rõ những điều liên quan đến việc sống đức tin, giáo dục con cái, tham dự các nghi lễ và kính nhớ tổ tiên. Những câu hỏi khó không biến mất chỉ vì lúc đầu hai người ngại nói. Nhưng trao đổi cần được thực hiện trong tình thương, với sự hướng dẫn thích hợp, tránh gây sức ép hoặc làm nhục nhau. Việc bảo vệ căn tính đức tin không cho phép một người coi người bạn đời như đối tượng phải khuất phục. Và lòng yêu thương người bạn đời cũng không buộc người tín hữu phải giả vờ rằng những điều thiêng liêng đối với mình không còn quan trọng.

Đối thoại chân thành còn đòi hỏi không mượn người khác để làm đẹp hình ảnh của mình. Một cuộc gặp có thể được chụp ảnh rất đẹp nhưng người tham dự không thật sự được nghe. Một buổi giao lưu có thể có nhiều lời thân thiện nhưng các quyết định vẫn được chuẩn bị theo cách không ai khác được góp ý. Tinh thần A-xi-di đặt ra yêu cầu sâu hơn: người khác phải được hiện diện như một chủ thể có tiếng nói, có lương tâm, có quyền nói rõ điều họ tin và điều họ lo ngại. Chỉ khi ấy, gặp gỡ mới có cơ hội sinh ra lòng tin.

Chương năm. Một gia đình nhân loại và những khác biệt không thể phủ nhận.

Ngày hai mươi hai tháng mười hai năm một nghìn chín trăm tám mươi sáu, trong diễn từ với Giáo triều Rô-ma, Đức Gio-an Phao-lô thứ Hai đã suy tư về ý nghĩa thần học của cuộc gặp. Ngài nhìn sự kiện dưới ánh sáng của Công đồng Va-ti-căng thứ Hai và sự thống nhất sâu xa của gia đình nhân loại trong công trình của Thiên Chúa. Theo đức tin Công giáo, mọi người đều có phẩm giá đến từ Đấng Tạo Hóa. Sự khác biệt về văn hóa, lịch sử và tôn giáo không làm cho một người kém thuộc về nhân loại hơn người khác. Nhìn nhận điều đó giúp Giáo hội ý thức rõ hơn về sứ mạng phục vụ sự hiệp nhất và hòa giải.

Từ nền tảng ấy, chúng ta có thể đi đến những hệ quả rất cụ thể. Người nghèo khác đạo không phải là người nghèo hạng hai. Trẻ em thuộc một cộng đồng khác không có quyền được an toàn ít hơn trẻ em trong cộng đồng mình. Nỗi đau của một người mẹ không mất đi giá trị vì bà cầu nguyện theo một truyền thống khác. Nếu đức tin giúp chúng ta nhìn nhận mọi người như thụ tạo của Thiên Chúa, thì việc chỉ biết thương người thuộc nhóm mình là điều cần được thanh luyện. Lòng bác ái Ki-tô giáo có một hướng mở rộng không thể bị thu hẹp vào sự thuận tiện hoặc thân quen.

Nhưng cùng thuộc một gia đình nhân loại không có nghĩa các khác biệt giáo lý đều không quan trọng. Có những vấn đề về Thiên Chúa, về Đức Ki-tô, về ơn cứu độ và đời sống con người mà các truyền thống hiểu rất khác nhau. Đối thoại không giải quyết những khác biệt ấy bằng cách thay tên hoặc tránh nhắc tới. Nó tìm cách hiểu đúng trước khi nhận định. Nó cho phép mỗi bên trình bày bằng ngôn ngữ của mình. Nó khuyến khích sự khiêm tốn để nhận ra ta có thể đã hiểu sai người khác, đồng thời vẫn trung thành với điều ta tin là chân thật.

Điều cần tránh là biến bất đồng thành sự hạ thấp phẩm giá. Tôi có thể không đồng ý với một quan điểm mà vẫn bảo vệ quyền của người trình bày quan điểm ấy được đối xử công bằng. Tôi có thể xác tín đức tin của mình mà không được bịa chuyện về tôn giáo khác. Tôi có thể mời gọi người khác tìm hiểu Tin Mừng mà không dùng sự thiếu thốn của họ để tạo sức ép. Những giới hạn đạo đức ấy không làm suy yếu chứng tá. Chúng giúp chứng tá có hình dáng phù hợp hơn với Đấng mà người Ki-tô hữu muốn giới thiệu.

PHẦN HAI. ĐỨC GIO-AN PHAO-LÔ THỨ HAI VÀ CHIỀU SÂU CỦA CUỘC GẶP.

Chương sáu. Công đồng mở ra một cách nhìn cần được sống bằng hành động.

Công đồng Va-ti-căng thứ Hai, qua tuyên ngôn về tương quan với các tôn giáo ngoài Ki-tô giáo, thường được gọi bằng tên La-tinh đọc gần âm là Nốt-tra Ê-ta-tê, đã mời gọi người Công giáo đối xử với người khác trong tinh thần đối thoại và hợp tác. Văn kiện nhìn nhận những điều chân thật và thánh thiện hiện diện trong các truyền thống khác, đồng thời tiếp tục khẳng định việc Giáo hội loan báo Đức Ki-tô. Hai chiều kích ấy cần được đọc chung. Nếu chỉ giữ lòng quý trọng mà bỏ việc làm chứng cho Đức Ki-tô, ta sẽ hiểu thiếu. Nếu chỉ nói về việc loan báo mà bỏ lòng tôn trọng, ta cũng sẽ hiểu thiếu.

Những văn kiện của Công đồng có thể được đọc trong lớp học, được trích trong bài giảng, được nhắc trong một cuộc họp. Nhưng điều khó hơn là để chúng thay đổi phản xạ của mình. Một người có thể thuộc nhiều câu về đối thoại mà vẫn nhăn mặt khi con chơi với một bạn khác đạo. Một cộng đoàn có thể treo biểu ngữ về tình huynh đệ mà vẫn kể những chuyện châm biếm niềm tin của hàng xóm. Một giáo lý viên có thể dạy rất nhiệt tình nhưng vô tình gieo cho trẻ cảm giác rằng muốn yêu Chúa thì phải coi thường những người không biết Chúa. Chính ở những nơi ấy, việc tiếp nhận Công đồng cần được kiểm chứng.

Sự kiện A-xi-di đem lại một hình ảnh cụ thể để người ta suy nghĩ. Các vị lãnh đạo không chỉ nói rằng cần gặp nhau; họ thực sự đến. Những khác biệt không được giải quyết hết, nhưng sự hiện diện bên nhau chứng tỏ rằng khác biệt không buộc phải dẫn tới thù nghịch. Từ đây, người tín hữu được mời gọi nhìn lại khoảng cách giữa điều Giáo hội tuyên dạy và điều mình làm. Tôi có đang đặt ra những bức tường mà Tin Mừng không đòi hỏi không? Tôi có đang coi một thành kiến văn hóa là đòi hỏi của đức tin không? Tôi có dạy con phân biệt điều mình tin với điều mình chỉ nghe kể lại không?

Để sửa những điều ấy, các cộng đoàn cần học hỏi nghiêm túc. Không cần biến mọi giáo dân thành chuyên gia tôn giáo học, nhưng cần giúp mọi người nhận ra những phân biệt căn bản. Đâu là tín điều Công giáo? Đâu là một tập tục địa phương? Đâu là thông tin đã kiểm chứng về một tôn giáo khác? Đâu chỉ là lời đồn? Một cộng đoàn hiểu biết sẽ ít bị lôi kéo bằng những câu chuyện gây sợ hãi. Và khi gặp điều chưa rõ, họ có thể hỏi người có trách nhiệm thay vì vội kết án. Đó cũng là một hình thức bảo vệ đức tin khỏi bị sử dụng bởi sự thiếu hiểu biết.

Chương bảy. Chúa Thánh Thần và điều thiện chúng ta gặp nơi người khác.

Trong thông điệp Sứ mạng Đấng Cứu Thế, đề ngày mồng bảy tháng mười hai năm một nghìn chín trăm chín mươi, Đức Gio-an Phao-lô thứ Hai nhắc đến hoạt động mầu nhiệm của Chúa Thánh Thần nơi con người, đồng thời liên hệ với kinh nghiệm A-xi-di. Đối với người Công giáo, việc nhận ra một lời cầu nguyện chân thành hay một khát vọng ngay lành nơi người chưa cùng đức tin không phải là lý do để quên Đức Ki-tô. Nó mời gọi ta nhìn rộng hơn về hoạt động của ân sủng, với lòng khiêm tốn trước những gì Thiên Chúa đang thực hiện vượt quá hiểu biết hữu hạn của mình.

Điều này giúp chữa một lối nghĩ rất dễ gặp: hễ điều tốt xuất hiện ngoài nhóm của tôi, tôi phải tìm cách giải thích để nó bớt tốt đi. Ta có thể gặp một người khác đạo sống rất hiếu thảo, trung thực và quảng đại, nhưng thay vì vui mừng, ta thấy khó chịu. Ta sợ việc thừa nhận họ sẽ làm giảm giá trị cộng đồng mình. Khi ấy, điều cần xem lại có thể là lòng tự ái tập thể. Sự tốt lành của người khác không lấy mất của tôi điều gì. Trái lại, nó có thể trở thành lời nhắc rằng tôi đã nhận được nhiều mà chưa sống tương xứng với những điều mình tuyên xưng.

Nhìn nhận điều thiện cũng không có nghĩa mọi hành vi được gọi là tôn giáo đều chân thật hoặc tốt lành. Cần phân định. Con người có thể pha trộn trong thực hành của mình những điều cao quý với sợ hãi, lợi ích, mê tín hoặc tham vọng. Điều ấy cần được xem xét với sự hiểu biết và công bằng, thay vì đồng loạt ca ngợi hoặc đồng loạt phủ nhận. Người Công giáo cũng phải áp dụng sự xét mình ấy cho chính mình. Có những việc mang dáng vẻ đạo đức nhưng động cơ lại là tìm uy tín. Có những lời bảo vệ truyền thống nhưng thực chất che giấu ý muốn kiểm soát. Khi biết mình cũng cần được thanh luyện, ta sẽ bớt dễ dàng coi thường người khác.

Trong đời sống thường ngày, thái độ đúng có thể rất giản dị. Gặp điều tốt, hãy biết cảm ơn. Nhận sự giúp đỡ từ người khác đạo, hãy đón nhận bằng sự trân trọng, đừng biến lòng tốt của họ thành một vấn đề khó xử. Cộng tác với người chưa tin Chúa, hãy làm việc công bằng và đáng tin. Nếu có cơ hội chia sẻ đức tin, hãy nói thật về nguồn hy vọng của mình. Đồng thời, hãy để người đối diện được tự do hỏi, suy nghĩ và trả lời. Một cuộc gặp như thế có thể trở thành nơi cả hai cùng học được điều tốt, trong khi mỗi người vẫn được nhìn nhận đúng với căn tính của mình.

Chương tám. Loan báo Tin Mừng bằng một sự hiện diện đáng tin.

Một số người lo rằng đối thoại sẽ khiến việc truyền giáo mất ý nghĩa. Nỗi lo ấy cần được lắng nghe và giải thích nghiêm túc. Trong đức tin Công giáo, Đức Giê-su Ki-tô vẫn là trung tâm của sứ mạng. Người Ki-tô hữu được mời gọi làm chứng về Người bằng lời nói và đời sống. Nhưng chính vì sứ mạng ấy quan trọng, phương thức thực hiện càng phải phù hợp với Tin Mừng. Không thể loan báo tình yêu bằng sự khinh miệt. Không thể giới thiệu sự tự do của con cái Thiên Chúa bằng cách làm người khác lệ thuộc vào ân huệ của mình. Không thể nói về lòng thương xót trong khi làm nhục người đối diện vì họ chưa tin.

Một sự hiện diện đáng tin cần thời gian. Người hàng xóm sẽ biết ta qua cách xử lý tiếng ồn, rác thải, chuyện vay mượn, tranh chấp ranh đất và những lúc gia đình họ gặp khó. Người đồng nghiệp sẽ biết ta qua cách làm việc, nhận trách nhiệm, giữ lời và đối xử với người ít quyền hơn. Người thân khác đạo sẽ biết ta qua cách chăm sóc cha mẹ già, cách tôn trọng ký ức gia đình, cách nói về những khác biệt mà không làm người khác tổn thương vô ích. Những điều ấy không thay thế mọi lời giải thích về đức tin, nhưng tạo ra một nền đất để lời giải thích có thể được nghe với sự tin cậy.

Ta cần tránh coi lòng tốt như một cuộc đầu tư phải thu lại kết quả tôn giáo. Nếu giúp một người rồi thất vọng vì họ chưa theo đạo, ta cần xem lại điều mình đã trao. Người được giúp không mắc nợ ta một quyết định lương tâm. Bác ái Ki-tô giáo có thể trở thành chứng tá mạnh mẽ chính vì nó tôn trọng con người. Sự tự do ấy không làm người phục vụ bớt nhiệt thành. Nó giải thoát lòng nhiệt thành khỏi việc muốn kiểm soát kết quả. Ta gieo trong đức tin và phục vụ bằng tình yêu, còn hành trình sâu kín của mỗi người trước Thiên Chúa cần được đón nhận với lòng kính trọng.

Đồng thời, người tín hữu không cần xấu hổ về đức tin của mình. Khi được hỏi vì sao có thể kiên nhẫn hoặc tha thứ, ta có thể nói rằng mình đang học nơi Đức Giê-su. Khi người khác muốn tìm hiểu, hãy giúp họ tiếp cận giáo lý và cộng đoàn cách phù hợp. Khi có bất đồng, hãy trình bày rõ ràng, thừa nhận điều mình chưa biết và tìm câu trả lời đáng tin. Sự khiêm tốn không làm chứng tá yếu đi. Nó giúp người nghe gặp một người đang sống điều mình tin, thay vì một người chỉ cố bảo vệ hình ảnh rằng mình không bao giờ sai.

Chương chín. Năm hai nghìn lẻ hai và trách nhiệm từ chối việc nhân danh Thiên Chúa để gây hại.

Ngày hai mươi bốn tháng một năm hai nghìn lẻ hai, Đức Gio-an Phao-lô thứ Hai trở lại A-xi-di trong bối cảnh thế giới còn bị chấn động bởi những cuộc tấn công ngày mười một tháng chín năm hai nghìn lẻ một. Cuộc gặp làm nổi bật trách nhiệm của các cộng đồng tôn giáo trong việc từ chối sự lợi dụng tôn giáo để kích động bạo lực. Đức Giáo hoàng gắn việc xây dựng hòa bình với công lý và sự sẵn sàng tha thứ. Đây là những đòi hỏi không dễ, bởi sau một biến cố gây thương vong, con người thường bị giằng xé giữa nhu cầu được bảo vệ, nỗi đau, sự giận dữ và ý muốn trả đũa.

Phải nghiêm túc bảo vệ người vô tội và đòi trách nhiệm đối với tội ác. Nhưng từ đó đến việc quy tội cho cả một tôn giáo là một bước nhảy nguy hiểm. Kẻ phạm tội cần được xét theo hành vi và trách nhiệm của họ. Một người hàng xóm không trở thành thủ phạm chỉ vì có cùng tên gọi tôn giáo với người gây án ở nơi khác. Một đứa trẻ không thể bị bắt nạt vì biến cố mà nó hoàn toàn không liên quan. Khi nỗi sợ khiến chúng ta chấp nhận những suy luận như vậy, sự bất công bắt đầu lan từ một tội ác sang những người vô tội mới.

Các cộng đồng tôn giáo cần có khả năng lên tiếng rõ ràng về những điều gây hại. Không nên bảo vệ danh tiếng bằng cách phủ nhận mọi vấn đề trong cộng đồng mình. Cũng không nên để người ngoài phải đoán rằng ta có thật sự đau trước nạn nhân hay không. Sự chân thành có thể được nhìn thấy qua việc thăm hỏi, cứu giúp, hợp tác ngăn ngừa kích động và giáo dục người trẻ về phẩm giá con người. Một lời lên án cần đi cùng sự kiên trì xây dựng những điều kiện để lòng thù ghét không dễ phát triển.

Từ đó, mỗi tín hữu có thể tự hỏi: trong phạm vi của mình, tôi có đang tìm cách làm cho việc gây hại trở nên có vẻ đạo đức không? Tôi có dùng danh nghĩa bảo vệ đạo để xúc phạm người khác không? Tôi có nghĩ rằng vì mình thuộc về điều thiện nên mọi cách mình làm đều tốt không? Những câu hỏi ấy giúp ta nhận ra một nguy cơ luôn có: con người có thể mượn điều thiêng liêng để miễn trừ mình khỏi việc xét lại phương tiện. Nhưng không ai được phép dùng lòng nhiệt thành như giấy phép làm tổn thương người vô tội.

Chương mười. Công lý và tha thứ cần được hiểu trong sự thật.

