ĐƯỢC XÓT THƯƠNG VÀ ĐƯỢC KÊU GỌI
Có những cuộc gặp gỡ chỉ kéo dài trong vài giây nhưng đủ làm đổi hướng cả một đời người. Có những ánh mắt thoáng qua rồi biến mất giữa dòng đời, nhưng cũng có một ánh mắt khi đã chạm vào ta thì từ đó ta không còn có thể sống như trước nữa. Cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và Mátthêu là một cuộc gặp gỡ như thế. Tin Mừng kể rất ngắn: Đức Giêsu đi ngang qua, Người thấy một người tên là Mátthêu đang ngồi ở trạm thu thuế và nói với ông: “Anh hãy theo tôi.” Ông đứng dậy đi theo Người. Chỉ mấy dòng ngắn ngủi, nhưng phía sau những lời ấy là cả một vực sâu của lòng thương xót, cả một huyền nhiệm của ơn gọi và cả một cuộc đời được tái sinh. Không có diễn văn dài. Không có cuộc thẩm vấn về quá khứ. Không có bản kiểm kê những sai phạm. Không có điều kiện rằng Mátthêu phải sửa mình trong sáu tháng, phải chứng minh sự hoán cải hay phải làm một số việc đạo đức nào đó rồi mới đủ tiêu chuẩn để trở thành môn đệ. Chúa chỉ nhìn ông và gọi ông. Chính trong cái nhìn ấy, Mátthêu hiểu rằng đời mình vẫn còn một con đường khác. Chính trong tiếng gọi ấy, ông khám phá rằng quá khứ của mình chưa phải là câu cuối cùng. Chính trong giây phút đứng dậy ấy, một người thu thuế bắt đầu trở thành một Tông đồ. Muốn hiểu được sức mạnh của biến cố này, cần thử đặt mình vào hoàn cảnh của Mátthêu. Ông là một người thu thuế. Trong xã hội Do Thái thời Đức Giêsu, người thu thuế thường bị khinh bỉ. Họ thu tiền cho chính quyền Rôma, một thế lực ngoại bang đang thống trị dân tộc Israel. Vì vậy, trong mắt nhiều người đồng hương, họ không chỉ là những người làm một nghề đáng ngờ mà còn bị coi như những kẻ cộng tác với ngoại bang. Hơn nữa, hệ thống thu thuế thời ấy dễ phát sinh lạm dụng: người thu thuế có thể thu nhiều hơn mức quy định và giữ phần chênh lệch cho mình. Bởi thế, khi người ta nhắc đến người thu thuế, người ta dễ nghĩ ngay đến tiền bạc, gian tham, bất công và tội lỗi. Có lẽ Mátthêu đã quen với những cái nhìn như vậy. Ông quen với những người đi ngang qua trạm thu thuế nhưng cố tránh ánh mắt ông. Ông quen với những lời thì thầm phía sau lưng. Ông quen với khoảng cách mà những người được xem là đạo đức dành cho ông. Ông quen với cảm giác mình thuộc về một nhóm người bị xã hội đóng dấu. Và có lẽ nguy hiểm nhất là sau một thời gian dài bị người khác nhìn như thế, Mátthêu cũng bắt đầu nhìn chính mình như thế. Con người rất dễ tin vào cái nhãn mà người khác dán lên đời mình. Một người bị gọi là thất bại quá lâu có thể bắt đầu nghĩ mình thực sự không còn khả năng đứng lên. Một người phạm sai lầm nhiều lần có thể bắt đầu tin rằng mình chỉ là tổng cộng của những sai lầm ấy. Một người từng sống không tốt có thể tự nhủ: “Tôi là như vậy rồi. Tôi không thể khác được.” Khi ấy, nhà tù lớn nhất không còn nằm ngoài ta mà nằm ngay trong tâm hồn ta. Cánh cửa có thể đang mở nhưng ta không dám bước ra vì đã quen sống trong căn phòng của quá khứ.
Mátthêu đang ngồi ở bàn thu thuế. Chi tiết “đang ngồi” tưởng như rất bình thường nhưng lại mang một ý nghĩa rất sâu. Ông đang ngồi trong nghề nghiệp của mình, đang ngồi trong thói quen của mình, đang ngồi trong cách sống của mình, đang ngồi giữa những đồng tiền mà ông đã quen đếm, đang ngồi trong một vị trí đem lại cho ông thu nhập nhưng đồng thời cũng làm ông bị xa lánh. Chiếc bàn ấy có thể đem đến sự ổn định vật chất, nhưng không chắc đem lại bình an cho tâm hồn. Chiếc ghế ấy có thể cho ông một chỗ ngồi trong guồng máy xã hội, nhưng lại khiến ông đứng ngoài cộng đoàn của những người được kính trọng. Ông có tiền, nhưng có lẽ thiếu một ánh mắt tin tưởng. Ông có công việc, nhưng không chắc có ý nghĩa. Ông có thể tính toán rất chính xác những khoản thu, nhưng có lẽ không biết phải tính thế nào giá trị của chính đời mình. Rồi Đức Giêsu đi ngang qua. Tin Mừng nói: Người “thấy” Mátthêu. Bao nhiêu người từng thấy Mátthêu rồi? Rất nhiều. Nhưng họ nhìn thấy gì? Có người thấy một nhân viên thuế. Có người thấy một kẻ phản bội. Có người thấy một kẻ tham lam. Có người thấy một tội nhân. Có người thấy một con người cần tránh xa. Còn Đức Giêsu cũng nhìn cùng một con người ấy, nhưng Người nhìn sâu hơn tất cả những gì mắt người có thể thấy. Người thấy con người phía sau nghề nghiệp. Người thấy trái tim phía sau những lỗi lầm. Người thấy khả năng phía sau hiện tại. Người thấy vị Tông đồ đang ẩn trong người thu thuế. Người thấy nhà truyền giáo đang ẩn trong con người đang ngồi bên những đồng bạc. Người thấy tác giả Tin Mừng tương lai đang ẩn trong một người mà xã hội chỉ biết bằng nhãn hiệu “tội lỗi”. Đó chính là cách Thiên Chúa nhìn con người. Con người thường nhìn nhau từ quá khứ để kết luận về tương lai. Thiên Chúa nhìn hiện tại của ta và thấy cả điều ta có thể trở thành nhờ ân sủng. Con người nói: “Anh đã làm điều ấy, cho nên anh là người như thế.” Thiên Chúa nói: “Ta biết con đã làm gì, nhưng Ta cũng biết con có thể trở thành ai nếu con để Ta dẫn đi.” Con người đóng lại. Thiên Chúa mở ra. Con người kết án. Thiên Chúa kêu gọi. Con người dựng bia ghi tội. Thiên Chúa mở một con đường.