Tha thứ là một lời rất đẹp và cũng có thể bị sử dụng rất bất công. Người ta có thể yêu cầu người bị hại tha thứ thật nhanh để mọi chuyện bớt phiền. Có thể viện dẫn lòng bác ái để tránh điều tra, tránh đền bù, tránh thay đổi một cơ chế đang gây hại. Có thể khuyên người yếu thế nhẫn nhịn trong khi không yêu cầu người có quyền ngừng làm sai. Những cách ấy khiến lời nói về hòa giải trở thành một gánh nặng đặt thêm lên vai nạn nhân. Vì vậy, khi nối kết công lý và tha thứ, cần luôn nhớ rằng sự thật về điều đã xảy ra không thể bị xóa đi chỉ vì chúng ta muốn có một bề ngoài yên ổn.

Công lý cần xác định trách nhiệm, bảo vệ người dễ bị tổn thương và sửa chữa điều có thể sửa. Tha thứ liên quan đến việc không để hận thù chi phối mãi đời sống mình, nhưng không đồng nghĩa với việc hủy bỏ trách nhiệm pháp lý hay lập tức khôi phục lòng tin. Một người có thể từ bỏ ý muốn trả thù mà vẫn cần giữ khoảng cách an toàn. Một gia đình có thể cầu nguyện cho người gây hại mà vẫn yêu cầu cơ quan có trách nhiệm can thiệp. Hai việc ấy không nhất thiết loại trừ nhau. Chúng phản ánh sự nghiêm túc với phẩm giá của cả người bị hại và trách nhiệm của người gây hại.

Hòa giải cũng không thể bị ép buộc như một nghi thức phải hoàn thành đúng hạn. Một cái bắt tay trước đám đông chưa chứng minh vết thương đã lành. Người có trách nhiệm đồng hành cần kiên nhẫn nghe, tránh lấy sự xúc động của người quan sát làm thước đo cho tiến trình của người trong cuộc. Có những bước rất nhỏ nhưng thật: người gây hại ngừng biện hộ, người bị hại có nơi an toàn để nói, cộng đoàn thôi đồn đoán, và những người liên quan bắt đầu thực hiện trách nhiệm cụ thể. Đó là những điều cần thiết hơn một bức ảnh hòa thuận.

Trong các bất đồng thường ngày, tinh thần ấy cũng giúp chúng ta sống sáng suốt. Nếu đã giữ tiền của người khác, hãy trả trước khi nói nhiều về tình huynh đệ. Nếu đã làm ai mang tiếng, hãy đính chính rõ ràng. Nếu đã làm người cộng tác kiệt sức, hãy chia lại công việc. Nếu muốn được tin trở lại, hãy chấp nhận thời gian. Hòa bình đi qua những việc rất thực tế như vậy. Khi sự thật được tôn trọng và trách nhiệm được nhận lãnh, lòng người mới có cơ hội bớt phòng thủ. Sự tha thứ, nếu đến, sẽ có một không gian chân thật để lớn lên.

PHẦN BA. ĐỨC BÊNÊĐICTÔ THỨ MƯỜI SÁU VÀ NHỮNG NGƯỜI HÀNH HƯƠNG ĐI TÌM CHÂN LÝ.

Chương mười một. Một chỗ ngồi dành cho người chưa tuyên xưng đức tin.

Ngày hai mươi bảy tháng mười năm hai nghìn mười một, kỷ niệm hai mươi lăm năm cuộc gặp đầu tiên, Đức Bê-nê-đíc-tô thứ Mười Sáu đến A-xi-di trong một ngày suy tư, đối thoại và cầu nguyện cho hòa bình và công lý. Lời mời được mở đến cả những người không tuyên xưng một đức tin tôn giáo nhưng chân thành tìm kiếm chân lý và sự thiện. Hình ảnh người hành hương tìm chân lý và hòa bình giúp diễn tả một cuộc gặp không đóng kín trong các ranh giới quen thuộc. Sự hiện diện ấy cũng mời gọi người có đức tin suy nghĩ về cách mình đang làm chứng cho Thiên Chúa trước những người còn đặt câu hỏi.

Một người chưa tin có thể đang đi qua một hành trình rất dài mà chúng ta không biết. Có người lớn lên trong môi trường không có thực hành tôn giáo. Có người từng nghe nói về Thiên Chúa bằng những lời khiến họ sợ hãi. Có người đã đau vì cách hành xử của một tín hữu hoặc một người có trách nhiệm trong cộng đoàn. Có người gặp những câu hỏi triết học và luân lý chưa tìm được lời giải. Có người không nói mình tin nhưng vẫn sống rất nghiêm túc với lương tâm. Những hoàn cảnh ấy không thể được gom lại bằng một nhận xét đơn giản rằng họ không muốn điều thiện.

Người Công giáo không cần đồng ý với mọi nhận định của một người chưa tin để có thể lắng nghe họ. Điều cần là tránh trả lời một câu hỏi mà mình chưa thật sự hiểu. Khi ai đó nói không thể tin vào Thiên Chúa sau một đau khổ lớn, có thể trước mắt họ cần một người biết ở bên, chứ chưa cần một bài giải thích dài. Khi một người bị tổn thương bởi cách sống đạo của người khác, việc đầu tiên có thể là nhìn nhận điều sai thay vì vội bảo vệ danh dự tập thể. Câu trả lời có khi bắt đầu từ lòng trung thực: điều đã xảy ra với anh chị là điều đáng tiếc và không nên được che đậy bằng những lời đạo đức.

Một chỗ ngồi dành cho người đang tìm kiếm cũng là lời nhắc về sự tự do. Chúng ta không được xem con người như dự án phải hoàn thành. Họ có quyền đi từng bước, đặt câu hỏi, bày tỏ điều chưa thuyết phục, và được đối xử tử tế ngay cả khi chưa đi đến kết luận mà ta mong đợi. Sự nhẫn nại ấy không có nghĩa chân lý không quan trọng. Nó cho thấy chân lý cần được đón nhận bằng lương tâm, và lương tâm không trưởng thành nhờ sự cưỡng ép. Một người được nghe trong sự tôn trọng có thể dám nói thật hơn về hành trình của mình. Từ đó, cuộc đối thoại mới có chiều sâu.

Chương mười hai. Khi câu hỏi của người khác trở thành một lời xét mình.

Chúng ta thường thích những câu hỏi mình có thể trả lời ngay. Chúng giúp ta cảm thấy chắc chắn và hữu ích. Nhưng có những câu hỏi chạm vào khoảng cách giữa điều ta tin và điều ta sống. Vì sao người nói nhiều về yêu thương lại thường xuyên gây chia rẽ? Vì sao một cộng đoàn có nhiều sinh hoạt đạo đức vẫn để người yếu thế không dám lên tiếng? Vì sao người nghèo được giúp nhưng đôi khi không được tôn trọng? Vì sao người trẻ đặt câu hỏi lại dễ bị đánh giá là thiếu vâng phục? Những câu hỏi ấy có thể được đặt ra thiếu thiện chí, nhưng cũng có thể là những câu hỏi thật mà chúng ta cần nghe.

Đức tin không bị bảo vệ tốt hơn khi ta phủ nhận mọi sai trái của tín hữu. Giáo hội thánh thiện vì thuộc về Đức Ki-tô và được Người ban những ân huệ thánh hóa; các thành viên của Giáo hội vẫn cần hoán cải. Nhìn nhận điều đó giúp ta tránh đồng nhất mọi hành vi của người có đạo với chính Tin Mừng. Nếu một người Ki-tô hữu sống không ngay thẳng, điều cần làm là sửa sự không ngay thẳng ấy. Đừng yêu cầu người bị thiệt hại phải im lặng để bảo vệ một hình ảnh đẹp. Một cộng đoàn dám nhận lỗi và sửa lỗi có thể trở nên đáng tin hơn cộng đoàn luôn khẳng định mình không có vấn đề.

Câu hỏi của người khác cũng giúp ta phân biệt đức tin với thói quen muốn mình luôn thắng. Có khi ta tranh luận rất lâu mà không còn quan tâm người đối diện có hiểu không. Ta chỉ chờ sơ hở để phản bác. Giọng nói bắt đầu cao hơn, lời lẽ bắt đầu cay hơn, và sự thật bị dùng như công cụ đè người khác xuống. Trong những lúc ấy, điều cần có thể là dừng lại. Tôi đang muốn giúp hay muốn hạ? Tôi có đang trả lời điều họ hỏi hay đang phản ứng vì cảm thấy bị thách thức? Nếu không còn khả năng giữ sự tôn trọng, tiếp tục tranh luận chưa chắc phục vụ điều mình cho là đúng.

Có những câu hỏi cần thời gian và học hỏi. Nói rằng mình chưa biết không phải là phản bội đức tin. Tìm đọc giáo lý, hỏi người có chuyên môn, phân biệt vấn đề lịch sử với vấn đề thần học là những hành động có trách nhiệm. Sự thiếu hiểu biết được che bằng giọng nói quả quyết chỉ làm tăng hiểu lầm. Người trẻ có thể kính trọng một người lớn dám học cùng họ hơn một người luôn yêu cầu họ ngừng hỏi. Khi người tín hữu để câu hỏi giúp mình trưởng thành, cuộc đối thoại đem lại ích lợi cho cả người hỏi lẫn người trả lời.

Chương mười ba. Thanh luyện cách sống đạo để dung mạo Thiên Chúa bớt bị che khuất.

Một đứa trẻ học về Thiên Chúa không chỉ qua sách giáo lý. Nó còn học qua gương mặt của người dạy mình cầu nguyện. Nếu người ấy luôn nổi giận, làm nhục và dùng nỗi sợ để điều khiển, đứa trẻ có thể mang những cảm xúc ấy vào cách hình dung về Chúa. Một người chưa biết đạo cũng thường tiếp xúc với đức tin qua một con người cụ thể: người hàng xóm, người đồng nghiệp, người linh mục, người nữ tu, người làm công tác bác ái. Những cuộc gặp ấy không nói hết về Thiên Chúa, nhưng có thể mở cửa hoặc khiến người ta dè dặt rất lâu.

Vì vậy, thanh luyện cách sống đạo là việc cần thiết. Chúng ta cần xét lại những động cơ lẫn vào các việc tốt. Tôi có thích được gọi là người nhiệt thành hơn là thật sự phục vụ không? Tôi có dùng việc đóng góp để đòi ảnh hưởng không? Tôi có mong người khác biết ơn đến mức không cho họ được bất đồng không? Tôi có đem Thiên Chúa vào lời đe dọa khi chính mình đang muốn kiểm soát một người khác không? Những câu hỏi ấy có thể làm ta khó chịu, nhưng giúp phân biệt lòng đạo với những nhu cầu chưa được nhận diện của bản thân.

Sự thanh luyện không đòi ta bỏ những thực hành đạo đức tốt lành. Nó giúp ta sống những thực hành ấy sâu hơn. Tham dự Thánh lễ để được nuôi dưỡng bởi Lời Chúa và Thánh Thể, rồi trở về tập sống công bằng. Lần chuỗi để cùng Đức Maria chiêm ngắm Đức Ki-tô, rồi biết quan tâm đến người đang đau. Chầu Thánh Thể để học sự hiện diện và lòng khiêm hạ, rồi bớt nóng nảy với người làm chậm kế hoạch của mình. Xưng tội để thật lòng trở về, rồi sửa cách đối xử đang gây hại. Một việc đạo đức có hoa trái khi nó đưa ta đến gần Chúa và giúp ta yêu người cụ thể hơn.

Cũng cần kiên nhẫn với chính hành trình ấy. Không ai vì mới cầu nguyện sốt sắng đã hết mọi giới hạn. Có người rất muốn thay đổi nhưng phải tập lâu mới bớt phản ứng gay gắt. Điều cần là thành thật, nhận trách nhiệm và sẵn sàng tìm trợ giúp khi cần. Cộng đoàn nên là nơi nâng đỡ việc hoán cải, không phải sân khấu buộc mọi người phải có vẻ hoàn hảo. Khi con người được khuyến khích sống thật trước Thiên Chúa và trước nhau, đức tin có cơ hội trở thành nguồn chữa lành thay vì một lớp che phủ những điều chưa được giải quyết.

Chương mười bốn. Sự thật cần lòng khiêm tốn của người tìm kiếm.

Có một sự khác biệt giữa tin chắc vào chân lý và cho rằng mình đã hiểu hết mọi sự. Người tín hữu có thể tuyên xưng đức tin với lòng xác tín, đồng thời biết rằng sự hiểu biết cá nhân của mình còn hữu hạn. Không phải mọi nhận xét của tôi đều là giáo huấn của Giáo hội. Không phải mọi điều tôi quen làm đều bắt buộc đối với người khác. Không phải mọi câu tôi nhớ được từ một bài giảng đều đã được hiểu đúng trong bối cảnh. Nhận ra những giới hạn ấy giúp ta nói về đức tin với sự nghiêm túc hơn.

Lòng khiêm tốn trí thức có những biểu hiện rất cụ thể. Đọc kỹ trước khi phản bác. Hỏi người đối diện xem mình đã hiểu đúng chưa. Phân biệt lời một tín hữu nói với giáo huấn chính thức của tôn giáo họ. Không lấy một trường hợp xấu làm đại diện cho mọi người. Không dùng một đoạn trích rời khỏi bối cảnh để làm bằng chứng. Những việc ấy có vẻ đơn giản nhưng thường bị bỏ qua khi cảm xúc nổi lên. Ta có thể muốn bênh vực điều thật bằng những cách thiếu trung thực. Khi ấy, chính phương thức đã làm tổn hại điều ta muốn bảo vệ.

Đối thoại cũng giúp ta nhận ra những câu hỏi chung của con người. Sống để làm gì? Đau khổ có ý nghĩa nào? Làm sao sống ngay thẳng khi điều gian dối có vẻ dễ đem lợi? Làm sao đối diện với cái chết? Làm sao nuôi hy vọng sau mất mát? Các truyền thống đưa ra những câu trả lời khác nhau, và sự khác nhau cần được tôn trọng trong việc trình bày. Nhưng việc nhận ra người khác cũng đang vật lộn với những câu hỏi ấy giúp ta gặp họ như một con người. Khi ấy, ta bớt nhìn họ chỉ qua nhãn gọi tôn giáo hoặc quan điểm.

Người Công giáo đi vào cuộc gặp với Đức Ki-tô là nguồn sáng của mình. Chính sự gắn bó ấy mời gọi ta tránh kiêu căng. Nếu tin mình đã nhận một hồng ân, ta cần biết ơn và có trách nhiệm, chứ không có lý do coi thường người chưa nhận biết như mình. Hồng ân không phải chiến lợi phẩm cá nhân. Đức tin được trao để sống, để làm chứng và để phục vụ. Một người ý thức mình đã được thương xót sẽ dễ nói với người khác bằng giọng của người đồng hành hơn là giọng của người đứng cao mà phán xét.

PHẦN BỐN. ĐỨC PHANXICÔ VÀ TRÁCH NHIỆM KHÔNG ĐƯỢC THỜ Ơ.

Chương mười lăm. Cầu nguyện bên cạnh nhau và quan tâm đến nhau.

Ngày hai mươi tháng chín năm hai nghìn mười sáu, Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô hiện diện tại A-xi-di trong cuộc gặp cầu nguyện cho hòa bình. Ngài tái khẳng định việc tránh hòa trộn tôn giáo và tránh thái độ tương đối hóa niềm tin, đồng thời nhấn mạnh sự hiện diện bên cạnh nhau và lời cầu nguyện dành cho nhau. Ngài cũng kêu gọi chống lại thái độ thờ ơ, lắng nghe tiếng nói của người nghèo và những người chịu hậu quả của chiến tranh. Cuộc gặp hướng người tham dự đến những trách nhiệm cụ thể đối với nguyên nhân sâu xa của xung đột.

Cầu nguyện cho nhau là một cử chỉ có chiều sâu. Nó đòi tôi nhìn người khác như người có một đời sống đáng được chúc lành, chứ không chỉ như một vấn đề cần giải quyết. Tôi có thể xin Chúa nâng đỡ người hàng xóm đang bệnh dù họ chưa cùng đức tin. Tôi có thể cầu nguyện cho một gia đình khác đạo đang chịu tang. Tôi có thể xin cho người không đồng ý với mình được sáng suốt, bình an và được bảo vệ. Những lời cầu ấy giúp trái tim bớt đóng kín quanh nhu cầu của nhóm mình.

Nhưng lời cầu nguyện cũng thử thách cách ta nhìn người đang gặp khó. Có khi ta rất sẵn lòng cầu nguyện từ xa, nhưng ngại lắng nghe câu chuyện cụ thể vì sợ bị làm phiền. Ta có thể nói những lời tốt đẹp về người nghèo trong khi không muốn họ xuất hiện ở chỗ mình sinh hoạt. Có thể xúc động trước hình ảnh trẻ em bị chiến tranh rồi lại khó chịu với một đứa trẻ nghèo trong khu phố. Khoảng cách ấy nhắc chúng ta rằng lòng thương cần đi từ ý tưởng đến sự gần gũi. Những người thật có nhu cầu thật, có tính cách, có sự vụng về và đôi khi không biết bày tỏ lòng biết ơn theo cách ta mong.

Sự quan tâm trưởng thành không đòi người được giúp phải đóng một vai dễ thương. Nó biết tôn trọng họ trong toàn bộ sự phức tạp của đời sống. Có người đang hoảng sợ nên nói khó nghe. Có người từng thất vọng nên không dễ tin. Có người nghèo nhưng cũng có những quyết định cần được sửa. Giúp họ không có nghĩa đồng ý với mọi hành vi, mà là tìm cách nâng đỡ phù hợp và giữ phẩm giá. Khi các cộng đồng tôn giáo cùng học cách quan tâm như thế, sự hợp tác có thể trở thành nơi phát triển lòng tin bền hơn những lời xã giao.

Chương mười sáu. Thờ ơ làm cho nỗi đau không có người đón nhận.

Sự thờ ơ thường không gây tiếng động. Người ta không nhất thiết nói điều ác. Họ chỉ không muốn biết thêm. Một gia đình bên cạnh thiếu ăn, nhưng mình nghĩ chắc có người khác giúp. Một người già lâu rồi không đi lễ, nhưng ai cũng tưởng đã có hội đoàn thăm. Một người trẻ bị chế giễu vì khác biệt, nhưng người lớn nghĩ đó chỉ là chuyện trẻ con. Một đồng nghiệp bị đối xử bất công, nhưng mình ngại dính vào. Cứ thế, nỗi đau có thể ở rất gần mà vẫn không tìm được ai thật sự nhận lấy trách nhiệm.

Chúng ta không thể gánh mọi vấn đề. Giới hạn là điều thật. Nhưng giới hạn khác với việc từ chối mọi bổn phận. Một người có thể không đủ tiền giúp nhiều, nhưng có thể chỉ đường đến nơi hỗ trợ. Có thể không đủ hiểu biết giải quyết một khủng hoảng, nhưng có thể ở bên và giúp kết nối với người có chuyên môn. Có thể không thay đổi được một cơ chế ngay, nhưng có thể không tiếp tay cho sự bất công trong phần việc của mình. Trách nhiệm bắt đầu khi ta thôi dùng sự nhỏ bé của mình làm lý do để không làm bất cứ điều gì.

Thờ ơ cũng có thể ẩn sau một thứ bận rộn rất được khen. Một người nhận nhiều công việc cộng đoàn nhưng không còn biết người thân đang kiệt sức. Một tổ chức có nhiều chương trình nhưng bỏ sót những người không biết lên tiếng. Một nhóm làm truyền thông rất mạnh nhưng không có thời gian nghe một lời phản ánh. Những điều ấy nhắc ta phải đánh giá công việc bằng tác động thực tế đối với con người. Nhiều hoạt động chưa chắc đồng nghĩa với nhiều sự quan tâm. Có khi việc cần nhất là giảm một chương trình để chăm sóc tử tế hơn những người đã ở ngay trước cửa.

Muốn chống thờ ơ, hãy bắt đầu bằng việc gọi đúng tên những người mình có trách nhiệm. Trong gia đình, ai đang phải lo quá nhiều? Trong giáo xứ, ai lâu rồi chưa được hỏi thăm? Trong nhóm phục vụ, ai thường im lặng nhưng có thể đang gặp khó? Trong khu phố, ai không có người thân? Những câu hỏi cụ thể giúp lòng bác ái thoát khỏi sự chung chung. Một lời thăm hỏi có thể chưa giải quyết vấn đề, nhưng giúp người đang đau nhận ra mình không hoàn toàn bị quên. Từ sự nhận biết ấy, những hình thức giúp đỡ phù hợp mới có thể bắt đầu.

Chương mười bảy. Để người bị tổn thương được tự kể câu chuyện của mình.

Trong nhiều cuộc gặp, người đau khổ được nói đến rất nhiều nhưng lại được nói rất ít. Người ta kể thay họ, giải thích thay họ, quyết định điều gì tốt cho họ. Một đứa trẻ nghèo được chụp ảnh nhưng không ai hỏi nó có thấy xấu hổ không. Một người bệnh được dùng làm câu chuyện gây xúc động nhưng ít người dành thời gian nghe họ đang cần gì. Một gia đình chịu tang phải nghe những lời giải thích vội vàng về ý Chúa trong khi họ chỉ cần được để yên mà khóc. Khi ấy, lòng tốt có thể bị pha với thói quen muốn làm chủ cả nỗi đau của người khác.

Tinh thần gặp gỡ đòi hỏi trả lại tiếng nói. Hãy hỏi trước khi kể câu chuyện riêng của ai. Hãy nghe điều họ nói thay vì chỉ tìm chi tiết phù hợp với điều mình muốn trình bày. Hãy thừa nhận rằng người trong hoàn cảnh có hiểu biết mà người ngoài chưa có. Người giúp đỡ có thể có nguồn lực và kinh nghiệm, nhưng không vì thế mà được phép gạt bỏ mọi ý kiến của người được giúp. Sự hợp tác tử tế cần sự tham dự của họ trong những quyết định liên quan đến đời sống mình.

Điều này đặc biệt quan trọng khi các cộng đồng tôn giáo làm việc chung. Đừng để cuộc gặp chỉ là nơi những người có vị trí nói với nhau, còn người đang chịu hậu quả vẫn đứng ngoài. Có thể mời người có kinh nghiệm sống chia sẻ trong điều kiện tôn trọng và an toàn. Có thể lắng nghe các gia đình trước khi xây dựng chương trình hỗ trợ. Có thể tham khảo người địa phương thay vì đem đến một kế hoạch đã hoàn tất. Những cách ấy giúp công việc thực tế hơn và giảm nguy cơ biến người yếu thế thành phần trang trí cho một sự kiện.

Khi nghe một câu chuyện đau, chúng ta cũng cần biết giới hạn của lời nói. Không phải nỗi khổ nào cũng cần được giải thích ngay. Không phải nước mắt nào cũng phải bị dừng bằng câu khuyên cố lên. Có lúc sự hiện diện bình tĩnh, một bữa ăn, một chuyến xe, một việc làm thay hoặc một buổi trông con giúp ích hơn nhiều lời đẹp. Từ kinh nghiệm ấy, người tín hữu hiểu rằng cầu nguyện cho hòa bình cần đi cùng một khả năng rất căn bản: biết ở lại bên người đang bị đời sống làm cho chông chênh.

Chương mười tám. Tình huynh đệ không thể chỉ là ngôn ngữ của hội trường.

Tình huynh đệ là một từ dễ được dùng và khó được sống. Trong một bài diễn văn, ai cũng có thể gọi nhau là anh chị em. Nhưng ngoài đời, ta có thể chỉ dành sự kiên nhẫn cho người có cùng địa vị. Với người phục vụ, người làm thuê, người ít học hoặc người không biết nói năng khéo léo, giọng ta có thể đổi rất nhanh. Vì thế, muốn biết tình huynh đệ có thật không, hãy nhìn cách một cộng đoàn đối xử với người không đem lại danh tiếng hay lợi ích. Nơi ấy, những lời đẹp được kiểm chứng rõ nhất.

Một người không cần trở thành giống ta mới được kính trọng. Họ có thể nói giọng khác, mặc khác, cầu nguyện khác và hiểu một số điều khác. Tôn trọng không có nghĩa ta không được góp ý hoặc phê bình. Nó đòi việc góp ý không chà đạp nhân phẩm. Một người có lỗi vẫn có quyền được xét xử công bằng. Một người có ý kiến sai vẫn không trở thành đối tượng để mọi người làm nhục. Một nhóm có những thành viên đáng trách vẫn không làm cho tất cả thành viên còn lại mất quyền được nhìn nhận như cá nhân.

Trong giáo xứ, tình huynh đệ có thể được thực hiện qua việc tiếp đón người mới. Có người bước vào nhà thờ mà chưa biết lúc nào đứng, lúc nào ngồi. Có người mặc chưa phù hợp vì chưa được hướng dẫn hoặc vì hoàn cảnh hạn chế. Có người đến chỉ để tìm một chút yên tĩnh. Sự hướng dẫn cần rõ ràng và tế nhị. Một ánh mắt khinh thường hoặc một lời quát có thể đóng lại cơ hội gặp gỡ. Ngược lại, một người chỉ chỗ, giải thích nhỏ nhẹ và không làm ai bẽ mặt có thể giúp người mới cảm thấy mình được đón nhận.

Ở cấp độ xã hội, tình huynh đệ mời gọi chúng ta quan tâm đến điều kiện để mọi người cùng sống được. Những công việc chung như cứu trợ, bảo vệ môi trường, chăm sóc người già hoặc nâng đỡ trẻ em có thể tạo ra cơ hội hợp tác giữa các tôn giáo. Khi cùng làm, người ta nhận ra nhau qua sự tận tụy, học cách chia trách nhiệm và sửa hiểu lầm. Những điều ấy cần thời gian, nhưng tạo ra kinh nghiệm cụ thể rằng sự khác biệt không ngăn cản mọi việc tốt. Từ một công việc nhỏ được làm tử tế, lòng tin có thể dần có nền tảng.

PHẦN NĂM. ĐỨC LÊ-Ô THỨ MƯỜI BỐN VÀ LỜI MỜI GỌI TRỞ VỀ NGUỒN MẠCH CHÂN THỰC.

Chương mười chín. Không được làm cho lòng thù ghét mang vẻ thánh thiêng.

Trong thông điệp thường được đọc gần âm là Ma-nhi-phi-ca Hu-ma-ni-tát, công bố ngày mười lăm tháng năm năm hai nghìn hai mươi sáu, Đức Lê-ô thứ Mười Bốn nhắc đến tinh thần A-xi-di tại số hai trăm hai mươi ba. Ngài liên kết đối thoại liên tôn với việc từ chối não trạng bạo lực, và mời các tín hữu kín múc nơi những nguồn mạch chân thực của truyền thống tâm linh. Một điểm cần ghi nhớ là không thể làm cho sự thù ghét trở thành điều thiêng liêng. Tên Thiên Chúa không thể là phương tiện để hợp thức hóa việc gây hại cho con người.

Có một dạng thù ghét rất khó nhận ra vì nó không tự gọi mình là thù ghét. Nó gọi mình là nhiệt thành, bảo vệ truyền thống, giữ gìn sự trong sạch, hoặc chống lại điều xấu. Những mục tiêu ấy có thể có giá trị thật. Nhưng chúng không tự động làm cho mọi phương tiện đều tốt. Nếu để bảo vệ điều mình tin, ta phải bịa chuyện, kích động, làm nhục hoặc khuyến khích gây hại cho người vô tội, thì ta cần dừng lại. Tình cảm mạnh mẽ không miễn cho lương tâm khỏi trách nhiệm phân định. Sự tức giận của đám đông không biến điều sai thành đúng.

Trong đời sống cá nhân, điều ấy có thể xuất hiện qua một lời phán xét rất nặng mà ta nói nhân danh Chúa. Ta gán tai họa của người khác cho hình phạt mà mình không có thẩm quyền xác quyết. Ta coi bệnh tật là bằng chứng về tội của ai đó. Ta dùng việc không may của một cộng đồng để hả hê rằng họ đáng chịu. Những cách nói ấy làm người đang đau phải mang thêm đau, đồng thời biến Thiên Chúa thành người bảo trợ cho thái độ khắc nghiệt của chúng ta. Sự kính sợ Chúa cần khiến ta thận trọng hơn trước mầu nhiệm đời người, nhất là trước những điều mình không biết.

Trở về nguồn mạch chân thực, đối với người Ki-tô hữu, là trở về với Đức Giê-su, với Tin Mừng, với đời sống bí tích và những giáo huấn được hiểu đúng. Hãy nhìn cách Người gặp người tội lỗi, cách Người đòi hỏi sự thật, cách Người không để người yếu thế bị biến thành công cụ. Hãy để thập giá chất vấn tham vọng muốn áp đặt. Hãy để lòng thương xót sửa giọng nói. Hãy để việc cử hành Thánh Thể dẫn ta đến trách nhiệm với những người đang bị bỏ quên. Đó là một hành trình cụ thể, không chỉ là lời tuyên bố rằng mình đứng về phía thiện.

Chương hai mươi. Bốn mươi năm sau, sự kiên trì vẫn còn cần thiết.

Ngày hai mươi bảy tháng mười năm hai nghìn hai mươi sáu, Đức Lê-ô thứ Mười Bốn gửi sứ điệp bằng hình ảnh đến cuộc gặp tại A-xi-di nhân kỷ niệm bốn mươi năm. Ngài nhìn nhận hành trình của những người tiếp nối sáng kiến, đồng thời nhấn mạnh nhu cầu từ chối việc dùng tôn giáo để biện minh cho chiến tranh, gìn giữ đối thoại và kết hợp suy tư cầu nguyện với hành động sáng tạo phục vụ hòa bình. Như thế, di sản của năm một nghìn chín trăm tám mươi sáu tiếp tục được đặt vào trách nhiệm của hiện tại.

Bốn mươi năm là một khoảng thời gian đủ dài để người ta vừa biết ơn vừa đặt câu hỏi. Thế giới vẫn có xung đột, nỗi sợ và những cuộc đời bị đẩy khỏi mái nhà. Vậy những cuộc gặp có ích gì? Câu hỏi ấy không nên bị gạt đi. Nhưng cũng cần nhìn công bằng: sự tồn tại của chiến tranh không chứng minh mọi nỗ lực hòa bình đều vô ích, cũng như sự tồn tại của bệnh tật không làm việc chăm sóc trở nên vô nghĩa. Có những mối quan hệ được giữ, những cơn căng thẳng được giảm, những người được cứu giúp, những cộng đồng không trượt sâu hơn vào thù địch. Những thành quả ấy không phải lúc nào cũng tạo ra một ngày lịch sử dễ nhớ.

Công việc hòa bình đòi hỏi một thứ kiên trì ít được khen. Tiếp tục gặp người khó nói chuyện. Tiếp tục xác minh khi lời đồn lan nhanh. Tiếp tục bảo vệ người bị quy tội chung. Tiếp tục tạo cơ hội cho người trẻ học hỏi thay vì chỉ tiếp nhận thành kiến. Có khi người làm hòa bình bị cả hai phía nghi ngờ. Họ bị cho là quá mềm, quá chậm hoặc không đứng hẳn về một nhóm. Vì thế, họ cần sự nâng đỡ, kiến thức, đời sống nội tâm và một cộng đồng có khả năng đồng hành. Thiện chí rất quan trọng nhưng chưa đủ cho mọi tình huống khó.

Kỷ niệm bốn mươi năm cũng mời gọi mỗi thế hệ nhận lấy trách nhiệm. Người trẻ hôm nay không thể chỉ sống nhờ ký ức của những người đã khởi đầu. Họ cần hiểu vì sao đối thoại quan trọng trong môi trường mình đang sống: trong trường học, nơi làm việc, khu phố và không gian mạng. Người lớn cần trao cho họ cả đức tin vững vàng lẫn khả năng gặp gỡ người khác. Một căn tính chỉ tồn tại nhờ luôn sợ người bên ngoài sẽ khó nâng đỡ con người trưởng thành. Một căn tính được nuôi bằng chân lý, cầu nguyện và lòng bác ái có thể giúp họ đi vào thế giới với sự bình tĩnh hơn.

PHẦN SÁU. HIỂU ĐÚNG ĐỂ GẶP GỠ ĐÚNG.

Chương hai mươi mốt. Hiệp nhất Ki-tô hữu và đối thoại liên tôn.

Trong sinh hoạt thường ngày, chúng ta đôi khi gọi mọi cuộc gặp giữa những người có niềm tin khác nhau là liên tôn. Tuy nhiên, cần phân biệt việc tìm kiếm sự hiệp nhất giữa các Ki-tô hữu với việc đối thoại giữa những người thuộc các tôn giáo khác nhau. Các Ki-tô hữu cùng tuyên xưng Đức Giê-su Ki-tô, dù còn những khác biệt và chia cắt giữa các Giáo hội, cộng đồng. Việc đối thoại liên tôn liên quan đến các truyền thống không cùng tuyên xưng đức tin Ki-tô giáo. Hai hành trình đều cần tôn trọng và hiểu biết, nhưng không có cùng nền tảng thần học và không thể được thực hiện bằng cách hoàn toàn giống nhau.

Phân biệt như thế giúp ta tránh những nhận định quá nhanh về các hình thức cầu nguyện. Một buổi cầu nguyện giữa những Ki-tô hữu có những quy tắc và khả năng khác với một cuộc gặp có đại diện nhiều tôn giáo. Ngay trong đời sống Ki-tô giáo, cầu nguyện chung cũng không đồng nghĩa với việc mọi hình thức tham dự bí tích đều đã trở nên giống nhau. Những điều này cần được hướng dẫn bởi người có trách nhiệm và các quy định của Giáo hội. Người giáo dân không nên tự tạo nghi thức pha trộn chỉ vì có thiện chí, cũng không nên tự kết án mọi cuộc gặp khi chưa hiểu bản chất và cách tổ chức.