Khẩu hiệu “miserando atque eligendo” diễn tả thật đẹp huyền nhiệm ấy: được nhìn bằng lòng thương xót và được tuyển chọn. Hai điều không tách khỏi nhau. Chúa thương xót Mátthêu nhưng không chỉ để ông cảm thấy dễ chịu về chính mình. Chúa thương xót ông và gọi ông bước ra khỏi cuộc đời cũ. Lòng thương xót của Thiên Chúa không phải là một cái chăn dùng để che phủ tội lỗi để ta cứ nằm yên trong đó. Lòng thương xót là một bàn tay kéo ta đứng dậy. Không phải thứ lòng thương hại khiến người ta ở nguyên trong tình trạng cũ, mà là tình yêu đủ mạnh để tin rằng người đang nằm có thể đứng lên, người đang lạc đường có thể trở về, người đã phạm tội có thể trở thành thánh nhân. Đây là một điều rất quan trọng trong đời sống đức tin. Nhiều khi ta có hai hình ảnh sai về Thiên Chúa. Hình ảnh thứ nhất là một vị quan tòa luôn đứng xa, chỉ chờ ta phạm lỗi để ghi vào sổ. Hình ảnh thứ hai là một Thiên Chúa dễ dãi, chẳng quan tâm ta sống thế nào. Tin Mừng không trình bày Thiên Chúa theo hai cực đoan ấy. Đức Giêsu không đứng xa Mátthêu để kết án ông, nhưng Người cũng không đi ngang qua rồi nói: “Anh cứ tiếp tục như thế cũng được.” Người bước đến gần, nhìn ông bằng thương xót và nói: “Anh hãy theo tôi.” Lòng thương xót luôn đi cùng với tiếng gọi. Tha thứ luôn mở ra một con đường mới. Được yêu luôn kéo theo lời mời gọi học cách yêu. Điều đáng kinh ngạc là Chúa không đợi Mátthêu trở nên tốt rồi mới gọi. Người gọi ông khi ông vẫn còn đang ngồi tại bàn thu thuế. Đây là Tin Mừng cho tất cả những ai nghĩ rằng mình phải hoàn hảo rồi mới đến gần Thiên Chúa. Nếu thế thì chẳng ai có thể đến với Người. Chúng ta không sửa mình xong rồi mới đến với Chúa; chính vì đến với Chúa mà chúng ta được biến đổi. Ta không cần phải sạch sẽ hoàn toàn mới bước vào dòng nước; chính dòng nước mới rửa sạch ta. Ta không phải trở thành thánh rồi mới bước theo Đức Kitô; chính khi bước theo Người từng ngày, ta mới được Người uốn nắn nên thánh. Có người nói: “Khi nào cuộc đời tôi ổn hơn, tôi sẽ cầu nguyện.” “Khi nào bỏ được tật xấu này, tôi mới đến với Chúa.” “Khi nào xứng đáng hơn, tôi mới đi xưng tội.” Nhưng nếu cứ chờ cho mình xứng đáng, có lẽ ta sẽ chẳng bao giờ bắt đầu. Mátthêu không được gọi khi ông đang quỳ trong Đền Thờ. Ông được gọi khi đang ngồi ở bàn thuế. Phêrô không được gọi khi đang đọc Kinh Thánh trong hội đường, nhưng khi đang với những tấm lưới của nghề đánh cá. Phaolô thậm chí được Chúa chạm đến khi đang trên đường bắt bớ các Kitô hữu. Thiên Chúa có một thói quen thật lạ lùng: Người thường bước vào đúng nơi con người tưởng là không thích hợp để gặp Người. Đó là lý do ta không nên tuyệt vọng về bất kỳ ai, kể cả về chính mình. Có những người ta nhìn và nghĩ: “Người ấy không thể thay đổi.” Có những người đã sa ngã nhiều lần đến mức ta thôi không còn hy vọng. Có những gia đình cầu nguyện rất lâu cho một người con, một người chồng, một người vợ mà dường như chẳng có gì chuyển biến. Có những linh hồn chính họ cũng đã buông xuôi. Nhưng câu chuyện của Mátthêu nhắc ta rằng chỉ cần một ánh mắt của Chúa, một lời gọi của Chúa, một khoảnh khắc ân sủng được đón nhận, cả một cuộc đời có thể đổi hướng. Thiên Chúa có thể viết những chương mới mà ta không tưởng tượng nổi.
“Hãy theo tôi.” Chỉ ba tiếng trong bản dịch Việt ngữ, nhưng cả cuộc đời Kitô hữu nằm trong đó. Chúa không nói: “Hãy học một số lý thuyết về tôi.” Người không chỉ nói: “Hãy ngưỡng mộ tôi.” Người cũng không nói: “Thỉnh thoảng hãy nhớ đến tôi khi gặp khó khăn.” Người nói: “Hãy theo tôi.” Theo có nghĩa là bước đi. Theo có nghĩa là rời khỏi vị trí cũ. Theo có nghĩa là chấp nhận để người đi trước quyết định hướng đường. Theo có nghĩa là không còn coi mình là trung tâm tuyệt đối của cuộc đời. Nhiều người thích tin Chúa nhưng lại không muốn theo Chúa. Tin rằng Chúa tồn tại thì dễ hơn để Chúa dẫn cuộc đời mình. Đến nhà thờ đôi khi dễ hơn thay đổi một cách sống. Đọc kinh dễ hơn tha thứ cho người đã làm mình tổn thương. Mang thánh giá trên cổ dễ hơn mang thập giá của bổn phận. Nói “Lạy Chúa, con yêu mến Chúa” dễ hơn sống sự thật khi sự thật làm mình thiệt thòi. Nhưng lời của Đức Giêsu không chỉ là “hãy tin rằng tôi hiện hữu”; Người nói: “Hãy theo tôi.” Mátthêu đứng dậy. Hai chữ “đứng dậy” chứa cả một cuộc phục sinh. Trước đó ông ngồi; bây giờ ông đứng. Trước đó cuộc đời ông xoay quanh một chiếc bàn; bây giờ ông bước ra một con đường. Trước đó ông thu về cho mình; bây giờ ông bắt đầu một hành trình trao ban. Trước đó ông nắm những đồng tiền; bây giờ ông để một tiếng gọi nắm lấy đời mình. Đứng dậy bao giờ cũng đòi can đảm. Bởi đứng dậy đồng nghĩa với bỏ lại một điều gì đó quen thuộc. Chiếc bàn thu thuế có thể là nơi khiến Mátthêu bị khinh miệt, nhưng ít ra đó là nơi ông quen. Con người thường có một nghịch lý: đôi khi ta thà chịu khổ trong cái quen thuộc còn hơn bước vào điều tốt đẹp nhưng chưa biết trước. Có người ở trong một mối quan hệ độc hại rất lâu chỉ vì sợ cô đơn. Có người giữ một thói quen xấu vì không biết mình sẽ sống thế nào nếu thiếu nó. Có người ôm một nỗi giận nhiều năm bởi không tưởng tượng được mình sẽ là ai nếu không còn chuyện cũ để trách móc. Có người giữ mãi một thất bại trong ký ức vì nó đã trở thành một phần căn tính của họ. Bởi vậy, khi Chúa nói “đứng dậy”, điều đầu tiên ta phải đối diện thường là nỗi sợ. Nếu rời chiếc bàn này, rồi tôi sẽ đi đâu? Nếu buông điều tôi đang nắm, rồi tôi sẽ còn gì? Nếu tha thứ, liệu người kia có tiếp tục làm tôi đau không? Nếu sống trung thực, tôi có mất lợi ích không? Nếu thực sự trao đời mình cho Chúa, Người sẽ đưa tôi đến đâu? Mátthêu không có tất cả câu trả lời. Ông chỉ có Đức Giêsu đứng trước mặt mình. Và như thế là đủ.