Đối với việc thu âm và giảng dạy, sự rõ ràng ấy rất cần. Người nghe có thể không quen các thuật ngữ, nên cần giải thích bằng những câu giản dị: có những người cùng tin vào Đức Ki-tô đang tìm lại sự hiệp nhất trọn vẹn; có những người thuộc các tôn giáo khác nhau đang tìm cách hiểu nhau và cộng tác vì công ích. Cả hai đều không đòi hỏi giả vờ rằng mọi khác biệt đã biến mất. Điều đẹp trong gặp gỡ là mỗi người có thể trình bày mình một cách chân thật, đồng thời không biến sự bất đồng thành lời khước từ phẩm giá của người kia.

Sự thiếu phân biệt dễ làm cộng đoàn rơi vào tranh cãi không cần thiết. Người này thấy một tấm ảnh rồi cho rằng ai cũng đang làm cùng một nghi thức. Người khác nghe một lời phê bình rồi nghĩ Giáo hội cấm mọi sự hiện diện bên nhau. Khi ấy, điều hữu ích là tìm lại thông tin, bối cảnh và hướng dẫn chính thức. Một câu hỏi thành thật có thể giải quyết điều mà hàng trăm bình luận giận dữ chỉ làm phức tạp thêm. Hiểu đúng cũng là một cách phục vụ sự bình an trong Giáo hội.

Chương hai mươi hai. Tôn trọng một người và tán thành một quan điểm là hai việc khác nhau.

Trong nhiều cuộc tranh luận, người ta buộc nhau chọn một trong hai: hoặc đồng ý với tôi, hoặc anh coi thường tôi. Cách đặt vấn đề ấy làm đối thoại mất khoảng không cần thiết. Tôi có thể tôn trọng sự chân thành của một người mà vẫn thấy điều họ nói chưa đúng. Tôi có thể không tham gia một thực hành tôn giáo mà vẫn đối xử lịch thiệp với người thực hành. Tôi có thể nói rõ giới hạn lương tâm mà không cần chế giễu điều người khác coi là thiêng liêng. Chính khả năng giữ những phân biệt ấy giúp con người sống chung trong một xã hội đa dạng.

Người Công giáo cần tránh sự dễ dãi khiến điều gì cũng được gọi là giống nhau. Nhưng cũng cần tránh sự cứng nhắc khiến mọi thiện chí đều bị nghi ngờ. Khi tham dự một cuộc thăm hỏi, một tang lễ hoặc một sinh hoạt có người khác đạo, hãy tìm hiểu điều gì là cử chỉ xã hội, điều gì là hành vi tôn giáo, và điều gì cần được hướng dẫn thêm. Trong những trường hợp chưa rõ, hỏi người có trách nhiệm mục vụ là cách khôn ngoan. Đừng lấy một câu trả lời riêng cho một hoàn cảnh rồi áp dụng máy móc cho mọi hoàn cảnh khác.

Sự rõ ràng cần được diễn tả bằng giọng nói phù hợp. Có thể nói: vì niềm tin của tôi, tôi không thực hiện phần nghi thức này, nhưng tôi xin ở đây để chia sẻ nỗi buồn với gia đình. Có thể nói: tôi quý trọng thiện chí của anh chị, còn điểm này chúng ta hiểu khác nhau. Những cách nói ấy cho người khác biết giới hạn mà không khiến họ bị sỉ nhục. Chúng cũng giúp ta tránh thái độ giả vờ tham gia để giữ hòa khí, rồi về sau lại bực bội hoặc phê phán. Sự chân thành tế nhị thường xây lòng tin tốt hơn một sự đồng ý không có thật.

Trong các mối quan hệ lâu dài, người ta dần có thể hiểu những giới hạn của nhau. Điều ấy cần thời gian và sự nhất quán. Nếu hôm nay ta nói vì lương tâm nhưng ngày mai lại tùy tiện khi có lợi, lời giải thích sẽ khó thuyết phục. Nếu ta yêu cầu được tôn trọng mà không tôn trọng giới hạn của người khác, sự bất cân xứng sẽ tạo ra nghi ngờ. Đối thoại trưởng thành đòi hỏi mỗi bên thực hiện điều mình mong nhận: trung thực, công bằng, kiên nhẫn và không gây sức ép không thích hợp lên lương tâm của nhau.

Chương hai mươi ba. Trở về cội nguồn không có nghĩa mọi thực hành lịch sử đều đúng.

Khi nói các tín hữu cần kín múc nơi nguồn mạch chân thực của truyền thống mình để chống lại thù hận, chúng ta không nên hiểu rằng tất cả những gì từng được thực hiện nhân danh tôn giáo đều tốt. Lịch sử con người có những điều cao quý và những sai lầm. Các cộng đồng có thể mang theo những tập tục, thành kiến và cách tổ chức chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh. Sự trở về nguồn đòi phân định: điều gì phù hợp với chân lý và phẩm giá con người, điều gì đã bị méo mó bởi tham vọng, sợ hãi hoặc lợi ích.

Đối với người Công giáo, việc phân định ấy được thực hiện trong ánh sáng của Đức Ki-tô và giáo huấn của Giáo hội. Một tập quán lâu đời không tự nó trở thành tiêu chuẩn tối hậu của sự thiện. Một điều được nhiều người đồng tình chưa chắc đã phù hợp với Tin Mừng. Có khi sự trung thành thực sự đòi ta sửa một thói quen quen thuộc. Chẳng hạn, nếu cách tổ chức một việc đạo đức làm người nghèo thường xuyên bị bỏ qua, ta cần xem lại cách tổ chức. Nếu một lối giảng dạy gieo lòng khinh miệt người khác, ta cần sửa lối giảng dạy, dù đã quen dùng từ lâu.

Cũng cần thận trọng khi nói thay các truyền thống khác. Ta có thể lắng nghe các đại diện trình bày về những nguồn mạch hòa bình trong niềm tin của họ, nhưng không nên tự nhận mình có quyền xác định toàn bộ ý nghĩa của tôn giáo họ qua một vài câu đọc được. Sự hợp tác có thể đặt trên những điểm chung thực tế như bảo vệ người vô tội, cứu trợ người gặp nạn, khước từ kích động thù ghét và tôn trọng lương tâm. Những công việc ấy tạo điều kiện cho việc hiểu biết sâu hơn, thay vì đòi mọi vấn đề phải được giải quyết chỉ bằng một khẩu hiệu.

Trở về nguồn cũng cần sự can đảm nhìn lại cộng đồng mình. Chúng ta rất dễ thấy người khác đang bị chính trị hoặc lợi ích chi phối, nhưng khó nhận điều ấy nơi mình. Có thể một nỗi sợ được lặp lại lâu ngày đã trở thành điều ai cũng ngại chất vấn. Có thể một vị trí quyền lực được bảo vệ bằng ngôn ngữ thiêng liêng. Có thể một sự bất công được coi là bình thường vì người chịu thiệt không có tiếng nói. Những điều ấy cần được soi sáng bằng sự thật, lời cầu nguyện và trách nhiệm. Chỉ khi dám để mình được sửa, ta mới nói về nguồn mạch chân thực với sự nghiêm túc.

Chương hai mươi bốn. Bình an không thể được mua bằng sự im lặng của người yếu.

Trong một gia đình, có thể mọi người đều im nhưng không ai bình an. Trong một cộng đoàn, có thể không ai tranh luận vì họ sợ hậu quả. Trong một tổ chức, có thể mọi báo cáo đều đẹp vì những vấn đề thật không được phép xuất hiện. Sự yên lặng bên ngoài rất dễ bị nhầm với hòa thuận. Nhưng nếu người yếu hơn phải liên tục nuốt điều đau để người có quyền khỏi khó chịu, chúng ta chưa có sự hòa giải. Chúng ta đang có một sự mất cân bằng được giữ bằng nỗi sợ.

Tinh thần hòa bình đòi hỏi chỗ cho sự thật được nói ra cách có trách nhiệm. Cần có người lắng nghe, có tiến trình tiếp nhận phản ánh, có sự bảo vệ phù hợp và có khả năng sửa sai. Không phải mọi lời phàn nàn đều chính xác, nhưng cũng không thể vì có khả năng sai mà gạt bỏ tất cả. Người có trách nhiệm cần kiểm chứng công bằng, tránh bênh người thân quen hoặc người có vị trí. Nếu ai lên tiếng cũng bị quy là gây chia rẽ, cộng đoàn sẽ mất khả năng nhận ra những điều đang làm mình tổn thương.

Trong gia đình, việc này có thể bắt đầu bằng cách cho phép con nói rằng một lời mắng đã làm con đau. Cha mẹ vẫn có trách nhiệm dạy dỗ, nhưng có thể nghe để điều chỉnh phương thức. Vợ chồng có thể bất đồng mà không đe dọa bỏ nhau mỗi lần tranh luận. Người già có thể nói nhu cầu của mình mà không bị coi là phiền. Người chăm sóc có thể xin được nghỉ mà không bị đánh giá là thiếu hiếu thảo. Một mái nhà an toàn có chỗ cho những lời thật như thế.

Trong giáo xứ và hội đoàn, cũng cần phân biệt sự hiệp nhất với việc mọi người phải giống nhau trong mọi ý kiến. Có thể cùng một đức tin mà khác cách đề nghị tổ chức công việc. Có thể tôn trọng người phụ trách mà vẫn xin làm rõ một quyết định. Có thể góp ý vì muốn công việc tốt hơn. Tất nhiên, góp ý cần đúng cách và có trách nhiệm; nhưng trách nhiệm ấy cũng thuộc về người nghe. Khi sự thật được tiếp nhận bằng lòng khiêm tốn, bất đồng có thể trở thành cơ hội trưởng thành thay vì mầm chia rẽ.

PHẦN BẢY. ĐƯA TINH THẦN A-XI-DI VÀO MÁI NHÀ VÀ GIÁO XỨ.

Chương hai mươi lăm. Gia đình là nơi trẻ em học cách nhìn người khác.

Một đứa trẻ có thể chưa từng dự một cuộc gặp liên tôn, nhưng đã được học rất nhiều về người khác qua những câu nói trong nhà. Khi cha mẹ gọi người thuộc tôn giáo khác bằng một tên chế giễu, trẻ học rằng sự khác biệt cho phép mình coi thường. Khi người lớn kể một chuyện sai của cá nhân rồi kết luận cả cộng đồng đều như thế, trẻ học cách quy tội chung. Khi cha mẹ giữ sự lịch thiệp ở ngoài nhưng về nhà nói những lời khinh miệt, trẻ học rằng tôn trọng chỉ là một lớp vỏ xã giao. Những bài học ấy âm thầm tạo nên phản xạ về sau.

Ngược lại, gia đình có thể giúp con biết phân biệt điều mình tin với việc đánh giá phẩm giá người khác. Cha mẹ có thể giải thích: nhà mình là người Công giáo, tin vào Đức Giê-su và sống theo giáo huấn của Giáo hội; gia đình bạn có niềm tin khác, con hãy cư xử tử tế và khi không hiểu thì hỏi. Câu giải thích ấy vừa giữ căn tính vừa mở đường cho tình bạn. Không cần làm trẻ sợ người khác để giữ trẻ gần Chúa. Điều cần là dạy trẻ hiểu đức tin, biết cầu nguyện, biết sống ngay thẳng và biết tìm người hướng dẫn khi có thắc mắc.

Những tình huống thường ngày là cơ hội giáo dục tốt. Khi hàng xóm có tang, gia đình có thể thăm hỏi theo cách phù hợp. Khi một người khác đạo giúp mình, hãy cảm ơn trước mặt con. Khi nghe tin một người gây lỗi, hãy nhắc con rằng hành vi cần được xem xét công bằng và không đại diện cho mọi người cùng niềm tin. Khi con nghe một lời xúc phạm ở trường, hãy giúp con biết cách từ chối tham gia và tìm sự hỗ trợ nếu cần. Trẻ sẽ hiểu sự tôn trọng qua những việc được làm lặp lại.

Gia đình cũng cần tránh biến cuộc sống của con thành cuộc tranh đấu danh dự tôn giáo. Một đứa trẻ có thể mắc lỗi vì đang lớn, vì chưa biết điều chỉnh cảm xúc hoặc vì ảnh hưởng bạn bè. Dạy con sửa lỗi không cần kèm theo lời đe dọa rằng con đã làm nhục cả đạo. Có thể giúp con hiểu trách nhiệm chứng tá, nhưng đồng thời cho con thấy tình thương và con đường trở về. Một đức tin chỉ gắn với sự xấu hổ sẽ khó trở thành nơi nương tựa. Một đức tin được sống trong sự thật và lòng thương xót có thể giúp con can đảm nhận lỗi và trưởng thành.

Chương hai mươi sáu. Khi các thành viên trong nhà không cùng tôn giáo.

Trong những gia đình có sự khác biệt về tôn giáo, tình yêu cần đi cùng sự hiểu biết và những cuộc trao đổi rõ ràng. Nhiều xung đột không bắt đầu từ một bất đồng thần học lớn, mà từ những điều không được nói trước: một ngày lễ cần có mặt, một nghi thức gia đình, cách giáo dục con, một lời bình phẩm của họ hàng. Nếu những việc ấy cứ bị trì hoãn vì sợ mất vui, đến khi xảy ra biến cố, mọi người dễ thấy mình bị đặt trước sự đã rồi. Vì thế, cần nói với nhau khi còn bình tĩnh, với sự hướng dẫn mục vụ thích hợp.

Người Công giáo cần sống đức tin nhất quán và cũng cần học cách giải thích giới hạn của mình bằng lòng kính trọng. Không nên đợi đến trước mặt đông người mới tuyên bố một điều khiến gia đình bất ngờ. Có thể tìm hiểu và trao đổi trước, nhờ người có trách nhiệm hỗ trợ, để phân biệt điều nào có thể tham gia và điều nào không phù hợp. Trong những vấn đề liên quan đến hôn nhân và bí tích, cần tham khảo trực tiếp sự hướng dẫn của Giáo hội cho hoàn cảnh cụ thể, tránh dùng những lời truyền miệng như quy tắc chung.

Tình yêu gia đình cũng đòi hỏi không lấy chuyện tôn giáo làm vũ khí trong mọi mâu thuẫn. Nếu một người quên việc nhà, hãy nói về việc nhà. Nếu có vấn đề tiền bạc, hãy bàn rõ khoản thu chi. Đừng lập tức quy mọi thiếu sót cho tôn giáo của người kia. Cách quy chụp ấy làm cho một vấn đề có thể giải quyết trở thành cuộc phòng thủ căn tính. Người ta sẽ không còn nghe lời góp ý, vì cảm thấy cả con người và gia đình mình đang bị xúc phạm. Sự công bằng trong cách gọi tên vấn đề giúp giữ lại khả năng đối thoại.

Các thành viên khác trong họ hàng cũng có trách nhiệm. Một câu châm chọc lặp lại nhiều lần có thể gây áp lực lớn cho đôi vợ chồng. Một lời thúc ép không đúng lúc có thể làm đứa trẻ hoang mang. Gia đình cần được nâng đỡ để sống những cam kết đã nhận, không bị kéo vào những cuộc tranh hơn thua giữa các bên. Khi gặp khó, tìm người hướng dẫn có hiểu biết và có khả năng nghe cả hoàn cảnh sẽ hữu ích hơn việc thu thập lời khuyên từ những người chỉ muốn chứng minh bên mình đúng.

Chương hai mươi bảy. Giáo xứ cần là nơi sự tiếp đón có hình dáng cụ thể.

Một giáo xứ hiếu khách được nhận ra từ những việc rất nhỏ: bảng chỉ dẫn dễ hiểu, người hướng dẫn có giọng nói nhã nhặn, chỗ ngồi được sắp xếp với sự quan tâm, người già và người khuyết tật được để ý, người mới không bị làm bẽ mặt vì chưa biết một quy tắc. Những điều ấy có thể không xuất hiện trong báo cáo thành tích, nhưng là kinh nghiệm thật của người bước vào. Nhiều khi một người nhớ rất lâu cách mình được tiếp đón trong lần đầu đến nhà thờ.

Tinh thần đối thoại không có nghĩa nhà thờ mất tính thánh thiêng hoặc mọi quy định đều trở nên tùy ý. Không gian phụng vụ cần được tôn trọng. Điều quan trọng là cách hướng dẫn giúp người khác hiểu và có thể thực hiện. Một lời giải thích nhỏ nhẹ thường hữu ích hơn sự quát tháo. Một người đang lúng túng cần được chỉ dẫn, không cần bị biến thành ví dụ trước đám đông. Nếu có hành vi gây rối hoặc nguy hiểm, cần can thiệp phù hợp; nhưng không vì thế mà đối xử với mọi người lạ như mối đe dọa.

Giáo xứ cũng có thể giúp giáo dân học về đối thoại qua những buổi tìm hiểu nghiêm túc, những cuộc thăm hỏi thích hợp và các việc cộng tác vì công ích. Trước khi tổ chức, cần xác định mục đích, người phụ trách, nội dung và các giới hạn cần giữ. Sau khi tổ chức, nên nhìn vào hoa trái thực tế: người tham dự có hiểu nhau hơn không, hiểu lầm nào được sửa, nhu cầu nào được nhận ra, cam kết nào được thực hiện. Nếu chỉ dừng ở hình ảnh đẹp, cuộc gặp sẽ khó đi xa. Nếu có sự tiếp nối, lòng tin có thể lớn dần.

Một điều đặc biệt cần là nhớ đến những người đứng ở rìa cộng đoàn. Người không quen ai, người ít nói, gia đình mới đến, người từng có một biến cố khiến họ ngại trở lại. Có khi họ không cần một chương trình riêng, chỉ cần một người biết tên và một lời hỏi thăm không tò mò. Sự thuộc về được tạo ra qua những liên hệ như thế. Khi giáo xứ sống sự tiếp đón trong nội bộ, việc mở ra với người ngoài sẽ chân thật hơn, vì đó là cùng một tinh thần được thực hiện nhất quán.

Chương hai mươi tám. Giáo lý phải giúp trẻ hiểu đức tin và giữ lòng tôn trọng.

Trong lớp giáo lý, trẻ em cần được học rõ đức tin Công giáo. Sự mơ hồ không giúp chúng trưởng thành. Nhưng việc học rõ không đòi hỏi dùng những hình ảnh sai lệch về người khác. Giáo lý viên cần thận trọng với những câu chuyện nghe có vẻ hấp dẫn nhưng chưa được kiểm chứng, những lối nói chế giễu tôn giáo khác, và những so sánh khiến trẻ tưởng mình có quyền coi thường bạn bè. Một bài học có thể được nhớ rất lâu, nên điều được gieo vào cần có sự thật và lòng bác ái.

Có thể dạy trẻ những cách ứng xử giản dị. Khi bạn cầu nguyện khác mình, con không cần cười. Khi bạn hỏi về nhà thờ, con có thể giải thích điều con biết và nhờ người lớn giúp điều chưa biết. Khi nghe người khác nói sai về đạo, con có thể bình tĩnh nói lại điều đúng mà không đánh nhau hay làm nhục bạn. Khi có sinh hoạt chung, con hãy giữ lời, chia phần công bằng và giúp người yếu hơn. Những bài học ấy nối giáo lý với đời sống, giúp đức tin có hình dáng trong hành vi.

Các em cũng cần được phép đặt câu hỏi. Vì sao mình tin Đức Giê-su? Vì sao bạn không đi lễ? Vì sao người tốt vẫn gặp đau khổ? Vì sao người có đạo có khi làm sai? Một câu hỏi không nhất thiết là chống đối. Đôi khi đó là dấu hiệu trẻ đang bắt đầu suy nghĩ bằng chính khả năng của mình. Người dạy cần nghe, trả lời theo tuổi và không ngại nói rằng câu này cần tìm hiểu thêm. Nếu phản ứng bằng giận dữ, ta có thể khiến trẻ ngừng hỏi ở nơi đáng lẽ giúp chúng tìm hiểu an toàn.

Đức tin trưởng thành cần cả nội dung, thực hành và chứng tá. Trẻ cần hiểu giáo lý, được tham dự đời sống cầu nguyện và nhìn thấy người lớn sống điều được dạy. Khi người dạy biết xin lỗi, công bằng giữa các em và giữ lời hẹn, lớp học đã có một bài học sống. Khi giáo xứ quan tâm đến trẻ nghèo hoặc trẻ gặp khó, các em nhận ra lời nói về tình yêu có ý nghĩa cụ thể. Từ nền tảng ấy, việc sống bên những người khác niềm tin có thể diễn ra trong sự tự tin và kính trọng.

Chương hai mươi chín. Người có trách nhiệm phải tập nghe trước khi yêu cầu người khác nghe mình.

Quyền trách nhiệm trong gia đình, giáo xứ hoặc hội đoàn luôn có nguy cơ bị biến thành quyền không cần giải thích. Người phụ trách có thể nghĩ rằng vì mình lo nhiều nên người khác phải hiểu. Có thể xem mọi ý kiến khác là thiếu vâng phục. Có thể quen nghe lời đồng tình đến mức không nhận ra người xung quanh đang sợ nói thật. Khi ấy, sự im lặng của cộng đoàn dễ bị hiểu nhầm là đồng thuận. Người lãnh đạo tưởng mọi việc ổn trong khi những người phục vụ đang mệt và những vết thương đang tích tụ.

Tinh thần gặp gỡ mời gọi một cách thực thi trách nhiệm có khả năng lắng nghe. Cần có lúc hỏi người làm trực tiếp đang gặp gì. Cần biết điều kiện thực tế trước khi giao thêm. Cần phân biệt một lời góp ý vụng về với ý muốn chống đối. Cần kiểm chứng trước khi tin lời người mình thân. Điều này không có nghĩa mọi quyết định đều phải được bỏ phiếu hoặc mọi ý kiến đều đúng. Nó giúp quyết định dựa trên hiểu biết đầy đủ hơn và làm cho người tham gia biết mình được nhìn nhận.

Người lãnh đạo cũng cần biết xin lỗi. Một lời nhận sai rõ ràng không làm mất phẩm giá của chức vụ. Nó cho thấy trách nhiệm được thực hiện bằng lương tâm. Nếu giao việc thiếu cân nhắc, hãy điều chỉnh. Nếu đã nói nặng trước mặt nhiều người, hãy sửa theo cách phù hợp với phạm vi tổn thương. Nếu nghe thông tin một chiều rồi kết luận, hãy tìm hiểu lại. Cộng đoàn sẽ học rất nhiều từ cách người có quyền nhận trách nhiệm. Những bài học ấy có thể ảnh hưởng đến cách mọi người đối xử với nhau lâu hơn một bài huấn đức.

Sự lắng nghe cũng cần có ranh giới và tổ chức. Người phụ trách không thể có mặt mọi lúc, nhưng có thể tạo thời gian, kênh liên lạc và sự phân công rõ. Những vấn đề chuyên môn cần được chuyển đến người phù hợp. Các phản ánh nghiêm trọng cần được xử lý đúng trách nhiệm, không chỉ bằng một cuộc nói chuyện thân tình. Tình thương không loại bỏ sự cẩn trọng. Ngược lại, khi con người và uy tín cộng đoàn đều quan trọng, việc giải quyết cần công bằng, minh bạch ở mức thích hợp và tôn trọng những người liên quan.

Chương ba mươi. Những công việc chung giúp các cộng đồng học cách tin nhau.

Không phải mọi sự hiểu biết đều bắt đầu từ một hội thảo. Có khi những người khác tôn giáo hiểu nhau hơn khi cùng dọn một con đường sau ngập, cùng chuẩn bị bữa ăn cho người nghèo, cùng tìm một gia đình đang cần chỗ ở. Trong công việc, người ta thấy được cách nhau giữ lời, chia phần, chịu khó và nhận trách nhiệm. Những kinh nghiệm ấy làm cho hình ảnh về người khác bớt phụ thuộc vào lời đồn. Ta có tên, có gương mặt, có câu chuyện cụ thể thay cho một nhãn gọi chung.

Công việc chung cần được tổ chức để mọi người thực sự cộng tác. Nên thống nhất mục tiêu, cách sử dụng nguồn lực, trách nhiệm và việc truyền thông. Không nên để một nhóm làm mọi quyết định rồi mời nhóm khác đến đứng cùng khi chụp ảnh. Cũng không nên dùng hoạt động bác ái để tạo thế hơn thua giữa các cộng đồng. Người được giúp cần được đặt ở trung tâm. Nếu họ phải chờ đợi vì các bên đang tranh vị trí hay cách ghi tên, công việc đã mất đi một phần ý nghĩa của nó.

Khi có khác biệt trong phương thức làm, cần trao đổi rõ. Một nhóm có thể quen làm nhanh, nhóm khác thận trọng về hồ sơ; một bên ưu tiên hỗ trợ trước mắt, bên kia nghĩ đến việc lâu dài. Những khác biệt ấy có thể bổ sung nếu mọi người chịu nghe. Đừng vội gán bất đồng công việc cho bản chất tôn giáo của nhau. Hãy giải quyết đúng vấn đề: việc nào cần làm, ai chịu trách nhiệm, thông tin nào còn thiếu. Càng cụ thể, người ta càng ít bị cuốn vào những phán xét tổng quát.

Sau một hoạt động, có thể cùng nhìn lại điều đã làm tốt và điều cần sửa. Giữ sự trung thực với nguồn lực và kết quả là cách tôn trọng nhau. Nếu có sai sót, nhận và điều chỉnh sớm sẽ tốt hơn che giấu. Lòng tin được xây bằng những lần như vậy. Khi một mối quan hệ đã có kinh nghiệm cộng tác chân thật, các bên có thể dễ liên hệ trực tiếp để làm rõ một lời đồn hoặc ngăn một hiểu lầm. Từ công việc nhỏ, một khả năng gìn giữ hòa bình trong cộng đồng có thể được hình thành.

PHẦN TÁM. TINH THẦN A-XI-DI TRONG THỜI ĐẠI MÀ MỘT LỜI NÓI CÓ THỂ ĐI RẤT XA.

Chương ba mươi mốt. Trước khi chia sẻ một thông tin làm người khác bị ghét.

Ngày nay, một lời đồn có thể đến với hàng nghìn người trước khi người bị nói đến biết mình đang trở thành đề tài. Nội dung càng làm người ta giận, càng có thể được chuyển đi nhanh. Một đoạn hình ngắn, một dòng chú thích, một lời kể không rõ xuất xứ có thể khiến cả một cộng đồng bị nghi ngờ. Người chia sẻ thường nghĩ mình chỉ chuyển lại, nhưng hành vi ấy góp phần làm thông tin lan rộng. Nếu điều được chuyển là sai, sự thiệt hại không dừng ở nơi người viết đầu tiên. Nó được tăng thêm bởi từng người đồng ý đưa nó đến người khác.

Sự thận trọng cần đi trước nút chia sẻ. Ai là người cung cấp thông tin? Có nguồn đáng tin xác nhận không? Đoạn hình thuộc thời điểm nào? Có phần trước hoặc sau đã bị cắt không? Một nhận xét của cá nhân có đang bị gắn cho cả tôn giáo không? Chúng ta có đang biết một sự việc, hay chỉ đang nhìn cách một người muốn mình hiểu sự việc ấy? Những câu hỏi này không đòi mọi người trở thành nhà báo. Chúng giúp ta nhận ra rằng khi chưa biết đủ, việc chưa chia sẻ là một lựa chọn có trách nhiệm.

Có người sợ rằng nếu chậm lên tiếng, mình sẽ bị xem là không nhiệt thành. Nhưng sự nhiệt thành không thể được đo bằng tốc độ phản ứng. Một lời bênh vực dựa trên điều sai sẽ làm sự thật khó được nghe hơn. Một lời lên án thiếu căn cứ có thể tạo thêm nạn nhân. Trong những vấn đề nhạy cảm về tôn giáo, sự cẩn trọng càng cần, vì lời đồn dễ đi vào những nỗi sợ đã có sẵn. Người ta sẽ nhớ điều gây xúc động đầu tiên và ít nhớ lời đính chính đến sau.

Nếu đã chia sẻ sai, cần sửa theo cách có thể đến với những người đã nhận. Đừng chỉ xóa rồi coi như chưa từng xảy ra. Có thể nói rõ rằng thông tin trước đó chưa chính xác và đề nghị người khác ngừng chuyển. Nếu đã xúc phạm một cá nhân hoặc cộng đồng, cần nhìn nhận hậu quả. Việc sửa sai đòi một chút mất mặt, nhưng giúp giữ lại sự ngay thẳng. Người làm chứng cho đức tin cần quan tâm đến điều ấy: danh Thiên Chúa không được bảo vệ bằng sự thiếu trung thực, dù sự thiếu trung thực ấy xuất phát từ ý muốn bênh vực điều mình yêu mến.

Chương ba mươi hai. Đừng để người đau khổ trở thành chất liệu cho sự chú ý.

Những câu chuyện đau buồn dễ khiến người ta dừng lại. Một người khóc, một căn nhà bị hư hại, một đứa trẻ thiếu thốn, một gia đình chịu tang có thể tạo ra sức lay động rất lớn. Sức lay động ấy có thể giúp kêu gọi hỗ trợ. Nhưng cũng có thể bị sử dụng để thu hút sự chú ý mà ít quan tâm đến người trong cuộc. Khi ấy, nỗi đau được kể theo cách làm người xem xúc động nhất, còn quyền riêng tư, sự đồng ý và hậu quả đối với người được quay lại bị xem nhẹ.

Người làm truyền thông tôn giáo càng cần thận trọng. Chứng tá về lòng bác ái không buộc người nghèo phải bày tỏ sự biết ơn trước ống kính. Một lời cầu nguyện cho người qua đời không cần đi kèm sự suy đoán về hình phạt. Một biến cố trong nhà thờ không nên bị dựng thành chuyện ly kỳ khi chưa biết nguyên nhân. Đôi khi điều tôn trọng nhất là chưa công bố hình ảnh, chờ gia đình và người có trách nhiệm cung cấp thông tin, hoặc chỉ nói những điều thật sự cần cho việc hỗ trợ.

Cũng cần tránh gán ý nghĩa thiêng liêng quá nhanh cho những chi tiết gây xúc động. Một đồ vật rơi, một cơn mưa, một vệt sáng, một sự trùng hợp có thể được người chứng kiến cảm nhận như lời nhắc trong đời sống đức tin. Nhưng cảm nhận riêng không tự động trở thành lời giải thích chắc chắn về ý định của Thiên Chúa. Khi nói trước công chúng, cần phân biệt sự kiện đã kiểm chứng với suy tư của mình. Nếu không phân biệt, ta dễ làm người nghe tin vào điều mà chính mình không có đủ cơ sở xác quyết.

Một lối truyền thông tử tế cho phép người được nói đến giữ lại phẩm giá. Nó không buộc họ phải kể hết. Nó không dùng sự yếu đuối để làm họ mất quyền lựa chọn. Nó sẵn sàng bỏ một hình ảnh gây chú ý nếu hình ảnh ấy không cần thiết và có thể làm người ta đau thêm. Những giới hạn ấy có thể khiến sản phẩm ít gây sốc, nhưng giúp nội dung đáng tin hơn. Trong một thế giới đầy hình ảnh, biết giữ lại điều không nên công bố cũng là một hình thức chăm sóc con người.

Chương ba mươi ba. Khi tranh luận về đạo, hãy giữ lại một con đường để còn nói chuyện.

Tranh luận có thể giúp làm sáng tỏ vấn đề nếu các bên thực sự tìm hiểu. Nhưng trong môi trường mạng, người ta dễ tranh luận trước một đám đông vô hình, nơi mục tiêu chuyển từ hiểu nhau sang làm cho bên kia mất mặt. Một câu trả lời được chọn vì sắc bén, một lời chế giễu được khen vì khiến đối phương im. Những người quan sát cổ vũ như đang xem một cuộc thi. Sau đó, ai cũng thấy mình đã bảo vệ điều đúng, nhưng lòng nghi kỵ giữa các nhóm có thể tăng thêm.

Người tín hữu cần hỏi mình muốn để lại điều gì sau cuộc trao đổi. Nếu người kia chưa đồng ý nhưng hiểu đúng hơn về đức tin Công giáo, đó đã là một kết quả đáng quý. Nếu họ thấy mình được nghe và có thể trở lại đặt câu hỏi, cuộc nói chuyện vẫn còn tương lai. Nếu họ bị xúc phạm đến mức chỉ nhớ nỗi nhục, những lý lẽ đúng có thể không còn được tiếp nhận. Tôn trọng không bảo đảm người khác sẽ thiện chí, nhưng giúp ta giữ phương thức phù hợp với lương tâm của mình.

Có những nguyên tắc giản dị giúp cuộc trao đổi bớt căng. Hãy giải quyết một vấn đề mỗi lần. Đừng đem toàn bộ lịch sử và mọi điều bất mãn vào một câu hỏi cụ thể. Đừng suy đoán động cơ khi chưa có căn cứ. Hãy phân biệt lời nói có thể sai với nhân phẩm của người nói. Nếu một câu gây hiểu lầm, hãy hỏi lại. Nếu thấy mình đã hiểu sai, hãy nhận. Nếu cuộc trao đổi chỉ còn lăng mạ, có thể dừng với lời giải thích ngắn gọn. Dừng lại trong trường hợp ấy là giữ giới hạn, không nhất thiết là trốn tránh.

Cũng không nên nghĩ mọi nội dung sai trên mạng đều cần mình trực tiếp đáp trả. Có thể cung cấp tài liệu đáng tin cho người thật sự muốn tìm hiểu. Có thể báo cáo nội dung gây hại qua kênh thích hợp. Có thể trao đổi riêng khi điều đó giúp giảm sự phòng thủ. Việc sử dụng thời gian và cảm xúc cần được cân nhắc. Người Ki-tô hữu còn có gia đình, công việc, cầu nguyện và những người đang cần sự hiện diện cụ thể. Một cuộc tranh luận không có điểm dừng không nên nuốt mất toàn bộ đời sống ấy.