Đây có lẽ là một trong những điều khó nhất của đức tin: không phải biết hết con đường, mà là biết mình đang đi với ai. Abraham ra đi mà chưa biết miền đất sẽ đến. Phêrô bỏ lưới mà chưa biết ba năm sau mình sẽ đứng dưới chân thập giá hay một ngày kia chính mình cũng sẽ chịu chết vì Thầy. Mátthêu đứng lên mà không biết cuộc đời mình sẽ đi đến đâu. Đức Maria thưa “Xin vâng” mà không được trao một bản kế hoạch chi tiết về tương lai. Đức tin không phải là Thiên Chúa đưa cho ta tấm bản đồ đầy đủ rồi bảo: “Đây, con xem xong rồi quyết định có đi hay không.” Đức tin thường là Người nói: “Hãy theo Ta”, rồi ta bước một bước, và ánh sáng cho bước kế tiếp xuất hiện. Nhưng đứng dậy chỉ là khởi đầu. Một người có thể đứng dậy trong một phút nhưng phải học cách bước theo suốt cả đời. Có những phút giây hoán cải rất mạnh mẽ: một kỳ tĩnh tâm, một lần xưng tội sau nhiều năm, một bài giảng chạm đến trái tim, một biến cố khiến ta quyết tâm làm lại. Những giây phút ấy quý giá. Nhưng đời sống thiêng liêng không chỉ được xây dựng bằng những khoảnh khắc cảm động. Nó được xây bằng sự trung tín sau đó: sáng hôm sau vẫn cầu nguyện; khi cảm xúc nguội đi vẫn sống theo Tin Mừng; khi những cám dỗ cũ quay lại vẫn chiến đấu; khi thất bại vẫn đứng lên. Có lẽ Mátthêu đã bước khỏi bàn thuế một lần, nhưng trong những năm theo Đức Giêsu, ông còn phải bước khỏi rất nhiều “chiếc bàn thuế” khác nằm trong chính trái tim mình. Chiếc bàn của tham vọng. Chiếc bàn của ích kỷ. Chiếc bàn của thói quen tính toán. Chiếc bàn của nhu cầu kiểm soát. Chiếc bàn của cái tôi. Ơn gọi Kitô hữu cũng vậy. Ta có thể bỏ một tội rõ ràng nhưng rồi khám phá còn nhiều vùng trong tâm hồn cần được chữa lành. Ta có thể thay đổi môi trường sống nhưng vẫn mang con người cũ theo bên trong. Vì thế, theo Chúa là một cuộc xuất hành liên tục. Lời thánh Phaolô gửi tín hữu Êphêsô soi sáng chính chiều sâu ấy: “Anh em hãy sống cho xứng với ơn kêu gọi mà Thiên Chúa đã ban.” Điều quan trọng không chỉ là đã được gọi, nhưng là sống thế nào sau khi được gọi. Không chỉ hỏi: “Ngày xưa Chúa đã làm gì cho tôi?” mà còn phải hỏi: “Hôm nay tôi đang sống thế nào với ơn Chúa đã trao?” “Sống xứng đáng” không có nghĩa rằng ta phải đạt đến một thứ hoàn hảo không tì vết ngay lập tức. Nếu hiểu như thế, đời sống Kitô hữu sẽ trở thành gánh nặng không ai có thể mang. Sống xứng với ơn gọi trước hết là sống trong thái độ đáp lại. Tôi biết mình đã được yêu nên tôi học yêu. Tôi biết mình đã được tha thứ nên tôi học tha thứ. Tôi biết mình đã được kiên nhẫn nên tôi học kiên nhẫn với người khác. Tôi biết Chúa đã không bỏ tôi khi tôi yếu đuối nên tôi không vội bỏ người khác khi họ yếu đuối.
Thánh Phaolô nhắc tới khiêm tốn, hiền hòa, nhẫn nại và chịu đựng lẫn nhau trong tình yêu. Đây không phải những điều nhỏ. Nhiều khi người ta mơ những sứ mạng lớn lao nhưng đời sống Kitô hữu lại được kiểm chứng trong những điều rất bình thường ấy. Khiêm tốn không phải là tự coi mình vô dụng. Khiêm tốn là biết mình là ai trước Thiên Chúa. Tôi có những khả năng, nhưng chúng là quà tặng. Tôi có thành công, nhưng tôi không tự tạo ra chính mình. Tôi có những yếu đuối, nhưng chúng không làm mất phẩm giá mà Thiên Chúa ban cho tôi. Người khiêm tốn không cần giẫm lên người khác để thấy mình cao. Không cần kể công để được nhìn nhận. Không cần chiến thắng trong mọi cuộc tranh luận. Không cần lúc nào cũng chứng minh mình đúng. Hiền hòa cũng không phải yếu đuối. Đức Giêsu hiền lành nhưng Người có thể nói sự thật rất mạnh mẽ. Người hiền hòa là người có sức mạnh nhưng biết dùng sức mạnh ấy trong tình yêu. Họ không phản ứng ngay theo cơn giận. Họ không lấy tổn thương đáp trả tổn thương. Họ có khả năng giữ trái tim mềm giữa một thế giới rất dễ trở nên cứng. Nhẫn nại là một dấu chỉ khác của người đã hiểu lòng thương xót. Ai biết Chúa đã kiên nhẫn với mình thì khó có thể quá nhanh chóng tuyệt vọng về người khác. Ta muốn người khác thay đổi ngay, trong khi chính mình đã mất bao nhiêu năm mới sửa được một thói quen. Ta muốn con cái trưởng thành trong vài tháng, muốn người bạn đời hiểu mình ngay, muốn cộng đoàn hoàn hảo ngay, muốn những người cộng tác không bao giờ mắc lỗi. Nhưng Thiên Chúa là Đấng của thời gian. Người gieo hạt và chờ nó lớn. Mátthêu đã được gọi không phải chỉ để cứu lấy bản thân. Ông được gọi để trở thành một phần của Nhóm Mười Hai, nghĩa là trở thành khí cụ xây dựng cộng đoàn mới mà Đức Kitô quy tụ. Đây là một chiều kích rất quan trọng của mọi ơn gọi. Chúa không gọi ai chỉ cho chính họ. Mọi ân huệ cuối cùng đều hướng đến việc phục vụ.
Thánh Phaolô nói rằng Đức Kitô ban cho mỗi người những ân huệ khác nhau để xây dựng Thân Thể Người. Điều ấy giúp ta thoát khỏi một cám dỗ rất phổ biến: so sánh. Tại sao người kia giỏi hơn tôi? Tại sao họ được chú ý còn tôi thì không? Tại sao sứ mạng của họ có vẻ quan trọng hơn? Nhưng trong Thân Thể Đức Kitô, không phải mọi chi thể đều làm một việc. Điều quan trọng không phải tôi có ân huệ giống người khác hay không, mà tôi có trung thành với ân huệ Chúa giao cho tôi hay không. Một ngọn nến không cần ghen với mặt trời. Nhiệm vụ của nó chỉ là cháy ở nơi Chúa đặt nó. Một người mẹ nuôi con trong âm thầm có thể đang thực hiện một sứ mạng rất lớn trong Nước Trời. Một người cha trung tín làm việc, chăm lo gia đình, cầu nguyện với con cái có thể đang xây dựng Hội Thánh sâu sắc hơn chính ông nhận ra. Một người già đau bệnh dâng những đau khổ trong cầu nguyện vẫn có thể trở thành nguồn ân phúc. Một người trẻ sống ngay thẳng giữa môi trường đầy gian dối đang làm chứng cho Tin Mừng. Một linh mục trung thành với việc nhỏ mỗi ngày, một tu sĩ âm thầm phục vụ, một giáo lý viên kiên nhẫn với từng em nhỏ, một người quét dọn nhà thờ, một người chuẩn bị bữa ăn cho cộng đoàn — tất cả đều có chỗ trong Thân Thể Đức Kitô. Vấn đề không phải ai nổi bật hơn. Vấn đề là Đức Kitô có được lớn lên trong cộng đoàn nhờ phần việc của ta hay không. Mátthêu từng sống trong một thế giới của tính toán. Người thu thuế phải biết cộng, trừ, phải biết con số nào thuộc về ai, phải biết khoản nào cần thu. Nhưng Đức Giêsu đưa ông vào một thế giới khác, nơi giá trị con người không thể tính bằng con số. Trong Nước Thiên Chúa, một đồng tiền nhỏ của bà góa có thể quý hơn những món tiền lớn. Một con chiên lạc đáng để người mục tử bỏ chín mươi chín con kia mà đi tìm. Một tội nhân trở lại làm thiên quốc vui mừng. Một ly nước lã trao vì tình yêu cũng không mất phần thưởng. Và có lẽ đây là một trong những cuộc hoán cải sâu nhất của Mátthêu: từ một con người quen đo mọi thứ bằng lợi ích đến người học cách nhìn đời bằng lòng thương xót của Đức Kitô.
Tin Mừng kể tiếp rằng Đức Giêsu dùng bữa với nhiều người thu thuế và tội lỗi. Điều này làm những người Pharisêu khó chịu. Họ hỏi các môn đệ: “Sao Thầy các anh lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi?” Câu hỏi ấy cho thấy sự khác biệt giữa hai cái nhìn. Một bên nhìn thấy “bọn tội lỗi”, một tập thể bị dán nhãn. Đức Giêsu nhìn thấy những người cần được chữa lành. Người đáp: “Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần.” Một bệnh viện không được xây cho người khỏe. Một bác sĩ không khinh bệnh nhân vì họ mắc bệnh. Nếu bác sĩ chỉ tiếp những người không có bệnh, nghề của ông sẽ trở thành vô nghĩa. Đức Giêsu dùng chính hình ảnh ấy để nói về sứ mạng của mình. Người đến vì những ai cần lòng thương xót. Điều này chất vấn chính Hội Thánh và từng người Kitô hữu. Cộng đoàn Kitô hữu có phải là nơi những người yếu đuối có thể tìm được hy vọng hay không? Hay đôi khi ta làm người đang đau cảm thấy đau hơn? Một người lâu năm không đi lễ bước vào nhà thờ, ta nhìn họ bằng ánh mắt nào? Một người có quá khứ phức tạp đến xin gặp, ta đón họ thế nào? Một thanh niên đầy hình xăm, một người nghiện ngập, một người thất bại trong hôn nhân, một người từng ở tù, một người đang nghi ngờ đức tin — họ có cảm nhận nơi ta một chút ánh mắt Đức Giêsu dành cho Mátthêu không? Tất nhiên lòng thương xót không có nghĩa là gọi điều sai thành đúng. Bác sĩ thương bệnh nhân bằng cách chữa bệnh, chứ không phải bằng cách nói căn bệnh không tồn tại. Đức Giêsu không nói Mátthêu cứ tiếp tục cuộc sống cũ. Người nói “Hãy theo tôi.” Nhưng sự thật được nói bằng một tình yêu mở đường cho người ta bước tới, chứ không đóng cửa trên đầu họ. Có một nghệ thuật rất khó của đời sống Kitô hữu: nhìn thấy tội mà vẫn yêu người tội lỗi; nói sự thật mà không làm nhục; sửa sai mà không nghiền nát; kêu gọi hoán cải mà vẫn làm người kia cảm nhận họ có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Đức Giêsu làm được điều ấy bởi Người nhìn con người từ khả thể của ân sủng.
Mátthêu sau này không còn chỉ là người được thương xót; ông trở thành chứng nhân của lòng thương xót. Đây là quy luật của đời sống thiêng liêng: điều ta thực sự nhận được từ Thiên Chúa sẽ trở thành điều ta có khả năng trao cho người khác. Ai từng cảm nghiệm được tha thứ sẽ hiểu giá trị của việc tha thứ. Ai từng được nâng dậy khi thất bại sẽ dễ đưa tay nâng người khác. Ai từng đi qua đêm tối và được một người ở bên sẽ biết cách ở bên người đang đau khổ. Những vết thương được chữa lành có thể trở thành cánh cửa của sứ mạng. Mátthêu không xóa quá khứ của mình. Nhưng quá khứ ấy được biến đổi ý nghĩa. Điều từng là lý do để người khác khinh ông lại trở thành bối cảnh làm lòng thương xót Thiên Chúa rực sáng hơn. Ông có thể nói với những tội nhân khác: “Tôi biết cảm giác bị người ta nhìn bằng ánh mắt khinh miệt. Tôi cũng từng ngồi ở đó. Nhưng Đức Giêsu đã đi ngang qua đời tôi.” Đây chính là sức mạnh của chứng tá Kitô giáo. Không phải nói: “Tôi tốt hơn anh nên anh hãy sống giống tôi.” Nhưng là: “Tôi cũng là một người đã được Chúa thương xót.” Thánh nhân không phải người chưa từng cần lòng thương xót. Thánh nhân là người nhận ra mình luôn cần lòng thương xót và để lòng thương xót ấy biến đổi. Vì vậy câu chuyện của Mátthêu cũng là câu chuyện của mỗi chúng ta. Có thể chiếc bàn thu thuế của ta không làm bằng gỗ và trên đó không có những đồng tiền Rôma. Nhưng ai cũng có một nơi mình đang “ngồi”. Có người ngồi trong quá khứ. Một sai lầm xảy ra hai mươi năm trước nhưng họ vẫn sống như thể nó mới xảy ra hôm qua. Họ tự kết án mình mỗi ngày. Có người ngồi trong nỗi giận. Họ đã xây cả căn tính quanh một vết thương. Họ không muốn buông vì sợ rằng tha thứ đồng nghĩa với phủ nhận những gì đã xảy ra. Có người ngồi trong thành công. Chiếc bàn của họ không phải tội lỗi rõ ràng mà là lòng kiêu hãnh. Họ nghĩ giá trị của mình tùy vào thành tích, bằng cấp, tài sản, chức vụ hoặc lời khen. Có người ngồi trong sự thoải mái. Họ biết Chúa đang mời mình làm điều gì đó nhưng không muốn xáo trộn cuộc sống. Có người ngồi trong sợ hãi. Họ đã nghe tiếng gọi nhiều lần nhưng không dám đứng dậy.