Chương ba mươi bốn. Hình ảnh và giọng nói nhân tạo không được mang quyền làm chứng giả.

Các phương tiện tạo hình ảnh và giọng nói ngày càng thuận tiện. Chúng có thể giúp giáo dục, minh họa một câu chuyện, làm nội dung dễ hiểu hơn và hỗ trợ những người ít điều kiện sản xuất. Tuy nhiên, cũng cần giữ một nguyên tắc rõ: điều được dựng lại phải được phân biệt với tư liệu lịch sử. Một cảnh tái hiện cuộc gặp năm một nghìn chín trăm tám mươi sáu không phải đoạn phim gốc. Một giọng đọc tổng hợp không phải giọng của vị giáo hoàng. Một câu suy tư do người biên soạn viết không được đặt vào miệng một nhân vật như thể đó là lời đã được ghi nhận.

Sự phân biệt ấy đặc biệt quan trọng trong nội dung tôn giáo, vì người nghe thường dành sự kính trọng lớn cho người được nhắc đến. Nếu một giọng nói có vẻ rất thật đọc một câu chưa từng được nói, người xem có thể tin và tiếp tục phổ biến. Sau một thời gian, điều hư cấu trở thành lời trích dẫn được nhắc lại mà không ai nhớ nguồn. Sự sai lệch có thể bắt đầu từ thiện chí muốn bài giảng sinh động. Nhưng thiện chí không làm thay đổi trách nhiệm đối với sự thật.

Khi dùng hình ảnh tái hiện, có thể ghi rõ đó là minh họa hoặc tái dựng. Khi dùng lời tóm lược, hãy nói đó là ý được diễn giải, tránh đặt trong ngoặc như trích nguyên văn nếu chưa kiểm chứng. Khi chưa có tư liệu chắc chắn về một chi tiết, không cần thêm vào chỉ để câu chuyện hấp dẫn. Sự giản dị có thể bảo vệ sự trung thực. Một nội dung giáo dục đức tin không cần làm người nghe xúc động bằng mọi giá. Nó cần giúp họ hiểu đúng và được nâng đỡ theo cách đáng tin.

Tinh thần A-xi-di trong thời đại này cũng đi vào trách nhiệm ấy. Chúng ta không thể mong các cộng đồng hiểu nhau hơn nếu cứ đưa vào không gian chung những hình ảnh và lời nói gây hiểu lầm. Sự thật là điều kiện của lòng tin. Công nghệ có thể giúp kết nối, nhưng con người vẫn phải quyết định dùng nó thế nào. Một người làm nội dung biết giới hạn, biết đính chính và biết tôn trọng người được thể hiện đang đóng góp cho hòa bình bằng chính công việc hằng ngày của mình.

Chương ba mươi lăm. Ký ức tập thể cần được gìn giữ mà không truyền lại sự hận thù.

Mỗi cộng đồng đều có những ký ức quan trọng. Có ký ức về những người đã hy sinh, những khó khăn đã trải qua, những thời kỳ bị hiểu lầm hoặc chịu bất công. Gìn giữ ký ức giúp con người hiểu mình là ai và biết ơn những người đi trước. Nhưng ký ức cũng có thể được kể theo cách khiến thế hệ sau mang một món nợ thù ghét đối với những người họ chưa từng gặp. Nếu câu chuyện chỉ cho phép một phía luôn trong sạch và phía kia luôn xấu, nó sẽ khó giúp con người hiểu lịch sử cách trưởng thành.

Kể lại trung thực đòi thừa nhận điều đã xảy ra, nhưng cũng phân biệt trách nhiệm theo người, thời điểm và hoàn cảnh. Con cháu của người từng gây hại không tự động trở thành người có tội. Một cộng đồng hôm nay không thể bị kết án trọn vẹn vì hành vi của những người trong một giai đoạn khác. Việc phân biệt ấy không xóa nỗi đau. Nó giúp công lý không bị biến thành sự quy tội kéo dài không có giới hạn. Người trẻ cần được học cách nhớ mà vẫn có khả năng gặp những con người đang hiện diện trước mặt mình.

Trong gia đình cũng có những ký ức truyền từ đời này sang đời khác. Có khi một mối bất hòa giữa hai người lớn trở thành lý do để con cháu không được chơi với nhau. Có khi một lời kể thiên lệch khiến một đứa trẻ lớn lên với sự khinh miệt một họ hàng hoặc một nhóm người. Người lớn cần xét xem mình đang trao lại điều gì: hiểu biết giúp con sống khôn ngoan, hay một sự giận dữ mà con không có cơ hội kiểm chứng. Tình thương đối với thế hệ sau bao gồm việc không buộc họ phải tiếp tục mọi cuộc chiến của mình.

Một ký ức được chữa lành có thể giữ cả nước mắt lẫn trách nhiệm hướng tới tương lai. Ta vẫn tưởng nhớ người đã mất, vẫn đòi sự thật và sự công bằng, nhưng không lấy việc làm đau người vô tội làm cách chứng tỏ lòng trung thành. Những cuộc gặp gỡ, việc học lịch sử nghiêm túc và sự hợp tác cụ thể có thể giúp mở rộng cách hiểu. Khi thế hệ trẻ biết cả điều đã làm con người chia rẽ lẫn những người đã can đảm hòa giải, họ được trao nhiều khả năng lựa chọn hơn.

PHẦN CHÍN. ĐỜI SỐNG NỘI TÂM CỦA NGƯỜI KIẾN TẠO HÒA BÌNH.

Chương ba mươi sáu. Muốn nghe người khác, cần bớt tiếng ồn trong lòng.

Chúng ta có thể im miệng mà chưa thật sự nghe. Trong lúc người kia nói, ta đang soạn câu trả lời, nhớ lại lỗi cũ, đoán động cơ hoặc lo mình sẽ mất phần. Những tiếng nói bên trong chen vào khiến điều người kia muốn diễn tả bị biến dạng trước khi đến với ta. Vì thế, lắng nghe không chỉ là kỹ năng giao tiếp. Nó còn đòi một sự tập luyện nội tâm: biết dừng phản ứng đủ lâu để người khác có cơ hội được hiểu đúng.

Thinh lặng giúp ta nhận ra những chuyển động ấy. Vì sao câu nói này làm tôi nổi giận nhanh đến vậy? Nó chạm đến một nỗi sợ, một vết thương hay một nhu cầu được công nhận? Tôi đang nghe người hiện tại, hay đang phản ứng với một người trong quá khứ? Những câu hỏi không nhằm phủ nhận sai trái có thể có của người đối diện. Chúng giúp tôi nhận trách nhiệm với phần phản ứng thuộc về mình. Nếu không hiểu phần ấy, tôi dễ bắt người khác phải gánh những điều họ không gây ra.

Người Ki-tô hữu có thể đem sự thật ấy vào cầu nguyện. Lạy Chúa, con muốn được xem là đúng. Con sợ bị coi thường. Con khó nghe người này vì đã mang nhiều bực bội. Xin cho con biết đâu là điều cần bảo vệ, đâu là lòng tự ái cần buông. Một lời cầu như thế có thể không lập tức làm cảm xúc dịu xuống, nhưng đặt cảm xúc vào một tương quan khác. Tôi không còn coi nó là mệnh lệnh phải hành động ngay. Tôi có thể chờ, thở, suy nghĩ và lựa chọn lời nói phù hợp hơn.

Sự tập luyện cần vừa sức. Có thể dành vài phút cuối ngày nhìn lại một cuộc trao đổi. Có thể nhận ra mình thường phản ứng gay gắt khi quá mệt và sắp xếp lại thời gian nói chuyện. Có thể nhờ một người đáng tin góp ý về cách mình lắng nghe. Những việc ấy nhỏ nhưng giúp ta bớt bị điều khiển bởi phản xạ. Người kiến tạo hòa bình không phải người không bao giờ giận. Họ là người dần biết chịu trách nhiệm với cơn giận và không trao cho nó toàn quyền đối với người khác.

Chương ba mươi bảy. Chay tịnh giúp ta học rằng không phải muốn gì cũng phải làm ngay.

Trong ngày gặp gỡ đầu tiên tại A-xi-di, cầu nguyện gắn với thinh lặng, hành hương và chay tịnh. Những thực hành ấy nhắc người tín hữu về sự hoán cải. Con người có thể nói nhiều về hòa bình nhưng vẫn không chịu nhường bất cứ điều gì trong đời sống riêng. Muốn mọi người bớt tranh chấp mà mình không chịu mất một chút thuận tiện. Muốn các nhóm bớt hơn thua mà bản thân không thể chấp nhận ý kiến bị bỏ qua. Những mâu thuẫn ấy cho thấy việc xây dựng hòa bình cần được tập bằng những lựa chọn thân thuộc.

Chay tịnh, được thực hiện phù hợp với sức khỏe và trách nhiệm, có thể giúp ta nhận ra mình không buộc phải đáp ứng ngay mọi ham muốn. Ta có thể chờ một chút, nhường một phần, từ bỏ một điều không cần. Ý nghĩa thiêng liêng không nằm ở việc chứng minh sức chịu đựng trước người khác, mà ở sự tự do lớn hơn để hướng lòng về Chúa và quan tâm đến tha nhân. Nếu sau một việc khổ chế ta chỉ thêm cáu gắt và coi thường người không làm như mình, cần xét lại cách thực hành.

Cũng có những hình thức tiết chế rất gần với việc gìn giữ hòa bình. Bớt một lời đáp trả cay nghiệt. Không đọc tiếp một nội dung chỉ làm mình kích động. Không tham gia chuyện nói xấu dù đang rất muốn nghe. Bỏ một khoản chi để giúp nhu cầu thật của người khác. Dành thời gian phục vụ thay vì tìm thêm sự chú ý. Những việc ấy không thay thế toàn bộ ý nghĩa của chay tịnh trong truyền thống Ki-tô giáo, nhưng có thể diễn tả tinh thần tự chủ và bác ái trong đời sống hằng ngày.

Khi một cộng đoàn cùng tập tiết chế, bầu khí cũng có thể thay đổi. Những cuộc họp bớt dài vì ai cũng chịu nói gọn. Những bữa cơm bớt căng vì người ta thôi dùng câu đùa để làm đau nhau. Các hoạt động bớt phô trương vì nguồn lực được dành đúng chỗ. Sự tự do khỏi nhu cầu hơn người giúp công việc chung nhẹ hơn. Từ những lựa chọn ấy, người ta học rằng phần mình từ bỏ có thể trở thành khoảng không để người khác được sống và được nghe.

Chương ba mươi tám. Cầu nguyện trước Đức Ki-tô chịu đóng đinh.

Người Ki-tô hữu không tìm một thứ bình an không có thập giá. Đức Giê-su cho thấy tình yêu đi vào chính nơi con người bị tổn thương, phản bội và loại trừ. Chiêm ngắm Người không giải thích hết mọi đau khổ, nhưng đặt người tín hữu trước một cách hiện diện: không bỏ mặc người đau, không dùng quyền lực chỉ để tự cứu, không để sự dữ quyết định hình dạng cuối cùng của tình yêu. Sự chiêm ngắm ấy cần đi vào những hoàn cảnh có thật, nếu không thập giá dễ bị thu nhỏ thành một hình ảnh quen mắt.

Trước thập giá, ta có thể nhớ đến những người mình thường quên khi tranh luận về thế giới. Người mẹ tìm con. Người già không kịp rời nhà. Người bệnh thiếu thuốc. Người lao động mất việc sau một biến cố. Đứa trẻ lớn lên trong nỗi sợ. Những con người ấy không phải số liệu phụ trong câu chuyện về chiến thắng hay lợi ích. Họ là những cuộc đời có tên, có ký ức và có quyền được sống. Cầu nguyện giúp ta không để ngôn ngữ khái quát làm mất gương mặt của họ.

Thập giá cũng chất vấn việc ta muốn mình luôn ở vị trí vô tội. Có khi ta không trực tiếp gây ra một tổn thương nhưng đã cười theo, im lặng vì lợi ích, hoặc tiếp tục hưởng thuận tiện từ một sự bất công mình biết. Nhận ra phần liên đới ấy không nhằm khiến ta chìm trong tội lỗi, mà mở ra trách nhiệm. Có điều gì tôi có thể ngừng làm? Có điều gì tôi cần nói? Có ai tôi cần giúp? Việc hoán cải trở nên cụ thể khi câu hỏi đi đến lựa chọn.

Đức tin vào sự phục sinh giúp người tín hữu không tuyệt vọng trước sức nặng của sự dữ. Nhưng hy vọng phục sinh không cho phép xem nhẹ đau khổ hiện tại. Vì tin sự sống có giá trị trước Thiên Chúa, ta càng phải chăm sóc sự sống đang mong manh. Vì tin tình yêu không bị cái chết tiêu diệt, ta càng có lý do tiếp tục yêu khi thành quả khó thấy. Người làm hòa bình được nâng đỡ bởi niềm hy vọng ấy, đồng thời vẫn cần nghỉ ngơi, đồng hành và những phương thức hành động khôn ngoan trong lịch sử.

Chương ba mươi chín. Xin ơn bình an trong chính những mối quan hệ mình chưa muốn sửa.

Chúng ta dễ cầu nguyện cho những xung đột ở xa hơn cho một người làm mình khó chịu mỗi ngày. Khoảng cách giúp ta giữ giọng hiền hòa. Nhưng khi nghĩ đến người trong gia đình, người cùng nhóm hoặc người từng nói nặng mình, lòng có thể lập tức co lại. Chính ở đó, cầu nguyện trở nên thật. Tôi không cần giả vờ đã tha thứ. Tôi có thể thưa rằng mình đang giận và chưa sẵn lòng. Sự thật ấy là điểm bắt đầu tốt hơn một lời đạo đức không chạm đến cảm xúc thật.

Từ lời cầu nguyện, có thể xuất hiện một bước nhỏ: ngừng kể xấu, không làm người kia bẽ mặt, tìm hiểu lại một hiểu lầm, hoặc xin một người trung gian giúp trao đổi. Không phải mối quan hệ nào cũng có thể trở lại như trước. Có những tổn thương đòi khoảng cách an toàn và thời gian. Điều quan trọng là không nuôi ý định gây hại và tiếp tục phân định điều đúng. Cầu nguyện không ép ta bỏ qua giới hạn cần thiết; nó giúp giới hạn ấy không biến thành sự trả thù kín đáo.

Có khi bước cần làm là nhận lỗi của chính mình. Chúng ta có thể đã đúng về một vấn đề nhưng sai trong cách nói. Có thể đã bị thiệt nhưng cũng đáp trả bằng điều không nên. Nhận phần sai không có nghĩa phủ nhận toàn bộ sự thật còn lại. Nó giúp cuộc gặp thoát khỏi yêu cầu bất khả thi rằng phải có một người hoàn toàn đúng và một người hoàn toàn sai. Nhiều mối quan hệ bắt đầu thay đổi khi một người dám nhận một điều cụ thể mà không kèm ngay lời đòi người kia nhận lại.

Xin ơn bình an cũng là xin được tự do khỏi nhu cầu cứ phải nhắc lại. Có những chuyện đã được giải quyết nhưng ta vẫn đem ra như công cụ giữ thế hơn. Có những lỗi đã được sửa nhưng ta vẫn muốn người kia mang cảm giác mắc nợ. Những điều ấy có thể làm hòa giải không trưởng thành. Lòng thương xót mời gọi ta để người khác có tương lai, trong khi sự khôn ngoan vẫn giữ những giới hạn cần thiết. Sự kết hợp ấy cần cầu nguyện, hiểu biết và đôi khi cần được hướng dẫn lâu dài.

Chương bốn mươi. Người làm hòa bình cũng cần được chăm sóc.

Có những người thường đứng giữa các bên để nghe, giải thích và giữ cho cuộc nói chuyện không đổ vỡ. Trong gia đình, đó có thể là một người mẹ hoặc người con. Trong cộng đoàn, đó có thể là người phụ trách, một giáo dân đáng tin hoặc người âm thầm được mọi người tìm đến. Họ tiếp nhận nhiều nỗi đau và có khi ít chỗ để nói nỗi mệt của mình. Nếu cứ được xem là người luôn bình tĩnh, họ có thể ngại thừa nhận rằng bản thân cũng đang quá sức.

Cần tránh coi sự tận tụy của một người là nguồn lực không có giới hạn. Người đồng hành cần thời gian nghỉ, sự chia sẻ trách nhiệm và sự hỗ trợ phù hợp. Có những tình huống vượt quá khả năng cá nhân, cần chuyên môn hoặc tiến trình chính thức. Cố gắng một mình có thể khiến cả người giúp và người được giúp gặp khó. Lòng khiêm tốn bao gồm việc biết nói rằng vấn đề này cần người khác cùng tham gia. Sự hợp tác giúp trách nhiệm được thực hiện bền hơn.