Và Chúa đi ngang qua tất cả những chiếc bàn ấy. Người không đứng xa. Người nhìn. Ánh mắt ấy không phải ánh mắt của người chưa biết chuyện. Chúa biết tất cả. Người biết điều ta chưa kể với ai. Người biết lý do phía sau những hành động mà người khác chỉ nhìn thấy bên ngoài. Người biết những lần ta cố gắng nhưng thất bại. Người biết cả những lần ta không cố gắng. Người biết những góc tối mà chính ta không muốn nhìn lại. Thế nhưng Người vẫn gọi. Đây là mầu nhiệm khiến người Kitô hữu không bao giờ có quyền tuyệt vọng. Thiên Chúa biết tôi hoàn toàn và vẫn yêu tôi. Nhưng chính vì yêu nên Người không để tôi ở nguyên như cũ. “Hãy theo Thầy.” Tiếng gọi ấy được lặp lại trong nhiều hình thức mỗi ngày. Khi ta đang muốn trả đũa một người, Chúa nói: “Hãy theo Thầy.” Khi có cơ hội gian dối để có lợi, Người nói: “Hãy theo Thầy.” Khi một người nghèo cần ta dừng lại, Người nói: “Hãy theo Thầy.” Khi gia đình cần ta dành thời gian nhưng điện thoại đang hấp dẫn hơn, Người nói: “Hãy theo Thầy.” Khi ta mệt mỏi nhưng vẫn phải trung thành với bổn phận, Người nói: “Hãy theo Thầy.” Khi cần xin lỗi, Người nói: “Hãy theo Thầy.” Khi phải bắt đầu lại sau một lần sa ngã, Người vẫn nói: “Hãy theo Thầy.” Theo Chúa không chỉ diễn ra trong một quyết định lớn. Nó được hình thành bằng hàng ngàn quyết định nhỏ. Một đời thánh thiện thường không được tạo nên bởi một hành động ngoạn mục nhưng bởi sự trung thành được lặp lại mỗi ngày.
Mátthêu đứng dậy một lần khỏi bàn thu thuế, nhưng sau đó ông phải tiếp tục đứng dậy mỗi sáng để theo Thầy. Có những ngày dễ dàng. Có những ngày ông không hiểu lời Đức Giêsu. Có ngày chứng kiến phép lạ và lòng tràn đầy phấn khởi. Có ngày nghe những lời khó chấp nhận. Có ngày thấy dân chúng tung hô Thầy. Có ngày thấy đám đông quay lưng. Có ngày chứng kiến các môn đệ tranh luận xem ai lớn nhất. Và cuối cùng có đêm tất cả chạy trốn. Ơn gọi không phải con đường liên tục cảm thấy sốt sắng. Có ngày ta theo Chúa vì lòng tràn đầy niềm vui. Có ngày chỉ còn lại sự trung tín. Và chính những ngày không cảm thấy gì lại có thể là những ngày tình yêu trưởng thành nhất. Một người mẹ thức dậy ban đêm chăm con không phải lúc nào cũng có cảm xúc đẹp. Một người chồng chăm người vợ bệnh tật nhiều năm không thể sống bằng cảm xúc mỗi ngày. Một linh mục vẫn cử hành Thánh lễ, giải tội, thăm bệnh, phục vụ cộng đoàn trong những thời điểm khô khan không phải vì lúc nào cũng cảm thấy hứng khởi. Tình yêu lớn dần khi nó đi từ cảm xúc sang lựa chọn. Đó cũng là ý nghĩa của lời “sống xứng với ơn kêu gọi”. Không phải chỉ nhiệt thành vào ngày nghe tiếng gọi, mà trung tín trong những ngày bình thường sau đó. Đức Kitô không kêu gọi chúng ta trở thành những bản sao giống nhau. Mátthêu vẫn mang vào Nhóm Mười Hai tính cách, lịch sử và kinh nghiệm riêng của ông. Phêrô không trở thành Gioan. Gioan không trở thành Mátthêu. Phaolô không trở thành Phêrô. Ân sủng không xóa cá tính; ân sủng thanh luyện và làm nó sinh hoa trái. Điều này rất quan trọng bởi nhiều người nghĩ nên thánh là phải trở thành một kiểu người nào đó. Một người hướng nội nghĩ mình phải nói nhiều như người hướng ngoại mới hữu ích. Một người làm việc âm thầm nghĩ sứ mạng mình kém quan trọng hơn người đứng trước đám đông. Nhưng Chúa không gọi ta trở thành người khác. Người gọi ta trở thành phiên bản trọn vẹn của chính con người mà Người đã dựng nên.
Những khả năng, kinh nghiệm, thậm chí những thương tích đã được chữa lành đều có thể được đặt vào tay Chúa để phục vụ sứ mạng. Mátthêu từng biết chữ nghĩa, sổ sách và các hệ thống hành chính; những khả năng ấy có thể đã giúp ông trong việc ghi nhớ, sắp xếp và truyền đạt. Điều một thời được dùng trong nghề thu thuế nay có thể được đặt vào một sứ mạng mới. Thiên Chúa thường không vứt bỏ mọi thứ trong quá khứ của ta. Người cứu chuộc chúng. Một người từng nghiện ngập, sau khi được giải thoát, có thể hiểu người đang chiến đấu với nghiện ngập theo cách người khác khó hiểu. Một người từng mất đức tin rồi tìm lại được có thể trở thành người bạn rất tốt cho những ai đang hoài nghi. Một người từng trải qua đau khổ có thể có một sự dịu dàng đặc biệt đối với người đang đau. Ơn Chúa không chỉ đóng một chương cũ; Người có thể lấy chính những trang cũ ấy và biến chúng thành lời chứng. Mátthêu đi từ người thu tiền cho đế quốc thành người trao Tin Mừng cho nhân loại. Thật là một cuộc đảo ngược đẹp đẽ. Trước kia ông ngồi tại một điểm để người khác phải đến nộp. Sau này ông trở thành một người được sai đi. Trước kia ông thu về. Sau này ông trao ra. Trước kia người ta tìm ông vì nghĩa vụ. Sau này người ta tìm thấy nơi chứng tá của ông một Tin Mừng. Đó là dấu hiệu của một cuộc hoán cải thật: hướng chuyển động của đời người thay đổi. Tội lỗi thường làm ta quay vào chính mình: tôi muốn gì, tôi được gì, tôi mất gì. Ân sủng mở ta về phía Thiên Chúa và tha nhân. Câu hỏi thay đổi từ “Tôi được gì?” thành “Tôi có thể trao gì?” Từ “Ai phục vụ tôi?” thành “Tôi phục vụ ai?” Từ “Người khác nghĩ gì về tôi?” thành “Thiên Chúa muốn gì nơi tôi?” Từ “Làm sao tôi giữ lấy đời mình?” thành “Làm sao đời tôi trở thành quà tặng?”
Và đây chính là tầm vóc viên mãn của Đức Kitô mà thánh Phaolô nói đến. Trưởng thành trong đức tin không được đo bằng việc biết bao nhiêu kiến thức tôn giáo nhưng bằng việc khuôn mặt Đức Kitô có hiện ra nhiều hơn trong cách ta sống hay không. Sau nhiều năm theo Chúa, tôi có hiền hơn không? Tôi có bớt xét đoán hơn không? Tôi có dễ tha thứ hơn không? Tôi có quan tâm đến người nghèo hơn không? Tôi có trung thực hơn không? Tôi có bớt lệ thuộc vào lời khen không? Tôi có biết lắng nghe hơn không? Nếu ta đọc rất nhiều sách đạo đức nhưng ngày càng khó sống với người khác, có điều gì đó cần được xem lại. Nếu cầu nguyện làm ta nghĩ mình tốt hơn mọi người, đó không phải hoa trái của cầu nguyện thật. Càng gần Đức Kitô, ta càng thấy mình cần lòng thương xót và càng có khả năng thương xót người khác. Mátthêu có lẽ sẽ không bao giờ quên ánh mắt đầu tiên ấy. Trong những năm sau này, mỗi khi bị cám dỗ nghĩ mình quan trọng vì đã trở thành Tông đồ, chỉ cần nhớ chiếc bàn thu thuế là đủ để khiêm tốn. Mỗi khi gặp một tội nhân bị mọi người coi thường, chỉ cần nhớ ánh mắt Đức Giêsu ngày ấy là đủ để ông không vội kết án. Có lẽ chúng ta cũng cần giữ trong ký ức những lúc Chúa đã thương xót mình. Không phải để sống trong mặc cảm về quá khứ nhưng để khỏi trở thành người kiêu căng trong hiện tại. Người quên mình đã từng được tha sẽ dễ trở thành người không biết tha. Người quên mình từng yếu đuối sẽ dễ tàn nhẫn với sự yếu đuối của người khác. Bởi vậy trong mỗi Thánh lễ, trước khi bước vào bàn tiệc của Chúa, chúng ta thú nhận: “Tôi đã phạm tội nhiều.” Hội Thánh không bắt ta nói điều ấy để làm nhục chúng ta. Hội Thánh dạy ta đứng trong sự thật. Chúng ta là cộng đoàn của những người được thương xót. Rồi cũng chính những người ấy được mời đến bàn tiệc Thánh Thể.
Câu chuyện Mátthêu là câu chuyện từ một chiếc bàn đến một chiếc bàn khác: từ bàn thu thuế đến bàn ăn với Đức Giêsu, rồi đến bàn tiệc của Nước Trời. Một chiếc bàn tượng trưng cho cuộc đời cũ; một chiếc bàn trở thành nơi hiệp thông. Đức Giêsu không chỉ gọi Mátthêu bước ra; Người còn ngồi ăn với ông. Thiên Chúa không cứu ta từ xa. Người đi vào nhà ta. Người ngồi vào bàn đời ta. Người muốn có một tương quan. Kitô giáo không trước hết là một hệ thống quy tắc nhưng là một cuộc gặp gỡ với Đức Kitô. Các điều răn có ý nghĩa bởi chúng giúp ta sống trong tương quan với Người. Hoán cải không chỉ là bỏ cái xấu mà là đi theo một Con Người. Mátthêu có thể bỏ bàn thuế chỉ vì nhận ra có một điều quý hơn tiền bạc đứng trước mặt mình. Ta chỉ thật sự từ bỏ một điều khi tìm thấy một điều lớn hơn. Một người rất khó bỏ tội chỉ bằng cách lặp đi lặp lại: “Tôi không được làm điều ấy.” Cuộc chiến cần thiết, nhưng sâu xa hơn, người ấy cần khám phá vẻ đẹp của một đời sống khác. Khi Đức Kitô trở thành kho tàng, những kho tàng giả mới mất sức hút. Không ai thấy mất mát khi bỏ một đồng tiền giả để cầm lấy viên ngọc thật. Các thánh không từ bỏ thế gian vì họ ghét cuộc đời. Họ từ bỏ những gì nhỏ bé vì đã tìm thấy một tình yêu lớn hơn. Thánh Phanxicô bỏ của cải vì khám phá Đức Kitô nghèo khó. Thánh Augustinô bỏ lối sống cũ vì trái tim ông tìm được nơi nghỉ ngơi trong Thiên Chúa. Mátthêu bỏ bàn thuế vì trước mặt ông là Đấng mà ông nhận ra đáng để trao cả cuộc đời. Câu hỏi quan trọng vì thế không chỉ là: “Tôi phải bỏ gì?” mà còn là: “Tôi đã gặp Đức Kitô đủ sâu chưa?” Nếu đức tin chỉ là bổn phận, mỗi sự từ bỏ sẽ rất nặng. Nếu đức tin là tình yêu, nhiều điều từng khó bỏ sẽ dần trở nên nhẹ.
Tuy nhiên, tiếng gọi của Chúa luôn chứa sự tự do. Người nói “Hãy theo tôi”, nhưng Mátthêu vẫn phải đứng lên. Ân sủng không hủy tự do. Chúa có thể mở cửa, nhưng ta phải bước qua. Biết bao tiếng gọi đã vang lên nhưng có thể ta trì hoãn. “Ngày mai.” “Khi nào thuận tiện.” “Khi nào con đỡ bận.” “Khi nào con già hơn.” “Khi nào mọi chuyện ổn.” Nhưng Tin Mừng luôn có một chữ “hôm nay”. “Hôm nay, nếu các ngươi nghe tiếng Người, đừng cứng lòng.” Thiên Chúa của Kinh Thánh là Thiên Chúa gọi con người trong hiện tại. Không ai được bảo đảm ngày mai. Đời sống thiêng liêng bị mất rất nhiều bởi hai chữ “để sau”. Mátthêu có thể nói với Đức Giêsu: “Xin Thầy chờ tôi kết sổ hôm nay.” “Đợi tôi giải quyết các hợp đồng.” “Để tuần sau.” Nhưng Tin Mừng chỉ nói: ông đứng dậy. Có những quyết định càng trì hoãn càng khó. Một lời xin lỗi. Một lần xưng tội. Một sự hòa giải. Một thói quen cần cắt đứt. Một bổn phận cần thực hiện. Một ơn gọi cần đáp lại. Hôm nay có thể là lúc đứng dậy. Nhưng sau quyết định ấy, đừng ảo tưởng rằng mọi sự lập tức dễ dàng. Ơn gọi không loại bỏ thập giá. Mátthêu đi theo một Đấng cuối cùng tiến về Giêrusalem. Theo Đức Kitô nghĩa là con đường của Người dần trở thành con đường của ta: yêu những người không yêu mình, phục vụ mà không luôn được biết ơn, tha thứ khi lòng còn đau, trung thành khi bị hiểu lầm, trao ban khi không được đáp lại. Nhưng kỳ diệu thay, chính trên con đường ấy con người lại tìm được tự do.
Mátthêu tưởng như bỏ nhiều, nhưng thực ra nhận được nhiều hơn. Ông bỏ một chiếc bàn và nhận một sứ mạng. Bỏ một thu nhập và nhận một kho tàng. Bỏ một chỗ ngồi và nhận một con đường. Bỏ một cuộc sống bị đóng khung và nhận một chân trời. Thiên Chúa không bao giờ gọi con người ra khỏi một điều gì mà không gọi họ đi vào một điều lớn hơn. Người gọi khỏi ích kỷ để đi vào tình yêu. Khỏi tội lỗi để đi vào tự do. Khỏi cô độc để đi vào hiệp thông. Khỏi sự vô nghĩa để đi vào sứ mạng. Khỏi cái tôi khép kín để đi vào một đời sống được trao ban. Đây cũng là điều Hội Thánh cần nhớ khi nói về ơn gọi. Ơn gọi không chỉ là chuyện linh mục hay tu sĩ. Mỗi người đã chịu phép Thánh Tẩy đều được gọi. Được gọi nên thánh. Được gọi sống Tin Mừng trong bậc sống riêng. Một đôi vợ chồng được gọi làm cho tình yêu giao ước của Đức Kitô trở nên hữu hình trong gia đình. Một người độc thân được gọi sống đời mình như quà tặng. Người trẻ được gọi tìm ý Chúa chứ không chỉ hỏi xã hội mong mình thành công thế nào. Vấn đề căn bản không phải “Tôi thích làm gì nhất?” nhưng sâu xa hơn: “Lạy Chúa, Chúa muốn đời con trở thành món quà thế nào?” Có khi câu trả lời nằm ngay trong những việc bình thường. Một người cứ tìm một sứ mạng lớn nhưng Chúa đang gọi họ kiên nhẫn chăm một cha mẹ già. Một người muốn đi thật xa phục vụ nhưng chưa học cách tử tế với người trong nhà. Một người muốn loan báo Tin Mừng cho hàng ngàn người nhưng lại bỏ mặc người bên cạnh đang cần được lắng nghe. Ơn gọi chân thật luôn đi qua tình yêu cụ thể.