Cũng cần nhìn nhận rằng có những cuộc đối thoại chưa thể đi đến kết quả. Một bên có thể chưa sẵn lòng, các điều kiện chưa bảo đảm, hoặc thông tin chưa đủ. Người làm hòa bình không chịu trách nhiệm kiểm soát toàn bộ tự do của mọi người. Họ chịu trách nhiệm với sự trung thực, phương thức và giới hạn của mình. Biết dừng một tiến trình chưa phù hợp không có nghĩa từ bỏ mọi hy vọng. Có thể giữ một cánh cửa, tiếp tục cầu nguyện và chờ điều kiện tốt hơn mà không buộc mình phải tạo ra một sự hòa thuận giả.

Cộng đoàn cần biết cảm ơn những công việc thầm lặng ấy bằng hành động cụ thể. Chia việc, tôn trọng giờ nghỉ, không gọi mọi lúc cho những vấn đề có thể chờ, và không đòi người đồng hành phải luôn đứng về phía mình. Khi người làm hòa bình được nâng đỡ, họ có thể tiếp tục hiện diện với sự sáng suốt và lòng nhân hậu. Bình an không nên được giữ mãi bằng sự kiệt sức của một người. Nó cần trở thành trách nhiệm được nhiều người cùng nhận lấy.

PHẦN MƯỜI. NHẬN LẤY MỘT DI SẢN BẰNG ĐỜI SỐNG CỦA MÌNH.

Chương bốn mươi mốt. Bốn vị giáo hoàng và một trách nhiệm được tiếp tục.

Khi nhìn lại bốn triều đại giáo hoàng, chúng ta có thể nhận ra những điểm nhấn bổ sung cho nhau. Đức Gio-an Phao-lô thứ Hai khởi xướng cuộc gặp và làm sáng tỏ chiều sâu thần học của nó. Đức Bê-nê-đíc-tô thứ Mười Sáu mở rộng sự hiện diện đến những người không tuyên xưng đức tin nhưng chân thành tìm kiếm. Đức Phan-xi-cô nhấn mạnh tình huynh đệ, sự quan tâm đến nạn nhân và việc vượt qua thờ ơ. Đức Lê-ô thứ Mười Bốn tiếp tục mời gọi trở về những nguồn mạch chân thực để khước từ sự thù ghét được khoác vẻ thiêng liêng. Những điểm nhấn ấy không cần bị đặt trong thế cạnh tranh. Chúng giúp người tín hữu nhìn một hành trình từ nhiều chiều kích.

Điều quan trọng là đừng biến các vị giáo hoàng thành những biểu tượng để chia phe trong cộng đoàn. Có người chỉ muốn nghe vị phù hợp với khí chất của mình. Có người lấy một câu rời khỏi bối cảnh để đối lập vị này với vị khác. Có người gắn mọi điều mình thích với tên một giáo hoàng, rồi coi người không đồng ý với mình là chống lại Giáo hội. Những cách ấy làm nghèo việc đón nhận giáo huấn. Cần đọc đầy đủ hơn, phân biệt văn kiện với bình luận và sẵn lòng để giáo huấn chất vấn cả những khuynh hướng quen thuộc của bản thân.

Một người vốn sợ đối thoại có thể cần nghe rõ rằng sự tôn trọng không làm mất căn tính. Một người vốn thích nói mọi tôn giáo đều như nhau cần nghe rõ rằng khác biệt có nội dung thật. Một người thường chỉ quan tâm đến lập luận cần được nhắc về nạn nhân và hành động cụ thể. Một người nhiệt thành nhưng dễ nổi giận cần xét lại cách mình sử dụng danh Thiên Chúa. Một di sản phong phú không chỉ xác nhận điều ta đã nghĩ. Nó giúp ta nhận ra phần còn thiếu để trưởng thành.

Bốn mươi năm cũng nhắc rằng những công việc lớn thường cần nhiều người tiếp nối. Không ai hoàn tất mọi điều trong một đời. Người khởi đầu không nhìn thấy hết hoa trái. Người kế tiếp phải đón nhận một hoàn cảnh khác và tìm cách trung thành trong hoàn cảnh ấy. Điều này đúng cả với gia đình và giáo xứ. Chúng ta có thể bắt đầu một thói quen tốt mà con cháu sẽ tiếp tục. Có thể sửa một cách tổ chức để người đến sau phục vụ đỡ mệt. Có thể gieo một bài học tôn trọng mà nhiều năm sau mới thấy kết quả. Sự trung thành có tầm nhìn dài như vậy.

Chương bốn mươi hai. Đừng dùng tình huynh đệ để né tránh những câu hỏi khó.

Một cuộc gặp có thể rất ấm áp, nhưng sau đó vẫn cần những cuộc trao đổi khó. Có thể các bên còn hiểu khác nhau về một hành vi. Có thể một cộng đồng đang lo người của mình bị đối xử bất công. Có thể có sự chênh lệch về quyền lực, khả năng phát biểu hoặc nguồn lực. Tình huynh đệ chân thật cần đủ sức đi vào những điều ấy. Nếu chỉ cho phép nói điều dễ nghe, chúng ta sẽ có sự lịch thiệp mà chưa có hiểu biết sâu. Những lo ngại không được giải quyết có thể tiếp tục lớn lên bên dưới.

Muốn nói chuyện khó, cần chọn phương thức phù hợp. Có việc nên trao đổi riêng trước. Có việc cần người trung gian. Có điều cần tài liệu và thời gian đọc. Cần cho mỗi bên trình bày điều họ hiểu, điều họ sợ và điều họ mong. Sự thật không nên bị thay thế bằng cảm xúc, nhưng cảm xúc cũng cần được nghe để hiểu vì sao một vấn đề trở nên nhạy cảm. Khi người ta biết mình không bị coi thường, khả năng xem lại nhận định thường lớn hơn.

Trong đối thoại, cũng cần tránh những lời hứa vượt khả năng. Một người không thể tự ý cam kết thay toàn bộ cộng đồng. Một lời thiện chí không thay thế trách nhiệm của người có thẩm quyền. Có những vấn đề cần được chuyển đúng nơi, được xem xét theo tiến trình thích hợp và được trả lời sau khi tham khảo. Sự thành thật về giới hạn có thể khiến cuộc gặp ít hào hứng hơn, nhưng giúp những gì đã thống nhất trở nên đáng tin. Lòng tin khó bền nếu được xây bằng các lời hứa rồi để đó.

Tinh thần huynh đệ cho phép chúng ta tiếp tục kính trọng nhau ngay cả khi chưa đạt đồng thuận. Có thể kết thúc một cuộc trao đổi bằng việc xác định điều đã hiểu rõ hơn, điều còn khác và bước tiếp theo. Không cần tạo cảm giác mọi việc đã xong. Một tiến trình chân thật có thể chậm, nhưng giúp các bên biết mình đang ở đâu. Đó là nền tảng tốt hơn một sự đồng thuận được công bố trước khi người tham dự thật sự hiểu và nhận lấy nó.

Chương bốn mươi ba. Bắt đầu một thời gian tập luyện ngay trong gia đình.

Nếu muốn đưa những suy tư này vào đời sống, gia đình có thể chọn một thời gian vài tuần để tập lại sự hiện diện. Không cần mở đầu bằng nhiều quy định khiến mọi người mệt. Hãy chọn một việc có thể thực hiện chung: cất điện thoại trong bữa cơm, dành một buổi tối trò chuyện, giữ giờ kinh ngắn mà sốt sắng, hoặc cùng thăm một người đang cần quan tâm. Điều quan trọng là mọi người hiểu vì sao làm và có cơ hội góp ý về cách thực hiện. Một việc được đón nhận có thể bền hơn nhiều việc bị áp đặt.

Trong thời gian đầu, hãy chú ý đến cách nói. Mỗi người có thể tập không ngắt lời, không đem lỗi cũ vào mọi cuộc tranh luận, không dùng câu đùa để chạm vào nỗi đau của người khác. Khi lỡ làm sai, hãy nhận ngay và làm lại. Gia đình có thể chọn một câu hỏi cho cuối ngày: hôm nay có ai trong nhà cần được nghe thêm không? Câu hỏi ấy giúp sự quan tâm đi vào hiện tại. Không phải ai cũng sẵn lòng chia sẻ ngay, nhưng sự kiên trì không gây sức ép có thể dần tạo ra sự an tâm.

Sau đó, hãy nhìn ra ngoài gia đình. Có người hàng xóm nào lâu rồi chưa được hỏi thăm? Có một mối hiểu lầm nào có thể làm rõ? Có một gia đình khác đạo nào đang gặp khó mà mình có thể hỗ trợ phù hợp? Không cần biến việc ấy thành sự kiện. Một món ăn mang sang, một lời chia buồn, một sự giúp đỡ lúc cần có thể mở lại quan hệ. Trẻ em có thể được tham gia theo tuổi, để hiểu rằng điều học trong giờ kinh có liên quan đến người thật quanh mình.

Cuối thời gian tập luyện, gia đình có thể cùng nhìn lại. Việc nào giúp mọi người gần nhau hơn? Điều nào quá khó hoặc chưa phù hợp? Ai đang gánh thêm việc? Có cần điều chỉnh để người mẹ, người cha hoặc người chăm sóc không phải lo hết? Việc xét lại giúp tránh tình trạng một chương trình tốt trở thành gánh nặng cho một người. Những điều hữu ích có thể được giữ như thói quen. Sự bình an được vun trồng qua những lần điều chỉnh bình thường như thế, trong khi gia đình vẫn phải đối diện với những khó khăn của đời sống.

Chương bốn mươi bốn. Trao cho người trẻ khả năng gặp gỡ mà không sợ mất mình.

Người trẻ hôm nay đi học, làm việc và kết bạn trong những môi trường đa dạng. Họ tiếp xúc với quan điểm khác nhau rất sớm. Nếu chỉ được dạy tránh mọi khác biệt, họ có thể không biết phải làm gì khi thực tế không cho phép sống trong một không gian khép kín. Nếu chỉ được dạy rằng điều gì cũng như nhau, họ lại thiếu nền tảng để lựa chọn. Vì thế, việc đồng hành cần giúp họ vừa hiểu đức tin vừa có khả năng đối thoại. Đây là một công việc giáo dục lâu dài, cần sự kiên nhẫn của gia đình và cộng đoàn.

Cần giúp người trẻ đặt những câu hỏi nền tảng. Tôi đang tin điều gì? Vì sao điều ấy có ý nghĩa? Tôi học được ở đâu và điều nào cần tìm hiểu thêm? Khi nghe một quan điểm khác, tôi có thể hiểu nó đúng trước khi phản hồi không? Những câu hỏi ấy giúp căn tính trưởng thành. Một người biết căn tính của mình không nhất thiết phải luôn lớn tiếng về nó. Họ có thể bình tĩnh chia sẻ, thừa nhận giới hạn hiểu biết và tiếp tục học. Sự bình tĩnh ấy được nuôi bằng đời sống đức tin có chiều sâu, không chỉ bằng kiến thức để tranh luận.

Người trẻ cũng cần những kinh nghiệm phục vụ chung. Khi cùng chăm sóc trẻ em, người già hoặc người gặp khó, họ được học rằng một người không thể bị đánh giá chỉ bằng một nhãn gọi. Họ thấy sự tận tụy của bạn khác đạo, đồng thời có cơ hội làm chứng bằng cách sống của mình. Sự cộng tác cần được chuẩn bị để không gây mơ hồ về nghi thức và cam kết, nhưng cũng không nên bị loại bỏ chỉ vì sợ mọi cuộc gặp đều nguy hiểm. Hướng dẫn phù hợp giúp kinh nghiệm trở nên bổ ích.

Quan trọng hơn, người trẻ cần người lớn có thể nghe mà không vội kết luận. Nếu họ kể mình có bạn khác đạo, đừng lập tức xem đó là dấu hiệu xa Chúa. Nếu họ đặt câu hỏi về một lời dạy, hãy tìm hiểu điều họ thật sự đang hỏi. Nếu họ bối rối vì cách hành xử sai của một người có đạo, hãy giúp họ phân biệt và đối diện sự thật. Một người lớn biết đồng hành có thể trở thành nơi người trẻ trở về khi gặp khó. Sự đáng tin ấy là một đóng góp lớn cho tương lai của đức tin và hòa bình.

Chương bốn mươi lăm. Công việc hằng ngày là nơi căn tính đức tin được kiểm chứng.

Một người Công giáo có thể nói nhiều về hòa bình vào ngày Chúa nhật, nhưng từ thứ hai đến thứ bảy, đồng nghiệp nhận ra đức tin qua cách họ làm việc. Có đúng giờ không? Có nhận phần trách nhiệm khi xảy ra sai sót không? Có giữ lời với khách hàng không? Có đối xử công bằng với người ở vị trí thấp hơn không? Có tham gia việc nói xấu để tìm đồng minh không? Những việc ấy là nơi đời sống tôn giáo gặp thực tế. Sự ngay thẳng bình thường có thể góp phần làm người khác hiểu đức tin theo một cách gần gũi.

Người lao động cũng gặp những áp lực thật. Có khi môi trường khen người nói khéo hơn người làm thật. Có khi việc gian dối được coi là cách tồn tại. Có khi người giữ nguyên tắc bị chê là không linh động. Không thể chỉ khuyên sống tốt mà bỏ qua sức nặng của hoàn cảnh. Cộng đoàn cần biết nâng đỡ bằng sự lắng nghe, hướng dẫn và những quan hệ giúp người ta tìm lựa chọn phù hợp. Đồng thời, người tín hữu vẫn cần phân định trách nhiệm của mình, tránh dùng hoàn cảnh như lý do cho mọi điều sai.

Trong tương quan với người khác đạo, công việc là cơ hội để giảm thành kiến. Khi cùng giải quyết một vấn đề, người ta có thể nhận ra sự trung thực và khả năng của nhau. Nhưng cũng có thể phát sinh xung đột vì lợi ích. Khi ấy, hãy giải quyết theo công việc và bằng sự công bằng. Một tranh chấp hợp đồng không nên bị biến thành bằng chứng rằng cả tôn giáo kia không đáng tin. Một lỗi của đồng nghiệp không nên trở thành câu chuyện bêu xấu cộng đồng họ. Giữ sự phân biệt ấy giúp mâu thuẫn không lan rộng ngoài phạm vi thật.

Người có quyền thuê mướn cần đặc biệt xét mình. Trả công đúng, tôn trọng giờ nghỉ, không làm nhục và không gây sức ép lên lương tâm của người làm là những điều có ý nghĩa chứng tá sâu xa. Một khoản đóng góp tôn giáo không thay thế trách nhiệm đối với người lao động. Nếu người phục vụ mình phải sống trong sợ hãi, lời nói về tình huynh đệ sẽ khó thuyết phục. Hòa bình cần được xây cả trong những quan hệ có chênh lệch quyền lực, nơi người mạnh hơn có khả năng làm cho đời sống của người khác bớt bấp bênh.

Chương bốn mươi sáu. Khi bệnh tật và tang chế đưa chúng ta đến gần nhau.

Trước một giường bệnh, những điều từng dùng để phân biệt con người có thể trở nên nhỏ lại. Người đang đau cần được chăm sóc, nghe và bảo vệ phẩm giá. Gia đình cần thông tin rõ ràng, sự hỗ trợ phù hợp và những người biết chia sẻ gánh nặng. Các cộng đồng tôn giáo có thể gặp nhau trong trách nhiệm rất cụ thể ấy. Một người khác đạo có thể là người đưa bệnh nhân đi viện, nấu bữa ăn, trông nhà hoặc giúp liên hệ người thân. Lòng tốt được nhận qua những việc cần thiết như vậy có thể giúp xóa những nghi ngờ đã tồn tại lâu.

Khi thăm bệnh, cần tôn trọng người bệnh như một con người có quyền lựa chọn. Hỏi họ có muốn được thăm lúc này không, có cần yên tĩnh không, có muốn cầu nguyện không. Đừng biến phòng bệnh thành nơi tranh luận tôn giáo. Đừng cho lời khuyên điều trị vượt hiểu biết của mình. Đừng nói chắc rằng bệnh là hậu quả của tội hoặc thiếu đức tin. Những lời ấy có thể làm người bệnh thêm sợ và có lỗi. Sự hiện diện tốt cần phối hợp với việc chăm sóc chuyên môn, chứ không cạnh tranh với nó.

Trong tang chế, người ở lại thường rất nhạy cảm với lời nói. Một câu giải thích vội có thể làm họ đau thêm. Chúng ta có thể chia buồn bằng sự chân thành, giúp những việc gia đình đang cần, và tôn trọng cách thực hành tôn giáo phù hợp với lương tâm của mình. Nếu chưa rõ nên tham gia thế nào, hãy tìm hướng dẫn trước. Không cần làm người chịu tang phải giải quyết một tranh luận trong lúc họ đang yếu. Sự tế nhị giúp tình thương được diễn tả mà không gây mơ hồ hoặc tổn thương không cần thiết.