Và có khi ta sẽ không thấy hết hoa trái đời mình. Mátthêu không thể tưởng tượng rằng nhiều thế kỷ sau, các cộng đoàn trên khắp thế giới sẽ vẫn đọc Tin Mừng mang tên ông, rằng những lời ông truyền lại sẽ an ủi, lay động, hoán cải biết bao tâm hồn. Một tiếng “vâng” có thể tạo những làn sóng đi xa hơn ta biết. Một người cha sống đức tin có thể gieo hạt trong con cái, rồi hạt ấy tiếp tục qua nhiều thế hệ. Một giáo lý viên dạy một đứa trẻ có thể không bao giờ biết đứa trẻ ấy sau này trở thành người thế nào. Một linh mục giải tội một buổi chiều có thể không biết lời tha tội ấy cứu một người khỏi tuyệt vọng. Không phải mọi hoa trái đều được thấy khi ta còn sống. Nhiệm vụ của ta là trung tín gieo. Chúa chăm phần còn lại. Bởi vậy, câu chuyện Mátthêu là Tin Mừng của hy vọng. Nó nói rằng không ai bị đồng nhất vĩnh viễn với khoảnh khắc tệ nhất đời mình. Một người không phải chỉ là tội đã phạm. Một con người luôn lớn hơn quá khứ của họ bởi Thiên Chúa vẫn còn có thể gọi. Điều ấy không xóa trách nhiệm. Mátthêu phải đứng dậy. Hoán cải có giá. Nhưng hy vọng luôn có lý do vì Đấng gọi mạnh hơn những xiềng xích. Có thể hôm nay ai đó đang nghĩ về một người thân đã đi rất xa. Đừng vội đóng hồ sơ cuộc đời họ. Có thể cha mẹ đang đau vì một người con bỏ đức tin. Có thể một người vợ cầu nguyện cho chồng suốt nhiều năm. Có thể ai đó đang cầu nguyện cho chính mình và cảm thấy không thay đổi. Hãy nhớ bàn thuế của Mátthêu. Chỉ một buổi sáng bình thường. Chỉ một người đang ngồi như bao ngày. Rồi Đức Giêsu đi ngang qua. Không ai biết giờ ân sủng đến lúc nào.
Nhưng đồng thời câu chuyện này cũng cảnh tỉnh những người nghĩ mình đã “ở trong” nên không cần hoán cải nữa. Người Pharisêu trong câu chuyện ở gần những điều thánh, nhưng lại không nhận ra lòng thương xót. Có thể ta đi lễ nhiều năm nhưng ánh mắt vẫn cứng. Có thể biết giáo lý nhưng thiếu lòng trắc ẩn. Có thể bảo vệ chân lý nhưng nói chân lý theo cách làm người khác tan nát. Mátthêu, người tội lỗi công khai, đứng dậy theo Chúa. Những người tự nghĩ mình công chính lại đứng ngoài và phê bình bữa tiệc. Khoảng cách nguy hiểm nhất với Thiên Chúa có khi không phải tội lỗi ta ý thức được, mà là sự tự mãn thiêng liêng khiến ta không còn nghĩ mình cần được chữa lành. Khi hiểu điều ấy, lời Đức Giêsu “Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế” trở nên rất sắc bén. Thiên Chúa không muốn một lòng đạo đức tách khỏi tình yêu con người. Đi lễ nhưng gây chia rẽ. Đọc kinh nhưng không tha thứ. Nói về Chúa nhưng làm nhục người khác. Những điều ấy không thể là sự trưởng thành trong Đức Kitô. Lòng thương xót không phải một phần phụ của Tin Mừng. Nó nằm ngay ở trung tâm. Tuy nhiên, lòng thương xót trước hết phải được nhận. Ta không thể trao điều mình chưa cho phép bản thân đón nhận. Có những người tin Chúa tha cho mọi người trừ mình. Họ mang mặc cảm nhiều năm. Họ đã xưng tội nhưng tiếp tục tự kết án. Họ nghĩ cứ dằn vặt mãi mới là dấu hiệu ăn năn. Nhưng nếu Chúa đã tha, ta là ai mà tuyên bố bản án còn mạnh hơn lòng thương xót Người? Ăn năn thật không phải là ghét mình. Ăn năn là ghét điều đã làm mình xa Chúa rồi quay về với Người. Mátthêu không ngồi thêm mười năm để chứng minh rằng mình hối hận. Ông đứng dậy. Có khi việc thánh thiện nhất ta cần làm là tin rằng Chúa thật sự có thể bắt đầu lại với mình. Đứng dậy không phủ nhận quá khứ. Đứng dậy nói rằng quá khứ không còn làm chủ tương lai.
Và mỗi lần sa ngã, tiếng gọi ấy vẫn vang lên. Phêrô chối Chúa rồi được gọi lại. Tôma nghi ngờ rồi được chạm đến. Phaolô từng bách hại Hội Thánh rồi trở thành Tông đồ. Lịch sử cứu độ đầy những người được Thiên Chúa viết lại câu chuyện. Điều duy nhất thực sự nguy hiểm là từ chối đứng dậy. Hôm nay Đức Giêsu vẫn đi ngang qua những “trạm thu thuế” của thế giới. Người bước vào những văn phòng, những bệnh viện, trường học, nhà máy, chợ búa, căn bếp, phòng trọ, nhà tù, nơi làm việc. Người vẫn nhìn từng con người. Có thể không nghe một tiếng nói vật lý, nhưng lời “Hãy theo Thầy” vang qua Tin Mừng, qua lương tâm, qua một biến cố, qua người nghèo ta gặp, qua nỗi khắc khoải sâu xa trong lòng. Và mỗi ngày ta lại đứng trước cùng một chọn lựa của Mátthêu. Ngồi lại hay đứng lên? Giữ lấy hay trao ban? Theo con đường quen hay theo Đức Kitô? Không ai có thể trả lời thay ta. Nhưng trước khi sợ hãi câu hỏi ấy, hãy nhớ điều đến trước tiếng gọi. Trước “Hãy theo Thầy” là một ánh mắt. Chúa nhìn Mátthêu. Nghĩa là tiếng gọi của Kitô giáo không khởi đi từ đòi hỏi mà khởi đi từ tình yêu. Trước khi Chúa đòi ta trao đời mình cho Người, Người đã trao chính Người cho ta. Trước khi bảo ta vác thập giá, Người vác thập giá trước. Trước khi bảo ta yêu kẻ thù, Người cầu nguyện cho những kẻ đóng đinh Người. Trước khi bảo ta tha thứ, Người tha thứ. Mọi ơn gọi đều được sinh ra trong lòng thương xót.
Vì vậy ta có thể bước đi không phải bằng sức riêng nhưng bằng sự xác tín: Đấng gọi cũng sẽ ban ơn. Người không gọi Mátthêu rồi bỏ ông tự xoay xở. Người cho ông một cộng đoàn, lời giảng dạy, gương sống, Thánh Thần. Người cũng không gọi chúng ta rồi đứng xa. Mỗi ngày có Lời Người. Có Thánh Thể. Có bí tích Hòa Giải. Có Hội Thánh. Có những người anh chị em. Có ân sủng đủ cho ngày hôm nay. Ta không cần sức mạnh cho toàn bộ cuộc đời ngay lập tức. Ta chỉ cần ân sủng cho bước kế tiếp. Mátthêu đã đi từ chiếc ghế của người thu thuế đến đôi chân của một môn đệ. Đó là hình ảnh tuyệt đẹp của đời Kitô hữu. Đức tin có đôi chân. Nó không chỉ nằm trong đầu. Không chỉ nằm trong những lời tuyên xưng trên môi. Tin là bước. Tin là đi. Tin là để cho Chúa đưa ta đến những nơi ta không tự chọn. Và có lúc con đường ấy đi qua thập giá. Nhưng thập giá không phải điểm cuối. Đấng Mátthêu theo là Đấng Phục Sinh. Vì vậy mọi cuộc “đứng dậy” trong đời Kitô hữu đều có hương vị của phục sinh. Đứng dậy khỏi tội. Đứng dậy khỏi tuyệt vọng. Đứng dậy khỏi một lần thất bại. Đứng dậy sau tang thương. Đứng dậy sau khi bị phản bội. Đứng dậy sau khi chính mình làm người khác tổn thương và đã xin tha thứ. Đứng dậy mỗi ngày. Có lẽ sự thánh thiện cuối cùng chỉ là nghệ thuật không ngừng để Chúa nâng mình dậy và tiếp tục bước theo.
Mátthêu không trở thành Tông đồ vì quá khứ ông đẹp. Ông trở thành Tông đồ vì ông để Đức Kitô bước vào quá khứ ấy và biến đổi tương lai. Đây cũng là niềm hy vọng của chúng ta. Ta không cần có một quá khứ hoàn hảo để có một tương lai thánh thiện. Ta chỉ cần để cho lòng thương xót chạm đến và dám đáp lại. Một ngày kia, khi nhìn lại cuộc đời, điều quan trọng có lẽ không phải ta đã từng ngồi ở chiếc bàn nào, đã từng yếu đuối ra sao, đã từng đi lạc bao xa, mà là khi Đức Giêsu đi ngang qua và nói “Hãy theo Thầy”, ta đã làm gì với tiếng gọi ấy. Mátthêu đứng dậy. Chỉ một động từ. Nhưng bên trong là một cuộc đời. Ông đứng dậy khỏi cái nhìn của xã hội. Đứng dậy khỏi định nghĩa cũ về chính mình. Đứng dậy khỏi đồng tiền. Đứng dậy khỏi quá khứ. Đứng dậy để bước vào một cuộc phiêu lưu của ân sủng. Rồi từ một người từng bị coi là không xứng đáng, ông trở thành chứng nhân rằng không ai ở ngoài tầm với của lòng thương xót Thiên Chúa. Có lẽ đó cũng là sứ điệp đẹp nhất lễ thánh Mátthêu muốn để lại cho chúng ta: đừng bao giờ nhìn một con người chỉ bằng những gì họ đã làm. Hãy cố nhìn họ bằng một chút ánh mắt của Đức Kitô: con người ấy vẫn có thể được chữa lành, vẫn có thể được gọi, vẫn có thể nên thánh. Và cũng đừng nhìn chính mình bằng ánh mắt khắc nghiệt hơn ánh mắt của Chúa.
Người biết tất cả. Người vẫn nhìn. Người vẫn yêu. Người vẫn gọi. Nhưng tình yêu ấy đang chờ một câu trả lời. Có thể chiếc bàn ta cần rời đi hôm nay là một tội lỗi. Có thể là một mối hận. Có thể là một nỗi sợ. Có thể là sự lười biếng. Có thể là lòng kiêu hãnh. Có thể là một cuộc sống chỉ xoay quanh bản thân. Có thể không ai khác nhìn thấy chiếc bàn ấy. Nhưng ta biết. Và Chúa biết. Người đang đi ngang qua. Người nhìn ta bằng ánh mắt ấy — ánh mắt không phủ nhận sự thật nhưng cũng không bao giờ tuyệt vọng về ta; ánh mắt vừa thương xót vừa tuyển chọn; ánh mắt nói rằng đời ta vẫn còn có thể trở thành một câu chuyện đẹp hơn. Rồi Người nói: “Hãy theo Thầy.” Vậy hôm nay, ta có dám đứng dậy không? Không phải ngày mai. Không phải khi hoàn hảo. Không phải khi hết mọi sợ hãi. Hôm nay. Và sau khi đứng dậy, ta có dám tiếp tục bước không? Bởi đứng dậy chỉ mất một khoảnh khắc, nhưng bước theo là công việc của cả cuộc đời. Mỗi sáng lại đứng dậy. Mỗi lần sa ngã lại đứng dậy. Mỗi khi ích kỷ kéo mình quay về chiếc bàn cũ lại đứng dậy. Mỗi khi nghe Chúa mời đi xa thêm một bước lại đứng dậy. Cho đến ngày cuộc hành trình trần thế kết thúc và ta nghe một tiếng gọi cuối cùng: đứng dậy khỏi chính sự chết để bước vào bàn tiệc vĩnh cửu của Nước Trời.
Khi ấy ta sẽ hiểu trọn vẹn điều Mátthêu đã hiểu từ buổi sáng xa xưa ấy: điều quý nhất trong đời không phải là những gì ta có thể giữ lại cho mình, nhưng là Đấng đã nhìn thấy ta giữa đám đông, đã không khinh chê quá khứ ta, đã gọi tên ta và đã nói: “Hãy theo Thầy.” Ta đã được xót thương. Ta đã được kêu gọi. Và vì đã được xót thương, ta được mời gọi trở thành người biết xót thương. Vì đã được gọi, ta được sai đi để gọi người khác đến với hy vọng. Vì đã được nâng dậy, ta phải học cúi xuống nâng người khác lên. Vì đã được tha thứ, ta phải học tha thứ. Vì đã được yêu khi còn bất toàn, ta phải học yêu những con người vẫn còn bất toàn bên cạnh mình. Đó chính là một đời sống xứng với ơn kêu gọi. Không phải một cuộc đời không bao giờ ngã, nhưng là một cuộc đời luôn quay lại với Đấng đã gọi. Không phải một cuộc đời không còn yếu đuối, nhưng là một cuộc đời để ân sủng hoạt động trong yếu đuối. Không phải một cuộc đời tìm sự nổi tiếng, nhưng một cuộc đời để Đức Kitô lớn lên. Không phải từ chiếc bàn thu thuế bước lên một chiếc ngai khác, nhưng bước vào con đường phục vụ. Và khi làm như thế, đời ta cũng có thể trở thành một Tin Mừng sống động: một câu chuyện kể rằng Thiên Chúa vẫn có thể lấy một con người rất bình thường, rất yếu đuối, rất nhiều giới hạn, rồi bằng lòng thương xót và tiếng gọi của Người, làm cho cuộc đời ấy trở thành quà tặng.
Lm. Anmai, CSsR