Những cuộc gặp trong đau khổ còn nhắc ta về sự mong manh chung. Người mình từng gọi bằng một nhãn xa lạ cũng lo cho cha mẹ, thương con, sợ mất người thân và cần được nâng đỡ. Nhìn thấy điều ấy không xóa những khác biệt đức tin, nhưng giúp chúng ta nói về khác biệt trong một tương quan nhân bản hơn. Từ đó, sự đối thoại có thể bắt đầu bằng việc rất giản dị: hôm nay gia đình anh chị cần chúng tôi giúp điều gì? Câu hỏi ấy, nếu được đi kèm hành động, có thể mang nhiều ý nghĩa hơn một bài phát biểu dài.

Chương bốn mươi bảy. Khi chính mình là người đang sợ người khác.

Chúng ta có thể đồng ý với mọi lời nói về đối thoại mà vẫn thấy bất an trước một người khác đạo. Nỗi sợ ấy có thể đến từ điều đã nghe, một kinh nghiệm xấu, một biến cố đau hoặc sự thiếu hiểu biết. Không cần giả vờ rằng mình không sợ. Điều cần là nhìn nỗi sợ một cách có trách nhiệm: nó dựa trên sự kiện nào, đang được nuôi bằng điều gì, và có khiến mình đối xử bất công với người không gây hại không? Khi được gọi tên, nỗi sợ có cơ hội được phân định thay vì âm thầm quyết định mọi phản ứng.

Có những nguy cơ thật cần thận trọng. Đối thoại không buộc ta bỏ mọi biện pháp bảo vệ. Nhưng sự thận trọng nên dựa trên hành vi và hoàn cảnh cụ thể, tránh biến căn tính tôn giáo của một người thành bằng chứng đủ để nghi ngờ họ. Nếu có một kinh nghiệm xấu với cá nhân, hãy giữ đúng phạm vi của kinh nghiệm. Nếu có thông tin đáng lo, hãy kiểm chứng. Nếu không hiểu một thực hành, hãy tìm người có kiến thức giải thích. Những bước ấy giúp nỗi sợ được soi sáng bằng sự thật.

Gặp gỡ ở quy mô nhỏ có thể hữu ích. Một cuộc trò chuyện với người hàng xóm đáng tin, một công việc chung có hướng dẫn, một buổi tìm hiểu nghiêm túc có thể mở ra kinh nghiệm khác với điều ta từng tưởng. Không cần ép mình vào những tình huống quá sức. Sự thay đổi có thể bắt đầu từ việc thôi nói một câu quy chụp, chịu nghe một câu chuyện, hoặc thừa nhận rằng người trước mặt không giống hình ảnh mình đã giữ. Những bước nhỏ ấy giúp lòng tin lớn lên trên nền thực tế.

Trong cầu nguyện, người tín hữu có thể xin được giải thoát khỏi sự sợ hãi làm mình khép lại. Xin Chúa ban sự khôn ngoan để nhận nguy cơ thật và lòng can đảm để không tạo thêm nguy cơ trong tưởng tượng. Xin biết bảo vệ điều cần bảo vệ mà không đánh mất sự công bằng. Xin biết nhớ nỗi đau của mình mà vẫn nhìn thấy nỗi đau người khác. Lời cầu ấy giúp chúng ta giữ một tâm hồn tỉnh táo hơn: có khả năng tự vệ khi cần và cũng có khả năng đón nhận điều thiện khi nó xuất hiện từ nơi mình chưa quen.

Chương bốn mươi tám. Niềm hy vọng được nuôi bằng những người vẫn âm thầm làm điều tốt.

Khi chỉ nhìn các xung đột lớn, người ta dễ nghĩ mọi nỗ lực tử tế đều quá nhỏ. Một lời hỏi thăm có ích gì trước những chia cắt của thế giới? Một buổi gặp có nghĩa gì khi thù ghét vẫn còn? Những câu hỏi ấy phản ánh sự mệt mỏi thật. Nhưng đời sống của mỗi con người không được giữ chỉ bằng các biến cố lớn. Nó còn được nâng đỡ bởi những người làm điều đúng trong phạm vi của mình: người thầy không cho phép bắt nạt, người mẹ không truyền thành kiến, người chủ trả công công bằng, người tín hữu bảo vệ hàng xóm khỏi lời vu khống.

Những việc ấy có thể không thay đổi toàn bộ thế giới, nhưng thay đổi thế giới gần của một người. Đứa trẻ không bị làm nhục có thêm cơ hội lớn lên lành mạnh. Gia đình được giúp qua cơn khó có thêm sức để tiếp tục. Người bị hiểu lầm gặp được người kiểm chứng có thể giữ lại danh dự. Một lời đính chính ngăn tin sai đi xa hơn. Hòa bình có những kích thước rất cụ thể như thế. Không nên coi thường điều nhỏ chỉ vì ta không thể thấy ngay tác động rộng.

Niềm hy vọng Ki-tô giáo cũng giúp ta không đồng nhất kết quả nhìn thấy với toàn bộ giá trị của hành động. Làm điều đúng có giá trị ngay cả khi chưa được khen hoặc chưa tạo ra kết quả mong muốn. Tuy vậy, hy vọng không thay thế việc đánh giá phương thức. Cần học từ sai sót, nghe phản hồi và điều chỉnh. Có thể một cách giúp chưa phù hợp, một cuộc gặp chưa đủ chuẩn bị, một lời nói đã bị hiểu sai. Sẵn lòng sửa giúp lòng nhiệt thành trở nên hữu ích hơn.

Kỷ niệm bốn mươi năm tinh thần A-xi-di là dịp nhớ đến những người kiên trì ấy. Có người nổi tiếng và rất nhiều người không ai biết tên. Họ giữ liên lạc, tổ chức những cuộc thăm hỏi, dịch tài liệu, đón tiếp khách, chăm sóc nạn nhân, dạy người trẻ và âm thầm ngăn lời đồn. Một hành trình dài được làm nên từ nhiều trách nhiệm được thực hiện đều đặn. Khi nhận ra điều đó, mỗi chúng ta có thể bớt hỏi mình có đủ lớn để làm gì, và bắt đầu hỏi điều tốt nào đang chờ mình thực hiện hôm nay.

Chương bốn mươi chín. Một giờ xét mình trước khi nói tiếp về hòa bình.

Hãy dành một khoảng yên tĩnh để nhìn lại. Tôi thường nói về người khác đạo bằng giọng nào? Có câu chế giễu nào tôi vẫn coi là vô hại dù nó khiến người khác bị khinh thường? Tôi có từng chuyển một tin chưa biết đúng sai chỉ vì nó xác nhận điều mình đã nghi ngờ? Có người nào bị tôi đánh giá chỉ qua tôn giáo, quê quán hoặc nhóm họ thuộc về không? Tôi có để người khác giải thích chính họ, hay luôn nghĩ mình đã biết? Những câu hỏi ấy giúp đưa trách nhiệm từ một ý tưởng lớn về đúng phạm vi của đời sống.

Hãy nhìn vào gia đình. Có ai đang sợ nói thật với tôi? Tôi có nghe người thân hay chỉ kiểm tra xem họ làm đúng ý mình chưa? Tôi có dùng việc hy sinh như lý do để kiểm soát không? Tôi đã xin lỗi lần gần nhất thế nào? Có phải tôi muốn được tha thứ mà không muốn sửa điều gây đau? Có công việc nào tôi đang để một người gánh mãi? Một ngôi nhà cần những câu trả lời có thật hơn là những lời khẳng định rằng mọi người phải yêu thương nhau. Khi trách nhiệm được gọi rõ, sự thay đổi mới có chỗ bắt đầu.

Hãy nhìn vào đời sống đạo. Tôi có đang tìm Chúa hay tìm sự công nhận qua các việc đạo đức? Tôi có dùng giáo huấn như công cụ kết án trong khi không để giáo huấn sửa chính mình? Tôi có chăm lo nghi thức mà bỏ qua sự công bằng trong cách tổ chức? Tôi có để người nghèo được giữ phẩm giá? Tôi có sẵn lòng học khi gặp điều chưa biết? Tôi có cầu nguyện cho người mình bất đồng không? Những câu hỏi này không nhằm làm chúng ta chán nản. Chúng giúp đức tin đi sâu đến nơi đang cần được hoán cải.

Sau cùng, hãy chọn một điều có thể làm sớm. Gọi cho người cần được hỏi thăm. Sửa một thông tin mình đã làm lan truyền. Trả một khoản phải trả. Xin lỗi một người cụ thể. Tìm người hướng dẫn cho vấn đề còn vướng. Chia lại một công việc. Giữ một thời gian cầu nguyện đều đặn. Một quyết định nhỏ được thực hiện có thể mở đầu cho hành trình dài. Nếu thấy mình yếu, hãy xin nâng đỡ. Lòng thương xót của Thiên Chúa mở đường cho chúng ta trở về, nhưng chính chúng ta cần bước đi bằng những lựa chọn tự do của mình.

Chương năm mươi. Từ một quảng trường của nước Ý đến ngưỡng cửa nhà mình.

Bốn mươi năm trước, những con người thuộc các truyền thống khác nhau đã đến thành A-xi-di để cầu nguyện cho hòa bình. Họ không trở thành giống nhau. Những câu hỏi khó không biến mất. Lịch sử sau đó vẫn mang những đau thương mà nhân loại phải đối diện. Nhưng cuộc gặp để lại một hướng đi: con người có thể giữ niềm xác tín và vẫn tìm cách gặp nhau; có thể nhận ra những khác biệt và vẫn cộng tác để bảo vệ sự sống; có thể trở về với nguồn mạch thiêng liêng của mình để từ chối việc làm cho thù ghét mang vẻ chính đáng.

Hôm nay, phần trách nhiệm của chúng ta có thể không bắt đầu ở một quảng trường quốc tế. Nó bắt đầu ở ngưỡng cửa nhà mình. Người hàng xóm đang đứng đó. Người thân đang chờ một câu trả lời khác. Đứa trẻ đang nghe cách ta nói về người không giống mình. Người đồng nghiệp đang xem ta sẽ nhận trách nhiệm hay đẩy lỗi. Người nghèo đang chờ được giúp mà không bị làm nhục. Những cuộc gặp ấy trao cho ta cơ hội thực hiện điều mình đã hiểu. Nếu bỏ qua hết những người ở gần, lời nói về tình huynh đệ xa xôi sẽ thiếu một phần rất quan trọng.

Người Ki-tô hữu được mời gọi thực hiện những điều ấy trong sự gắn bó với Đức Giê-su Ki-tô. Chính Người là nguồn hy vọng, là Đấng ta tuyên xưng và muốn làm chứng. Càng đến gần Người, ta càng phải để Người sửa cách sử dụng tự do, quyền lực và lời nói. Chứng tá không chỉ là nói điều đúng về Chúa. Nó còn là làm cho người khác bớt gặp nơi ta những điều trái với tình yêu Người dạy. Không ai thực hiện trọn vẹn trong một ngày, nhưng ai cũng có thể bắt đầu từ một bước hoán cải cụ thể.

Rồi sẽ có những ngày ta vẫn gặp hiểu lầm, thất vọng và những cuộc đối thoại không như mong muốn. Hãy trở về cầu nguyện, tìm sự nâng đỡ, học điều cần học và giữ điều chân thật. Đừng để sự thất bại của một cuộc gặp khiến mình kết luận rằng mọi người đều không đáng tin. Đừng để nỗi đau của một lần bị phản bội làm lòng mình khép lại trước mọi điều thiện. Sự khôn ngoan giúp ta biết giới hạn; niềm hy vọng giúp ta giữ khả năng bắt đầu lại. Giữa hai điều ấy, con đường hòa bình tiếp tục mở ra trong những việc thường ngày.

LỜI NGUYỆN KẾT. XIN CHO CHÚNG CON BIẾT ĐÓN NHẬN NHAU TRONG SỰ THẬT.

Lạy Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, chúng con đến trước nhan Cha với một thế giới còn nhiều chia cắt và một trái tim cũng chưa hoàn toàn bình an. Chúng con mang theo những điều tốt mình muốn làm, những nỗi sợ chưa biết gọi tên, những thành kiến đã nhận từ lâu và những vết thương đôi khi vẫn điều khiển cách mình phản ứng. Xin cho chúng con đủ chân thành để không che giấu tất cả dưới những lời đạo đức. Xin cho chúng con biết để ánh sáng của Cha đi vào cả những góc lòng mình vẫn muốn giữ nguyên.

Lạy Chúa Giê-su, Chúa đã dạy chúng con yêu thương và đã sống tình yêu ấy đến cùng. Xin đừng để chúng con dùng danh Chúa để làm người khác sợ hãi. Xin đừng để việc bảo vệ đức tin trở thành lý do cho lòng kiêu căng. Xin cho chúng con biết nói rõ điều mình tin bằng một giọng nói có sự tôn trọng. Khi phải đối diện điều sai, xin cho chúng con can đảm mà không tàn nhẫn, kiên định mà vẫn biết nghe, cẩn trọng mà không khép kín trước điều thiện.

Xin nhớ đến những người đang chịu hậu quả của xung đột. Những người không còn mái nhà. Những gia đình chưa biết người thân ở đâu. Những người bệnh thiếu sự chăm sóc. Những trẻ em phải lớn lên giữa nỗi sợ. Những người già không còn đủ sức tự lo. Xin cho họ gặp được sự bảo vệ và nâng đỡ cụ thể. Xin soi sáng những người có trách nhiệm để họ coi trọng sự sống hơn lợi ích riêng, biết nghe những lời cảnh báo và biết tìm đường giải quyết bằng sự thật, công lý và đối thoại.

Xin thương các cộng đồng tôn giáo. Xin cho những người có trách nhiệm biết gìn giữ điều chân thật trong truyền thống của mình và can đảm loại bỏ những cách sử dụng tôn giáo để gây hại. Xin cho các cuộc gặp không dừng ở nghi thức bên ngoài, nhưng mở ra sự hiểu biết, những việc phục vụ và trách nhiệm bền bỉ. Xin cho người nghèo có tiếng nói, người bị tổn thương được lắng nghe và người đang tìm kiếm được đón nhận với lòng kính trọng.

Xin thương những người chưa nhận biết Chúa, những người còn băn khoăn và những người đã xa cộng đoàn vì một vết thương. Xin cho họ gặp được người biết nghe. Xin giúp chúng con nhận trách nhiệm về những lần cách sống của mình đã che khuất dung mạo Chúa. Xin cho chúng con biết xin lỗi, sửa sai và làm chứng bằng một đời sống đáng tin. Xin đừng để sự sốt ruột khiến chúng con gây sức ép lên lương tâm của người khác. Xin ban lòng kiên nhẫn để đồng hành trong sự tự do và chân thành.

Xin trở về với các gia đình chúng con. Nơi có người đang giận, xin mở một lối để nói chuyện. Nơi có người đang quá sức, xin cho gánh nặng được chia. Nơi có người không dám nói thật, xin giúp tạo lại sự an toàn. Nơi có điều sai đã bị che lâu ngày, xin cho sự thật được đón nhận và trách nhiệm được thực hiện. Xin gìn giữ những người đang gặp nguy hiểm và dẫn họ đến sự giúp đỡ thích hợp. Xin cho chúng con không dùng lời khuyên tha thứ để bỏ mặc người đang cần được bảo vệ.

Xin dạy chúng con giữ gìn lời nói trong thời đại mà một câu có thể đi rất xa. Trước khi chia sẻ, xin cho chúng con biết kiểm chứng. Trước khi kết luận, xin cho chúng con biết lắng nghe. Khi đã nói sai, xin cho chúng con biết đính chính. Khi đứng trước nỗi đau, xin cho chúng con biết thận trọng. Xin đừng để sự chú ý của đám đông khiến chúng con quên phẩm giá của một con người. Xin cho các phương tiện chúng con sử dụng phục vụ sự thật và sự gặp gỡ.

Lạy Chúa Thánh Thần, xin ban cho chúng con sự sáng suốt để nhận ra điều thiện và lòng khiêm tốn để học nơi người khác. Xin nâng đỡ những người làm công việc hòa giải đang mệt mỏi. Xin giúp họ có người đồng hành, có thời gian nghỉ và có sức bắt đầu lại. Xin cho chúng con không đòi một người gánh mãi sự bình an của cả gia đình hoặc cộng đoàn. Xin làm cho trách nhiệm yêu thương trở thành điều nhiều người cùng nhận lấy.

Xin cho ký ức về thành A-xi-di trở thành một lời mời gọi trong hiện tại. Ngay hôm nay, xin giúp chúng con làm một việc giúp người khác bớt sợ, bớt cô đơn hoặc bớt bị hiểu lầm. Xin cho chúng con biết mở cửa khi cần mở, giữ giới hạn khi cần giữ và luôn tôn trọng phẩm giá của người đang đứng trước mặt. Xin cho sự bình an chúng con cầu xin được bắt đầu trong cách chúng con nghe, nói, làm việc và sống với nhau. Chúng con cầu xin nhờ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng con. A-men.

Linh mục An-mai, Dòng Chúa Cứu Thế.